Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chúng tôi tập trung nghiên cứu về sử thi anh hùng và các vấn đề chiến tranh trong sử thi của các tộc người Nam Đảo, Môn, Khmer ở Việt Nam Các công trình tiêu biểu đã phân tích lịch sử công bố các tác phẩm sử thi về đề tài chiến tranh tại Việt Nam, đồng thời khảo sát quá trình nghiên cứu nội dung sử thi nói chung, đặc biệt liên quan đến đề tài chiến tranh Ngoài ra, dự án còn xem xét lịch sử nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên, cũng như các nhóm ngữ hệ Nam Đảo và Môn Khmer, nhằm hiểu rõ hơn về vị trí và đặc điểm của sử thi trong các nền văn hóa này.
Năm 1927, tác giả người Pháp L Sabatier đã công bố tác phẩm "Bài ca Đam San," là một trong những tác phẩm thi ca viết về đề tài chiến tranh ở Việt Nam đầu tiên được công bố This work marks an important milestone in the history of Vietnamese war epic literature, showcasing the cultural and historical significance of Vietnamese resistance and heroism during wartime.
Sau 30 năm, D Antomarchi tiếp nối quá trình sưu tầm và công bố của người đi trước bằng tác phẩm Anh hùng ca Đăm Di, tạo nền tảng thúc đẩy nghiên cứu về thể loại sử thi Việt Nam Mặc dù các tác phẩm này ban đầu được công bố bằng tiếng Pháp, nhưng đã góp phần khơi dậy niềm đam mê sưu tầm điền dã và nghiên cứu sử thi Đến năm 2004, dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản Kho tàng sử thi Tây Nguyên đã làm tăng cường sự quan tâm và mở rộng việc khám phá, công bố các tác phẩm sử thi mới Các tiêu chí như tính hào hùng, kỳ vĩ, yếu tố trùng lặp và công thức kể-tả đã đóng vai trò quan trọng trong công tác sưu tầm và dịch thuật, giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về chiến tranh trong sử thi của các dân tộc như Mơ Nông, một trong những nhóm người có nhiều tác phẩm sử thi mới được phát hiện Năm 2005, trên tạp chí Nguồn sáng Dân gian, nhiều tác giả đã giới thiệu và công bố các tác phẩm sử thi vừa được phát hiện, góp phần mở rộng kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam.
Nhà nghiên cứu Võ Quang Trọng giới thiệu Sử thi Giông, Giơ mồ côi từ nhỏ (Dân tộc
Nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ đã có bài giới thiệu sơ bộ về sử thi Mơ Nông cùng tác phẩm "Thuốc cá ở hồ bầu trời, mặt trăng," mang dấu ấn đặc sắc của văn hóa dân tộc Mơ Nông Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn đã trình bày về các sử thi như Kră, Năng cướp Bing và Kông, góp phần làm rõ nét đặc sắc của truyền thống văn hóa của người Mơ Nông Đồng thời, nhà nghiên cứu Bùi Thiên Thái cũng đã có những phân tích sâu sắc về các tác phẩm này, thể hiện sự đa dạng và phong phú của kho tàng văn hóa dân tộc Mơ Nông.
Sử thi Con đỉa nuốt bon Tiăng (Dân tộc Mơ Nông)
Tạp chí Nguồn sáng Dân gian, số 2 năm 2006, giới thiệu ba bài viết về các sử thi mới đặc sắc của dân tộc Mơ Nông Nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ tập trung phân tích sâu sắc sử thi Ting, Rung chết, mô tả thế giới vũ trụ, tín ngưỡng, phong tục tập quán, cùng các nhân vật anh hùng chiến trận và thần linh của người Mơ Nông Bài viết nhấn mạnh những đặc điểm tiêu biểu của tộc người Mơ Nông qua tác phẩm sử thi, đặc biệt đề cập đến đề tài chiến tranh đầy tính biểu tượng và phản ánh đời sống tinh thần của cộng đồng Trong cùng số này, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính giới thiệu sử thi Đẻ Lêng gồm 23.750 câu chia thành bốn phần, kể về quá trình Lêng đầu thai, cuộc chiến dành lại hoa bạc và hoa đồng, cùng lễ cưới của Lêng và Bing Tác phẩm này thể hiện rõ chủ đề chiến tranh cướp đoạt phụ nữ, giành vật báu, phản ánh những giá trị văn hóa và lễ nghi của người Mơ Nông Các bài viết mang lại cái nhìn toàn diện về các sử thi truyền thống đặc sắc của dân tộc này, góp phần nâng cao nhận thức về di sản văn hóa dân gian Việt Nam.
Trong tác phẩm này, tác giả nhấn mạnh rằng các cuộc chiến tranh giành của cải và cướp phụ nữ trong sử thi Rôch, Rông nhằm mục đích củng cố sức mạnh cộng đồng Bài viết về sử thi Con diều lá cướp Bing con Jri thể hiện ý nghĩa về truyền thống chiến tranh bảo vệ bản sắc Nguyễn Văn Toại giới thiệu Sử thi Hbia Mlin như một phần quan trọng của kho tàng văn hóa dân tộc Vào số 2 năm 2007, Đỗ Hồng Kỳ viết về sử thi Dăm Băng Mlan, một tác phẩm ít được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng Ê Đê Thêm vào đó, Nguyễn Quang Tuệ công bố nghiên cứu về sử thi Atâu So Hle, Kơne Gơseng, tác phẩm mới được sưu tầm và biên tập Bên cạnh đó, Lê Thị Thùy Ly từ Viện Nghiên cứu Văn hóa giới thiệu về tác phẩm Cọp bắt cóc Giông từ thuở bé, góp phần mở rộng hiểu biết về kho tàng sử thi dân tộc.
Trong bài viết "Giông cưới nàng Khỉ" của tác giả Nguyễn Việt Hùng, các tác phẩm được chọn lọc thể hiện rõ đặc trưng của sử thi anh hùng, đề cập đến chủ đề chiến tranh và xung đột giữa các cộng đồng Nổi bật là việc tôn vinh những người thủ lĩnh anh hùng luôn đấu tranh bảo vệ cộng đồng của mình Điều này cho thấy chiến tranh là đề tài phổ biến, đặc trưng trong các sử thi của các nhóm tộc người Nam Đảo và Môn Khmer Giai đoạn nghiên cứu về thể loại sử thi diễn ra sôi động và hào hứng, với nhiều tác phẩm được giới thiệu công phu nhằm mang đến nguồn sử thi mới mẻ và hấp dẫn cho độc giả Những tác phẩm này phản ánh chân thực đời sống văn hóa cộng đồng dân tộc thiểu số qua các cuộc chiến tranh gay cấn của người Ba Na và Mơ Nông, góp phần làm phong phú kho tàng sử thi dân gian Việt Nam.
Nhà nghiên cứu Võ Quang Nhơn là người mở đường trong lĩnh vực nghiên cứu nội dung sử thi và chiến tranh với hai công trình nổi bật: "Sử thi anh hùng Tây Nguyên" và "Văn học dân gian Việt Nam" (viết cùng Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên) Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật đã góp phần quan trọng vào lịch sử nghiên cứu sử thi Việt Nam qua các tác phẩm giá trị như "Sử thi Êđê", "Vùng sử thi Tây Nguyên" và "Nghiên cứu sử thi Việt Nam" Những công trình này đã làm phong phú thêm kiến thức và hiểu biết về nội dung sử thi và quá trình chiến tranh trong văn hóa dân tộc Việt Nam.
Năm 1994, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kì công bố luận án về Sử thi thần thoại Mơ Nông tại Đại học Tổng hợp Hà Nội, mở ra nguồn tư liệu quý giá về văn hóa dân tộc Sau đó, tác phẩm này được in thành sách mang tên "Sử thi thần thoại Mơ Nông", trở thành tài liệu mẫu mực cho các nghiên cứu về sử thi Mơ Nông Công trình này đã góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa dân gian của người Mơ Nông và thúc đẩy nhiều nghiên cứu đa dạng, sâu sắc hơn về chủ đề này.
Luận án Tiến sĩ của Nguyên đã phân tích sâu hệ thống nghệ thuật trong xây dựng hình tượng người anh hùng, chi tiết, cốt truyện và các biện pháp nghệ thuật trong các sử thi anh hùng Tây Nguyên, phản ánh một vấn đề rất bao quát về văn hóa và nghệ thuật dân gian Cùng năm đó, nhà nghiên cứu Buôn Krông Tuyết Nhung cũng công bố luận án, góp phần làm rõ hơn về đặc điểm và giá trị của các tác phẩm sử thi này.
Trong sử thi Ê Đê, văn hóa mẫu hệ thể hiện rõ qua việc đề cao vai trò của người phụ nữ trong các câu chuyện anh hùng Nữ tác giả không chỉ giới thiệu tác phẩm mới mà còn làm rõ đặc điểm tiêu biểu của tiểu loại sử thi anh hùng, trong đó chiến tranh là đề tài trung tâm và cốt lõi Các nhân vật anh hùng thường tấn công và trừng phạt đối thủ để bảo vệ người phụ nữ, tạo thành chủ đề quen thuộc trong các tác phẩm sử thi Ê Đê.
Sự đóng góp này đã giúp cho tiến trình nghiên cứu đặc trưng sử thi ngày càng chắc chắn
Bài viết "Sử thi Việt Nam" của Nguyễn Xuân Kính trên Tạp chí Nguồn sáng Dân gian số 1 năm 2002 trình bày quá trình sử dụng thuật ngữ Sử thi và Anh hùng ca trong văn học Việt Nam, đồng thời phản ánh quá trình sưu tầm và công bố các tác phẩm sử thi Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá chính xác sử thi, cũng như cách ứng xử phù hợp với thể loại này, đồng thời đặt ra vấn đề xác định rõ ràng xem sử thi thuộc phạm trù văn học dân gian hay văn học viết để phát huy giá trị của các tác phẩm này trong nền văn học Việt Nam.
2003, tác giả Hà Thị Minh Thu nghiên cứu So sánh hệ thống nhân vật trong sử thi
Ramayana và nhóm sử thi Tây Nguyên đều tập trung vào chủ đề chiến tranh giành lại vợ, thể hiện giá trị riêng của sử thi Việt Nam trong bối cảnh sử thi thế giới về đề tài chiến tranh Nhiều sử thi, như Ramayana và các sử thi anh hùng Tây Nguyên, đều phản ánh hệ thống nhân vật và thực tại chiến tranh, trở thành đặc trưng tiêu biểu của tiểu loại sử thi anh hùng Các tác phẩm này góp phần làm nổi bật đặc điểm chung của các sử thi trong khu vực và trên thế giới, thể hiện mối liên hệ giữa chiến tranh và hình tượng anh hùng trong văn hóa dân gian Đồng thời, bài viết của Phan Đăng Nhật trong số 3 Nguồn sáng Dân gian năm 2003 đã giới thiệu về nhiệm vụ sưu tầm và nghiên cứu các sử thi Chăm, mở rộng hiểu biết về kho tàng sử thi của các cộng đồng dân tộc thiểu số Việt Nam.
Dựa trên phân tích dữ liệu, bài viết xác định rõ đặc điểm chính và chỉ ra những tồn đọng còn tồn tại, từ đó đề xuất hướng nghiên cứu tìm tòi về sử thi bản địa Các vấn đề còn hạn chế cần được giải quyết để phát huy giá trị của câu chuyện dân gian trong bối cảnh hiện đại Việc xác định đặc điểm giúp hiểu rõ hơn về tính đặc trưng của sử thi bản địa và hướng phát triển phù hợp nhằm bảo tồn di sản văn hóa truyền thống.
Năm 2006, tác giả Phan Thị Hồng (Đại học Đà Lạt) công bố công trình
Nhóm sử thi dân tộc Ba Na đã được nghiên cứu một cách tỉ mỉ dựa trên kinh nghiệm và kết quả sưu tầm điền dã, giúp giới thiệu chi tiết các đề tài phổ biến, các kiểu chiến tranh, hình tượng người anh hùng Giông và hệ thống nhân vật đặc trưng trong sử thi Ba Na Công trình này có giá trị lớn trong việc tổng hợp đặc điểm về sử thi của người Ba Na, phản ánh sâu sắc nét đặc trưng văn hóa của cộng đồng dân tộc này Năm 2007, tác giả Vũ Thị Lụa đã thực hiện nghiên cứu về đề tài chiến tranh trong sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo, phân tích không khí chiến tranh, nguyên nhân, mục đích, các kiểu chiến tranh và hệ thống nhân vật Nghiên cứu của tác giả đã cung cấp nguồn tài liệu quý báu giúp mở rộng và phát triển các công trình so sánh về đề tài chiến tranh trong sử thi của các nhóm ngữ hệ khác nhau, góp phần nâng cao hiểu biết về văn hóa và truyền thống dân tộc.
Đối tượng – phạm vi nghiên cứu
Dự án “Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” bắt đầu từ tháng 10 năm 2001 với tổng kinh phí gần 18 tỷ đồng do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam phối hợp cùng các tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ cận Đến nay, đã sưu tầm được 801 tác phẩm với tổng số 5.679 băng ghi âm 90 phút, thu hút sự tham gia của 388 nghệ nhân hát kể Hội đã dịch nghĩa hơn 100 tác phẩm của các dân tộc thiểu số như Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai, Chăm, Ba Na, Mơ Nông, Xê Đăng, góp phần bảo tồn và quảng bá kho tàng sử thi Tây Nguyên Các tác phẩm được xuất bản thành bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên gồm 75 tác phẩm in trong 62 tập, cùng nhiều tác phẩm không thuộc bộ Trong quá trình tìm kiếm văn bản sử thi, các địa điểm lưu trữ chính gồm Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM, Thư viện Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – ĐHQG TP.HCM, Thư viện các khoa của trường, thư viện các trường đại học Sư Phạm, Sài Gòn, và tủ sách của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, mặc dù gặp khó khăn do sự phân bổ trùng lặp và thiếu đầy đủ của các tài liệu Để khắc phục và đảm bảo nguồn tài liệu chính cho nghiên cứu, chúng tôi đã khảo sát các văn bản in trong Tổng tập Văn học Dân gian các dân tộc.
Dựa trên các công trình nghiên cứu liên quan, chúng tôi nhận thấy kho tàng sử thi Tây Nguyên phản ánh rõ nét về chiến tranh và những tình tiết tiêu biểu theo nhóm Việc phân tích văn bản cụ thể giúp làm nổi bật các đặc điểm chính của tác phẩm, dù đã cố gắng hết sức để tránh thiếu sót Những tài liệu này góp phần làm phong phú thêm hiểu biết về văn hóa thiêng liêng của người thiểu số Việt Nam.
Chúng tôi đã chọn lọc các tác phẩm sử thi dựa trên đặc điểm thể loại điển hình, sự phổ biến của nhân vật và đề tài Trong số các tác phẩm được khảo sát, chúng tôi tập trung vào 63 tác phẩm có đề tài chiến tranh để phân tích các khía cạnh có liên quan Quá trình này giúp làm rõ các đặc trưng cốt lõi của đề tài chiến tranh trong sử thi các tộc người Ngoài ra, chúng tôi còn so sánh đề tài chiến tranh trong sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo và tộc người Môn Khmer, dựa trên các điểm tương đồng và khác biệt để làm rõ đặc thù văn hóa và nội dung của từng nhóm dân tộc.
Nhóm ngữ hệ Tộc người Tác phẩm
Khinh Jú Mdrong Dăm Xing Chơ Niêp Hbia Mlin Đăm Di đi săn Đăm Di Đăm Săn Chăm
Dewa Mưno Intra Patra Chi Bri-chi Brít - Chăm Hơroi
Xing Nhã (Ê Đê và Gia Rai)
Giông, Giớ mồ côi từ nhỏ Giông làm nhà mồ
Giông cứu đói dân làng mọi nơi
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Giông là biểu tượng mạnh mẽ trong các câu chuyện huyền thoại, thể hiện sức mạnh vượt trội của nhân vật qua các trận chiến huyền thoại như cứu nàng Rang Hu, đánh quỷ Bung Lung, đạp đổ núi đá cao ngất, và đi săn chém cọp của Dăm Hơ Dang Không chỉ dừng lại ở đó, Giông còn lấy khiên đao của bok Kei Dei để chống trả kẻ thù, thể hiện lòng dũng cảm và trí tuệ Cuối cùng, Giông còn lấy được nàng Bia Phu, minh chứng cho sức mạnh và khả năng chiến thắng mọi thử thách trên hành trình của mình.
Giông leo mía thần Giông Trong Yuăn Atâu, So Hle, Kơne Gơseng Bia Phu bỏ Giông
Câu chuyện về cọp bắt Giông thuở bé thể hiện lòng dũng cảm và trưởng thành của Giông trong cuộc đời Giông từng bọc trứng gà, chứng tỏ sự khéo léo và kiên trì của một người anh hùng trẻ tuổi Trong chuyện tình cảm, Giông đã cưới nàng Khỉ, thể hiện mối quan hệ gắn bó và tình cảm chân thành Ngoài ra, Giông còn dẫn các cô gái đi xúc cá, thể hiện trách nhiệm và sự quan tâm đối với cộng đồng Khi làng gặp nguy hiểm, Giông đã đánh hạ nguồn để cứu dân làng thoát khỏi tai họa, thể hiện lòng dũng cảm và nghĩa khí Trong những trận chiến đỉnh cao, Giông giết sư tử để bảo vệ làng Set, chứng minh sức mạnh và bản lĩnh anh hùng Sau những chiến công, Giông ngủ ở nhà rông của làng bỏ hoang để giữ gìn an ninh, thể hiện trách nhiệm của người bảo vệ cộng đồng Cuối cùng, Giông săn trâu rừng, thể hiện khả năng sinh tồn và sự can đảm của người anh hùng trong rừng xanh hoang dã.
Set xuống đồng bằng thăm bạn
Duông theo thần Tung Gur Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ Duông làm thủ lĩnh
Duông làm nhà rông Dăm Duông cứu nàng Bar Mă
Lêng nghịch đá thần của Yang Con đỉa nuốt bon Tiăng
Kră, Năng cướp Bing, Kông con Lông Bing con măch xin làm vợ Yang Tiăng cướp Djăn, Dje
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Bắt con lươn ở suối Dak Huch Thuốc cá ở hồ bầu trời, mặt trăng Tiăng lấy gươm tự chém
Lấy hoa bạc, hoa đồng Lêng, Kông, Mbong lấy ché voi trắng Yơng, Yang đi lấy ống bạc tượng người Lấy ché con ó của Tiăng
Cướp chăn Lêng của Jrêng, Lêng con Ôt Chàng Tiăng bán tượng gỗ
Rôch, Rông bắt hồn Lêng Mùa rẫy bon Tiăng Bông, Rong, Tiăng Chàng Lêng
Lêng đi giành lại đàn nring Cướp chiêng cổ bon Tiăng Lùa cây bạc cây đồng Con hổ cắn mẹ Rong
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau:
Để làm cho luận văn thêm phần thuyết phục với hệ thống thông tin rõ ràng và giá trị biểu đạt cao, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê và phân tích dữ liệu Chúng tôi khảo sát 63 tác phẩm sử thi Việt Nam (được tóm tắt trong Phụ lục I), xây dựng bảng thống kê về các tình tiết như nguyên nhân xung đột, phương thức gây chiến, quá trình chuẩn bị giao chiến, diễn biến chiến tranh và kết quả cuối cùng Ngoài ra, chúng tôi phân tích đặc điểm kết cấu của nội dung và nhân vật trong các tác phẩm để làm rõ các đề tài chiến tranh khác nhau, như chiến tranh vì phụ nữ, đòi nợ trả thù và chiến tranh hỗn hợp.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Ph ươ ng pháp so sánh, đố i chi ế u
Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để nghiên cứu sự tương đồng và dị biệt giữa sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam dựa trên đặc trưng kiểu loại Qua đó, chúng tôi phân tích các kiểu chiến tranh như vì phụ nữ, đòi nợ trả thù và hỗn hợp, tập trung vào nguyên nhân xung đột, phương thức gây chiến, cách chuẩn bị và diễn biến chiến tranh, cũng như kết quả cuối cùng Đồng thời, việc so sánh hình tượng nhân vật anh hùng, các nhân vật đối thủ, thần linh và phụ nữ giúp làm rõ đặc trưng tư tưởng và văn hóa của các tộc người thuộc hai nhánh ngữ hệ khác nhau.
Ph ươ ng pháp liên ngành
Chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành gồm lịch sử, địa lý và dân tộc học để phân tích các điều kiện hình thành đề tài chiến tranh trong các tác phẩm sử thi anh hùng của nhóm tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam Dựa trên đặc thù dân tộc và văn hóa, như địa bàn cư trú, lịch sử di cư, chiến tranh, cũng như quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, chúng tôi giải thích các yếu tố quan trọng tạo nên sự giống và khác nhau giữa các sử thi anh hùng có đề tài chiến tranh đã được khảo sát.
Cấu trúc của đề tài
Luận văn gồm những phần sau đây:
Tổng quan về tộc người và sử thi anh hùng của các tộc người
Các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam
Khi nghiên cứu về vấn đề tộc người, có hai tiến trình quan trọng cần lưu ý: đó là tiến trình qua các phát minh và sáng tạo mới, và tiến trình qua các thiết chế đầu tiên hình thành trong cộng đồng Trong quá trình tìm hiểu về sử thi tộc người, một thể loại văn học cổ xưa phản ánh quá trình phát triển của các dân tộc qua nhiều ngữ hệ khác nhau, chúng tôi tập trung phân tích vai trò của các thiết chế như địa bàn sinh sống, tổ chức xã hội, mô hình gia đình, kiến trúc nhà ở và văn hóa tộc người Những yếu tố này giúp làm rõ cách các xã hội tộc người hình thành và phát triển qua thời gian, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và truyền tải giá trị văn hóa của các cộng đồng dân tộc.
1.1.1 Các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam
Các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo, gồm Chăm, Ê Đê, Gia Rai, Chu Ru, Ra Glai, sinh sống chủ yếu tại Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, trong đó người Chăm còn có nhiều nhóm cư trú trên vùng ven biển Để hiểu rõ mối liên hệ giữa đời sống thực tế và những vấn đề phản ánh qua tác phẩm sử thi, chúng tôi tập trung nghiên cứu các tộc người có sử thi đã được khảo sát.
Dân tộc Ê Đê, còn gọi là Anak Ê Đê, tức là “người Ê Đê”, là cộng đồng người sống chủ yếu trong rừng tre hoặc theo tín ngưỡng dân gian thờ thần Ae, Die, hoặc những tên gọi khác như Rơđê, Rhađê, Đê, Êđê Êgar, Mọi, Thượng ít phổ biến hơn Theo truyền thuyết, tên gọi này cũng liên quan đến những người mới đến từ hang đất Ađrênh ở nam Buôn Ma Thuột Trong lịch sử, dân tộc Ê Đê đã có sự dịch chuyển nơi cư trú, tuy nhiên, cao nguyên Đăk Lăk vẫn là nơi sinh tồn chính với diện tích rộng 19.800 km², độ cao trung bình 500m, có địa hình bằng phẳng hoặc lượn sóng, không có dốc dề rõ rệt như các vùng núi khác Vùng sinh thái này giáp các tỉnh Gia Lai, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bình Dương và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Dân số người Ê Đê tại Campuchia và Việt Nam đã liên tục gia tăng qua các thời kỳ, từ năm 1979 đến 1999, dân số của tộc người này tại Việt Nam đã tăng từ 140.884 lên 270.384 người, trong đó tập trung chủ yếu ở Đắk Lắk với 249.096 người Đến năm 2009, dân số Ê Đê đã lên tới 331.194 người, chủ yếu sinh sống tại Đắk Lắk (298.354 người), Phú Yuyên (20.905 người) và Đắk Nông (5.217 người) Hiện nay, người Ê Đê xếp thứ 11 về dân số trong 54 dân tộc ở Việt Nam, là dân tộc đông thứ hai trong nhóm các dân tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo tại Việt Nam, và đứng thứ hai trong 12 dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên Đắk Lắk vẫn là nơi tập trung đông đảo nhất của người Ê Đê, chiếm tới 92% tổng số dân của dân tộc này tại Việt Nam Các buôn làng truyền thống của người Ê Đê có đặc điểm rõ rệt: mỗi làng là một đơn vị cộng cư thống nhất, sở hữu lãnh thổ rõ ràng, là tổ chức xã hội hoàn chỉnh, và mang tính cộng đồng tương đối riêng biệt, phù hợp với điều kiện lịch sử, kinh tế, môi trường và truyền thống Trong xã hội truyền thống, người Ê Đê cư trú thành các buôn làng gồm nhà cộng đồng và các nhà dài dành cho đại gia đình mẫu hệ Những gia đình giàu có thường có thêm tôi tớ – là những người tù binh, người góa bụa, nghèo khó, mắc nợ hoặc phạm tội, làm việc chung trong nông nghiệp và sinh hoạt gia đình, và nếu chăm chỉ, có thể trở thành dân cư tự do sau một thời gian.
1 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 2 Hà Nội: Chính trị quốc gia Sự thật
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Người Ê Đê có mối quan hệ gắn bó về mặt địa lý và văn hóa với các dân tộc xung quanh, đặc biệt là với người Gia Rai ở phía Bắc, cư dân tập trung tại tỉnh Gia Lai, có nét tương đồng trong tổ chức xã hội, lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cũng như phương thức làm nương rẫy trên đất bằng và ven sông suối Về phía Nam, người Ê Đê duy trì nhiều mối quan hệ xã hội với nhóm Mơ Nông, trong đó nhiều yếu tố văn hóa của người Ê Đê đã thấm sâu vào đời sống của người Mơ Nông, thậm chí có một số nhóm Mơ Nông đã hòa nhập vào cộng đồng người Ê Đê Ngược lại, các yếu tố văn hóa của người Mơ Nông cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hóa của người Ê Đê, đặc biệt là những nhóm dân cư sinh sống xen kẽ nhau.
Người Ê Đê có nền văn nghệ dân gian phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nổi bật là kho tàng sử thi (khan) phản ánh lịch sử đấu tranh chống thiên nhiên và xâm lược Ngoài ra, họ còn gìn giữ kho truyện cổ đa dạng gồm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, câu đố, ngụ ngôn thể hiện nét đặc trưng của Tây Nguyên huyền bí và giàu truyền thống Nghệ thuật cồng chiêng là biểu tượng văn hóa nổi bật của đồng bào Ê Đê và các dân tộc Tây Nguyên, được coi là cầu nối trực tiếp giữa con người và thần linh qua các lễ hội và nghi lễ quan trọng Bên cạnh đó, các loại nhạc cụ truyền thống như đinh năm, đinh buốt klút, brô, kni, goong cũng góp phần làm phong phú nghệ thuật biểu diễn trong đời sống cộng đồng Nghệ thuật tạo hình dân gian Ê Đê thể hiện qua trang trí vải và điêu khắc gỗ trang trí nhà cửa, nhà mồ, phản ánh quan niệm thấu hiểu sâu sắc về mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới tâm linh của họ.
Trong cuộc sống, chúng ta tin rằng có sự hiện diện của các thần linh, phần lớn theo tín ngưỡng đa thần Các thần luôn hiện diện trong mọi thứ xung quanh chúng ta, từ dòng sông, con suối, bầu trời cho đến đất đai, tượng trưng cho sự bảo trợ và linh thiêng trong đời sống hàng ngày.
Người Chăm ở Việt Nam thuộc chủng tộc Oceanien nhánh Indonesiens và là hậu duệ của người Mã Lai, có nguồn gốc xa xưa từ Samantra hoặc Java, di trú đến bán đảo Đông Dương trước thế kỷ I Gần đây, nhiều nghiên cứu cho thấy người Chăm hiện nay là sự hợp thành của hai nhóm người Lâm Ấp và Panran, còn gọi là người tiền Chăm, do sự hợp nhất chính trị muộn mằn giữa hai thị tộc Cau và Dừa Dân số của người Chăm tại Việt Nam đã biến thiên đáng kể từ giữa thế kỷ ХХ đến nay.
Dân số người Chăm đã tăng gấp hơn 10 lần trong vòng 70 năm, từ 15.870 người vào năm 2040 (thời thuộc Pháp) lên đến 161.729 người vào năm 2009, hiện là dân tộc thứ 14 đông nhất trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam Trong các quốc gia láng giềng, số lượng người Chăm cũng chiếm tỷ lệ đáng kể, với khoảng 217.000 người tại Campuchia, khoảng 10.000 người tại Malaysia, khoảng 4.000 người tại Thái Lan và khoảng 3.000 người sinh sống ở các quốc gia khác.
Người Chăm là một trong những chủ nhân của nền văn minh lúa nước ở Đông Nam Á, với lãnh thổ ở ven biển Nam Trung Bộ gồm đồng bằng Phan Rang, Phan Rí và Phan Thiết Đời sống của người Chăm chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tôn giáo, chi phối các mặt của cuộc sống và hình thành cơ cấu tổ chức xã hội dựa trên chế độ thần quyền, với những chức sắc tôn giáo giữ vai trò đại diện cộng đồng Khoảng cuối thế kỷ XIII, vương quốc Chăm bắt đầu rơi vào khủng hoảng và suy vong, gây ra nhiều biến động lớn trong cấu trúc xã hội Bên cạnh đó, cộng đồng Chăm còn chịu tác động của các nguyên nhân lịch sử như chiến tranh liên miên, ảnh hưởng của tôn giáo và các dân tộc láng giềng Do bảo lưu chế độ xã hội mẫu hệ, trong quan hệ thân tộc, người Chăm luôn coi trọng giá trị của dòng họ mẹ.
2 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 2 Hà Nội: Chính trị quốc gia Sự thật
Dòng họ là một đơn vị tổ chức xã hội chặt chẽ, được gìn giữ bằng mối quan hệ huyết thống và hệ thống thân tộc Người Chăm có cộng đồng làng truyền thống rõ ràng, với tên làng thường được gắn với đặc điểm tự nhiên hoặc di tích lịch sử, và quản lý bởi già làng cùng hội đồng chức sắc tôn giáo Quan hệ ngoại tộc của người Chăm chủ yếu là với tộc người Kinh, dân tộc láng giềng lâu đời, cùng với các nhóm dân tộc thiểu số như Ê Đê, Ba Na, Ra Glai ở miền Trung và Khmer, Hoa ở khu vực Nam Bộ Trong lịch sử, người Chăm H’roi có truyền thống kết hôn ngoại tộc với các dân tộc xung quanh như Ba Na, Ê Đê, ít bị cản trở trong các mối quan hệ hôn nhân liên tộc.
Dân tộc Gia Rai sinh sống chủ yếu tại Tây Nguyên, với phạm vi cư trú bao gồm tỉnh Gia Lai, phía tây tỉnh Phú Yên, phía nam tỉnh Kon Tum và phía bắc tỉnh Đăk Lăk Theo tổng điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục Thống kê, có khoảng 411.275 người Gia Rai đang sinh sống tại Việt Nam, tăng 30% so với giai đoạn 1999-2009, và xếp thứ 10 trong các dân tộc đông đảo nhất ở Việt Nam Riêng tại tỉnh Gia Lai, dân số Gia Rai chiếm khoảng 372.302 người và đến năm 2015 đã tăng lên 425.187 người Tên gọi Gia Rai vừa có ý nghĩa là "thác nước" trong tiếng J’rai, phản ánh nguồn gốc lịch sử của họ gắn liền với vùng đất có nhiều thác ghềnh, ven các dòng sông như Ia Yun hay Ia Ly.
Làng là đơn vị cơ bản trong xã hội truyền thống của dân tộc Gia Rai, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức cộng đồng Trong các nhóm địa phương của người Gia Rai, từ "plơi" phổ biến để chỉ làng, còn nhóm Gia Rai Chor và Mthur còn sử dụng các từ "bôn" hoặc "buôn" để chỉ làng Các ngôi nhà trong làng được xây dựng theo một hệ thống có trật tự, phản ánh tổ chức cộng đồng và truyền thống sinh hoạt của dân tộc Gia Rai.
3 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018) Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 2 Hà Nội: Chính trị quốc gia Sự thật
Trong các công trình về văn hóa, truyền thống của người dân tộc Gia Rai, người ta nhấn mạnh vai trò của hội đồng làng gồm các người già chủ trì, chọn người đứng đầu theo tập quán tôn giáo Các vị Pơtao như Vua Nước, Vua Lửa và Vua Gió tượng trưng cho sự liên kết giữa các làng và thể hiện mối quan hệ giữa tự nhiên và thế giới siêu nhiên, phản ánh quan niệm tam hợp trong tư duy của người Gia Rai Nước biểu tượng cho người mẹ, thường im lặng và lạnh ở phía tây; Lửa tượng trưng cho người cha, mạnh mẽ và nóng ở phía đông; Gió là sự kết hợp của Nước và Lửa, thể hiện sự liên kết và tồn tại trong văn hóa của cộng đồng.
Dân tộc Gia Rai theo chế độ ngoại hôn, trong đó những người cùng tên họ dù không có quan hệ huyết thống vẫn không được lấy nhau, nhưng tập quán cho phép hôn nhân con cô, con cậu Theo truyền thống, sau khi chồng mất, vợ có thể lấy anh em chồng hoặc ngược lại, chồng có thể lấy chị em vợ, và người chồng cư trú bên nhà vợ, khiến đàn ông Gia Rai phụ thuộc hoàn toàn vào nhà vợ Luật tục quy định người vợ là chủ gia đình và chủ tài sản, dân tộc Gia Rai theo chế độ mẫu hệ, con cái lấy họ mẹ; con trai không được chia tài sản khi lấy vợ, còn con gái được chia phần tài sản, nhất là con gái út thường ở chung khi tuổi già và nhận phần lớn tài sản Tuy nhiên, đàn ông Gia Rai vẫn là lực lượng sản xuất chính, đóng vai trò quyết định trong các công việc xã hội.