Trên thực tế, các công trình nghiên cứu về chủ đề này tương đối phong phú như: những vấn đề xung quanh phương pháp dạy tiếng, biên soạn giáo trình tiếng Việt, đánh giá trình độ tiếng Việ
Trang 1VŨ MINH TRANG
ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ VIẾT
VÀ VIỆC GIẢNG DẠY KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG VIỆT
CHO HỌC VIÊN NGƯỜI HÀN QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Mã số: 60.31.60
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2VŨ MINH TRANG
ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ VIẾT
VÀ VIỆC GIẢNG DẠY KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG VIỆT
CHO HỌC VIÊN NGƯỜI HÀN QUỐC
CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
2.1 Ý nghĩa khoa học 3
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Hướng tiếp cận ngữ liệu 7
7 Cấu trúc luận văn 7
8 Bảng đối chiếu chữ Hàn và cách phiên âm 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ VIẾT VÀ NGÔN NGỮ NÓI TIẾNG VIỆT 11
1.1 Đặc điểm của ngôn ngữ viết tiếng Việt 11
1.2 Đặc điểm của ngôn ngữ nói tiếng Việt 15
1.3 So sánh những đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 18
Tiểu kết 25
Trang 42.1 Các lỗi thường gặp ở học viên người Hàn Quốc khi viết tiếng Việt 27
2.2 Nguyên nhân gây lỗi 48
Tiểu kết 54
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐỀ XUẤT TRONG VIỆC GIẢNG DẠY KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN NGƯỜI HÀN QUỐC 56
3.1 Vấn đề giảng dạy kỹ năng viết hiện nay 56
3.2 Một số đề xuất về việc giảng dạy kỹ năng viết cho học viên người Hàn Quốc 60
Tiểu kết 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 51.1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, để phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu và giảng dạy các môn về Việt Nam học và tiếng Việt cho người nước ngoài đã có nhiều hội nghị, hội thảo được tổ chức Trên thực tế, các công trình nghiên cứu về chủ đề này tương đối phong phú như: những vấn đề xung quanh phương pháp dạy tiếng, biên soạn giáo trình tiếng Việt, đánh giá trình độ tiếng Việt của người học, so sánh, đối chiếu đặc điểm ngôn từ giữa tiếng Việt và ngôn ngữ mà các học viên sử dụng, những yếu tố tác động đến việc dạy và học tiếng Việt…
Mặc dù hiện nay có khá nhiều tài liệu, giáo trình về giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ nhưng điều đó vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người học Theo kinh nghiệm của chúng tôi, người nước ngoài học tiếng Việt thường gặp những khó khăn nhất định trong việc giao tiếp với người bản ngữ Nguyên nhân có thể là do ngôn ngữ sử dụng trong giáo trình tiếng Việt và ngôn ngữ người bản ngữ
sử dụng có vài điểm khác biệt, do phát âm sai, do những đặc trưng của khẩu ngữ tự nhiên quy định… Mặt khác, học viên nước ngoài cũng gặp nhiều khó khăn trong kỹ năng viết do việc nói thế nào thì viết thế ấy Nhiều học viên – sinh viên nước ngoài
có thể giao tiếp tốt nhưng khi viết thì không phân biệt được các sắc thái biểu cảm của từ ngữ, phép lịch sự trong văn phong viết…
Khi sử dụng ngôn ngữ nói, người nói sử dụng các phương tiện hỗ trợ như ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ… cốt sao cho người nghe hiểu được mình Mặt khác, nhiều yếu tố khác trong ngôn ngữ nói cũng được ngầm hiểu giữa những người tham gia giao tiếp trong những ngữ cảnh cụ thể Một người nước ngoài có vốn từ vựng nhất định hoàn toàn có thể làm cho người bản ngữ hiểu điều anh ta muốn nói mà không cần diễn đạt bằng một câu đúng ngữ pháp Trái lại, trong ngôn ngữ viết, người viết có thời gian để suy nghĩ, chọn lựa những phương tiện biểu đạt phù hợp với điều mà mình hướng đến Việc sử dụng từ ngữ không thích hợp với văn phong
Trang 6học ngôn ngữ thứ hai
Việc học viết không chỉ phụ thuộc vào học viên mà vai trò của giáo viên cũng rất quan trọng Tùy vào đối tượng học viên cụ thể, trình độ của học viên, nhu cầu giao tiếp và đặc điểm ngôn ngữ của người học tiếng Việt mà người dạy có những phương pháp phù hợp nhằm giúp cho lớp học không nhàm chán, học viên cũng bớt nản chí trong việc học viết
Kỹ năng viết là một kỹ năng tổng hợp, trong đó người viết phải vận dụng nhiều tri thức về ngôn ngữ, văn hóa, xã hội Hiện nay, đối tượng học viên ngày càng
đa dạng và có nhu cầu chú trọng cả bốn kỹ năng Điều này rất quan trọng trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ vì bốn kỹ năng này có mối quan hệ hỗ tương, giúp người học tiếp cận ngôn ngữ và sử dụng được ngôn ngữ một cách tốt nhất Việc viết tiếng Việt tốt giúp người học tiếng Việt có khả năng tư duy tốt do việc vận dụng nhiều từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp, nhờ đó kỹ năng nói cũng được cải thiện
Trong những năm gần đây, số lượng người Hàn Quốc đến học tập và làm việc tại Việt Nam ngày càng gia tăng cùng với nhu cầu học tiếng Việt của họ Cũng như học viên các nước khác, người Hàn Quốc cũng gặp phải một số khó khăn trong việc học tiếng Việt, đặc biệt là trong việc học kỹ năng viết Việc nghiên cứu, giảng dạy
kỹ năng viết cho học viên người Hàn Quốc là một việc làm cần thiết nhằm phần nào đáp ứng nhu cầu của họ
Như vậy, kỹ năng viết là một kỹ năng quan trọng trong quá trình học ngoại ngữ và là một trong các tiêu chí để đánh giá trình độ của người học ngoại ngữ Thêm vào đó, vai trò của việc lựa chọn phương tiện biểu đạt trong ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói đối với việc biên soạn tài liệu giảng dạy, giáo trình tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng như trong hoạt động giao tiếp của học viên nước ngoài là một vấn
đề rất đáng quan tâm Trước thực tiễn đó, chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm của
Trang 71.2 Mục đích nghiên cứu:
Luận văn góp phần làm rõ những đặc điểm của ngôn ngữ viết, làm cơ sở cho
việc nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt cho học viên người Hàn Quốc
Luận văn bước đầu giúp học viên nước ngoài phân định được các yếu tố đặc trưng thuộc về ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết như: ngữ cảnh và văn cảnh, phép lịch sự trong giao tiếp hàng ngày và trong văn phong viết, các phương tiện liên kết trong văn bản…
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trang 83 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số đặc điểm của ngôn ngữ viết tiếng Việt trên phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và những vấn đề liên quan đến việc dạy kỹ năng viết tiếng Việt cho học viên người Hàn Quốc
Luận văn hướng đến đối tượng học viên là người Hàn Quốc nên cũng bước đầu so sánh, đối chiếu với một vài đặc điểm của ngôn ngữ viết tiếng Hàn nhằm giúp học viên tránh được những lỗi do chuyển di ngôn ngữ gây ra
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về phong cách học tiếng Việt
đã có sự phân biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết xét riêng về mặt lý luận Chẳng hạn, tác giả Hữu Đạt trong công trình nghiên cứu “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” xuất bản năm 2000 đã phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết với tư cách là phong cách chức năng
Tác giả Hồ Mỹ Huyền trong luận án tiến sĩ ngữ văn năm 2008 với đề tài
“Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (qua cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh)” đã so sánh những đặc trưng cơ bản trong ngôn ngữ nói và viết trên phương diện ngữ âm, từ
Trang 9vựng, ngữ pháp cũng như việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ phù hợp trong giao tiếp bằng lời nói và văn bản
Công trình nghiên cứu “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản” của tác giả Diệp Quang Ban, xuất bản năm 2009, cũng đưa ra những nhận định chung về sự khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nhưng không tính đến đặc trưng của từng loại mà chỉ tập trung vào những hiện tượng thuộc ngôn ngữ nói không có trong ngôn ngữ viết Tác giả sử dụng 3 cơ sở phân biệt: Chất liệu được sử dụng trong ngôn ngữ nói và viết, hoàn cảnh sử dụng, các phương tiện bên trong hệ thống tiếng Việt
Các tác giả Hà Thị Thu Hương – Hà Thị Tuyết Nga trong bài viết “Bàn về tính hiệu quả trong việc dạy viết cho sinh viên nước ngoài” in trong kỷ yếu khoa học
quốc tế 2009 về Nghiên cứu, giảng dạy Việt Nam học và tiếng Việt đã nêu lên tầm
quan trọng của việc dạy viết trong quá trình học tiếng cùng với 30 gợi ý cho việc dạy viết đạt hiệu quả, đồng thời cũng ứng dụng được trong việc dạy tiếng Việt cho học viên nước ngoài
Cũng trong kỷ yếu trên, bài viết “Thủ thuật dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Trúc đã chỉ ra ba đối tượng được đề cập trong
hoạt động viết: nội dung, chủ đích và độc giả Tác giả cũng lưu ý một vài thủ thuật
và việc vận dụng nó trong giảng dạy
Các tác giả trong kỷ yếu hội thảo khoa học 2010 về Việt Nam học và tiếng Việt
đã có một số bài viết liên quan đến việc thực hành kỹ năng viết của học viên nước ngoài học tiếng Việt cũng như kinh nghiệm dạy viết cho học viên Tác giả Võ Thanh Hương – Nguyễn Thanh Phong trong bài viết “Những lỗi thường gặp trong các bài viết của học viên nước ngoài học tiếng Việt” đã phân tích một số lỗi thường gặp, đưa ra cách khắc phục lỗi mà nguyên nhân, theo tác giả, là do sự giao thoa ngôn ngữ giữa ngôn ngữ đích và tiếng mẹ đẻ của người học Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài báo cáo, các tác giả chưa trình bày nguyên nhân gây ra lỗi mà người học mắc phải
Trang 10Tác giả Dương Thị Thu Hương trong bài viết “Một số kinh nghiệm dạy viết tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài” cho rằng trước hết người học cần nắm được kỹ thuật viết, từ cơ bản đến nâng cao cùng với một vài bài tập có thể áp dụng tùy theo trình độ của học viên Ở phần dẫn nhập, mặc dù tác giả không đi sâu phân tích vai trò của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ nhưng cũng gợi mở những vấn đề mà tác giả luận văn quan tâm
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận văn sử dụng những cứ liệu thực tế thu
được qua các cuộc hội thoại, bài viết của học viên nước ngoài, các bài hội thoại, bài đọc hiểu… trong các giáo trình tiếng Việt để có cái nhìn tổng quát tình hình sử dụng phương tiện ngôn từ trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết của học viên người Hàn Quốc
Phương pháp miêu tả: miêu tả các phương tiện ngôn từ trong ngôn ngữ nói và
ngôn ngữ viết tiếng Việt, miêu tả lỗi trong bài viết của học viên Hàn Quốc nhằm phân tích, đánh giá, đề ra cách sửa lỗi và dự đoán lỗi
Phương pháp so sánh – đối chiếu: so sánh – đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ nói
và ngôn ngữ viết tiếng Việt với ngôn ngữ của người học, cụ thể là tiếng Hàn, để thấy được những chuyển di tích cực và tiêu cực trong quá trình học tiếng Việt
Trang 116 Hướng tiếp cận ngữ liệu
Tư liệu được tiếp cận trong luận văn bao gồm các bài viết của học viên Hàn Quốc, các bài hội thoại thực tế và các bài tập kỹ năng viết trong một số giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn được trình bày theo cấu trúc như sau:
- Phần dẫn nhập: những vấn đề chung (gồm 7 trang)
- Phần nội dung: được cấu thành ba chương
Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về những đặc điểm của ngôn ngữ viết tiếng Việt Trình bày các vấn đề về ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói tiếng Việt và so sánh ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trên các bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp Chương 2: Lỗi của học viên người Hàn Quốc khi viết tiếng Việt
Mô tả lỗi và phân tích một số nguyên nhân gây ra lỗi của học viên người Hàn Quốc khi viết tiếng Việt
Chương 3: Những đề xuất trong việc giảng dạy kỹ năng viết tiếng Việt cho học viên người Hàn Quốc
Đề xuất một số thủ thuật dạy viết tiếng Việt và một số bài tập nhằm cải thiện
kỹ năng viết tiếng Việt của học viên người Hàn Quốc
Trang 128 Bảng đối chiếu giữa chữ Hàn và cách phiên âm
Sau đây là bảng đối chiếu giữa chữ Hàn và cách phiên âm do Viện hàn lâm Ngôn ngữ Hàn Quốc quy định đƣợc dùng trong luận văn này
Chữ Hàn Phiên âm Chữ Hàn Phiên âm
yo
yu yae
Trang 13Chữ Hàn Phiên âm Chữ Hàn Phiên âm
m b/p
Trang 15CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ VIẾT VÀ NGÔN NGỮ NÓI TIẾNG VIỆT
1.1 Đặc điểm của ngôn ngữ viết tiếng Việt
Chữ viết là một trong hai hình thức giao tiếp ngôn ngữ cơ bản, ra đời muộn hơn so với ngôn ngữ nói Chữ viết chỉ ra đời khi loài người đã có khả năng tư duy trừu tượng cao, có năng lực khái quát và hệ thống hóa để chia tách các sự vật, hiện tượng thành những lớp, những loại Ngoài những thuộc tính riêng vốn có của mình, ngôn ngữ nói và viết còn khác nhau ở chỗ chúng được phát triển theo các chức năng khác nhau, tùy thuộc vào ý muốn khai thác tiềm năng ngôn ngữ theo các định hướng khác nhau của con người Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng “Trong quá trình phát triển riêng của mình, chữ viết đã dần dần hình thành cho mình một hệ thống có phần riêng, có phần khác biệt với ngôn ngữ nói, khiến cho dạng viết có được cốt cách (phong cách) riêng so với dạng nói và ảnh hưởng tích cực đến dạng nói” [1, tr 250]
Tác giả Diệp Quang Ban cũng cho rằng “ngôn ngữ nói và viết không chỉ gắn liền với hội thoại và không phải hội thoại, mà ở mọi lĩnh vực hoạt động xã hội (ứng với các phong cách chức năng, hoặc với “ngôn vực” – “register” – trong hệ thống thuật ngữ khác) ngôn ngữ đều tồn tại dưới cả dạng nói và dạng viết, mặc dù chữ viết
co tính chất hậu kì so với ngôn ngữ âm thanh” [1, tr 250] Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản Ngôn ngữ viết sử dụng nhiều phương tiện ngôn ngữ để biểu đạt như từ ngữ, cấu trúc câu và các phương tiện liên kết văn bản mà sự vận dụng những phương tiện ấy phụ thuộc vào phong cách chức năng của văn bản được tạo lập Ngôn ngữ viết thường sử dụng cấu trúc câu với các thành tố được liên kết chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, ngôn ngữ viết được sử dụng trong thư từ cá nhân là một loại ngôn ngữ nói được viết lại dưới dạng văn bản Cũng như các ngôn ngữ khác, ngôn ngữ viết tiếng Việt có quy định thống nhất
về chính tả cũng như cách viết và cách trình bày văn bản Khi viết, người viết có điều kiện tổ chức, sắp xếp thông tin theo một trình tự nhất định Trình tự này được
Trang 16gọi là trật tự tuyến tính, thể hiện trước hết ở trật tự của các từ ngữ trong câu Mỗi một câu tiếng Việt được xem là câu viết đúng nếu đó là một chỉnh thể cả về ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa Khác với khi nói, người viết có thời gian để lựa chọn từ ngữ, các phương tiện ngôn ngữ để đạt hiệu quả diễn đạt tốt nhất Đặc điểm này cho phép người đọc có thể nghiên cứu văn bản một cách thấu đáo và xem xét các ý tưởng hoặc bình phẩm về các mối quan hệ bên trong và bên ngoài một cách dễ dàng
Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết không chỉ khác nhau về hoàn cảnh và phương thức tạo lập văn bản của người phát ngôn, mà còn khác nhau về các yêu cầu mà chúng đòi hỏi đối với người thụ ngôn “Do người viết không có điều kiện để tương tác trực tiếp với người đọc, do không chịu sức ép về mặt thời gian, về tâm lý nên người viết có điều kiện tổ chức các cấu trúc dày đặc thông tin, điều mà người nói khó thực hiện trong điều kiện tiếp xúc trực tiếp và không được chuẩn bị trước.” [31,
tr 34]
Sự ra đời của chữ viết có thể nói là một bước ngoặt kì diệu của sự phát triển ngôn ngữ, của tư duy loài người Nó tạo ra một phương tiện bảo tồn, lưu giữ văn hóa rất hữu hiệu Mặt khác, nó khắc phục được tình trạng tổn hao, mất mát thông tin
do sự biến đổi của thời gian hoặc do các nguyên nhân khách quan như chiến tranh, dịch bệnh
Khi sử dụng ngôn ngữ viết, người tạo lập văn bản có đầy đủ điều kiện để chủ động tổ chức, sắp xếp thông tin, thể hiện các kiểu quan hệ nghĩa – logic giữa các câu theo một trình tự mong muốn Khác với việc sử dụng lời nói miệng, trong đó người nói dành nhiều thời gian để lựa chọn các chiến lược giao tiếp, trong đó có việc lựa chọn từ ngữ, người viết thường chú trọng nhiều hơn đến việc tổ chức các phương tiện ngôn ngữ sao cho việc diễn đạt được tốt nhất
Ngoài việc sắp xếp, tổ chức các phát ngôn theo một trật tự cú pháp hợp lý để văn bản viết trở nên hoàn chỉnh và có thể hiểu được, tính gọt giũa của ngôn ngữ viết cũng được thể hiện ở việc lựa chọn ngôn từ phù hợp nhất với nội dung cần biểu đạt
để tạo nên cảm xúc thẩm mỹ cao nhất cho người đọc
Trang 17Theo lý thuyết giao tiếp, một hoạt động giao tiếp chỉ được thực hiện một cách
có hiệu quả khi các đối tượng tham gia giao tiếp đã thực hiện đúng vai giao tiếp của mình Trường hợp ngôn ngữ viết thì người viết là một trong hai chủ thể chính của quá trình giao tiếp nên cần xác định được vai trong giao tiếp để định hướng sử dụng
từ xưng hô thích hợp
Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ viết, điều quan trọng là người ta phải tổ chức các
từ lại thành câu, thành đoạn văn theo những quy tắc nhất định Nghĩa là muốn giao tiếp có hiệu lực thì các chủ thể giao tiếp phải sắp xếp và truyền tải thông tin theo một cấu trúc ngữ pháp chung Việc sử dụng ngôn ngữ viết để giao tiếp có những hiệu quả khác nhau ở mỗi người Một bài thơ hay được viết bởi nét bút của người
có hoa tay đương nhiên có sức gợi cảm hơn nhiều khi nó được thể hiện qua nét bút của người có chữ viết cẩu thả Một nội dung hay không được thể hiện dưới một hình thức đẹp sẽ không thể tạo nên giá trị đích thực của thẩm mỹ Đó là chưa nói đến những trường hợp, do cách viết cẩu thả một văn bản có thể gây ra nhầm lẫn đối với người tiếp nhận Ở góc độ này, chính chủ thể giao tiếp đã tạo ra nhiều cản trở đối với quá trình giao tiếp bằng văn bản
Tính gọt giũa của ngôn ngữ viết tiếng Việt được thể hiện ở việc kết hợp các phương tiện ngôn từ, sử dụng và chọn lọc những từ tượng thanh, tượng hình hoặc từ gần nghĩa nhưng có sắc thái khác nhau để câu văn, bài viết được trau chuốt hơn, giàu hình ảnh hơn so với khẩu ngữ
Đằng đông đã sáng trắng Trên một nửa vòm trời sao đã lặn hết Những đám mây hình vỏ sò cứ hồng lên dần, trong khi đó, mặt biển tuy đã sáng rõ, đến cái mức đứng trong bờ cũng nhìn thấy từng đường gấp nếp lăn tăn trên mặt tấm thép dát màu xám đục [58, tr 211]
tôi đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ
là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và
Trang 18bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt [58, tr 212]
Bồ đề, đu gay, thành ngạnh chen cành nơi vùng rừng thấp vào
độ thu sang ràn rạt tiếng vẫy cánh của bầy chim câu béo nục Trên cao hơn, nơi sa mộc xanh như những bụm khói đặc và các giống thông thơm hắc mùi tinh dầu vu vu gió thổi là nơi con sóc đuôi bông nhảy nhót, chuyền cành Viền một vệt dài cạnh cái thung lũng hình lá đào là rặng doi cổ thụ mùa này lất phất bay cả ngàn chùm hoa bông trắng ngà hình chiếc đuôi chồn [58, tr 297]
Tính mở rộng của ngôn ngữ viết biểu thị ở các mối quan hệ trực tiếp giữa các thành tố trong phát ngôn Trong ngôn ngữ nói, nhiều yếu tố được ngầm hiểu giữa các vai giao tiếp trong ngữ cảnh cụ thể mà không cần phải gọi tên hay nhắc lại nhưng trong ngôn ngữ viết tiếng Việt, tất cả những yếu tố đó cần phải được gọi tên
và giải thích cụ thể Trong quá trình lựa chọn từ ngữ và các phương tiện ngữ pháp
để biểu thị nội dung cần trình bày, người viết không chịu tác động của bất cứ ngữ cảnh hay đối tượng giao tiếp nào khác Vì thế, ngôn ngữ viết càng đúng văn phong, càng chính xác và càng rõ ràng thì nội dung được biểu đạt bởi người viết càng dễ dàng, nhanh chóng và chính xác với người tiếp nhận
Trong quá trình phát triển, chữ viết tiếng Việt có những biến đổi lớn “Tiếng Việt ngày trước dùng chữ Hán, chữ Nôm để lưu giữ nên không có dấu câu, người xưa khi viết văn bản phải đếm chữ và học thuộc cả chỗ ngắt, chỗ dừng.” [1, tr 264] Tiếng Việt có hệ thống dấu câu khá đa dạng cùng với các phương tiện liên kết khác giúp cho người viết cũng như người tiếp nhận văn bản có thể dễ dàng hiểu nội dung của văn bản
Trang 191.2 Đặc điểm của ngôn ngữ nói tiếng Việt
Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói dùng trong giao tiếp hằng ngày, bao gồm sự trao đổi qua lại giữa người nói và người nghe Ngoài ra, người nói cũng
có thể viện đến những phương tiện biểu đạt khác để hỗ trợ như: ngữ điệu, nét mặt,
cử chỉ, điệu bộ Ngôn ngữ nói thường ngắn gọn, sử dụng nhiều câu tỉnh lược, từ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ Ngôn ngữ nói không chỉ là những hội thoại thông thường mà có khi cũng sử dụng lối nói trịnh trọng, phụ thuộc vào vị thế nói năng của người nói, mục đích và bối cảnh của cuộc hội thoại Khi đó, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết không có sự khác biệt về nội dung thể hiện
Ngôn ngữ nói là hình thức giao tiếp đầu tiên của con người Khi chưa có chữ viết, con người muốn trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm hoặc những kinh nghiệm sống đều sử dụng phương thức truyền khẩu Tuy mỗi dân tộc đều có kho tàng dân gian truyền khẩu với hàng ngàn hàng vạn câu chuyện, ca dao, tục ngữ, dân ca nhưng phương thức lưu truyền này cũng có nhiều hạn chế Ngôn ngữ nói bao gồm những giao tiếp bằng lời nói trong sinh hoạt hằng ngày, xét theo lĩnh vực hoạt động, gồm có những trường hợp tiêu biểu sau: giao tiếp bằng lời trong sinh hoạt gia đình, trong trường học, những giao tiếp có tính chất giao dịch mua bán, trong các hoạt động vui chơi giải trí
Ngôn ngữ nói thường được trình bày một cách tự nhiên Người nói có thể chuẩn bị trước một số ý cơ bản trước khi gặp gỡ, trò chuyện với đối tượng mình quan tâm nhưng không ai có thể chuẩn bị đến từng chi tiết Tuy nhiên trong buổi báo cáo, thuyết trình thì những nội dung của phát ngôn đã được chuẩn bị sẵn trên giấy hoặc trên máy tính nhưng trong quá trình trình bày, người nghe sẽ đưa ra những câu hỏi mà người trình bày không lường trước được
“Ngôn ngữ nói tiếng Việt được cấu thành bởi những yếu tố ngôn ngữ mang tính chất tùy chọn, nhưng thực chất cũng bị ràng buộc một cách chặt chẽ: cách xưng
hô, cách phát triển đề tài diễn ngôn, cách mở đầu và kết thúc cuộc thoại Những yếu
tố này thuộc đặc trưng mang tính dân tộc, thể hiện thói quen tiềm tàng trong cách
Trang 20nghĩ, trong tập tục, đời sống văn hóa của cộng đồng suốt chiều dài lịch sử” [31, tr 23]
Vấn đề đại từ xưng hô trong tiếng Việt thuộc về văn hóa giao tiếp của người Việt (xưng khiêm hô tôn) gây những khó khăn nhất định cho người học tiếng Việt như một ngoại ngữ Đại từ xưng hô trong tiếng Việt thay đổi tùy thuộc vào giới tính, tuổi tác, địa vị hoặc quan hệ xã hội Các từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, quan hệ xã hội
kể cả đại từ xưng hô tiếng nước ngoài cũng được dùng khi tham gia hội thoại Ở mỗi tình huống giao tiếp cụ thể, mỗi đối tượng giao tiếp phải tùy vào kinh nghiệm bản thân để vận dụng một cách sáng tạo các cặp từ hô - ứng, miễn sao thực hiện tốt nhất chiến lược giao tiếp của mình Hệ thống các từ xưng hô tiếng Việt tuy phức tạp nhưng không phải là một hệ thống khép kín mà là một hệ thống mở Điều này phản ánh một phần đặc trưng của văn hóa Việt Nam là tính uyển chuyển, năng động, không cứng nhắc Nét văn hóa đặc trưng này được phản ánh trong ngôn ngữ không chỉ ở hệ thống từ xưng hô mà còn được biểu hiện trong những lớp từ vựng khác của tiếng Việt
Tác giả Hồ Mỹ Huyền cho rằng, một trong những điểm nổi bật tạo nên sự khác biệt giữa nói và viết là tính nhất thời Trong ngôn ngữ nói, người nói có thể chuyển hướng đề tài hoặc sửa chữa phát ngôn Nguồn thông tin mà người nghe tiếp nhận được chỉ là nội dung tóm tắt của cuộc nói chuyện chứ không phải ghi nhớ từng chữ từng lời của người nói
Ngay cả những người bản ngữ đôi khi cũng gặp một số khó khăn khi phải tổ chức các phát ngôn trong một thời gian tương đối ngắn Đó là những lỗi thường gặp
về từ vựng, cú pháp, lặp ý Tuy vậy, người nói tiếng mẹ đẻ sẽ có ít khó khăn hơn người học ngoại ngữ Người phát ngôn thường có xu hướng tổ chức lời nói của mình theo quy tắc tiết kiệm Do thời gian ngắn và do giữa người nói và người nghe thường có những hiểu biết chung nên người nói dù không nói hết thì người nghe vẫn có thể hiểu được Do vậy ngôn ngữ nói mang trực tiếp và ít gọt giũa hơn so với ngôn ngữ viết
Trang 21Ngôn ngữ nói tiếng Việt thường sử dụng nhiều tiểu từ tình thái như: a, à, ấy, ứ,
ừ, thì, là, cái, mà, nhớ, nhỉ, nhá, nghen Những tiểu từ này có thể bị lược bỏ khi
trình bày ở dạng viết Đây là những yếu tố làm cho ngôn ngữ nói không bị đồng nhất với ngôn ngữ viết “Có thể nói rằng sự phong phú, đa dạng của trợ từ tình thái xuất phát từ đặc thù ngữ âm tiếng Việt và sự phân biệt nghĩa rất tinh tế trong cảm quan ngôn ngữ của người bản ngữ” [31, tr 28] Nếu “ừ” thông thường dùng để diễn đạt nghĩa đồng thuận, khẳng định, thì “ứ” lại được sử dụng để nhấn mạnh ý nghĩa phủ định
Tính không gọt giũa của ngôn ngữ nói tiếng Việt cũng được thể hiện ở những chỗ ngắt quãng trong lời nói, chỗ ngập ngừng lúc bắt đầu, những từ ngữ có ý nghĩa ước chừng hoặc thăm dò hay ở những điệp từ, điệp ngữ không có chủ ý Trong các văn bản nói được trình bày ở dạng viết, người đọc vẫn có thể bắt gặp những cách diễn đạt có tính tương tác tiêu biểu của giao tiếp bằng lời nói Đây cũng là một trong những cơ sở để phân biệt ngôn ngữ nói được ghi lại ở dạng viết với ngôn ngữ viết điển hình, bởi vì những cách diễn đạt này không thuộc về những đặc trưng tiêu biểu của phong cách viết
Như vậy, có sự khác biệt lớn giữa ngôn ngữ nói và viết về mặt hình thức (chất liệu âm thanh/ chữ viết, dạng thức tồn tại hoặc kênh giao tiếp), về cấu trúc, về phong cách ngôn ngữ… nhưng cũng không thể phủ nhận mối quan hệ không thể tách rời giữa chúng cũng như không thể vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa nói và viết Những đặc điểm được cho là tiêu biểu cho ngôn ngữ viết không có nghĩa là không bắt gặp trong ngôn ngữ đời thường và ngược lại Chúng là những biến thể chức năng của cùng một hệ thống ngôn ngữ dùng để biểu đạt những nội dung ngữ nghĩa khác nhau
Trang 221.3 So sánh những đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Sự khác nhau giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là vấn đề đáng quan tâm khi
sử dụng ngôn ngữ Tuy nhiên, không có sự đối lập tuyệt đối giữa chúng Trong “Bài giảng Phong cách học thực hành tiếng Việt”, tác giả Lê Thị Minh Hằng cho rằng các phong cách nói và viết đều có ảnh hưởng qua lại với nhau, những từ ngữ hay cách diễn đạt ở phong cách này có thể xuất hiện ở phong cách kia, và ngược lại Nhưng phong cách nói xuất hiện trong phong cách viết là những từ ngữ, cách diễn đạt đã được chọn lọc, sắp xếp một cách có chủ ý để tạo được hiệu ứng riêng Trên
cơ sở đó, chúng tôi xin được đưa ra những so sánh về đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết như sau:
1.3.1 So sánh đặc điểm của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói tiếng Việt trên bình diện ngữ âm
Nhờ những đặc trưng ngữ âm mà người sử dụng ngôn ngữ có thể phân biệt được các từ và hiểu được nội dung giao tiếp Một số ngôn ngữ có xuất hiện hiện tượng nối âm, biến đổi phụ âm hoặc thậm chí lược bỏ âm tiết mặc dù những hiện tượng này không được ghi lại trong ngôn ngữ viết Chẳng hạn như, đối với những từ bắt đầu bằng một nguyên âm, nếu từ liền trước tận cùng bằng một phụ âm, khi nói, phụ âm liền trước sẽ kết hợp với nguyên âm liền sau Ví dụ: từ 한국어 (tiếng Hàn)
han guk o, nhưng khi phát âm thì k sẽ kết hợp với o tạo thành cách phát âm
[han-guko] Hiện tượng nối âm này không được ghi nhận trong tiếng Việt
Hầu hết những sự biến đổi về hình thức trong phương ngữ đều xuất phát từ sự biến đổi ngữ âm học và âm vị học Biến đổi ngữ âm là sự biến đổi đều đặn, xảy ra đồng loạt đối với tất cả các từ có chứa nguyên âm hoặc phụ âm Biến đổi ngữ âm thường xảy ra theo quy luật tiết kiệm và đơn giản hóa những cách phát âm khó Biến đổi âm vị học là sự biến đổi không đều đặn, chỉ xuất hiện ở một số từ, âm vị
mới lần lượt thay thế âm vị cũ: ă và â, thày giáo (phương ngữ nam bộ), thầy giáo
(phương ngữ bắc bộ)… Tuy nhiên một số trường hợp khác lại có giá trị khu biệt
nghĩa trong cả hai phương ngữ này: xay – xây, thay - thây… Có một khoảng cách
Trang 23lớn về mặt âm so với cách thể hiện bằng chữ giữa các phương ngữ Đây cũng là một trong những khác biệt cơ bản trong việc sử dụng lời nói và chữ viết: chữ viết mang tính xã hội cao hơn lời nói miệng Khi tiếp xúc với một người nói một phương ngữ khác, người nghe tự động chuyển hóa mã ngôn ngữ vùng mà họ nghe được sang mã ngôn ngữ toàn dân để có thể hiểu được phát ngôn
Trong khi ngôn ngữ viết hướng tới sự thể hiện chuẩn mực chung của toàn xã hội, ngôn ngữ nói chứa đựng tập quán ngôn ngữ của một nhóm xã hội ở một địa phương nhất định, thể hiện những thói quen ngôn ngữ mang tính cá thể cao Bởi vì, ngôn ngữ nói được phát ra bởi một người nói cụ thể, với đặc điểm riêng về chất giọng và ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
1.3.2 So sánh đặc điểm của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói trên bình diện
từ ngữ 1.3.2.1 Quán ngữ
Mỗi ngôn ngữ có các quán ngữ riêng Trong tiếng Việt có các quán ngữ đã
được mặc định cho phong cách nói trong ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày như Của đáng tội, Khí vô phép, Khổ một nỗi là, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói dại đổ đi, Còn mồ ma,
Nó chết (một) cái là, Nói ( ) bỏ quá cho, Cắn rơm cắn cỏ, Chẳng nước non gì, Đùng một cái, Nói trộm bóng vía,
Cùng với các quán ngữ, thành ngữ và tục ngữ cũng góp phần tạo nên lời ăn
tiếng nói của nhân dân: liệu cơm gắp mắm, lời ăn lỗ chịu, rày đây mai đó, trời sinh voi sinh cỏ, còn nước còn tát, bằng mặt chứ không bằng lòng Thành ngữ, tục ngữ
và các nhóm từ ngữ có yếu tố Hán – Việt được sử dụng trong lời thoại cải lương, trong tuồng cổ, hoặc trong lời nói có ý ví von, so sánh, đúc kết kinh nghiệm v.v
hoặc khi nói về tín ngưỡng, về đạo lý làm người: mẹ tròn con vuông, ba chìm bảy nổi, tham phú phụ bần, trai tài gái sắc, tùy cơ ứng biến, xuất giá tòng phu
Trang 24Về mặt tổ chức văn bản, các quán ngữ trong ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói đều thể hiện rõ chức năng liên kết, tạo mốc đánh dấu văn bản như báo hiệu mở đầu, chuyển ý, chuyển sang phần tiếp theo hoặc phần kết, giúp người đọc nhận hiểu văn bản một cách rõ ràng Các quán ngữ có xuất xứ từ ngôn ngữ nói được tái hiện trong ngôn ngữ viết hầu hết chỉ tập trung ở thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu phẩm báo chí Mỗi phong cách ngôn ngữ đều có quán ngữ riêng nhưng vẫn có những quán ngữ mang sắc thái trung hòa có thể xuất hiện trong cả văn nói và văn viết
1.3.2.3 Từ ngữ thông tục
Trong tiếng Việt có một nhóm từ khá đặc biệt: từ ngữ thông tục Đây là nhóm
từ hầu như chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ nói, ở những cuộc thoại không nghi thức; thậm chí ngay cả trong hội thoại hàng ngày, không phải ai cũng có thể và có thói quen sử dụng chúng; nhóm từ ngữ này lại rất thuần Việt và mang đậm phong cách ngôn ngữ cá nhân của người sử dụng Xuất hiện trước tiên ở một địa phương nào đó trước khi lan truyền sang những địa phương khác Có khi chỉ tồn tại ở một phạm vi hẹp nào đó rồi rơi vào quên lãng, có khi được nhiều người ưa chuộng Từ ngữ thông tục không chỉ bao gồm những từ ngữ có phần “thô tục”, mà cả những từ ngữ ưa
dùng trong ngôn ngữ nói sinh hoạt hàng ngày Ví dụ: cà kê dê ngỗng, mất sổ gạo, búa xua, tùm lum
Trong ngôn ngữ viết, lớp từ này chỉ xuất hiện trong một số kiểu văn bản nhất định như ghi chép cá nhân, các sáng tác văn học nghệ thuật như truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn, phê bình văn học, tiểu phẩm báo chí
1.3.2.4 Phương ngữ
Các phương ngữ trong tiếng Việt tồn tại song song với ngôn ngữ văn hóa, góp phần tô đậm bản sắc văn hóa Việt Nam nhưng lại có vẻ xa lạ đối với sinh viên nước ngoài học tiếng Việt Vấn đề phương ngữ trong việc giảng dạy tiếng Việt trong thời
Trang 25gian gần đây đã nhận được sự quan tâm hơn bởi lẽ bên cạnh vốn từ văn hóa trong tiếng Việt còn có những từ địa phương mà học viên nước ngoài học tiếng Việt cần phải biết thêm
Phương ngữ vừa là vốn từ ngữ riêng của một địa phương nào đó vừa là phần đóng góp để tạo thành tài sản chung của ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ toàn dân là một yêu cầu tất yếu đối với quá trình chuẩn hóa ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ viết, đồng thời những biến thể mang tính địa phương lại tạo thành những nét riêng trong cái đa dạng, muôn hình muôn vẻ của ngôn ngữ nói Từ địa phương trong phong cách viết không phải là cản trở lớn nhất đối với việc giao tiếp của những người thuộc địa phương khác nhau Nó tạo nên sự phong phú, đa dạng của ngôn ngữ văn chương trong các tác phẩm xuất xứ từ những địa phương khác nhau và cũng được
sử dụng nhiều trong các thể loại thuộc phong cách thông tấn báo chí Tuy nhiên, nó không phổ biến trong các phong cách chức năng như hành chính, chính luận, vốn là những phong cách ngôn ngữ đòi hỏi có sự chuẩn hóa về ngôn từ Do đó, đối với việc dạy phương ngữ cần lưu ý hai đối tượng là: những học viên học tiếng Việt với mục đích giao tiếp và những học viên học tiếng Việt như một công cụ để nghiên cứu văn hóa Việt Nam
1.3.2.5 Từ ngữ lóng
Từ ngữ lóng được hình thành từ khẩu ngữ và được sử dụng trong các nhóm người có mối quan hệ xã hội, có cùng nghề nghiệp, hoặc cùng sở thích cá nhân Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể trong thói quen sử dụng từ ngữ lóng và từ ngữ thông tục giữa các nhóm xã hội khác nhau Việc sử dụng những đơn vị từ ngữ này trong ngôn ngữ nói phụ thuộc vào sở thích và thói quen của bản thân người sử dụng ngôn ngữ
Trong ngôn ngữ viết, việc lựa chọn sử dụng hay không những đơn vị này do những nhân tố khác quy định, trong đó có yêu cầu về thể loại văn bản Do đó phạm
vi hoạt động của từ ngữ lóng trong ngôn ngữ viết thường chỉ giới hạn ở thư từ cá
Trang 26nhân, các văn bản nghệ thuật phản ánh cuộc sống đời thường của các nhân vật sử dụng từ ngữ lóng như truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, ký sự Việc sử dụng các đơn vị này trong ngôn ngữ viết cần xuất phát từ yêu cầu khách quan của nội dung thông tin và phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của người đọc
1.3.2.6 Từ ngữ có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài
Trong bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có sự vay mượn, bằng chứng của việc tiếp xúc ngôn ngữ trong một thời gian nhất định, từ ngữ tiếng nước ngoài khi du nhập vào tiếng Việt thường bị chi phối bởi quy luật ngữ âm và chính tả của tiếng Việt Trong ngôn ngữ nói, từ ngữ vay mượn gốc Hán chiếm đại đa số từ ngữ gốc tiếng nước ngoài trong tiếng Việt, một bộ phận của các đơn vị này được Việt hóa cao độ
Từ vay mượn gốc Ấn – Âu có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của xã hội Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và sự bùng nổ của công nghệ thông tin trên toàn thế giới, số lượng từ vay mượn tiếng Anh và các thứ tiếng khác trong tiếng Việt đã không ngừng gia tăng Trong ngôn ngữ viết thì từ ngữ vay mượn gốc
Ấn – Âu, đặc biệt là đơn vị có nguồn gốc từ các tiếng Anh, Pháp đã bị chi phối bởi quy luật ngữ âm và chính tả tiếng Việt và có thời gian tồn tại lâu dài trong tiếng Việt, là những đơn vị không gây nhiều khó khăn trong việc nhận hiểu văn bản Nhu cầu sử dụng từ ngữ vay mượn tiếng nước ngoài trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết đặt ra những yêu cầu hoàn toàn khác nhau trong phạm vi ngôn ngữ khác nhau
1.3.3 So sánh đặc điểm của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói trên bình diện ngữ pháp
Một số tác giả cho rằng ngôn ngữ nói thường có kết cấu “rời rạc”, còn ngôn ngữ viết thường được tổ chức chặt chẽ hơn về mặt cú pháp Sức ép về mặt thời gian
và những hạn chế về mặt nhận thức trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nói cũng là nguyên nhân tạo ra những cấu trúc có kết cấu cú pháp với độ tích hợp thấp trong bất
Trang 27kỳ ngôn ngữ nào Trong tiếng Việt các “khúc đoạn” lời nói thường được nối kết bởi
các liên từ như: thế thì, thì, mà, nhưng mà, rồi, cái, kế đến Nhưng trong ngôn ngữ
viết, có thể thấy rằng nó có khuynh hướng được tích hợp cao hơn ngôn ngữ nói Do người viết có điều kiện để kết hợp ý tưởng thành các đơn vị có kết cấu bên trong phức tạp Thông thường, người viết có thể sử dụng các phương tiện liên kết để liên kết các thành tố trong câu, kết hợp các mệnh đề lại với nhau, v.v
Liên kết được hiểu như những phương tiện ngôn ngữ có tính hình thức để minh họa cho sự kết nối giữa các phát ngôn đứng cạnh nhau tạo thành văn bản, không chỉ liên kết một cách tự nhiên mà còn tạo nên các mối quan hệ có tính nhất quán về nội dung ngữ nghĩa Liên kết bằng cách lặp cú pháp nhằm tạo ra sự cân đối, hài hòa trong văn nghị luận Lặp cú pháp, ngoài tác dụng nhấn mạnh, còn giúp duy trì liên kết chủ đề trong đoạn văn Ngoài ra, lặp từ ngữ là một trong những biện pháp liên kết diễn ngôn
Khi nói, nhờ vào tình huống trực tiếp và các phương tiện phi ngôn ngữ mà người tham gia hội thoại có thể nhận biết các phát ngôn riêng lẻ có được nối kết một cách mạch lạc hay không Khi viết, văn bản phải có kết cấu chặt chẽ và nội dung thông tin nhất quán Vai trò quan trọng của mô hình câu cũng như sự liên kết giữa các câu trong ngôn ngữ viết có nhiều điểm khác biệt so với ngôn ngữ nói Ngôn ngữ nói được lưu lại bằng chữ viết trong văn bản, mục đích thể hiện ngôn ngữ nói trong những biểu hiện sinh động, cụ thể và khai thác những ưu thế của nó Ngược lại, ngôn ngữ viết trong văn bản được trình bày bằng lời nói miệng, mục đích là tận dụng được những ưu thế của ngôn ngữ viết đồng thời vẫn có sự phối hợp của các yếu tố hỗ trợ trong ngôn ngữ nói
Trang 28
Tiểu kết
Trong việc dạy tiếng, sự phân biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết có tầm quan trọng nhất định Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng “Khi chữ viết chưa phát triển, hình thức viết thường được dùng để ghi lại lời nói Về sau, khi hệ thống chữ viết ngày càng hoàn thiện cùng với những phương tiện đặc thù như hệ thống dấu câu, các phương tiện liên kết làm cho hình thức viết và nói khác nhau đủ rõ” [1, tr 249] Tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác trên thế giới có những ràng buộc được quy định bởi mục đích, nội dung giao tiếp và tình huống giao tiếp, đặc biệt là hệ thống từ xưng hô và các nguyên tắc giao tiếp thuộc về đặc trưng văn hóa của người Việt
Về ngữ âm, có sự biến đổi âm vị trong ngôn ngữ nói cũng như có sự khác nhau
về ngữ âm giữa các địa phương Mặt khác, ngôn ngữ viết hướng đến tính chuẩn mực chung của toàn xã hội Khi viết, cần viết đúng chuẩn chính tả thống nhất toàn dân, viết đúng quy cách con chữ, dấu câu Về mặt từ vựng, trong ngôn ngữ viết không sử dụng những từ ngữ riêng của phong cách hội thoại thường gặp, trừ các văn bản thuộc thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết Về mặt ngữ pháp, ngôn ngữ viết thường dùng các câu ghép dài, nhiều tầng bậc, tránh dùng câu tỉnh lược hoặc lặp thừa từ ngữ mà không có tác dụng tu từ đủ rõ Văn bản phải đảm bảo tính nhất quán, mạch lạc và có sự liên kết với nhau Tiếng Việt sử dụng nhiều phương thức để liên kết các đơn vị: sử dụng trật tự của thành tố, ngữ điệu (ngữ điệu là phương tiện thực tại hóa mối quan hệ ngữ nghĩa trong các câu ghép không từ nối, quy định nội dung ngữ nghĩa của các đơn vị)
Trang 29CHƯƠNG 2: LỖI SỬ DỤNG NGÔN NGỮ VIẾT CỦA HỌC VIÊN NGƯỜI HÀN QUỐC
Ngôn ngữ học ứng dụng dạy tiếng những năm gần đây đã quan tâm nhiều hơn đến quan điểm lấy người học làm trung tâm “Trong lĩnh vực dạy ngoại ngữ, quan điểm này nhấn mạnh năng lực của người học trong việc tạo lập những giả thuyết khi chuyển sang tiềm năng song ngữ đáp ứng những nhu cầu giao tiếp của họ Một biểu hiện của quan điểm này là sự quan tâm ngày càng nhiều đến ngôn ngữ của người học, đặc biệt là việc phân tích lỗi của người học trong quá trình học tập và sử dụng ngoại ngữ.” [38, tr 428]
Tác giả Dư Ngoc Ngân cũng cho rằng “Lỗi trong việc học tiếng là những hiện tượng lệch chuẩn, đi chệch với những quy tắc của hệ thống ngôn ngữ đích Đối với các nhà ngôn ngữ học, phân tích lỗi có giá trị cho lý thuyết ngôn ngữ học và việc thực hành dạy tiếng Phân tích lỗi cung cấp những ngữ liệu thực nghiệm có giá trị cho lý thuyết về tiếng Bên cạnh đó, phân tích lỗi còn là những kiểm chứng quan trọng của ngôn ngữ học ứng dụng dạy tiếng; từ thực tế đánh giá lỗi của người học, những mức độ trầm trọng, độ sai của lỗi và nguồn gốc của lỗi, người dạy có thể thiết kế một chương trình dạy tiếng có hiệu quả, phù hợp với tâm lý người học, với bản chất của quá trình học tập của người học” [38, tr 428, 429]
Phân tích đối chiếu với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu từ quan niệm về sự giao thoa (interference), giữa hai hệ thống ngôn ngữ (ngôn ngữ nguồn – ngôn ngữ
mẹ đẻ của người học và ngôn ngữ đích – ngôn ngữ được học), các nhà ngôn ngữ học theo hướng đối chiếu nhận thấy rằng, hầu hết những câu lệch chuẩn của những người học ngoại ngữ là do sự chuyển di ngôn ngữ (language transfer), tức sự mở rộng có hay không có ý thức của người học từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích
Từ đó sự giao thoa ngôn ngữ là nguồn gốc gây lỗi được xem là sự chuyển di tiêu cực (phân biệt với chuyển di tích cực là những trường hợp chuyển di tạo điều kiện thuận lợi cho việc học ngoại ngữ) Hướng đi chủ yếu của phân tích đối chiếu là dự đoán lỗi của người học ngoại ngữ từ những kết quả so sánh, đối chiếu hai hệ thống
Trang 30ngôn ngữ: ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích Kết quả của hướng nghiên cứu này sẽ dẫn đến một danh sách liệt kê những phạm vi khó khăn (những phạm vi có thể gây
ra lỗi) mà người học có thể gặp phải cũng như hướng sự chú ý của giáo viên vào những phạm vi này để có sự quan tâm nhiều hơn và có sự định hướng cho người học cách vượt qua hoặc tránh những lỗi vừa nêu
Tuy nhiên, chuyển di ngôn ngữ không phải là nguyên nhân duy nhất gây lỗi nơi người học Ngoài nguyên nhân là sự chuyển di ngôn ngữ, một số nhà ngôn ngữ học còn nói đến những nguyên nhân khác như sự khái quát quá mức những quy tắc của ngôn ngữ, những chiến lược học tập ngôn ngữ đích, những chiến lược giao tiếp hoặc sự chuyển di của việc đào tạo ngôn ngữ
Dựa trên việc phân tích lỗi ngữ pháp của người Hàn Quốc đã được thực hiện trong nhiều công trình nghiên cứu trước đây, chúng tôi sẽ tóm lược một vài lỗi ngữ pháp thường thấy của học viên Hàn Quốc học tiếng Việt
2.1 Các lỗi thường gặp ở học viên người Hàn Quốc khi viết tiếng Việt 2.1.1 Lỗi viết sai chính tả gây lẫn lộn, mơ hồ về nghĩa
(1) Khi đi du lịch tôi muốn biết nhiều lịch sự và văn hóa truyền thông của
Việt Nam
(2) Ở Seoul có nhiều người nước ngoại
(3) Tôi nghĩ là lấp gia đình sau đó đi du lịch
(4) Hôm qua tôi uống rượu nhiều nên rắt mệt
(5) Sau khi thức dậy, tôi đi tám và đi học
(6) Tôi đang bị đâu đầu
(7) Em làm quên với 5 người Việt Nam
(8) Tôi muốn mua vế máy bay
Trang 31Qua các lỗi trên có thể thấy rằng, học viên nước ngoài học tiếng Việt nói chung và học viên Hàn Quốc nói riêng đều mắc những lỗi viết sai âm hoặc thanh điệu Ở câu (1), (2), (3) học viên nhầm lẫn thanh điệu giữa những từ có vỏ âm thanh
gần nhau hoặc do bất cẩn viết nhầm dấu của những từ này: lịch sử và lịch sự, truyền thống và truyền thông, ngoại và ngoài, lấp và lập
Các câu (4), (5), (6) là những trường hợp người viết nhầm lẫn giữa các nguyên
âm a, ă và â Trong tiếng Hàn cách phát âm nguyên âm 아 /a/ không có sự phân biệt như a và ă trong tiếng Việt Họ không quen với việc phân biệt chúng vì nghĩ rằng
không có sự khác biệt về nghĩa Do đó, học viên người Hàn khi học tiếng Việt thường nhầm lẫn giữa các cặp âm này
Các câu (7), (8) là những ví dụ điển hình cho việc học viên người Hàn Quốc
thường xuyên nhầm lẫn giữa hai nguyên âm e và ê Cặp nguyên âm này đã gây
không ít khó khăn cho học viên Hàn Quốc khi học phát âm cũng như khi học viết
Nguyên nhân là cặp nguyên âm này được thể hiện trong tiếng Hàn [ㅐ] /ae/ và [ㅔ] /e/ nhưng khi nói, tùy theo cách phát âm ở một vài địa phương, nguyên âm [ㅐ] /ae/ thường được phát âm là [ㅔ] /e/ Người Hàn thường chuyển cách phát âm từ e thành
ê giống như khi phát âm tiếng Hàn, ví dụ: mẹ thành mệ, em thành êm dẫn đến việc nhầm lẫn khi viết: quên thay vì quen, vế thay vì vé
2.1.2 Lỗi nhầm lẫn các từ gần nghĩa, đồng nghĩa
Đây là những lỗi viết câu phát sinh khi người viết không phân biệt được những nét nghĩa khác nhau giữa những từ gần nghĩa hoặc đồng nghĩa Nguyên nhân
có thể là do họ cho rằng giữa chúng không có sự khác biệt lớn và có thể thay thế cho nhau trong bất kỳ ngữ cảnh nào hoặc cũng có thể do người học chưa có được vốn từ đủ để diễn đạt ý muốn nói nên đã áp dụng những gì đã được học vào ngữ cảnh mới, hoặc lỗi do dịch từ ngôn ngữ mẹ đẻ của học viên
(9) Dạo này thời tiết hơi mát mẻ
Trang 32(10) Bây giờ tôi thấy chương trình tivi
(11) Có nhiều người thấy em nên em xấu hổ
(12) Trời đang mưa nhiều
(13) Đêm qua tôi ngủ không tốt
(14) Khi tôi là sinh viên chuyên môn của tôi là sư phạm giáo dục
(15) Nhưng nếu có gia đình thì tôi muốn có hai con, một nam một nữ
(16) Hôm nay tôi đi tiệc kết hôn của bạn
(17) Tuy ngay bây giờ không thể giải quyết vấn đề dân số giữa thành phố và
nông thôn nhưng từ từ nông thôn cũng phát triển như thành phố
Từ những câu vừa nêu bên trên, có thể nói rằng những từ in đậm trong câu được sử dụng không thích hợp, theo chúng tôi, chúng cần phải được sửa lại như sau:
Dạo này thời tiết khá mát mẻ
Bây giờ tôi xem chương trình tivi
Có nhiều người nhìn em nên em xấu hổ
Trời đang mưa lớn
Đêm qua tôi ngủ không ngon
Khi tôi là sinh viên chuyên ngành của tôi là sư phạm giáo dục
Nhưng nếu có gia đình thì tôi muốn có hai con, một trai một gái
Hôm nay tôi đi dự tiệc cưới của bạn
Tuy ngay bây giờ không thể giải quyết vấn đề dân số giữa thành phố và nông
thôn nhưng dần dần nông thôn cũng phát triển như thành phố
Ở câu (10), người viết mắc lỗi do không phân biệt được hai từ cùng chỉ mức
độ là hơi – thường mang nghĩa tiêu cực và khá – thường mang nghĩa tích cực Khi học tiếng Việt, từ hơi được dạy từ những bài học đầu tiên và được sử dụng khá
Trang 33thường xuyên trong khẩu ngữ nên người học có xu hướng đồng nhất hai từ trên và
mặc định việc dùng từ hơi cho cả hai sắc thái tiêu cực lẫn tích cực
Ngoài trường hợp vừa phân tích, việc sử dụng đúng những từ đồng nghĩa, từ gần nghĩa trong những ngữ cảnh khác nhau là một khó khăn đối với đa số học viên nước ngoài học tiếng Việt chứ không chỉ riêng học viên Hàn Quốc Đối với người
học, các động từ biểu đạt khả năng thị giác của con người như: thấy, nhìn, gặp, xem, quan sát, trông, ngắm, chứng kiến là những từ ngữ khó phân biệt Người học
thường mắc những lỗi này do vốn từ vựng của họ chưa nhiều nhưng lại muốn mở rộng phạm vi sử dụng Khi cần diễn đạt động từ với ý nghĩa này, người Hàn thường
chỉ dùng động từ 보다 /boda/ cho tất cả các khả năng kết hợp, chẳng hạn như xem
phim영화를 보다 /younghwareul boda/, ngày mai gặp lại 내일 봐 /neil bwa/, lúc
nãy tôi thấy anh ấy 아까 그 사람을 봤어요 /akka geu sarameul bwasseoyo/ Do
đó, họ thường bối rối khi sử dụng nhóm từ này và trong những ngữ cảnh khác nhau lại vận dụng không chính xác
Các từ in đậm trong câu (13), (14), (15) là những ví dụ về việc sử dụng từ không đúng với ngữ cảnh trong câu Nguyên nhân có thể là do người học đã vận dụng những từ có ý nghĩa tương đương với tiếng mẹ đẻ để biểu đạt những ý trên
Chẳng hạn như họ thường dùng từ nhiều 많이 /mani/ trong 비가 많이 오다/biga
mani oda/ khi diễn đạt ý trời mưa lớn, dùng từ tốt 잘/jal/ trong 잘 자 /jal ja/ để diễn đạt ý ngủ ngon (câu 13, 14) Đối với từ Hán Việt chuyên môn và chuyên
ngành thì nguyên nhân mắc lỗi có thể là do hiểu sai nghĩa của từ Hán Việt dẫn đến
việc vận dụng không đúng ngữ cảnh (câu 15)
Câu (16), (17) cũng là hai câu sai do người học không biết khi nào cần sử dụng
từ Hán Việt hoặc cũng có thể do người học chỉ mới biết các từ Hán Việt gần âm với
từ Hán - Hàn như nam, nữ, kết hôn và họ thường xuyên sử dụng các từ này vì dễ nhớ mà không biết rằng chúng có những sắc thái ý nghĩa khác nhau Nam và trai,
nữ và gái đều là những từ chỉ giới tính, nhưng giữa chúng có sự khác nhau khá tinh
Trang 34tế về nguồn gốc và ý nghĩa: nam, nữ là những từ Hàn Việt, mang ý nghĩa khái quát,
còn trai, gái là từ thuần Việt, mang ý nghĩa cụ thể
Kết hôn và cưới tuy đều có nghĩa là chính thức lấy nhau thành vợ chồng
nhưng trong nhiều ngữ cảnh, chúng có cách dùng khác nhau và không thể thay thế
cho nhau, chẳng hạn như có thể nói áo cưới, nhẫn cưới, tiệc cưới, đám cưới, hoa cưới mà không thể nói áo kết hôn, nhẫn kết hôn, tiệc kết hôn, đám kết hôn Khi dùng từ cưới thì bổ ngữ có thể kết hợp trực tiếp mà không cần giới từ Tuy nhiên, từ kết hôn thì bổ ngữ bắt buộc phải đi với giới từ với như: họ đã kết hôn với nhau, tôi
đã kết hôn với anh ấy
- Trong câu (18) người viết nhầm lẫn ý nghĩa của hai từ từ từ với ý nghĩa chầm chậm và thong thả và dần dần với ý nghĩa tiến triển từng chút một Trong nhiều
trường hợp, hai từ này không thể thay thế cho nhau vì sẽ làm thay đổi ý nghĩa của câu, chẳng hạn như trong các câu dưới đây
Dần dần họ cũng hiểu nhau
Thời tiết dần (dần) chuyển sang đông
Xin cô hãy nói từ từ
Anh cứ viết từ từ, không cần viết nhanh
Khi tiếp nhận một từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với từ đã học, người học cần lưu ý đến những nét nghĩa tương đồng cũng như khác biệt của chúng: về ngữ nghĩa (đối với các từ gần nghĩa, đồng nghĩa, ngoài những nét nghĩa chung, mỗi từ còn có những nét nghĩa riêng rất đáng lưu ý khi sử dụng), phong cách, phạm vi sử dụng, v.v
Đối với người dạy, khi dạy một từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với từ người học
đã được học trước đó, cần đưa ra những điểm lưu ý để giúp người học phân biệt được điểm khác nhau giữa các từ gần nghĩa hoặc những từ có ý nghĩa tương đồng
về sắc thái nghĩa bổ sung, phạm vi sử dụng, phong cách, khả năng kết hợp cú pháp
và từ vựng, thói quen sử dụng từ ngữ trong tiếng Việt, v.v Việc đưa ra những điểm
Trang 35lưu ý này cũng tùy thuộc vào trình độ và năng lực tiếp thu của người học, tránh việc đưa ra quá nhiều lưu ý cùng một lúc khiến người đọc cảm thấy bối rối hơn
2.1.3 Lỗi về trật tự tuyến tính
Đây là loại lỗi mà trật tự sắp xếp các thành tố trong các kết cấu cú pháp không phù hợp với quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt Lỗi về trật tự tuyến tính bao gồm các dạng chủ yếu sau đây:
2.1.3.1 Lỗi đặt sai vị trí của các phụ ngữ (18) Tôi luôn luôn đọc tiếng Anh sách
(19) Anh ấy tặng tôi một cuốn Việt Nam lịch sử
(20) Mai chiều chúng ta gặp nhau
(21) Tôi có bạn thân một người
(22) Nước của tôi cũng có món ăn rất nhiều loại
(23) Sinh viên tất cả thích thầy giáo
(24) Hôm nay tôi học nghỉ
(25) Em có khó khăn nhiều khi học tiếng Việt
(26) Gia đình là quan trọng nhất theo tôi
(27) Có lẽ anh ấy 30 tuổi nhiều hơn
(28) Chị ấy biết rồi chắc chắn
(29) Hôm nay ở đâu gặp?
(30) Bao nhiêu xa từ đây đến chợ Bến Thành?
(31) Bao nhiêu phần trăm hiểu?
Học viên Hàn Quốc thường sắp xếp các thành tố trong ngữ đoạn, tức tổ hợp chính phụ theo trật tự ngược với cú pháp tiếng Việt Đó là một trật tự được thiết lập
Trang 36không dựa trên cở sở cú pháp tiếng Việt Trật tự cú pháp thông thường của các thành tố trong các ngữ chính phụ tiếng Việt (khi thành tố phụ là thực từ) là chính (trước) – phụ (sau), nghĩa là các phụ ngữ (định ngữ hoặc bổ ngữ) theo sau thành tố trung tâm Qua các văn bản khảo sát, các thành tố này được sắp xếp theo một trật tự ngược lại phụ (trước) – chính (sau) như trong các câu (19), (20), (21) người viết đã
viết tiếng Anh sách, Việt Nam lịch sử, mai chiều thay vì viết sách tiếng Anh, lịch
sử Việt Nam, chiều mai
Từ câu (22) đến câu (29) là các lỗi sai do người học đã vận dụng những kiến thức ngữ pháp của ngôn ngữ nguồn vào ngôn ngữ đích Chúng tôi xin dẫn chứng những lỗi sai và cấu trúc tương đương trong bảng sau:
Lỗi sai Cấu trúc tương đương trong tiếng
Hàn (22) bạn thân một người bạn thân 친한 친구 /chinhan chingu/
+ số từ một 한 /han/ + danh từ đơn vị
người 사람 /saram/
(23) món ăn rất nhiều loại Món ăn 음식 /eumsik/+ rất nhiều
loại 아주 많이 가지 /aju mani gaji/
(24) sinh viên tất cả sinh viên 대학생 /daehakseng/ + tất
cả 모두 /modu/
nhiều 많이 /mani/
Trang 37(27) theo tôi + theo tôi 나한테 /na hant’e/
(28) 30 tuổi nhiều hơn 30 tuổi 세/se/ + trên 이상 /ysang/
(29) Chị ấy biết rồi chắc chắn + chắc chắn 확실히 /hwaksilhi/
Trong các câu (30), (31), (32) có một hiện tượng cũng đáng chú ý là các đại từ nghi vấn hoặc những tổ hợp có đại từ nghi vấn được đặt ở đầu câu hoặc trước vị
ngữ: ở đâu gặp, bao nhiêu xa từ đây , bao nhiêu phần trăm hiểu cũng do
chuyển di từ ngôn ngữ nguồn Chúng tôi xin được sửa lại các câu trên như sau:
Tôi luôn luôn đọc sách tiếng Anh
Anh ấy tặng tôi một cuốn lịch sử Việt Nam
Chiều mai chúng ta gặp nhau
Tôi có một người bạn thân
Nước của tôi cũng có rất nhiều loại món ăn
Tất cả sinh viên đều thích thầy giáo
Hôm nay tôi nghỉ học
Em có nhiều khó khăn khi học tiếng Việt
Theo tôi, gia đình là quan trọng nhất
Có lẽ anh ấy hơn 30 tuổi
Chắc chắn là chị ấy biết rồi
Hôm nay chúng ta gặp nhau ở đâu?
Từ đây đến chợ Bến Thành bao xa?
Anh/Chị hiểu bao nhiêu phần trăm?
Trang 38Các lỗi trên tuy không gây hiểu lầm hay khó hiểu đối với người đọc nhưng nó không đúng chuẩn ngữ pháp tiếng Việt Nếu học viên không lưu ý khắc phục ngay
từ đầu thì rất khó sửa khi học ở trình độ cao hơn Học viên cần ý thức được sự khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Hàn và phải thận trọng trước khi vận dụng ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ vào ngôn ngữ đích Giáo viên có thể giúp học viên thấy được sự khác nhau này bằng cách cùng với học viên so sánh một vài đặc điểm cơ bản giữa tiếng Việt và tiếng Hàn Ngoài ra, giáo viên có thể cho học viên các bài tập về sắp xếp vị trí các từ thành câu đúng, bài tập đặt câu hỏi với câu trả lời cho trước, dịch một số câu có các ngữ danh từ phức tạp để khắc phục vấn đề này
2.1.3.2 Lỗi đặt sai vị trí của từ tình thái
Trong các kết cấu ngữ pháp tiếng Việt, có thể có mặt những từ mà chức năng của chúng là biểu thị một số ý nghĩa tình thái Các từ này có những vị trí nhất định trong ngữ đoạn, trong câu Tuy nhiên, nếu có sự chuyển đổi vị trí thì ý nghĩa của chúng cũng như của toàn bộ tổ hợp sẽ ít nhiều thay đổi hoặc làm ảnh hưởng đến cả cấu trúc Ngoài ra, còn có nhiều trường hợp lỗi do cách dùng một số từ tình thái khác trong tiếng Việt ở những vị trí mà nội dung biểu hiện nghĩa tình thái không phù hợp với nội dung, dụng ý diễn đạt của người viết
(32) Chủ nhật tuần trước chúng tôi lại gặp thầy giáo
(33) Sau khi tốt nghiệp đại học em sẽ làm việc lại ở Việt Nam
(34) Sáng nay tôi không được đến lớp vì bị đau đầu
(35) Nó không lái xe được vì chưa có bằng lái xe
Dạng lỗi này có thể dẫn đến việc hiểu sai lệch ý nghĩa của câu nếu câu tách ra
khỏi ngữ cảnh Học viên nhầm lẫn giữa gặp lại – biểu thị ý nghĩa hành động gặp được thực hiện một lần nữa và lại gặp – biểu thị sắc thái không vui, không vừa lòng của người nói, mà không hề biết hoặc không ý thức được sự nhầm lẫn này
làm cho câu văn bị hiểu sai Nguyên nhân có thể học viên vận dụng sai cấu trúc từ
Trang 39tiếng Hàn khi diễn đạt ý nghĩa gặp lại - 다시 만나다 /dasi mannada/ (lại gặp) thành lại gặp
Trong câu (36), học viên đã nhầm lẫn giữa cấu trúc không thể và không được
Mặc dù hai cấu trúc này khi đi kèm với động từ đều có nét nghĩa chung là biểu thị
khả năng nhưng sự khác biệt trong cách dùng không thể so với cách dùng không được là ở chỗ, không thể biểu thị tính không khả thi, trong khi đó, không được
mang nét nghĩa cấm đoán hoặc phủ định khả năng của sự vật/ sự việc/ người được nói đến
Trong câu (37), mặc dù muốn diễn đạt ý không được lái xe vì chưa có bằng
lái xe nhưng khả năng tiếng Việt của người học còn chưa đủ để tạo ra một câu rõ ràng, chính xác Người viết đã nhầm lẫn vị trí của từ được khi đi kèm với một động
từ khác Vị trí trước/ sau của từ được cũng là một yếu tố quyết định nội dung ý nghĩa mà từ này mang đến cho câu Được đứng trước động từ, mang nét nghĩa thụ
hưởng, khi chủ ngữ ở ngôi thứ nhất, thứ hai và thứ ba, hoặc mang nghĩa được phép
làm điều gì, khi chủ ngữ ở ngôi thứ hai và thứ ba Được đứng sau động từ, mang nét
nghĩa biểu thị sự khẳng định khả năng hiện thực hóa sự tình hoặc khẳng định khả năng của chủ thể hành động Do đó, trong câu này, người viết đã thể hiện ý phủ định khả năng của lái xe của chủ thể hành động thay cho ý được phép lái xe khi viết
không lái xe được thay vì viết không được lái xe
Những trường hợp mắc lỗi trên đây đã làm thay đổi ý nghĩa của câu văn do đó các câu trên cần phải được sửa như sau:
Chủ nhật tuần trước chúng tôi gặp lại thầy giáo cũ
Sau khi tốt nghiệp đại học em sẽ lại làm việc ở Việt Nam
Sáng nay tôi không thể đến lớp vì bị đau đầu
Nó không được lái xe vì chưa có bằng lái xe
Để khắc phục các lỗi trên, người học cần lưu ý phân biệt vị trí và nét nghĩa của
hai từ lại và được khi kết hợp với động từ Đối với từ lại, cần lưu ý đến vị trí trước/
Trang 40sau của từ khi đi kèm với động từ: đứng trước động từ nó biểu thị ý không hài lòng đối với sự vật, sự việc nào đó, đứng sau động từ nó thể hiện một hành động được
lặp lại Đối với từ được, cần dựa vào chủ ngữ câu để phân biệt khi nào là nét nghĩa
cho phép, xin phép, khi nào là nét nghĩa khẳng định khả năng
2.1.4 Lỗi về kết hợp từ ngữ 2.1.4.1 Lỗi dùng sai danh từ chỉ đơn vị trong danh ngữ
Sự có mặt của danh từ chỉ đơn vị bên cạnh nhiều danh từ chỉ sự vật trong việc tạo lập danh ngữ là nét đặc thù của tiếng Việt so với nhiều ngôn ngữ khác Phần lớn người học chưa nắm rõ quy luật về việc dùng từ chỉ đơn vị trong câu cũng như chưa phân biệt được loại từ nào dùng cho đồ vật, sự vật, việc, người, động vật, loại từ
nào là đặc biệt Hầu hết các trường hợp, từ chỉ đơn vị cái được sử dụng nên gây lỗi
Ví dụ:
(36) Chúng tôi cùng ăn một cái món ăn
(37) Bà ấy thích cái áo
(38) Khi bạn xin việc làm, một cái quan trọng lớn nhất là bạn nên luôn luôn
lịch sự
(39) Tôi sẽ nói về cuộc học ngoại ngữ
Cách biểu đạt như vậy có thể gây nhầm lẫn về ý nghĩa đơn vị, ý nghĩa chủng loại sự vật hoặc về số lượng sự vật Những câu trên có thể tạo ra những cách hiểu khác với ý định biểu đạt của người nói Đặc biệt đối với các danh từ trừu tượng thì
người học không phân biệt được sự khác nhau giữa các danh từ đơn vị như điều, việc, sự, cuộc, nỗi, niềm Nguyên nhân có lẽ xuất phát từ thói quen từ ngôn ngữ
nguồn, cụ thể là tiếng Hàn, khi thành lập một danh từ trên cơ sở tính từ và động từ thì người Hàn dựa trên cấu trúc sau:
Động từ/ tính từ + ㄴ/는것/게 hoặc Động từ/ tính từ + 기