1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cội nguồn và ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng việt (so sánh với tiếng hán hiện đại)

98 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cội nguồn và ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Hán hiện đại)
Tác giả Lâm Phú Anh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Đình Phức
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn và tính cấp thiết của đề tài (6)
  • 2. Lịch sử vấn đề (8)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (0)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu (13)
  • 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (14)
  • 6. Bố cục của luận văn (15)
    • 1.1. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa (16)
    • 1.2. Ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Việt (21)
      • 1.2.1. Các phương hướng đông, tây, nam, bắc (21)
      • 1.2.2. Các từ chỉ vị trí thượng , trung , hạ ,tả , hữu (34)
    • 1.3. Ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Hán (36)
      • 1.3.1. Các phương hướng đông, tây, nam, bắc (36)
      • 1.3.2. Các từ định vị trí gồm các từ : thượng , hạ , trung ,tả , hữu (45)
    • 1.4. Cội nguồn của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Việt (51)
    • 1.5. Tiểu kết (52)
  • Chương 2: THỰC TẾ SỬ DỤNG LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT (15)
    • 2.1. Nhóm từ định rõ phương hướng (54)
      • 2.1.3. Nhóm từ mang từ tố “nam” (56)
      • 2.1.4. Nhóm từ mang từ tố “bắc” (58)
    • 2.2. Nhóm từ định rõ vị trí (59)
      • 2.2.1. Nhóm từ mang cặp từ tố thượng-trên (59)
      • 2.2.2. Nhóm từ mang từ tố trung-giữa (0)
      • 2.2.3. Nhóm từ mang từ tố hạ-dưới (0)
      • 2.2.4. Nhóm từ mang từ tố tả-trái (0)
      • 2.2.5. Nhóm từ mang từ tố hữu-phải (0)
    • 2.3. Tiểu kết (72)
  • Chương 3: (15)
    • 3.1. Nhóm định rõ phương hướng (0)
    • 3.2. Nhóm định rõ vị trí (0)
    • 3.3. Tiểu kết (86)
  • KẾT LUẬN (15)

Nội dung

Lý do chọn và tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đều biết, tri thức của con người về thế giới bắt nguồn từ nhận thức về vị trí của chính mình và các sự vật, hiện tượng xung quanh Ngôn ngữ nhân loại cũng phản ánh điều này qua các từ chỉ khái niệm không gian, vốn là những từ cổ nhất và cơ bản nhất trong tất cả các ngôn ngữ Đặc biệt, việc bỏ qua các thuật ngữ về tên gọi bộ phận cơ thể giúp thấy rõ tầm quan trọng của các lớp từ về không gian trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ.

Trong ngôn ngữ, các từ chỉ không gian không chỉ có nghĩa gốc liên quan đến vị trí hay địa điểm, mà còn thường xuyên được mở rộng ý nghĩa qua phương thức ẩn dụ Phương pháp này giúp từ gốc liên kết chặt chẽ với không gian ban đầu, sau đó phát triển thành các nghĩa mới phù hợp với các ngữ cảnh khác nhau Đây được xem là một trong những cách phái sinh từ quan trọng nhất trong ngôn ngữ, giúp làm phong phú và đa dạng hơn hệ thống từ vựng.

Không gian luôn là một khái niệm cực kỳ quan trọng trong triết học, phản ánh cách chúng ta hiểu về vị trí và thế giới xung quanh Trong tiếng Hán, không gian được gọi là “phương sở” (方所), trong đó “phương” chỉ phương vị, còn “sở” thể hiện nơi chốn hoặc vùng không gian Khái niệm này giúp làm rõ vai trò của không gian trong tư duy và nhận thức của con người.

“Sở” chỉ địa điểm hoặc nơi chốn trong tiếng Hán, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống danh từ Cùng với hai loại danh từ khác là danh từ chung và danh từ chỉ thời gian, “sở” góp phần xây dựng cấu trúc ngữ pháp của câu Việc hiểu rõ các loại danh từ này giúp nâng cao kỹ năng sử dụng tiếng Hán chuẩn xác và hiệu quả.

“Phương vị” là thuật ngữ dùng để chỉ phương hướng và vị trí, trong đó “vị trí” có thể ám chỉ không gian của một sự vật cụ thể hoặc mối quan hệ vị trí giữa các sự vật Luận văn này tập trung phân tích cội nguồn và ý nghĩa văn hóa của các lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Việt, xuất phát từ một số nguyên nhân quan trọng Các yếu tố này giúp làm rõ vai trò của hệ thống từ chỉ phương vị trong việc thể hiện không gian và mối liên hệ giữa các đối tượng trong văn hóa Việt Nam.

Trước hết, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như trong sách vở, chúng ta thường xuyên nghe thấy, bắt gặp những từ như “đông phong”,

Các từ như “đông quân”, “tây thị” (ả Tây), “tây phong”, “Tây Vương mẫu”, “Đông cung thái tử”, “rể đông sàng”, “Đông cung hoàng hậu”, “tây cung hoàng hậu”, “thọ tỉ nam sơn, phúc như đông hải”, “nam tả nữ hữu”, “tả thừa tướng”, “hữu thừa tướng”, “tả bộc xạ”, “hữu bộc xạ” thể hiện rõ sự phong phú của thuật ngữ chỉ phương vị trong tiếng Việt và tiếng Hán, mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc chứ không phải là sự ngẫu nhiên Những từ này phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa địa lý, quyền lực và tín ngưỡng trong văn hóa Trung Quốc cổ đại, xuất phát từ quan niệm về sự cân bằng âm dương, vị trí tôn kính và hệ thống phân chia không gian biểu tượng trong tri thức truyền thống Các cụm từ như “Hoàng đế ngồi quay mặt về phía nam để trị nước” hay “Trung Quốc”, “Trung Châu” đều thể hiện quan niệm về phương hướng và địa lý mang đậm tính biểu tượng, phản ánh nền văn hóa phong phú và đa chiều của vùng đất này.

Trong quá trình vận dụng ngôn ngữ, người Việt Nam thường gọi tên đường phố là "Đại lộ Bắc Nam," thể hiện rõ hướng đi và vị trí địa lý, trong khi người Trung Quốc chỉ có thể gọi là "Đại lộ Nam Bắc," phản ánh sự khác biệt trong cách diễn đạt về hướng và địa lý Người Việt sử dụng cụm từ "trên trần nhà" để mô tả vị trí trên cao, còn người Trung Quốc có thể dùng cả "trên trần nhà" và "dưới trần nhà," cho thấy sự linh hoạt trong cách diễn đạt về địa điểm Ngoài ra, người thành phố Hồ Chí Minh thường nói "lên Bình Dương," "lên Lâm Đồng" và "xuống Cần Giờ," "xuống miền Tây," để mô tả hướng di chuyển theo hướng Bắc hoặc Nam, còn người Trung Quốc chỉ có thể nói "xuống Giang Nam" hoặc "lên Kinh thành," phản ánh sự khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ để mô tả hướng đi trong từng nền văn hóa.

Các cụm từ như "lên Trung ương" và "hạ (há) Giang Nam" thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa vùng miền và quốc gia, phản ánh qua ngôn ngữ Những thuật ngữ này thể hiện rõ quan điểm về địa lý, chính trị và truyền thống của từng khu vực, giúp giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Ngôn ngữ chứa đựng nhiều giá trị văn hóa sâu sắc, góp phần duy trì và phát huy truyền thống dân tộc qua từng câu nói, câu chữ.

Việc nghiên cứu sâu các vấn đề về lớp từ phương vị trong tiếng Việt giúp hiểu rõ đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa của phạm trù này, cũng như nguồn gốc phức tạp của nó Chọn hướng nghiên cứu so sánh nhằm làm rõ mối liên hệ và khác biệt giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ cùng loại, dù có cấu trúc và truyền thống văn hóa khác nhau Dựa trên thực tế nghiên cứu, chúng tôi tin rằng nhiều vấn đề quan trọng về ngữ pháp, ngữ nghĩa và nguồn gốc sẽ được làm rõ, góp phần mở rộng kiến thức về lớp từ phương vị Tuy nhiên, phạm vi khảo sát của chúng tôi cho thấy các vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện từ nhiều góc độ, nguyên nhân chính khiến chúng tôi quyết định thực hiện đề tài này.

Lịch sử vấn đề

Ở Việt Nam, lớp từ chỉ phương vị đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu đáng kể từ các nhà ngôn ngữ học và văn hóa như Phan Khôi, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Đức Tồn, Trần Ngọc Thêm, Phan Ngọc, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Lai, Lê Trung Hoa, Nguyễn Đức Dân và Trần Văn Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện không gian và hướng đi trong ngôn ngữ và đời sống hàng ngày của người Việt Nghiên cứu về lớp từ chỉ phương vị giúp làm rõ cách người Việt phản ánh vị trí, hướng và mối quan hệ không gian trong ngôn ngữ, góp phần vào việc hiểu sâu hơn về văn hóa và tư duy truyền thống.

Cơ, Lý Toàn Thắng đã góp mặt trong nhiều giáo trình và công trình nghiên cứu chuyên sâu của các tập thể cũng như cá nhân Các công trình này thể hiện rõ vai trò quan trọng của họ trong lĩnh vực nghiên cứu, góp phần mở rộng kiến thức và thúc đẩy phát triển chuyên môn Những tài liệu tiêu biểu nổi bật có thể kể đến như các nghiên cứu đã được công bố trong các diễn đàn học thuật và các dự án khoa học uy tín Các công trình này góp phần củng cố vị trí của họ trong cộng đồng nghiên cứu, đồng thời hỗ trợ việc đào tạo và truyền đạt kiến thức đến các thế hệ sau.

Trong công trình "Việt ngữ nghiên cứu" của Phan Khôi, xuất bản năm 1955 bởi Nhà xuất bản Văn Nghệ tại Hà Nội, tác giả đã sơ bộ khảo sát các khía cạnh liên quan đến thói quen định phương hướng trong ngôn ngữ của người Việt Tài liệu này gồm 178 trang, phản ánh những đặc điểm ngôn ngữ đặc trưng của người Việt trong việc xác định hướng đi Nghiên cứu của Phan Khôi góp phần làm rõ cách người Việt sử dụng ngôn ngữ để thể hiện phương hướng và không gian trong giao tiếp hàng ngày Nội dung này giúp mở rộng hiểu biết về những đặc điểm ngôn ngữ địa phương, đồng thời hỗ trợ các nghiên cứu về cấu trúc và đặc điểm của tiếng Việt.

Tác giả Nguyễn Kim Thản trong Động từ trong tiếng Việt, 270 tr, do

Nxb Khoa học Xã hội xuất bản tại Hà Nội năm 1977 [ 44 ], đã đề cập khá nhiều về các động từ chỉ phương hướng vận động như “lên”, “xuống”,

“vào”, “ra” trong mối quan hệ với cặp từ chỉ phương hướng “bắc”, “nam”

Nguyễn Lai đã nghiên cứu về đặc điểm của nhóm từ chỉ hướng trong tiếng Việt hiện đại, đặc biệt là dạng động từ Trong các công trình của mình, ông nhấn mạnh rằng các từ chỉ hướng có yếu tố tâm lý và được phân thành ba phạm trù nghĩa chính gồm không gian, thời gian và tâm lý Ông chỉ ra rằng, trên bình diện đồng đại, các nhóm từ này có thể quy thành ba hướng đối ứng phù hợp với ba nhóm nghĩa khác nhau, giúp làm rõ vai trò của các từ chỉ hướng trong ngữ cảnh tiếng Việt ngày nay.

[37 ; 57 ] Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong bài viết “Về việc dùng hai động từ

‘vào/ra’ để chỉ sự di chuyển đến một địa điểm ở phía Nam hay phía Bắc trong tiếng Việt hiện đại”, in trong Kỷ yếu hội nghị quốc tế lần V các nhà Đông phương học các nước XHCN về những vấn đề lý thuyết của các ngôn ngữ Á- Phi, tổ chức tại Praha năm 1989 [ 5 ], đã trình bày những kiến giải về nguồn gốc và đặc điểm của lối nói “vào (trong) Nam”, “ra (ngoài) Bắc” Theo tác giả, lối nói này phải có từ khoảng đầu thế kỷ thứ XV trở về trước, khi đó lãnh thổ Đại Việt mới bao gồm vùng Bắc bộ và dải đất từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Một mặt, xét về địa hình thì so với vùng châu thổ sông Hồng (nơi người Việt tập trung sinh sống), dải đất Bắc Trung bộ có địa hình khá hẹp, lại là vùng biên giới, nhiều nơi mới chiếm được còn man rợ, bí hiểm, cho nên từ đây mới sinh ra cách định hướng từ nơi xuất phát Bắc bộ là “vào”, từ nơi xuất phát Trung bộ là “ra” trong sự di chuyển giữa hai vùng,… Rồi từ thế kỷ XV cho đến nay, nhiều sự kiện lịch sử khác của công cuộc Nam tiến “mang gươm đi mở cõi” với sự ra đời của những vùng địa lý hành chính và địa danh mới như: những Lộ Nam giới, Quảng Nam thừa tuyên (đầu đời Lê), rồi Đàng Trong – Đàng Ngoài hoặc Nam Hà – Bắc Hà (thời Trịnh – Nguyễn) và ba kỳ Bắc – Trung – Nam (triều Nguyễn),… đã ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của người Việt về thế đối lập Bắc – Nam trong cách định hướng RA – VÀO của họ

Tác giả Trần Ngọc Thêm trong một loạt công trình liên quan đến văn hóa Việt Nam như Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1996) [ 47 ], Cơ sở văn hóa

Việt Nam (1997) [ 49 ],… tuy không thật tập trung, nhưng đều đã xét đến các yếu tố âm dương, ngũ hành, phương hướng đông, tây, nam, bắc, tả, hữu,… trong mối quan hệ mật thiết với văn hóa Việt Nam

Ngôn ngữ học tri nhận là một trào lưu nghiên cứu mới mẻ, có tiềm năng lớn trong lĩnh vực ngôn ngữ học hiện đại trên thế giới Mặc dù có lịch sử phát triển còn non trẻ, nhưng ngôn ngữ học tri nhận ngày càng thu hút sự quan tâm nhờ vào ứng dụng của lý luận ngữ dụng học Nghiên cứu này giúp giới ngôn ngữ nhận thức tập trung vào đặc trưng ngữ dụng của từ chỉ hướng và mối quan hệ của chúng với các nhóm từ khác trong câu.

Trong bài viết, “điểm quy chiếu” được làm nổi bật qua công trình Ngôn ngữ học tri nhận của tác giả Lý Toàn, nhằm kết nối lý thuyết đại cương với thực tiễn của tiếng Việt Công trình này giúp hiểu rõ hơn về cách sử dụng điểm quy chiếu trong nghiên cứu ngôn ngữ, góp phần nâng cao nhận thức về cấu trúc và đặc điểm ngôn ngữ Việt Nam Đây là một phần quan trọng trong việc ứng dụng các nguyên tắc ngôn ngữ học vào thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt.

Thắng, được NXB Phương Đông xuất bản năm 2009, cho biết phần lớn nội dung của công trình này đã được chuyển dịch, chỉnh sửa và bổ sung từ chuyên khảo "Mô hình không gian về thế giới: Tri nhận, văn hóa, tâm lý dân tộc" của ông, in năm 1993 bằng tiếng Nga theo quyết định của tác giả.

Hội đồng Khoa học và lưu hành nội bộ tại Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga đã nhận định rằng, việc xuất hiện chuyên khảo "Mô hình không gian về thế giới" của Lý Toàn Thắng (1993) là một sự kiện quan trọng đối với ngành ngôn ngữ học, tâm lý học và dân tộc học (ethnopsycholinguistics) Tác giả đã giới thiệu về ý nghĩa của sự định vị không gian trong cộng đồng ngôn ngữ - văn hóa Việt Nam, so sánh với cộng đồng Nga, qua đó phân tích ở một trình độ lý thuyết cao Tuy nhiên, do một số nguyên nhân nhất định, nhiều từ chỉ phương vị như đông, tây, nam, bắc, trên, dưới tuy đã được đề cập nhưng chưa được xem xét đầy đủ ý nghĩa văn hóa của chúng trong ngữ cảnh này.

Trong tác phẩm "Ngôn ngữ học tri nhận" của Trần Văn Cơ (2007), tác giả tập trung vào việc mô tả và xây dựng bức tranh ngôn ngữ về thế giới dựa trên góc nhìn lấy con người làm trung tâm Ông thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa các phạm trù không gian như trước sau, trái phải, trên dưới, góp phần làm rõ cách con người sử dụng ngôn ngữ để phản ánh thực tế không gian Tuy nhiên, tác giả chưa nghiên cứu sâu về ý nghĩa văn hóa của các lớp từ chỉ phương vị như đông, tây, nam, bắc, trung, thượng hạ, tả hữu, một khía cạnh rất đáng quan tâm trong lĩnh vực ngôn ngữ học tri nhận.

Khi đề cập đến nhóm từ chỉ phương hướng trong tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học chủ yếu tập trung vào xác định từ loại, mô tả đặc điểm ngữ pháp và chức vụ ngữ pháp của chúng Tuy nhiên, nội hàm văn hóa và đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ này còn chưa được quan tâm đúng mức, bao gồm cả nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận Trong khi đó, ở Trung Quốc, các học giả Hán ngữ đã chú trọng đến ý nghĩa văn hóa của từ, đặc biệt là nhóm từ chỉ phương vị, qua các công trình của Lã Thúc Tương và Vương Lực, góp phần làm rõ hơn về cách thức sử dụng và ý nghĩa của chúng trong ngữ cảnh văn hóa Trung Quốc.

Mặc dù các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa đã được đề cập từ rất sớm bởi các học giả như Khoa học xuất bản xã (1958), Chu Đức Hy (1999) và Hình Phúc Nghĩa (1990), phải đến đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, sau Đại Cách mạng Văn hóa, trào lưu nghiên cứu lớp từ vựng văn hóa mới mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ Những thành tựu nổi bật trong giai đoạn này chủ yếu được công bố vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, tiêu biểu như tập sách "Ngôn ngữ và văn hóa" (1989) của La Thường Bồi và "Văn hóa ngữ ngôn học" (1990) của Hình Phúc Nghĩa, góp phần thúc đẩy nghiên cứu về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong cộng đồng nghiên cứu.

Phúc Nghĩa [ 68 ], Văn hóa vùng và sự thay đổi ngôn ngữ (1991) của Thân

Tiểu Long [ 66 ], Hán ngữ và văn hóa truyền thống Trung Quốc (1993) của Quách Cẩm Phù [ 69 ], Từ vựng tiếng Hán và văn hóa (1995) của Thường

Trong thế kỷ XXI, xu hướng nghiên cứu về ngôn ngữ đã chuyển hướng từ các đặc điểm về ngữ nghĩa và nguồn gốc của từ sang các vấn đề về kết cấu, ngữ dụng và tri nhận của từ phương vị Trào lưu này giúp nghiên cứu ngôn ngữ tập trung hơn vào những đặc điểm gần gũi với thực hành giao tiếp hàng ngày và nhận thức của người dùng Đồng thời, sự thay đổi này phản ánh sự phát triển của lĩnh vực ngôn ngữ học so sánh và ngôn ngữ học tri nhận, góp phần mở rộng hiểu biết về cách con người tiếp cận và sử dụng ngôn ngữ trong đời sống.

Bố cục của luận văn

THỰC TẾ SỬ DỤNG LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT

Ngày đăng: 22/08/2023, 02:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2013), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Hồng Đức, 390 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2013
2. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
3. Brown G. – Yule G. (2002), Phân tích diễn ngôn (Trần Thuần dịch), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Tác giả: Brown G., Yule G
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
4. Phan Kế Bính (2005),Việt Nam phong tục, NXB Văn hóa Thông tin, 390 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
6. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
7. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
8. Đỗ Hữu Châu (2000), “Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ”, T/c Ngôn ngữ, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 2000
9. Nguyễn Văn Chiến (1982), Đối chiếu ngôn ngữ Đông Nam Á, Trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu ngôn ngữ Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội
Năm: 1982
10. Mai Ngọc Chừ (2009), Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông, NXB Phương Đông, 545 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2009
11. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ), NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ)
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2007
12. Đặng Trần Côn (1741), Chinh phụ ngâm khúc, dịch thơ Nôm Đoàn Thị Điểm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phụ ngâm khúc
Tác giả: Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm
Năm: 1741
13. Nguyễn Đức Dân (1986), “Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ - sự vận dụng”, T/c Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ - sự vận dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1986
14. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, Tập I, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học, Tập I
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
15. Trịnh Bá Dĩnh (2011), Chủ nghĩa cấu trúc trong Văn học, Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết NXB Hội nhà văn, 460 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc trong Văn học
Tác giả: Trịnh Bá Dĩnh
Nhà XB: Công ty Truyền thông Hà Thế
Năm: 2011
16. Hữu Đạt (2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
17. Ferdinand de Saussure (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB Khoa hoc xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Ferdinand de Saussure
Nhà XB: NXB Khoa hoc xã hội
Năm: 1973
18. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học và THCN
Năm: 1985
19. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
20. Nguyễn Thiện Giáp (1997), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
21. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w