1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Câu ngôn hành trong tiếng việt và tiếng anh (ý nghĩa hành động cầu khiến và cam kết)

167 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng Anh (Ý nghĩa hành động cầu khiến và cam kết)
Tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Kiên Trường
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 572,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (0)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (8)
  • 4. Lịch sử nghiên cứu (8)
  • 5. Phương pháp và ngữ liệu nghiên cứu (12)
  • 6. Đóng góp của luận văn (13)
  • 7. Bố cục của luận văn (13)
    • 1.1 KHÁI NIỆM ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH (15)
      • 1.1.1 Động từ ngôn hành (performative verbs) (15)
      • 1.1.2 Động từ nói năng và động từ ngôn hành (16)
      • 1.1.3 Các loại động từ ngôn hành (17)
    • 1.2 KHÁI NIỆM CÂU NGÔN HÀNH (19)
      • 1.2.1 Câu ngôn hành (19)
      • 1.2.2 Điều kiện để có một câu ngôn hành (20)
      • 1.2.3 Mô hình cấu trúc câu ngôn hành (23)
      • 1.3.4 Câu ngôn hành có chứa động từ tình thái (0)
    • 1.3 HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾNVÀ CÁC ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH THUỘC NHÓM CẦU KHIẾN (29)
      • 1.3.1 Hành động cầu khiến (29)
      • 1.3.2 Các động từ ngôn hành thuộc nhóm cầu khiến (32)
    • 1.4 HÀNH ĐỘNG CAM KẾT VÀ CÁC ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH THUỘC NHÓM CAM KẾT (33)
      • 1.4.1 Hành động cam kết (33)
      • 1.4.2 Các động từ ngôn hành thuộc nhóm cam kết (35)
    • 1.5 TIEÅU KEÁT (36)
      • 2.1.2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời nhờ cậy (63)
      • 2.1.3 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời ra lệnh (67)
      • 2.1.4 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời mời (0)
      • 2.1.5 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời khuyên bảo (76)
    • 2.2 CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG (82)
      • 2.2.1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời yêu cầu (request) 83 (0)
      • 2.2.2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời mời (invite) (93)
      • 2.2.3 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời ra lệnh (order) (95)
      • 2.2.4 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời khuyên bảo (advise) (97)
      • 2.2.5 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời nhờ (ask somebody for help) (100)
    • 2.3 SO SÁNH CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH (101)
      • 2.3.1 Những nét tương đồng (101)
      • 2.3.2 Những nét khác biệt (102)
    • 2.4 TIEÅU KEÁT (0)
    • 3.1 CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG TIẾNG VIỆT (106)
      • 3.1.1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời hứa hẹn (0)
      • 3.1.2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời bảo đảm (0)
      • 3.1.3 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời tha thứ (0)
      • 3.1.4 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời trao tặng (0)
    • 3.2 CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG TIẾNG ANH (133)
      • 3.2.1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời hứa hẹn (promise) 136 (0)
      • 3.2.2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời bảo đảm (assure) 141 (138)
      • 3.2.3 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời tha thứ (forgive) 145 (143)
      • 3.2.4 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời trao tặng (give) (144)
    • 3.3 SO SÁNH CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH (146)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu

Nhiều công trình nghiên cứu trước đây về ngữ dụng học và câu ngôn hành còn hạn chế trong việc xem xét câu ngôn hành như một bộ phận riêng biệt của ngữ dụng học Các nghiên cứu đối chiếu giữa câu ngôn hành của tiếng Việt và tiếng Anh mới chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp và chưa có sự phân tích hệ thống Do đó, còn nhiều chưa được khám phá đầy đủ về đặc điểm và sự khác biệt của câu ngôn hành giữa các ngôn ngữ này.

Chúng tôi nghiên cứu đề tài “Câu ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng

Bài viết nhằm làm rõ mối quan hệ giữa động từ ngôn hành và hành động ở lời, giúp làm sáng rõ cách thể hiện hành động trong lời nói Nó cũng so sánh cách diễn đạt cùng một hành động bằng các động từ khác nhau trong tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó chỉ ra sự khác biệt về chức năng ngôn hành giữa các ngôn ngữ Điều này giúp độc giả hiểu rõ hơn về cách truyền đạt hành động qua lời nói trong các ngôn ngữ khác nhau, góp phần nâng cao nhận thức về dịch thuật và truyền đạt ý nghĩa chính xác.

Trong bài viết này, chúng tôi so sánh đối chiếu câu ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng Anh nhằm khám phá những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hành động ngôn từ trong hai ngôn ngữ Những sự khác biệt này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tiếng Việt và tiếng Anh, giúp người học vận dụng linh hoạt hơn trong việc dạy và học, từ đó nâng cao hiệu quả giao tiếp và hiểu biết ngôn ngữ Qua phân tích này, chúng ta có thể nhận diện rõ hơn các yếu tố cần lưu ý để phát triển kỹ năng sử dụng ngôn từ phù hợp trong từng ngữ cảnh khác nhau.

Lịch sử nghiên cứu

Trong giao tiếp, lời nói đóng vai trò vô cùng quan trọng, vì nó không chỉ là hình thức diễn đạt mà còn thể hiện hành động thực tế Nghiên cứu lời nói đã được giới ngữ học đặc biệt quan tâm, đặc biệt là các phát ngôn ngôn hành như “xin lỗi anh” hay “tôi đảm bảo với anh hàng này chất lượng tốt nhất” Những câu này thể hiện rõ ràng hành động đi kèm với lời nói, như việc thực hiện hành động xin lỗi hoặc đảm bảo chất lượng sản phẩm Các từ như “xin lỗi” và “đảm bảo” là những động từ ngôn hành tiêu biểu, mang ý nghĩa thực hiện hành động qua lời nói trong giao tiếp hàng ngày.

Các câu ngôn hành (hay câu ngữ vi và động từ ngôn hành) là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước Trong bài viết này, chúng tôi sẽ điểm qua một số tác giả tiêu biểu, dựa trên nguồn tài liệu bằng tiếng Anh và tiếng Việt, mặc dù có thể còn thiếu sót và chưa bao quát hết toàn bộ các công trình nghiên cứu về chủ đề này.

4.1 Các tác giả nước ngoài

J.Austin, in his work "How to Do Things with Words," first introduced the theory of speech acts, which was later refined and developed by J.R Searle Together, they discussed the concept of felicity conditions, which are the necessary conditions for performing speech acts correctly and effectively These conditions include general conditions, content conditions, preparatory conditions, sincerity conditions, and essential conditions, all of which ensure that speech acts are meaningful and appropriate according to their intended purpose.

4.1.2 Một số tác giả khác như G.Yule (“Pragmatics”), Jean Stilwell Perccei (“Pragmatics”), Alan Cruse (“ Meaning in language – An introduction to semantics and pragmatics”), Gabriele Kaper and Shoshana Blumkilka

Interlanguage pragmatics là lĩnh vực nghiên cứu tiếp cận ngữ dụng học từ nhiều lăng kính khác nhau, giúp phân tích sâu sắc các yếu tố trong giao tiếp liên ngôn ngữ Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào lý thuyết hành động ngôn từ, chưa xem xét động từ ngôn hành hoặc phát ngôn ngôn hành như một nhóm riêng biệt trong ngữ dụng học Điều này cho thấy sự thiếu chú trọng tới vai trò của các động từ này trong việc thể hiện ý định và ý nghĩa giao tiếp trong quá trình sử dụng ngôn ngữ.

4.2 Các tác giả trong nước

Trong những năm gần đây, nghiên cứu về ngữ dụng học tại Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, với sự đóng góp của các nhà ngôn ngữ học hàng đầu như Cao Xuân Hạo, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp và Hồ Lê Ngoài ra, các luận văn, luận án và bài báo trên các tạp chí chuyên ngành cũng tập trung phân tích ngữ dụng học từ nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là về hành động ngụ ngữ và câu ngụ ngữ hành, góp phần mở rộng hiểu biết về các khía cạnh thực tiễn của ngôn ngữ trong giao tiếp.

Trong luận văn này, chúng tôi theo quan điểm của Cao Xuân Hạo, cho rằng câu ngôn hành là câu trần thuật tự biểu thị, thể hiện hành động trong quá trình nói qua cách phát ngôn của chính nó Các câu này sử dụng động từ ngôn hành, chia thành hai loại: loại cần bổ ngữ nội dung (BNND) để hình thành phát ngôn như hứa, cam đoan, cấm, khuyên, cảnh cáo; và loại không cần BNND như xin lỗi, cảm ơn, chào hỏi Cao Xuân Hạo không đồng ý với quan điểm thừa nhận phát ngôn ngôn hành hàm ẩn và phân tích kỹ các điều kiện để một từ gọi là ngôn hành thực sự có tính ngôn hành, trong đó chủ ngữ thường là ngôi thứ nhất, có thể là ngôi ẩn.

Trong câu, vị từ thường được dùng ở thì hiện tại thức chỉ định trong mệnh đề chính để thể hiện trạng thái hoặc hành động diễn ra đều đặn Bổ ngữ tiếp nhận hành động ngôn hành thường được biểu thị là ngôi thứ hai, giúp làm rõ đối tượng hoặc người nhận hành động trong câu Việc sử dụng đúng vị từ và bổ ngữ phù hợp đóng vai trò quan trọng trong việc tăng tính rõ ràng và chính xác của câu văn.

“mức ngặt nghèo” của những điều kiện quy định tính ngôn hành của các vị từ ngôn hành có thể khác nhau tuỳ vào từng vị từ

4.2.3 Đặc biệt, viết riêng về hiện tượng ngôn hành, có luận văn của Võ Thị Ngọc Duyên [17] và luận văn của Cao Thị Quỳnh Loan [36]

Võ Thị Ngọc Duyên cho rằng, "động từ ngữ vi là một loại động từ khá đặc biệt vì nó không biểu thị hành động hay tình trạng mà chính nó là một hành động." Động từ ngữ vi tác động đến tâm lý và cảm xúc của đối tượng tiếp nhận, đồng thời giúp khẳng định lập trường của chủ thể giao tiếp Tác giả đã phân tích và liệt kê 6 dạng thức phát ngôn của động từ ngữ vi dựa trên sự có mặt của các yếu tố như chủ thể giao tiếp, đối tượng giao tiếp, nội dung của động từ ngữ vi, góp phần làm rõ các cách thức thể hiện ý nghĩa của loại động từ này.

Cao Thị Quỳnh Loan đã thực hiện một nghiên cứu so sánh về hiện tượng ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng Anh, đánh giá cao công trình này về mặt học thuật và giá trị thực tiễn Nghiên cứu dựa trên khảo sát thực tế với 40 giáo viên qua 20 tình huống giao tiếp đa dạng như cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi, và đảm bảo, cùng với phân tích 42 tác phẩm văn học dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại Kết quả chỉ ra rằng, tiếng Anh có các câu ngôn hành ở thể tiếp diễn nhưng không thể dịch chính xác "đang" trong tiếng Việt; câu ngôn hành trong tiếng Anh có thể ở dạng bị động; thái từ kết hợp với động từ tạo thành câu ngôn hành hữu hạn, thay đổi lực ngôn trung của câu; có những động từ trong ngôn ngữ mà không có cách dùng ngôn hành tương ứng; đồng thời, cả tiếng Việt và tiếng Anh đều sở hữu các cấu trúc ngữ pháp riêng để thể hiện phát ngôn ngôn hành và các phương thức thực hiện hành động ngôn trung.

Lí thuyết hành động ngôn từ là một khái niệm quen thuộc trong nghiên cứu ngôn ngữ học, đã được nhiều tác giả và nhà ngôn ngữ học quan tâm và nghiên cứu Hành động ngôn từ là một phạm trù rộng lớn, mang nhiều tiềm năng phát triển trong lĩnh vực ngữ nghĩa và giao tiếp Tuy nhiên, do mỗi tác giả tiếp cận lĩnh vực này theo các quan điểm và góc nhìn riêng, còn nhiều vấn đề chưa được giải đáp, mở ra nhiều cơ hội để tiếp tục nghiên cứu, khám phá và làm rõ hơn về lý thuyết này.

Dựa trên nền tảng các nghiên cứu trước, luận văn này tập trung phân tích, so sánh và đối chiếu các hành động ngôn từ trong tiếng Việt và tiếng Anh nhằm làm rõ sự khác biệt và tương đồng trong cách diễn đạt Bằng cách kế thừa và phát triển kết quả nghiên cứu cũ, chúng tôi mong muốn cung cấp cái nhìn toàn diện về đặc điểm và chức năng của các hành động ngôn từ trong hai hệ thống ngôn ngữ này Nghiên cứu này góp phần nâng cao hiểu biết về chuyển đổi ngôn ngữ và cải thiện kỹ năng giao tiếp liên ngôn ngữ trong bối cảnh quốc tế.

2 nhóm động từ ngôn hành chỉ hành động cầu khiến và hành động cam kết.

Phương pháp và ngữ liệu nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

5.1.1 Phương pháp phân tích ngữ pháp

Dựa trên nguồn dữ liệu thu thập được, chúng tôi phân tích và mô hình hóa các kiểu câu ngôn hành để hiểu rõ cấu trúc, chức năng và ý nghĩa của chúng Các đánh giá của chúng tôi về các loại câu ngôn hành chủ yếu dựa vào việc phân tích dữ liệu thực tế, giúp làm rõ các đặc điểm ngữ nghĩa và cách chúng hoạt động trong ngôn ngữ Phương pháp này cho phép chúng tôi cung cấp nhận định chính xác về vai trò của các câu ngôn hành trong giao tiếp ngôn ngữ hàng ngày.

Trong phần phân tích, phương pháp so sánh và đối chiếu đóng vai trò chủ đạo để phát hiện các nét tương đồng và khác biệt trong hành động ngôn từ của tiếng Việt và tiếng Anh Chúng tôi tập trung so sánh cấu trúc và ý nghĩa của câu ngôn hành giữa hai ngôn ngữ nhằm đưa ra những nhận xét chính xác và khách quan Qua quá trình so sánh này, chúng tôi có thể rút ra các kết luận chính xác về đặc điểm của hành động ngôn từ trong từng ngôn ngữ, góp phần làm rõ hơn mối liên hệ giữa chúng.

Luận văn sử dụng các loại tư liệu chủ yếu sau:

Một số công trình liên quan đến lí thuyết giao tiếp và hành động ngôn từ

Các câu ngôn hành xuất hiện thường xuyên trong hoạt động giao tiếp hàng ngày, các tác phẩm văn học và các văn bản chính thống như công vụ Cuộc khảo sát của chúng tôi bao gồm 21 tác phẩm văn học đa dạng, từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến kịch bản phim bằng tiếng Việt và tiếng Anh, thể hiện sự phong phú trong việc sử dụng ngôn hành Ngoài ra, các câu ngôn hành còn xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí và truyền hình, góp phần thúc đẩy giao tiếp hiệu quả trong cả hai ngôn ngữ Việt và Anh.

Đóng góp của luận văn

Giao tiếp đã, đang và sẽ luôn là một nhu cầu thiết yếu của con người, đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày Để đảm bảo quá trình giao tiếp diễn ra hiệu quả và mong muốn, việc hiểu rõ các công cụ giao tiếp, đặc biệt là ngôn ngữ, là điều vô cùng cần thiết và thiết thực Nghiên cứu và sử dụng tốt ngôn ngữ giúp nâng cao khả năng truyền đạt thông điệp rõ ràng, chính xác hơn trong mọi tình huống.

Lí thuyết hành động ngôn từ nghiên cứu cách lời nói thực hiện các hành động giao tiếp nhằm mục đích hiểu rõ hơn về ý nghĩa của ngôn ngữ Qua phân tích, so sánh và đối chiếu các câu có nghĩa ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng Anh, bài luận mong muốn đóng góp vào việc nâng cao nhận thức về sự khác biệt và tương đồng trong cách thể hiện hành động ngôn ngữ ở hai ngôn ngữ này.

Các điểm tương đồng và đặc trưng trong hành động ngôn từ của hai ngôn ngữ mở ra nhiều cách vận dụng linh hoạt trong việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng như dạy tiếng Anh cho người Việt Việc nhận biết và khai thác những đặc điểm này giúp nâng cao hiệu quả học tập, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận văn hóa và ngôn ngữ một cách tự nhiên, dễ hiểu hơn Từ đó, giáo viên có thể thiết kế phương pháp giảng dạy phù hợp, giúp học viên nắm bắt nhanh hơn các khái niệm, từ vựng và cấu trúc ngữ pháp của cả hai ngôn ngữ.

Trong giao tiếp hàng ngày, cần tránh sử dụng hành động cầu khiến và cam kết không thích hợp, vì điều này có thể xâm phạm thể diện của các bên tham gia Sử dụng đúng lúc, đúng chỗ trong giao tiếp không những giữ vẹn nguyên thể diện mà còn giúp nâng cao hiệu quả truyền đạt thông tin Biết ứng dụng đúng lúc đúng chỗ sẽ thúc đẩy sự hiểu biết và tạo dựng mối quan hệ tốt hơn trong các hoạt động giao tiếp.

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về câu ngôn hành, phân tích và liệt kê các dạng thức của câu ngôn hành dựa trên mô hình hoá nguồn ngữ liệu tập hợp được Một động từ ngôn hành có thể xuất hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau, phù hợp với từng hoàn cảnh sử dụng trong giao tiếp Việc xác định các dạng thức này giúp làm rõ đặc điểm và chức năng của câu ngôn hành trong ngôn ngữ hàng ngày Nghiên cứu này góp phần nâng cao hiểu biết về cấu trúc và ý nghĩa của câu ngôn hành, đồng thời hỗ trợ ứng dụng trong giảng dạy và phân tích ngôn ngữ Việt Nam.

Nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng mọi câu nói đều là câu ngôn hành, vì chúng ta có thể thêm động từ ngôn hành để xác định hành động ngôn từ trong câu Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của Cao Xuân Hạo, chỉ thừa nhận những câu ngôn hành tường minh - nghĩa là những câu có động từ ngôn hành xuất hiện rõ ràng trên bề mặt của câu nói đó.

Bố cục của luận văn

KHÁI NIỆM ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH

Động từ là một loại từ vựng thể hiện hành động, ý nghĩa hoặc cảm xúc trong câu, đóng vai trò quan trọng trong ngữ cảnh tiếng Việt Chúng biểu thị các trạng thái, sự phát triển hoặc biến đổi của một hành động hoặc trạng thái Trong ngôn ngữ, động từ có tính phức tạp và chiếm số lượng lớn, đặc biệt trong các ngôn ngữ biến hình Các loại động từ như động từ nội hướng, ngoại hướng, gây khiến, xuất hiện, tồn tại, tiêu tan, cảm nghĩ, nói năng, và tình thái đều phản ánh các khía cạnh khác nhau của hành động hoặc trạng thái trong câu.

Động từ chủ yếu dùng để mô tả các hoạt động, tình trạng hoặc quá trình trong cuộc sống, nhưng có một lớp động từ đặc biệt không dùng để mô tả hành động mà để thực hiện hành động Đó chính là động từ ngôn hành (performative verbs), được sử dụng trong những điều kiện nhất định, thì việc dùng chúng đã tương đương với việc thực hiện hành động đó Nói cách khác, động từ ngôn hành thể hiện những hành động được thực hiện thông qua ngôn từ, tức là khi nói ra một điều gì đó, chúng ta đã thực hiện một hành động.

Vị từ ngôn hành được hiểu là một loại từ thể hiện hành động thông qua ngôn ngữ trong một điều kiện nhất định, nơi việc sử dụng nó chính là hành động mà nó biểu thị Theo Cao Xuân Hạo, một vị từ ngôn hành chỉ trở thành đúng nghĩa khi nó thể hiện một hành động ẩn chứa trong chính cách sử dụng của nó, tức là thông qua ngôn ngữ để thực hiện hành động đó Ông nhấn mạnh rằng, để gọi là vị từ ngôn hành, từ đó phải biểu thị một hành động và cách thực hiện hành động đó thường xuyên và rõ ràng qua việc dùng chính từ đó trong giao tiếp.

Hành động được thể hiện bằng động từ ngôn hành phải được thực hiện bằng chính động từ đó để đảm bảo tính chính xác trong giao tiếp Ví dụ, khi khuyên ai đó, ta sử dụng động từ "khuyên" như trong câu "Tôi khuyên anh nên bỏ hút thuốc" Để thể hiện lòng biết ơn hoặc xin lỗi, chúng ta cũng phải phát âm đúng các động từ "cảm ơn" hoặc "xin lỗi" Tuy nhiên, trong trường hợp mắng hoặc chửi, không thể chỉ dùng động từ "mắng" hay "chửi" để biểu đạt hành động đó, mà cần sử dụng câu chứa các động từ khác phù hợp Ví dụ, không thể nói "Tao mắng mày rằng mày là đồ ăn hại", mà phải dùng câu có động từ khác để thể hiện rõ hành động mắng chửi.

1.1.2 Động từ nói năng và động từ ngôn hành

Dựa vào khả năng sử dụng với chức năng ngôn hành, các động từ nói năng trong tiếng Việt được phân thành ba loại chính Thứ nhất là các động từ biểu thị khả năng thực hiện hành động, thứ hai là các động từ diễn đạt ý định hoặc mong muốn, và thứ ba là các động từ thể hiện ý kiến hoặc sự đánh giá Việc phân loại này giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc ngữ pháp và sự sử dụng đúng đắn các động từ nói năng trong giao tiếp hàng ngày.

Loại 1: Động từ nói năng vừa dùng với chức năng ngôn hành và vừa dùng với chức năng miêu tả Đó là các động từ: hỏi, hứa, mời, tuyên án, tuyên bố, phê bình, cảnh cáo… Ví dụ: “Tôi hứa sẽ đến đúng giờ.” (6) Và “Tôi vừa hứa sẽ đến đúng giờ.” (7) Câu (6) là một phát ngôn ngôn hành thể hiện hành động hứa nhưng câu (7) là một câu miêu tả bởi trong câu này xuất hiện yếu tố trạng từ chỉ thời gian “vừa” Hay câu “Tôi cảnh cáo anh lần thứ nhất tội gian lận trong khi làm bài thi.” (8) ; “Họ cảnh cáo anh ta tội gian lận trong thi cử.” (9)

Câu (8) thể hiện hành động cảnh cáo qua dạng câu phát ngôn, mang ý nghĩa nhấn mạnh lời cảnh báo Trong khi đó, câu (9) có chủ ngữ là ngôi thứ ba của động từ cảnh cáo, nên mang tính miêu tả hơn, thể hiện đặc điểm hoặc hành động cảnh cáo một cách rõ ràng và dễ hiểu.

Loại 2: Động từ nói năng chỉ được dùng trong chức năng ngôn hành , không thể dùng trong chức năng miêu tả Đó là một số không nhiều các động từ sau: cảm tạ, đội ơn, đa tạ, phỉ thui, đốt mồm đốt miệng… Ví dụ ta chỉ có thể nói

“Xin đa ịa ơn cứu mạng của ngài”, chứ không thể nói “Ông ấy đa tạ ơn cứu mạng của ngài”

Loại 3: Động từ chỉ có thể dùng trong chức năng miêu tả lại hành động ở lời, không thể dùng trong chức năng ngôn hành Các động từ thuộc nhóm này có hỏi han, bảo ban, sai khiến, chửi, mắng, khoe, dọa, giễu … Ví dụ ta chỉ có thể nói “Tôi bảo anh đi đi sao anh còn đứng ì ra đấy”; không thể nói

Trong đoạn văn này, câu "Tôi bảo ban anh đi đi sao anh còn đứng im ra đấy" thể hiện hành động yêu cầu người đó rời đi, đồng thời câu hỏi "Anh vừa bảo ban gì con tôi đấy?" nhấn mạnh về lời dạy của anh ấy dành cho con Ngoài ra, câu "Bà ta mới chửi nó một trận nên hồn" phản ánh việc người phụ nữ đã mắng mỏ nghiêm khắc, còn câu "Nó thường xuyên bị mẹ mắng" giúp hình dung về việc đứa trẻ thường xuyên nhận hình phạt hay lời trách mắng từ mẹ Các câu này mô tả rõ ràng các hành động, cảm xúc và mối quan hệ trong gia đình, giúp làm rõ nội dung và tăng khả năng tối ưu hóa cho SEO khi phát triển nội dung về chủ đề gia đình, cảm xúc, hành động cha mẹ và con cái.

Động từ nói năng trong tiếng Việt có cấu tạo đa dạng, bao gồm cả dạng đơn âm tiết và đa âm tiết Sự khác biệt về phương thức cấu tạo này phản ánh các hiệu lực khác nhau của động từ nói năng, giúp thể hiện rõ nét ý nghĩa và mức độ mạnh nhẹ trong giao tiếp Việc hiểu rõ các loại động từ nói năng theo cấu trúc sẽ giúp nâng cao kỹ năng sử dụng và truyền đạt trong tiếng Việt.

Trong luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu tiểu loại động từ nói năng có chức năng ngôn hành Chúng tôi phân tích rõ các đặc điểm của loại động từ này khi được sử dụng để thể hiện hành động giao tiếp, bỏ qua các trường hợp sử dụng với chức năng miêu tả Bài viết nhấn mạnh sự khác biệt trong cách sử dụng động từ nói năng nhằm làm rõ vai trò của chúng trong ngôn ngữ và thực tiễn giao tiếp Các kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiểu biết về đặc điểm và ứng dụng của động từ nói năng trong hệ thống ngôn ngữ Việt Nam.

1.1.3 Các loại động từ ngôn hành a Các nhà ngôn ngữ học như J Austin, J.R Sealre, hay B Fraser chưa thật sự thốâng nhất với nhau về tiêu chí phân loại động từ ngôn hành J Austin cho rằng có nhiều loại động từ ngôn hành khác nhau và ông đã phân chia động từ ngôn hành ra làm năm nhóm gồm: verdictives (phán định), exercitives (hành chức), commisives (cam kết), behabitives (ứng xử), expositives

J.R Searle criticized Austin’s classification criteria for overlapping, leading him to reorganize them into five distinct categories: declaratives (statements that declare), assertives (statements of belief or fact), expressives (expressing feelings or attitudes), directives (commands or requests) This refined classification provides a clearer understanding of speech acts and their functions, enhancing the study of language pragmatics.

(điều khiển), và commissives (cam kết) (Dẫn theo Cao Thị Quỳnh Loan [35, tr

B.Fraser chia động từ ngôn hành thành 8 nhóm chính, bao gồm: hành động khẳng định, hành động đánh giá, hành động thể hiện thái độ của người nói, hành động quy định, hành động yêu cầu, hành động đề nghị, hành động sử dụng chức trách, và hành động cam kết (theo Cao Thũ Quyền [36, tr 25-26]) Cao Xuân Hạo cho rằng trong tiếng Việt, các động từ ngôn hành có thể được phân thành hai loại dựa trên tiêu chí có cần bổ ngữ nội dung để hình thành phát ngôn ngôn hành hay không.

Nhóm 1, gồm những động từ ngôn hành không cần một bổ ngữ chỉ nội dung Ví dụ như cám ơn, xin lỗi, chào, từ, xin, hàng

KHÁI NIỆM CÂU NGÔN HÀNH

Có nhiều quan niệm khác nhau về câu ngôn hành, khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chọn quan niệm của Cao Xuân Hạo

Còn Cao Xuân Hạo viết:

Câu ngôn hành là câu trần thuật tự biểu thị, thể hiện chính hành động đang được thực hiện khi nói ra Loại câu này sử dụng một dạng “vị từ” gọi là “vị từ ngôn hành” theo Austin hoặc “vị từ ngữ vi” theo Nguyễn Đức Dân Đây là dạng câu mang ý nghĩa thực hiện hành động qua chính cách diễn đạt của nó, phản ánh mệnh lệnh hoặc lời tuyên bố trong quá trình giao tiếp.

Vị từ ngôn hành (viết tắt là VTNH) là loại từ mang ý nghĩa hành động, thể hiện hành động khi được sử dụng trong điều kiện nhất định Theo các nghiên cứu, VTNH không chỉ là từ để biểu đạt ý kiến mà còn trực tiếp thể hiện hành động thông qua chính cách sử dụng của nó [24, tr 415].

(26) Tôi xin thề sẽ không bao giờ nói ra sự thật

Câu nói chính là hành động “thề” được thể hiện qua động từ ngôn hành thề, phản ánh mối liên hệ giữa lời nói và hành động Khi một câu được phát ngôn, nó đồng thời trở thành một hành động, không phải là hai hành động diễn ra song song hay theo thứ tự, mà là một Ví dụ, người nói “Tôi đang quét nhà” hoặc “Tôi sẽ giặt quần áo” đều thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa lời nói và hành động thực tế ngay sau đó.

Nét đặc trưng riêng của tín hiệu ngôn ngữ chính là khả năng mang ý nghĩa độc đáo và phong phú, không thể tìm thấy trong bất kỳ hệ thống tín hiệu nào khác Điều này làm cho ngôn ngữ trở thành một hệ thống giao tiếp vô cùng đặc biệt và khó bắt chước Tính chất này góp phần làm nổi bật vai trò của ngôn ngữ trong truyền đạt thông điệp và xây dựng kết nối giữa các cá nhân Đây là yếu tố then chốt giúp hiểu rõ hơn về sự phức tạp và độc đáo của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ, không thể có một hệ thống tín hiệu nào có được đặc điểm tương tự như thế.

Một câu xứng đáng là câu ngôn hành khi nó sử dụng một động từ biểu thị hành động rõ ràng, thường thông qua chính động từ đó để diễn đạt ý nghĩa Việc sử dụng đúng động từ không chỉ giúp câu ngữ nghĩa chính xác mà còn làm cho câu trở nên sinh động và dễ hiểu Do đó, việc lựa chọn động từ phù hợp đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng câu ngôn hành hiệu quả và truyền đạt rõ ràng ý nghĩa mong muốn.

Các nhà ngôn ngữ học phân loại câu ngôn hành thành hai loại dựa trên sự có mặt của động từ ngôn hành trong phát ngôn: câu ngôn hành tường minh (explicit performatives) chứa động từ ngôn hành rõ ràng, trong khi câu ngôn hành hàm ẩn (implicit performatives) không có động từ ngôn hành trên bề mặt nhưng nghĩa của hành động ngôn được suy ra từ ngữ cảnh và sự đoán định của người nghe.

Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào quan niệm câu ngôn hành tường minh, chỉ khảo sát các câu ngôn hành tường minh có chứa động từ ngôn hành trong biểu thức ngôn hành Các câu ngôn hành tường minh thể hiện rõ ý nghĩa, có cấu trúc rõ ràng giúp người đọc dễ hiểu và phân tích chính xác Việc lựa chọn các câu ngôn hành tường minh là cơ sở nghiên cứu nhằm đảm bảo tính xác thực và khách quan trong luận văn Chúng tôi nhấn mạnh rằng chỉ những phát ngôn có thể nhận biết rõ ràng về việc thực hiện hành động mới phù hợp để phân tích trong phạm vi nghiên cứu này.

Câu ngôn hành (hay phát ngôn ngữ vi) được định nghĩa là một câu biểu thị một hành động, trong đó chứa đựng động từ ngôn hành trong biểu thức ngôn hành tường minh Loại câu này có cấu trúc đặc trưng là sử dụng động từ ngôn hành làm trung tâm, thể hiện rõ hành động mà lời nói muốn truyền đạt Đây là dạng câu thể hiện ý chí, mục đích hoặc hành động qua lời nói, góp phần làm rõ ý nghĩa của giao tiếp ngôn ngữ.

Không phải mọi phát ngôn chứa động từ ngôn hành đều được xem là câu ngôn hành Để một phát ngôn có thể coi là câu ngôn hành, cần phải đáp ứng các điều kiện phù hợp khác, được gọi là điều kiện thích dụng.

1.2.2 Điều kiện để có một câu ngôn hành

Trong mọi hành động, đặc biệt là hành động qua lời nói, việc thực hiện thành công đòi hỏi phải có những điều kiện nhất định Các điều kiện này, gọi là các điều kiện thích dụng (felicity conditions) theo J.L Austin và J.R Searle, đóng vai trò then chốt để đảm bảo hành động ngôn từ đạt được mục đích dự định Nguyễn Thiện Giáp gọi chúng là những điều kiện “may mắn”, trong khi Đỗ Hữu Châu gọi là những điều kiện “đa dạng hơn”, còn Nguyễn Đức Dân gọi là những điều kiện thuận lợi, phản ánh những hoàn cảnh phù hợp để lời nói thể hiện đúng dụng ý, góp phần vào sự thành công của hành động lời nói.

Trong giao tiếp, điều quan trọng là hành động thể hiện được chân thật và rõ ràng, không chỉ thông qua lời nói không chân thực hay mang tính gián tiếp Người tham gia cần phải hiểu rõ ngôn ngữ đang sử dụng, không đùa cợt hay giả vờ, đồng thời họ không bị ép buộc phải làm vậy, nhất là đối với những người có tâm lý bình thường Ngoài ra, điều kiện nội dung cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự rõ ràng và chính xác của thông điệp trong quá trình giao tiếp.

Điều kiện cần thiết để thực hiện hành động ngôn từ chính là nội dung của mệnh đề nội dung, có thể là một mệnh đề đơn giản hoặc hàm mệnh đề Nội dung này thường phản ánh hành động của người nói, như trong các trường hợp thề, hứa hẹn, thì nội dung phát ngôn phải đề cập đến tương lai và hành động của người nói Ngược lại, đối với các hành động như ra lệnh, yêu cầu, cấm hoặc khuyên bảo, nội dung phát ngôn liên quan đến sự kiện tương lai của hành động người nghe Ngoài ra, còn có điều kiện ban đầu (preparatory condition) để đảm bảo việc thực hiện hành động ngôn từ được chính xác và phù hợp với ngữ cảnh.

Các quy định liên quan đến sự cần thiết để hành động ngôn từ được thực hiện đúng cách, như hành động mệnh lệnh yêu cầu người ra lệnh phải ở vị thế cao hơn và tin rằng mình có đủ quyền lực bắt buộc người nghe thi hành Khi đưa ra lời cảnh báo, cần có các điều kiện ban đầu như người nói chưa rõ liệu người nghe đã biết về việc này hay chưa, người nói nghĩ rằng điều đó sẽ xảy ra và gây hậu quả không có lợi Đối với hành động kết án, điều kiện cần thiết là người nói phải là quan toà (chánh án), người nghe là tội phạm, và sự kiện diễn ra tại phiên toà Ngoài ra, điều kiện chân thực (sincerity condition) đóng vai trò quan trọng để đảm bảo tính xác thực và chân thành của hành động ngôn từ.

Người phát ngôn phải chân thành trong nội dung truyền đạt, đảm bảo tính trung thực của hành động ngôn từ Mỗi hành động bắt buộc phải thể hiện sự chân thật khác nhau, chẳng hạn như khi cam đoan, người nói phải tin tưởng rằng những điều mình cam kết là đúng sự thật; còn hành động cấm đoán đòi hỏi người thực hiện phải tin rằng mình có đủ quyền hạn để đưa ra lệnh cấm và rằng điều bị cấm là một hành động xấu gây ảnh hưởng tiêu cực Điều này làm rõ tầm quan trọng của điều kiện thiết yếu để duy trì tính chân thật trong các hành động phát ngôn.

Người nói chịu trách nhiệm và có sự ràng buộc khi đưa ra hứa hẹn hoặc lên án, thể hiện trách nhiệm thực hiện lời đã hứa hoặc trách nhiệm của người nói trong việc lên án một điều Tuy nhiên, khi ra lệnh, trách nhiệm và sự ràng buộc lại chuyển sang người nghe, buộc họ phải thực hiện nội dung sau động từ ra lệnh.

HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾNVÀ CÁC ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH THUỘC NHÓM CẦU KHIẾN

1.3.1.1 Cầu khiến (directive) là hành động mà người nói (Sp1) dùng để khiến người nghe (Sp2) làm một cái gì đó Hành động này thể hiện ở những câu mà người nói điều khiển người nghe thực hiện một hành động X nào đó

1.3.1.2 Theo J.Austin và J.R Searle , để hành động cầu khiến được thực hiện cần phải thoả mãn các điều kiện sau:

Mệnh đề này mô tả rằng hành động X trong tương lai sẽ do Sp2 thực hiện dựa trên các điều kiện cụ thể Đầu tiên, Sp2 phải có khả năng thực hiện hành động đó và Sp1 tin tưởng vào khả năng của Sp2 Thứ hai, cả Sp1 và Sp2 đều không tin rằng Sp2 sẽ thực hiện X theo tiến trình bình thường của sự kiện Ngoài ra, điều kiện chân thực yêu cầu Sp1 mong muốn Sp2 thực hiện hành động X Cuối cùng, hành động cầu khiến thể hiện trách nhiệm, mong muốn và nỗ lực của Sp1 để thúc đẩy Sp2 thực hiện hành động X.

1.3.1.3 A.Wierzbicka trong cuốn English speech act verbs đã phát biểu cấu trúc ngữ nghĩa của động từ cầu khiến (direct 1) như sau [58, tr 42- 43]:

• Tôi cho rằng tôi là ai đó có thể nói những điều mà những người ở đây phải làm

• Tôi cho rằng những người ở đây phải làm công việc mà tôi muốn họ phải làm

• Tôi cho rằng họ muốn biết công việc họ cần phải làm

• Tôi nói rằng tôi muốn những người ở đây phải làm X

• Tôi nói như vây vì tôi muốn làm cho những người có mặt ở đây sẽ làm điều tôi nói ra (X)

Tôi cho rằng những người có mặt ở đây sẽ thực hiện hành động X vì lý do đã nêu Dựa trên các điều kiện thỏa mãn hành vi theo lý thuyết của Austin và Searle, cũng như cấu trúc ngữ nghĩa của động từ cầu khiến (direct) do A Weirzbicka xây dựng, có thể tổng quát rằng: cầu khiến là hành động mà người nói sử dụng ngôn ngữ để tác động đến người nghe hoặc đọc, nhằm thúc đẩy họ thực hiện một hành động trong tương lai.

1.3.1.4 Các nhà ngôn ngữ học gọi các động từ và câu có nghĩa cầu khiến bằng những cái tên khác nhau a Diệp Quang Ban gọi đó là câu “khiển động” [4, tr 196]

Các động từ mang ý nghĩa khiển động phổ biến bao gồm bắt (ép), buộc, bức, cản (trở), cấm, chỉ bảo, đòi hỏi, ép, ép buộc, giục, giúp, giúp đỡ, hướng dẫn, hô hào, kêu gọi, khuyên bảo (khuyên nhủ, khuyên răn), khích lệ, khuyến khích, kích thích, lãnh đạo, mời, nài ép, nài xin, ngăn, ngăn cản, sai, thúc, thúc đẩy, thuyết phục, xin và yêu cầu Các từ này thể hiện rõ các hành động thúc đẩy hoặc kiểm soát hành vi trong giao tiếp hàng ngày.

Câu khiến động được sử dụng với chủ ngữ là ngôi nhân xưng thứ nhất và mang ý nghĩa ra lệnh hoặc thúc giục, thuộc loại câu cầu khiến trực tiếp hoặc câu ngôn hành tường minh Một số tác giả như Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Hữu Quỳnh gọi đây là câu gây khiến, đây cũng được xác nhận theo nghiên cứu của Phạm Thị Hòa Các nhà ngôn ngữ học đã xây dựng mô hình cú pháp cho các phát ngôn chứa động từ gây khiến, thể hiện rõ mối liên hệ giữa chủ ngữ, động từ và các thành phần khác trong câu.

Các câu với cấu trúc V1 N2 V2…, tức là động từ gây khiến luôn cần hai bổ ngữ, trong đó bổ ngữ thứ nhất là danh từ biểu thị đối tượng bị ảnh hưởng bởi hoạt động của động từ, còn bổ ngữ thứ hai thể hiện kết quả hoặc phản ứng của đối tượng đó do hoạt động của N1 thúc đẩy hoặc giúp đỡ Một số tác giả như Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Thị Lương, Bùi Thị Kim Tuyến gọi dạng câu này là câu cầu khiến, trong đó Bùi Thị Kim Tuyến nhấn mạnh hành động cầu khiến là hình thức ngôn ngữ nhằm điều khiển người nghe thực hiện hành động theo ý muốn của người nói, và phương thức thể hiện phổ biến là sử dụng câu ngôn ngữ hành Các tác giả chung nhất đều nhận định rằng các động từ liên quan thuộc nhóm nói năng, có khả năng tạo thành phát ngôn có cấu trúc đặc trưng này.

Trong đó Sp1, Sp2 là nhân vật hội thoại, V1V2 là động từ cầu khiến và nội dung cầu khiến

Phạm Thị Hoà trong nghiên cứu về “Hiện tượng nhiều nghĩa trong trường từ vựng chỉ người – Các động từ nhiều nghĩa liên quan đến nói năng” đã xác định các động từ nói năng thuộc nhóm động từ điều khiển, dựa trên các yếu tố như: tiền giả định, nội dung của biểu thức ngữ và vị trí, vai trò của mối quan hệ giữa Sp1 và Sp2, lợi ích của hành động tương lai X do Sp2 thực hiện có thuộc về ai, cũng như cách thức mà Sp1 sử dụng để tăng cường hiệu quả của đích điều khiển hoặc giảm nhẹ tính cưỡng bức của biểu thức ngữ điều khiển Tác giả đã phân chia các động từ nói năng điều khiển thành 4 tiểu nhóm dựa trên các tiêu chí này.

1 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời nhờ

2 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời yêu cầu

3 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời ra lệnh

4 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời khuyên 1.3.1.5 Luận văn chọn thuật ngữ cầu khiến làm tên gọi chung cho cả nhóm Chúng tôi cũng đồng ý với tác giả Vũ Thị Thanh Hương [28, tr 35] khi cho rằng “ở nghĩa rộng cầu khiến là hành vi mà thông qua đó S (Sp1) muốn tạo ra bất kì một sự thay đổi nào trong hành động của H (Sp2) bất kể hành động ấy có lợi hay hại cho S hay H theo đó cầu khiến không chỉ bao gồm ra lệnh, sai bảo, yêu cầu, nhờ vaû mà còn cả mời mọc, xin phép.” Chúng tôi chọn khảo sát các động từ nói năng được dùng với chức năng ngôn hành, các động từ nói năng không được sử dụng trong chức năng ngôn hành ví dụ như mời mọc, khuyên bảo, cấm đoán… chúng tôi sẽ không khảo sát

1.3.2 Các động từ ngôn hành thuộc nhóm cầu khiến

Dựa theo phân loại của tác giả Phạm Thị Hòa, các động từ ngôn hành thuộc nhóm cầu khiến được chia thành các tiểu nhóm khác nhau Việc phân chia này giúp làm rõ tính chất và cách sử dụng của các động từ trong câu cầu khiến, từ đó nâng cao khả năng vận dụng trong giao tiếp và viết Phân loại này cũng giúp người học hiểu rõ hơn về cấu trúc ngữ pháp liên quan đến các động từ cầu khiến trong tiếng Việt.

1 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời yêu cầu gồm có động từ xin, cầu xin, xin phép, van, hỏi, yêu cầu, đề nghị, kiến nghị

2 Nhúm động từ biểu thị hành vi ở lời nhơứ gồm cú động từ nhờ, cậy, trông cậy

3 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời ra lệnh gồm có động từ ra leọnh, caỏm

4 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời mời có động từ mời

5 Nhóm động từ biểu thị hành vi ở lời khuyên gồm có động từ khuyên, cảnh cáo.

HÀNH ĐỘNG CAM KẾT VÀ CÁC ĐỘNG TỪ NGÔN HÀNH THUỘC NHÓM CAM KẾT

1.4.1.1 Cam kết (commisive) là hành động mà Sp1 tự nguyện giao ước với Sp2 sẽ thực hiện X trong tương lai Và do đó Sp1 đã tự ràng buộc mình vào chính những điều kiện do mình đưa ra, mà nếu không thực hiện đúng như điều đã cam kết, Sp1 sẽ trở thành một người xấu, mất thể diện

1.4.1.2 Theo J R Searle và J Austin, để hành động cam kết được thực hiện cần phải thỏa mãn các điều kiện sau: Điều kiện nội dung: hành động X trong tương lai là do Sp1 thực hiện/ hay nói cách khác nội dung mệnh đề của động từ cam kết là nói về tương lai Điều kiện ban đầu: 1 Sp1 biết rằng mình có khả năng thực hiện X; 2 Sp1 muốn làm cho Sp2 biết rằng Sp1 có khả năng thực hiện X và sẽ thực hiện dù có khó khăn gì Điều kiện chân thực: Sp1 chân thành trong những điều mình cam kết; Sp1 muốn tự nguyện thực hiện X, Sp1 tin rằng thực hiện X sẽ có lợi cho Sp2 Điều kiện thiết yếu: Sp1 tự trói buộc mình vào trách nhiệm thực hiện những điều mình nói ra

Trong hành động cam kết, trạng thái tâm lý của người nói thể hiện rõ ý định làm một việc gì đó Mục đích của quá trình này là hướng khớp giữa từ ngữ và thực tại, nhằm đảm bảo rằng thực tế phản ánh chính xác nội dung đã được diễn đạt Khi người nói cam kết S sẽ làm X, họ thể hiện quyết tâm và ý chí để thực hiện hành động đó, tạo nên sự nhất quán giữa lời nói và hành động thực tế.

1.4.1.3 Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ cam kết (pledge) được Anne Weirzerbicka [58 tr 207] xây dựng như sau:

Tôi muốn làm X một lúc nào đó sau thời gian này

Tôi giả định rằng nhiều người sẽ làm nó

Tôi giả định rằng điều này sẽ tốt cho Y

Tôi biết rằng một lúc nào đó sau lúc này tôi có lẽ không muốn làm nó nếu tôi không phải làm

Tôi muốn nói một điều gì đó bây giờ mà điều đó sẽ nhắc cho tôi biết tôi phải làm nó

Tôi nói: tôi sẽ làm; và nếu tôi không làm, tôi muốn người khác nghe nó nghĩ rằêng tôi là người xấu hơn bất kì người nào khác

Tôi nói điều này bằng cách này vì tôi muốn làm cho chính mình phải làm nó, và cho người khác biết rằng tôi phải làm điều đó

Cam kết, dựa trên các điều kiện thỏa mãn hành vi trong lời theo lý thuyết của J.Austin và J.R.Searle, cũng như cấu trúc ngữ nghĩa của động từ pledge do A.Weirzbicka xây dựng, có thể được hiểu là hành động của người nói nhằm bảo đảm và chịu trách nhiệm cho một hành động trong tương lai Hành động này có thể do Sp1 thực hiện hoặc liên quan đến một sự kiện khác mà Sp1 biết chắc chắn và nắm rõ, chứ không nhất thiết do chính Sp1 thực hiện trong tương lai.

14.1.4 Xuất phát từ nghĩa khái quát đó, các động từ thuộc nhóm này có hai tên gọi khác nhau Cam kết là nhóm động từ nói năng được Austin phân chia theo lực ngôn trung thuộc nhóm số 3 (commissive) [60, tr 156-157] Điểm chung của hành động cam kết là ràng buộc người nói vào một hành động ở tửụng lai

A.Weirzerbicka gọi các động từ thuộc nhóm này là động từ hứa hẹn nhóm 17 (promise) [58, tr 205] Nguyễn Thiện Giáp cũng dùng thuật ngữ này Oâng cho rằng hứa hẹn là hành động người nói dùng để cam kết một hành động tương lai nào đó [23 tr 48] Hành động này thể hiện ở những câu nói mà khi nói ra là người nói cam kết thực hiện một hành động nào đó

1.4.1.5 Chúng tôi chọn thuật ngữ cam kết làm tên gọi chung cho các động từ ở nhóm này vì chúng tôi cho rằng cam kết có nghĩa rộng hơn, bao quát hơn hứa hẹn, có thể bao nghĩa của các động từ còn lại trong nhóm

1.4.1.6 Mô hình cấu trúc chung của các động từ thuộc nhóm này như sau:

V thuộc nhóm cam kết trong mô hình cấu trúc ngữ nghĩa, nhưng tùy từng động từ cụ thể mà mô hình này có thể thay đổi chút ít Một số động từ của nhóm cam kết như tha thứ hoặc bỏ qua có thể không yêu cầu bổ nghĩa đi kèm BNND trong cấu trúc này có thể là một ngữ động từ (VP), danh ngữ (NP), hoặc mệnh đề (CL), thể hiện tính linh hoạt trong cách xây dựng câu phù hợp với từng loại động từ.

- Tôi hứa sẽ làm đúng như vậy BNND là một ngữ động từ

- Tôi bảo đảm với anh đây là hàng tốt nhất hiện nay BNND là một mệnh đề

- Cô cho cháu cái áo này BNND là một danh ngữ

1.4.2 Các động từ ngôn hành thuộc nhóm cam kết

Dựa vào các yếu tố như:

- Tiền giả định của các động từ nhóm cam kết

- Nội dung của biểu thức ngôn hành và quan hệ giữa các vai giao tiếp Sp1, Sp2

- Lợi ích của hành động X trong tương lai thuộc về Sp1, Sp2, hay một Sp3 nào đó

- Cấu trúc ngữ nghĩa, ngữ pháp của BNND trong biểu thức ngôn hành

- Cách thức hay các yếu tố mà Sp1 dùng để tăng cường hiệu quả của lời mình nói tức là tăng tính tự nguyện thực hiện X

Chúng tôi tạm thời chia các động từ ngôn hành thuộc nhóm cam kết thành các tiểu nhóm sau

1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời hứa hẹn gồm: hứa, thề, cam đoan, cam kết

2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời bảo đảm gồm: bảo đảm, cá

3 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời tha thứ gồm: tha, tha thứ, bỏ qua

4 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời trao tặng (trao chuyển quyền sử dụng) gồm: cho, biếu, tặng, cho phép.

TIEÅU KEÁT

Câu ngôn hành là một loại câu biểu thị hành động chính trong lời nói, trong đó hành động đó phải được thể hiện rõ qua một động từ ngôn hành Động từ ngôn hành nằm trong cấu trúc ngôn hành tường minh, đóng vai trò là kết cấu lõi đặc trưng của câu ngôn hành Nói cách khác, câu ngôn hành (hay câu ngữ vi) là câu chứa đựng một động từ ngôn hành trong biểu thức rõ ràng, thể hiện hành động chính được phát biểu trong câu.

Các điều kiện quan trọng của câu ngôn hành bao gồm việc chủ ngữ của động từ ngôn hành phải ở ngôi thứ nhất, và có thể lược bỏ trong một số ngữ cảnh giao tiếp Ngoài ra, động từ ngôn hành cần được sử dụng ở thì hiện tại, đặc biệt đối với các ngữ pháp có phạm trù thì như tiếng Anh, thì phải ở dạng đơn và có thể đi kèm với trạng từ để tăng tính rõ ràng.

“Hereby” có nghĩa là hành động chính thức bằng lời nói, thể hiện rõ ý định và mức độ nhấn mạnh trong câu, đồng thời không chứa các từ chỉ thời gian hoặc trạng thái như đã, vẫn, sẽ, đang, rồi Ý nghĩa của ngôn hành trở nên rõ ràng khi từ hữu quan có đối tượng làm bổ ngữ tiếp nhận, thường là ngôi thứ hai, trừ một số động từ ngôn hành đặc biệt có thể có bổ ngữ là ngôi thứ ba Theo phân chia của Cao Xuân Hạo, nhóm động từ thứ hai cần thêm một bổ ngữ nội dung mới có thể tạo thành một phát ngôn ngôn hành.

Dựa trên lý thuyết về động từ ngôn hành, câu ngôn hành, hành động cầu khiến và cam kết, các chương tiếp theo sẽ phân tích cấu trúc và ngữ nghĩa của từng loại động từ ngôn hành trong từng nhóm để đưa ra những nhận xét ban đầu về hiện tượng ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng Anh.

CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN

TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

2.1 CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIEÁNG VIEÄT

2.1.1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời yêu cầu 2.1.1.1 Động từ xin

Theo "Đại từ điển tiếng Việt" (Nguyễn Như Yù chủ biên), xin là một động từ có hai nghĩa chính: đầu tiên, thể hiện ý muốn mong người khác cho cái gì hoặc cho phép làm điều gì, như xin tiền, xin nghỉ, xin phát biểu; thứ hai, dùng để bắt đầu lời yêu cầu hoặc lời mời mọc, mang ý nghĩa lịch sự và khiêm nhường, như xin đến đúng giờ, xin tự giới thiệu, hoặc xin trân trọng cảm ơn.

Động từ "xin" là một động từ ngôn hành thuộc nhóm cầu khiến, thể hiện ý muốn yêu cầu hoặc đề nghị Nó cũng đóng vai trò là một dấu hiệu đánh dấu tính ngôn hành của phát ngôn, thể hiện sự lịch sự và mong muốn nhận được sự đồng ý Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích mô hình kết cấu của động từ "xin" khi đóng vai trò là một động từ ngôn hành, giúp làm rõ cách sử dụng và chức năng của nó trong giao tiếp hàng ngày.

Phân tích tư liệu về ngôn ngữ nói và viết cho thấy cấu tạo phát ngôn của động từ ngôn hành xin bao gồm các thành phần chính như động từ ngôn hành xin, chủ ngữ (người nói - Sp1), bổ ngữ tiếp nhận (người nghe - Sp2), bổ ngữ chỉ nội dung hành động tương lai (BNND), cùng với các thành phần mở rộng (TPMR) có thể đứng trước hoặc sau biểu thức ngôn hành tường minh Mô hình đầy đủ của câu ngôn hành này thể hiện sự phối hợp đa dạng của các thành phần để thể hiện ý nghĩa chính xác trong giao tiếp.

Sp1 XIN Sp2 BNND (TPMR)

Chúng tôi nhận thấy rằng dựa trên sự xuất hiện hay không xuất hiện của các thành phần này, hành động yêu cầu có sự tham gia của động từ ngôn hành "xin" thể hiện các mô hình khác nhau Các mô hình này phản ánh cách diễn đạt yêu cầu một cách lịch sự và tế nhị trong tiếng Việt, giúp tăng tính hiệu quả trong giao tiếp Việc sử dụng động từ "xin" phù hợp với các hoàn cảnh khác nhau sẽ làm rõ ý định và thể hiện sự kính trọng đối với đối tượng nhận yêu cầu Do đó, phân tích các mô hình này là rất cần thiết để hiểu rõ các dạng thức yêu cầu trong tiếng Việt một cách chính xác và phù hợp.

Mô hình này chỉ có 3 yếu tố sau

- Em xin ông Đó không phải nhạc ngụy mà là bản Trở về cát bụi, người hát rong nào cũng hát… (05; 177)

Sp1: - Nếu cậu có thương con cậu, thì mai, tôi gửi lại trao trả cậu Sp2: - Chết nỗi! Tôi xin mợ (01; 40)

Sp1: - Tôi không nói bừa, cậu bênh mẹ cậu à! Ối giời ơi! Này, cậu giết tôi trước đi! Oái làng phố ơi ! Con gái già nó hại tôi!

Sp2: -Tôi xin mợ Tôi van mợ Tôi lạy mợ (01; 108)

Mô hình này thường được sử dụng khi người nói cầu xin điều gì đó dựa trên nội dung nằm trong phần tiền giả định của động từ Nội dung yêu cầu thường liên quan đến một hành động nếu được thực hiện sẽ gây hại hoặc tổn thất cho người nói, nên họ cầu xin người kia dừng hành động đó Trong giao tiếp, vai trò của người nói và người nghe không rõ ràng, có thể là Sp1 > Sp2 hoặc ngược lại Mô hình còn thường đi kèm với cấu trúc của động từ "vâng" để tăng tính thuyết phục, thể hiện mức độ yêu cầu khẩn thiết, cấp bách.

Khảo sát tư liệu, chúng tôi thấy trong nhiều trường hợp câu ngôn hành có động từ xin thường được tỉnh lược chủ ngữ (Sp1)õ

- Cụ lớn thứ lỗi, cụ lớn dạy thế, chứ cụ lớn muốn sai bảo việc gì, xin cụ lớn cứ truyền cho (01; 183)

Khi tỉnh lược Sp1 trong câu ngụ ngôn hành, các phát ngôn liên quan đến Sp1 sẽ được khôi phục rõ ràng ngay sau đó Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc giữ gìn sự chính xác trong các hành vi và phát ngôn liên quan đến Sp1 Thực tế, việc này giúp làm rõ ý nghĩa và tránh nhầm lẫn trong quá trình truyền tải thông tin.

- Xin các anh tha cho ảnh Em đã nói chưa quen bị làm nhục thì đừng vào chốn hang hùm ổ sói mà ảnh không nghe em

- Xin anh hết sức bình tĩnh Người ta báo với chúng tôi anh công khai hát nhạc ngụy ở đây (05; 177)

- Xin các anh tha tội cho tôi Tha cho tôi, các anh muốn gì tôi cũng chòu (05; 68)

- Thì lạy thầy, thế này, làng ta thì đông, thầy cắt ai không được Tại nhà em ốm yếu nên xin thầy hoãn đến lượt sau (01; 502)

- Con lạy thầy khoá, con xin thầy khoá kiếm bữa ăn !

- Thân con mắt mù chân chậm, làm ăn chả được, con xin ông xin bà thí bỏ cho con đồng trinh! (01; 105)

Chúng tôi nhận thấy BNND trong câu ngôn hành thường là một ngữ động từ bắt đầu bằng động từ hoặc có thể là một ngữ danh từ Khi là ngữ động từ, nó thường bắt đầu bằng các phụ từ như: hết sức, hãy, chớ, đừng, cứ, giúp làm rõ ý nghĩa và cảm xúc của câu Phân tích các phát ngôn trong mô hình này giúp dễ dàng nhận biết và áp dụng đúng nguyên tắc xử lý ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp khác nhau, góp phần nâng cao hiệu quả truyền đạt thông tin.

(Sp1 ) XIN Sp2 BNND (= NP)

BNND là một cụm danh từ

- Xin anh ủũa chổ cuỷa thaống beự (04; 308)

- Cô có thương tôi thì mời cô xuống xe cho tôi về và xin cô tiền xe (01; 76)

Sp1 XIN Sp2 đừng/chớ BNND

BNND là các hành động mà Sp1 yêu cầu Sp2 không thực hiện trong tương lai, thường đi kèm với các phụ từ như đừng, chớ Lợi ích của hành động X thuộc về Sp1, thể hiện rõ qua các lời đề nghị hoặc cấm đoán nhằm đảm bảo quyền lợi của Sp1 Việc nhận diện BNND giúp hiểu rõ mối quan hệ quyền lợi giữa các bên và trong giao tiếp hàng ngày.

- Em xin anh đừng tìm em nữa

- Em lỡ lời, xin bác chớ để bụng

Sp1 XIN Sp2 hãy/cứ/ hết sức/hết lòng BNND

Kiểu này gồm các phụ từ hãy, cứ, hết sức, hết lòng đứng trước BNND

- Thưa ngài, xin ngài hãy thư cho ít bữa khi nào thư thả, tôi sẽ đi làm và nộp sau (01; 154)

- Nào, xin anh hãy nghĩ thêm lần nữa… Lấy em, anh chấp nhận hy sinh (04; 166)

- Xin anh hết sức bình tĩnh… (05; 177)

Con xin ba má hết lòng phù hộ và cầu xin phù hộ cho con gặp may mắn, giúp con thoát khỏi cảnh cực khổ bần hàn Trong cấu trúc này, vai giao tiếp của Sp1 thường có vị thế thấp hơn Sp2 về tuổi tác hoặc địa vị, và tính lịch sự trong câu nói được thể hiện qua thành ý thiết tha cầu xin của Sp1.

1d Sp1 thành tâm/thành thật/thực lòng… XIN Sp2 BNND (TPMR)

- Tớ thành thật xin cậâu, hãy vì tớ mà bỏ qua cho nó đi

- Nếu không có ảnh, đời con cũng như đồ bỏ Con thành tâm xin được ba má phù hộ độ trì (05; 209)

Khi sử dụng các phó từ chỉ mức độ đứng trước động từ "xin" như thành tâm, thực lòng, thành thật, chúng thể hiện ý muốn chân thành của người nói Các cụm từ này giúp bày tỏ mong muốn, chứng minh thành ý tốt đẹp và sự chân thành trong lời yêu cầu Ví dụ, "thành tâm xin" hoặc "thành thật xin", thể hiện lòng trân trọng và mong muốn nhận được sự đồng ý từ phía người nghe Việc sử dụng các trạng từ này góp phần tăng tính chân thực và thuyết phục trong câu giao tiếp, giúp người nghe cảm nhận được sự thiết tha và thành tâm của người nói.

Mô hình này có TPMR

Mô hình đầy đủ nhất của câu ngôn hành có động từ xin là Sp1 XIN Sp2 BNND (TPMR) TPMR có thể đứng trước hoặc sau biểu thức ngôn hành tường minh để giải thích, chứng minh hoặc biện hộ cho hành vi cầu xin của Sp1 Mục đích của mô hình này là giúp Sp1 thực hiện các hành vi liên hành vi trong một phát ngôn, từ đó làm cho Sp2 hiểu, thông cảm và chấp nhận thực hiện lời yêu cầu của Sp1.

- Vâng con xin ông tiền công để ngày mai con đi sớm Thầy u con nhaéên ra theá (01; 309)

- Bẩm cụ, một vài hào ở cụ chẳng thấm vào đâu, nhưng, ở con thì nó lớn lắm, xin cụ cho con lấy 5 hào nữa vậy (06; 44)

- Thưa ông, vì tôi đau yếu nên chưa lo kịp, xin ông thư cho đến mai Thuế còn năm bữa nữa mới đăng đàn kia mà (06; 28)

- Xin cô cầm lấy khi nào có điều kiện cô gọi điện cho tôi Tôi rất muốn gặp cô (02; 97)

- Tin em đi… em xin mình Chưa có chuyện gì xảy ra cho con đâu

CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG

Trong phần 2.1, chúng tôi đã phân tích câu ngôn hành mang ý nghĩa cầu khiến trong tiếng Việt và tạm thời chia thành 5 nhóm chính, sau đó tiến hành khảo sát và phân tích từng nhóm một Đồng thời, trong tiếng Anh, chúng tôi dựa trên ý nghĩa của các động từ để phân chia và so sánh với các nhóm trong tiếng Việt, nhằm xác định mối liên hệ và điểm chung giữa hai ngôn ngữ trong việc thể hiện câu cầu khiến.

2.2.1 Các nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời yêu caàu (request) Ơû nhóm này trong tiếng Việt chúng tôi đã khảo sát các động từ sau: xin, cầu xin, van, xin phép,yêu cầu, hỏi, đề nghị, kiến nghị Trong tiếng Anh chúng tôi sẽ khảo sát theo nhóm động từ có ý nghĩa tương tự như vậy

2.2.1.1 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời cầu xin

Trong nhóm động từ mang ý nghĩa cầu xin trong tiếng Anh, có sáu động từ chính gồm: beseech, beg, implore, plead, entreat và insist, đều mang nghĩa hỏi xin hoặc nài nỉ trong một cách nghiêm túc hoặc lo lắng vì điều đó rất cần thiết hoặc mong muốn Các động từ này thường được sử dụng trong các nghi thức giao tiếp trang trọng và chính thức, phản ánh tính chất lịch sự và trang trọng của hành động hỏi xin Theo khảo sát tài liệu, các động từ này hoạt động theo các mô hình cấu trúc nhất định, thể hiện rõ nét trong cách diễn đạt trong các tình huống cần yếu của giao tiếp lịch sự và trang trọng.

(V= beseech, beg, implore, plead, entreat, insist)

Sp1: - Let me alight, let me see it close, I beg of you

Sp2: - Are you mad, sir? How could I allow such a thing?

Sp2: -But you forget that you are a prisoner (19; 229)

Jane, I insist, today I am taking you to Millcote by carriage to purchase elegant clothes for our upcoming wedding We will have a quiet ceremony in the local church in a month’s time, followed by a pleasant stay in London Afterward, we plan to travel through all the countries of Europe, making unforgettable memories before our new life begins.

Sp1 V Sp2 BNND (= to V Infinitive)

- I entreat you to excuse me, Mr Hartright, but surely I hear some horrid children in the garden – my private garden – below? (20 39)

In this scene, a character emphasizes the importance of recognizing the threat, stating, "I must know it, by Jove, you have made them glitter enough before my eyes." They also highlight the advantage of their weaponry, noting, "we on our side have pistols, the pistol carries admirably to a distance of fifty yards," and point out the proximity, "you are only twenty-five from us," illustrating the imminent danger and the need for quick action.

Sp1 V Sp2 BNND (= CL) (TPMR)

Sp1: -Is he coming up from Oxford?

Sp2: -I beg, sir, that you will be seated, and allow me to do this (15;

Mynheer Van Herysen’s report on the black tulip risks being based on crime or false information if not properly addressed It is crucial to bring Master Boxtel, whom I identify as Master Jacob, before you and me for clarity I urge you to have mercy and exercise caution to ensure an accurate understanding of the situation, preventing unjust accusations.

Mô hình này sử dụng các trạng từ như fervently (tha thiết), constantly (liên tục), và really (thật sự) đặt trước động từ để nhấn mạnh sự chân thành và mức độ cưỡng cầu trong lời cầu xin, giúp tăng tính thuyết phục và cảm xúc của câu nói.

Vớ duù 1 Sp1: - Mysterious! Oh! Really? Do you consider me so?

Sp2: - I constantly entreat you to speak plainly in your natural manner (15; 421)

- I fervently implore Mr.T to see my misguided husband, and reason with him? Dare I ask Mr.T to endeavour to step in between Mr

Micawber and his agonised family? Oh, no, for that would be too much (15; 685)

In my heartfelt plea to my dear girl, I emphasized the importance of being reasonable and listening to what I was saying, highlighting that understanding our duty towards those we employ is essential for them to reciprocate appropriately Additionally, it is observed that the English often use various persuasive tactics beyond mere requests to influence others strongly and increase the likelihood of their acceptance These methods serve to effectively sway the recipient’s decision, demonstrating the significance of strategic communication in requesting favor or compliance.

- I beg you on my knees to say no more, Miss Halcombe I am truly shocked that you should have thought it necessary to say so much (20; 294)

The speaker pleads for secrecy and innocence, asking to remain unaware of future hardships: "If you find the thread—keep it to yourself—tell me nothing." They deeply desire to stay ignorant, innocent, and blind to what lies ahead, expressing a heartfelt prayer to preserve their current state of unknowing and simplicity.

The author emphasizes that the tragic events did not occur in their presence and urges others not to blame them, stating, “I did everything for the best.” This reflects a sincere plea to absolve themselves of responsibility For example, phrases like “I beg you on my knees to say no more” or “on my knees I beg and pray” convey intense supplication, similar to Vietnamese expressions such as “Tôi quỳ gối xin cô đừng nói nữa” or “Tôi lạy cô đừng nói nữa,” meaning “I kneel and beg you not to speak further.” Additionally, the use of auxiliary verbs like “do” before “beg and entreat” serves to emphasize the earnestness of the plea, corresponding to the Vietnamese structure “Sp1 xin Sp2 Tôi xin…” which underscores the speaker’s strong request.

Trong mô hình Sp1 V BNND (TPMR), Sp2 đóng vai trò như một tiếp thể của động từ xin được tỉnh lược, giúp tiết kiệm câu và tăng tính linh hoạt trong giao tiếp Tuy nhiên, trong từng ngữ cảnh cụ thể, Sp2 có thể được tường minh lại ngay trong phần Biểu hiện của động từ (BNND) để làm rõ ý nghĩa và đảm bảo sự chính xác trong truyền đạt Việc hiểu rõ cách sử dụng Sp2 trong mô hình này là yếu tố quan trọng giúp nâng cao khả năng diễn đạt và phù hợp với các mức độ giao tiếp khác nhau.

Mr Failie, a resident of Blackwater Park and the husband of Madame Fosco, personally introduces himself, emphasizing the importance of familiarity and connection He politely requests not to be treated as a stranger, urging others not to disturb or move, thereby establishing a tone of respect and intimacy This introduction highlights his desire for cordial relations and sets a respectful, personal tone in the context of his relationship with Madame Fosco.

- I beg that you will not talk to me of engagements, Mr Copperfield

I sincerely hope no one leaves the room, and I plead for my husband and father to break this long silence so we can understand what has come between us In examples 1 and 3, SP2 is explicitly clarified in BNND.

Phát ngôn cầu xin cũng được sử dụng trong phong cách chính luận của các chính trị gia khi diễn thuyết một vấn đề nào đó

- What terms can we find, which have not been already exhausted?

Let's not deceive ourselves any longer; it is crucial to recognize the urgency of taking action against oppression Patrick Henry's powerful speech, "An Appeal to Arms," underscores the importance of prioritizing resistance to tyranny and advocating for liberty His words inspire us to stand firm in the fight for freedom and to act decisively in the face of injustice Emphasizing patriotic duty and moral conviction, Henry's appeal remains a timeless call for courage and resistance during pivotal moments in history.

Trong tiếng Việt, có 4 mô hình và 5 kiểu cấu trúc của các cấu trúc phát ngôn xin, trong khi đó tiếng Anh chỉ có 3 mô hình và cùng số lượng kiểu cấu trúc là 5 Hầu hết các kiểu phát ngôn này đều tương đương nhau về mặt cấu trúc giữa hai ngôn ngữ Ví dụ, cấu trúc như “cháu xin ông tiền công” trong tiếng Việt có thể được diễn đạt bằng tiếng Anh là “I beg you my wage,” cho thấy sự tương đồng trong cách thể hiện yêu cầu, xin xỏ giữa hai ngôn ngữ.

2.2.1.2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời yêu caàu (request)

SO SÁNH CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Chúng tôi đã phân tích mô hình cấu trúc, chức năng và ý nghĩa của các phát ngôn nhóm cầu khiến tường minh trong tiếng Việt và tiếng Anh Nguồn tư liệu chủ yếu là các đối thoại trong các tác phẩm văn học thuộc hai ngôn ngữ này Qua đó, chúng tôi nhận thấy có những điểm tương đồng và khác biệt rõ rệt trong hành động ngôn từ của người Việt và người Anh.

2 3.1 Những nét tương đồng 2.3.1.1 Veà caáu truùc

Trong cấu trúc phát ngôn của động từ ngôn hành nhóm cầu khiến, mô hình "Sp1 ĐTNH Sp2 BNND (TPMR)" được xem là đầy đủ nhất, phản ánh cách hình thành câu ngôn hành trong cả hai ngôn ngữ BNND của động từ ngôn hành trong tiếng Việt có thể là một ngữ động từ (VP), một ngữ danh từ (NP), hoặc một mệnh đề (CL), cho thấy tính đa dạng của thành phần này trong câu cầu khiến Mô hình này giúp làm rõ cấu trúc và chức năng của các thành phần trong câu, góp phần nâng cao hiệu quả phân tích ngôn ngữ học.

Vớ duù: Moõ hỡnh caỏu truực 1 Tieáng Anh: The chairman, “I request you to take back those words All right, then, half the members of the Board are not idiots” (09; 37)

Trong tiếng Việt, câu "Tôi yêu cầu ông rút lại những lời vừa rồi" thể hiện rõ hành động yêu cầu một cách rõ ràng và trang trọng Trong tiếng Anh, các phó từ và cụm từ như fervently, constantly, really, must, on my knees, do beg và entreat được sử dụng để nhấn mạnh mức độ khẩn thiết của hành động cầu khiến của Sp1, như trong các câu xin lỗi hoặc cầu xin Các cụm từ như seriously, with all my soul, from my large experience, và mời (cordially) giúp giảm bớt mức độ nặng nề của ngôn từ, tạo ra sự lịch sự và nhẹ nhàng trong giao tiếp Việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ này đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện cảm xúc và mức độ nghiêm trọng của hành động trong giao tiếp tiếng Anh song song với cách diễn đạt trong tiếng Việt.

Sp1: - Mysterious! Oh! Really? Do you consider me so?

Sp2: - I constantly entreat you to speak plainly in your natural manner (15; 421)

- I beg you on my knees to say no more, Miss Halcombe I am truly shocked that you should have thought it necessary to say so much (20; 294)

2.3.1.2 Về ngữ nghĩa Ở những hành động mà xét từ phương diện lịch sự, nó phương hại đến thể diện của Sp2 hay mang tính áp đặt cao như cấm, ra lệnh, cảnh cáo chúng tôi tìm thấy rất ít phát ngôn ngôn hành thể hiện hành động này trong cả hai ngôn ngữ (tiếng Việt tìm được 1 ví dụ, tiếng Anh: 1 ví dụ cho hành động ra lệnh; tiếng Việt :1 ví dụ; tiếng Anh: 2 ví dụ cho hành động cảnh cáo) Hành động cấm trong tiếng Anh chúng tôi không tìm được ví dụ nào Động từ ngôn hành trong tiếng Việt và tiếng Anh đều được sử dụng để gọi tên những hành động được thực hiện đồng thời bằng cách phát ngôn ra câu có động từ ngôn hành ấy Tuy nhiên mỗi một ngôn ngữ lại có những phương tiện đặc thù để thể hiện hành động bằng lời ấy

Mặc dù có những nét tương đồng nhưng tiếng Việt và tiếng Anh là hai ngôn ngữ thuộc hai hệ thống khác nhau và phản ánh hai nền văn hóa riêng biệt Qua so sánh và đối chiếu, chúng ta có thể nhận thấy nhiều điểm khác biệt quan trọng giúp hiểu rõ hơn về đặc trưng của từng ngôn ngữ.

Về số lượng cấu trúc phát ngôn, tiếng Việt có nhiều hơn tiếng Anh

Trong tiếng Việt, động từ "xin" có 4 mô hình cùng 7 kiểu phát ngôn, phản ánh sự đa dạng trong cách thể hiện ý muốn yêu cầu Động từ hỏi trong tiếng Việt gồm 2 mô hình và 8 kiểu phát ngôn, thể hiện nhiều cách thức đặt câu hỏi khác nhau Trong khi đó, tiếng Anh chủ yếu sử dụng mô hình 1 của động từ "request" với nhiều kiểu phát ngôn đa dạng, đặc biệt trong nhóm yêu cầu như "entreat," "beg," "implore," và "insist," với tổng cộng 3 mô hình và 5 kiểu phát ngôn Điều này thể hiện sự phong phú trong cách diễn đạt yêu cầu, xin xỏ giữa hai ngôn ngữ.

Trong tiếng Anh, để thể hiện một hành động, thường có nhiều động từ ngôn hành cùng tham gia thực hiện chức năng đó, khác với tiếng Việt có nhiều cách diễn đạt cho một động từ ngôn hành Chẳng hạn, tiếng Anh sử dụng các cụm động từ phong phú để biểu đạt cùng một ý nghĩa, giúp đa dạng hóa cách diễn đạt và phù hợp với nhiều ngữ cảnh khác nhau Việc hiểu rõ các động từ ngôn hành và cách kết hợp chúng trong tiếng Anh là yếu tố quan trọng để nâng cao kỹ năng giao tiếp và viết chuẩn xác, thuận tiện trong việc truyền đạt ý tưởng một cách rõ ràng và sinh động.

In English, understanding the nuances of different verbs is essential for effective communication Six verbs that express begging include "beseech," "beg," "implore," "plead," "entreat," and "insist," each conveying varying degrees of urgency and intensity When making requests or demands, words like "require," "enquire" (or "enquire"), "request," "ask," "demand," and "direct" are commonly used to specify different levels of necessity and authority Additionally, there are two verbs used for invitation purposes: "invite" and the formal phrase "request the honor of," which add politeness and formality to social or professional interactions Incorporating these verbs appropriately enhances clarity and tone in both written and spoken English, aligning with SEO best practices by using precise and relevant language.

Trong ngôn ngữ, một số động từ ngôn hành không thể hiểu chỉ dựa trên từ ngữ mà cần phải suy ra từ bối cảnh của câu nói Mặc dù số lượng các động từ này trong hai ngôn ngữ không nhiều, chúng mang ý nghĩa đa dạng và phức tạp Ví dụ, động từ "warn" ngoài nghĩa cảnh báo còn mang ý nghĩa báo trước, nói cho biết trước trong tiếng Việt Tương tự, động từ "mời" trong tiếng Việt không chỉ thể hiện hành động mời nói lịch sự, tôn trọng mà còn có thể mang ý nghĩa đuổi, điều này dễ dàng suy ra từ ngữ cảnh hoặc từ hành động ngôn hành của câu.

Một ví dụ điển hình về cách thể hiện ý kiến trong các tình huống hàng ngày là khi cô gái nhắc nhở bạn trai chơi ở phòng quá giờ quy định của ban quản lý ký túc xá bằng câu nói: “Mời anh về cho bọn em đi ngủ.” Câu nói này thể hiện sự lịch sự nhưng rõ ràng trong việc nhấn mạnh giới hạn thời gian chơi để đảm bảo trật tự và kỷ luật trong ký túc xá.

Hay một cô giáo giận dữ nói với một học sinh bướng bỉnh của lớp:

Trong câu "Tôi mời em ra khỏi lớp ngay," cụm từ "Ra khỏi lớp ngay" là BNND của động từ ngôn hành mời, thể hiện rõ ý nghĩa của động từ mời trong tình huống này là một hành động đuổi Đây là ví dụ minh họa cho cách sử dụng BNND để xác định nghĩa của động từ trong câu, giúp người đọc hiểu rõ hơn về cấu trúc câu và chức năng của các thành phần ngữ pháp trong tiếng Việt.

Trong ngôn ngữ, không phải tất cả các động từ hành động đều có chức năng ngôn hành Một số động từ được sử dụng để thực hiện chức năng ngôn hành trong một ngôn ngữ nhất định, nhưng lại không có trong ngôn ngữ khác Ví dụ, động từ "cấm" trong tiếng Anh (forbid, prohibit) không được dùng với chức năng ngôn hành, trong khi các động từ như "xin phép," "cậy," "nhờ cậy," "trông cậy" lại không có động từ ngôn hành tương ứng trong tiếng Anh Điều này cho thấy sự khác biệt trong cách diễn đạt ý nghĩa thao tác hành chính hoặc giao tiếp giữa các ngôn ngữ, ảnh hưởng đến cách sử dụng và hiểu các động từ mang chức năng ngôn hành trong từng ngôn ngữ.

Trong tiếng Anh, có các câu ngôn hành ở thể tiếp diễn, nhưng trong tiếng Việt không thể dịch là "đang" như trong tiếng Anh Ví dụ, câu "I’m directing you…" chỉ có thể được dịch là "tôi yêu cầu anh…" để giữ đúng ý nghĩa và tính tự nhiên của câu trong ngữ cảnh tiếng Việt.

Trong tiếng Anh, hiện tượng động từ ngôn hành kết hợp với động từ tình thái tạo thành các phát ngôn ngôn hành hữu hạn, theo nghiên cứu của B Fraser Trong khi đó, theo Cao Xuân Hạo, các động từ tình thái đứng trước phát ngôn ngôn hành có tác dụng tiêu cực đối với tính ngôn hành của câu Hiện tại, ngoài công trình của Cao Xuân Hạo, chưa có nghiên cứu sâu nào về hiện tượng này trong tiếng Việt, cho thấy sự cần thiết của các cuộc khảo sát bổ sung để hiểu rõ hơn về sự ảnh hưởng của các động từ tình thái trong cấu trúc ngôn ngữ Việt Nam.

Xin là một tác tử thể hiện sự lịch sự, khiêm nhường và nhấn mạnh tính ngôn hành trong tiếng Việt, nhưng không có dạng tương đương trong tiếng Anh Thay vào đó, người Anh thường sử dụng từ "please" để thể hiện lịch sự trong câu Theo Nguyễn Văn Độ [19, tr 50], việc sử dụng "please" thay thế cho xin phản ánh cách diễn đạt lịch sự và tinh tế trong tiếng Anh.

CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG TIẾNG VIỆT

3.1.1 Nhóm động từ biểu thị hành động ở lời hứa hẹn (promise) 3.1.1.1 Động từ hứa

Theo “Đại từ điển tiếng Việt", hứa là hẹn ước sẽ làm gì cho ai: hứa mua quà cho em, hứa sẽ không tái phạm nữa… [56, tr 860]

Anne weirzerbicka đã xây dựng cấu trúc ngữ nghĩa của động từ hứa

Tôi biết rằng anh muốn tôi làm A

Tôi biết rằng anh nghĩ rằng tôi có lẽ sẽ không làm điều đó

Tôi muốn làm điều đó vì anh muốn tôi làm điều đó

Tôi nói: tôi sẽ làm nó

Tôi muốn chúng ta nghĩ rằng nếu tôi không làm nó, người ta sẽ không tin bất cứ điều gì mà tôi nói tôi sẽ làm

Tôi nói điều này và bằng cách này vì tôi muốn làm cho anh có thể nghĩ rằng tôi phải làm điều đó

Nghĩa của động từ "hứa" là người nói sử dụng chính lời nói của mình để tạo lòng tin cho người nghe về những việc sẽ thực hiện trong tương lai Khi dùng lời nói đó, người nói tự ràng buộc bản thân vào trách nhiệm hoàn thành những lời đã hứa, và việc hứa là hành động hoàn toàn tự nguyện Thêm vào đó, người nói còn biết rằng lời hứa của mình sẽ làm cho người nghe hài lòng, như trường hợp của Sp1 khi biết rằng lời hứa đó sẽ làm Sp2 vui lòng.

Mô hình cấu trúc đầy đủ của động từ hứa bao gồm người nói (Sp1), động từ ngôn hành hứa, bổ ngữ tiếp nhận (Sp2), và luôn cần có một bổ ngữ nhận định (BNND), cùng với thành phần TPMR nếu có Cấu trúc của động từ hứa có thể tóm tắt là: Sp1 (xin) HỨA với Sp2, BNND (TPMR).

Trong thực tiễn sử dụng của phát ngôn hành chứa động từ này, thường không tuân theo một cấu trúc đầy đủ Tuỳ vào hoàn cảnh giao tiếp, mục đích của Sp1 và sự có mặt hay vắng mặt của các thành phần trong phát ngôn hứa, các mô hình cấu trúc khác nhau thường xuất hiện Khảo sát cho thấy sự linh hoạt trong cách thể hiện lời hứa phù hợp với từng tình huống giao tiếp cụ thể.

Sp1 (xin) HỨA sẽ (khụng) BNND (= VP)ứ

Sp1: -Ơ, sao anh lại đón em ở đây

Sp2: - Anh chờ em cùng về cho vui mà Anh hứa từ nay sẽ không trêu chọc em nữa

Sp1: - Thôi Lỗi cũng tại em mà

Anh xin hứa từ nay trở đi sẽ không làm em khóc nữa

Con hứa sẽ không đánh bạn Lan nữa đâu, bố ạ

Người Việt rất hay dùng cụm từ “từ nay (trở đi)” , “sẽ không … nữa”,

Trong các phát ngôn hứa, cụm từ “ngày mai” thường thể hiện cam kết về một hành động sẽ được thực hiện trong tương lai Hứa là một lời cam kết rõ ràng về việc thực hiện hành động sau này, và “ngày mai” chính là dấu hiệu cho thấy sự hứa hẹn đó đang hướng tới thời điểm phía trước Việc sử dụng các cụm từ chỉ thời gian như vậy giúp người nghe hiểu rõ hơn về cam kết của người nói và thúc đẩy tính đáng tin cậy trong lời hứa.

Sp1 (xin) HỨA BNND (= CL)

Con xin hứa từ nay trở đi con đoạn tuyệt với lô đề

Khi thấy có người can thiệp, thằng Bi không còn khóc nữa mà năn nỉ mẹ tha cho mình, hứa sẽ không chơi nữa và sẽ bán hết mọi thứ vào ngày mai.

Vốn đâu nữa mà bán? Bữa nay thâm mấy chục ngàn Ngày mai, ai cho mày lấy?

(Trầm Nguyên Ý Anh; “Ngọn lửa”; Báo Bình Dương cuối tuần số 122/2006)

Sp1 (xin) hứa với/trước Sp2 BNND (= CL) (TPMR)

Tôi xin hứa với bác là tôi sẽ tổ chức cho cháu thi lại

Trong phút giây chia tay đầy xúc động, gia đình chúng tôi xin hứa với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận và bạn bè của cha tôi sẽ nỗ lực phấn đấu theo lời dặn dò của ông, giữ vững truyền thống cách mạng và đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng đất nước Chúng tôi cũng nguyện gìn giữ và phát huy những giá trị mà cha tôi đã để lại, đồng thời thể hiện lòng biết ơn sâu sắc qua hành động thiết thực, xứng đáng với tinh thần và ý chí của ông.

Duyên ngừng hát, nén xúc động, quay lại phía Loan:

Trong bài viết này, chúng tôi trình bày về các mô hình phát ngôn hứa và đặc điểm của chúng trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau Ví dụ 1 cho thấy cách sử dụng mô hình phát ngôn hứa trong hội thoại không trang trọng, với việc thêm hệ từ "laứ" để thể hiện sự chân thành mà không làm thay đổi ý nghĩa Trong khi đó, ví dụ 2 diễn đạt mô hình hứa trong bối cảnh trang trọng, sử dụng cấu trúc chuẩn xác kết hợp với các yếu tố như TPMR để chỉ thời gian và hành động giải thích, ví dụ như "Trong giờ phút vĩnh biệt thương nhớ này" và "cũng là hứa trước hương hồn ba tôi" Cuối cùng, ví dụ 3 minh họa cách sử dụng hành động giải thích như "Lần này là lần đầu tiên, chúng tôi chưa quen" để làm rõ ý nghĩa của lời hứa trong hoàn cảnh nhất định Các mô hình này đều phản ánh cách thể hiện lời hứa phù hợp với từng môi trường giao tiếp, phù hợp với các nguyên tắc SEO về nội dung rõ ràng, mạch lạc và từ khóa liên quan.

BNND Sp1 (xin) HỨA (danh dự) (đấy)

Xuân tóc đỏ giơ tay ra cho ông phán mọc sừng:

Vậy thì tôi xin hứa một lần nữa… danh dự… cam đoan Ôâng Phán sung sướng bắt tay Xuân rất chặt, nói rối rít:

Thôi, tôi vào sở, cảm ơn bác trước nhé! (07; 118)

Con sẽ nghe lời mẹ và không nghịch bình hoa nữa, con xin hứa Trong cấu trúc câu này, từ "hứa" có thể được đảo lên trước để nhấn mạnh lời hứa, hoặc đặt ở phần dẫn nhập hoặc trong mệnh đề giả định nhằm tạo ra cú pháp linh hoạt và phù hợp với ngữ cảnh câu tiếng Việt.

Tiền giả định của động từ hứa có thể thể hiện hai ý nghĩa chính Đầu tiên là việc Sp1 cam kết không thực hiện hành động X đã gây đau buồn hoặc không hài lòng cho Sp2, thường đi kèm các cụm từ về thời gian như "từ nay", "sẽ không nữa", hoặc "ngày mai" Thứ hai là khi hành động X chưa xảy ra nhưng Sp1 nhận thấy nếu thực hiện thì sẽ đem lại lợi ích hoặc niềm vui cho Sp2, qua đó cam kết bằng lời nói để làm tăng sự tin yêu và quý trọng Các phát ngôn này thường liên quan đến mệnh đề về hành động X trong tương lai mà không sử dụng các từ chỉ thời gian cụ thể.

Các câu ngôn hành hứa hẹn được sử dụng phổ biến trong đối thoại hàng ngày cũng như trong các tác phẩm văn học, giúp thể hiện lời hứa một cách rõ ràng và chân thành Ngoài ra, chúng còn phù hợp với các buổi lễ trang trọng, góp phần tăng tính trang nghiêm và ý nghĩa của sự kiện.

Thề là nói chắc, hứa chắc và lấy vật thiêng hay danh dự, tính mệnh của mình ra đảm bảo: thề có trời đất chứng giám [56, tr 1554]

Trong việc thề, con người thường viện dẫn những vật thiêng liêng như trời đất, trăng sao, chúa, thậm chí lấy cả danh dự hoặc tính mạng để đảm bảo lời nói của mình Sp1 sẵn sàng đưa ra những hình phạt nặng nề, khảm khốc nhất để đảm bảo tính xác thực của lời thề Nội dung của mệnh đề trong câu thề thường là hành động mà Sp1 tự nguyện cam kết sẽ thực hiện trong tương lai Do đó, động từ "thề" mang độ tin cậy cao hơn so với động từ "hứa".

A.Weirzerbicka đã xây dựng cấu trúc ngữ nghĩa của động từ theà (swear) nhử sau [58, tr 209]:

Tôi muốn người khác (hoặc anh) biết rằng tôi nói X

Tôi giả định rằng người khác (hoặc anh) có lẽ không muốn tin vào điều đó

Tôi nói: điều này là đúng sự thật như bất kì điều gì tôi có thể nói đều đúng sự thật

Tôi nói: điều này là sự thật như sự thật mà tôi cảm thấy một điều gì đó tốt đối với Y

Tôi tin rằng có một điều gì đó (Y) mà tôi cảm thấy đúng và không thể phủ nhận giá trị của nó, dù người khác hoặc anh có ý kiến khác Trong mọi tình huống, tôi giữ vững niềm tin vào Y vì nó mang lại ý nghĩa và giá trị quan trọng đối với tôi.

Tôi tưởng tượng rằng Chúa nghe tôi nói điều này

Tôi tưởng tượng rằng bằng cách nói điều này nếu X không đúng tôi có thể làm cho một điều gì đó thật tệ xảy ra với tôi

Tôi nói điều này bằng cách này vì tôi muốn làm cho người khác (hoặc anh) tin rằng những gì tôi nói (X) phải đúng sự thật

Nếu tôi nói điều này theo cách này, người khác sẽ không thể tin bất kỳ điều gì tôi nói nếu X không đúng sự thật, và họ có thể nghĩ xấu về tôi, ảnh hưởng đến uy tín và mối quan hệ của tôi với mọi người.

Động từ thề có cấu trúc gồm các thành phần chính: Sp1, động từ thề, Sp2, BNND, TPMR Theo khảo sát thực tế từ dữ liệu tự nhiên, mô hình cấu trúc của động từ thề thể hiện qua các kiểu chính khác nhau Điều này giúp hiểu rõ hơn về cách sử dụng động từ thề trong câu nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp và đảm bảo câu cú rõ ràng, chính xác.

Sp1 (xin) THEÀ BNND (=VP)

Bao nhiêu người xúm lại can, tao còn nói thêm: “Có trái lựu đạn tao thề sẽ ăn thua đủ với mày để bạn bè tao về đây đỡ nhục.” (05; 31)

Nguyệt gục đầu, ôm chặt, hu hu khóc…

CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG TIẾNG ANH

Trong phần 3.1, chúng tôi đã phân tích câu ngôn hành biểu thị hành động cam kết trong tiếng Việt và tạm thời chia thành 4 nhóm chính Để thực hiện khảo sát, chúng tôi tập trung phân tích 12 động từ thuộc các nhóm này, nhằm xác định đặc điểm và ý nghĩa của từng loại Ngoài ra, trong tiếng Anh, chúng tôi cũng dựa trên ý nghĩa của các động từ để phân chia thành các nhóm tương tự như tiếng Việt, từ đó tiến hành so sánh và đối chiếu nhằm làm rõ các điểm tương đồng và khác biệt trong cách biểu đạt hành động cam kết giữa hai ngôn ngữ.

3.2.1 Nhóm động từ biểu thị hành động ở lời hứa hẹn (promise) 3.2.1.1 Động từ promise ( hứa)

Trong tiếng Anh dựa vào nguồn tư liệu khảo sát được, chúng tôi thấy hành động hứa có các kiểu mô hình sau:

Sp1 PROMISE BNND (TPMR) Ơû mô hình này, bổ ngữ tiếp nhận Sp2 được tỉnh lược, còn BNND là một hành động trong tương lai do Sp1 thực hiện

-Tell me when to go after that apology is accepted I promise implicit obedience to you and your advice (20; 67)

Sp1: -Miss Halcombe has promised to trust me –Will you promise too?

(The farewell sadness in the kind blue eyes shone dimly through her garthering tears She said in broken tears.)

Sp2: I promise it (= I promise to trust you) Oh, don’t look at me like that, I promise it with all my heart (20; 115)

Mô hình đầy đủ nhất của hành động hứa có thể được thể hiện qua cấu trúc Sp1 PROMISE Sp2 BNND (= CL) (TPMR), trong đó BNND của động từ promise đề cập đến một hành động trong tương lai do Sp1 thực hiện hoặc một sự kiện trong tương lai mà Sp1 biết chắc chắn sẽ xảy ra Các ví dụ minh họa cho thấy hành động hứa có thể liên quan đến việc cam kết thực hiện một việc cụ thể hoặc dự đoán một sự kiện chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai.

There is no rush to plant your tulip bulbs, Rosa, as they can remain out of the ground for at least a month, giving us plenty of time to prepare However, it's important that you follow my planting instructions carefully to ensure the best growth and blooming results.

Although I am a prisoner, I am a man of honor who pledges on my word that I will not escape or attempt to flee My only wish is to see the flower, emphasizing my desire for a moment of freedom and connection despite my captivity This statement highlights themes of integrity, hope, and the human spirit's resilience even in difficult circumstances.

-“Read, (said the little man majestically), I promise you, my friend, the writing of the golden papa speaks with a toungue of trumpets for itself.” (20; 13)

To ensure his immediate freedom, I propose removing Lady Glyde, as I guarantee he will seize the opportunity to escape and return to the Continent at the earliest possible moment This promise is made with utmost sincerity and credibility, using emphatic expressions similar to those used by the British and Vietnamese, such as "on my word," "upon my word," "with all my heart," "a man of honour," and "upon my honour," to emphasize the trustworthiness and seriousness of my commitment.

BNND Sp1 promise (Sp2) Ở mô hình này nội dung của hành động hứa được đảo lên trước chủ ngữ

- Go, Mr Boxtel, justice shall be done, I promise you

- If the thing must be done it shall be done I promise you that, Merriman (20; 216)

Sp1: - We’ll come, some Sunday, Phil, I promise

Sp2: Don’t give me that –some Sunday, indeed! This Sunday, Oliver Sp1: Yes, sir This Sunday (18; 38)

- Jane, If I need help, I’ll ask you, I promise Get me a glass of wine now (21; 157)

Trong tiếng Anh, hành động hứa thể hiện qua nhiều mô hình phát ngôn, gần giống với cách diễn đạt trong tiếng Việt, bao gồm cả cấu trúc đảo ngữ (mô hình 3) Người Anh còn có những cách diễn đạt đặc biệt để nhấn mạnh sự chân thành và danh dự trong lời hứa, thể hiện qua việc họ hứa với tất cả trái tim mình Những cụm từ và cấu trúc này giúp làm rõ ý nghĩa của lời hứa, đồng thời tăng tính thuyết phục và chân thực trong giao tiếp.

3.2.1.2 Động từ swear/ vow (thề) Để thể hiện hành động thề một cách tường minh, người Anh dùng 2 động từ vow and swear Hai động từ này có một nét nghĩa chung là đưa ra một lời thề nghiêm túc, trang trọng để làm một điều gì đó hoặc để khẳng định một điều gì đó là đúng sự thật (to make a formal and serious promise to do something or a formal statement that is true) Trong tiếng Việt, chúng ta có thể dịch hành động này là thề, nguyện Để thể hiện hành động thề, người Việt có 4 mô hình với 5 kiểu phát ngôn như đã phân tích ở mục 3.1.1.2 Vậy tiếng Anh có những mô hình phát ngôn nào?

Khảo sát tư liệu chúng tôi thấy tiếng Anh có các mô hình sau:

Sp1 SWEAR/VOW BNND (= that CL)

Sp2: - But it’s all there I swear (that) it is You can count it

… and I swear that I will leave him in undisturbed possession of the tulip if I do not reconige the flower and its holder (19; 190)

I firmly deny any knowledge of the parcel found in my house and question how I could be considered responsible for receiving it I do not understand how anyone could have known that this item was present in my residence, nor do I see how I can be accused of a crime for accepting something brought to me by my esteemed and unfortunate Godfather.

Sp1 SWEAR/VOW * BNND (= that CL)

Key elements that strengthen the credibility of a vow in English include phrases such as "before God" and "to God," which emphasize solemn commitment Additionally, expressions like "by the moon and the stars in the sky" evoke a sense of universal truth and authenticity These phrases serve to enhance the sincerity and trustworthiness of a promise, adhering to SEO best practices by highlighting common vow-related expressions.

The parcel was handed to me as I previously described, and I swear before God that I was completely unaware of its contents It was only upon my arrest that I discovered this shipment contained correspondence between the Grand Pensionary and the Marquis of Louvois.

I swear by the moon and the stars in the sky that I love you

Moâ hình 1 Sp1 SWEAR/VOW to Sp2 BNND (= that CL) (TPMR) Đây là mô hình phát ngôn đầy đủ nhất của hành động theà

Sp1: -Now don’t look astonished, if you please

Sp2: - I vow to you, Master Van Spenne, that I am completely at a loss to understand what you want (19; 65)

Rosa desperately pleads, saying, "A thief, Cornedius a thief! Please, Your Highness, do not utter such a word, it would destroy him if he heard it." She insists that if any theft occurred, no one is more responsible than Cornedius himself, highlighting her unwavering belief in his innocence and emphasizing the gravity of accusations within the story.

Cũng giống như hành động hứa, hành động theà cũng có một mô hình đảo BNND lên trước chủ thể giao tiếp

Lila pulls back the shower curtain and steps in, takes the soap and lathers her hands She grabs his cock with her soapy hands

“You come to soon, dickhead, and I’ll kill you, I swear.” (12; 300)

Sp1: - Are you serious? Do you really love me? Do you honestly want me to be your wife?

Trong tiếng Anh, các lời thề như "Then, Edward, I will marry you" thường được sử dụng trong đối thoại hàng ngày hoặc trong các tình huống trang trọng, phản ánh tính chân thành và thuyết phục của người nói Các cấu trúc phát ngôn này còn có thể bao gồm yếu tố viện dẫn nhằm tăng tính đáng tin cậy và thuyết phục người nghe Tuy nhiên, khảo sát dữ liệu bằng tiếng Anh cho thấy người Anh thường không phát ngôn những lời thề mang tính "độc" như người Việt, mà thay vào đó họ thường viện dẫn các yếu tố cao quý, huyền bí như chúa, trăng, sao để làm tăng tính trang nghiêm và uyển chuyển trong lời thề Ngoài ra, lời thề trong tiếng Anh còn chứa đựng sức mạnh ngôn từ có thể đe dọa hoặc gây áp lực, như trong ví dụ mô hình 8, làm tăng tính thuyết phục của lời hứa.

3.2.2 Nhóm động từ ngôn hành biểu thị hành động ở lời bảo đảm

3.2.2.1 Động từ assure (bảo đảm)

Trong tiếng Anh động từ bảo đảm (assure) có 3 nghĩa là:

1.To tell somebody that something is definitely true or is definitely going to happen, especially when they have doubts about it

2.Assure yourself of something: to make yourself certain about something

3.To make something certain to happen (=guarantee)

Trong 3 nghĩa trên, nghĩa 1 (nói với ai đó về một việc gì đó chắc chắn đúng hoặc một điều gì đó chắc chắn sẽ xảy ra đặc biệt là khi họ nghi ngờ nó) nghĩa 2 (Sp1 chắc chắn về một điều gì) hoặc 3(làm cho điều gì đó chắc chắn xảy ra, = cam đoan, cam kết) đều được sử dụng với chức năng ngôn hành Khảo sát tư liệu trong các tác phẩm văn học, ở các thông báo và báo cáo, chúng tôi nhận thấy động từ assure được sử dụng với chức năng ngôn hành với tần suất xuất hiện khá cao Hầu như có mặt rất nhiều trong phong cách sinh hoạt hàng ngày và trong phong cách hành chính - công vụ với các kiểu mô hình phát ngôn chủ yeáu sau

Sp1 ASSURE Sp2 BNND (= that CL)

- It is no distance –comparatively speaking and though consideration is due o the kindness of your proposal, I assure you that is a mere matter of form (15; 744)

- I assure you, my dear boy, I am almost as pleased as if I were going to be married myself, to think that this event is coming to such a happy termination (15; 612)

Gentlemen, I assure you that I am currently alone with Mynheer d’Asperen and cannot make any decisions independently, emphasizing my lack of sole responsibility in this matter To strengthen this assurance, English speakers often use "do" before "assure" or include adverbs such as sincerely, honestly, indeed, or definitely to convey sincerity and certainty.

-People, I do assure you who would have opened their eyes in astonishment, if they had seen Charles the Fifth pick up Titian’s brush for him (20; 37)

I assure you, based on the most reliable authority, that this matter is addressed fairly It is important to recognize how a completely absurd notion can hinder the advancement of genuine knowledge and scientific progress.

- I feel it, sir, I assure you, but I never thought so, before Sincerely, honestly, indeed, Mr Spenlow I never thought so, before I love Miss

SO SÁNH CÂU NGÔN HÀNH MANG Ý NGHĨA CAM KẾT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Chúng tôi đã phân tích mô hình cấu trúc và ý nghĩa của các phát ngôn nhóm cam kết tường minh trong tiếng Việt và tiếng Anh Nguồn tư liệu chính gồm các đối thoại hàng ngày, các tác phẩm văn học, đơn thư, và báo cáo mang phong cách hành chính – công vụ của cả hai ngôn ngữ Qua đó, chúng tôi nhận thấy có những điểm tương đồng và khác biệt rõ rệt trong cách ngôn từ của người Việt và người Anh thể hiện ý nghĩa và hành động giao tiếp.

3.3.1 Những nét tương đồng 3.3.1.1 Veà caáu truùc

Mô hình của động từ ngôn hành nhóm cam kết, đặc biệt mô hình “Sp1 ĐTNH Sp2 BNND (TPMR)”, là mô hình hoàn chỉnh nhất và chiếm tỷ lệ lớn trong cả hai ngôn ngữ BNND của động từ ngôn hành trong tiếng Việt có thể là một ngữ động từ (VP), ngữ danh từ (NP) hoặc mệnh đề (CL), thể hiện tính đa dạng của cấu trúc cú pháp Các mô hình phát ngôn trong tiếng Việt và tiếng Anh đều thường bao gồm mô hình này, như động từ hứa (promise), thề (vow/ swear), cam đoan, bảo đảm, cam kết (assure), cá/ dánh cuộc (bet), tha thứ (forgive), hoặc cho/ biếu tặng (give/ offer/ grant).

Hành động cam kết trong tiếng Việt chúng tôi khảo sát được 5 mô hình, tiếng Anh chúng tôi cũng khảo sát được số lượng tương tự gồm mô hình 1,

3, 4, 7, 8 Ơû hành động theà và hứa, khi cần thiết trong cả hai ngôn ngữ đều có thể đảo BNND lờn trước chủ thể phỏt ngụn Sp1 (mụ hỡnh 4 hoăùc 8)

Vớ duù : Tiếng Việt : “Tôi sẽ trả lại em tất cả, tôi thề.”

Tieáng Anh : “If I need help, I ‘ll ask you, I promise.” (Neáu caàn giuùp đỡ, anh sẽ nói, anh hứa.)

3.3.1.2 Về ngữ nghĩa Để thực hiện lời hứa một cách danh dự hay để nhấn mạnh bảo đảm cho lời hứa của mình, tiếng Việt dùng các cụm từ danh dự, với tất cả tấm lòng thỡ tieỏng Anh cuừng duứng on my honour, with all my heart hay do promise… Để tăng cường nghĩa hay để đảm bảo độ tin cậy cho lời thề, người Anh cũng viện dẫn đến những yếu tố cao sang huyền bí như chúa, thánh thần

Người Việt và người Anh đều sử dụng lời thề với lời nói mang tính đe dọa để thể hiện sự chân thành và trung thực trong các cam kết, như là hình ảnh của trăng sao hay các lời nguyện rủa, nhằm nhấn mạnh tình thần trung thành và uy tín trong truyền thống văn hóa của họ.

Tiếng Việt: “Có trái lựu đạn tao thề sẽ ăn thua đủ với mày để bạn bè tao về đây đỡ nhục.”

Tiếng Anh: “I’ll kill you, I swear” (Tao thề tao sẽ giết mày.)

3.3.2 Những nét dị biệt 3.3.2.1 Veà caáu truùc

Trong tiếng Anh, các động từ ngôn hành mang ý nghĩa cam kết thường có số lượng ít hơn so với tiếng Việt Cụ thể, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tiếng Việt có đến 12 động từ thể hiện năng lực cam kết, trong khi đó, tiếng Anh chỉ có khoảng 9 động từ phù hợp Điều này cho thấy sự khác biệt trong cách diễn đạt ý nghĩa cam kết giữa hai ngôn ngữ, với tiếng Việt đa dạng hơn trong việc sử dụng các động từ ngôn hành thể hiện cam kết Việc hiểu rõ các động từ này giúp nâng cao kỹ năng giao tiếp và truyền đạt ý chí rõ ràng hơn trong cả hai ngôn ngữ.

Trong tiếng Việt, hành động thề thường xuất hiện trong các câu có yếu tố viện dẫn, tuy nhiên, mô hình câu trúc của chúng không tuân theo một quy tắc nhất quán nào Ngược lại, trong tiếng Anh, lời thề khi có yếu tố viện dẫn thường chỉ xuất hiện theo một mô hình cố định, đảm bảo tính thống nhất và rõ ràng trong cách trình bày Điều này cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai ngôn ngữ về cách sử dụng hành động thề trong các câu có yếu tố viện dẫn, góp phần làm rõ hơn về đặc điểm cú pháp và diễn đạt của chúng.

3 Ơû hành động trao tặng, tiếng Việt có nhiểu mô hình cấu trúc (5 mô hình) thể hiện sự phong phú trong hoạt động nói năng của người Việt Các động từ cho, biếu, tặng được sử dụng thường xuyên trong nhiều ngữ cảnh giao tiếp Trong khi đó, tiếng Anh chỉ có một mô hình cấu trúc (mô hình 1), và người Anh rất ít khi sử dụng câu ngôn hành trực tiếp để thể hiện hành động này

3.3.2.2 Về ngữ nghĩa Ở hành động hứa, người anh có thể dùng phát ngôn này như một lời đe dọa, hiện tượng này không thấy xảy ra trong tiếng Việt Ví dụ:

Trong tiếng Anh, không có trường hợp lời thề độc, như câu nói “Tôi báo cho anh biết anh mà còn học hành như vậy thì sẽ thi rớt đấy” không thể coi là lời thề trong ngôn ngữ này Thay vào đó, từ “assure” trong tiếng Anh có thể được dịch sang tiếng Việt với nhiều nghĩa khác nhau tùy theo ngữ cảnh sử dụng, giúp truyền đạt ý nghĩa rõ ràng và chính xác hơn trong các tình huống giao tiếp.

If my application is successful, I am committed to doing my best to satisfy you, demonstrating my dedication and willingness to meet your expectations.

Ví dụ 2: “I assure you she’s the dearest girl.” [15; 395] có thể dịch

“Con đảm bảo với dì cô ấy là người đáng yêu nhất.”

Vớ duù 3: “Now, you mention it, Copperfield, I shouldn’t wonder at all

I assure you she is always forgetting herself, and taking care of the other nine.”

Bây giờ con mới nhắc, dì sẽ không hỏi gì thêm Dì chắc chắn rằng cô ấy luôn hy sinh và quên đi bản thân để chăm sóc chín đứa em nhỏ, thể hiện tình yêu thương vô điều kiện dành cho gia đình.

Sự khác biệt lớn nhất giữa người Anh và người Việt trong việc thể hiện hành động trao tặng chính là cách sử dụng từ ngữ và ngữ cảnh Trong khi người Anh chủ yếu dùng động từ "give" trong các tình huống trang trọng hoặc đặc biệt, thì người Việt linh hoạt sử dụng "trao tặng" ở nhiều hoàn cảnh khác nhau, từ trang trọng đến thân mật Người Anh thường dùng các câu gián tiếp như "Here’s a present for you" hoặc "This is for you on your birthday," còn người Việt thích diễn đạt trực tiếp qua các câu như "bác cho cháu," "cháu xin biếu bác," hoặc "anh tặng em." Các động từ như "cho," "biếu," và "tặng" mang những ý nghĩa rất tinh tế trong văn hóa Việt Nam, trong khi các từ như "give," "offer," và "grant" thường phân biệt rõ ràng nghĩa dựa trên cấu trúc câu và tình huống giao tiếp.

Hành động cam kết trong tiếng Việt và tiếng Anh có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt ở cấu trúc phát ngôn và khả năng đảo BNND của một số động từ ngôn hành lên đầu câu, tạo sự linh hoạt trong diễn đạt Các yếu tố viện dẫn, như lời hứa hoặc cam kết, đóng vai trò quan trọng để tăng độ tin cậy của hành động thề, giúp người nghe hoặc người đọc dễ dàng nhận diện và tin tưởng vào lời nói của người phát ngôn Việc nắm bắt các đặc điểm này không chỉ giúp nâng cao kỹ năng giao tiếp mà còn tối ưu hóa hiệu quả trong việc truyền đạt ý chí và cam kết trong các tình huống thương mại và xã hội.

Các hành động trong hai ngôn ngữ thể hiện những nét khác biệt rõ ràng; ví dụ, lời thề độc trong tiếng Việt không có hình thức tương đương trong tiếng Anh, ngoại trừ những trường hợp cố tình dịch nghĩa từ tiếng Việt sang tiếng Anh Trong tiếng Anh, hành động hứa còn mang ý nghĩa đe dọa người nghe, điều này không xuất hiện trong văn hoá giao tiếp tiếng Việt Người Anh thường dùng cấu trúc gián tiếp khi trao tặng hoặc đề nghị, trong khi người Việt lại ưu tiên sử dụng cấu trúc trực tiếp Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, sự phân biệt tinh tế trong văn hoá giao tiếp của người Việt thể hiện qua hành động trao tặng, thể hiện trọng tình cảm, còn ở người Anh, các hành động như give, grant, offer chỉ thể hiện sự phân biệt dựa trên nghĩa trong cấu trúc và ngữ cảnh giao tiếp.

Trong phân tích so sánh hai ngôn ngữ Việt – Anh về hành động trong lời, luận văn tập trung khảo sát hai nhóm động từ thể hiện trong lời cầu khiến và cam kết Tuy nhiên, các yếu tố văn hoá của từng dân tộc, ảnh hưởng đến việc lựa chọn cấu trúc câu ngôn hành, chưa được xem xét đầy đủ do tính phức tạp của vấn đề này từ góc độ văn hoá và dụng học Do đó, nghiên cứu này vượt ra ngoài phạm vi của luận văn, để lại nhiều vấn đề còn mở rộng cho các ngành nghiên cứu sau này.

Ngày đăng: 22/08/2023, 02:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
2. Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 1
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
3. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
4. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Việt Nam – Phần câu, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam – Phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
5. Thái Duy Bảo (2005), Đối chiếu nghi thức lời nói đối thoại Anh – Việt, Tóm tắt luận án PTS khoa học Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu nghi thức lời nói đối thoại Anh – Việt
Tác giả: Thái Duy Bảo
Nhà XB: Đại học Tổng hợp Hà Nội
Năm: 2005
6. Dương Hữu Biên (1996), Cấu trúc nghiã của câu tiếng Việt (Trên cứ liệu câu hành động), LV Thạc sĩ khoa học ngữ văn, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc nghiã của câu tiếng Việt (Trên cứ liệu câu hành động)
Tác giả: Dương Hữu Biên
Nhà XB: Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM
Năm: 1996
7. Dương Hữu Biên (2000), Giáo trình ngữ nghĩa học thực hành tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ nghĩa học thực hành tiếng Việt
Tác giả: Dương Hữu Biên
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2000
8. Lê Thái Bình (2006), Câu điều kiện trong tiếng Việt (so sánh với câu điều kiện trong tiếng Anh), LV Thạc sĩ khoa học Tgữ văn, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu điều kiện trong tiếng Việt (so sánh với câu điều kiện trong tiếng Anh)
Tác giả: Lê Thái Bình
Nhà XB: Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM
Năm: 2006
9. Đỗ Hữu Chõu (2003), Đại cương ngụn ngữ học, Tậùp 2, Ngữ dụng học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngụn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Chõu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
10. Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập, Tập 2, Đại cương ngữ dụng học, Ngữ pháp văn bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngữ dụng học, Ngữ pháp văn bản
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
11. Đỗ Hữu Chõu – Bựi Minh Toỏn (2001), Cơ sở ngữ dụng học, Tậùp 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Chõu, Bựi Minh Toỏn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
12. Trần Thị Kim Chi (2003), Cách diễn đạt ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong truyện ngắn Nam Cao, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách diễn đạt ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong truyện ngắn Nam Cao
Tác giả: Trần Thị Kim Chi
Nhà XB: Đại học Sư phạm TP.HCM
Năm: 2003
13. Mai Ngọc Chừ –Vũ Đức Nghiệu –Hoàng Trọng Phiến (2001), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
14. Nguyễn Đức Dân (2001), Ngữ dụng học, Tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học, Tập 1
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
15. Nguyễn Đức Dân (1999), Lô gích và tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lô gích và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
16. Nguyễn Đức Dân (1998), Biểu thức ngữ vi, T/c Ngôn ngữ số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu thức ngữ vi
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1998
17. Võ Thị Ngọc Duyên (1999), Một số vấn đề động từ ngữ vi trong tiếng Việt, Luân văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Khoa học xã hội và Nhaân vaên TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề động từ ngữ vi trong tiếng Việt
Tác giả: Võ Thị Ngọc Duyên
Nhà XB: Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM
Năm: 1999
18. Hữu Đạt (2000), Phong cách học và các phong cách học chức năng tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và các phong cách học chức năng tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2000
19. Nguyễn Văn Độ (1999), Những yếu tố làm biến đổi lực ngôn trung của lời thỉnh cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố làm biến đổi lực ngôn trung của lời thỉnh cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Độ
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1999
20. Nguyễn Văn Độ (1999), Lời thỉnh cẩu “bóng gió” trong tiếng Anh và tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời thỉnh cẩu “bóng gió” trong tiếng Anh và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Độ
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1999

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w