Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, trong nước hầu như chưa có công trình nào về Ẩn dụ văn hóa được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, cho thấy lĩnh vực này còn thiếu các nghiên cứu sâu về chủ đề này Chúng tôi chỉ tìm thấy một số bài viết đề cập đến các vấn đề ngoại vi liên quan đến Ẩn dụ văn hóa, nhưng chưa đi vào phân tích trọng tâm hoặc các khía cạnh cốt lõi của đề tài này Điều này cho thấy cần có thêm các nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ và phát triển lĩnh vực ẩn dụ văn hóa trong ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.
(1) Lý Toàn Thắng (2009), Ngôn ngữ học tri nhận từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, NXB Phương Đông, Hồ Chí Minh
(2) Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh
(3) Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt: Trong sự so sánh với những dân tộc khác, NXB Đại học Quốc gia
Nhìn chung những tác giả kể trên chỉ phân tích những mặt riêng lẻ như: vấn đề tri nhận, tư duy, ngôn ngữ và văn hóa, dân tộc chứ chưa khái quát và nghiên cứu những yếu tố đó trên cơ sở lý thuyết Ngôn ngữ học văn hóa Chính vì thế, hầu hết tất cả những lý thuyết mà chúng tôi sử dụng làm nền tảng đều xuất phát từ nghiên cứu của các học giả nước ngoài Có thể kể đến các công trình như:
- Esi Abbam Elliot, Joseph Cherian, Hernan Casakin (2011), Cultural metaphors: Enhancing consumer pleasure in ethnic servicescapes, Article in Journal of Business Research
- Farzad Sharifian (2017), Cultural Linguistics, John Benjamins Publishing
- Chun & Yu (2008), Cultural Metaphors in China: A Visual Experience of Hierarchy and Status Symbols
- Carlos D Tajer (2012), Thinking Medicine Metaphorically
- Hong-Li GAO, Xian-Feng FENG(2014), The Role of Palmer Cultural Linguistics in Translation, International Conference on Management Science and Management
Có thể nói các tài liệu nghiên cứu được liệt kê ở trên ngoài nêu ra được cơ sở lý luận về ẩn dụ văn hóa, về nghiệm thân văn hóa, về tri nhận trong ngôn ngữ, về ngôn ngữ học văn hóa còn đi vào phân tích từng ẩn dụ văn hóa, những biểu hiện cụ thể trong ngôn ngữ của một số quốc gia như Trung Quốc, Úc, Mỹ, Nhật, Ba Tư, Myanmar Đất nước nào, vùng miền nào cũng có những đặc trưng riêng về ngôn ngữ và văn hóa, và Nam Bộ cũng không phải là ngoại lệ Do đó, nghiên cứu ẩn dụ văn hóa trong ca dao sẽ góp phần tìm hiểu mối liên quan giữa ngôn ngữ và văn hóa của vùng đất và con người Nam Bộ.
Phương pháp nghiên cứu
Để khám phá ẩn dụ văn hóa của vùng đất Nam Bộ, chúng tôi sử dụng hai phương pháp chính là miêu tả và phân tích ngữ nghĩa Quá trình phân chia các bộ phận giúp chúng tôi dễ dàng miêu tả và phân tích các ví dụ cụ thể, từ đó nhận diện rõ cách tư duy và các biểu tượng văn hóa trong ca dao Nam Bộ Phương pháp này giúp làm rõ chiều sâu ý nghĩa và đặc trưng văn hóa độc đáo của vùng đất này qua các câu ca dao đặc sắc.
Kết cấu
Ngoài phần dẫn nhập, phần kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận có kết cấu 3 chương:
Chương 1 trình bày các cơ sở lý thuyết về nghiên cứu ẩn dụ văn hóa trong ca dao Nam Bộ, tạo nền tảng vững chắc để giải quyết các vấn đề phân tích trong phần tiếp theo.
Chương 2 tập trung vào phân tích ẩn dụ văn hóa của các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao miền Nam Bộ Trong chương này, chúng tôi thực hiện thống kê, mô tả và phân tích các ý niệm hóa về các bộ phận cơ thể, đồng thời đề xuất các lược đồ ẩn dụ phản ánh các giá trị văn hóa đặc trưng của vùng miền Phân tích này giúp làm rõ cách người dân Nam Bộ sử dụng hình ảnh về thân thể để truyền đạt các ý nghĩa văn hóa sâu sắc.
- Chương 3: ẨN DỤ VĂN HÓA CỦA TỪ CHỈ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN VÀ
Trong chương này, chúng tôi tập trung thống kê, miêu tả và phân tích các ý niệm hóa trong ca dao Nam Bộ, đồng thời đề xuất các lược đồ ẩn dụ văn hóa phản ánh quan niệm về hiện tượng tự nhiên và xã hội Những hình ảnh ẩn dụ trong ca dao thể hiện cách người dân Nam Bộ hiểu và lý giải thế giới xung quanh, góp phần làm rõ những đặc điểm văn hóa đặc trưng của vùng miền Qua đó, bài viết giúp độc giả nhận diện các chủ đề quan trọng về xã hội và tự nhiên, đồng thời nâng cao kỹ năng phân tích các yếu tố văn hóa trong ca dao Nam Bộ theo chuẩn SEO.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Ngôn ngữ học văn hóa và ẩn dụ văn hóa
1.1.1 Ngôn ngữ học văn hóa 1.1.1.1 Văn hóa a Văn hóa và cấu trúc văn hóa
“Văn hóa” là một khái niệm phức tạp, bao gồm nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận của nhà nghiên cứu
F Boas định nghĩa “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [23, tr 149]
Năm 1871, E.B Tylor định nghĩa văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng về tộc người học là tổng thể các tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và các năng lực, thói quen mà con người chiếm lĩnh để trở thành thành viên của xã hội.
Năm 2002, UNESCO định nghĩa văn hóa như một tập hợp các đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hoặc nhóm người Văn hóa bao gồm không chỉ nghệ thuật và văn học mà còn phản ánh cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin của cộng đồng.
Theo Huỳnh Ngọc Thu, “Văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật” [24]
Nhìn chung những nhận định trên đều thống nhất cho rằng văn hóa gắn liền với hoạt động của cộng đồng, là biểu trưng cho sự phát triển của loài người qua các thế hệ; một đất nước giàu truyền thống văn hóa là một đất nước giàu có về tinh thần Song, dựa trên lĩnh vực mà mình đang quan tâm nhiều cá nhân cũng như tập thể nghiên cứu có những ý kiến riêng về khái niệm văn hóa Do đó để có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về văn hóa, trước hết cần xác định những đặc trưng cơ bản của nó
Theo Trần Ngọc Thêm (2001), văn hóa đầu tiên phải có tính hệ thống Tức là mọi hiện tượng, sự tình của một nền văn hóa đều có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗi cá thể trong hệ thống phải có tính chất liên kết tạo nên cấu trúc vững chắc Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa với tư cách là đối tượng bao trùm lên mọi mặt của đời sống xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội [18, tr 21] Đặc trưng thứ hai của văn hóa là tính giá trị Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần Theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính lịch sử Văn hóa bao giờ cũng được hình thành và phát triển theo thời gian, đó là cả một quá trình tích lũy từ đời này sang đời khác Và truyền thống văn hóa ấy tồn tại được là nhờ sự giao tiếp, sự giáo dục Con người trong xã hội có chia sẻ, có giao tiếp với nhau thì mới truyền đạt cho nhau những kinh nghiệm của bản thân Một đứa trẻ khi ra đời sẽ thụ hưởng những giá trị văn hóa truyền thống từ gia đình; đồng thời nó cũng sẽ được tiếp thu những giá trị văn hóa mới từ xã hội và môi trường sống xung quanh
Văn hóa được định nghĩa là một hệ thống hữu cơ gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn Đây phản ánh mối quan hệ tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của họ, tạo nên một hệ thống văn hóa đa dạng và phong phú.
Văn hóa được xem như một thực thể độc lập nhưng vẫn có mối liên hệ mật thiết với các yếu tố khác Mỗi dân tộc đều sở hữu những nét đặc trưng và bản sắc riêng, làm nên đặc trưng văn hóa của cộng đồng đó Sự đa dạng trong văn hóa chính là biểu hiện của những khác biệt, góp phần định hình nét đặc trưng của từng vùng miền Vì vậy, khi nói về văn hóa, chúng ta đề cập đến những giá trị cụ thể và riêng biệt của từng cộng đồng, chứ không phải là một nền văn hóa chung chung.
Cấu trúc văn hóa được quy định theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo nhận định truyền thống, văn hóa có cấu trúc đơn giản gồm hai thành phần chính là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần (Arnoldov, 1985); tuy nhiên, cách hiểu này chưa thể phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng của hệ thống văn hóa L White (1949) phân chia văn hóa thành ba tiểu hệ gồm công nghệ, xã hội và tư tưởng, còn M.S Kagan chia thành ba yếu tố: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa nghệ thuật Ngoài ra, Ngô Đức Thịnh (1987) còn đề cập đến bốn yếu tố cấu thành văn hóa: văn hóa sản xuất, văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng và văn hóa nghệ thuật Những quan điểm này tạo nền tảng lý luận hữu ích cho nghiên cứu về cấu trúc văn hóa trong khóa luận của chúng tôi.
Trong các phương pháp phân chia cấu trúc văn hóa, các tác giả thường chưa rõ ràng về tiêu chí phân loại, dẫn đến việc các thành tố trong cấu trúc không có quan hệ ngang hàng với nhau Điều này làm giảm tính chính xác và đồng bộ trong việc phân tích các yếu tố văn hóa, cần xác định rõ tiêu chí phân loại để xây dựng mô hình cấu trúc văn hóa phù hợp và dễ hiểu hơn.
Trần Ngọc Thêm phân chia cấu trúc văn hóa thành hai tiểu hệ chính, đó là hệ nhận thức và hệ giá trị nội tại Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người luôn có nhu cầu tìm hiểu, khám phá và học hỏi không ngừng, tích lũy kho tàng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và bản thân, tạo thành hai vi hệ của tiểu hệ văn hóa nhận thức Tiểu hệ thứ hai liên quan trực tiếp đến những giá trị văn hóa nội tại của con người — chủ thể văn hóa, bao gồm văn hóa tổ chức cộng đồng, chia thành hai vi hệ: văn hóa tổ chức đời sống tập thể và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Ngoài ra, còn có hai tiểu hệ khác là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội, phản ánh mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh.
Trần Ngọc Thêm đã vận dụng lý thuyết hệ thống để phân chia cấu trúc văn hóa, xem con người là trung tâm liên kết với các thành phần khác trong hệ thống Quan điểm của ông làm cơ sở lý thuyết cho bài khóa luận của chúng tôi Theo Đ.A Silichep, ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của văn hóa và gần như là nền tảng của nó, vì không thể tồn tại độc lập với văn hóa của một dân tộc Ngôn ngữ là tiêu chí phân biệt các nền văn hóa khác nhau, đồng thời chi phối cách tư duy và hình thành lối suy nghĩ của con người, thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa văn hóa và ngôn ngữ trong quá trình phát triển nhân cách và nhận thức cộng đồng.
Người Kuuk Thaayorre sống ở Pormpuraaw, dọc theo bán đảo Cape York, và họ sử dụng hệ thống định hướng theo các phương hướng chính: bắc, nam, đông và tây Trong tiếng Kuuk Thaayorre, không có từ “trái” hay “phải”, mọi câu nói đều dựa trên hướng chính xác của các vật thể hoặc vị trí Ví dụ, họ có thể nói: “Có con kiến trên chân phía tây nam của cô,” hoặc “Xê cái ly của anh qua phía đông bắc một chút.” Mối liên hệ giữa lời chào và hướng đi cũng thể hiện rõ trong ngôn ngữ của họ, như câu: “Chú đang đi hướng nào đấy?” với câu trả lời: “Rất xa về phía đông nam, còn cháu?” Điều này cho thấy rõ cách họ dựa vào hệ thống định hướng tự nhiên để giao tiếp hàng ngày.
Những người dân này có khả năng định hướng cực kỳ tốt, thậm chí còn vượt xa khả năng của những người bình thường Mặc dù chúng ta thường nghĩ con người kém cỏi hơn các loài sinh vật khác do những hạn chế sinh học như không thể bay hay sống dưới nước, nhưng thực tế, nhờ vào ngôn ngữ và nền văn hóa, chúng ta hoàn toàn có thể làm những điều tưởng chừng như không thể.
Văn hóa là linh hồn của dân tộc, ẩn chứa trong tiềm thức và tư duy của con người, trong đó ngôn ngữ biểu tượng rõ nét nhất cho giá trị vô hình này Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền đạt phong tục, tập quán, truyền thống mà còn là yếu tố chính thể hiện sắc thái dân tộc trong các tác phẩm văn học, âm nhạc, mỹ thuật, cũng như trong các hình thức truyền thống như nấu ăn và khiêu vũ Khi ngôn ngữ bị mất đi, nền văn hóa của dân tộc sẽ bị suy giảm, vì vậy ngôn ngữ và văn hóa luôn gắn bó chặt chẽ, hình thành và phản ánh lẫn nhau Ngôn ngữ chính là phần của văn hóa, và ngược lại, văn hóa thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ về từ vựng và ngữ pháp, ghi dấu những ý niệm cốt lõi của cộng đồng.
Nam Bộ và ca dao Nam Bộ
Gần 400 năm trước, Nam Bộ vẫn còn nguyên sơ với rừng rậm và sình lầy, nhưng ngày nay đã hình thành nền văn hóa độc đáo trải dài trên khu vực rộng lớn của lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long Vùng đất Nam Bộ là một phần thiêng liêng và quen thuộc của người dân Việt Nam, đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, góp phần làm nên bản sắc văn hóa đặc trưng của miền Nam Nơi đây cũng là trung tâm của các nền văn hóa cổ như Óc Eo và các vương quốc Phù Nam, Chân Lạp, góp phần làm phong phú lịch sử và văn hóa của khu vực.
Vùng đất Nam Bộ, bao gồm Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ – Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích hơn 64.000 km2 và dân số trên 33 triệu người (2017), nổi bật với đa dạng dân tộc và tôn giáo Đây là khu vực có sự cư trú của các dân tộc ít người địa phương như người Khmer, người Chăm, cùng các dân tộc thiểu số từ Trường Sơn, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc, bên cạnh người Kinh, người Hoa Nổi bật với tiềm năng phát triển và vị trí chiến lược quan trọng, Nam Bộ đã thu hút nhiều nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước qua các hội thảo và công trình nghiên cứu đa dạng về văn hóa, kinh tế và xã hội của vùng đất này.
- Trương Thị Kim Chuyên (chủ biên) (2017),, Vùng đất Nam Bộ, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội
- Huỳnh Lứa (chủ biên) (2017), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.
- Phan Huy Lê (chủ biên) (2016), Vùng đất Nam Bộ – Quá trình hình thành và phát triển, NXB Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội
Lý Tùng Hiểu (2012) đã ghi nhận vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ là nơi diễn ra cuộc khai hoang vĩ đại nhất của dân tộc, thể hiện chiều rộng và chiều sâu của lịch sử dân tộc Việt Nam Nơi đây từng chứng kiến trận thủy chiến hào hùng của nghĩa quân Tây Sơn tiêu diệt 50.000 quân Xiêm xâm lược, cũng là nơi ghi dấu bước chân xâm lược và sự thất bại nhục nhã của đế quốc Pháp và Mĩ Trên mảnh đất này, truyền thống tốt đẹp của dân tộc luôn được gìn giữ và phát huy mạnh mẽ Vùng đất Nam Bộ nổi bật với cảnh quan ruộng đồng trải dài xanh mướt, những vườn trái cây trĩu quả, cùng với hệ sinh thái rừng tràm, rừng đước và vùng đầm phá ngập nước chứa đựng nguồn tài nguyên quý giá, là nơi sinh sống của các loài động vật quý hiếm Tất cả tạo nên một bức tranh sinh động, hài hòa của miền sông nước, khiến câu ca dao vui nhộn vang lên thể hiện vẻ đẹp đặc trưng của vùng đất này.
Ví dầu cá bống xích đu Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu
Ngay từ những ngày đầu mở đất, cư dân Nam Bộ đã thể hiện tinh thần đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau để xây dựng thôn ấp, mở rộng dân số và đất đai Họ tận dụng kiến thức canh tác truyền thống cùng điều kiện tự nhiên thuận lợi để đắp bờ, ngăn mặn, khai thác kênh rạch, phát triển nông nghiệp và chăn nuôi, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần Trước thử thách của xã hội bị xâm lăng và đàn áp dã man, tinh thần quật cường của người Nam Bộ đã sớm nở rộ, thể hiện qua đặc trưng chân thật, cởi mở và anh dũng trong đấu tranh kháng chiến.
Bao giờ hết cỏ Tháp Mười, nước Nam mới hết những người đánh Tây Điều kiện thiên nhiên và đặc trưng vùng miền đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của văn hóa Nam Bộ Lịch sử và xã hội góp phần hình thành nét đặc trưng riêng biệt của vùng đất này, nơi lưu giữ những giá trị truyền thống của cha ông và đồng thời tiếp thu những luồng văn hóa mới Vùng Nam Bộ là nơi hội tụ nét đẹp truyền thống và sự thích nghi linh hoạt với các yếu tố ngoại lai, tạo nên một nền văn hóa đa dạng, phong phú.
Tiềm thức văn hóa của Nam Bộ giống như những hạt giống tiềm tàng được ươm mầm trên mảnh đất màu mỡ, phản ánh sức sống mãnh liệt của vùng đất này Nhân dân Nam Bộ đã sáng tạo và tiếp thu linh hoạt các hình thức văn hóa mới, góp phần làm phong phú và đa dạng bản sắc văn hóa địa phương Những yếu tố này thể hiện rõ nét qua các hoạt động văn hóa truyền thống và các sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, góp phần duy trì và phát triển nền văn hóa đặc trưng của Nam Bộ.
Nền văn hóa Nam Bộ thể hiện rõ nét qua mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ trang phục truyền thống như chiếc áo bà ba, các ngôi nhà lợp lá dừa, đến chiếc ghe xuồng trên sông nước và những món ăn dân dã đặc trưng của vùng Văn hóa này còn được phản ánh qua cách cư xử hàng ngày, nếp sinh hoạt, thẩm mỹ đơn giản, chân phương, lối sống phóng khoáng và thẳng thắn Ngoài ra, các thể loại văn học nghệ thuật của Nam Bộ vừa đậm nét dân tộc vừa chứa đựng đặc trưng địa phương, nhờ công đóng góp của các nhà văn, nhà thơ đã giữ gìn và truyền tải giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất này Tiêu biểu như nhà văn Sơn Nam, người gắn bó hơn nửa thế kỷ với nghề sáng tác, những tác phẩm của ông không chỉ mang tính giải trí mà còn là các khảo cứu giúp khám phá sâu sắc về mảnh đất phương Nam Với hiểu biết sâu rộng về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất, Sơn Nam đã thể hiện qua giọng văn giản dị, mộc mạc, đậm đà hơi thở của thiên nhiên, văn hóa và con người Nam Bộ—điển hình như tác phẩm "Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa" (1985).
Giới thiệu Sài Gòn xưa (1995), Hương rừng Cà Mau (1997), Ấn tượng 300 năm (1998)
Hồ Biểu Chánh, nhà văn xuất thân từ Tiền Giang, nổi bật với phong cách viết văn xuôi tự sự về cuộc sống Nam Bộ từ nông thôn đến thành thị đầu thế kỷ 20 Các tác phẩm của ông phản ánh những xáo trộn xã hội do cuộc đấu tranh giữa cũ và mới, thể hiện bằng cách diễn đạt nôm na, bình dị Ông đóng góp to lớn vào sự hình thành và phát triển thể loại tiểu thuyết trong giai đoạn sơ khai của văn học Việt Nam hiện đại.
Nam Bộ tự hào khi nhắc đến các nhân vật tiêu biểu như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, đặc biệt là nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam Các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ này góp phần thể hiện nét đẹp và truyền thống văn hóa đặc trưng của miền quê Nam Bộ Ngoài ra, những câu ca dao của nhân dân qua hàng trăm năm vẫn giữ nguyên giá trị như một bông hoa đậm đà hương sắc, phản ánh tinh thần và cuộc sống bình dị nhưng phong phú của vùng đất này.
1.2.2 Ca dao Nam Bộ 1.2.2.1 Khái niệm
Văn học dân gian và ca dao là tấm gương phản ánh môi trường thiên nhiên, đời sống tư tưởng – tâm hồn của nhân dân lao động Những câu ca dao ngọt ngào qua lời ru của mẹ là những bài học đầu đời, ăn sâu vào tiềm thức và hình thành nên nét đặc trưng của văn hóa dân gian Ca dao như hạt giống được gieo trên vùng đất Nam Bộ, nay đã trở thành biểu tượng với hương vị riêng biệt, phản ánh rõ nét cuộc sống và tâm tư của người dân nơi đây Các nhà nghiên cứu văn học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về ca dao, góp phần làm rõ ý nghĩa và vai trò của loại hình nghệ thuật này trong đời sống tinh thần của cộng đồng.
Ca dao là một loại thơ dân gian truyền thống, hình thành và phát triển dựa trên các yếu tố nghệ thuật ngôn từ của các loại dân ca trữ tình ngắn và tương đối ngắn (Hoàng Tiến Tựu, 2005)
Nguyễn Khắc Phi (2004) cho rằng, ca dao và dân ca là các thể loại trữ tình dân gian kết hợp lời và nhạc để diễn tả đời sống nội tâm của con người Hiện nay, người ta phân biệt rõ ràng giữa dân ca và ca dao: dân ca là những sáng tác kết hợp lời và nhạc trong các hoạt động diễn xướng, trong khi ca dao là lời thơ của dân ca Ngoài ra, khái niệm ca dao còn được sử dụng để chỉ một thể thơ dân gian, thể loại ca dao mang đặc trưng riêng trong đời sống văn hóa truyền thống của dân tộc.
Phan Trọng Luận (2006) cho rằng, ca dao là lời thơ trữ tình dân gian thể hiện cảm xúc và thế giới nội tâm của con người Ca dao thường được kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, giúp tăng cường sức truyền cảm của tác phẩm Nội dung của ca dao phản ánh cuộc sống, tâm tư, tình cảm của người dân qua nhiều thế hệ, góp phần gìn giữ nét văn hóa đặc trưng của dân tộc.
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan nhận định rằng ca dao là một loại thơ dân gian có thể được ngâm như các thể thơ khác và có khả năng xây dựng thành các điệu dân ca, phản ánh đặc trưng văn hóa phong phú của dân tộc Nguyễn Văn Hầu trong tác phẩm "Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ" (2004) nhấn mạnh rằng ca dao là những câu, bài hát ngắn, được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác, bằng những lời văn giản dị, hồn nhiên, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân gian qua thời gian.
Ca dao là những bài hát và câu hát phổ biến trong dân gian, có đặc điểm là kết cấu không theo quy củ cố định và thường không xác định rõ tác giả, theo ghi nhận của Bùi Đức Tịnh (2005).