1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngoại Giao Văn Hóa Ấn Độ Trong Những Năm Đầu Của Thế Kỷ Xxi Pdf

131 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngoại Giao Văn Hóa Ấn Độ Trong Những Năm Đầu Của Thế Kỷ XXI
Tác giả Ngô Ngọc Phương Tuyền
Người hướng dẫn TS. Trần Nguyên Khang
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế, ngoại giao văn hóa được nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ đắc lực phát huy sức mạnh mềm trong các hoạt động đối ngoại, là con đường một quốc gia mở rộng ảnh hưởng của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

❖

NGÔ NGỌC PHƯƠNG TUYỀN

NGOẠI GIAO VĂN HÓA ẤN ĐỘ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THẾ KỶ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

❖

NGÔ NGỌC PHƯƠNG TUYỀN

NGOẠI GIAO VĂN HÓA ẤN ĐỘ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THẾ KỶ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ

Trang 3

của thế kỷ XXI” là công trình nghiên cứu của tôi Các nội dung nghiên cứu được trình

bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong công trình nào khác

Tác giả luận văn

Ngô Ngọc Phương Tuyền

Trang 4

hướng dẫn, định hướng cách tư duy và cách làm một đề tài nghiên cứu một cách khoa học cũng như động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn TP.HCM, đăc biệt là các thầy cô trong Khoa Quan hệ Quốc tế

đã cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng hữu ích trong những năm học vừa qua, cũng như giúp tôi có kiến thức để thực hiện luận văn của mình

Cuối cùng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, những người

đã luôn động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình

Do giới hạn về kiến thức và khả năng lý luận của tác giả, nên luận văn còn nhiều hạn chế và thiếu sót, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các Thầy, Cô để bài luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày…….tháng …… năm 2022

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Ngô Ngọc Phương Tuyền

Trang 5

ASEAN Association of Southeast

Bay of Bengal Initiative for MultiSectoral Technical and Economic Cooperation

Sáng kiến vùng Vịnh Bengal về hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật đa khu vực

UNESCO

United Nations Educational Scientific and Cultural Organization

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc

Trang 6

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu: 17

6 Phương pháp nghiên cứu 17

7 Đóng góp của đề tài 18

8 Bố cục của luận văn 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC MẠNH, SỨC MẠNH MỀM VÀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA 20

1.1 Sức mạnh trong Quan hệ Quốc tế 20

1.2 Sức mạnh mềm trong Quan hệ Quốc tế 22

1.2.1 Khái niệm sức mạnh mềm 23

1.2.2 Các nguồn lực của sức mạnh mềm 28

1.2.3 Các hình thức thể hiện sức mạnh mềm 34

1.3 Ngoại giao văn hóa với vai trò là công cụ của sức mạnh mềm ở thế kỷ XXI38 1.3.1 Khái niệm Ngoại giao văn hóa 38

1.3.2 Ngoại giao văn hóa với vai trò là công cụ của sức mạnh mềm 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN TRIỂN KHAI NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA ẤN ĐỘ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THẾ KỶ XXI 47

2.1 Bối cảnh tác động đến ngoại giao văn hóa của Ấn Độ 47

Trang 7

2.1.3 Khái quát chiến lược, chủ trương, chính sách của Ấn Độ trong việc sử dụng

Ngoại giao Văn hóa 51

2.2 Quá trình triển khai ngoại giao văn hóa của Ấn Độ trong những năm đầu của thế kỷ XXI 56

2.2.1 Triển khai di sản Phật giáo 56

2.2.2 Bollywood – công cụ ngoại giao quan trọng của Ấn Độ 64

2.2.3 Thực hiện chiến lược ngoại giao sức mạnh mềm thông qua phổ biến nghệ thuật dưỡng sinh Yoga 71

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77

CHƯƠNG 3: NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA ẤN ĐỘ VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM 80

3.1 Thành công và những nguyên nhân thành công ngoại giao văn hóa của Ấn Độ 80

3.1.1 Thành công 80

3.1.2 Những nguyên nhân thành công của ngoại giao văn hóa của Ấn Độ 84

3.2 Hạn chế và những nguyên nhân hạn chế ngoại giao văn hóa của Ấn Độ 89

3.2.1 Hạn chế 89

3.2.2 Những nguyên nhân hạn chế ngoại giao văn hóa của Ấn Độ 90

3.3 Gợi mở cho Việt Nam 93

3.3.1 Sự tương đồng của nền văn hóa Việt Nam và Ấn Độ 94

3.3.2 Một số hàm ý cho Việt Nam trong việc phát huy sức mạnh mềm 97

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 103

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 111

Trang 8

Từ đầu thế kỷ XXI cho đến nay, ngoại giao văn hóa được xem là một phần quan trọng trong đường lối ngoại giao của một quốc gia Ngoại giao văn hóa là một hình thức ngoại giao sử dụng các công cụ văn hóa như nghệ thuật, tôn giáo, âm nhạc, phim ảnh, giáo dục, thể thao…để kết nối quan hệ ngoại giao của một quốc gia này với một quốc gia khác Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, ngoại giao văn hóa được xem là một trong ba trụ cột chính của hoạt động ngoại giao bên cạnh ngoại giao kinh tế và ngoại giao chính trị Chính vì thế, ngoại giao văn hóa được nhiều quốc gia

sử dụng như một công cụ đắc lực phát huy sức mạnh mềm trong các hoạt động đối ngoại, là con đường một quốc gia mở rộng ảnh hưởng của mình với thế giới trong đó phải kể đến các quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ

Nằm ở khu vực Châu Á, Ấn Độ là một trong bốn cái nôi của nền văn minh cổ đại của nhân loại Ngày nay, Ấn Độ được cả thế giới biết đến bởi đây là một trong số ít quốc gia có nền văn hóa lớn trên thế giới Với bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo, phong phú và đa dạng, Ấn Độ được xem là một quốc gia có quân bài mạnh trong đấu trường sức mạnh mềm Với nền văn hóa riêng biệt và lâu đời, trải qua hàng nghìn năm lịch sử văn hóa Ấn Độ đã cống hiến cho nhân loại nhiều di sản có giá trị, trong đó phải kể đến các giá trị văn hóa tinh túy như: Triết học, Phật giáo, Hindu giáo, Bollywood, Yoga,

ẩm thực, âm nhạc, thời trang, vũ đạo, văn học…đều thu hút sự quan tâm của thế giới

Trong thời kỳ Thủ tướng đầu tiên của đất nước - Jawaharlal Nehru, Ấn Độ không những thiếu hụt nguồn sức mạnh cứng, mà kinh tế kém phát triển đi đôi với khả năng quân sự yếu kém Tuy nhiên, vào đầu thế kỉ XXI, dưới thời của Thủ tướng Narendra Modi, vị thế của Ấn Độ ngày càng tăng lên trên trường quốc tế nhờ vào sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự cùng với tiềm năng sức mạnh mềm khổng lồ Do đó,

Ấn Độ đã tập trung vào việc sử dụng sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của mình Thậm chí Chính phủ Narendra Modi đã xem sức mạnh mềm là một trong những chiến lược quan trọng trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ Trong sức mạnh mềm của Ấn Độ thì ngoại giao văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chính sách đối ngoại của Ấn Độ Nó giúp thúc đẩy ngoại giao chính thức của Ấn Độ, thông

Trang 9

qua văn hóa và giá trị để tăng cường nhận thức của công chúng đối với chính sách ngoại giao của Ấn Độ Ngoại giao văn hóa đã có nhiều hoạt động tích cực làm lan tỏa các giá trị văn hóa và sức ảnh hưởng của Ấn Độ hút sự chú ý của các quốc gia khác Mặt khác, ngoại giao văn hóa như một công cụ đẩy mạnh tiềm năng “sức mạnh mềm” của Ấn Độ giúp cho đất nước Ấn Độ ngày càng phát triển thành công và nâng cao vai trò và vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới

Trong lịch sử đấu tranh giành tự do, độc lập và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ Narendra Modi làm Thủ tướng, ngoại giao văn hóa

đã được Ấn Độ sử dụng thành công như một công cụ đắc lực của sức mạnh mềm Việc nghiên cứu ngoại giao văn hóa trong sức mạnh mềm của Ấn Độ là một trong những đề tài thú vị và cần thiết Trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu trước đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Ngoại giao văn hóa của Ấn Độ trong những năm đầu của thế kỷ XXI” Công trình góp phần nào hiểu rõ hơn ngoại giao văn hóa Ấn Độ trong Quan hệ Quốc tế dưới góc nhìn của sức mạnh mềm

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Sau khi tham khảo các nguồn tài liệu trong nước và quốc tế, trong đó tập trung vào hai mảng nghiên cứu chính là sức mạnh mềm và ngoại giao văn hóa của Ấn Độ, tôi nhận thấy có những nhóm tài liệu chính quan trọng như sau:

Nhóm các tác giả nghiên cứu về sức mạnh mềm trong Quan hệ Quốc tế: Nếu

xem xét lịch sử ngoại giao của các quốc gia nói riêng và lịch sử Quan hệ Quốc tế nói chung, việc sử dụng sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại các nước đã có từ rất sớm

Trong quyển sách Tuyên truyền trong chính trị quốc tế (“Propaganda in

International Politics”, Oxford, Clarendon Press, 1939) xuất bản năm 1939 của học giả người Anh - Edward Hallett Carr đã nhận định rằng: “Đối với mục đích chính trị, sức mạnh quan điểm (power over opinion) không kém phần quan trọng so với sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế, chúng luôn đi kèm chặt chẽ với nhau” Quan điểm này của ông đã phần nào thể hiện được sự tác động của sức mạnh quan điểm gắn liền với lợi ích của một quốc gia trong chính trị quốc tế Đến năm 1970, Giáo sư Robert Jervis, khoa Quan hệ Quốc tế, trường Đại học Columbia, Mỹ đã củng cố quan điểm trên qua

Trang 10

quyển sách Sự logic của các quan niệm trong Quan hệ Quốc tế (“The logic of Images

in International Relations”, Princeton, Princeton University Press, 1970, trang 6) Ông cho rằng: hình ảnh quốc gia có thể “có giá trị to lớn hơn nhiều so với sự gia tăng sức mạnh quân sự và kinh tế” Có thể thấy rằng, trong những thập niên 30 – 70, khái niệm sức mạnh mềm đã manh nha trong những công trình học thuật của giới nghiên cứu phương Tây Ở thời điểm này, khái niệm sức mạnh mềm chỉ dừng lại ở những nhận định về sức mạnh quan điểm, giá trị hình ảnh của một quốc gia tác động đến một quốc gia khác chứ chưa thật sự phổ biến một cách rộng rãi và thu hút nhiều người quan tâm

Vào năm 1973, khái niệm sức mạnh mềm lần đầu tiên được nhắc đến như một

khái niệm chính trị học trong quyển sách Quyền lực và thịnh vượng: Kinh tế chính trị

học trong quyền (Power and Wealth: The Political Economy of International Power,

Palgrave Macmillan, UK, 1973) của Giáo sư Klaus Knorr – Giáo sư nghiên cứu kinh

tế - chính trị, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Princeton, Mỹ Theo ông, trong Quan hệ Quốc tế có hai loại sức mạnh ảnh hưởng: mang tính ép buộc và không ép buộc

Tuy nhiên, phải đến giai đoạn cuối của chiến tranh lạnh, Joseph S Nye, cựu trợ

lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ dưới thời Bill Clinton thì khái niệm sức mạnh mềm mới thực sự được định nghĩa một cách rõ ràng, cũng như nghiên cứu và phát triển thành một luận thuyết quan trọng trong Quan hệ Quốc tế Các công trình nghiên cứu

về sức mạnh mềm của ông tiêu biểu như: Quyển sách Ràng buộc để dẫn dắt: Bản chất

sức mạnh đang thay đổi của Mỹ (“Bound to Lead: The Changing Nature of American

Power”, New York, Basic Books, Inc, Publisher, 1990) xuất bản năm 1990 Trong tác phẩm này, Joseph S Nye đã lập luận rằng sức mạnh mềm là “khả năng có được thứ

mình muốn thông qua sự hấp dẫn” Năm 2004, trong quyển sách Sức mạnh mềm:

Phương tiện để đạt được thành công trong chính trị quốc tế (Soft Power: the mean to

success in world politics, New York, Public Affairs, 2004) Trong công trình nghiên cứu này, lý luận về sức mạnh mềm đã được Joseph S Nye đánh dấu bước phát triển mới khi ông khẳng định rằng, sức mạnh mềm có thể được xem là “phương diện thứ hai của quyền lực, nghĩa là một quốc gia có thể đạt được những điều họ muốn trong chính trị quốc tế là do các nước khác tự nguyện mong muốn làm theo, họ ngưỡng mộ giá trị

Trang 11

của quốc gia, muốn học theo quốc gia đó, khát vọng đạt tới sự phồn vinh và thịnh vượng như vậy” Theo ông, sức mạnh mềm là sức mạnh được thực hiện thông qua sự hấp dẫn và thuyết phục để đạt được những gì mình muốn bằng cách tác động tới hệ thống giá trị của người khác, làm thay đổi cách suy nghĩ của người khác, và qua đó khiến người khác mong muốn chính điều mà mình mong muốn Như vậy, qua các công trình nghiên cứu của Joseph S Nye, khái niệm sức mạnh mềm đã được nghiên cứu, định nghĩa một cách rõ ràng và mở rộng trở thành một học thuyết chính trong Quan hệ Quốc tế Mặc dù khái niệm sức mạnh mềm của Joseph S Nye chưa phải là khái niệm hoàn hảo, nhưng ông được xem là học giả đầu tiên nghiên cứu và luận giải khái niệm sức mạnh mềm tương đối đầy đủ Vì thế, cho đến thời điểm hiện tại học thuyết về sức mạnh mềm của ông không những là nền tảng lý luận chính để các nhà nghiên cứu tham khảo mà còn để các quốc gia lựa chọn trong việc hoạch định chính sách, chiến lược quốc gia để gia tăng sức mạnh mềm

Từ sau nghiên cứu của ông có khá nhiều học giả trên thế giới tiếp tục nghiên cứu về sức mạnh mềm với nhiều góc nhìn khác nhau Ví dụ điển hình như tác giả

Joshua Kurlantzick trong tác phẩm Sự suy giảm quyền lực của Mỹ (“The Decline of

American Soft Power”, Current History, pp 419-424) đã lập luận rằng: “Sức mạnh mềm là khả năng một quốc gia thuyết phục và gây ảnh hưởng đối với nước khác không phải bằng đe dọa hay cưỡng ép mà bằng sức hấp dẫn của xã hội, giá trị, văn hóa

và thể chế của chính quốc gia đó Đồng quan điểm với Joshua Kurlantzich, tác giả Shin Wha Lee – giáo sư khoa Chính trị học và Quan hệ Quốc tế của Đại học Hàn

Quốc trong công trình nghiên cứu Lý thuyết và thực tế của sức mạnh mềm: Cách tiếp

cận thực tế ở Đông Á, Ngoại giao công chúng và sức mạnh mềm ở Đông Á (“The

Theory and Reality of Soft Power: Practical Approaches in East Asia, Public Diplomacy and Soft Power in East Asia, Palgrave Macmillan, New York, Trang 11- 18”) cho rằng, sức mạnh mềm được nhìn nhận như là “sức hấp dẫn về lý tưởng và văn hóa nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của quốc gia” Trong giai đoạn này, khái niệm sức mạnh mềm ngày càng được mở rộng, nghiên cứu bởi nhiều học giả trên thế giới với nhiều góc nhìn đa dạng khác nhau Các cách tiếp cận của các nhà học giả này

đã góp phần làm cho khái niệm và nội hàm của sức mạnh mềm ngày càng hoàn thiện

Trang 12

Bên cạnh đó, để nói về mối liên hệ giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm cũng được nhiều học giả quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu viết về vấn đề này

như: Tác phẩm Quyền lực cứng, sức mạnh mềm và quyền lực thông minh (“Hard

Power, Soft Power, Smart Power”, The Annals of the American Academy of Political and Social Science 2008, pp 110-124) của tác giả Ernest J Wilson III đã luận giải các khái niệm sức mạnh cứng, sức mạnh mềm nhằm giới thiệu quyền lực thông minh Ernest J Wilson III nhận định rằng sức mạnh thông minh của một chủ thể là khả năng kết hợp các thành tố của sức mạnh cứng và sức mạnh mềm qua các cách thức tác động qua lại nhằm đạt được mục đích mình mong muốn một cách có hiệu quả Đồng quan

điểm khi bàn về sự giao thoa của sức mạnh cứng và sức mạnh mềm, trong bài viết Bản

chất thay đổi của quyền lực (“The Changing Nature of Power” (Chapter 1) in J.S Nye,

Soft Power: The Means to Success in World Politics, New York: Public Affairs, 2004,

pp 1-32) của tác giả Joseph S Ney đã đưa ra những luận điểm về sự giao thoa của hai loại sức mạnh này Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích về nội hàm của sức mạnh cứng

và sức mạnh mềm, qua đó nổi bật lên là bản chất của xã hội thông tin ngày càng thay

đổi quyền lực Hay trong tác phẩm Quyền lực và sự tương thuộc trong kỷ nguyên

thông tin (“Power and Interdependence in the Information Age”, Foreign Affairs,

1998, pp 81-94) của hai tác giả Robert O Keohane và Joseph S Nye đã giải thích các loại sức mạnh, nhấn mạnh sự tương thuộc của các loại sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh mềm

Nhóm các tác giả nghiên cứu về sức mạnh mềm của Ấn Độ: Ấn Độ là một

trong những quốc gia có nền văn hóa lâu đời và phát triển rực rỡ vào bậc nhất thế giới

Vì thế, sức mạnh mềm không phải là một khái niệm mới đối với Ấn Độ Đã có nhiều học giả đã nghiên cứu về vấn đề này Trong các tác phẩm nghiên cứu về sức mạnh mềm Ấn Độ, có những bài nghiên cứu nổi bật như:

Bài báo Ấn Độ như một cường quốc sức mạnh mềm (India as a Soft Power,

India International Centre Quarterly, 2011, trang 330–343) của nhà Ngoại giao và

Chính trị gia nổi tiếng của Ấn Độ - Tharoor, Shashi và tác phẩm Ấn Độ dưới góc nhìn

sức mạnh mềm (“A Sense of India Through Soft Power”, University of Southampton,

Winchester School of Art, 2015, trang 31-74) của tác giả Soumik Parida đã lập luận

Trang 13

rằng Ấn Độ được xem là một siêu cường không chỉ thông qua các hoạt động thương mại và chính trị mà còn thông qua khả năng chia sẻ văn hóa của mình với thế giới thông qua ẩm thực, âm nhạc, công nghệ và Bollywood Đó cũng chính là các yếu tố góp phần quảng bá hình ảnh của Ấn Độ như một cường quốc sức mạnh mềm trên thế giới

Đồng quan điểm với Tharoor, Shashi và Soumik Parida, tác giả PeerzadaTufail

Ahmad trong bài viết Phân tích quan trọng về tiềm năng sức mạnh mềm của Ấn Độ

(“Critical Analysis of India’s Soft Power Capability”, Research Review International Journal of Multidisciplinary, 2020, trang 23-25) đã đồng tình rằng Ấn Độ là một quốc gia có tiềm năng đáng kể về các nguồn lực sức mạnh mềm như các yếu tố về văn hóa,

hệ giá trị chính trị, Bollywood và công nghệ thông tin Ấn Độ đã hiện thực hóa các nguồn lực nêu trên ở cấp độ toàn cầu để mang lại các kết quả chính sách đối ngoại mà mình mong muốn Tuy nhiên, để đánh giá về sức mạnh mềm của Ấn Độ, ông cho rằng thực tế sức mạnh mềm Ấn Độ chưa hiệu quả do Ấn Độ vẫn đang phải chiến đấu với các vấn đề như đẳng cấp, chủ nghĩa xã hội, nghèo đói và tham nhũng

Tác phẩm Ấn Độ: siêu cường tiếp theo? Sức mạnh mềm của Ấn Độ: từ tiềm

năng đến hiện thực? (“India: the next superpower? India's soft power: from potential

to reality?”, IDEAS reports - special reports, London School of Economics and Political Science, 2012) của tác giả Blarel, Nicolas đã cho rằng nhiều khía cạnh văn hóa Ấn Độ như âm nhạc, ẩm thực, phong cách và tôn giáo đã trở thành xu hướng ở nhiều nơi trên thế giới Những nỗ lực của Chính phủ Ấn Độ trong thập kỷ qua đã giúp quảng bá một hình ảnh mới và hiện đại của Ấn Độ ra nước ngoài Tuy nhiên, bài viết cũng đưa ra quan điểm rằng trong cuộc cạnh tranh ngày càng tăng với Trung Quốc, Ấn

Độ sẽ phải sử dụng sức mạnh mềm của mình một cách có hệ thống và có kế hoạch hơn Ấn Độ nên tìm cách kết hợp đúng đắn giữa sức mạnh mềm và cứng để đạt được sức mạnh vượt trội thực sự từ đó mới đưa ra một mô hình phát triển hấp dẫn hơn so với Trung Quốc

Cũng giống như các học giả khác khi nghiên cứu về sức mạnh mềm, trong bài

viết Triển vọng và hạn chế sức mạnh mềm của Ấn Độ (“India’s Soft Power Prospects

and Limitations”, India Quarterly, Sage Publications, 2010, trang 333-342) của tác giả

Trang 14

Christian Wagner đã luận giải tiềm năng sức mạnh mềm của Ấn Độ qua ba nguồn lực chính: văn hóa, hệ giá trị chính trị và chính sách đối ngoại Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế về nguồn lực mềm này, ông đã lập luận rằng sức mạnh mềm của Ấn Độ còn bị hạn chế ở việc các nguồn lực sức mạnh mềm được Ấn Độ được sử dụng để thu hút các nhà đầu tư quốc tế và tạo hình ảnh hơn là một công cụ để gây ảnh hưởng Do đó, ông cho rằng Ấn Độ được xem là một cường quốc mềm mang tính phòng thủ, đặt trọng tâm vào năng lực của mình hơn là khả năng Nối tiếp quan điểm của Christian

Wagner, trong bài viết Sức mạnh mềm của Ấn Độ: Thách thức và cơ hội (“India’s Soft

Power: Challenges and Opportunities”, Rajiv Gandhi Institute for Contemporary Studies (RGICS, New Delhi, 2019, trang 5-24) do Salil Shetty (Nghiên cứu viên cao cấp của Trường Harvard Kennedy) và Tara Sahgal (sinh viên năm thứ hai chuyên ngành Chính trị học của trường King's College London) đã khám phá các nguồn lực và tiềm năng nguồn lực mềm của Ấn Độ Tuy nhiên, bài báo còn phân tách khái niệm sức mạnh mềm trong bối cảnh Ấn Độ chia thành hai phần: do nhà nước định hướng và không do nhà nước định hướng Salil Shetty đã phân tích những nguồn lực này và đặt

ra câu hỏi liệu Ấn Độ có thể sử dụng sức mạnh mềm của mình một cách có hiệu quả trong hành trình trở thành một cường quốc “vĩ đại” trong thế giới ngày nay hay không

Nhóm các tác giả nghiên cứu về vai trò của sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ Sức mạnh mềm là một khái niệm mới nổi trong chính sách đối

ngoại của Ấn Độ Ấn Độ đã thành công trong việc phát huy tiềm năng sức mạnh cứng

và giờ đây họ đang khơi dậy khả năng sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của mình Một số công trình nghiên cứu nổi bật của các học giả về vai trò của sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ như:

Trong bài báo Thay đổi nhận thức về sức mạnh: Sức mạnh mềm và Chính sách

đối ngoại của Ấn Độ (Shifting Perceptions of Power: Soft Power and India’s Foreign

Policy, Journal of Peace Studies, Vol 17, Issue 2&3, 2010) của tác giả Uma Purushothaman đã nhấn mạnh sự thay đổi nhận thức của Ấn Độ về quyền lực trong Quan hệ Quốc tế Đồng thời, bà cũng lập luận rằng Ấn Độ đã sử dụng các nguồn sức mạnh mềm như là cộng đồng người da đỏ, văn hóa của Ấn Độ nhằm đạt được các mục tiêu chính sách đối ngoại của mình Bài viết còn xác định vai trò của sức mạnh

Trang 15

mềm cũng như tác động và ảnh hưởng của nó trong việc quyết định chính sách đối ngoại của Ấn Độ Đồng quan điểm với Uma Purushothaman về tầm quan trọng của sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ, tác giả Patryk Kugiel đã mở

rộng quan điểm trên và nghiên cứu một cách chi tiết hơn trong quyển sách Sức mạnh

mềm của Ấn Độ: Chiến lược chính sách đối ngoại mới (“India’s Soft Power: A New

Foreign Policy Strategy”, Routledge, 2017, Chapter 4, trang 93-124) Patryk Kugiel đã tập trung nghiên cứu các hành động có chủ ý của Chính phủ Ấn Độ trong việc sử dụng sức mạnh mềm để thúc đẩy lợi ích quốc gia Tác giả đã luận giải năm công cụ sức mạnh mềm, chính sách và các hoạt động của Chính phủ Ấn Độ được phát triển trong hai thập kỷ qua nhằm theo đuổi chính sách đối ngoại Trong đó, năm công cụ sức mạnh mềm của Ấn Độ bao gồm: ngoại giao công chúng, ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, chính sách hợp tác phát triển và quan hệ với cộng đồng người nước ngoài

Hay trong bài viết Sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ (“Soft Power

in Indian Foreign Policy”, Economic and Political Weekly, Vol 46, No 36, pp 35-39, 2018) của tác giả David M Malone cũng có quan điểm tương tự Bài viết đã đề cập đến việc những nỗ lực quan trọng của Ấn Độ trong việc phát triển sức mạnh mềm ở phía Đông Đồng thời tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm chính và cách mà Chính phủ Ấn Độ phân biệt giữa “Ngoại giao công chúng” và sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ

Bên cạnh đó, có thể kể đến nhận định của tác giả Swaroopa Lahiri trong bài viết

Sức mạnh mềm - Một công cụ chính trong Bộ chính sách đối ngoại của Chính phủ Modi (“Soft Power - A Major Tool iNarendra Modi’s Foreign Policy Kit”, Journal of

South Asian Studies, 2017) và tác giả Nabin Kumar Khara trong bài viết Nhận định về

động lực của sức mạnh mềm của Ấn Độ (Understanding of India’s Soft Power

Dynamics, Asian Review of Social Sciences, Vol.7 No.3, 2018, pp 123-131, 2018)

Cả hai tác giả đều tập trung vào vai trò của sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ và các nguồn sức mạnh mềm của Ấn Độ như đặc tính đa văn hóa, cộng đồng người di cư, các phương pháp luyện tập cổ xưa như yoga đã tạo nên sức mạnh mềm của Ấn Độ Trong bài viết của Nabin Kumar Khara, ông đã phân tích quá trình phát triển của Ấn Độ như một cường quốc sức mạnh mềm kể từ khi nó nổi lên như một quốc gia độc lập Nội dung bài viết còn chỉ ra cách sức mạnh mềm đã định hình

Trang 16

chính sách và hành vi đối ngoại của Ấn Độ Còn trong bài viết của tác giả Swaroopa Lahiri cho rằng Ấn Độ rất coi trọng sức mạnh mềm đặc biệt là trong thời kỳ Thủ tướng Narendra Modi Bài viết đã phân tích rõ các nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của Thủ tướng Narendra Modi Điều này góp phần tạo nên sự khác biệt trong cách thức sử dụng sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của Chính phủ Narendra Modi so với các Chính phủ trước đây Tuy nhiên, bên cạnh đó tác giả cũng đề cập đến những hạn chế trong chính sách sử dụng sức mạnh mềm của Ấn Độ như: sức mạnh mềm của Ấn

Độ bị phóng đại quá mức, Ấn Độ không có đủ tiềm năng sức mạnh cứng để phù hợp với nguồn lực sức mạnh mềm Qua đó, ông cũng đưa ra quan điểm rằng sức mạnh mềm của Ấn Độ chắc chắn sẽ thành công hơn nếu Chính quyền Narendra Modi có chính sách tiếp cận nhất quán và chiến lược hơn

Hơn thế nữa, Ấn Độ đã sử dụng cách tiếp cận sức mạnh mềm trong chiến lược khu vực của mình nhằm chuyển đổi mối quan hệ theo hướng tích cực trong mục tiêu

chính sách đối ngoại Đầu tiên phải kể đến tác phẩm Từ sức mạnh cứng sang sức mạnh

mềm? Tư tưởng, Sự tương tác, Thể chế và Quan điểm trong Chính sách Nam Á của Ấn

Độ (“From Hard Power to Soft Power? Ideas, Interaction, Institutions, and Images in

India's South Asia Policy”, Heidelberg Papers in South Asian and Comparative Politics, 2005) của tác giả Christian Wagner Bài viết đã lập luận rằng do cách tiếp cận quyền lực cứng của Ấn Độ trong những năm 1970, 1980 không thành công lắm, cũng như khát vọng về việc trở thành một cường quốc đã mang lại cho khu vực một giá trị chiến lược mới nên bắt đầu từ những năm 1990 Ấn Độ đã chuyển đổi từ chiến lược quyền lực cứng sang sức mạnh mềm Cũng cùng quan điểm với các tác giả trên, Patryk

Kugiel đã nhận định trong tác phẩm Sức mạnh mềm của Ấn Độ ở Nam Á (“India’s Soft

Power in South Asia”, SAGE Publications, 2012) của tác giả Patryk Kugiel đã tóm tắt tiềm năng sức mạnh mềm của Ấn Độ và cách mà Ấn Độ chuyển đổi sức mạnh mềm thành những chính sách cụ thể trong chính sách đối ngoại của đất nước Ngoài ra, bài viết cũng phần nào đánh giá được mức độ thành công của Ấn độ trong việc sử dụng sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại đối với các nước láng giềng trong khu vực

Nam Á Còn đối với các nước lớn, bài viết Quan hệ Ấn Độ - Mỹ: Đánh giá sức mạnh

mềm của Ấn Độ (“India-Us Relations: Assessing India’s Soft Power”, Doctoral Thesis,

Nanyang Technological University, Singapore, 2015) của tác giả Ajaya Kumar Das đã

Trang 17

nêu ra quan điểm về sức mạnh mềm và nền tảng sức mạnh mềm của Ấn Độ, đồng thời bài viết còn đề cập đến sự hạn chế của sức mạnh mềm: trong mối quan hệ giữa Ấn Độ

và Mỹ: giai đoạn 1947-1964 cũng như những thành công của sức mạnh mềm: trong mối quan hệ giữa Mỹ và Ấn Độ: giai đoạn 1998-2013 Qua các công trình nghiên cứu trên đã chứng minh được rằng Ấn Độ đã chú trọng đẩy mạnh các nguồn lực sức mạnh mềm trong việc thúc đẩy quan hệ với các nước láng giềng và rộng hơn là các nước ở Châu Á và thế giới

Nhóm các tác giả có quan điểm cho rằng ngoại giao văn hóa là một công cụ quan trọng để phát huy sức mạnh mềm của Ấn Độ Ngoại giao văn hóa được xem là công

cụ đắc lực của sức mạnh mềm, là con đường mở rộng và nâng tầm ảnh hưởng của Ấn

Độ đến khu vực và trên thế giới Đặc biệt, trong thời kỳ Thủ tướng Narendra Modi, ngoại giao văn hóa là một trong những sức mạnh mềm được sử dụng thành công trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ

Các công trình nghiên cứu về chính sách ngoại giao văn hóa của Ấn Độ dưới

thời Thủ tướng Narendra Modi phải kể đến như: Bài viết Ngoại giao sức mạnh mềm

của Ấn Độ dưới thời Thủ tướng Modi: Phật giáo, Di cư và Yoga (“India’s Soft Power

Diplomacy Under The Modi Administration: Buddhism, Diaspora And Yoga”, Asian

Affairs, 2018, trang 48-491) của tác giả Arijit Mazumdar và bài viết Chính sách ngoại

giao văn hóa của Modi và vai trò của cộng đồng người di cư Ấn Độ (“Modi’s Cultural

Diplomacy and Role of Indian Diaspora”, Central European Journal of International & Security Studies; Prague, 2019) Cả hai bài viết đều nói về cách chính quyền Narendra Modi sử dụng các nguồn lực sức mạnh mềm để phục vụ mục tiêu chiến lược của quốc gia Trong khi Junuguru Srinivas nhận định rằng cộng đồng người di cư của Ấn Độ là cộng đồng lớn thứ hai sau Trung Quốc và có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, vì thế Chính phủ Ấn Độ đã tập trung khai thác “tài nguyên” sức mạnh mềm này Tuy nhiên, ngoài cộng đồng người di cư của Ấn Độ ra thì Arijit Mazumdar

đã mở rộng hơn nguồn tài sản sức mạnh mềm của Ấn Độ là Yoga và Phật giáo Chính quyền Narendra Modi đã sử dụng ba tài sản sức mạnh mềm của Ấn Độ: Phật giáo, Di

cư và Yoga trong các hoạt động ngoại giao để phục vụ các mục tiêu chiến lược lớn hơn Ngoại giao văn hóa, dưới hình thức quảng bá Phật giáo, Yoga, và ngoại giao

Trang 18

thông qua cộng đồng người di cư đã được sử dụng để bổ sung cho chính sách ngoại giao truyền thống của Ấn Độ Chính sách này đã giúp Ấn Độ nâng cao hình ảnh quốc

tế với hình ảnh một đất nước hòa bình, cải thiện quan hệ với các nước khác, thu hút đầu tư nước ngoài, cũng như quảng bá để thu hút khách du lịch nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

Nối tiếp quan điểm của Arijit Mazumdar về chính sách ngoại giao văn hóa của

Ấn Độ, tác giả Daya Kishan Thussu trong quyển sách Truyền tải sức mạnh mềm của

Ấn Độ từ Phật giáo đến Bollywood (“Communicating India’s Soft Power Buddha to

Bollywood”, Palgrave Macmillan Series, Global Public Diplomacy, 2013, trang 153) Daya Kishan Thussu đã phân tích và khắc họa một cách chi tiết sự giao tiếp của

131-Ấn Độ với thế giới thông qua sức mạnh mềm của nước này Cuốn sách đã cung cấp một cái nhìn tổng thể về sự tương tác văn hóa của Ấn Độ trong bối cảnh chiến lược

“trỗi dậy” thông qua hai nguồn lực văn hóa chính là Phật giáo và Bollywood Đồng thời tác giả cũng nhận định rằng, sức mạnh mềm trong đó chiến lược ngoại giao văn hóa ngày càng trở thành yếu tố quan trọng trong chính sách ngoại giao của nước này

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về ngoại giao văn hóa của Ấn

Độ với nhiều góc nhìn ở những khía cạnh khác nhau Trong đó phải kể đến tác phẩm

Từ nhân tố tiềm ẩn trở thành một sức mạnh mềm ‘mạnh mẽ’? Sự phát triển của ngoại giao văn hóa của Ấn Độ (“From a latent to a ‘strong’ soft power? The evolution of

India’s cultural diplomacy”, Palgrave Communications, 2016) của tác giả Debidatta Aurobinda Mahapatra Tác phẩm đã phân tích rõ quá trình phát triển của Ấn Độ như một cường quốc mềm kể từ khi đất nước này nổi lên như một quốc gia độc lập Cách sức mạnh mềm đã hình thành nên chính sách và hành vi đối ngoại của Ấn Độ Xu hướng chính trị hiện đại của Ấn Độ khác với những xu hướng trước đó trong việc áp dụng sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại Đóng góp vào cuộc tranh luận đề tài sức mạnh mềm bằng cách tập trung vào ngoại giao văn hóa của một cường quốc đang lên Ấn Độ đã tập trung vào sức mạnh mềm, đặc biệt là ngoại giao văn hóa và việc sử dụng nó trong chính sách đối ngoại ngày càng rõ ràng trong những năm gần đây Hay

trong bài viết Văn hóa như một công cụ của sức mạnh mềm trong bối cảnh đất nước

Ấn Độ (Culture as a Tool of Soft Power in Indian Context, Research Reinforcement,

Trang 19

2019, trang 58-62” đồng tác giả Vijay Laxmi và Girija Joshi Hai tác giả đã tập trung nghiên cứu về sức mạnh mềm và nguồn lực sức mạnh văn hóa qua các khía cạnh văn hóa của Ấn Độ như Yoga, âm nhạc, ẩm thực, tôn giáo và tâm linh…Qua đó, tác giả đã đưa ra nhận định rằng văn hóa Ấn Độ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển Ấn

Độ và nâng cao sức mạnh của đất nước Vì thế, Chính phủ Ấn Độ cần nỗ lực thúc đẩy yếu tố văn hóa nhiều hơn nữa trong chính sách đối ngoại của mình

Tại Việt Nam, hướng nghiên cứu về sức mạnh mềm đã được nhiều học giả quan

tâm và nghiên cứu về vấn đề này như: Bài viết Sức mạnh mềm (Quyền lực mềm) của

tác giả Phạm Thủy Tiên đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế ngày 07/05/2016 Bài viết đã tóm tắt một cách sơ lược quá trình nghiên cứu và phát triển học thuyết sức mạnh mềm của Giáo sư Joseph S Nye, đồng thời nội dung bài viết còn phân tích khái niệm, nguồn sức mạnh mềm, các công cụ kiến tạo và thành phần chủ

thể của sức mạnh mềm Cũng trong năm 2016, bài viết Sức mạnh mềm của tác giả Bùi

Văn Phú đăng trên VOA Tiếng Việt cũng bàn về chủ đề này Bài viết đã lập luận rằng sức mạnh mềm là một trong những thương hiệu của một quốc gia Sức mạnh mềm bao gồm vật chất và tinh thần làm nên sức mạnh quốc gia sản xuất nên nó Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đề cập một số thương hiệu tạo nên sức mạnh mềm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Việt Nam…

Ở góc độ thực tiễn, chủ đề sức mạnh mềm đã được mở rộng hơn qua các bài

viết như: Bài viết Quyền lực cứng, sức mạnh mềm, quyền lực thông minh trong nền

dân chủ của tác giả Bùi Việt Hương đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2011

Xuyên suốt bài viết là quan điểm của tác giả về cách thức sử dụng quyền lực trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử Tác giả nhận định rằng ở những thời điểm lịch

sử khác nhau sẽ đánh dấu những đặc điểm xã hội và nhận thức khác nhau qua từng thời kỳ Đồng thời, bài viết còn nêu lên mối quan hệ giữa dân chủ và đi cùng với nó là những thách thức sử dụng quyền lực mới, nhất là sức mạnh mềm (quyền lực mềm) Trên cơ sở khái quát tổng quan về những nội dung chính trong Tọa đàm quốc tế Sức mạnh mềm của Diễn đàn nữ lãnh đạo, tác giả Hà Tôn Vinh đã mở ra một góc nhìn mới

về kinh nghiệm sử dụng sức mạnh mềm trong công tác lãnh đạo, quản lý, để đạt được

mục tiêu đề ra qua bài viết Dư âm ngọt ngào của sức mạnh mềm được đăng trên trang

Trang 20

Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp (Business Startup Support Centre) số ngày 23/11/2017

Về sức chủ đề sức mạnh mềm Ấn Độ là một chủ đề khá hấp dẫn và đã thu hút

được nhiều học giả quan tâm, tiêu biểu như: Quyển sách Sức mạnh mềm của Ấn Độ:

Gợi mở với Việt Nam (Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên, năm 2020) của PGS.TS Lê

Văn Toan đã bàn về sức mạnh mềm của Ấn Độ và những hàm ý đối với Việt Nam Tác giả quyển sách đã lập luận rằng Ấn Độ là một quốc gia có khả năng sức mạnh mềm được hình thành từ rất sớm, khó nơi đâu trên thế giới có thể so sánh được Bên cạnh những nội dung từ lý luận đến thực tiễn của sức mạnh mềm, tác giả đã nghiên cứu về sức mạnh mềm của Ấn Độ trong lịch sử đã diễn ra như thế nào, trên cơ sở đó đánh giá về những mặt thành công và điểm hạn chế của Ấn Độ Cuối cùng, điểm nổi bật của bài viết là tác giả đã đưa ra những đánh giá của mình về tiềm năng sức mạnh mềm Việt Nam dựa trên mối quan hệ của Việt Nam và Ấn Độ từ trong lịch sử cho đến nay Đây là một trong những công trình nghiên cứu đầy đủ và bài bản thể hiện một sự hiểu biết sâu về sức mạnh mềm của Ấn Độ được nhiều người quan tâm hiện nay Đồng

quan điểm với PGS.TS Lê Văn Toan, trong quyển sách Sức mạnh tổng hợp quốc gia

của Ấn Độ của nhóm các tác giả nghiên cứu về Ấn Độ do TS Trần Hoàng Long Chủ

Biên đã phân tích hiện trạng sức mạnh tổng hợp quốc gia của Ấn Độ qua hai nguồn lực sức mạnh chính là sức mạnh cứng và sức mạnh mềm, trong đó các tác giả đặc biệt nhấn mạnh nguồn lực sức mạnh mềm của Ấn Độ qua tiềm năng vô hạn của các giá trị văn hóa tinh thần – những yếu tố làm nên sức mạnh mềm Các tác giả cũng nhận định rằng nền tảng sức mạnh mềm của Ấn Độ là sự đa nguyên tôn giáo, tinh thần khoan dung, chủ nghĩa thế tục và các di sản văn hóa nghệ thuật phong phú Vì thế, các tác giả

đã khẳng định rằng sức mạnh mềm chính là yếu tố vô cùng quan trọng tạo nên vị thế của Ấn Độ hiện nay trên trường quốc tế Bên cạnh đó, dựa trên mối quan hệ truyền thống và hữu nghị lâu đời của Việt Nam và Ấn Độ, các tác giả cũng đưa ra một số quan điểm về hàm ý đối với việc thúc đẩy ảnh hưởng của sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam

Bên cạnh đó, khi nói về mối quan hệ Việt Nam và Ấn Độ trên phương diện hợp

tác và trao đổi văn hóa, trong quyển sách Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ đầu thế kỷ XXI

Trang 21

đến nay của TS Đỗ Thanh Hà đã cho rằng trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với nhiều

biến đổi sâu sắc, quan hệ giữa Việt Nam và Ấn Độ ngày càng được củng cố và phát triển toàn diện, góp phần nâng cao vai trò và vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc

tế Ấn Độ vẫn tiếp tục khẳng định Việt Nam là trụ cột trong chính sách Hướng Đông của mình và ngược lại, Việt Nam cũng xem tăng cường quan hệ với Ấn Độ là hết sức cần thiết và là bước đi an toàn cho Việt Nam trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay

Ngoài ra, một số bài viết về sức mạnh mềm Ấn Độ phải kể đến như: Bài viết

Sức mạnh mềm của Ấn Độ của tác giả Thanh Vân đăng trên Báo công an Nhân dân số

ngày 01/06/2015 Tác giả đã khẳng định rằng ngày nay Chính phủ Ấn Độ đã tăng cường và làm phong phú sức mạnh mềm trên nhiều lĩnh vực, trọng tâm là lĩnh vực văn hóa và tôn giáo Điều đó đã góp phần gia tăng sức mạnh mềm cũng như sức mạnh

quốc gia của Ấn Độ Đồng quan điểm với tác giả Thanh Vân, bài viết Lợi thế sức

mạnh mềm Ấn Độ của tác giả Trung Lập đăng trên báo Tin tức ngày 29/09/2014 cũng

cho rằng với mục đích tăng cường sức mạnh mềm, Ấn Độ đã xây dựng một hình ảnh quốc gia ôn hòa, biểu tượng của sự bất bạo động và khoan dung Với hình ảnh tương đối trung lập, không đe dọa khiến Ấn Độ đã trở thành một cường quốc hấp dẫn đối với các quốc gia khác trên thế giới Nối tiếp quan điểm về các lĩnh vực sức mạnh mềm của

Ấn Độ qua bài viết Ấn Độ và một ý tưởng về một sức mạnh mềm mới của tác giả Nhã

Anh đăng trên Tạp chí thế giới và Việt Nam số ngày 03/03/2017 cũng đồng tình rằng

Ấn Độ có nguồn lực sức mạnh mềm tiềm năng, đa dạng và phong phú Trong đó phải

kể đến các lĩnh vực mới nổi như nghiên cứu không gian; khoa học công nghệ mới và truyền thông toàn cầu Ngoài ra, trên bình diện văn hóa và Phật giáo Ấn Độ, bài viết

Sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa, sức mạnh mềm Phật giáo của tác giả Minh

Thạnh đã phần nào lược khảo về sức mạnh mềm và phân tích sâu sắc sức mạnh mềm trên các bình diện trên

Hơn nữa, bài viết Ấn Độ sẵn sàng cuộc chiến sức mạnh mềm với Trung Quốc

của tác giả Nhàn Đàm đăng trên trang web soha.vn chuyên mục Quốc tế số đăng ngày 01/06/2016 đã so sánh cách truyền bá văn hóa ra thế giới của Trung Quốc và Ấn Độ Nếu như Trung Quốc chọn cách truyền bá bằng con đường xâm lược, nhồi nhét và vô

Trang 22

cảm thì Ấn Độ lại chọn cách ôn hòa và hướng đến các giá trị phổ quát Điều này được đánh giá là vũ khí lợi hại để Ấn Độ có thể mở rộng sức mạnh mềm của mình ra thế giới

Công trình nghiên cứu và những cuốn sách viết về Ấn Độ của các học giả đã luận giải và phân tích sức mạnh mềm của Ấn Độ trên nhiều phương diện, khía cạnh Tuy nhiên, ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm của Ấn Độ lại là đề tài tương đối mới mẻ trong hệ thống các nghiên cứu về Ấn Độ tại Việt Nam Được biết, hiện nay có một số bài viết nhỏ có đề cập đến vấn đề ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm của Ấn

Độ như bài viết Ngoại giao văn hóa của Ấn Độ nhìn từ góc độ sức mạnh mềm trong

những năm đầu của thế kỷ XXI của tác giả Hồ Ngọc Diễm Thanh được đăng trên tạp

chí Khoa học Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu về những cơ sở

lý luận và cách tiếp cận về ngoại giao văn hóa – sức mạnh mềm của Ấn Độ ở thế kỉ XXI, đồng thời đề cập đến các hoạt động triển khai chủ yếu của của ngoại giao văn hóa Ấn Độ trong những năm đầu của thế kỉ XXI nhìn từ góc độ sức mạnh mềm

Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có thể thấy được rằng sức mạnh mềm ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, phát huy tầm ảnh hưởng của quốc gia trong cộng đồng thế giới, cũng như tạo ra sức lôi cuốn và đồng thuận xã hội trong chính nội bộ quốc gia Trong đó, Ấn Độ được nhận định là một trong những cường quốc có tiềm năng sức mạnh mềm rộng lớn và đa dạng Các nguồn lực sức mạnh mềm đó phải kể đến như là các giá trị về văn hóa: Phật giáo, Bollywood, Yoga, âm nhạc, văn học… đã kiến tạo nên sức mạnh mềm của Ấn

Độ Đánh giá tầm quan trọng của loại hình sức mạnh này, Ấn Độ đã vận dụng và triển khai sức mạnh mềm để hoạch định chính sách đối ngoại và tạo nên sức ảnh hưởng của mình đối với các quốc gia khác Trong đó, ngoại giao văn hóa là một trong những hoạt động nổi bật mà Ấn Độ đã sử dụng trong các hoạt động ngoại giao của mình Tuy nhiên các công trình nghiên cứu còn rất ít các học giả đánh giá về những thành tựu và hạn chế của quá trình triển khai sức mạnh mềm của Ấn Độ Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu trước đó, luận văn sẽ tập trung vào việc triển khai các hoạt động ngoại giao văn hóa của Ấn Độ ở các giá trị văn hóa đặc thù của Ấn Độ như: Phật giáo, Bollywood và Yoga Qua đó, dựa vào những kết quả đạt được, luận văn sẽ tổng hợp,

Trang 23

phân tích và đánh giá những thành công và hạn chế mà hoạt động ngoại giao văn hóa

Ấn Độ mang lại Đồng thời, từ những kết quả đó liên hệ thực tiễn với tiềm năng sức mạnh mềm của Việt Nam và gợi mở phát huy ngoại giao văn hóa của Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn bao gồm hai mục đích chính:

• Một là, phân tích quá trình triển khai ngoại giao văn hóa của Ấn Độ

được thực hiện thông qua các công cụ văn hóa như Phật giáo, Bollywood, Yoga Qua đó, phân tích hoạt động ngoại giao văn hóa đã tác động đến chính sách ngoại giao của Ấn Độ đối với các nước khác như thế nào

• Hai là, thông qua những kết quả đạt được, đánh giá kết quả hoạt động

ngoại giao văn hóa của Ấn Độ đồng thời dựa trên sự tương đồng của hai nền văn hóa Việt Nam và Ấn Độ để gợi mở tiềm năng sức mạnh mềm và phát huy ngoại giao văn hóa của Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

• Một là, xác định cơ sở lý luận về sức mạnh, sức mạnh mềm và ngoại

giao văn hóa trong quan hệ quốc tế

• Hai là, dựa trên cơ sở lý thuyết từ đó phân tích bối cảnh và quá trình

triển khai ngoại giao văn hóa của Ấn Độ trong những năm đầu của thế kỉ XXI qua việc sử dụng ba công cụ ngoại giao chính: Phật giáo, Bollywood, Yoga

• Ba là, đánh giá kết quả đạt được trong quá trình triển khai văn hóa của

Ấn Độ để gợi mở phát huy sức mạnh mềm qua việc triển khai ngoại giao văn hóa của Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn này là các hoạt động ngoại giao văn hóa của Ấn Độ trong việc sử dụng các công cụ văn hóa như Phật giáo, Bollywood,

Trang 24

Yoga nhằm quảng bá hình ảnh của Ấn Độ như một cường quốc sức mạnh mềm trên thế giới

Về phạm vi nghiên cứu, do Ấn Độ có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, hơn nữa mỗi nhiệm kỳ Thủ tướng của Ấn Độ có những chính sách khác nhau Vì thế, luận văn tập trung chủ yếu vào mốc thời gian từ những năm đầu của thế kỷ XXI cho đến nay, đặc biệt là dưới thời Thủ tướng Narendra Modi Bên cạnh đó, không gian nghiên cứu dựa trên bối cảnh lịch sử, bối cảnh khu vực và mối quan hệ của Ấn Độ với các quốc gia khác trong Quan hệ Quốc tế

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:

Câu hỏi nghiên cứu: Ấn Độ đã sử dụng những công cụ nào trong quá trình triển khai ngoại giao văn hóa trong những năm đầu của thế kỷ XXI Ấn Độ đã đạt được những kết quả gì qua quá trình triển khai ngoại giao văn hóa?

Giả thuyết nghiên cứu: Các hoạt động ngoại giao văn hóa thông qua các nguồn

lực sức mạnh mềm như Phật giáo, Bollywood và Yoga đã góp phần kiến tạo nên sức mạnh mềm của Ấn Độ, nhằm hướng tới mục tiêu giúp Ấn Độ đạt được vị thế cường

quốc trên thế giới, một thế lực toàn cầu thay vì một quốc gia quan sát bậc trung

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dựa trên các tài liệu như các quyển sách

chuyên khảo, các bài viết, báo cáo khoa học về sức mạnh mềm của Ấn Độ, Ngoại giao văn hóa của Ấn Độ và quan hệ của Việt Nam và Ấn Độ trên phương diện văn hóa để xác định tư tưởng chủ đạo thể hiện trong tài liệu Từ đó, hình thành các ý chính, các quan điểm, luận điểm về sức mạnh mềm và quá trình triển khai ngoại giao văn hóa của

Ấn Độ thể hiện trong luận văn

Phương pháp nghiên cứu – tổng hợp: phân tích và phân tách các vấn đề chi tiết

quá trình và cách thức triển khai ngoại giao văn hóa như là một công cụ sức mạnh mềm của Ấn Độ Từ đó có thể hiểu được một cách sâu sắc, chi tiết và cụ thể trong khía cạnh khác nhau để có cái nhìn tổng quát về vấn đề ngoại giao văn hóa của Ấn Độ dưới góc độ sức mạnh mềm

Trang 25

Phương pháp quy nạp – diễn dịch: liên kết những vấn đề riêng lẻ của ngoại giao

văn hóa để đúc kết thành cái tổng thể của sức mạnh mềm Ấn Độ và tìm ra các biểu hiện trong sự vận động của sức mạnh mềm từ những bản chất, nguyên lý, lý thuyết đã được chứng minh trước đó

Phương pháp nghiên cứu so sánh: phân tích và so sánh những điểm tương đồng

và khác biệt trong nền văn hóa giữa hai nước Việt Nam và Ấn Độ, từ đó đưa ra những kết luận về gợi mở cho hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam dựa trên cơ sở Ngoại giao văn hóa Ấn Độ

7 Đóng góp của đề tài

Về phương diện khoa học:

Trên cơ sở nguồn tư liệu được tập hợp và xử lý từ các công trình có giá trị trong

và ngoài nước, đặc biệt là nguồn tư liệu tiếng Anh từ các nhà ngoại giao, các nhà nghiên cứu và các số liệu chính thức được công bố, đề tài cung cấp một cách hệ thống

tư liệu khoa học chuyên ngành Lịch sử, Quan hệ Quốc tế và các ngành có liên quan về ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm của Ấn Độ Đồng thời, đề tài tiếp cận và đi sâu phân tích, lý giải các vấn đề về sức mạnh mềm trong chính sách ngoại giao văn hóa của Ấn Độ dưới góc nhìn thực tiễn Từ đó, đưa ra những nhận định, đánh giá về tính hiệu quả của hoạt động ngoại giao văn hóa của Ấn Độ

Về phương diện thực tế:

Đề tài được hoàn thành sẽ bổ sung nguồn tư liệu khoa học về chính trị, lịch sử, Quan hệ Quốc tế liên quan đến sức mạnh mềm và ngoại giao văn hóa của Ấn Độ nhằm phục vụ cho sinh viên, giảng viên, các nhà nghiên cứu, các học giả có quan tâm đến lĩnh vực này

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương chính sau:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC MẠNH, SỨC MẠNH MỀM VÀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA Trên cơ sở xác định khung lý thuyết của các khái niệm sức mạnh,

Trang 26

sức mạnh mềm, và ngoại giao văn hóa Đồng thời, nội dung của chương sẽ lý giải mối quan hệ giữa ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm trong Quan hệ Quốc tế

CHƯƠNG 2: THỰC TẾ TRIỂN KHAI NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA ẤN ĐỘ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THẾ KỶ XXI Nội dung của chương này sẽ mô

tả, phân tích và làm rõ quá trình triển khai ngoại giao văn hóa của Ấn Độ trong những năm đầu của thế kỷ XXI qua các hoạt động ngoại giao văn hóa chính như: Phật giáo, Bollywood và Yoga Trong chương này, luận văn sẽ làm rõ cách thức Ấn Độ sử dụng các nguồn lực sức mạnh mềm văn hóa để thiết lập mối quan hệ ngoại giao với các nước khác và sự ảnh hưởng của Ấn Độ được các quốc gia khác công nhận và khẳng định vị thế của mình trên đấu trường quốc tế

CHƯƠNG 3: THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA ẤN

ĐỘ VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM Nội dung của chương này sẽ tập trung phân tích những thành tựu và hạn chế của hoạt động ngoại giao văn hóa Ấn Độ Trên cơ sở đó đánh giá những nguyên nhân thành công và hạn chế trong hoạt động ngoại giao văn hóa của đất nước này Phần cuối nội dung của chương sẽ là liên hệ thực tiễn với tiềm năng sức mạnh mềm và gợi mở phát huy ngoại giao văn hóa của Việt Nam

Trang 27

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC MẠNH, SỨC MẠNH MỀM VÀ

NGOẠI GIAO VĂN HÓA 1.1 Sức mạnh trong Quan hệ Quốc tế

Trong lịch sử ngoại giao của các quốc gia nói riêng và lịch sử Quan hệ Quốc tế nói chung, khái niệm sức mạnh đã tồn tại từ rất lâu đời Đầu thế kỷ XX, nhà Xã hội học Chính trị nổi tiếng người Đức - Max Weber đã đưa ra định nghĩa rằng “quyền lực

là khả năng mà một người hay nhóm người thực hiện ý chí của mình trong hành động cộng đồng thậm chí bất chấp sự chống đối của người khác tham gia trong hành động đó” [Weber & Tribe, 2019] Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, Joseph S Nye - Giáo sư Đại học Harvard, Nguyên trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, đã phát triển khái niệm quyền lực của Max Weber trên các khía cạnh từ cấp độ vi mô đến cấp độ vĩ mô Một cách ví von, ông đã khéo léo miêu tả sức mạnh “giống như thời tiết” Bởi vì mọi người đều phụ thuộc vào thời tiết và bàn về thời tiết, nhưng ít ai hiểu về nó” [Nye,

2004, tr 1] Cũng giống như thời tiết, sức mạnh dường như ảnh hưởng đến tất cả khía cạnh cuộc sống của con người Nếu như nông gia và các nhà khí tượng học tìm cách

để dự báo thời tiết, thì các nhà lãnh tụ và nhà phân tích chính trị cố gắng miêu tả và dự đoán những thay đổi trong các mối quan hệ quyền lực Theo Joseph S Nye, sức mạnh

“là khả năng đạt được mục đích hoặc mục tiêu” và là “khả năng khiến người khác làm những điều mà họ không muốn làm” [Nye, 1990, tr.26]

Sức mạnh của một quốc gia được hiểu theo nghĩa thông thường là các nguồn lực sẵn có như dân số, lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên, quy mô kinh tế, lực lượng quân sự và sự ổn định về chính trị [Nye, 2013, tr 551] Tuy nhiên, sức mạnh không những được thể hiện qua những nguồn lực hữu hình có thể đếm được như tiền bạc, vũ khí, tài nguyên thiên nhiên, yếu tố địa lý, dân cư, quân sự, kinh tế mà sức mạnh còn được thể hiện ở những yếu tố vô hình như sức hấp dẫn của các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống, tính thống nhất, gắn kết cộng đồng dân tộc, sự đồng thuận quốc gia, sự

ổn định chính trị xã hội, sự linh hoạt mềm dẻo, khôn khéo của các chính sách ngoại giao, cũng như sự phù hợp, đúng đắn của các chính sách điều hành, quản lý, phát triển kinh tế - xã hội,… Trên thực tế, kể từ khi con người bắt đầu nhận thức về thế giới xung quanh, về xã hội và bản thân của họ thì sức mạnh được xem là cốt lõi của mọi vấn đề

Từ những đánh giá trên có thể thấy được là sức mạnh ngày nay đã trở thành một trong

Trang 28

những khái niệm trọng tâm nhất trong khoa học xã hội nói chung và Quan hệ Quốc tế nói riêng

Mặc dù có những điểm khác biệt cơ bản nhưng khái niệm sức mạnh được mô tả theo nhiều trường phái lý thuyết khác nhau từ quá khứ đến hiện tại trong Quan hệ Quốc tế Trong quá khứ để nhấn mạnh tính trung tâm của sức mạnh, Daniel W Drezner, Giáo sư người Mỹ về chính trị quốc tế tại Trường Luật và Ngoại giao Fletcher tại Đại học Tufts của Hoa Kỳ đã mô tả sức mạnh là “đồng tiền dự trữ thực sự trong các vấn đề quốc tế” [Drezner, 2011, tr 57 – 68] Đồng quan điểm với Daniel W Drezner, để nhấn mạnh sức ảnh hưởng của nó, Janice Bially Mattern, Giáo sư về Khoa học Chính trị, hiện bà đang giữ vị trí Giám đốc của Viện Nghiên cứu và Học bổng Villanova, Hoa Kỳ cũng cho rằng sức mạnh là “tiền tệ của chính trị thế giới” [Mattern,

2005, tr 587] hoặc Leslie H Gelb, một cựu nhà ngoại giao, nhà báo và nhà bình luận phi thường của Mỹ về các vấn đề thế giới đã mô tả sức mạnh là “đồng tiền bạch kim của khu vực quốc tế.” [Gelb, 2010, tr 26]

Như vậy, từ các quan điểm lý thuyết trên, có thể khẳng định được rằng sức mạnh không những là bản chất, là “máu của sự sống” đối với chính trị quốc tế, mà còn

là động cơ và lợi ích căn bản của quốc gia trong Quan hệ Quốc tế vì nó liên quan đến

sự tương quan ảnh hưởng của một quốc gia đối với các chủ thể khác Đặc biệt trong những năm gần đây, sức mạnh ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia

Dựa trên khả năng tác động, ảnh hưởng khá đa dạng của sức mạnh đã có nhiều

sự phân loại khác nhau Nổi bật nhất là sự phân loại dựa trên khả năng gây ảnh hưởng của học giả Klaus Knorr - Giáo sư nghiên cứu kinh tế - chính trị học thuộc Trung tâm Nghiên cứu quốc tế, Đại học Princeton (Mỹ) Ông cho rằng, có hai loại sức mạnh ảnh hưởng trong Quan hệ Quốc tế là sức mạnh ép buộc và không ép buộc [Knorr, 1973, tr.3-5] Sau Klauss Knorr, chuyên gia được xem là có uy tín về vấn đề sức mạnh nhất

có lẽ là Joseph S Nye Trong cuốn Bound to Lead: The Changing Nature of American Power (Ràng buộc để dẫn dắt: Bản chất sức mạnh đang thay đổi của Mỹ), xuất bản năm 1990, ông đưa ra khái niệm “sức mạnh mềm”; sau đó, trong cuốn Soft Power: The Means to Success in World Politics (Sức mạnh mềm: Phương tiện để đạt được

Trang 29

thành công trong chính trị quốc tế) xuất bản năm 2004, ông lại triển khai thêm khái niệm ấy Nhờ hai công trình trên, khái niệm “sức mạnh mềm” càng ngày càng trở thành phổ biến trên thế giới Năm 2004, Joseph S Nye lại đưa ra một khái niệm mới nữa: “sức mạnh thông minh” (smart power) Từ ảnh hưởng của Joseph S Nye, hiện nay, dựa trên phương thức thực hiện sức mạnh người ta thường chia sức mạnh thành

ba loại chính: sức mạnh cứng (hard power), sức mạnh mềm (soft power) và sức mạnh thông minh (smart power) Để làm rõ hơn, ông đã miêu tả ba loại sức mạnh này như sau: “Nếu ai đó dí súng vào bạn, đòi bạn đưa tiền và lấy đi chiếc ví của bạn, không để tâm đến những điều bạn nghĩ và mong muốn, đó chính là sức mạnh cứng Nhưng nếu

họ thuyết phục bạn đưa tiền của bạn cho họ, tức là họ đã thay đổi những gì bạn nghĩ và bạn mong muốn, đó chính là sức mạnh mềm” [Nye, 2013] Ông định nghĩa sức mạnh cứng là khả năng thúc đẩy người khác dựa vào vũ lực, thưởng, phạt và thiết lập nghị trình dựa trên các hành vi này Còn sức mạnh mềm là khả năng lôi kéo người khác qua việc chiêu dụ gồm định khung nghị trình, thuyết phục và khêu gợi hành vi thu hút tích cực để đạt kết quả mong muốn Và sức mạnh thông minh là khả năng tác động đến người khác thông qua việc kết hợp các tài nguyên quyền lực cứng và sức mạnh mềm thành các chiến lược hiệu quả để đạt kết quả mong muốn Từ sau nghiên cứu của Joseph S Nye, khái niệm “sức mạnh mềm” được chính thức được xem như một nguồn sức mạnh quan trọng của các quốc gia, có tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến Quan

hệ Quốc tế

1.2 Sức mạnh mềm trong Quan hệ Quốc tế

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, xu thế hòa bình, hợp tác vẫn là nét chủ đạo thì sức mạnh mềm càng đóng vai trò quan trọng Việc sử dụng và lạm dụng sức mạnh cứng (như uy hiếp về quân sự, ép buộc bằng kinh tế ) để giải quyết mâu thuẫn, nhằm đạt được mục tiêu vị kỷ của “kẻ mạnh”, nhiều khi không phát huy được tác dụng, thậm chí chuốc lấy thất bại, dễ vấp phải sự phản ứng của cộng đồng quốc tế và đứng trước nhiều rủi ro bị cô lập, bị cảnh giác, phòng ngừa, làm suy giảm vị thế, uy tín, hình ảnh của quốc gia trong Quan hệ Quốc tế Thật vậy, khi bản chất của các mối Quan hệ Quốc

tế đang thay đổi và chuyển hướng đến việc tương tác hòa bình toàn cầu, Joseph S Nye cho rằng các chiến lược sức mạnh cứng thông thường dựa trên sức mạnh quân sự có thể không còn là yếu tố xác định mức độ quyền lực của một quốc gia trong hệ thống

Trang 30

quốc tế [Nye, 1990, tr 153-171] Trong khi đó, sức mạnh mềm ngày càng có vai trò quan trọng trong giữ vững ổn định quốc gia, tăng cường hội nhập quốc tế, cũng như phát huy tầm ảnh hưởng của quốc gia đó trên thế giới Trong những năm gần đây, thuật ngữ “sức mạnh mềm” được sử dụng khá phổ biến và ngày càng được nhiều người quan tâm Sức mạnh mềm đã trở thành một thành phần quan trọng của chính sách đối ngoại trên toàn cầu Không có một định nghĩa nào có thể thực sự gói gọn một khái niệm rộng lớn như định nghĩa sức mạnh mềm

Được xem là học giả đã đặt nền móng đầu tiên của học thuyết sức mạnh mềm, Joseph S Nye đã luận giải về sức mạnh mềm và phát triển nó thành một học thuyết quan trọng trong Quan hệ Quốc tế qua các công trình nghiên cứu Trong quyển sách Bound to Lead: The Changing Nature of American Power (Ràng buộc để dẫn dắt: Bản chất sức mạnh đang thay đổi của Mỹ) Joseph S Nye đã cho rằng sức mạnh mềm là

“khả năng có được thứ mình muốn thông qua sự hấp dẫn” [Nye, 1990] Đồng thời,

Trang 31

khái niệm này một lần nữa được ông giải thích một cách chi tiết hơn trong văn bản Chính sách đối ngoại của Mỹ Ông cho rằng sức mạnh mềm là “khi một nước để cho nước khác tự ý đòi hỏi những điều mà nước nó mong muốn, thì nảy sinh cái gọi là quyền lực thu nạp hoặc sức mạnh mềm, điều đó hoàn toàn khác với sức mạnh cứng hoặc sức mạnh cưỡng chế mệnh lệnh mong muốn nước khác làm những điều mà mình mong muốn” [Nye, 1990, tr 166] Năm 2004 lý luận về sức mạnh mềm đã được Joseph S Nye đánh dấu bước phát triển mới khi ông khẳng định rằng, sức mạnh mềm

có thể được xem là “phương diện thứ hai của quyền lực, nghĩa là một quốc gia có thể đạt được những điều họ muốn trong chính trị quốc tế là do các nước khác tự nguyện mong muốn làm theo, họ ngưỡng mộ giá trị của quốc gia, muốn học theo quốc gia đó, khát vọng đạt tới sự phồn vinh và thịnh vượng như vậy” [Nye, 2004] Theo ông, sức mạnh mềm là sức mạnh được thực hiện thông qua sự hấp dẫn và thuyết phục để đạt được những gì mình muốn bằng cách tác động tới hệ thống giá trị của người khác, làm thay đổi cách suy nghĩ của người khác, và qua đó khiến người khác mong muốn chính điều mà mình mong muốn Như vậy, qua các công trình nghiên cứu của Joseph S Nye, khái niệm sức mạnh mềm đã được nghiên cứu, định nghĩa một cách rõ ràng và

mở rộng trở thành một học thuyết chính trong Quan hệ Quốc tế Mặc dù khái niệm sức mạnh mềm của Joseph S Nye chưa phải là khái niệm hoàn hảo, nhưng ông được xem

là học giả đầu tiên nghiên cứu và luận giải khái niệm sức mạnh mềm tương đối đầy đủ

Vì thế, cho đến thời điểm hiện tại học thuyết về sức mạnh mềm của ông không những

là nền tảng lý luận chính để các nhà nghiên cứu tham khảo mà còn để các quốc gia lựa chọn trong việc hoạch định chính sách, chiến lược quốc gia để gia tăng sức mạnh mềm

Sau Joseph S Nye, nhiều học giả đã quan tâm nghiên cứu và đưa ra một số khái niệm khác nhau về sức mạnh mềm Ví dụ điển hình như tác giả Giulio M Gallarotti, hiện ông đang giữ chức vụ Giáo sư Đại học Wesleyan (Hoa Kỳ) và Giáo sư thỉnh giảng Đại học Rome Trong quá trình nghiên cứu về sức mạnh trong Quan hệ Quốc tế, ông đã đưa ra những lý giải quan trọng về sức mạnh mềm: nó là gì, tại sao nó quan trọng và các điều kiện để có thể sử dụng hiệu quả đồng thời phân tích cách mà nền chính trị thế giới hiện đại đã nâng cao giá trị của sức mạnh mềm Mặc khác, Giulio M Gallarotti còn đưa ra những kiến nghị để các nhà hoạch định chính sách có thể đánh

Trang 32

giá và sử dụng hiệu quả sức mạnh mềm [Gallarotti, 2011, trang 25- 47] Ngoài ra, ông còn lấy Arab Saudi là trường hợp nghiên cứu từ đó chỉ ra các giá trị và bản chất của sức mạnh mềm trong Quan hệ Quốc tế đương đại [Gallarotti & Al-Filali, 2012] Hay một góc nhìn khác về sức mạnh mềm của học giả Joshua Kurlantzick, ông đã chỉ ra rằng: “sức mạnh mềm là khả năng một quốc gia thuyết phục và gây ảnh hưởng đối với nước khác không phải bằng đe dọa hay cưỡng ép mà bằng sức hấp dẫn của xã hội, giá trị, văn hóa và thể chế của chính quốc gia đó” [Joshua Kurlantzick, 2005, tr 419-424] Đồng quan điểm với Joshua Kurlantzich, tác giả Shin Wha Lee – giáo sư khoa Chính trị học và Quan hệ Quốc tế của Đại học Hàn Quốc đã nhìn nhận sức mạnh mềm như là

“sức hấp dẫn về lý tưởng và văn hóa nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của quốc gia” [Lee, 2011, tr 11-18] Như vậy sau học thuyết của Joseph S Nye, khái niệm sức mạnh mềm ngày càng được mở rộng, nghiên cứu bởi nhiều học giả trên thế giới với nhiều góc nhìn đa dạng khác nhau Các cách tiếp cận của các nhà học giả này đã góp phần làm cho khái niệm và nội hàm của sức mạnh mềm ngày càng hoàn thiện

Hơn thế nữa, quan niệm về sức mạnh mềm của các học giả phương Tây và của Joseph S Nye rất gần gũi với quan điểm sức mạnh mềm của phương Đông Những tư tưởng cơ bản của sức mạnh mềm coi sự hấp dẫn là một loại quyền lực đã xuất hiện trong tư tưởng kinh tế - chính trị phương Đông thời cổ đại Trong quan điểm đức trị của Khổng Tử: “dĩ đức phục nhân” (lấy nhân đức để thu phục người), hay là “Trị dân

mà dùng đức thì như sao Bắc Đẩu, ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả” [Tạ, 2011] Về bản chất, tư tưởng của ông rất tương đồng với học thuyết sức mạnh mềm của phương Tây hiện nay Cả hai tư tưởng của phương Đông và phương Tây đều lập luận rằng sức mạnh mềm là khả năng tạo ra ảnh hưởng với người khác bằng cách tác động tới hệ thống giá trị của người khác, làm thay đổi cách suy nghĩ của người khác,

và qua đó khiến người khác mong muốn chính điều mà mình mong muốn

Như vậy, qua các quan điểm về sức mạnh mềm trên, khái niệm sức mạnh mềm được định nghĩa là cách thức mà một quốc gia có thể đạt được điều mình muốn bằng những cách mềm dẻo, thông qua sự hấp dẫn và thuyết phục, từ đây có thể khiến các chủ thể khác hành động một cách tự nguyện vì họ cùng chia sẻ những giá trị chung mong muốn [Gallarotti, 2011, trang 25-47] Đối với một quốc gia, sức mạnh mềm

Trang 33

ngày càng trở thành trụ cột quan trọng trong việc giữ vững ổn định quốc gia, tăng cường hội nhập quốc tế, cũng như mở rộng phạm vi ảnh hưởng của quốc gia đó trên thế giới Có thể nói, sức mạnh mềm của một quốc gia tồn tại ngay trong văn hóa, các giá trị và chính sách của mình Một chính sách quyền lực khôn khéo phải biết kết hợp

cả hai nguồn lực sức mạnh cứng và mềm Những quốc gia vận dụng thành công sức mạnh mềm sẽ đạt được nhiều lợi ích, mở rộng được tầm ảnh hưởng, tạo dựng vị thế của mình, bởi vì những giá trị của quốc gia đó sẽ ăn sâu vào tư tưởng, hành vi, hình thành thói quen và niềm tin của nhiều người dân ở các quốc gia khác Ngày nay, xu thế hợp tác và phát triển đang trở thành dòng chảy chính trong Quan hệ Quốc tế, việc sử dụng sức mạnh mềm ngày càng chiếm ưu thế So với sức mạnh cứng truyền thống, sức mạnh mềm ngày càng trở nên quan trọng khi mà các cuộc chiến tranh không còn đơn thuần chỉ dựa vào súng đạn và binh lực, mà còn liên quan đến các ý tưởng và giá trị

Công ty tài chính Brand Finance của Anh mới đây công bố bảng xếp hạng “Chỉ

số sức mạnh mềm toàn cầu” năm 2021 trên cơ sở đánh giá sức hấp dẫn và uy tín quốc

tế của 100 quốc gia trên toàn cầu Kết quả cho thấy, Đức đứng ở vị trí số 1, Anh và Nhật Bản ở vị trí thứ 2; trong khi Mỹ rơi xuống vị trí số 5 (năm 2020 Mỹ đứng đầu bảng xếp hạng), mức giảm mạnh nhất trong 10 quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng

Vương quốc Anh từ lâu đã được coi sức mạnh mềm là một nguồn lực chiến lược Mặc dù đứng trước nhiều thách thức từ trong và ngoài nước như những thỏa thuận về việc nước Anh rời Liên minh châu Âu (Brexit), khó khăn kinh tế, khủng hoảng di cư, chủ nghĩa khủng bố song quốc gia này vẫn đứng đầu bảng xếp hạng về sức mạnh mềm với nguồn “tài sản” hấp dẫn như văn hóa, giáo dục, ngôn ngữ và các giá trị truyền thống Bảng xếp hạng Portland Soft Power 30 năm 2021 cho thấy nước Anh vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề toàn cầu

Với thành tích xếp hạng thứ 11 trong bảng xếp hạng sức mạnh mềm toàn cầu, đây là kết quả của Chính phủ Hàn Quốc ngay từ sớm đã có chiến lược xây dựng sức mạnh mềm với tầm nhìn dài hạn, trên cơ sở phối hợp chặt chẽ, hiệu quả mọi nguồn lực, trong đó chú trọng phát triển văn hóa quốc gia, phát triển kinh tế và chính sách đối ngoại Nhận thức rõ vai trò của sức mạnh mềm đối với sức mạnh tổng hợp quốc gia, Hàn Quốc đã nỗ lực xây dựng sức mạnh mềm với trụ cột là phát triển công nghiệp văn

Trang 34

hóa, gắn với các mục tiêu khác của đất nước, gắn chính sách đối nội với chính sách đối ngoại, không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế lớn, mà còn là công cụ đắc lực phục vụ cho mục tiêu quốc gia của Hàn Quốc, nhất là đưa văn hóa, hình ảnh đất nước Hàn Quốc lan tỏa ra khu vực và thế giới, giúp nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế Qua báo cáo trên có thể nhận thấy rằng các quốc gia ngày càng chú trọng đến sức mạnh mềm của mình và mong muốn gia tăng sức ảnh hưởng hay sức mạnh mềm của mình trên phạm vi toàn cầu

Hình 1.1: Báo cáo chỉ số sức mạnh mềm toàn cầu (Brand Finance Global Soft Power

Index Report) năm 2021 Nguồn: Brand Finance

Trang 35

1.2.2 Các nguồn lực của sức mạnh mềm

Trong những bài viết đầu tiên của mình về sức mạnh mềm, Joseph S Nye lập luận rằng “chủ nghĩa phổ quát của văn hóa một quốc gia và khả năng thiết lập một tập hợp các quy tắc và thể chế thuận lợi chi phối các lĩnh vực hoạt động quốc tế là những nguồn sức mạnh quan trọng” [Nye, 1990, trang 33] Tuy nhiên, trong các bài viết sau này, Joseph S Nye đã đề cập đến ba loại nguồn lực trung tâm của sức mạnh mềm như sau: “Sức mạnh mềm của một quốc gia chủ yếu dựa vào ba nguồn lực: (1) văn hóa của quốc gia đó (ở những nơi mà nó hấp dẫn đối với người khác), (2) các giá trị chính trị của quốc gia đó (trong và ngoài nước) và (3) các chính sách đối ngoại (khi chúng được coi là hợp pháp và quyền lực đạo đức” [Nye, 2004, tr 11] Bộ ba nguồn lực của sức mạnh mềm này được hầu hết các nhà nghiên cứu chấp nhận và chia sẻ rộng rãi Ví dụ như Craig Hayden, đưa ra quan điểm giống với Joseph S Nye rằng “văn hóa, lý tưởng chính trị và tính hợp pháp của chính sách đối ngoại” là ba nguồn lực cấu thành của sức mạnh mềm [Hayden, 2012, tr 569]

a) Văn hóa

Trong bối cảnh hiện nay, sức mạnh kinh tế không còn là yếu tố mạnh nhất chi phối quyền lực quốc gia, mà sức mạnh mềm quốc gia gắn với sức mạnh văn hóa ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi đất nước Có thể nói văn hóa được coi là “một trong những nền tảng chính của sức mạnh mềm” [Ifantis,

2012, tr 442] - cả trong văn bản học thuật và trong thực tiễn chính trị

Định nghĩa “văn hóa” được cộng đồng thế thế giới sử dụng nhiều và được nhiều người biết đến nhiều nhất là của định nghĩa của UNESCO, nêu trong Tuyên bố về chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa của UNESCO từ ngày 26/7 đến 6/8/1982 ở Mexico: “Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúc cảm quy định tính cách của một xã hội hay của một nhóm xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của (tồn tại-being) người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét (reflect-phản tư) về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt-con người, có lý tính, có

óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể

Trang 36

hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra

để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm kiếm không mệt mỏi những ý nghĩa mới

mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt qua cả giới hạn của bản thân” [UNESCO, 1982] Ngoài ra, khái niệm văn hóa đã được một số tác giả khác định nghĩa như sau: Ralph Linton (1893-1953), một trong những nhân vật hàng đầu trong xã hội học và nhân chủng học Hoa Kỳ trong thế kỷ XX cho rằng: “Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội; Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa” [Linton, 1945, tr 32] Hay Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889-1968), nhà xã hội học Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học, Đại học Harvard lại cho rằng “Với nghĩa rộng nhất văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động động đến lối ứng xử của nhau” [Sorokin, 1947] Trong khi đó, Tylor E.B trong Primitive Culture 1989 đã định nghĩa: “Văn hóa hay văn minh (một cách nhấn mạnh), theo nghĩa rộng về dân tộc học, nói chung được hình thành từ tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán cùng một số năng lực và thói quen khác mà con người có được với tư cách là thành viên của xã hội” [Taylor,

1989, tr 18]

Văn hóa và sức mạnh trong Quan hệ Quốc tế đã có từ rất lâu và có mối quan hệ mật thiết với nhau Khi những nét văn hóa của một quốc gia được phổ biến và chấp nhận rộng rãi, có sức hấp dẫn đối với quốc gia khác, lôi cuốn được các chủ thể khác thì quốc gia đó sẽ tăng cường khả năng đạt được mục đích mong muốn và như thế nghĩa

là sức mạnh mềm của quốc gia được phát huy tác dụng Trên thực tế, trong các bài viết

về sức mạnh mềm của Joseph S Nye việc nhìn nhận văn hóa như một nguồn lực của

khẳng định một cách thẳng thắn: “văn hóa là sức mạnh” [Johns., 2017, tr 375] Tầm quan trọng của văn hóa như một nguồn lực quan trọng để tạo nên sức mạnh mềm được thể hiện trong chính sách của các quốc gia lớn hiện nay L Belanger đã nhấn mạnh văn hóa là trụ cột thứ ba trong chính sách đối ngoại của Canada ngoài trụ cột kinh tế

và trụ cột an ninh Xã hội dân sự cũng góp phần làm cho văn hóa trở thành một bộ phận trong chính sách đối ngoại của Canada [Belanger, 1999, tr 677 - 699] Hay trong

Trang 37

vấn đề của Mỹ, do lo ngại về cộng đồng người gốc Trung Quốc sống ở Mỹ E.D Wu

đã nêu rõ chính sách của Mỹ nhắm vào những người Mỹ nổi tiếng như Betty Lee Sung – một thành viên của đài tiếng nói Hoa Kỳ (Voice of America) – và các nghệ sĩ nổi tiếng gốc Trung Quốc khác như Jade Snow Wong và Dong Kingman để xây dựng hình ảnh của Mỹ trong các cộng đồng người Trung Quốc sống ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương [Wu, 2013, tr 391-422] Ngày nay, thương hiệu còn được nhìn nhận như đại diện cho sức mạnh, niềm tự hào của quốc gia Ví dụ như Coca-Cola đã là thức uống được lựa chọn trong nhiều thập kỷ, nó không chỉ là một thứ giải khát thuần túy,

mà đã trở thành một phần bản sắc văn hóa Mỹ, hay thanh thiếu niên từ Malaysia đến Maroc sẽ không hoàn thiện nếu không có đôi giày Nike của họ; mỗi sản phẩm đều là sản phẩm hướng đến “xã hội tiêu dùng đại chúng” trên toàn cầu Và mỗi sản phẩm đã trở thành một biểu tượng cho sự hiện diện của văn hóa Mỹ, lối sống Mỹ và ý thức hệ

tư bản chủ nghĩa kiểu Mỹ

Chính vì thế, văn hóa được xem là một hình thức sức mạnh mềm của quốc gia Văn hóa được sử dụng như công cụ để tạo động lực cho việc nâng cao sức mạnh mềm

và sức mạnh quốc gia Văn hóa còn là phương tiện gây ảnh hưởng, đem theo các giá trị và quan điểm chính trị có lợi cho nước phổ biến văn hóa Ảnh hưởng của văn hóa còn tạo nên sức hấp dẫn của văn hóa Vì thế ngoại giao công chúng xuất khẩu văn hóa, phổ biến ngôn ngữ ra nước ngoài thường nằm trong chính sách của các quốc gia, nhất

là các quốc gia lớn Hơn thế nữa, văn hóa được dùng như phương tiện lôi kéo, tập hợp lực lượng nhằm đạt mục tiêu và là chất xúc tác cho sự liên hiệp các quốc gia làm gia tăng sức mạnh tập thể và sức mạnh quốc gia

Rõ ràng, văn hóa ngày càng được xem là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế

- xã hội, có mối gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển kinh tế - xã hội; hơn thế, văn hóa còn được xác định là sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Những năm gần đây, trong bối cảnh thế giới hội nhập nhanh, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các quốc gia - dân tộc diễn ra ngày càng mạnh mẽ Bên cạnh những tác động tích cực,

nó cũng tạo ra những nguy cơ đối với sự phát triển bền vững xã hội, từ sự mai một và những biến đổi theo chiều hướng tiêu cực trong văn hóa Do vậy, một trong những

Trang 38

nhiệm vụ được các quốc gia ngày càng coi trọng đó là gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống

b) Hệ giá trị chính trị

Hệ giá trị chính trị là nguồn lực chính thứ hai của sức mạnh mềm Dựa vào tầm quan trọng của các giá trị theo mô hình sức mạnh mềm của mình, Joseph S Nye đã nhấn mạnh rằng: “các giá trị mà một Chính phủ ủng hộ trong hành vi của mình (ví dụ quốc gia dân chủ), trong các thể chế quốc tế (làm việc với những người khác), và trong chính sách đối ngoại (thúc đẩy hòa bình và nhân quyền) ảnh hưởng mạnh đến các lợi ích của người khác” [Nye, 1990, tr 14] Theo ông, các hệ giá trị (chính trị) như một nguồn lực của sức mạnh mềm là các hệ tư tưởng, đường lối chính trị mà một quốc gia hướng đến bên trong quốc gia và các quan điểm, lập trường mà quốc gia đó thể hiện trên trường quốc tế Bộ ba nguồn lực sức mạnh mềm này được hầu hết các nhà nghiên cứu chấp nhận và chia sẻ rộng rãi Đồng quan điểm với Joseph S Nye, Craig Hayden – Giáo sư chuyên ngành truyền thông quốc tế tại American University đã lập luận rằng

“văn hóa, lý tưởng chính trị và tính hợp pháp của chính sách đối ngoại” là ba nguồn lực cấu thành của sức mạnh mềm [Hayden, 2012, tr 29].Trong các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các giá trị (chính trị) như một nguồn sức mạnh mềm, Joseph S Nye đã phân tích ba khía cạnh của nguồn lực hệ giá trị chính trị cấu thành nên sức mạnh mềm là: các giá trị trong nước, các giá trị có được trong hợp tác giữa các quốc gia và các giá trị được ủng hộ trong chính sách đối ngoại của một quốc gia

Thứ nhất, ở cấp độ trong nước, một hệ thống giá trị chính trị được sự ủng hộ, tán thành của người dân là một nguồn lực mạnh mẽ của sức mạnh mềm Xét ở khía cạnh đối nội, các hệ giá trị, tư tưởng chính là nguồn sức mạnh tinh thần có thể lôi cuốn

và hướng các cá thể vào sự nghiệp chung Các hệ giá trị, tư tưởng còn là nền tảng cho chính sách, nên tư tưởng đúng hay sai cũng ảnh hưởng nhiều đến chính sách Ngoài

ra, các hệ giá trị và tư tưởng trong nước còn là công cụ để lôi kéo, mở rộng ảnh hưởng của quốc gia đó Ví dụ như các nước phương Tây cố gắng tuyên truyền cho tư tưởng dân chủ, nhân quyền của mình qua các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin hiện đại thông qua các hoạt động kinh tế và hoạt động phi lợi nhuận như giáo dục, tài trợ, viện trợ,….Mặc khác, một hệ thống giá trị dân chủ

Trang 39

và các giá trị liên quan như tự do, bình đẳng, công lý hoặc nhân quyền tạo ra sức hút mạnh mẽ và là những yếu tố quan trọng bậc nhất tạo nên sức mạnh mềm của một quốc gia Để hình dung rõ hơn về sức hấp dẫn của một hệ thống chính trị dân chủ qua Lý thuyết Nam châm (“Magnettheorie”) Trong giai đoạn nước Đức bị chia cắt, nền dân chủ Tây Đức có một niềm tin mạnh mẽ rằng sẽ lôi cuốn được Cộng hòa dân chủ Đức

để gia tăng dân chủ hóa và cuối cùng kết quả là một đất nước Đức thống nhất và hòa bình đã được thành lập [Mayer, 1986, tr 233]

Thứ hai, theo đuổi cách tiếp cận đa phương trong giao dịch với các quốc gia khác thay vì nhất quán theo đuổi các cuộc chạy đua đơn phương có thể được coi là một thành phần quan trọng của sức mạnh mềm dựa trên các hệ giá trị (chính trị) Trong tác phẩm Ràng buộc để dẫn dắt Bản chất sức mạnh đang thay đổi của Mỹ (Bound to Lead: The Changing Nature of American Power), Joseph S Nye đã nhấn mạnh việc sử dụng chủ nghĩa đa phương và tăng cường các thể chế quốc tế là rất quan trọng [Nye, 1990] Gần đây hơn, Joseph S Nye đã bổ sung thêm quan điểm của mình rằng, “Vì đồng tiền của sức mạnh mềm là sự hấp dẫn dựa trên các giá trị được chia sẻ cũng như nghĩa vụ của những người khác là đóng góp vào các chính sách phù hợp với những giá trị được chia sẻ đó, tham vấn đa phương có nhiều khả năng tạo ra sức mạnh mềm hơn

là sự khẳng định đơn phương về các giá trị [Nye, 1990, tr 64] Các học giả khác, chẳng hạn như Su Changhe, đồng ý với quan điểm của Joseph S Nye về tầm quan trọng của thái độ của một quốc gia đối với chủ nghĩa đa phương Ông đã lập luận rằng,

“một quốc gia càng tuân thủ các quy tắc và chuẩn mực quốc tế, thì danh tiếng và vốn

xã hội của quốc gia đó càng có thể tạo ra trong xã hội quốc tế” [Changhe, 2013, tr 551] Các tổ chức và các diễn đàn quốc tế là nơi các quốc gia lên tiếng và phát huy uy tín của mình Các thể chế quốc tế là phương tiện để các quốc gia thiết lập mối quan hệ với nhau, từ đó tạo nên sức mạnh bắt nguồn từ sự gắn bó lẫn nhau giữa các thành viên trong cùng tổ chức Do đó, để tăng cường vị thế sức mạnh mềm của mình, các quốc gia đã tính đến việc thỏa thuận các hiệp ước và các tổ chức đa phương Trong số các tổ chức đa phương hiện nay thì Liên Hiệp Quốc là một trong những tổ chức đa phương chiếm vị thế ưu việt trên thế giới

Trang 40

Cuối cùng, việc ủng hộ các giá trị trong chính sách đối ngoại của một quốc gia

là một hình thức sức mạnh mềm bắt nguồn từ nguồn lực của các hệ giá trị (chính trị)

Ví dụ minh họa về chính sách đối ngoại dựa trên giá trị dựa trên việc “ngoại giao thích hợp” của các quốc gia như NaUy hay Canada Cả hai quốc gia đều cam kết giữ gìn hòa bình và nhân quyền, do đó đã thành công trong việc tăng cường ảnh hưởng của mình trên quốc tế Vì thế, hai quốc gia này mặc dù yếu kém về mặt quân sự nhưng sức mạnh mềm của hai quốc gia này phát triển đáng kể và bù đắp cho những thâm hụt của mình

về sức mạnh cứng

c) Chính sách đối ngoại

Chính sách đối ngoại có uy tín và có đạo đức là nguồn lực quan trọng của sức mạnh mềm Sức hấp dẫn của một quốc gia phụ thuộc vào việc triển khai các chính sách đối ngoại cũng như những giá trị mà chính sách ngoại giao muốn truyền tải Joseph S Nye cho rằng các chính sách được ủng hộ bởi Chính phủ cả trong và ngoài nước tạo thành nguồn lực thứ ba của sức mạnh mềm [Nye, 1990, tr 13] Một ví dụ điển hình như chính sách đối ngoại của Nga tại Trung Đông trong những năm qua Ngoài sức mạnh cứng, Nga sử dụng sức mạnh mềm ngoại giao thân thiện, gắn với lợi ích chính trị và kinh tế chung Do đó, Nga ngày càng có sự ảnh hưởng trong quan hệ với các nước trong khu vực, khẳng định là một nhân tố không thể thiếu để tạo lập sự

ổn định và phát triển trong khu vực Thời gian qua, Nga đã tích cực, chủ động tham gia giải quyết các cuộc khủng hoảng ở Trung Đông như một đối tác trung gian tích cực, tin cậy và có trách nhiệm, trong đó có vấn đề hồ sơ hạt nhân Iran, khủng hoảng ở Yemen, Libya, xung đột Israel - Palestine và đặc biệt là thúc đẩy các giải pháp chính trị cho cuộc khủng hoảng Syria Thông qua việc đề xuất các giải pháp hòa bình, sử dụng sức mạnh mềm ngoại giao linh hoạt, cách tiếp cận cân bằng, khéo léo, Nga đã và đang thể hiện như một quốc gia không những có khả năng dàn xếp, tháo gỡ nút thắt cho những vấn đề tồn tại trong khu vực, mà còn là đối tác có uy tín và vị thế đáng kể ở Trung Đông hiện nay

Như vậy, sức mạnh mềm cũng là một loại sức mạnh tổng hợp, được cấu thành

từ nhiều yếu tố khác nhau Sức mạnh mềm không phải là một thực thể tĩnh mà là một quá trình động, trong đó các nhân tố tạo nên sức mạnh mềm bổ sung, hỗ trợ và tương

Ngày đăng: 22/08/2023, 02:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Báo cáo chỉ số sức mạnh mềm toàn cầu (Brand Finance Global Soft Power - Ngoại Giao Văn Hóa Ấn Độ Trong Những Năm Đầu Của Thế Kỷ Xxi Pdf
Hình 1.1 Báo cáo chỉ số sức mạnh mềm toàn cầu (Brand Finance Global Soft Power (Trang 34)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm