Mục đích nghiên cứu
Đề tài “Dừa trong đời sống văn hóa người Việt ở Bến Tre” nhấn mạnh vai trò quan trọng của dừa trong đời sống của cư dân địa phương Nghiên cứu khẳng định rằng có một nền “văn hóa dừa” đặc trưng, phản ánh màu sắc riêng biệt của Bến Tre mà không nơi nào có được Nhiều ý kiến cho rằng việc gọi là “văn hóa dừa” có thể quá cường điệu và thiếu thuyết phục, vì khi nhắc đến Bến Tre, người ta thường liên tưởng đến các loại trái cây đặc sản như bưởi, sầu riêng Tuy nhiên, việc gọi “văn hóa dừa” vẫn phù hợp để thể hiện giá trị văn hóa độc đáo của loại quả này gắn bó mật thiết với đời sống và nét đẹp truyền thống của Bến Tre.
Bến Tre vẫn giữ nguyên nét văn hóa truyền thống liên quan đến cây dừa một cách mạnh mẽ đến ngày nay, phản ánh tầm quan trọng của cây dừa trong đời sống và bản sắc địa phương Sự khác biệt về môi trường sống giữa Tiền Giang và Bến Tre, mặc dù chỉ cách nhau một cây cầu Rạch Miễu, thể hiện rõ nét qua hai cảnh quan đối lập: một bên là đô thị Mỹ Tho sầm uất, nhộn nhịp về đêm, còn bên kia là rừng dừa Bến Tre yên bình, ẩn sâu trong bóng tối và trầm lắng Điều này phản ánh sự đa dạng về cảnh quan, văn hóa và cách phát triển của hai khu vực dù gần nhau về địa lý.
Điều kiện địa lý tự nhiên bị bao bọc bởi sóng nước và hoàn toàn cô lập từ lâu đã ảnh hưởng đến sự phát triển văn hóa của khu vực, khiến nó dường như ngưng đọng và ít biến đổi Nguyên nhân chính là cầu Rạch Miễu mới được hoàn thành năm 2009 đã giúp kết nối khu vực này với thế giới bên ngoài Người dân nơi đây mang tâm tính hướng nội và bảo thủ, vẫn giữ nguyên các hoạt động sinh kế và sinh hoạt gắn liền với cây dừa từ nhiều thế hệ Sự cố định trong lối sống và hoạt động kinh tế này phản ánh rõ nét về ảnh hưởng của địa lý đến sự bảo tồn văn hóa truyền thống.
Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về Bến Tre đã được đề cập trong nhiều công trình từ các lĩnh vực địa lý, lịch sử, chính trị, xã hội đến kinh tế, văn hóa, thể hiện qua các hội thảo, chuyên luận, luận văn, bài báo và tham luận Tuy nhiên, phần lớn các công trình này tập trung vào các khía cạnh rộng, bao quát toàn diện về Bến Tre mà chưa xem xét riêng biệt và nhất quán về vai trò của dừa như một đối tượng nghiên cứu chính Nếu có đề cập riêng về dừa, đó thường là các bài báo ngắn giới thiệu hoặc bài tham luận chứ chưa phải các công trình nghiên cứu chuyên sâu, vận dụng lý thuyết một cách bài bản Dựa trên tư liệu sẵn có, chúng tôi xin Tổng hợp các công trình nghiên cứu tiêu biểu về đề tài này.
- Công trình nghiên cứu về tỉnh Bến Tre
Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam từ năm 1757 đến năm 1945 là một chủ đề quan trọng được khai thác trong công trình của Nguyễn Duy Oanh với mục đích làm sử học, tập trung vào tiểu sử các danh nhân và các sự kiện lịch sử nổi bật Tác giả nhấn mạnh sự đa diện của tỉnh qua các phương diện như hình thể, nhân văn, hành chính, kinh tế, giáo dục, y tế, văn chương và các nhân vật lịch sử tiêu biểu Qua đó, sách cung cấp một cái nhìn toàn diện và chi tiết về quá trình phát triển của tỉnh Bến Tre, đồng thời nhấn mạnh giá trị của các vị tiền nhân trong bối cảnh lịch sử đất nước.
Cuốn "Địa chí Bến Tre" do Thạch Phương và Đoàn Tứ chủ biên (2001) cung cấp một cái nhìn toàn diện về các đặc điểm tự nhiên, dân cư, lịch sử, kinh tế và văn hóa của tỉnh Bến Tre Trong phần thứ tư, tác giả trình bày về văn hóa Bến Tre, giúp người đọc hiểu rõ về nét đặc trưng và phong phú của nền văn hóa địa phương Các phân tích chi tiết về đặc điểm tự nhiên, xã hội và kinh tế của Bến Tre là những đóng góp quý báu, góp phần làm rõ hơn về đặc thù của tỉnh này.
Kiến Hòa (Bến Tre) xưa là một khu vực có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, nổi bật với đặc điểm địa lý tự nhiên phong phú và đa dạng Theo tác phẩm của Huỳnh Minh (2001), vùng đất này lưu giữ nhiều di tích lịch sử quý giá, phản ánh quá trình phát triển của cộng đồng qua các thời kỳ Các nhân vật lịch sử và tín ngưỡng của người dân Kiến Hòa thể hiện nét đặc trưng văn hóa đặc sắc của vùng đất Bến Tre xưa Tham khảo nội dung này giúp hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của địa phương, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa lịch sử lâu dài của miền đất này.
Văn hóa Dân gian Bến Tre (2014) của Nguyễn Chí Bền là nguồn tài liệu quý giá nghiên cứu bốn hiện tượng tiêu biểu của địa phương Trong đó, tác giả đặc biệt phân tích các lễ hội ở đình làng thể hiện nét văn hóa truyền thống đặc sắc của cộng đồng Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến tục thờ cúng cá voi của cư dân các xã ven biển, phản ánh mối quan hệ gắn bó và tín ngưỡng của người dân nơi đây Các hoạt động hát sắc bùa ở Phú Lễ cũng là một nét đẹp văn hóa đặc trưng, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc Cuối cùng, Nguyễn Chí Bền giới thiệu truyện ông Ó như một phần không thể thiếu trong kho tàng truyền thống dân gian Bến Tre, thể hiện giá trị tâm linh và truyền thống lâu đời của địa phương.
Tinh hoa Văn hóa Bến Tre (2012) của Lư Hội & Xuân Quang nhấn mạnh giá trị đặc sắc của văn hóa truyền thống địa phương, bao gồm các đình làng gắn liền với tín ngưỡng và lễ hội độc đáo Bài viết cũng giới thiệu nghệ thuật truyền thống và phong cách ẩm thực đa dạng của Bến Tre, nổi bật là các món bánh đặc sản như bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, bánh dừa Giồng Luông Những nét văn hóa này góp phần giữ gìn bản sắc đặc trưng của vùng đất Bến Tre và thu hút du khách yêu thích nét đẹp truyền thống Việt Nam.
Dừa đóng vai trò quan trọng trong văn hóa ẩm thực Bến Tre, góp phần vào đời sống và phong cách ẩm thực của địa phương Cây dừa Bến Tre không chỉ nổi bật về mặt cảnh quan mà còn là nguồn nguyên liệu chủ lực trong các sản phẩm bánh mứt truyền thống Dừa còn được sử dụng để chế biến nhiều món canh, tạo nên hương vị đặc trưng của ẩm thực Bến Tre Ngoài ra, dừa còn góp phần vào sự phong phú của các món ăn trong chế biến hàng ngày, thể hiện sự đa dạng và nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực vùng đất này.
Văn học dân gian Bến Tre do Nguyễn Ngọc Quang chủ biên giới thiệu những nét đặc trưng của văn học dân gian địa phương, bao gồm các thể loại như tục ngữ, ca dao, dân ca, câu đố, vè, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười và truyên ngụ ngôn Tài liệu này được tuyển chọn từ các công trình sưu tầm, điền dã, phản ánh các giá trị văn hóa, truyền thống đặc sắc của người dân Bến Tre qua nhiều thế hệ Đây là nguồn tư liệu phong phú giúp lưu giữ và phát huy giá trị văn hóa dân gian địa phương, góp phần nâng cao nhận thức về bản sắc văn hóa vùng miền.
- Công trình nghiên cứu về Nam Bộ có đề cập đến cây dừa:
1) Nhà ở Trang phục Ăn uống của các Dân tộc đồng bằng sông Cửu Long
Phan Thị Yến Tuyết (1993) tổng hợp các đặc điểm về địa lý, môi trường sinh thái và lịch sử hình thành các cộng đồng dân cư ở Đồng bằng sông Cửu Long Bài viết phản ánh rõ nét về phong tục tập quán của các nhóm người Việt, Khmer, Hoa, Chăm liên quan đến trang phục, nhà cửa, ẩm thực và tín ngưỡng Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của quả dừa trong đời sống văn hóa của người Khmer, đặc biệt trong các nghi lễ và hoạt động hàng ngày, trong khi đối với người Việt, tác giả chỉ đề cập ngắn gọn về tầm quan trọng của nước cốt dừa trong các món bánh dân gian Công trình này cung cấp một tổng quan toàn diện về văn hóa các cộng đồng dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là lĩnh vực ẩm thực và tín ngưỡng.
2) Văn hóa Dân gian Nam Bộ những phác thảo (1997) Nguyễn Phương
Trong bài viết "Miệt vườn và văn hóa miệt vườn Bến Tre," tác giả đã phác thảo rõ nét về sự hình thành nghề làm vườn ở Bến Tre, góp phần làm nổi bật nét đặc trưng của văn hóa dân gian Nam Bộ Bài viết này không chỉ giới thiệu về các hoạt động nông nghiệp truyền thống mà còn thể hiện vai trò quan trọng của miệt vườn trong đời sống cộng đồng địa phương Chuyên đề còn làm rõ mối liên hệ giữa phát triển nghề làm vườn và các yếu tố văn hóa, lịch sử của vùng đất Bến Tre Qua đó, độc giả hiểu thêm về cách thức hình thành và giữ gìn giá trị văn hóa đặc trưng của vùng miền này.
Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, được nghiên cứu bởi Trần Ngọc Thêm và các tác giả khác năm 2014, bao gồm các lĩnh vực như nhận thức, tổ chức, ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, cùng các đặc trưng tính cách của người dân nơi đây Các nghiên cứu này được minh họa phong phú, giúp người đọc hiểu rõ về văn hóa của vùng đất này một cách hệ thống dựa trên chủ thể, không gian và thời gian qua các lĩnh vực địa lý, kinh tế, lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật và sự giao lưu, hòa nhập của các tộc người Đặc biệt, trong phần văn hóa ứng xử với thực vật, trái dừa được chọn làm biểu tượng tiêu biểu của vùng Tây Nam Bộ, thể hiện rõ nét trong văn hóa cây trái của Bến Tre và trở thành biểu tượng đặc trưng của nền văn hóa địa phương.
- Hội thảo khoa học liên quan tới cây dừa Bến Tre:
Cây dừa Việt Nam mang ý nghĩa to lớn về giá trị và tiềm năng phát triển kinh tế, văn hóa và môi trường, như được trình bày trong kỷ yếu hội thảo "Cây dừa Việt Nam – Giá trị và Tiềm năng" (2014) của Võ Văn Sen và các tác giả khác Mặc dù có nhiều bài tham luận về các chủ đề liên quan, nội dung trùng lặp phổ biến đặc biệt về vai trò của cây dừa trong đời sống văn hóa, gây ra một số khó khăn trong việc tổng hợp và nghiên cứu Cuốn sách mở rộng phạm vi nghiên cứu qua các tỉnh trồng dừa trên toàn quốc, cung cấp cái nhìn toàn diện về cây dừa Việt Nam và đặc biệt là cây dừa Bến Tre, nổi tiếng trong các lĩnh vực như nông nghiệp, du lịch, ẩm thực và văn hóa lễ hội Tuy nhiên, do sự đa dạng của các tác giả và nội dung đa dạng nhưng không đồng nhất, việc sử dụng tài liệu này đòi hỏi sự chọn lọc kỹ lưỡng để tránh trùng lặp và tận dụng tối đa các thông tin hữu ích Đối với các đề tài luận văn, đặc biệt phần về vai trò của dừa trong đời sống vật chất và tinh thần, việc nghiên cứu cần chú ý đến những nội dung đã tiết lộ trong kỷ yếu để xây dựng góc nhìn sáng tạo, tránh lặp lại các ý đã đề cập quá nhiều trong tài liệu nguồn.
- Luận văn ngành Văn hóa học liên quan tới cây dừa Bến Tre:
1) Văn hóa Làng nghề dừa ở Châu Thành – Bến Tre (2012) Trần Thị Kim
Luận văn thạc sĩ tập trung vào nghiên cứu diện mạo và đặc điểm của làng nghề dừa Cồn Phụng, nhấn mạnh vai trò của làng nghề này trong đời sống văn hóa địa phương Bài viết phân tích các hoạt động truyền thống, các giá trị văn hóa gắn liền với nghề dừa, đồng thời làm nổi bật tầm quan trọng của làng nghề trong bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng Nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của làng nghề dừa Cồn Phụng trong thúc đẩy du lịch và phát triển kinh tế địa phương.
2) Đời sống văn hóa của cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre (2015) Trần Thị
Ngọc Thoại thực hiện luận văn thạc sĩ về văn hóa mưu sinh của cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre, tập trung vào các nghề truyền thống như nghề làm vườn dừa, cây ăn trái, sản xuất cây giống và hoa kiểng Ngoài ra, nghiên cứu còn bao gồm các nghề khác như trồng lúa, hoa màu, thủ công, chăn nuôi gia súc, gia cầm và buôn bán, phản ánh đa dạng hoạt động kinh tế của cư dân địa phương Luận văn phân tích các hoạt động văn hóa vật thể như ẩm thực, phục sức, cư trú, phương tiện giao thông, cùng các hoạt động phi vật thể như tổ chức cộng đồng, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, lễ hội và văn học nghệ thuật Đề tài có phạm vi rộng, đề cập đến nhiều khía cạnh văn hóa chung của Bến Tre, trong đó các nét văn hóa liên quan đến cây dừa không phải là đối tượng nghiên cứu chính của luận văn.
Hiện nay, vẫn thiếu một nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống và nhất quán về cây dừa ở Nam Bộ, đặc biệt là tại Bến Tre Nghiên cứu của chúng tôi hy vọng sẽ góp phần vào việc nhận diện nét văn hóa đặc trưng và độc đáo của cư dân xứ dừa Bến Tre Thông qua luận văn này, chúng tôi mong muốn làm rõ vai trò và ý nghĩa của cây dừa trong đời sống cũng như bản sắc văn hóa của vùng đất này.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Để thực hiện luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
Hướng tiếp cận liên ngành là phương pháp tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó xác định ngành nghiên cứu chính và các ngành bổ trợ để nâng cao hiệu quả nghiên cứu Trong luận văn này, chúng tôi xác định ngành Văn hóa học là lĩnh vực chính, kết hợp với các ngành bổ trợ như nhân học, văn học, địa lý, lịch sử, kinh tế, du lịch và nông nghiệp để xây dựng cái nhìn toàn diện và sâu sắc về đề tài.
Phương pháp quan sát tham dự kết hợp trải nghiệm sống thực tế là một kỹ thuật đòi hỏi người nghiên cứu phải tiếp cận trực tiếp cộng đồng, thâm nhập vào môi trường sinh sống của họ để hiểu rõ đối tượng nghiên cứu và thu thập nguồn tư liệu đáng tin cậy Áp dụng phương pháp này, chúng tôi đã trực tiếp tham gia các lễ hội như lễ hội dừa Bến Tre (2019), lễ cúng đình Phú Lễ Ba Tri (2019), đi thuyền trên sông Thom để tham quan các cơ sở chế biến dừa và các làng nghề thủ công truyền thống như làng đan giỏ cọng dừa, ươm dừa giống ở cồn Ốc, xã Hưng Phong, hay làng nghề mỹ nghệ dừa ở cồn Phụng, xã Tân Thạch Thêm vào đó, trong những năm trước, tác giả đã dành thời gian sinh sống lâu dài cùng gia đình người dân địa phương sống bằng nghề thu mua dừa khô tại Sóc Sãi, Hàm Long, huyện Châu Thành, sinh hoạt cùng ăn, cùng ở, cùng làm với cư dân, giúp tích lũy kiến thức hiểu biết sâu sắc về đối tượng nghiên cứu.
Chúng tôi đã tập hợp nguồn tư liệu phong phú từ nhiều nguồn khác nhau để thực hiện luận văn, bao gồm các tài liệu lý luận ngành Văn hóa học, Nhân học, và các công trình của tác giả trong và ngoài nước đã công bố Các số liệu thống kê, niên giám, sách báo liên quan đến đề tài được truy cập từ thư viện và các trang web uy tín, sau đó được chọn lọc để làm minh chứng cho nghiên cứu Ngoài ra, đề tài còn dựa trên các nguồn tư liệu từ quan sát thực tế và cuộc sống hàng ngày của cư dân địa phương, đặc biệt trong quá trình điền dã và sinh sống tại Bến Tre của tác giả, giúp nghiên cứu thêm phần sinh động, chân thực.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Về mặt khoa học, nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh thái văn hóa để hiểu rõ sự thích nghi và thích ứng của cộng đồng cư dân trong môi trường sinh thái rừng dừa sông nước ở Bến Tre Phân tích dựa trên tri thức dân gian và tri thức bản địa giúp sáng tạo nên những sắc thái văn hóa đặc trưng, góp phần vào vốn tri thức văn hóa đa dạng và phong phú của Việt Nam.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là tình hình bão lũ, hạn hán, xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh ven biển như Bến Tre chịu tác động nặng nề nhất Việc hiểu rõ cư dân Bến Tre đã trân trọng cây dừa, tận dụng và ứng xử hợp lý với cây dừa giúp chúng ta phát huy truyền thống này để đối phó với biến đổi khí hậu Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế địa phương.
Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành ba chương:
Chương 1 trình bày các khái niệm cơ bản về văn hóa và môi trường, đồng thời phân tích mối quan hệ giữa chúng trong bối cảnh phát triển bền vững Lý thuyết sinh thái văn hóa được giới thiệu như một nền tảng để hiểu sự ảnh hưởng giữa con người và môi trường, đặc biệt trong quá trình hình thành nghề trồng dừa ở Bến Tre Cơ sở thực tiễn nhấn mạnh vai trò của mối liên hệ này trong việc duy trì và phát triển ngành trồng dừa tại địa phương.
Chương 2: Dừa đóng vai trò thiết yếu trong đời sống sinh kế của cộng đồng, đặc biệt qua hoạt động trồng, chăm sóc và thu hoạch dừa trong vườn dừa Ngoài ra, sinh kế còn mở rộng tại chợ dừa Sông Thom, nơi thu mua, chế biến và thương mại các sản phẩm từ dừa, góp phần tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương.
Chương 3: Dừa trong đời sống văn hóa (dừa trong đời sống vật chất và dừa trong đời sống tinh thần).
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Khái niệm văn hóa, môi trường, mối quan hệ giữa văn hóa - môi trường và sinh thái văn hóa
- môi trường và sinh thái văn hóa
Đến nay, có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa, phản ánh sự đa dạng trong các thực tiễn và mục đích sử dụng khác nhau Điều này cho thấy, người ta thường lựa chọn hoặc đưa ra các khái niệm phù hợp để dễ dàng diễn giải và thao tác trong nghiên cứu hoặc giao tiếp về văn hóa.
Khái niệm văn hóa của Tylor trong cuốn “Văn hóa Nguyên thủy” (1871) vẫn mang tính kinh điển và phù hợp trong nghiên cứu văn hóa, mô tả văn hóa như “một toàn thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục và tất cả các năng lực, tập quán mà con người học hỏi với tư cách là thành viên xã hội” (Trần Ngọc Thêm, 2018, tr.17) Ngoài ra, Federico Mayor định nghĩa văn hóa là “tất cả những gì làm cho dân tộc này khác biệt so với dân tộc khác, từ các sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” (Trần Ngọc Thêm, 2018, tr.18) Các khái niệm này đều nhấn mạnh tính đa dạng và toàn diện của văn hóa trong đời sống con người.
Trong văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm mô tả văn hóa như một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua hoạt động thực tiễn, trong tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội Đối với luận văn về mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường, tác giả chọn khái niệm văn hóa theo quan điểm nhân học, nhấn mạnh rằng văn hóa là thành quả của quá trình lao động sản xuất, bị ảnh hưởng bởi môi trường tự nhiên, xã hội và đặc điểm dân tộc.
Khái niệm môi trường mang tính tương đối, phụ thuộc vào quan điểm thế giới của xã hội và cách định nghĩa của từng cộng đồng Môi trường của một dân tộc chỉ có ý nghĩa khi đặt trong mối quan hệ với chính dân tộc đó, và trong nghĩa này, môi trường tồn tại cùng sự phát triển của dân tộc, xung quanh và bên trong cộng đồng đó.
Trong quan niệm của khoa học duy lý phương Tây, môi trường được xem là tất cả những yếu tố khách quan xung quanh con người, có thể cấu trúc và tái tạo theo ý muốn của con người Ngược lại, các xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn, như xã hội nguyên thủy hoặc bản địa, coi môi trường là thế giới linh thiêng, trong đó mọi vật như cỏ cây, đất đai, núi rừng đều có linh hồn và mối liên hệ mạnh mẽ với con người Các xã hội này giải thích các hiện tượng môi trường như hạn hán, bão lụt bằng các nguyên nhân siêu nhiên, ví dụ như Long vương bị say rượu hoặc sổ mũi gây ra thiên tai, khác hẳn với phương pháp đo đạc và phân tích khoa học hiện đại Suy nghĩ này thể hiện thế giới quan hữu thần, coi môi trường là thực thể có ý thức và giao tiếp với con người qua các hiện tượng tự nhiên.
Do quan niệm về môi trường khác nhau, nhận thức, thái độ và hành vi của con người ở các nền văn hóa cũng sẽ đa dạng Trong đó, tác giả sử dụng quan niệm thứ hai về môi trường để nhấn mạnh mối quan hệ gắn kết, ứng xử hợp tình hợp lý giữa con người và tự nhiên, góp phần thúc đẩy ý thức bảo vệ môi trường trong các cộng đồng.
1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường
Nghiên cứu của Đào Duy Anh nhấn mạnh rằng cách sinh hoạt của con người, tức là văn hóa, có mối quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên Vì vậy, để hiểu rõ văn hóa của một dân tộc, cần phải nghiên cứu hoàn cảnh tự nhiên của dân tộc đó Mối liên hệ giữa văn hóa và môi trường đóng vai trò then chốt trong việc hình thành và phát triển các đặc điểm văn hóa của từng cộng đồng Đồng thời, môi trường tự nhiên ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động sinh hoạt, truyền thống và phong tục tập quán của các dân tộc.
Thiên nhiên Việt Nam đóng vai trò là điểm xuất phát của văn hóa Việt Nam, phản ánh sự thích nghi và biến đổi của con người trước những thử thách của tự nhiên Theo nhà sử học Trần Quốc Vượng, văn hóa chính là kết quả của những phản ứng và cách trả lời của con người đối với các thách đố từ thiên nhiên, thể hiện sự sinh tồn và phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên đặc trưng của Việt Nam.
Theo định nghĩa của tác giả Trần Ngọc Thêm, văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn Ông cũng nhấn mạnh rằng mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường là yếu tố cốt lõi, thể hiện qua tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Điều này cho thấy rằng việc phát triển văn hóa không thể tách rời khỏi môi trường, mà luôn gắn liền với quá trình tương tác và thích nghi với hoàn cảnh tự nhiên cũng như xã hội.
* Văn hóa được quy định bởi môi trường
Môi trường tự nhiên luôn đóng vai trò quyết định đến văn hóa và đặc điểm con người, là sản phẩm của môi trường sống Các nhà triết học, y học Hy Lạp cổ đại như Hippocrates và Aristotle đã dựa vào yếu tố khí hậu để giải thích sự khác biệt về thể chất, khí chất và thể chế chính trị của các quốc gia, nơi khí hậu lạnh thường liên quan đến nền chính trị vững mạnh, trong khi khí hậu khô nóng hay khô cằn gây ra xu hướng hiếu chiến và xã hội kém phát triển Thucydides nhấn mạnh rằng sự khác biệt về địa hình và khí hậu dẫn đến sự hình thành các đặc điểm xã hội riêng biệt, qua đó cho thấy môi trường tự nhiên là yếu tố mang tính quyết định trong đời sống con người từ cổ đại đến thế kỷ 20.
Môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người, thể hiện rõ qua các nhu cầu sinh tồn như ăn, mặc, ở, vốn bắt nguồn từ mối quan hệ trực tiếp giữa con người và môi trường Những đặc điểm trong đời sống sơ khai như cách sinh hoạt, nhà ở, trang phục vẫn còn phản ánh trong văn hóa ngày nay; ví dụ, nhà của người Eskimo ở vùng băng giá khác xa so với nhà của người Sa mạc, hay văn hóa chăn nuôi du mục của người Mông Cổ khác biệt so với nền nông nghiệp lúa nước của người Việt Nam Trang phục của người vùng Tây Tạng phù hợp với khí hậu lạnh giá, trong khi đó, trang phục của người Ấn Độ chịu ảnh hưởng của khí hậu nóng nắng, cho thấy rõ sự ảnh hưởng của môi trường đến đời sống và văn hóa của các cộng đồng dân cư.
Môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến cách con người kiếm sống, với cư dân đảo săn bắt cá, cư dân thảo nguyên chăn nuôi, và cư dân rừng săn bắn, hái lượm Quá trình lao động tạo ra của cải vật chất và hình thành các phương thức sản xuất riêng biệt của từng xã hội Các phương thức sản xuất này sau đó quy định văn hóa của xã hội đó, thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa môi trường, hoạt động sản xuất và sự phát triển văn hóa Như vậy, môi trường đóng vai trò gián tiếp trong việc quyết định sự hình thành và phát triển của nền văn hóa xã hội.
Môi trường ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người, tác động đến tâm trí và tư duy Ví dụ, thiên đường của Tây Tạng được mô tả là ấm áp và sáng sủa do người Tây Tạng chịu lạnh nhiều, họ mong muốn một thiên đường tràn ngập ánh mặt trời và sự ấm áp để có thể tắm rửa mỗi ngày Ngược lại, địa ngục Tây Tạng lại là nơi băng giá cùng cực, phản ánh tác động của khí hậu đối với cảm xúc và suy nghĩ Trong khi đó, thiên đường của Ấn Độ lại mát mẻ, trong lành và tràn ngập gió mát, với những cây to bóng mát đến nỗi hàng nghìn xe bò có thể nghỉ ngơi dễ dàng, tượng trưng cho mong ước về bóng râm và mát mẻ của người Ấn Độ Quan niệm về cõi trời của Ấn Độ là nơi có khí hậu dễ chịu, còn địa ngục thì ngập tràn lửa và khắc nghiệt, phản ánh mối liên hệ giữa môi trường và cảm xúc tâm linh của con người.
* Văn hóa tác động trở lại môi trường
Trên thế giới có nhiều nền văn hóa có thế ứng xử với môi trường tự nhiên khác nhau, nhưng có thể phân làm 2 loại chính như sau:
Loại văn hóa thứ nhất thường đối lập với tự nhiên, đề cao vai trò của con người và coi con người là trung tâm của thế giới Nó tin rằng con người có khả năng chế ngự, khắc chế tự nhiên, khai thác và sử dụng triệt để tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích của con người Tuy nhiên, cách tiếp cận này dẫn đến các vấn đề như tàn phá rừng và săn bắt động vật hoang dã, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và hệ sinh thái toàn cầu.
Loại văn hóa thứ hai sống hòa hợp với tự nhiên và ứng xử hợp tình hợp lý dựa trên thuyết "vạn vật hữu linh", không coi văn hóa đối lập với tự nhiên Nền văn hóa này không chỉ thúc đẩy các hành vi và tư tưởng tôn trọng môi trường mà còn sinh ra khối lượng kiến thức về môi trường, chính là tri thức bản địa đáng khâm phục.
Cơ sở hình thành nghề trồng dừa ở Bến Tre
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
Bến Tre là một trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nằm trên hạ nguồn sông Mekong với diện tích tự nhiên 2.315 km², hình thành từ ba cù lao lớn gồm cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh, được phù sa bồi tụ từ bốn nhánh sông Cửu Long Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang qua sông Tiền, phía nam giáp Trà Vinh, phía tây giáp Vĩnh Long qua sông Cổ Chiên, và phía đông là biển Đông với chiều dài bờ biển khoảng 65 km Nhìn từ trên cao, Bến Tre có hình dáng như một tam giác cân với cạnh đáy hướng ra biển, mang nét đặc trưng của vùng đất phù sa màu mỡ ven biển miền Tây Nam Bộ.
Bến Tre nằm giữa hai con sông lớn là sông Tiền và sông Cổ Chiên, tạo thành một vùng đất đặc biệt của Đồng bằng sông Cửu Long Đây là một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng hàng nghìn năm qua, hình thành từ các cù lao lớn tại cửa sông Cửu Long Các cù lao này ban đầu là các đảo nhỏ do phù sa lắng đọng tại cửa sông Tiền, sau đó bị các nhánh sông chia cắt và dần dần bị lấp đầy phù sa Quá trình phù sa tích tụ đã dẫn đến việc các cù lao ghép lại với nhau, hình thành nên diện mạo đất đai hiện tại của Bến Tre.
Bến Tre nổi bật với hệ thống sông ngòi phong phú bao quanh, gồm các con sông lớn như Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông và Cửa Cổ Chiên kết nối từ biển Đông ngược về thượng nguồn sông Mekong Hệ thống kênh rạch chằng chịt dài khoảng 6.000 km chảy qua 3 dải cù lao, tạo thành mạng lưới thủy lợi và giao thông thủy quan trọng Những con sông này mang phù sa phù hợp nguồn lợi trong phát triển kinh tế sông, biển và kinh tế vườn, góp phần nâng cao đời sống cộng đồng và thúc đẩy trao đổi hàng hóa hiệu quả với các tỉnh lân cận.
Bến Tre có đặc điểm địa lý tự nhiên khiến nơi đây khá cô lập với thế giới bên ngoài, ba bề đều là sông nước bao quanh và nằm gần biển cả Điều kiện tự nhiên này đã hình thành nên nét đặc trưng của con người đất cù lao, thiên về hướng nội và có phần bảo thủ Tuy nhiên, chính nhờ đặc điểm tự nhiên này, người dân Bến Tre đã giữ gìn và bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của địa phương.
Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Bến Tre (nguồn: Bảo tàng Bến Tre) Đất đai Bến Tre có 4 nhóm chính như sau:
Nhóm đất cát chiếm diện tích 14.248ha, chiếm 6.4% tổng diện tích toàn tỉnh, hình thành nhờ tác động của dòng sông và sóng biển trong quá trình lấn biển của vùng cửa sông Đất cát giồng có đặc điểm ít chua ở tầng mặt, tuy nhiên chứa ít chất hữu cơ, nghèo dinh dưỡng và thiếu đạm Ở một số giồng sát biển, dù bị nước triều lên xuống thường xuyên, nhưng độ mặn trong đất không cao, phù hợp với nhiều hoạt động nông nghiệp bền vững.
Nhóm đất phù sa chiếm diện tích lớn nhất tại Bến Tre với 66.471ha, chiếm 26,9% tổng diện tích toàn tỉnh Hầu hết đất phù sa được hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và lòng sông cũ, đóng vai trò quan trọng trong lịch sử khai thác đất đai của địa phương Thành phần chủ yếu của đất phù sa là sét, thường bị chua ở tầng mặt, và trở nên ít chua hơn khi lớp đất sâu hơn, chuyển dần sang đất sét pha cát.
Nhóm đất phèn chiếm diện tích 15.127ha, chiếm tỷ lệ 6.74% tổng diện tích toàn tỉnh Bến Tre, phân bổ rải rác khắp các khu vực từ vùng ngọt, lợ đến vùng mặn Đặc trưng của đất phèn là tầng phèn thường sâu trên 50cm, gây khó khăn trong quá trình cải tạo để phù hợp với việc trồng trọt.
Nhóm đất nhiễm mặn chiếm diện tích lớn nhất với 96.739ha, chiếm tỷ lệ 43.11% tổng diện tích toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở các huyện ven biển như Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú Những khu vực này thường xuyên bị ngập do thủy triều và mức độ nhiễm mặn thay đổi theo từng năm, gây khó khăn cho phát triển các cây trồng nông nghiệp Tuy nhiên, những vùng nhiễm mặn thấp vẫn thích hợp để trồng cây dừa, mang lại hiệu quả kinh tế ổn định (Thạch Phương & Đoàn Tứ, 2001).
Bến Tre nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25°C đến 28°C, phù hợp cho phát triển nông nghiệp Mặc dù tiếp giáp biển Đông, nhưng do nằm ngoài vĩ độ thấp nên ít bị ảnh hưởng bởi bão, đảm bảo an toàn cho sản xuất và sinh hoạt Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam, tạo ra hai mùa rõ rệt trong năm Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.250mm đến 1.500mm, mang lại điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, cây trồng đa dạng và bền vững.
Trong mùa gió chướng, một trong những trở ngại lớn trong nông nghiệp là nước biển thường xâm nhập sâu vào đất liền, gây nhiễm mặn cho một số vùng trồng trọt Tình trạng này đặc biệt nghiêm trọng khi dòng nước ở thượng nguồn yếu, làm giảm năng suất cây trồng và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp (Thạch Phương & Đoàn Tứ, 2001).
1.2.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội
Dưới đây là các câu chứa ý chính phù hợp với nội dung của đoạn văn, được tối ưu hóa cho SEO:Tiến trình lịch sử của vùng đất Bến Tre mang nét đặc trưng riêng của vùng Nam Bộ hơn 300 năm qua, phản ánh sự phát triển vượt bậc của khu vực này Trước khi có người đến lập nghiệp, Bến Tre và đồng bằng sông Cửu Long còn hoang sơ, sình lầy, hiểm trở như mô tả của Chu Đạt Quan với cảnh đồng cỏ rộng lớn, bầy đàn trâu rừng tụ họp, những con đường dốc làm bằng tre dài hàng trăm lý, cùng với cây mây cao vút và cát vàng, lau sậy trắng tạo nên một cảnh quan hoang sơ đặc trưng của vùng Nam Bộ.
Sơ lược về tiến trình lịch sử của Bến Tre như sau:
Năm 1757, chúa Nguyễn bắt đầu sự cai trị của mình đối với vùng đất này Năm 1759, chúa Nguyễn ban bố lệnh lập làng
Năm 1779, vùng đất cù lao Bảo và cù lao Minh có tên là tổng Tân An, châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định
Năm 1780, dinh Long Hồ đổi tên thành trấn Vĩnh Thanh
Năm 1802, vua Gia Long đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định
Năm 1808, huyện Tân An được thành lập trên cơ sở đổi tên tổng Tân An thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh Huyện Tân An gồm hai tổng là Tân Minh (cù lao Minh) và An Bảo (cù lao Bảo), với tổng cộng 135 thôn, trại, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong hệ thống hành chính địa phương.
Năm 1823, huyện Tân An thăng thành phủ Hoằng An, thuộc trấn Vĩnh Thanh
Năm 1832, Nam Kỳ chia thành 6 tỉnh, vùng đất Bến Tre là phủ Hoằng An nằm trong tỉnh Vĩnh Long
Năm 1837, phủ Hoằng An lại được chia thành 2 phủ: phủ Hoằng An và phủ Hoằng Đạo
Năm 1844, Thiệu Trị đã chính thức đổi tên phủ Hoằng Đạo thành phủ Hoằng Trị, góp phần vào việc chỉnh đốn administrative của triều đình nhà Nguyễn Vùng đất Bến Tre ban đầu thuộc quản lý của cả hai phủ Hoằng An và phủ Hoằng Trị, nằm trong tỉnh Vĩnh Long, thể hiện sự phân chia hành chính rõ ràng của thời kỳ này Đồng thời, cù lao An Hóa thuộc huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường, cũng đóng vai trò quan trọng trong khu vực, góp phần vào mạng lưới đô thị và kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Năm 1867, thực dân Pháp sau khi chiếm Nam Kỳ đã tổ chức bộ máy cai trị thuộc địa, chia Nam Kỳ thành 23 Sở tham biện nhằm quản lý vùng đất này hiệu quả Cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc Sở tham biện Bến Tre, nằm trong hạt Vĩnh Long, trong khi cù lao An Hóa thuộc Sở tham biện Kiến Hòa, thuộc hạt Mỹ Tho, phản ánh cách tổ chức hành chính của Pháp tại Nam Kỳ thời kỳ này.
Ngày 1 tháng 1 năm 1900, toàn quyền Doumer cho áp dụng nghị định ký ngày
Vào ngày 30 tháng 12 năm 1899, các Sở tham biện được đổi tên thành tỉnh, chính thức công nhận Bến Tre là tỉnh mới Trong giai đoạn này, cù lao An Hóa vẫn thuộc tỉnh Mỹ Tho, đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong hành chính của khu vực.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bến Tre được đổi tên là tỉnh Đồ Chiểu trong một thời gian ngắn