Trong quá trình nghiên cứu, với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Minh Hoà, tôi nhận thấy việc bê tông hóa bề mặt toàn bộ Đô thị không phải là một giải pháp bền vững và tối ưu, nhất là đối
Trang 2NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN MINH HÒA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN 5
LỜI CẢM ƠN 6
TÓM TẮT 7
TỪ VIẾT TẮT 9
DANH MỤC BẢNG BIỂU 10
DANH MỤC HÌNH ẢNH 11
PHẦN MỞ ĐẦU 13
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 13
2.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 15
2.1.Tình hình nghiên cứu trong nước 15
2.2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21
3.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 23
4.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 24
5.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 24
5.1.Đối tượng nghiên cứu: 24
5.2.Khách thể nghiên cứu 24
5.3.Phạm vi nghiên cứu 24
6.CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 24
6.1.Câu hỏi nghiên cứu 24
6.2.Phương pháp nghiên cứu 25
7.Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 25
7.1.Ý nghĩa lý luận 25
7.2.Ý nghĩa thực tiễn 26
8.KHUNG PHÂN TÍCH VÀ LOGIC NGHIÊN CỨU 26
9.NHỮNG HẠN CHẾ CỦA LUẬN VĂN 27
10.KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 27
CHƯƠNG I: CÁC KHÁI NIỆM VÀ LÝ THUYẾT 29
1.1.CÁC KHÁI NIỆM 29
1.1.1Đô thị hóa 29
1.1.2Mở rộng bề mặt thành phố 32
1.1.3Cơ sở Hạ tầng – Kỹ thuật 32
Trang 41.2.CÁC LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ LIÊN QUAN ĐẾN BÊ TÔNG HÓA 41
1.2.1.Lý thuyết Phát triển đô thị bền vững 41
1.2.2.Lý thuyết cân bằng sinh thái 42
1.5.1.Chất lượng sống đô thị 46
1.6.SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG BÊ TÔNG Ở VIỆT NAM 48
1.7.LỊCH SỬ ĐÔ THỊ HOÁ Ở TP HCM 52
1.7.1.Đô thị hoá lần thứ nhất từ 1862-1954 52
1.7.2.Đô thị hóa giai đoạn 1954-1975 53
1.7.3.Đô thị hóa giai đoạn 1975- nay 53
CHƯƠNG II: BÊ TÔNG HOÁ Ở TP.HCM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ 55
1.1.TIẾN TRÌNH BÊ TÔNG HOÁ Ở TP HCM 55
1.2.HỆ QUẢ CỦA BÊ TÔNG HOÁ Ở TP HCM 65
2.2.1 Bê tông hóa góp phần gia tăng ngập nước đô thị 65
2.2.2 Tăng độ lún toàn vùng và lún trầm trọng cục bộ 71
2.2.3 Tăng nhiệt độ, đảo nhiệt 75
2.2.4 Hụt nước ngầm 81
2.2.5 Làm giảm mức độ thoát tự nhiên, gia tăng chứa nước bề mặt 82
2.2.6.Ảnh hưởng đến hoạt động đời sống người dân 83
1.3.CÁC GIẢI PHÁP NHẰM LÀM GIẢM BÊ TÔNG HOÁ 87
2.3.1 Thay đổi nhận thức và chính sách 87
2.3.2 Các giải pháp kỹ thuật có thể áp dụng 89
TIỂU KẾT CHƯƠNG 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 5dân cư ở vùng đô thị hóa mới Thành phố Hồ Chí Minh” là do tác giả thực hiện Tác
giả không vi phạm đạo đức khoa học và các điều quy định về luật sở hữu trí tuệ và luật bản quyền, các điều khoản về quy định của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
TP.HCM, ngày tháng năm 2021
Tác giả Hoàng Linh
Trang 6thầy cô Khoa Đô thị học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã dạy dỗ, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập tại Khoa và trong thời gian làm luận văn
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong mọi hoàn cảnh, góp ý nhiệt tình để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học và khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, vợ và những người đã luôn ủng hộ, động viên, tiếp thêm sức mạnh và tinh thần để tôi thực hiện luận văn này Xin chân thành cảm ơn!
TP.HCM, ngày tháng năm 2021
Tác giả Hoàng Linh
Trang 7TÓM TẮT
Trước khi bắt tay vào viết luận văn này, khi đi dọc con đường Tôn Đức Thắng, chứng kiến việc những cây cổ thụ bị chặt hạ để làm cầu Thủ Thiêm 2, các mảng xanh bị thay thế dần bởi những khối bê tông nóng nực, vô hồn tôi tự hỏi “Liệu đấy có phải giải pháp tốt nhất và duy nhất hay không? ” Trong quá trình nghiên cứu, với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Minh Hoà, tôi nhận thấy việc bê tông hóa bề mặt toàn bộ Đô thị không phải là một giải pháp bền vững và tối ưu, nhất là đối với những thành phố ở vùng nhiệt đới, và với những người dân thành thị tại những vùng Đô thị hóa mới hay sắp đô thị hóa, vẫn còn có thể giữ lại được các mảng xanh tự nhiên giúp điều tiết lượng mưa,
vi khí hậu, hạn chế việc bê tông hóa toàn bộ bề mặt Như thế giúp tiết kiệm cho việc phải xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật tốn kém và mất nhiều thời gian Hơn hết
là tốt cho chất lượng sống người dân ở những vùng nói trên có một môi trường tốt hơn Trong luận văn này dưới góc nhìn của người làm việc trong lĩnh vực kiến trúc – quy hoạch, nhận thấy việc phát triển Đô thị là phản ánh về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của một Quốc gia, hay một địa phương Đô thị là bộ mặt của một vùng và đi kèm với nó là những lợi ích và cũng có cả những mặt trái Qua kinh nghiệm những năm làm việc trong nghề cho thấy hầu hết các Đô thị mới phát triển ở Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) nói riêng đều có xu hướng phủ kín bề mặt khu vực
đô thị bằng bê tông, như người ta thường nói “hở chỗ nào là láng bê tông chỗ đó” hay còn gọi là bê tông hóa bề mặt và coi đó như là một minh chứng về sự tiến bộ, văn minh
và hiện đại của khu vực đó Nhưng nó hoàn toàn không phải như vậy Nếu cứ bê tông hóa bề mặt hoàn toàn thì có rất nhiều hệ quả tiêu cực sẽ xảy đến và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân sống ở đó
Để làm rõ nội dung này, tác giả của luận văn này tiến hành nghiên cứu đề tài “Hệ
quả của tình trạng bê tông hóa bề mặt đến đời sống cộng đồng dân cư ở vùng đô thị hóa mới Thành phố Hồ Chí Minh” Có thể nói đây được coi là công trình đầu tiên
nghiên cứu về hệ quả của quá trình bê tông hóa bề mặt quá mức ảnh hưởng đến người dân tại vùng đô thị hóa mới tại TP HCM, cụ thể khu vực nghiên cứu là các quận vùng ven từ năm 1990 đến nay Tác giả luận văn sẽ cố gắng thực hiện các nội dung sau đây:
Trang 8 Tập hợp lý thuyết, làm rõ khái niệm cơ bản về Đô thị hóa, Đô thị hóa mới và các khái niệm liên quan Từ đó phân tích sâu thêm về các khái niệm bê tông và “bê tông hóa bề mặt”
Phân tích về vai trò, các mặt tích cực và tiêu cực của bê tông hóa đến phát triển
đô thị và đời sống cộng đồng dân cư
Đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục phần nào trạng thái hiện tại và định hướng phù hợp cho sự phát triển Đô thị trong tương lai
Trang 9TỪ VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi khí hậu CLCS : Chất lượng cuộc sống CSHTKT : Cơ sở hạ tầng - kỹ thuật ĐHQG : Đại học quốc gia
ĐTH : Đô thị hóa
GS TSKH : Giáo sư - Tiến sĩ khoa học KCN : Khu công nghiệp
KTS : Kiến trúc sư MKT : Mặt không thấm
Trang 1010
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Biểu đồ cơ cấu các đối tượng qua các năm 1989,1998,2010,2019 tại thành phố Hồ Chí Minh 61 Bảng 2 Phần trăm diện tích MT, MKT qua các năm 1989, 1998,2010,2019 tại TP HCM 61 Bảng 3 Thống kê phần trăm diện tích mặt không thấm (MKT) so với tổng diện tích từng quận, huyện qua các năm 62 Bảng 4 Tình hình ngập lụt năm 2009 và Dự báo năm 2050 (với biến đổi khí hậu).72 Bảng 5 Sự gia tăng nhiệt độ do sự phát triển đô thị tới năm 2020 (oC) 82 Bảng 6 Sự gia tăng nhiệt độ do sự phát triển đô thị tới năm 2020 trên khu vực chuyển đổi sử dụng đất thành đất xây dựng (oC) 82 Bảng 7 Hình Biểu đồ biến động diện tích không gian mặt nước qua các năm 85 Bảng 8 Diện tích lớp phủ bề mặt được chiết xuất từ dữ liệu SPOT-5 và Sentinel-2 85 Bảng 9 Các yếu tố bị ảnh hưởng tiêu cực bởi ngập lụt 87 Bảng 10 Mức độ ảnh hưởng của ngập lụt đến môi trường sống 88
Trang 1111
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Khung phân tích 24
Hình 2 Bản đồ TP.HCM mô tả sự phát triển của đô thị đơn cực từ một trung tâm 29
Hình 3 Bản đồ mô tả hệ thống các thành phố vệ tinh của SEOUL 30
Hình 4 Đô thị phát triển bền vững 40
Hình 5 Sự tương tác giữa các mô hình không gian - thời gian, tác động môi trường - kinh tế - xã hội và tính bền vững của đô thị hóa trong nghiên cứu về các thành phố Nguồn: Quan điểm STĐT của Wu (2014) 45
Hình 6 Các khía cạnh chất lượng cuộc sống đô thị - Hình dạng Heptagon 47
Hình 7 Hình ảnh nhà làm bằng vật liệu bùn trộn với rơm 47
Hình 8 Hình ảnh nhà làm bằng vật liệu bùn trộn với rơm 47
Hình 9 Hình ảnh thành Nhà Hồ (Thanh Hóa) 48
Hình 10 Hình ảnh thành Nhà Nguyễn 49
Hình 11 Hình ảnh locot thời Pháp 50
Hình 12 Bản đồ phân loại các đối tượng tại thành phố Hồ Chí Minh qua các năm 54
Hình 13 Quá trình bê tông bề mặt quân Bình Tân và huyện Hóc Môn năm 2010 56
Hình 14 Bản đồ phân bố bê tông hóa tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 so với năm 1989 57
Hình 15 Hình ảnh những con hẻm bị bê tông hóa hoàn toàn tại quận Thủ Đức .62
Hình 16 Hình ảnh các con hẻm nhỏ trên đường Nguyễn Oanh, Quận Gò Vấp bị bê tông hóa toàn bộ 62
Hình 17 Cảnh ngập úng trên địa bàn thành phố 64
Hình 18 Ngập đường Nguyễn Xí Bình Thạnh 65
Hình 19 Ngập đường Nguyễn Hữu Cảnh 66
Hình 20 Ngập ở Thủ Đức 67
Hình 21 Bản đồ các khu vực ở TP.HCM bị ảnh hưởng do ngập lụt 69
Hình 22 Hình ảnh minh họa thiếu hụt nước ngầm do bê tông hóa bề mặt dẫn tới việc sụt lún 70
Hình 23 Sụt lún tại quận Gò Vấp (đường Phan Văn Trị) 71 Hình 24 Độ lún mặt đất khu vực TP.HCM giai đoạn 2025 (hình trái) và giai đoạn
2005-2050 (hình phải) trong trường hợp giữ nguyên mức độ khai thác nước ngầm như năm 2007
Trang 1212
73
Hình 25 So sánh nhiệt độ của TP HCM vào năm 2010 và 2015 92
Hình 26 Sự gia tăng nhiệt độ mực nước 2m tính trung bình cho mùa khô (hình trên) và mùa mưa (hình dưới) do phát triển đô thị tới năm 2020 (oC) 76
Hình 27 Hình minh họa vòng tuần hoàn tự nhiên của nước 79
Hình 28 Sự thay đổi diện tích mặt nước theo thời gian trong các năm 80
Hình 29 Giải pháp biến hồ nước tự nhiên thành hồ điều tiết tại khu dân cư 87
Hình 30 Giải pháp kết hợp thảm cỏ để tăng thấm nước tự nhiên và tạo cảnh quan 88 Hình 31 Tăng mảng xanh đường giao thông 88
Hình 32 Tăng mảng xanh các tuyến đường giao thông vành đai 90
Hình 33 Giải pháp thay thế việc trải nhựa, bê tông bằng các ô gạch thông thoáng 90 Hình 34 Giải pháp thay thế việc trải nhựa, bê tông bằng các ô gạch thông thoáng 92 Hình 35 Giải pháp loại bỏ bờ bao tại các bồn cây trên vỉa hè để cho nước mưa dễ tiêu thoát 92
Hình 36 Giải pháp loại bỏ bờ bao tại các bồn cây trong khuôn viên để cho nước mưa dễ tiêu thoát 93
Trang 13Trong bối cảnh đó, ở nước ta, quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, kéo theo đó
là sự mở rộng về quy mô không gian của các đô thị Hầu hết các khu đô thị được mở rộng ra vùng ven, các khu vực là khu sinh thái tự nhiên, khu nông nghiệp, nông thôn sẽ làm thay đổi không gian và mục đích sử dụng đất Biến động sử dụng đất đã thúc đẩy quá trình bê tông hoá các vùng sinh thái tự nhiên, thu hẹp diện tích thấm nước đô thị và cũng làm mất cân bằng sinh thái Cùng với quá trình đô thị hóa, vấn đề môi trường ở các đô thị nảy sinh như một bài toán nan giải trong việc quản lý bền vững môi trường Việt Nam phải đối mặt với các vấn đề
xã hội đang nổi lên như áp lực về cơ sở hạ tầng giao thông, môi trường và cũng như quy hoạch
và phát triển ở nhiều thành phố lớn nhỏ của chúng ta mà vẫn chưa tính đến giải pháp đối với BĐKH
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế và dân số, diện tích đất đô thị ngày một tăng lên nhanh chóng do sự gia tăng số lượng các đô thị và sự bành trướng của mỗi một thành phố Đây chính
là nguyên nhân làm thay đổi lớp phủ thực vật, thực bì và lớp đất bề mặt trên vỏ trái đất, kéo theo tác động xấu đến môi trường, khí hậu Bên cạnh các hoạt động phát thải nhiệt của con người, khu vực đô thị có xu hướng giữ nhiệt nhiều hơn so với những khu vực có cây xanh và mặt nước do bề mặt đất ở khu vực này thường bị che phủ bởi các tòa nhà, vật liệu làm đường, hay các bề mặt không không thấm nước Do đó, việc xây dựng các công trình đô thị theo hướng mật độ ngày càng dày đặc dẫn đến hiện tượng đảo nhiệt đô thị xảy ra với cường độ ngày càng tăng, làm thay đổi vi khí hậu khu vực đô thị Như vậy có thể thấy, biến đổi khí hậu
và phát triển đô thị liên quan chặt chẽ với nhau và tương tác theo hướng tiêu cực
Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là thành phố lớn nhất cả nước ở khu vực phía Nam Việt Nam và chiếm vị trí quan trọng trong khu vực Đông Nam Á Mặc dù thành phố mới chỉ trải qua hơn 300 năm phát triển nhưng những lợi thế về vị trí, khí hậu, thương mại, văn hóa
Trang 1414
đã đưa TP.HCM trở thành một trong những thành phố sầm uất nhất trên thế giới Kinh tế, cơ
sở hạ tầng và là thành phố có tốc độ đô thị hóa cao nhất TP.HCM tuy đã có lịch sử hình thành
và phát triển hơn 300 năm nhưng quá trình tái đô thị hóa chỉ mới bắt đầu vài chục năm trở lại đây (đô thị hóa lần thứ nhất do người Pháp tiến hành bắt đầu 1862) Mãi cho đến những năm
1960 và 1970, công nghiệp dần dần chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu kinh tế, nhất là ở miền Nam và một số khu vực đô thị hóa nhất định mới trở nên rõ ràng Nhưng chiến tranh đã tạo ra
sự đô thị hóa cưỡng bức với mật độ dân số tập trung cao, trong khi công nghiệp chậm phát triển và lối sống còn lạc hậu Kể từ những năm 1990, Cả nước tiến hành công cuộc đổi mới, chính thức bước vào kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, khi ấy TP.HCM thực sự bước vào quá trình đô thị hóa và được công nghiệp hóa một cách mạnh mẽ
Sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số của thành phố thúc đẩy tăng nhanh tốc độ đô thị hóa, qui mô đô thị hoá cùng với nó là bê tông hóa làm ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ thoát nước của thành phố, đặc biệt những ở nơi có độ cao mặt đất thấp thường bị ngập, mà ngay ở những vùng cao cũng tồn tại nhiều điểm ngập Dự báo TP.HCM là 1/10 thành phố chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi BĐKH Theo kết quả nghiên cứu của ICEM (2009), đến năm 2050, khoảng 30-70% hệ thống giao thông của thành phố có nguy cơ ngập lụt TP.HCM có
154 xã, phường thường xuyên ngập úng Đến năm 2050 sẽ tăng lên 177 xã, phường chiếm 61% diện tích toàn thành phố Đặc biệt, khi có bão sẽ có thêm 30 xã bị ảnh hưởng, điều đó có nghĩa sẽ có 142.000 ha bị ngập úng khi có bão bất thường vào năm 2050 (ADB-ICEM, 2009) Mưa bất thường gây lũ lụt, ngập úng đã là mối lo lớn của TP.HCM Các nhà khoa học tính rằng mực nước biển sẽ dâng thêm 30 - 35cm vào năm 2050, 40-50 cm năm 2070 Khi đó, huyện Bình Chánh sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất với hơn 600 ha đất nông nghiệp, 460 ha khu dân
cư, 200 ha cây xanh, cơ sở hạ tầng chìm trong nước Năm 2050, sẽ có 30 -70% đường giao thông, 61% diện tích bị ngập lụt (ADB-ICEM, 2009) Mực nước cao nhất trên sông Sài Gòn tăng 20cm trong 10 năm qua, triều cường sẽ tiếp tục đạt đỉnh Nếu nước biển dâng 75cm thì
204 km² diện tích đất TP.HCM bị ngập, lên 1m thì TP.HCM sẽ có 23% diện tích ngập vĩnh viễn (53% đất canh tác), 12% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp (Asian Development bank, 2009)
Bê tông hóa ảnh hưởng đến sự mất cân bằng sinh thái, việc thu hẹp và phá hủy các vùng sinh thái tự nhiên ven đô dẫn đến sự mất cân bằng, làm ảnh hưởng đến khả năng kết nối các vùng sinh thái tự nhiên vốn có, ngăn chặn các dòng chảy sinh thái là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các thiên tai lũ lụt, hạn hán, đất nhiễm mặn, gây tác động về mặt môi trường: với đặc điểm
là vùng khí hậu khắc nghiệt, các hệ quả do việc mất cân bằng sinh thái vùng đô thị tạo ra hiện
Trang 15dự án thực tế chủ yếu ở quy mô khu đô thị sinh thái tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM Tuy nhiên, trên thực tế, các dự án này không nghiên cứu nhiều về bản chất của khu
đô thị sinh thái mà tập trung nhiều hơn vào các giải pháp tăng mật độ cây xanh và mặt nước nhân tạo Trên thế giới ở các nước phát triển như Mỹ, Úc, Nhật Bản thậm chí một số nước đang phát triển gần với chúng ta như Malaixia, Inđônêxia, các giá trị sinh thái như cây xanh, mặt nước là rất quan trọng
Trong bối cảnh đô thị hóa và bê tông hóa diễn ra mạnh mẽ, quận huyện tại TP.HCM đang đối mặt với nhiều thách thức từ ảnh hưởng và tác động của quá trình này đến mọi lĩnh vực và đời sống của người dân Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả của luận văn này thực hiện công
trình nghiên cứu với đề tài “Hệ quả của tình trạng bê tông hóa bề mặt đến đời sống cộng
đồng dân cư ở vùng đô thị hóa mới Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm nhận diện và làm rõ nét
hơn những biến đổi và những hệ quả của tình trạng bê tông hóa quá mức ảnh hưởng đến đời sống của người dân tại khu vực nghiên cứu
2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.1.1 Nghiên cứu về đô thị hóa
NCS Phạm Hùng Cường trong luận án tiến sĩ “Chuyển đổi cấu trúc vùng ven đô thị lớn
Đồng bằng sông Hồng thành đơn vị ở trong quá trình đô thị hóa” năm 2008, trường Đại học
Xây dựng Hà Nội Trong luận án, tác giả đã đề cập đến quá trình chuyển đổi không gian các
Trang 1616
làng xã ven đô thị lớn vùng Đồng bằng sông Hồng thành các đơn vị ở Trên cơ sở phân tích quá trình chuyển hóa hình thái cấu trúc không gian của các khu vực làng xóm ven đô dưới tác động của đô thị hóa để xác định các quy luật và nguyên tắc của quá trình này, từ đó làm cơ sở
đề xuất định hướng cho quá trình chuyển đổi các đơn vị ở nông thôn này thành đơn vị ở đô thị Đồng thời, tác giả cho rằng việc mở rộng khu vực nội đô và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng quy mô lớn khiến quá trình đô thị hoá khu vực ven đô các thành phố lớn diễn ra phức tạp, đặc biệt việc bê tông hóa từ nhà ở sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái ở vùng ven đô thị
Sách “Đô thị - Những vấn đề tiếp nối” của PGS TS Nguyễn Minh Hoà năm 2019, Nxb
ĐHQG – TPHCM Cuốn sách được chia thành 3 chương, trong các chương là tập hợp các bài viết của tác giả được kể dưới dạng các tiểu luận Trong chương II, tác giả cho rằng thiết kế, quy hoạch không gian đô thị phải tôn trọng tự nhiên, đừng nhốt thành phố trong bê tông, cốt thép, gác lại lối tư duy “mặt tiền”, tư duy sân vườn để xây dựng một thành phố thông minh nhưng vẫn xanh – sạch – đẹp và gần gũi với thiên nhiên Một đô thị không chỉ cần đến những con đường phẳng phiu, những vỉa hè lát đá vuông vức, những cao ốc nhôm kính sáng trưng một góc trời… Nếu không có sự sống, không có cảm xúc tạo nên bởi đời sống thường nhật của hàng triệu thị dân, đô thị ấy chỉ như một khối vật chất vô hồn
Tác giả Trần Thị Ngọc Diễm nghiên cứu “Đánh giá biến động không gian xanh tại Quận
9, TPHCM trong giai đoạn 2015 -2019 dựa trên ảnh vệ tinh có độ phân giải cao năm 2019”,
ĐHQG –TP.HCM Dưới áp lực đô thị hóa, không gian xanh và không gian xây dựng trên địa bàn quận 9, TP.HCM đã và đang thay đổi theo không gian và thời gian Tác giả đã đánh giá biến động không gian xanh và diện tích xây dựng đô thị trong giai đoạn 2015-2019 trên địa bàn quận 9 theo vị trí không gian, trạng thái chuyển đổi, hướng phân bố Từ đó, tác giả nhận định rằng trong thời kì 2015 - 2019, không gian xanh giảm 0,58%, diện tích xây dựng đô thị tăng 12,94% Diện tích cây có tán giảm 6,57% ở các phường Long Bình, Long Phước, Long Thạnh
Mỹ và Long Trường; trong khi diện tích cây bụi, cỏ tăng 43,89% tại tất cả các phường, ngoại trừ các phường Hiệp Phú, Long Bình và Phước Bình Độ che phủ không gian và mật độ không gian xanh bình quân đầu người tuy giảm những vẫn ở mức cao, lần lượt >43% và >120 m²/người Cấu trúc hệ thống không gian xanh vẫn ở dạng hỗn hợp với diện tích cây có tán suy giảm rõ rệt ở hướng Đông Bắc, Đông, Tây nhưng gia tăng mạnh ở hướng Bắc, Tây Nam; cây bụi, cỏ mở rộng diện tích ở hầu hết các hướng, nhất là hướng Đông, Đông Nam, Tây và Tây Bắc Với những phát hiện trên, có thể thấy việc ứng dụng công nghệ viễn thám mang lại độ chính xác cao, cập nhật kịp thời, tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc phân tích biến động
Trang 1717
không gian xanh đô thị Qua đó, hỗ trợ hiệu quả công tác quy hoạch, quản lý cây xanh trên địa bàn đô thị
Bài viết “Phát triển bền vững vùng ven đô TP HCM” của Nguyễn Ðăng Sơn vào năm
2005, trong kỷ yếu Hội thảo chuyên đề Đô thị hóa và cuộc sống đô thị trong tương lai ở Việt
Nam - Bàn về không gian công cộng trong đô thị của Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM, đã
chỉ ra các thách thức trong phát triển bền vững TP.HCM, nhận định sự phát triển bền vững vùng ven là một bộ phận phát triển bền vững của đô thị và sự cần thiết có khoảng không gian xanh ngăn sự mở rộng đô thị Tác giả phân tích các vấn đề, nội dung cần kiểm soát trong phát triển ngoại thành hướng tới bền vững Luận án kế thừa kết quả này và tiếp tục nghiên cứu để quản lý phát triển đô thị
Bài viết “Đô thị hóa và chất lượng môi trường đô thị từ viễn thám các mặt không thấm:
trường hợp TP Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Thị Vân Tác giả nghiên cứu quá trình đô thị
hóa, được xem xét dưới góc độ biến đổi cảnh quan bề mặt đất thành đô thị, đánh giá sự phát triển thông qua quá trình bê tông hóa bề mặt nền có tác động đến các quá trình vi khí hậu và môi trường Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp viễn thám, đây là phương pháp phân loại các subpixel theo phân tích trộn phổ tuyến tính Việc chuyển đổi không kiểm soát lớp phủ đất từ thấm sang không thấm là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự thống nhất của môi trường tự nhiên và môi trường xây dựng trong lưu vực, đồng thời đe dọa chất lượng cuộc sống của dân cư trong quá trình phát triển và đô thị hóa
Bài viết “Urban expansion and loss of agricultural land in the north of Hochiminh city: a
gis and remote sensing approach” của Trần Thị Vân, đăng trên Proceedings of GIS IDEAS - International Symposium on Geoinformatics for Spatial Infrastructure Development in Earth and Allied Sciences 2006 Bài viết phân tích các thay đổi không gian, cho thấy quá trình phát
triển đô thị tác động đến sự phân bố sử dụng đất của khu vực phía Bắc của TP.HCM Cụ thể, qua việc nghiên cứu ứng dụng GIS để phân tích chuyển đất đai tại TP.HCM, tác giả cho rằng trong vòng 15 năm gần đây (tính đến năm 2006), do quá trình tác động của đô thị hóa và việc
di cư từ nhiều nơi khác đến TP.HCM Từ đó, thành phố phải đối mặt với phát triển không gian
đô thị về các quận huyện vùng ven, một phần lớn đất nông nghiệp được chuyển đổi và nhằm hạn chế việc chuyển đổi đất nông nghiệp Theo tác giả, thành phố cần phát triển nông nghiệp ngoại thành theo hướng nông nghiệp sinh thái và công nghệ cao cùng với chiến lược phát triển thành phố văn minh, hiện đại và bền vững về môi trường
Bài viết “Đô thị hóa và sử dụng đất: quá trình chuyển dịch đất đai tại TP.HCM giai đoạn
Trang 181989 đến 2011 Cụ thể, phần không gian đô thị đã lan tới hầu như tất cả các vùng của thành phố, trừ một vài vùng ngoại thành xa rời trung tâm như Cần Giờ, Bình Chánh, Củ Chi
2.1.2 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu
Nghiên cứu Quốc tế “Urban Governance Screen for Climate Resilience Strategies:
Assessment of Ho Chi Minh City, Vietnam” được thực hiện bởi TS Nguyễn Minh Hoà và ThS
Sơn Thanh Tùng Đây là báo cáo thực hiện năm 2007 theo đơn đặt hàng của Mạng lưới quản trị các thành phố châu Á Trong báo cáo này các tác giả đã nói đến diễn tiến của tình hình biến đổi khí hậu đang diễn ra tại TP.HCM, những hậu quả đang xảy ra và cách thức ứng phó cũng như các giải pháp phục hồi, giảm thiểu hệ quả tiêu cực của nó Công tác quản trị đô thị của chính quyền địa phương trong vai trò là người chỉ đạo, điều phối, kết nối được coi là tiêu điểm của nghiên cứu
Đề tài “Nghiên cứu chế tạo, ứng dụng bê tông rỗng thoát nước nhanh và kết cấu rỗng thu
chứa nước trong công trình hạ tầng kỹ thuật nhằm giảm thiểu úng ngập khi mưa, điều tiết nước trong đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu” của tác giả Phan Quang Minh (2019) ở Đại học
Xây dựng, Bộ Giáo dục & Đào tạo Đề tài đã điều tra, khảo sát, thực trạng bê tông hóa đô thị
và khả năng thấm nước của các cấu kiện bê tông, năng lực thu chứa nước tại chỗ một số công trình hạ tầng kỹ thuật tại một số khu vực điển hình Kết quả thực hiện đề tài đã nghiên cứu, làm chủ công nghệ chế tạo, thi công loại bê tông rỗng có khả năng thoát nước nhanh nhưng vẫn đạt được cường độ yêu cầu (hệ số thấm mước, cấp độ bền nén) từ các nguồn nguyên vật liệu thông thường và vật liệu thân thiện môi trường Đã chế tạo thành công bê tông rỗng thoát nước nhanh và ứng dụng thử để xây dựng hạ tầng kỹ thuật nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu
Đề tài “Nghiên cứu tác động của các yếu tố dân số, tổ chức không gian sống và ý thức
cộng đồng đến hiện tượng ngập nước đô thị TP.HCM” do PGS TS Nguyễn Minh Hòa là chủ
nhiệm Từ thực tiễn, tác giả nhận thấy ngoài những nguyên nhân quan trọng khác như triều
Trang 1919
cường, còn có hàng loạt nguyên nhân khác được các nhà nghiên cứu đưa ra như quy hoạch phân luồng, ưu tiên phát triển các vùng nam, tây nam, đông nam Đây là vùng trũng dọc trục thoát nước của toàn bộ khu vực Bắc Nam, chứa nước và thủy triều, trong trường hợp cải tạo đất, Phú
Mỹ Hưng đã sử dụng 10.000 m3 đất, cát để lấp kênh, ao, hồ để tạo mặt bằng Tình trạng ngập lụt tương ứng với các khu vực lân cận và các vùng nước khác, đô thị hóa không cẩn thận, xây dựng tự phát, phần lớn diện tích bề mặt thấm phủ bê tông, hệ thống thoát nước quá cũ, sông rạch bị bồi lấp, thảm thực vật bị tước đoạt, hồ chứa và hệ thống kênh rạch tự nhiên gần như hoàn toàn đã được san bằng mặt đất Tác giả đã nghiên cứu 5 vùng ngập lụt của TP.HCM, kết quả là diện tích đất ở (đặc biệt là khu dân cư phường, xã) có tỷ lệ cụ thể gần 100% Tỷ lệ
đổ bê tông tại Quận 12 là 96%, tại Quận 6, 99% tại Phường 12, 100% tại Phường Bình Trị Đông Quận Bình Tân, 100% tại Phường 25 Quận Bình Thạnh và Phường Phú Thọ Hòa Quận Tân Phú 98%, 96% phường Thảo Điền Quận 2)
Trang 2020
Nguyễn Đỗ Dũng trong bài “Ngập lụt tại TP.HCM đi tìm căn nguyên” nhận định vấn đề
cần có chuẩn pháp lý, có căn cứ để huy động sự nỗ lực của cả hệ thống Tác giả nêu kinh nghiệm của nhiều đô thị là nếu tương lai bất định, quá khó để tính toán thì trước hết cần phải bảo vệ các ranh giới có tính sống còn như vùng thoát nước, đất ngập nước Kinh nghiệm có thể thực hiện với TP.HCM, không để các vùng quan trọng tiếp tục phát triển thiếu định hướng về trách nhiệm trong vấn đề BĐKH
Trong nghiên cứu về “Tác động của đô thị hóa đến hiện tượng đảo nhiệt tại TP.HCM”
của tác giả Dương Thị Thúy Nga, Trung tâm Nghiên cứu Vùng và đô thị (CRUS), năm 2019 Tác giả chỉ ra rằng tài nguyên cây xanh của thành phố đang có xu hướng giảm nhanh, trong khi mật độ dân cư, tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng Theo đó, tại TP.HCM đang hình thành các “hòn đảo nhiệt độ”, nhất là ở khu vực vùng lõi trung tâm thành phố Việc lấy số liệu nhiệt độ trung bình của thành phố thông qua các tính toán nhiệt độ của các trạm quan trắc theo đó cũng có phần bị hạn chế, dẫn đến khó khăn trong quá trình đề xuất, kiến nghị các giải pháp ứng phó các hiện tượng thời tiết bất thường Tỷ lệ phủ xanh của TP.HCM hiện ở mức 18%, trong khi tại Singapore đã đạt tỷ lệ 56%; tỷ lệ đất công viên, vườn hoa chỉ đạt gần 0,7m²/người Theo quy hoạch, tỷ lệ này đến năm 2025 sẽ đạt khoảng 7m²/người (tỷ lệ hiện nay của Singapore đang là 30,3m²/người; Seoul (Hàn Quốc) là 41m²/người) với mục tiêu hướng đến đạt hơn 837ha cây xanh (công viên, đường phố) Các chuyên gia cho rằng, với sự phát triển nhanh như hiện nay của TP.HCM, người dân vẫn chưa phải “nếm trải” nhiều hiện tượng cực đoan của thời tiết là nhờ vào “lá phổi xanh” từ Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ (rừng Sác) với tổng diện tích hơn 75.700 ha Tuy nhiên, thành phố không thể chỉ dựa vào đây để phát triển đô thị mà cần sớm chủ động thực hiện nhiều giải pháp xanh khác
Bài viết “Nghiên cứu thay đổi nhiệt độ bề mặt đô thị dưới tác động của quá trình đô thị
hóa ở TP.HCM bằng phương pháp viễn thám” của nhóm tác giả là Trần Thị Vân, Hoàng Thái
Lan và Lê Văn Trung, đăng trên Vietnam Journal of Earth Sciences, 2011 Tác giả cho rằng hiện
tượng này xảy ra khi nhiệt độ trong thành phố cao hơn nhiệt độ ở ngoại ô Nhiều yếu tố dẫn đến sự hình thành các đảo nhiệt đô thị, nhưng đầu tiên là sự mất lớp phủ thực vật và sự thay thế
bề mặt đất bằng các vật liệu không thấm nước dẫn đến lượng nước đi vào khí quyển giảm Từ
bề mặt tự nhiên Dựa trên kết quả nghiên cứu về diễn biến nhiệt độ đô thị dựa trên ứng dụng viễn thám, có thể phân tích và xác lập mối tương quan giữa biến đổi nhiệt độ khu vực đô thị và quá trình đô thị hóa tại TP.HCM, góp phần quy hoạch phát triển đô thị bền vững
Trang 2121
Bài viết của GS.TS Đoàn Cảnh, nhà sinh học nổi tiếng có tựa đề là “ý tưởng về một đô thị
sinh thái tại đô thị ĐHQG - TP HCM” đã đề cập đến 4 nguyên tắc chính để xây dựng thành
phố sinh thái:
Xâm phạm ít nhất đến môi trường tự nhiên
Đa dạng hóa việc sử dụng đất, chức năng đô thị và hoạt động của con người
Trong điều kiện có thể cố giữ cho hệ sinh thái đô thị được khép kín và tự cân bằng
Giữ cho phát triển dân số và tiềm năng của môi trường, tài nguyên thiên nhiên được cân bằng tối ưu
Và chính giáo sư là người đề nghị chỉ nên bê tông hoá (công trình xây dựng, giao thông,
độ phủ bề mặt) khoảng 40-45% diện tích 647 ha đô thị ĐHQG TP HCM
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cuốn sách “Dhaka Megacity: Geospatial Perspectives on Urbanisation, Environment and
Health” của tác giả Ashraf Dewan và Robert Corner năm 2014 Tác giả sử dụng phương pháp
nghiên cứu về các kỹ thuật không gian địa lý để giải quyết một số vấn đề môi trường bao gồm thay đổi sử dụng đất, biến đổi khí hậu, mật độ dân số, tài nguyên năng lượng, mô hình tăng trưởng đô thị và chất lượng cuộc sống tại Dhaka Megacity ở Bangladesh Từ đó, tác giả có thể dự đoán và nhận biết được những khu vực có khả năng gia tăng dân số, những thách thức của quá trình đô thị hóa để kịp thời đưa ra những giải pháp hợp lý cho chính quyền Dhaka Megacity
Sách “Coastal Environment, Disaster, and Infrastructure - A Case Study of China's
Coastline” của X San Liang, Yuanzhi Zhang (chủ biên), năm 2018, Nhà xuất bản IntechOpen
Cuốn sách này cung cấp một bộ sưu tập các bài báo chọn lọc về biến đổi môi trường ven biển, thảm họa ven biển và cơ sở hạ tầng ven biển do hiện tượng nóng lên toàn cầu, tập trung vào các
bờ biển của quốc gia đang phát triển nhanh chóng như Trung Quốc Nhóm tác giả nghiên cứu tầm quan trọng của bề mặt không thấm nước để thúc đẩy sự phát triển bền vững của thành phố Trong quá trình phát triển đô thị, sự gia tăng bề mặt không thấm nước của các thành phố là kèm theo việc giảm một hoặc nhiều loại hình sử dụng đất trong thành phố Trong khi bề mặt không thấm nước tiếp tục tăng, diện tích của đất canh tác và các khu vực ven biển (bao gồm các công trình muối và bãi triều) đã bị giảm rất nhiều và các loại hình sử dụng đất đã trải qua những thay đổi đáng kể Bề mặt không thấm nước dùng để chỉ bề mặt tự nhiên hoặc nhân tạo
có thể ngăn ngừa dòng chảy dọc (nước mặt thấm trực tiếp vào đất), chủ yếu bao gồm mặt đường nhựa và mái của các tòa nhà
Trang 2222
Bài viết “Analysis of Factors Affecting Urban Heat Island Phenomenon in Bangkok
Metropolitan Area, Thailand” của nhóm tác giả Nguyen Trong Can và các cộng sự năm 2019,
đăng trên VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences Nhóm tác giả cho rằng
đô thị hóa nhanh chóng cùng với quy mô đô thị ngày càng mở rộng góp phần làm gia tăng nhiệt độ bề mặt và đảo nhiệt đô thị tại đô thị Bangkok Bằng phương pháp phân tích ảnh viễn thám trong trích xuất nhiệt độ bề mặt từ ảnh hồng ngoại nhiệt trên vệ tinh Landsat, phân tích không gian và phân tích tương quan, nghiên cứu đã xác định phân bố không gian, độ lớn và các yếu tố chính tác động đến đảo nhiệt đô thị Kết quả nghiên cứu cho thấy, khu vực được xác định xảy ra đảo nhiệt đô thị là vùng đô thị phân bố tại trung tâm thành phố với mật độ đô thị cao hơn hẳn so với các khu vực khác Những khu vực này có mức độ đảo nhiệt từ 0-7OC so với khu vực ngoài đô thị Độ lớn của đảo nhiệt đô thị gia tăng do sự phát triển đô thị thông qua
sự gia tăng mật độ đô thị Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy hiện tượng đảo nhiệt có thể được giảm thiểu bởi các yếu tố như bề mặt ít hấp thụ nhiệt, mặt nước mở và thực vật tại đô thị Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin hữu ích cho công tác quy hoạch không gian đô thị hợp
lý tại các thành phố hướng tới mục tiêu trở thành một thành phố đáng sống
Bài viết “Impervious surfaces and the quality of natural and built environments” của tác giả Kent B Barnes, John M Morgan III,và Martin C Roberge thuộc Department of Geography and
Environmental Planning, Towson University, năm 2015 Sự phát triển và lan rộng của các bề
mặt không thấm nước trong các khu vực đầu nguồn đô thị hóa gây ra các mối đe dọa đáng kể đối với chất lượng của môi trường tự nhiên và được xây dựng Những mối đe dọa này bao gồm tăng dòng nước mưa, giảm chất lượng nước, nhiệt độ mùa hè tối đa cao hơn, môi trường sống dưới nước và trên cạn bị suy thoái và phá hủy, sức hấp dẫn của dòng suối và cảnh quan bị giảm sút Bài viết này giới thiệu cơ bản về các bề mặt không thấm nước và một cái nhìn tổng quan
về các tác động môi trường của tình trạng không thấm nước đầu nguồn tăng lên, với sự xem xét đặc biệt đối với lưu vực vịnh Chesapeake Bề mặt không thấm nước chủ yếu là các bề mặt được xây dựng - mái nhà, vỉa hè, đường và bãi đỗ xe - được bao phủ bởi các vật liệu không thể xuyên qua như nhựa đường, bê tông và đá Những vật liệu này làm kín bề mặt, đẩy lùi nước và ngăn chặn lượng mưa và nước thẩm thấu xuống mặt đất Các bề mặt được bao phủ bởi các vật liệu như vậy là hoạt động thủy văn, có nghĩa là chúng tạo ra dòng chảy bề mặt Các
bề mặt không thấm nước tác động gần 100% về mặt thủy văn và tỷ lệ lớn diễn ra trong các khu vực đô thị hóa có đất thương mại, công nghiệp, giao thông và mật độ từ trung bình đến cao Các
bề mặt không thấm nước, hoạt động thủy văn khác bao gồm đất đầm chặt, đất có hàm lượng sét
Trang 2323
cao, đất đóng băng, đất bão hòa và đất có mực nước ngầm cao
Bài viết “Impacts of Impervious Surfaces on the Environment” trong International Journal of
Engineering Science Invention của nhóm tác giả Chithra S.V., Dr M.V Harindranathan Nair,
Amarnath A và Anjana N.S năm 2015 Các bề mặt nhân tạo ngăn chặn sự xâm nhập của nước vào đất bên dưới như các tòa nhà và bề mặt lát đá (nhựa đường, bê tông), đường, bãi đỗ xe được gọi là bề mặt không thấm nước Đô thị hóa ngày càng tăng và áp lực dân số kích thích sự tăng trưởng của các bề mặt không thấm nước trong các thành phố Sự gia tăng mạnh mẽ ở các
bề mặt không thấm nước có ảnh hưởng sâu rộng đến cảnh quan và môi trường của khu vực Tác động của các bề mặt không thấm nước đối với khí hậu và thủy văn được xem xét ở đây Đánh giá này cho thấy rằng tăng bề mặt không thấm nước làm thay đổi mạnh mẽ thủy văn bằng cách giảm xâm nhập và tăng bề mặt dòng chảy Nó làm tăng Nhiệt độ bề mặt đất (LST) bằng cách tạo Quần đảo nhiệt đô thị (UHI) Quá trình đô thị hóa ngày càng tăng dẫn đến số lượng bề mặt không thấm nước tăng lên - đường, bãi đỗ xe, mái nhà,v.v Và giảm lượng đất rừng, đất ngập nước và các dạng không gian mở khác hấp thụ và làm sạch nước mưa trong hệ thống tự nhiên Sự thay đổi này trong sự cân bằng bề mặt không thấm nước gây ra những thay đổi đáng
kể cho cả chất lượng và số lượng của dòng nước mưa, dẫn đến dòng chảy xuống cấp và cả hệ thống nước đầu nguồn
Từ tổng quan trên đây cho thấy, các tác giả đề cập đến những khía cạnh khác nhau của đô thị hoá, bê tông hoá và những hệ quả của nó Tác giả sẽ lấy những quan điểm, cách tiếp cận, thông tin từ các nghiên cứu này làm cơ sở cho luận văn thạc sĩ, nhưng từ các nghiên cứu này cho thấy khía cạnh liên quan đến đời sống dân cư chưa được khai thác sâu và hơn thế nữa hiện tượng bê tông hoá được nghiên cứu trong một bối cảnh không gian và thời gian cụ thể ở TP HCM dường như chưa được tác giả nào nghiên cứu đủ rộng và sâu thành một hệ thống, kể cả các nhà nghiên cứu Việt Nam nói chung và TP HCM nói riêng Do vậy việc tác giả là người đầu tiên đi sâu và nghiên cứu chủ đề này ở TP HCM với cách tiếp cận của Đô thị học mang tính liên ngành
Do vậy đề tài “Hệ quả của tình trạng bê tông hóa bề mặt đến đời sống cộng đồng
dân cư ở vùng dô thị hóa mới Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả được coi là công trình
mới đầu tiên về đô thị học nghiên cứu về lĩnh vực này trên địa bàn TP HCM
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Tác giả thực hiện đề tài này mong muốn cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng về hệ quả của tình trạng bê tông hóa bề mặt đến đời sống cộng đồng dân cư ở
Trang 2424
vùng đô thị mới TP HCM
- Từ đó các cơ quan chức năng có thể đưa ra giải pháp cải thiện tình hình ở nơi đã bị
bê tông hoá quá mức và để không lặp lại, không xảy ra tình trạng bê tông hóa bề mặt
ở những vùng đang diễn ra đô thị hóa hoặc vùng chưa bị đô thị hóa nhằm góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân đô thị
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn hướng đến những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Mô tả Quá trình đô thị hóa TP.HCM từ 1990 đến nay
- Phản ánh quá trình lịch sử và hiện trạng bê tông hóa TP HCM
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cho các bên liên quan: chính quyền địa phương, các
cơ quan chức năng, các đơn vị đầu tư và người dân
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ quả của tình trạng bê tông hóa bề mặt đến đời sống cộng đồng dân cư ở vùng đô thị hóa mới TP.HCM
5.2 Khách thể nghiên cứu
- Hiện tượng bê tông hóa bề mặt đô thị
- Sự tác động của bê tông hoá đến cộng đồng dân cư đang sinh sống tại vùng đô thị hóa mới ở TP HCM
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi ranh giới hành chính các quận vùng ven TP.HCM
Thời gian nghiên cứu từ năm 1990 đến nay Thời gian năm 1990 được coi là thời điểm
mà TP.HCM bắt đầu tiến hành quá trình tái đô thị hóa lần thứ II
6 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi được đặt ra ở đây cho đề tài luận văn là:
- Thực trạng bê tông hóa TP.HCM từ năm 1990 đến nay như thế nào?
- Nghiên cứu hệ quả bê tông hóa mang lại trên địa bàn TP.HCM?
- Những nguyên nhân nào đưa đến hiện tượng bê tông hóa quá mức?
- Những giải pháp khắc phục và thay đổi tình trạng này trong tương lai?
Trang 2525
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Theo ý định ban đầu, tác giả luận văn sẽ thực hiện các nghiên cứu khảo sát định lượng trên 120 hộ dân ở các khu vực dân cư khác nhau nhằm trả lời các câu hỏi và giả thuyết, nhưng
do dịch Covid cho nên các cuộc phỏng vấn theo phiếu không thực hiện được, do vậy được sự đồng ý của người hướng dẫn khoa học PGS TS Nguyễn Minh Hòa, tác giả đã chuyển sang nghiên cứu định tính chuyên sâu
6.2.1 Nghiên cứu tài liệu
Phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề đô thị hóa, cơ sở lý luận về xây dựng
và các nghiên cứu trong khu vực nghiên cứu Các tài liệu này bao gồm các báo cáo, công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài báo khoa học trên các tạp chí trong nước và quốc tế Nguồn chính được thống kê và sử dụng có chọn lọc thông tin Internet của một số trang web nổi tiếng, các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng, quy hoạch, thông tin dân cư của khu vực nghiên cứu được cung cấp
6.2.2 Phương pháp quan sát và ghi nhận hình ảnh
Quan sát là một phương pháp không thể thiếu để giúp bài luận văn trả lời các câu hỏi nghiên cứu về thực trạng Bằng cách quan sát tổ chức phân cấp không gian, ghi chép, chụp ảnh và so sánh với cơ sở lý thuyết để rút ra kết luận cho tình huống này
6.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Trong quá trình khảo sát, tác giả chú ý đến phương pháp phỏng vấn các chuyên gia ở những lĩnh vực khác nhau như kiến trúc, đô thị, lịch sử, hạ tầng – kỹ thuật Qua đây giúp tác giả có cái nhìn rõ nét hơn về sự hình thành, phát triển của TP.HCM qua từng thời kỳ cũng như việc đô thị hóa làm thay đổi bộ mặt của thành phố và những mặt lợi – hại của quá trình bê tông hóa quá mức tới thành phố nói chung và những dân cư sinh sống tại vùng đô thị hóa mới của thành phố nói riêng Đồng thời giúp tác giả hiểu biết thêm những kiến thức mới chuyên sâu hơn trong quá trình nghiên cứu
7 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 7.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu góp thêm sơ sở khoa học để làm sáng tỏ lý luận về mối tương tác giũa xây dựng nền tảng vật chất đô thị như công trình, cơ sở hạ tầng kỹ thuật (CSHTKT) đến đời sống người dân đô thị, ở đây là mối quan hệ giữa bê tông và bê tông hóa với chất lượng sống Luận văn còn đóng góp thêm cho nguồn tài liệu về những nghiên cứu tác động đô thị hóa trên khía cạnh xây dựng đô thị cho sinh viên, học viên cao học khi nghiên cứu về vấn đề này
Trang 2626
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng như Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), Sở Xây dựng và Trung tâm Chống ngập TP.HCM trong việc hoạch định chính sách và công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị TP.HCM
8 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ LOGIC NGHIÊN CỨU
Hình 1 Khung phân tích
Nguồn: Tác giả
Trang 2727
9 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA LUẬN VĂN
Tác giả luận văn nhận thấy công trình của mình có 2 hạn chế lớn
- Tác giả đã được đào tạo về chuyên ngành kiến trúc nên rất thuận lợi trong việc tìm hiểu công nghệ, xây dựng và quy hoạch Do đó, tác giả không gặp khó khăn trong việc tính toán và giải thích các khái niệm và chỉ số kỹ thuật, nhưng tác giả khó có thể mô tả nghiên cứu theo cách thức khoa học đô thị - một khoa học liên ngành, hầu hết đều có xu hướng xã hội và nhân văn
- Quá trình thực hiện luận văn trùng với giai đoạn bùng phát của đại dịch Covid, dẫn đến việc giãn cách xã hội, hạn chế tiếp xúc khiến tác giả không thể thực hiện được khảo sát trên diện rộng, điều tra thực địa để ghi lại các nghiên cứu Chính vì thế tác giả phải chuyển một phần hướng đề tài từ khảo sát thực địa sang khảo sát nghiên cứu tài liệu Sự thay đổi này tuy có làm chậm tiến độ nhưng dưới sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, chất lượng vẫn đáp ứng được yêu cầu của luận văn thạc sĩ
10 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục ra thì nội dung của luận văn gồm có 02 chương:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI NIỆM VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ở chương này tác giả tập trung làm rõ một số khái niệm chính để làm công cụ triển khai đề tài, trong đó hai khái niệm “đô thị hóa” và “bê tông hóa” được phân tích sâu, đặc biệt là trong bối cảnh các loại hình này xuất hiện khá muộn ở Việt Nam so với các nước khác trên thế giới và khu vực Tiếp sau đó tác giả trình bày Lịch sử hình thành và phát triển bê tông trên thế giới và Việt Nam, cụ thể hơn là ở TP.HCM Về lý thuyết, tác giả phân tích các chức năng, giá trị và cấu trúc của bê tông để khẳng định sự cần thiết của nó trong việc xây dựng và phát triển
đô thị Ngoài ra, tác giả còn phân tích việc ảnh hưởng của việc sử dụng bê tông không hợp
lý sẽ ảnh hưởng đến đời sống của người dân trong đô thị
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong chương này tác giả tập trung làm rõ ba nội dung chính:
- Thứ nhất là tiến trình đô thị hoá ở TP.HCM liên quan đến việc phát triển của các tòa nhà, các khu đô thị và sự bê tông hóa mặt đất nền trong các khu đô thị
- Tiếp theo đó, tác giả trình bày thực trạng đô thị hóa và nguyên nhân sử dụng hiệu quả bê tông ở TP.HCM qua nghiên cứu khảo sát Tác giả trình bày tiến trình nghiên
Trang 29-29/115-
CHƯƠNG I: CÁC KHÁI NIỆM VÀ LÝ THUYẾT
NGHIÊN CỨU 1.1 CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1 Đô thị hóa 1.1.1.1 Khái niệm
Đô thị hóa (ĐTH) trong tiếng Anh là Urbanization, được hiểu theo nghĩa là quá trình mở rộng của đô thị từ một vùng lõi với sự gia tăng hai yếu tố chính là quá trình gia tăng dân số đô thị và quá trình mở rộng bề mặt của một khu vực đô thị mà trong đó xuất hiện các công trình xây dựng và công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật TS Võ Kim Cương định nghĩa trong cuốn
Phương pháp phân tích nguồn lực trong chiến lược phát triển đô thị: “ĐTH là quá trình phát
triển đô thị ở một quốc gia ĐTH bao gồm việc mở rộng các đô thị hiện có và việc hình thành các đô thị mới Một khu vực lãnh thổ nào đó được “hóa” thành đô thị khi nó hội tụ
đủ các tiêu chuẩn của đô thị 3”
Trong Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, ĐTH được định nghĩa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của đô thị với sự phát triển xã hội
Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc –UN 1995: “Đô thị hóa là quá trình chuyển đổi đất đai
thành môi trường dân cư đô thị tập trung”
Theo Bách khoa toàn thư Larousse, đô thị hóa là hiện tượng mật độ dân cư ngày càng dày đặc tại các địa điểm tự nhiên của thành phố Đô thị hóa được xác định bởi sự gia tăng dân số
và sự phát triển theo không gian của các thành phố (Albert Ducroco 1975: 604)
Ba định nghĩa trên đều dựa trên yếu tố dân số, nhưng đồng thời bổ sung thêm vai trò của
đô thị trong việc mở rộng lãnh thổ đô thị và sự phát triển của đất nước PGS.TS Nguyễn Minh Hòa cho rằng đô thị hóa cần được hiểu trên hai chiều (Nguyễn Minh Hòa, 1995):
- Đây là sự chuyển đổi từ tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông dân) sang phi tam nông, trong đó quan trọng nhất là chuyển dịch cơ cấu ngành nghề từ nông dân sang nông nghiệp (chăn nuôi, nông nghiệp) và phi nông nghiệp
- Đó là một quá trình biến đổi không ngừng ở những nơi đã có trong thành phố để thay đổi diện mạo và chất lượng cuộc sống của người dân thành phố
Từ các định nghĩa trên cho chúng ta thấy một điểm chung ĐTH là một tiến trình mở rộng không gian nhân tạo (hay còn gọi là không gian sống phi truyền thống) theo nhiều chiều, chiếm lĩnh độ cao trên không gian, đi sâu xuống lòng đất và trải rộng ra trên bề mặt phủ mặt đất ĐTH tới đâu thì công trình xây dựng, CSHTKT và con người xuất hiện ở đó
Theo Quyết định số1570/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng
Trang 30-30/115-
TP.HCM đến năm 2025, thì TP.HCM sẽ là đô thị đặc biệt, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa,
khoa học và công nghệ, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước và là trung tâm công nghiệp
và dịch vụ tổng hợp của Khu vực Đông Nam Á
Các mục tiêu xây dựng TP.HCM như sau:
- Hài hòa giữa phát triển bền vững, phát triển kinh tế với bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và bảo vệ môi trường
- Đảm bảo an toàn, quốc phòng theo hướng liên kết vùng trở thành đô thị văn minh, hiện đại Đến năm 2025, dân số thành phố khoảng 10 triệu người
- Quy mô xây dựng các khu đô thị khoảng 90.000 đến 100.000 ha, trong đó khu phố
cổ khoảng 14.000 ha, khu đô thị khoảng 35.000 ha, vùng ngoại thị khoảng 40.000 đến 50.000 ha Với những mục tiêu trên, quá trình đô thị hóa TP.HCM diễn ra rất nhanh
1.1.1.2 Tiến trình đô thị hóa
a Đô thị lan tỏa từ một trung tâm Đây là loại hình đô thị được phát triển từ một thành phố trung tâm, còn gọi là vùng lõi hay hạt nhân Sau đó mở rộng, lan tỏa Khi sự bành trướng, lan tỏa đạt tới mức tối đa về diện tích, dân số thì sẽ trở thành một đại đô thị đơn cực
Theo PGS TS Nguyễn Minh Hòa: “Có một thành phố chủ đạo đóng vai trò là trung tâm
chính trị của toàn bộ vùng đô thị Thành phố này thường có hàng trăm năm tuổi và được coi là lõi, là linh hồn của toàn vùng Dù lớn đến đâu nó cũng hình thành từ một hạt nhân đầu tiên (core)”
“Ngay từ khi xuất hiện, hạt nhân này đồng thời diễn ra hai quá trình tích tụ và phân tán
Tự nó tỏa ra một sức hút khiến cho mọi người đổ dồn về ngày một đông” “cũng chính từ trung tâm đơn nhất này xuất hiện một tiến trình ngược lại Đó là sự mở rộng dần ra theo kiểu lan tỏa, tựa như những vòng sóng đồng tâm.”
Sài Gòn - TP.HCM là một ví dụ điển hình về đô thị hóa từ một trung tâm Năm 1862, khi người Pháp chủ trương lập ra một “thành phố châu Âu” thì Sài gòn khi ấy mới có 57km2, theo thời gian thành phố mở rộng ra theo kiểu “vết dầu loang” tới 170km2, và đạt đến 700km2 vào năm 1975, sau đó tiếp tục gia tăng lên 2100 km2 như hiện nay, sau khi nhập Cần Giờ, Củ Chi
về TP.HCM
Trang 31-31/115-
Hình 2 Bản đồ TP.HCM mô tả sự phát triển của đô thị đơn cực từ một trung tâm
Nguồn: PGS TS Nguyễn Minh Hòa
b Đô thị hóa đa trung tâm
Là vùng Đô thị được phát triển từ nhiều đô thị tập trung lại thành từng chùm đô thị, liên kết với nhau bởi hệ thống giao thông như đường cao tốc, tàu điện ngầm, đường sắt trên cao, đường hàng không…
Định nghĩa này theo PGS TS Nguyễn Minh Hòa: “ Vùng đô thị có thể rất lớn, khi ấy là
sự kết nối giữa các chùm đô thị kết nối với nhau tạo nên mạng đô thị (city net) bằng hệ thống giao thông liên hoàn, đa cấp gồm có đường cao tốc (super highway), hệ thống giao thông bánh sắt trên cao (MRT-Metro railway transit), hệ thống tàu điện ngầm dưới đất (underground), hệ thống đường thủy, đường hàng không Trong trường hợp này các nhà đô thị học đặt cho chúng với những cái tên mới mà rất khó tìm được trong từ điển như: liên hợp đô thị (megalopolis), dải đô thị, chuỗi đô thị (urban string), miền/vùng đại đô thị (mega-urban region/ urban area) Đặc điểm nổi bật và quan trọng nhất của vùng đô thị là ĐA CỰC (còn gọi là đa hạt nhân, đa tâm) PHI TẬP TRUNG HÓA.”
Trang 32-32/115-
Hình 3 Bản đồ mô tả hệ thống các thành phố vệ tinh của SEOUL
Nguồn:Trong cuốn Vùng đô thị Châu Á và Thành phố Hồ Chí Minh PGS TS Nguyễn Minh Hòa
1.1.2 Mở rộng bề mặt thành phố
Mở rộng bề mặt đô thị (hay mở rông không gian đô thị) được hiểu là độ phủ các công trình nhân tạo (công trình xây dựng, CSHTKT) lên trên bề mặt diện tích tự nhiên, mức độ phủ được tính thành %
1.1.3 Cơ sở Hạ tầng – Kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật chính là hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác (Luật Xây dựng số 50/2014/QH13)
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu bao gồm các công trình giao thông và hệ thống thoát nước Tác giả không quan tâm đến việc thu gom và xử
lý nước thải, chất thải rắn, chiếu sáng công cộng và các công việc khác như cảng trung chuyển, công trình thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, nghĩa địa, v.v
Cơ sở hạ tầng công nghệ đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và xã hội Nó được coi là động lực của sự phát triển đô thị và giúp thực hiện các hoạt động kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật và văn hóa hàng ngày của xã hội
Cơ sở hạ tầng công nghệ là tập hợp các ngành sản xuất theo hướng dịch vụ sử dụng mạng
lưới cơ sở vật chất để cung cấp tuần tự các dịch vụ như điện, giao thông, viễn thông, cấp thoát
Trang 33-33/115-
nước cho cư dân và tổ chức đô thị Đáp ứng yêu cầu sản xuất và sinh hoạt của đô thị Nó tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào sản xuất xã hội và đời sống hàng ngày, có liên quan chặt chẽ đến các đối tượng do hệ thống cung cấp
Mặt khác, cơ sở hạ tầng công nghệ là kết quả của quá trình phát triển đô thị và cũng là điều kiện để đô thị phát triển liên tục Sự phát triển của cơ sở hạ tầng công nghệ đòi hỏi phải
xem xét kỹ lưỡng tính chất, bố cục và các yêu cầu phát triển lâu dài của thành phố Hơn hết, hạ
tầng kỹ thuật cần được coi là một hệ thống độc lập, được quy hoạch và xây dựng thống nhất cả trên bộ và trên không
1.1.4 Công trình
Là sản phẩm nhân tạo được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình được liên kết định vị với đất Có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước, phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế (theo QCVN 03:2012/BXD)
Căn cứ vào công năng sử dụng công trình xây dựng được phân loại như sau:
- Công trình dân dụng bao gồm các loại nhà ở, nhà và công trình công cộng (theo QCVN 03:2012/BXD)
- Công trình công nghiệp là nơi mà trong đó diễn ra các quá trình sản xuất công nghiệp và phục vụ sản xuất, nằm trong các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, bao gồm có nhà (xưởng) sản xuất; nhà điều hành sản xuất; công trình phục vụ sản xuất (y tế, ăn uống, sinh hoạt, nghỉ ngơi, giải trí, học tập, văn hóa, dịch vụ, kho tàng, giao thông…) và công trình kỹ thuật (điện, cấp - thoát nước, thông gió, xử lý chất thải, phòng cháy chữa cháy ) (theo QCVN 03:2012/BXD)
- Công trình giao thông gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây số, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác (Luật giao thông đường bộ số số: 23/2008/QH12)
- Công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm: cấp nước, thoát nước, cấp điện, chiếu sáng, công trình cấp xăng dầu và khí đốt, thông tin liên lạc, hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn, nghĩa trang (theo QCVN 03:2012/BXD)
- Công trình quốc phòng, an ninh là công trình được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước do Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An quản lý, phục vụ quốc phòng, an ninh (Nghị định 46/2015/NĐ-CP)
Trang 34Tổ chức xã hội là cộng đồng dân cư và hoạt đông kinh tế - chính tri –văn hoá –xã hội mà
họ thực hiện
Để có được tổ chức vật chất đô thị người ta cần rất nhiều đến các loại vật liệu nhân tạo khác nhau, một trong số đó phải tính đến là bê tông và các vật liệu đi kèm theo nó Bất cứ một thành phố hiện đại nào, có quy mô lớn hay nhỏ đều phải sử dụng bê tông Ngày nay người ta sử dụng nhiều loại vật liệu mới như nhôm, kính, inox, sắt , thép, hợp kim, composit, nhựa, epoxy vào xây dựng công trình, nhưng bê tông vẫn là thành phần chủ lực trong việc tạo nên nền móng, đặc biệt là những công trình có bề măt rộng lớn như sân, đường đi và có khẩu độ lớn như cầu,…
1.1.6 Bê tông 1.1.6.1 Khái niệm bê tông
Bê tông được bắt nguồn từ tiếng Pháp là béton Bê tông được xem là một loại đá nhân tạo được hình thành bởi các thành phần như cốt liệu thô, cốt liệu mịn, chất kết dính, phối hợp với nhau theo một tỷ lệ nhất định
Trong bê tông, chất kết dính (xi măng + nước, nhựa đường, phụ gia ) làm vai trò liên kết các cốt liệu thô (đá, sỏi, đôi khi sử dụng vật liệu tổng hợp) và cốt liệu mịn (thường là cát, đá mạt, đá xay, ) và khi đóng rắn, làm cho tất cả thành một khối cứng như đá
Thành phần quan trọng nhất của bê tông là từ Clinker Thành phần hóa học chủ yếu của phối liệu gồm 4 oxit chính như: CaO (oxit canxi, từ đá vôi), và SiO2 (oxit silic), Fe2O3 (oxit sắt ba), Al2O3 (oxit Nhôm, các oxit này từ đất sét); nếu thiếu sẽ được bổ sung bằng các phụ gia điều chỉnh kể trên 4 oxit chính trong phối liệu khi nung đến 1450oC sẽ phản ứng với nhau tạo thành 04 khoáng chính trong clinker là: C3S (3CaO SiO2) ; C2S( 2Cao.SiO2) ; C3A (3CaO.Al2O3) ; C4AF (4CaO Al2O3 Fe2O3).Các khoáng này có cấu trúc tinh thể khác nhau và quyết định đến tính chất của clinker Để có thể sử dụng được thì chúng ta còn phải nghiền và trộn clinker với các thành phần khác để tạo thành xi măng - một chất kết dính quan trọng trong xây dựng Sau khi nung nóng, clinker sẽ được làm mát, sau đó, clinker sẽ được cho và máy nghiền, trộn để tơi ra chứ không bị đóng cục và đảm bảo khả năng kết dính thì sẽ cho thêm 1 lượng canxi sunfat cùng đá vôi vào nghiền chung
Trang 35-35/115-
Theo GS TSKH Phùng Văn Lư cho biết: Bê tông là một loại đá nhân tạo thu được bằng cách đúc và đông đặc một hỗn hợp hợp lý của chất kết dính, nước và cốt liệu (cát, sỏi, đá dăm, phụ gia) Nguyên liệu thô mới trộn được gọi là hỗn hợp bê tông hay bê tông tươi Cốt liệu có chức năng như một khung chịu lực Keo dán và nước bao quanh các hạt cốt liệu đóng vai trò như các chất bôi trơn và lấp đầy khoảng trống giữa các hạt cốt liệu, tạo ra độ dẻo của hỗn hợp
bê tông Sau khi đóng rắn, chất kết dính là bê tông với các hạt cốt liệu trong một khối đồng nhất Bê tông và cốt thép được gọi là bê tông cốt thép Trong số đó, chất kết dính có thể là xi măng các loại, thạch cao, vôi sống, cũng có thể là chất kết dính hữu cơ và polyme Cụ thể, cốt liệu thường chiếm 80-85% và xi măng chiếm 10-20% thể tích (Phùng Văn Lư, 2005)
Bê tông và bê tông cốt thép được sử dụng rộng rãi trong xây dựng hiện đại vì có cường
độ tương đối cao, khả năng tạo hình dạng tốt Một chất rẻ tiền, bền vững và ổn định chống lại mưa, nắng, nhiệt độ và độ ẩm
1.1.6.2 Lịch sử ra đời bê tông
Những cấu trúc giống như bê tông đầu tiên được xây dựng bởi các thương nhân Nabataea hoặc Bedouin, những người đã chiếm giữ và kiểm soát một loạt các ốc đảo và phát triển một đế chế nhỏ ở các vùng phía nam Syria và bắc Jordan vào khoảng năm 6500 trước Công nguyên Khi chế tạo bê tông, Nabataea hiểu rằng cần phải giữ hỗn hợp càng khô hoặc độ sụt càng thấp càng tốt, vì nước dư thừa sẽ tạo ra các lỗ rỗng và là điểm yếu bê tông Họ thực hành xây dựng bao gồm việc thuần hóa bê tông mới bằng các công cụ đặc biệt Quá trình xáo trộn tạo ra nhiều keo hơn, đó là vật liệu liên kết được tạo ra bởi các phản ứng hóa học diễn ra trong quá trình hydrat hóa liên kết các hạt và tập hợp lại với nhau Vào khoảng năm 700 trước công nguyên, một số đế chế nhỏ ở Vùng nam Syria và bắc Jordan đã phát hiện ra vôi thủy lực với một số tính chất tương tự như xi măng Từ đó, họ đã xây dựng các lò nung để cung cấp vữa cho việc xây dựng các công trình bằng gạch, sàn được lót bằng vôi thủy lực và bể chứa nước chống thấm ngầm (Gromicko, Nick, Shepard, Kenton, 2016)
Khoảng năm 3000 trước Công nguyên, người Ai Cập cổ đại đã sử dụng bùn trộn với rơm để tạo thành gạch Họ cũng sử dụng vữa thạch cao và vôi trong việc xây dựng các kim
tự tháp, mặc dù hầu hết chúng ta nghĩ về vữa và bê tông là hai vật liệu khác nhau Kim tự tháp
vĩ đại tại Giza cần khoảng 500.000 tấn vữa, được sử dụng làm vật liệu nền cho các viên đá hình thành bề mặt có thể nhìn thấy của kim tự tháp đã hoàn thành Điều này cho phép thợ xây đá khắc và đặt đá vào với các khớp mở không rộng hơn 1/50 inch
Cũng trong khoảng thời gian này, người miền bắc Trung Quốc đã sử dụng một hình thức
xi măng trong việc đóng thuyền và xây dựng Vạn Lý Trường Thành Thử nghiệm máy quang phổ đã xác nhận rằng một thành phần quan trọng trong vữa được sử dụng trong Vạn Lý Trường
Trang 36-36/115-
Thành và các cấu trúc cổ xưa khác của Trung Quốc là gluten, gạo nếp Một số trong những cấu trúc này đã chịu được thử thách của thời gian và đã chống lại ngay cả những nỗ lực hiện đại trong việc phá hủy
Vào thời kỳ cổ đại, các nhà xây dựng người La Mã đã phát hiện rằng việc cho thêm tro núi lửa vào nước sẽ tạo ra một hỗn hợp không thấm nước Sàn hỗn hợp tương tự như bê tông
đã được tìm thấy trong cung điện hoàng gia Tiryns ở Hy Lạp và có niên đại khoảng 14.000 trước Công nguyên (Heinrich Schliemann, Wilhelm Dörpfeld, Felix Adler, 1885) Các khẩu súng cối được làm bằng vôi được sử dụng ở Hy Lạp, Bêlarut và Síp vào năm 800 trước Công nguyên Năm 300 (TCN) đến năm 400 (TCN) người La Mã đã sử dụng bê tông rộng rãi Người
La Mã đã chế tạo được bê tông La Mã (opuss caementicium) và nó được chế tạo từ vôi, pozzolana và hỗn hợp đá bọt, đây là phát hiện quan trọng trong cách mạng kiến trúc La Mã, các kiến trúc sư đã giải phóng việc xây dựng khỏi hạn chế của vật liệu đá và gạch Bê tông cho phép họ thực hiện các phép thiết kế mang tính cách mạng về độ phức tạp và kích thước kế cấu
Bê tông là một vật liệu mới và mang tính cách mạng Được đặt trong hình dạng của vòm, hầm và mái vòm, nó nhanh chóng cứng lại thành một khối cứng chắc, thoát khỏi nhiều lực đẩy
và biến dạng bên trong gây khó khăn cho những người xây dựng các cấu trúc tương tự bằng đá hoặc gạch (D.S.Robertson, 1969) Nó cho phép các thiết kế mới mang tính cách mạng về cả độ phức tạp và kích thước cấu trúc (Lancaster, Lynne, 2005) Mái vòm của các đấu trường La Mã được các kiến trúc sư thời kỳ này xây dựng chủ yếu bằng bê tông và không có cốt thép (Moore, David, 1999)14 Việc sử dụng rộng rãi bê tông trong nhiều cấu trúc La Mã đảm bảo rằng nhiều công trình còn tồn tại cho đến ngày nay, ví dụ như các tấm Caracalla tại Rome, nhiều cống và cầu La Mã như Pont du Gard tráng lệ ở miền Nam nước Pháp, có khối xây trên lõi bê tông, cũng như mái vòm của Pantheon
Pantheon được xây dựng bởi Hoàng đế Hadrian của Rome và hoàn thành vào năm 125 sau Công nguyên, Pantheon có mái vòm bê tông cốt thép lớn nhất từng được xây dựng Mái vòm có đường kính 142 feet và có một lỗ 27 feet, được gọi là oculus, ở đỉnh của nó, cao hơn
142 feet so với sàn nhà Pantheon có các bức tường móng bên ngoài rộng 26 feet và sâu 15 feet
và được làm bằng xi măng pozzolana (vôi, cát núi lửa phản ứng và nước) nằm gọn trên một lớp đá tổng hợp dày đặc Trong gần 2.000 năm, cùng với các trận động đất thường xuyên, đã tạo ra các vết nứt đã làm suy yếu cấu trúc đủ để đến bây giờ đã bị sụp đổ
Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã vào năm 476 sau Công nguyên, kỹ thuật sản xuất xi măng pozzolan đã bị mất cho đến khi phát hiện ra các bản thảo mô tả nó được tìm thấy vào năm
1414 Điều này gợi lại sự quan tâm đến việc xây dựng bằng bê tông
Đến năm 1793, công nghệ này đã có một bước tiến lớn khi John Smeaton phát hiện ra
Trang 37Trong thời gian cuối thế kỷ thứ 19, việc sử dụng bê tông cốt thép đã được phát triển nhiều hơn đồng thời bởi một người Đức, GA Wayss, một người Pháp, Francois Hennebique, và một người Mỹ, Ernest L Ransome Ransome bắt đầu xây dựng bằng bê tông cốt thép vào năm 1877
và được cấp bằng sáng chế một hệ thống sử dụng các thanh vuông xoắn để cải thiện mối liên kết giữa thép và bê tông Hầu hết các cấu trúc ông xây dựng là công nghiệp
Hennebique bắt đầu xây dựng những ngôi nhà được gia cố bằng thép ở Pháp vào cuối những năm 1870 Ông đã nhận được bằng sáng chế ở Pháp và Bỉ cho hệ thống của mình và rất thành công, cuối cùng xây dựng một đế chế bằng cách bán nhượng quyền tại các thành phố lớn Ông đã thúc đẩy phương pháp của mình bằng cách giảng bài tại các hội nghị và phát triển các tiêu chuẩn của công ty Cũng như Ransome, hầu hết các cấu trúc mà Hennebique xây dựng là công nghiệp Năm 1879, GA Wayss đã mua bản quyền cho một hệ thống được cấp bằng sáng chế bởi một người Pháp tên là Monier, người bắt đầu sử dụng thép để gia cố các chậu hoa bê tông và trồng các thùng chứa Cách thức thúc đẩy hệ thống Cách-Monier
Năm 1902, August Perret đã thiết kế và xây dựng một tòa nhà chung cư ở Paris bằng
bê tông cốt thép cho các cột, dầm và sàn Tòa nhà không có tường chịu lực, nhưng nó có mặt tiền trang nhã, giúp bê tông dễ chấp nhận hơn về mặt xã hội Tòa nhà được nhiều người ngưỡng mộ và bê tông được sử dụng rộng rãi hơn làm vật liệu kiến trúc cũng như vật liệu xây dựng Thiết kế của nó có ảnh hưởng trong việc thiết kế các tòa nhà bê tông cốt thép trong những năm sau đó
Năm 1913, tải đầu tiên của hỗn hợp trộn sẵn đã được chuyển đến ở Baltimore, Maryland Bốn năm sau, Cục Tiêu chuẩn Quốc gia (nay là Cục Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia) và
Trang 38-38/115-
Hiệp hội Thử nghiệm và Vật liệu Hoa Kỳ (nay là Quốc tế ASTM) đã thiết lập một công thức tiêu chuẩn cho xi măng Portland
1.1.7 Bê tông hóa trong đô thị
Như đã nói ở trên, ở các đô thị hiện đại, vai trò của bê tông rất cần thiết vì được sử dụng
để xây dựng các công trình xây dựng và hạ tầng kỹ thuật Phát triển đô thị luôn cần được gắn liền với bê tông, nhưng nếu bê tông hóa quá mức sẽ không kiểm soát được và tràn lan đâu đâu cũng thấy bê tông, gây hậu quả xấu ảnh hưởng đến cuộc sống Trong luận văn, khái niệm
“bê tông hóa” được sử dụng như một từ đồng nghĩa với bê tông hóa bề mặt quá mức
Bê tông hóa có thể được phát triển theo hai phương là phương đứng và phương ngang Phương ngang bao gồm sự phát triển theo các hướng, các tuyến như cầu, đường, đường băng, bến tàu, kè biển…Bê tông hóa theo phương đứng gồm có các công trình nhà cao tầng, tường bao che,…
Tóm lại, bê tông hoá đô thị là hiện tượng đổ bê tông diện rộng hay đại trà bao phủ bề mặt đô thị trong quá trình đô thị hóa Hiện tượng bê tông hóa lan tỏa trong đô thị làm cho diện tích không gian tự nhiên và không gian xanh trong đô thị giảm dần
Bê tông được sử dụng rộng rãi trong xây dựng các công trình kiến trúc, móng, gạch không nung hay gạch block, mặt lát của vỉa hè, cầu và cầu vượt, đường lộ, đường băng, các cấu trúc trong bãi đỗ xe, đập, hồ chứa/bể chứa nước, ống cống, chân cột cho các cổng, hàng rào, cột điện và thậm chí là thuyền, bởi vì nó có rất nhiều lợi thế mà vật liệu khác không
có được:
- Làm cứng bề mặt công trình Trong xây dựng truyền thống, các vật liệu tự nhiên được sử dụng để phủ bề mặt, chẳng hạn như đất trộn rơm, phân bò, ngựa trộn bùn để trát mặt ngoài vách nhà, nhưng chỉ sau một thời gian thì chúng bị nứt nẻ, nước mưa xói mòn Từ khi có bê tông thì bề mặt công trình như tường, vách, trần, nền được làm cứng, độ bền có thể lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm năm,…
- Bảo vệ công trình không bị thấm Bề mặt nguyên thuỷ của một khu vực là đất tự nhiên, không bằng phẳng, nước thấm hay bốc hơi tự nhiên Khi xây dựng người ta cần gia cố bề mặt rộng hơn một công trình (một toà nhà) để đảm bảo nước không thấm vào công trình, trong trường hợp này các kỹ sư xây dựng sử dụng bê tông phủ
bề mặt để đảm bảo cho nước không thấm, không để cho rong rêu, cỏ mọc trên bề mặt ngang và thẳng đứng của công trình,…
- Bê tông không bắt lửa như gỗ, giấy, nhựa vì thế nếu công trình có lỡ xảy ra hỏa hoạn thì tốc độ cháy sẽ không nhanh như nhà gỗ Nếu đám cháy không quá lớn, và không lâu thì công trình vẫn được bảo vệ
Trang 39- Giúp tăng không gian sử dụng, tăng tính tiện ích và thẩm mỹ cho công trình Ưu điểm này hoàn toàn vượt trội hơn so với cách xây dựng từ ngày xưa khi vật liệu chỉ
là đất, đá, gỗ
- Tính chống lún của bê tông: với đặc tính cứng, bền bỉ với thời gian, bê tông được sử dụng để gia cố, chống sụt lún thay thế cho địa hình vốn có chất đất mềm, xốp hoặc những vùng đất rỗng đang có nguy cơ bị sụt lún Phục vụ cho sự phát triển của đô thị và xây dựng các công trình
- Chịu được va đập, ít biến dạng Bê tông, nhất là bê tông mác cao có sức chịu va đập lớn, nhiều công trình bị động đất, bom đạn nhưng vẫn đứng vững và có thể phục hồi được
Tuy nhiên, bê tông cũng có những hạn chế nhất định Ở đây, có một vấn đề cần làm rõ, bê tông tự thân nó không có lỗi hay tiêu cực ở đây, thực sự nó chỉ là một loại vật liệu xây dựng, nhưng con người sử dụng nó nếu không hiểu tính chất lý hoá của nó, cũng như lạm dụng nó quá mức sẽ mang đến những hệ quả không tốt cho xã hội Chúng ta có thể kể ra rất nhiều những hạn chế của nó, chẳng hạn như hấp nhiệt, giữ nhiệu lâu, ngăn nước thẩm thấu đến nơi cần trữ nước, tải trọng nặng gây lún, xi măng sau khi sử dụng rất khó tái chế, giá thành xây dựng cao, (những mặt tiêu cực này sẽ được trình bày kỹ hơn ở chương 1 và 2)
1.1.8 Vùng đô thị hóa mới
Vùng ven cũng chỉ mới được các nhà nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa quan tâm từ đầu thế kỷ 21 “Vùng ven - periurban” được sử dụng trong các công trình nghiên cứu khoa học để chỉ sự thay đổi đô thị ngày nay tại các nước đang phát triển Micheal Leaf thì từ vùng ven - periurban là do sự kết hợp giữa hai từ peripheral (ngoại biên) và urban (đô thị) Terry McGee xác định vùng ven là vùng có sự tương tác giữa nông thôn và thành thị Tuy nhiên, trong các vùng đại đô thị như trường hợp của Hà Nội và TP.HCM cứ lấn sang và mở rộng thông qua tái
Trang 40-40/115-
phân định ranh giới hành chính, do đó vùng ven không cố định về mặt địa lý Còn vùng ngoại
vi (ngoại thành) thì cứ tiếp tục mở rộng ra ngoài cùng với các hoạt động xâm chiếm vùng nông thôn Như vậy, mặc dù vùng ven của các vùng đô thị đều bị tác động giống nhau bởi những lực kinh tế - xã hội, nhưng thường giữa các vùng đô thị vẫn có những khác biệt sâu sắc do mức phát triển kinh tế, kinh tế - chính trị và văn hóa của từng quốc gia, từng khu vực trở nên khác nhau (Terry McGee.2008)
Về mặt hành chính địa giới thì vùng ven không chỉ được định nghĩa bao gồm các khu vực quận/huyện bao quanh nội thành thành phố Vùng ven được xem là các quận mới nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu vực trung tâm và ngoại thành Tại TP.HCM, các quận ven khác với các quận nội thị hoặc huyện ngoại thành do có đặc điểm gần như bán thôn, bán thị, với diện tích đất nông nghiệp vẫn còn khá nhiều, chiếm tỷ trọng bình quân từ 10- 30% trên tổng diện tích đất tự nhiên Chính vì quỹ đất còn nhiều để chuyển đổi từ đất nông thôn sang đất đô thị nên trong quá trình phát triển và mở rộng nội thị của thành phố, khu vực vùng ven có thể xem như một vùng “đệm”, qua quá trình phát triển, sẽ cùng hòa nhập vào khu vực nội thành (đô thị) hiện hữu
Về mặt hành chính địa giới thì vùng ven không chỉ được định nghĩa bao gồm các khu vực quận/huyện bao quanh nội thành thành phố Vùng ven được xem là các nơi quận mới nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu vực trung tâm và ngoại thành.Theo Viện Quy hoạch xây dựng TP Hồ Chí Minh, quận ven khác với quận nội thị hoặc huyện ngoại thành do có đặc điểm gần như bán thôn, bán thị, với diện tích đất nông nghiệp vẫn còn khá nhiều, chiếm tỷ trọng bình quân từ 10-30% trên tổng diện tích đất tự nhiên Chính vì quỹ đất còn nhiều để chuyển đổi từ đất nông thôn sang đất đô thị nên trong quá trình phát triển và mở rộng nội thị của thành phố, khu vực vùng ven có thể xem như một vùng “đệm”, qua quá trình phát triển sẽ cùng hòa nhập vào khu vực nội thành (đô thị) hiện hữu Vùng ven là vùng vành đai chuyển tiếp giữa một đô thị lớn và nông thôn xung quanh, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa nông thôn, nên không hẳn là nông thôn mà cũng chưa phải là đô thị thực sự Dù có nhiều định nghĩa theo nhiều góc độ khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều có chung một quan điểm vùng ven là vùng đệm, vùng chuyển tiếp đang đô thị hóa từ vùng nông thôn sang vùng đô thị là vùng giáp ranh với đô thị Như vậy, vùng ven là vùng đang bị đô thị hóa tác động, hình thành nên quận mới từ huyện và đang ngày càng thay đổi do tác động của đô thị hóa Ở đó, diện tích đất nông nghiệp càng ngày càng bị thu hẹp
Những quận mới thành lập từ huyện được hiểu chung là vùng ven vì bản thân huyện còn lại cũng bị tác động của đô thị hóa như trường hợp của Thủ Đức, Quận 2, Quận 9, Quận 7, huyện Nhà Bè (1997) và quận Bình Tân, huyện Bình Chánh, Quận 12 và huyện Hóc Môn