Hồ Chí Minh, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn với đề tài: Đặc điểm của diễn ngôn hội thoại trong phỏng vấn tuyển dụng lĩnh vực tiếp thị.. Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề Đặc điểm của diễ
Trang 3dẫn của PGS.TS Đặng Ngọc Lệ Kết quả nêu trong Luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác Các trích dẫn và nội dung tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm khoa học và pháp lý về tất cả những nội dung Tôi
đã công bố trong Luận văn này
Tác giả luận văn
Lâm Trà My
Trang 4Nhân văn TP Hồ Chí Minh, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn với đề tài: Đặc điểm của diễn ngôn hội thoại trong phỏng vấn tuyển dụng (lĩnh vực tiếp thị) Ngoài
sự nỗ lực, nghiên cứu của bản thân, luận văn này được hoàn thành chính nhờ sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS TS Đặng Ngọc
Lệ, người thầy đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban chủ nhiệm khoa, Quý thầy, cô là giảng viên Khoa Ngôn ngữ học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong thời gian vừa qua
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn tới những người thân, đồng nghiệp những người luôn ở bên cạnh đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5NPV: Người phỏng vấn (hay nhà tuyển dụng)
NVKD: Nhân viên kinh doanh
PVTD: Phỏng vấn tuyển dụng
PV: Phỏng vấn
UV: Ứng viên (người được phỏng vấn)
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1.a Bảng thống kê cuộc phỏng vấn có sử dụng thuật ngữ theo vị trí tuyển dụng 33
2 Bảng 2.1.b
Bảng thống kê cuộc phỏng vấn có sử dụng thuật ngữ - vị trí nhân viên bán hàng 33
3 Bảng 2.3.2.a Bảng thống kê đối tượng ứng viên có đặt câu hỏi 56
4 Bảng.2.3.2.b Bảng thống kê các đặc điểm giao tiếp của ứng viên chưa có kinh nghiệm 61
Trang 6MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Vài nét về lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3.1 Tình hình nghiên cứu diễn ngôn hội thoại 2
3.2 Tình hình nghiên cứu thể loại phỏng vấn 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 6
7 Bố cục luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
1.1 Kiến thức về phân tích diễn ngôn 8
1.1.1 Quan niệm về diễn ngôn 8
1.1.2 Các hướng phân tích diễn ngôn 9
1.2 Vấn đề lý thuyết về hội thoại 11
1.2.1 Cấu trúc của hội thoại 11
1.2.1.1 Cuộc thoại (conversation) 13
1.2.1.2 Đoạn thoại (sequence) 13
1.2.1.3 Cặp thoại (exchange) 13
1.2.1.4 Lượt lời (turn at talk) 14
1.2.1.5 Hành động ngôn ngữ (speech act) 14
1.2.2 Nguyên tắc hội thoại 17
1.2.3 Mạch lạc trong hội thoại 20
1.2.4 Thương lượng trong hội thoại 22
1.3 Khái lược về phỏng vấn tuyển dụng trong lĩnh vực tiếp thị 23
1.3.1 Hoạt động tuyển dụng 23
1.3.2 Phỏng vấn trong tuyển dụng 24
1.3.3 Đặc điểm xã hội của người phỏng vấn và ứng viên 25
1.3.4 Phỏng vấn tuyển dụng trong lĩnh vực tiếp thị 26
1.3.4.1 Đặc điểm của lĩnh vực tiếp thị 26
Trang 7ĐẶC ĐIỂM VỀ TỪ NGỮ VÀ CẤU TRÚC HỘI THOẠI 31
PHỎNG VẤN TUYỂN DỤNG 31
2.1 Từ ngữ trong hội thoại PVTD 31
2.2 Cấu trúc cuộc PVTD từ góc nhìn văn bản 36
2.2.1 Phần mở thoại 36
2.2.2 Phần thân thoại 40
2.2.3 Phần kết thoại 44
2.3 Đặc điểm về cấu trúc cuộc PVTD qua sự tương tác giữa các lượt hỏi - đáp 46
2.3.1 Mục đích hỏi để xác nhận thông tin và đáp tương ứng 47
2.3.2 Mục đích hỏi để tìm hiểu thông tin và đáp tương ứng 52
TIỂU KẾT 63
Chương 3: 65
ĐẶC ĐIỂM VỀ MẠCH LẠC VÀ 65
CHIẾN LƯỢC GIAO TIẾP TRONG PHỎNG VẤN TUYỂN DỤNG 65
3.1 Mạch lạc trong hội thoại PVTD 65
3.1.1 Mạch lạc trong sự tương tác giữa các lượt lời 65
3.1.2 Mạch lạc trong quan hệ lập luận 69
3.2 Chiến lược giao tiếp trong hội thoại PVTD 72
3.2.1 Chiến lược giao tiếp của người phỏng vấn 72
3.2.1.1 Tác động có chủ đích đến thể diện của ứng viên 72
3.2.1.2 Tác động đến tâm lý của ứng viên bằng sự im lặng 76
3.2.2 Chiến lược giao tiếp của ứng viên 77
3.2.2.1 Đảm bảo về lượng thông tin trong lượt lời 77
3.2.2.2 Đảm bảo nguyên tắc luân phiên lượt lời 81
3.2.2.3 Sử dụng tối ưu hành động khẳng định 82
3.3 Thương lượng trong hội thoại PVTD 82
3.3.1 Đặc điểm của thương lượng trong hội thoại PVTD 82
3.3.2 Chiến lược thương lượng trong hội thoại PVTD 87
TIỂU KẾT 92
KẾT LUẬN 93
Trang 82 VỊ TRÍ TUYỂN DỤNG: NHÂN VIÊN MARKETING 22
3 VỊ TRÍ TUYỂN DỤNG: NHÂN VIÊN CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG 37
4 VỊ TRÍ TUYỂN DỤNG: NHÂN VIÊN BÁN HÀNG 45
Trang 9Chính sách mở cửa của Chính phủ đã thúc đẩy sự phát triển về kinh tế của Việt Nam Một trong những dấu hiệu cho thấy điều này là số lượng doanh nghiệp gia tăng, đa dạng về cách thức, quy mô và thành phần Đồng thời, nguồn lao động chất lượng là yếu tố then chốt đi đôi với sự phát triển này Từ đây, các hoạt động liên quan đến tuyển dụng nhân sự trong doanh nghiệp được quan tâm sâu sắc và được chuẩn hóa thành quy trình chuyên nghiệp Theo đó, hoạt động quan trọng của quy trình tuyển dụng mà trong đó vai trò của hoạt động nói năng giữ vị thế quyết định đến sự thành công của tuyển dụng, đó chính là cuộc phỏng vấn giữa nhà tuyển dụng (có thể là chủ doanh nghiệp hoặc đại diện chủ doanh nghiệp) và ứng viên
Tìm hiểu những nghiên cứu về diễn ngôn hội thoại nói chung, thể loại phỏng vấn nói riêng, chúng tôi nhận thấy, đa phần các tác giả quan tâm phân tích diễn ngôn hội thoại trong tác phẩm văn học, báo chí, truyền hình Trong đó, tùy vào loại diễn ngôn và định hướng nghiên cứu mà mỗi tác giả lựa chọn các góc độ phân tích khác nhau, ví như: phân tích diễn ngôn dưới góc độ ngữ vực, cấu trúc, ngữ
nghĩa, ngữ dụng, v.v Riêng lĩnh vực nghiên cứu diễn ngôn trong hoạt động tuyển
dụng hầu như còn vắng bóng Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề Đặc điểm của diễn
ngôn hội thoại trong phỏng vấn tuyển dụng (lĩnh vực tiếp thị) làm đề tài luận văn
thạc sĩ ngôn ngữ học với mong muốn đóng góp vào chuỗi nghiên cứu về diễn ngôn hội thoại trong một lĩnh vực mới như tuyển dụng
Trang 10Thuật ngữ diễn ngôn xuất hiện lần đầu trong tác phẩm Hoạt động nói năng
và văn bản của nhà ngôn ngữ học người Bỉ - E Buysen (1943) với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn Khái niệm diễn ngôn ra đời đi kèm với hoạt động phân tích diễn ngôn và đến năm 1952, Zellig Harris đã xuất bản công trình nghiên cứu của mình với tiêu đề "Phân tích diễn ngôn" (Discourse analysis) Mặc dù quan điểm
phân tích diễn ngôn của Harris khác xa với phân tích diễn ngôn ngày nay, nhưng tác giả vẫn được xem là người mở đường trong lĩnh vực này Trong những năm 60 của
thế kỉ XX, thuật ngữ diễn ngôn cũng như hoạt động phân tích diễn ngôn đã phát
triển và được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
Nếu phân loại theo dạng tồn tại thì người ta dùng thuật ngữ diễn ngôn để
chỉ chung cho cả dạng nói và viết, diễn ngôn dạng nói được hiểu là diễn ngôn hội thoại (hay hội thoại), diễn ngôn dạng viết được hiểu là văn bản
Nghiên cứu về hội thoại phải kể đến những đóng góp to lớn của các nhà ngôn ngữ như: N Chomsky, J.Austin, J Fillmore, H.P Grice, S C Dik, v.v
Ở Việt Nam, ngữ dụng học nói chung và lí thuyết hội thoại nói riêng xuất hiện khá muộn so với các chuyên ngành khác thuộc ngôn ngữ học Tuy nhiên, trong khoảng gần hai thập niên trở lại đây, nhiều nhà nghiên cứu đã công bố những công trình có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề hội thoại Chẳng hạn, Nguyễn
Đức Dân (1998) đã dành toàn bộ Chương III trong cuốn Ngữ dụng học để giới thiệu
về phương pháp nghiên cứu hội thoại, cấu trúc hội thoại, nguyên lý hội thoại và
phép lịch sự Đỗ Hữu Châu với công trình Đại cương Ngôn ngữ học (2001), Giáo trình ngữ dụng học (2007), đã tóm lược tiến trình hình thành và định hướng tiếp cận
lý thuyết hội thoại Tác giả Đỗ Thị Kim Liên (1999) cho ra đời cuốn Ngữ nghĩa lời hội thoại, nội dung chính là nghiên cứu câu hỏi – đáp trên bình diện ngữ nghĩa Đến năm 2005, tác giả lại tiếp tục công bố Giáo trình Ngữ dụng học với nội dung cập
nhật thêm lý thuyết hội thoại trong tác phẩm văn học
Trang 11Các công trình trong nước đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc hội thoại và các đơn vị hội thoại Có thể kể ra đây các công trình của Nguyễn Thị Đan (1994), Nguyễn Chí Hòa (1996), Huỳnh Văn Thông (1996), Dương Tuyết Hạnh, (1999; 2007), Nguyễn Văn Đồng (2018), v.v Các công trình nghiên cứu chi tiết về các hành động ngôn ngữ trong hội thoại như: Đặng Thị HảoTâm (2010), Nguyễn Anh Tuấn (2010), Trần Phúc Trung (2011), Dương Thị My Sa (2015), v.v
Bên cạnh đó, lí thuyết hội thoại còn được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ ứng dụng vào những phạm vi giao tiếp cụ thể như giao tiếp mua bán, giao tiếp đàm phán thương mại, hội thoại dạy học, hội thoại giữa tư vấn viên tổng đài và người gọi điện, v.v
3.2 Tình hình nghiên cứu thể loại phỏng vấn
Bàn về thể loại phỏng vấn, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong nước bước đầu quan tâm đến các lĩnh vực hội thoại dạng phỏng vấn điển hình như báo chí, truyền hình, phát thanh Các nghiên cứu đi từ sơ giản cho đến khảo sát chuyên sâu
về các đặc trưng liên quan đến ngôn ngữ phỏng vấn Có thể kể đến một số nghiên cứu sau đây
Trong Giáo trình Phỏng vấn báo chí (2015), tác giả Lê Thị Nhã đã tiến hành
phân loại phỏng vấn và nêu các tiêu chí sáng tạo tác phẩm phỏng vấn; đồng thời đưa ra quy trình, kĩ năng thực hiện phỏng vấn trên báo in Ngoài ra, tác giả còn phân biệt các đặc trưng và cách thức tiến hành phỏng vấn trên báo phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử trong sự so sánh với phỏng vấn trên báo in Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu khá đầy đủ về phỏng vấn trên báo in dưới góc độ thể loại báo chí Dù vậy, những đặc điểm ngôn ngữ khi tiến hành phỏng vấn chưa được tác giả đề cập
Công trình Ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình của Hà Nguyên Sơn (2006)
nghiên cứu diễn tiến ngôn ngữ phỏng vấn trong các chương trình thời sự, thể loại chân dung, gameshow và sự chi phối của ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình đối với vấn đề tác nghiệp; nghệ thuật đặt câu hỏi đối với các vị khách mời Tác giả Trần Phúc Trung (2011) đã tiến hành nghiên cứu hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng
Trang 12vấn truyền hình trên các kênh của VTV (Việt Nam) và TV5 (Pháp) Luận án đã tập trung phân loại hành động hỏi trong phỏng vấn, các nhân tố giao tiếp ảnh hưởng đến hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn truyền hình, đưa ra được các phương tiện ngôn ngữ diễn tả hành động hỏi Mặt khác, điểm đáng chú ý là trong công trình này, tác giả đã bước đầu nghiên cứu những ảnh hưởng của văn hóa và ứng xử ngôn ngữ đối với hành động hỏi, phương pháp đặt câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình Tuy nhiên, tác giả mới chỉ nghiên cứu ngôn ngữ phỏng vấn ở hành động trao lời (hỏi), còn hành động đáp lời chưa được đề cập
Nghiên cứu về phép lịch sự trong phỏng vấn gồm có: Tác giả Hoàng Lê Thúy Nga (2008) khảo sát ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên Huế nhằm góp phần làm rõ giao tiếp hội thoại trong phỏng vấn truyền hình; đồng thời nêu ra những đặc điểm về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của phát ngôn hỏi trong các cuộc phỏng vấn của Đài Truyền hình Thừa Thiên Huế Có thể nói đây là luận văn đầu tiên đề cập đến ngôn ngữ phỏng vấn dưới ánh sáng của lí thuyết hội thoại Tuy nhiên, tác giả mới dừng lại nghiên cứu về cấu trúc cuộc thoại của các cuộc phỏng vấn trên truyền hình địa phương, những đặc trưng về ngôn ngữ hội thoại phỏng vấn,
sự tương tác của các cặp thoại hỏi – đáp chưa được đề cập Tác giả Vũ Thị Bảo Thơ (2009) bước đầu tiến hành nghiên cứu cấu trúc của tham thoại, cặp thoại phỏng vấn báo in, tuy nhiên công trình vẫn còn ở mức sơ giản Nguyễn Anh Tuấn (2010) đã làm rõ các hành động ngôn ngữ thỏa mãn tính lịch sự và không thỏa mãn tính lịch
sự trong thể loại phỏng vấn truyền hình Tác giả Phạm Thị Mai Hương (2016),
trong luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn (trên tư liệu báo
in tiếng Việt hiện nay), đã đi sâu hơn vào phân tích đặc điểm, chức năng của cặp
thoại trong phỏng vấn báo in cũng như các chiến lược phỏng vấn dựa trên nguyên tắc giao tiếp thuộc lý thuyết hội thoại Luận án của tác giả đã có đóng góp nhất định vào chuỗi các nghiên cứu liên quan đến phỏng vấn dưới góc độ ngôn ngữ học Luận
án tiến sĩ Lịch sự trong phỏng vấn báo chí (2017) của tác giả Phạm Thị Tuyết Minh
đã trình bày kết quả nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ và các yếu tố ngôn ngữ trong mối quan hệ với phép lịch sự
Trang 13Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về hội thoại phỏng vấn trong nước còn khá rời rạc và mới chỉ tập trung vào những lĩnh vực quen thuộc là báo chí, truyền hình, thương mại Để các nghiên cứu thực sự có giá trị, đòi hỏi chúng ta phải vận dụng linh hoạt các lý thuyết, kết hợp liên ngành trong nghiên cứu các bình diện của giao tiếp xã hội
Những kết quả nghiên cứu liên quan đến hội thoại phỏng vấn là tư liệu tham khảo hữu ích cho chúng tôi trong việc thực hiện đề tài luận văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là diễn ngôn hội thoại của các cuộc phỏng vấn tuyển dụng nhân viên kinh doanh, nhân viên marketing, nhân viên chăm sóc khách
hàng và nhân viên bán hàng (luận văn gọi tắt là phỏng vấn tuyển dụng – PVTD)
Phạm vi tư liệu mà luận văn khảo sát là 50 cuộc phỏng vấn (50 ứng viên và
10 người phỏng vấn khác nhau) Trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn chỉ khảo sát diễn ngôn của các cuộc phỏng vấn có hình thức song thoại giữa người phỏng vấn và ứng viên tham gia phỏng vấn
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp và thủ pháp
cơ bản sau:
Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để làm rõ các đặc
điểm về cấu trúc, tính mạch lạc, tính lập luận, từ vựng, ngữ nghĩa trong ngôn ngữ phỏng vấn tuyển dụng Từ đó, rút ra những kết luận có căn cứ khoa học mang tính
hệ thống và phù hợp với thực tiễn
Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Vận dụng lý thuyết về phân tích diễn
ngôn hội thoại để xem xét ngôn ngữ trong các tình huống PVTD cụ thể nhằm làm sáng tỏ cấu trúc của cuộc thoại cũng như vận động tương tác giữa lượt lời của các đối tượng tham gia phỏng vấn
Thủ pháp thống kê: Luận văn sử dụng thủ pháp này để tổng hợp về lượng
các yếu tố được khảo sát trong 50 cuộc thoại PVTD bằng việc theo dõi cuộc phỏng
Trang 14vấn trực tiếp và qua nền tảng phỏng vấn trực tuyến Kết quả thống kê sẽ là cơ sở thực tiễn để phân tích và trở thành cứ liệu khoa học có tính xác thực, thuyết phục và minh chứng cho các nhận xét định tính mà luận văn nêu ra
Thủ pháp so sánh: Luận văn chỉ ra những điểm giống và khác nhau ở
phỏng vấn truyền hình, phỏng vấn trên báo in so sánh với phỏng vấn tuyển dụng Đồng thời, chúng tôi so sánh sự khác nhau về quan niệm xã hội, văn hóa của các vùng miền để từ đó rút ra nhận định về đặc trưng của ngôn từ phỏng vấn trong tuyển dụng mà nhà tuyển dụng và ứng viên thường dùng
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Về lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn chỉ ra những đặc trưng cơ bản của diễn ngôn hội thoại trong phỏng vấn tuyển dụng, đưa ra hệ thống các thành tố cấu thành cuộc thoại Thông qua đó, luận văn cố gắng xây dựng nên mô hình cấu trúc cuộc thoại phỏng vấn tuyển dụng phù hợp về văn hóa giao tiếp nhằm đạt hiệu quả tối ưu
Mặt khác, luận văn hệ thống hóa chiến lược phỏng vấn – trả lời phỏng vấn thường sử dụng để xây dựng cuộc phỏng vấn
Về thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp vào việc biên soạn các sách tham khảo liên quan đến chiến lược giao tiếp trong tuyển dụng nhân sự cũng như những chuyên đề, giáo trình về đặc điểm ngôn ngữ trong tuyển dụng
Kết quả nghiên cứu có thể giúp các ứng viên tìm ra giải pháp nhằm nắm bắt đặc điểm phát ngôn của nhà phỏng vấn, tư duy ngôn ngữ cũng như văn hóa giao tiếp chung trong phỏng vấn tuyển dụng Từ đó, họ xây dựng nên chiến lược đối đáp
để đạt được kết quả tốt trong tuyển dụng
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 03 chương:
Trang 15- Chương 1 Cơ sở lý thuyết: trình bày các khái niệm và kiến thức lí luận
mang tính định hướng, như: diễn ngôn, phân tích diễn ngôn; hội thoại, cấu trúc hội thoại, nguyên tắc hội thoại; phỏng vấn tuyển dụng,
- Chương 2 Đặc điểm về từ ngữ và cấu trúc hội thoại phỏng vấn tuyển dụng: tập trung phân tích đặc điểm sử dụng từ ngữ và cấu trúc của diễn ngôn hội
thoại phỏng vấn tuyển dụng từ góc nhìn văn bản (với các phần tương đối ổn định)
và góc nhìn tương tác hội thoại giữa các lượt lời chứa hành động ngôn ngữ của các thoại nhân
- Chương 3 Đặc điểm về mạch lạc và chiến lược hội thoại phỏng vấn tuyển dụng: phân tích tính mạch lạc được thể hiện qua hoạt động tương tác và mạch lạc
trong lập luận giữa các bên; đặc điểm về chiến lược giao tiếp của từng nhân vật tham gia cuộc phỏng vấn
Trang 16Trong ngôn ngữ học, diễn ngôn cũng có cách hiểu không hoàn toàn giống
nhau giữa các nhà nghiên cứu
Barthes (1970) quan niệm diễn ngôn như là “một đoạn lời nói hữu tận bất kì” tạo thành một thể thống nhất, thể hiện quan điểm nội dung và mục đích giao
tiếp, tất cả được tổ chức chặt chẽ và những đoạn lời nói này ngoài mối quan hệ với những nhân tố trong bản thân ngôn ngữ còn có mối quan hệ với những nhân tố văn hóa khác (Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2009, tr.199) Định nghĩa của Barthes cho thấy tác giả quan tâm đến mục đích giao tiếp của diễn ngôn và mối quan hệ giữa văn hóa với ngôn ngữ
- Theo G.Brown và G.Yule (2002), “Biểu hiện của diễn ngôn: văn bản”
“Chúng ta sẽ dùng từ “văn bản” như là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn
từ của một hành vi giao tiếp” (tr.22) Văn bản có hai dạng: văn bản viết và văn bản nói với những điểm thống nhất và khác biệt
- D Crystal (1992) định nghĩa “diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo có tính tranh luận, truyện vui hoặc
truyện kể” (tr.25)
- N Fairclough (1997) viết: “Tôi sẽ sử dụng thuật ngữ diễn ngôn để phản ánh toàn bộ quá trình tương tác xã hội, trong đó văn bản chỉ là một phần” (tr.24) Như vậy, theo quan điểm của Fairclough, diễn ngôn là thuật ngữ chứa nội hàm rộng
hơn văn bản
- Michael Hoey định nghĩa: “Diễn ngôn là bất kỳ một dải nói và viết nào của ngôn từ được cảm nhận là tự nó đã hoàn chỉnh” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 2001,
tr.33)
Trang 17- Đỗ Hữu Châu, nhà Việt ngữ học nghiên cứu khá nhiều về dụng học, cho
rằng: “Diễn ngôn là lời của từng người nói ra trong một cuộc giao tiếp Tùy theo đường kênh, hay tùy theo dạng ngôn ngữ được sử dụng mà chúng ta có diễn ngôn nói hay diễn ngôn viết” (2001, tr.34) Tác giả cho rằng, diễn ngôn có cả hình thức
và nội dung nhưng cả hai đều chịu tác động của ngôn cảnh
- Nguyễn Hòa (2008) nhận định “diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích, không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” “Văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” (tr.33) Như vậy, ông đã phân biệt giữa một bên là quá trình giao tiếp và bên kia chỉ là sản phẩm ghi nhận quá trình giao tiếp đó, nhưng chúng vẫn
mang các thuộc tính của nhau
Những quan điểm mà luận văn dẫn ra được xem là điển hình mà đa phần các tác giả đều quan tâm khi nghiên cứu về diễn ngôn Qua đây có thể thấy, khái niệm diễn ngôn đã thay thế cho quan điểm bó hẹp trước đó là ngôn ngữ học văn bản, khuôn mẫu và cứng nhắc Tuy vẫn còn các nhà nghiên cứu cố gắng đưa ra các nét chung giữa diễn ngôn và văn bản, nhưng không thể phủ nhận rằng diễn ngôn có ngoại diên rộng hơn so với văn bản Hiểu một cách giản đơn, diễn ngôn bao gồm cả dạng nói (hội thoại) và viết (văn bản)
1.1.2 Các hướng phân tích diễn ngôn
Phân tích diễn ngôn là một công việc thật sự khó khăn khi đường hướng của nó vô cùng đa dạng, phong phú, phức tạp Do đó, trong luận văn này, chúng tôi chỉ xin trình bày vắn tắt đường hướng chính đã được nghiên cứu chuyên sâu và ứng dụng rộng rãi trong lịch sử phân tích diễn ngôn nói chung và có liên quan đến đề tài luận văn
Đầu tiên là đường hướng của ngữ dụng học, nghiên cứu về mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và các sản phẩm của ngôn ngữ với ngôn cảnh trong hoạt động giao tiếp bằng lời Đặc trưng của phân tích diễn ngôn theo hướng này là sử dụng lý thuyết về hội thoại và hành động nói
Trang 18Hướng thứ hai là trào lưu phân tích diễn ngôn dựa trên lý thuyết ngữ vực
(register) - một kiểu biến thể ngôn ngữ trong sử dụng, gắn liền với một tình huống giao tiếp nhất định Tác giả tiêu biểu cho trường phái này là M.A K Halliday Ông
và một số nhà nghiên cứu có cùng quan điểm đã xây dựng một khung lý thuyết về ngữ vực, được vận dụng khá rộng rãi để nghiên cứu không chỉ là đặc điểm diễn
ngôn trong hành chức mà còn trên nhiều bình diện khác Theo đó, ngữ vực được đặc trưng bởi trường (field), thức (mode) và quan hệ (tenor) (dẫn theo PGS.TS
Trịnh Sâm, Tạp chí Khoa học, ĐHQG Hà Nội, Vol.30,No.1S, 2014, tr 1- 6) định
nghĩa về ba khái niệm này như sau:
- Trường (field): phản ảnh chức năng xã hội, là những gì đang thực sự xảy
ra trong diễn ngôn (what is actually taking place), là tính chủ động xã hội được thực hiện, là sự kiện tổng quát mà các tham thể dự phần vào với một mục đích nhất định Trường thể hiện bản chất tương tác xã hội thông qua đề tài – chủ đề (subject- matter)
- Thức (mode): là vai trò của ngôn ngữ đảm nhiệm trong diễn ngôn (what
role language is playing), là cách thức hoạt động của phương tiện ngôn ngữ, bao gồm tất cả các kênh Các hình thức giao tiếp như nói/viết, giao tiếp qua điện thoại, mail, chat, hay ngôn ngữ bộc phát/ngôn ngữ có chuẩn bị, các cách tu từ, các kiểu loại chức năng như thuyết phục, miêu tả, giáo khoa Nói một cách khái quát, trong tương quan với chức năng của ngôn cảnh, với sự kiện cần diễn đạt, một phương thức ngôn từ tương thích được thể hiện
- Quan hệ (giáo trình Cơ sở ngữ dụng học, tập 1 của Đỗ Hữu Châu gọi là
sắc thái – tenor, tr.124) chỉ ra các vai tham gia, vị thế xã hội, trạng thái tâm sinh lý,
mối quan hệ, các kiểu quan hệ, sự tương tác theo vai, tính bền vững hay nhất thời trong quan hệ của những người tham gia giao tiếp Nói một cách khái quát, ai tham gia giao tiếp (who is taking part) và mối quan hệ giữa họ như thế nào, dựa vào các vai xã hội được xác lập này mà có thể đánh giá ngôn ngữ là trang trọng, lịch sự, thân mật hay suồng sã Nói rộng ra, quan hệ hay bầu không khí là nhân tố chi phối nhiều nhất đến cách lựa chọn ngôn ngữ
Trang 19Hướng thứ ba là phân tích diễn ngôn theo hướng tiếp cận nghiên cứu tương
tác trong xã hội, quan tâm đến các tình huống giao tiếp bằng lời và phi lời Hướng nghiên cứu này phân tích diễn ngôn thông qua phân tích cách thức tổ chức hội thoại với đối tượng là các phát ngôn cụ thể trong giao tiếp Tiêu biểu cho đường hướng này là sự ra đời của ba trường phái phân tích hội thoại của Mỹ, Anh, Thụy Sĩ Đây cũng là hướng phân tích được ứng dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu về diễn ngôn hiện nay
Ngoài ra, trong cuốn Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và phương pháp, tác giả Nguyễn Hòa (2003) đã tổng hợp một số đường hướng phân tích diễn
ngôn theo hướng liên ngành tâm lý học xã hội hay giao tiếp liên văn hóa, phân tích diễn ngôn tổng hợp
Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng, phù hợp với mỗi giai đoạn khác nhau trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ Do vậy, tùy vào loại diễn ngôn
mà người ta có thể lựa chọn đường hướng phân tích phù hợp để thể hiện đầy đủ đặc trưng của ngôn ngữ trong quá trình hành chức
Với đề tài này, luận văn đi theo đường hướng của ngữ dụng học, kết hợp hướng tiếp cận nghiên cứu tương tác trong xã hội để phân tích diễn ngôn hội thoại, nhằm đảm bảo sự phù hợp với tính chất của thể loại phỏng vấn là sự tương tác của các bên tham gia cuộc thoại kết hợp cùng các yếu tố văn hóa – xã hội Việc phân tích tập trung vào các đặc điểm trong cấu trúc lượt lời của mỗi đối tượng tạo nên diễn ngôn, bối cảnh xã hội, văn hóa chi phối đến việc thiết lập diễn ngôn
1.2 Vấn đề lý thuyết về hội thoại 1.2.1 Cấu trúc của hội thoại
“Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngôn cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” (Đỗ Thị Kim Liên, 1999, tr.18)
Trong cuốn Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản (2009), tác giả Diệp
Quang Ban đã hệ thống hóa các trường phái thiết lập cấu trúc hội thoại của các nhà
Trang 20nghiên cứu trong và ngoài nước Theo đó, các trường phái đi sau đều có sự kế thừa của các quan điểm trước đó một cách chọn lọc và điều chỉnh phù hợp với thực tế Khuynh hướng nghiên cứu hội thoại (conversation analysis) ở Mĩ ra đời trước tiên, xây dựng cấu trúc của cuộc thoại dựa trên sự kết hợp giữa hai lý thuyết: phân tích
hội thoại và phân tích diễn ngôn Họ đưa ra các thuật ngữ về quyền được nói (floor), lượt lời (turn at talk) và kiến trúc lượt lời (turn construction) Trong đó, lượt lời là
đơn vị cơ sở thuộc về cá nhân, mỗi lượt lời đều nằm trong một chuỗi các lượt lời trong cuộc thoại, lượt lời này nối tiếp lượt lời kia trong ngôn cảnh của nó Vì vậy, cấu trúc hội thoại theo khuynh hướng Mĩ được hiểu như cấu trúc của tổ chức chuỗi
và cấu trúc của các cặp kế cận Mặc dù chưa đưa ra được hệ thống chi tiết các đơn
vị hội thoại nhưng những quan điểm trên chính là nền tảng lí thuyết quan trọng cho các nhà nghiên cứu hội thoại sau này
Theo đó, hành động nói hay hành động ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của diễn ngôn, bước thoại được xây dựng từ một hay nhiều hành vi và hành vi là cơ sở
để hình thành nên các đơn vị lớn hơn của diễn ngôn
So với trường phái phân tích hội thoại Mĩ, trường phái phân tích diễn ngôn Anh đã có sự nghiên cứu sâu sắc, kĩ lưỡng các đơn vị trên và dưới lượt lời (hay được xem là bước thoại) Đặc biệt, việc giải thích và sắp xếp hợp lý các đơn vị theo tôn ti từ lớn đến nhỏ Ngoài ra, đơn vị bước thoại và hành động ngôn ngữ tạo nên bước thoại được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là “gần với hiện thực hơn, có khả năng giải thích hiện thực hội thoại hơn là đơn vị lượt lời (hay phát ngôn)” (Đào Nguyên Phúc, 2013, tr.311)
Cuối cùng là trường phái phân tích hội thoại Thụy Sĩ – Pháp; họ tiếp thu, tổng hòa các quan điểm của hai trường phái trước đó, đưa ra quan niệm khá toàn diện và được áp dụng rộng rãi Cụ thể, cấu trúc hội thoại gồm các đơn vị theo thứ bậc như sau: cuộc thoại (còn gọi là cuộc tương tác, conversation, interaction), đoạn thoại (sequence), cặp thoại (exchange), tham thoại (intervention) và hành động nói/ hành động ngôn ngữ (speech act)
Trang 21Trong sự sắp xếp cấu trúc của trường phái này có điểm khác ở chỗ thay lượt lời bằng tham thoại Tham thoại được hiểu là phần đóng góp của từng nhân vật hội
thoại vào một cặp thoại nhất định; nó có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn lượt lời
Vì đề tài luận văn nghiên cứu diễn ngôn hội thoại phỏng vấn, chúng tôi nhận thấy những đơn vị sau đây là phù hợp với một cấu trúc của cuộc thoại PVTD,
gồm: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại (ba đơn vị này có tính chất lưỡng thoại, hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại); lượt lời và hành động ngôn ngữ (hai đơn vị này có tính chất đơn thoại do một người nói ra)
1.2.1.1 Cuộc thoại (conversation)
Đây là đơn vị lớn nhất đảm bảo hội tụ đầy đủ các yếu tố về nhân vật hội thoại, tính thống nhất về thời gian, địa điểm và đề tài diễn ngôn Về mặt hình thức, cuộc thoại thường gồm có ba phần: phần mở thoại, thân thoại và kết thoại Trong cuộc thoại phỏng vấn tuyển dụng luôn thể hiện đầy đủ và rõ nét ba phần Một kiểu mẫu như nguyên tắc được đặt ra thể hiện phép lịch sự tối thiểu
1.2.1.2 Đoạn thoại (sequence)
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề: một chủ đề duy nhất, về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích Ví dụ: cuộc PVTD,
cả hai nhân vật giao tiếp có thể thực hiện nhiều đoạn thoại khác nhau với chủ đề như tìm hiểu lý do nghỉ việc tại công ty cũ, thương lượng công việc mới, mục tiêu nghề nghiệp của ứng viên, v.v Tiêu chí ngữ dụng của đoạn thoại là thực hiện quan
hệ lập luận trong đoạn thoại đó
Trang 221.2.1.4 Lượt lời (turn at talk)
Lượt lời được hiểu là sự luân phiên lần nói giữa những người đối thoại với nhau Mỗi lần nói của một người được xem là một lượt lời của họ Vai trò của lượt lời là đơn vị quan trọng góp phần tạo nên cặp thoại, đồng thời lượt lời được tạo thành bởi các phát ngôn chứa các hành động ngôn ngữ (speech act) Do đó, lượt lời của mỗi cá nhân khi nói có thể phản ánh được thái độ, tâm lý, đặc điểm ngôn ngữ của người nói; mặt khác trong mỗi lượt lời cũng thể hiện tròn vẹn một ý niệm, một thông tin mà người nói muốn diễn đạt
1.2.1.5 Hành động ngôn ngữ (speech act)
Hành động ngôn ngữ (hay còn gọi là hành động nói, hành vi ngôn ngữ,
hành động ngôn từ, hành động ngôn trung) là cách gọi của thuật ngữ speech act
Đây là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống cấu trúc hội thoại, được hiểu là một phát ngôn với tư cách một đơn vị chức năng trong giao tiếp Người khởi xướng cho lý thuyết về hành động ngôn ngữ là J.L Austin (1962), sau đó được J Searle nghiên
cứu sâu và hệ thống lại một cách hoàn thiện với tên gọi Speech acts theory (Lý
thuyết hành động ngôn ngữ) Theo J.L Austin, ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả sự việc, sự kiện đơn thuần mà nó được dùng để thể hiện hành động; hành động này được thực hiện bằng lời nên gọi là hành động ngôn ngữ
Ví dụ: cầu khiến, khuyên bảo, hứa hẹn, xin lỗi, cảm ơn, v.v Austin quan tâm đến phát ngôn ngôn hành (performatives), tức là những phát ngôn mà khi nói ra chúng, người nói hay người viết đã làm một điều gì đấy hơn là nói một điều đấy Trong
cuốn How to do things with words, J.L Austin (1962, tr.99) đưa ra quan điểm rằng
một phát ngôn được tạo ra bởi ba hành động:
(1) Hành động tạo lời (locutionary act) là hành động cơ sở của phát ngôn, được tạo nên bởi các yếu tố của ngôn ngữ (ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp thành câu, v.v.)
(2) Hành động mượn lời (perlocutionary act) thực chất là những kiểu tác động khác nhau về tâm lý, tình cảm của người nói đến người tham gia giao tiếp Ví dụ: Trong tình huống người vợ biết chồng mình đã giấu mình và quen người phụ nữ
Trang 23khác, người vợ hỏi: “Anh này, anh có làm gì có lỗi với em không?”, với câu hỏi
này, người vợ đã thực hiện hành động mượn lời nhằm đe dọa tâm lý của người chồng
(3) Hành động ở lời (illocutionary act) là hành động quan trọng nhất được thực hiện ngay lúc nói, thể hiện các mục đích phát ngôn như: hỏi, yêu cầu, đề nghị, hứa hẹn, khuyên bảo, mời, v.v Hành động ở lời được chia thành hai loại: hành động
ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp
(3.1) Hành động ở lời trực tiếp là hành động ngôn ngữ được biểu hiện, được cảm nhận một cách trực tiếp nhờ vào các phương tiện hay dấu hiệu ở lời riêng vốn
có trong ngôn ngữ
Ví dụ câu đề nghị “Em có thể giới thiệu một chút về bản thân mình để chúng tôi biết thêm được không?” Trong phát ngôn này, người nói trực tiếp yêu cầu
người nghe giới thiệu bản thân
(3.2) Hành động ở lời gián tiếp là kiểu hành động ngôn ngữ được biểu hiện
và cảm nhận một cách gián tiếp qua một câu nói chứa những dấu hiệu ở lời vốn gắn với một kiểu hành động ngôn ngữ khác Chẳng hạn, xét trong cảnh huống cuộc phỏng vấn tuyển nhân viên kinh doanh, sau khi phỏng vấn, người tuyển dụng cảm thấy ứng viên không phù hợp với vị trí đang tuyển mà phù hợp với vị trí nhân viên
hành chính hơn, người tuyển dụng thực hiện phát ngôn: “Nếu anh là em, anh sẽ suy nghĩ về vị trí nhân viên hành chính” Trong phát ngôn này, hành động ngôn ngữ trực tiếp là trần thuật (trình bày ý nghĩ của bản thân); hành động ngôn ngữ gián tiếp
là khuyên ứng viên nên chọn vị trí nhân viên hành chính vì họ không phù hợp với vị
trí nhân viên kinh doanh
Dựa trên lý thuyết của J.L Austin và J Searle, tác giả Cao Xuân Hạo, trong
cuốn Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991), đã đưa ra những dẫn chứng
và nhận định về hành động ngôn ngữ một cách rõ ràng, cũng như phân loại hành động ngôn ngữ cụ thể mà luận văn cho rằng phù hợp với tiếng Việt nói chung và thuận tiện để phục vụ vào thực hiện đề tài của mình nói riêng
Trang 24Nhận định của tác giả về hành động ngôn ngữ như sau: “Một câu nói là một hành động xã hội có một công dụng nhất định Khi nói ra một câu, ta thực hiện một hành động nhận định, nghĩa là xác lập một mệnh đề, nhưng đồng thời cũng thực hiện một hành động có mục tiêu giao tế nào đấy Đó là một hành động ngôn trung”
(tr.389) Điều này cho thấy, tác giả đã quy hành động ngôn ngữ về đơn vị câu hay phát ngôn Khi nói ra một câu cũng là đồng thời ta thực hiện một (hay một số) hành động ngôn ngữ Tác giả dựa trên cách phân loại theo cú pháp đã có, cũng như căn
cứ vào hình thức ngữ pháp và xem giá trị ngôn trung như một tình thái của hành động phát ngôn, chia câu tiếng Việt làm 2 loại lớn:
a Câu nghi vấn Câu nghi vấn hay câu hỏi được phân loại theo hành động ngôn ngữ như sau:
Hành động hỏi trực tiếp: Hành động ngôn ngữ có hiệu lực ở lời là hỏi và người hỏi chưa biết về nội dung vấn đề khi đưa ra câu hỏi Họ thực sự mong muốn nhận được lời đáp từ người tiếp nhận và đáp ứng được thông tin mà họ cần biết Hình thức biểu hiện của hành động hỏi trực tiếp là dạng câu hỏi chính danh
Câu hỏi chính danh là yêu cầu một câu trả lời thông báo về một sự tình hay
về một tham tố nào đó của một sự tình được tiền giả định là hiện thực (tr 393) Câu hỏi chính danh gồm 3 tiểu loại chính: câu hỏi chuyên biệt, câu hỏi tổng quát và câu hỏi siêu ngôn ngữ
Hành động hỏi gián tiếp: Hành động ngôn ngữ có hình thức là hành động hỏi nhưng lại hướng tới hiệu lực thuộc hành động ở lời khác như: chào, khẳng định, phủ định, khuyên bảo, chê bai, v.v
Hình thức biểu hiện của hành động ngôn ngữ hỏi gián tiếp gồm:
+ Câu hỏi có giá trị cầu khiến;
+ Câu hỏi có giá trị khẳng định;
+ Câu hỏi có giá trị phủ định;
+ Câu hỏi có giá trị phỏng đoán hay ngờ vực;
+ Câu hỏi có giá trị cảm thán
Trang 25b Câu trần thuật
Nếu dựa theo giá trị ngôn trung thì rất khó để phân loại câu trần thuật, do
đó, quan điểm của Cao Xuân Hạo vẫn giữ lại cách phân loại câu này dựa trên hình thức ngữ pháp Câu trần thuật được biểu hiện dưới hình thức kết thúc bằng dấu chấm cuối câu và về nghĩa thì dùng để miêu tả, trình bày, giải thích một sự việc, hiện tượng, vấn đề nói chung
1.2.2 Nguyên tắc hội thoại
Nguyên tắc hội thoại là những quy định cơ bản mà các thoại nhân cần tuân thủ thực hiện để cuộc thoại diễn ra thuận lợi và thành công Một số nguyên tắc quan trọng được tác giả C.K Orecchioni tổng hợp và phân loại thành ba nhóm chính, gồm: nguyên tắc điều hành sự luân phiên lượt lời, nguyên tắc điều hành nội dung hội thoại và nguyên tắc lịch sự
1.2.2.1 Nguyên tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
Tóm lược nội dung nguyên tắc này là có người nói thì có người nghe Mỗi người tuần tự thực hiện lượt lời của mình luân phiên nhau; tránh tranh cướp, giẫm đạp lượt lời của người khác
1.2.2.2 Nguyên tắc điều hành nội dung của hội thoại
a Nguyên tắc quan yếu (relevance theory) của H.P.Grice, được D.Sperber
và D.Wilson khái quát hóa theo cơ chế tri nhận làm cơ sở cho hoạt động giao tiếp Khái quát, lý thuyết này được chia làm hai giai đoạn, thứ nhất là giải mã phát ngôn, sau đó là suy ý từ mã phát ngôn đó
b Nguyên tắc cộng tác hội thoại (cooperative principle)
Nguyên tắc cộng tác đã được H.P.Grice cụ thể hóa thành bốn phương châm hội thoại: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ và phương châm cách thức (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, 2016, tr 346) Khi nghiên cứu cặp thoại phỏng vấn, cần phải xem xét sự tác động, điều chỉnh của các phương châm này đối với cặp trao – đáp của các bên tham gia hội thoại nhằm giúp cuộc thoại diễn ra hiệu quả nhất
Trang 26Đại diện tiêu biểu của lịch sự chiến lược gồm một số nhà nghiên cứu như R.Lakoff, J.N.Leech, P.Brown và S.Levinson, Blum-Kulka, Yule; trong đó luận văn tán đồng quan điểm của P.Brown và S.Levinson được xem là có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu ứng xử ngôn ngữ nói chung và lịch sự nói riêng Theo đó,
thể diện chính là quy chuẩn để xem xét lịch sự Thể diện (face) là “hình ảnh bản
thân trước công chúng của một cá nhân, nó liên quan trực tiếp đến ý thức xã hội và tình cảm mà mỗi các nhân có và mong muốn người khác tri nhận” (Nguyễn Thiện Giáp, 2016, tr.476)
Các khái niệm liên quan đến thể diện: thể diện âm tính, thể diện dương tính, hành vi đe dọa thể diện
Thể diện âm tính (negative face) là bản thân mong muốn những hành động
của mình không bị áp đặt bởi người khác Trong đó, thể diện âm tính sẽ gồm: thể diện âm tính của người nói và thể diện âm tính của người nghe
Thể diện dương tính (positive face) là mong muốn hành động của mình
được người khác đồng tình, hưởng ứng Trong đó, thể diện dương tính sẽ gồm: thể diện dương tính của người nói và thể diện dương tính của người nghe
Trang 27Hành vi đe dọa thể diện (face threatening acts – viết tắt là FTA) là những
hành vi ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp gây tổn hại đến thể diện của người nói và những người khác trong cuộc giao tiếp FTA lại được P.Brown và S Levinson chia thành 4 nhóm sau:
Những hành vi ngôn ngữ đe dọa thể diện âm tính của người nói: cam kết, hứa, v.v
Những hành vi ngôn ngữ đe dọa thể diện dương tính của người nói: thú nhận, cám ơn, xin lỗi, tự phê bình, v.v
Những hành vi đe dọa thể diện âm tính của người nhận: khuyên; chỉ bảo quá mức, hỏi quá sâu vào đời tư, ngắt lời, nói chen ngang, v.v
Những hành vi đe dọa thể diện dương tính của người nhận: phê bình, chê, chửi, chế giễu, v.v
Để khắc phục những nhược điểm trong giao tiếp có liên quan đến lịch sự, hai tác giả đề ra chiến lược lịch sự trong giao tiếp như sau:
Chiến lược lịch sự dương tính (possitive politeness) là cần đặt bản thân
người nói vào vị trí của người nghe, quan tâm đến nhu cầu, sự đồng tình của người nghe Chiến lược này nhấn mạnh vào sự gần gũi, thân thiện trong giao tiếp
Chiến lược lịch sự âm tính (negative politeness) là chiến lược giao tiếp nhằm tránh đe doạ thể diện âm tính bằng hành động giữ thể diện người giao tiếp
Nó đòi hỏi người nói phải tỏ ra mình tôn trọng người đối thoại, không can thiệp, không áp đặt vào quyền tự do của người đối thoại
Tìm kiếm một phương thức, công cụ để đánh giá mức độ của một sự tình không hề đơn giản Đối với giao tiếp càng khó khăn hơn khi những cá thể giao tiếp hoàn toàn khác nhau Do đó, Brown và Levinson (1987, tr.92) đã dựa vào phạm trù
quyền lực (Power), khoảng cách (Distance) và mức độ áp đặt của hành động (Ranking of impostion) để đưa ra công thức đánh giá mức độ đe dọa thể diện, như
sau:
WX = P (H,S) + D (H,S) + RX
Trang 28Như vậy, mức độ đe dọa thể diện của một phát ngôn (Weighting of a face threatening act) phụ thuộc vào ba yếu tố: quyền uy (P) giữa người nói và người nghe, khoảng cách xã hội (quan hệ thân – sơ) (D) giữa người nói và người nghe, mức độ áp đặt của hành động ngôn ngữ (R) trong cộng đồng văn hóa – ngôn ngữ
mà họ tham gia
Trái với quan điểm về lịch sự của các nước phương Tây là quan tâm đến cái tôi cá nhân, trường phái về lịch sự chuẩn mực của người phương Đông chú trọng vào tính cộng đồng, giá trị xã hội hơn tính cá nhân Tiêu biểu cho trường phái này là các tác giả Y Matsumoto (1988), L.R Mao (1994), Gu.Yueguo (1998) Điểm chung trong quan điểm của các tác giả là chỉ ra những mặt chưa hoàn thiện của quan điểm lịch sự chiến lược, nhưng họ lại chưa đưa ra được, cũng như chưa xây dựng một bộ tiêu chí phân loại, đánh giá cho quan điểm lịch sự chuẩn mực của mình Vì vậy, hầu hết họ đều vận dụng các lý thuyết của lịch sự chiến lược làm cơ
sở cho sự phân tích của mình
Có thể thấy, nguyên tắc hội thoại là những quy định chung nhưng không bắt buộc người nói phải đảm bảo thực hiện đúng và đủ Người nói có thể vi phạm nguyên tắc này để ưu tiên cho nguyên tắc khác mà họ cho là quan yếu hơn, phù hợp với mục tiêu giao tiếp Do đó, trong quá trình phân tích chuyên sâu ở các tiểu mục thuộc các chương trong luận văn, chúng tôi ưu tiên tìm hiểu nguyên tắc lịch sự và nguyên tắc cộng tác hội thoại, bởi mối quan hệ giữa NPV và UV là quan hệ công việc, mang tính xã giao giữa những người không quen biết nhau nhưng đều hướng đến mục đích chung là lợi ích tốt đẹp cho hai bên Vì vậy, tôn trọng lẫn nhau, hỏi – đáp đảm bảo mục đích giao tiếp là điều cần yếu
1.2.3 Mạch lạc trong hội thoại
Vấn đề mạch lạc đã được đề cập nhiều trong các nghiên cứu khác nhau nhưng hình dạng, chiều kích, đặc điểm nhận dạng của nó, cho đến nay vẫn chưa có
sự thống nhất giữa các quan điểm Luận văn xin điểm qua một số nhận định được xem là rõ ràng và dễ hiểu về mạch lạc như sau:
Trang 29Quan điểm của K Wales, “Để cho một văn bản hoặc một diễn ngôn nào đó
là có mạch lạc thì nó phải có nghĩa và cũng phải có tính chất một chỉnh thể và phải được định hình tốt Mạch lạc được coi là một trong những điều kiện hoặc những đặc trưng hàng đầu của một văn bản: ngoài mạch lạc, một văn bản không đích thực
là một văn bản” (Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2003, tr.61) Với quan điểm này, tác
giả khẳng định tầm quan trọng của mạch lạc trong văn bản như điều kiện cần, đủ và tiên quyết; phải có mạch lạc thì văn bản mới được xem là chính nó
Theo David Nunan (1993) “mạch lạc là tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan nhau” (Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2003, tr.58) Quan
niệm của David Nunan khái quát chiều kích của mạch lạc trong diễn ngôn và chức năng kết nối của nó cho dù tập hợp câu hay phát ngôn đó không liên quan nhau nhưng chức năng kết nối của mạch lạc sẽ tạo thành một diễn ngôn hoàn chỉnh
Các tác giả trong nước có sự định nghĩa chi tiết hơn về mạch lạc Đỗ Hữu Châu (2001, tr.174) đã viết: “Một văn bản, một diễn ngôn là một lập luận đơn hay phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn.”
Diệp Quang Ban (2009) phát biểu rằng: “Mạch lạc là sự kết nối có tính chất hợp lý về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết ), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết câu với câu” (tr.297)
Ông đã khái quát mạch lạc thành ba kiểu: mạch lạc trong triển khai mệnh đề, mạch
lạc trong hành động ngôn ngữ và mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác
Với định nghĩa trên, Diệp Quang Ban đã nêu ra những đặc trưng về mặt ngữ nghĩa, chức năng của mạch lạc và phân biệt nó với liên kết văn bản
Theo đó, ở thể loại phỏng vấn trong tuyển dụng, mạch lạc được biểu hiện trong sự tương tác giữa các lượt lời, trong quan hệ lập luận của các thoại nhân và
chúng tôi xin diễn giải cách hiểu mạch lạc trong diễn ngôn hội thoại như sau: mạch
Trang 30lạc trong hội thoại là phương tiện kết nối các lượt lời của các thoại nhân, cho thấy mối quan hệ tương tác có tính logic ngữ nghĩa, đảm bảo cuộc thoại thông suốt và các bên hiểu được nhau Từ đây, luận văn quan tâm đến sự biểu hiện của mạch lạc
trong hội thoại qua quan hệ thích hợp giữa các lượt lời và biểu hiện trong quan hệ lập luận
Lập luận là hành động liên kết các luận cứ để đi đến kết luận cho một sự việc Theo đó, quan hệ lập luận thể hiện giữa các luận cứ và kết luận Diệp Quang Ban (2009, tr.321-341), đã phân loại khá nhiều kiểu lập luận và quan hệ lập luận, nhưng căn cứ vào thực tế khảo sát ở cuộc thoại PVTD, chúng tôi nhận thấy có 2 kiểu lập luận mà người nói dùng nhiều nhất, đó là: lập luận đơn giản và lập luận phức tạp (gồm hai tiểu loại: lập luận đồng hướng và lập luận nghịch hướng)
- Lập luận đơn giản là lập luận chỉ có một luận cứ hay một số luận cứ đồng hạng nhau và một kết luận
- Lập luận phức tạp là lập luận trong đó có hai luận cứ không ngang nhau
về tính khái quát: một luận cứ chỉ cái chung làm tiền đề lớn thường được gọi là đại tiền đề (Pháp: premisse majeure), một luận cứ chỉ cái riêng làm tiền đề nhỏ thường được gọi là tiểu tiền đề (premisse mineure) và một kết luận (về cái riêng)
1.2.4 Thương lượng trong hội thoại
Thương lượng là một hoạt động cơ bản của con người trong xã hội, là cách thức để con người đạt được mong muốn, kỳ vọng của mình đặt ra hoặc hướng tới
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì Thương lượng là trao đổi, bàn bạc với nhau nhằm đi đến thỏa thuận, giải quyết một vấn đề nào đó (thường có liên quan tới quyền lợi của các bên) Ví dụ, thương lượng về giá cả, thương lượng để
giải quyết xung đột v.v
Trong hội thoại, thương lượng luôn diễn ra và tồn tại dưới các hình thức khác nhau như lời nói, ngữ điệu, ánh mắt, ngôn ngữ cơ thể, v.v Vận động này đã được không ít tác giả tìm hiểu, nghiên cứu Đặng Thị Hảo Tâm (2010, tr.25) đã đưa
ra định nghĩa: “Thương lượng hội thoại là quá trình các nhân vật giao tiếp sử dụng lời trao và lời đáp của mình để đạt được sự thỏa thuận về hình thức hội thoại, nội
Trang 31Từ đó, chúng tôi tạm thời đưa ra một cách hiểu về thương lượng hội thoại như sau: Thương lượng hội thoại là vận động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ, yếu tố kèm lời và yếu tố phi lời do các nhân vật tham gia hội thoại tiến hành nhằm đạt được sự thỏa thuận về cách thức và nội dung của cuộc thoại để đảm bảo cho cuộc thoại thành công
1.3 Khái lược về phỏng vấn tuyển dụng trong lĩnh vực tiếp thị 1.3.1 Hoạt động tuyển dụng
Tuyển dụng là một hoạt động quan trọng giúp các doanh nghiệp lựa chọn nhân sự phù hợp, giúp doanh nghiệp vận hành và phát triển Dựa trên mục đích này, một số quan điểm nhằm định nghĩa cho hoạt động tuyển dụng như sau:
Trong Giáo trình Quản trị nhân lực (2009), Lê Thanh Hà cho rằng: “Tuyển dụng chính là một quá trình tìm kiếm và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của tổ chức và bổ sung lực lượng lao động cần thiết để thực hiện các mục tiêu của tổ chức” (tr.56) Cũng có ý kiến nhận định: “Tuyển dụng nhân lực là một quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn những người có đủ các tiêu chuẩn thích hợp cho các công việc và các chức danh cần người trong tổ chức” (Trần Kim Dung, 2005,
tr.21)
Bên cạnh đó, chúng ta vẫn thường nghe tới khái niệm về tuyển mộ và tuyển chọn, về thực chất quá trình tuyển dụng nhân lực là sự kết hợp của hai hoạt động trên
Theo giáo trình Quản trị nhân lực (Nguyễn Ngọc Quân-Nguyễn Vân Điềm,
2012, tr 16), “Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức.”
Trang 32Tóm lại, tuyển chọn nhân lực là quá trình đánh giá các ứng viên theo
nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút được trong quá trình tuyển mộ Cơ sở của tuyển chọn là các yêu cầu của công việc đã được đề
ra theo bản mô tả công việc và bản yêu cầu đối với người thực hiện công việc (Vũ Thị Thùy Dương và Hoàng Văn Hải, 2005, tr 241)
Hoạt động tuyển dụng có hai vai trò cơ bản: Thứ nhất là giúp trẻ hóa đội ngũ lao động; thứ hai là đào tạo đội ngũ kế thừa, nâng cao chất lượng người lao động Người lao động chính là tài sản hiện hữu mang đến lợi nhuận và làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp nên tuyển và dùng đúng người là điều vô cùng quan trọng,
nó góp phần vào sự tồn tại và phát triển bền vững của một doanh nghiệp
Một quy trình tuyển dụng tiêu chuẩn sẽ gồm 7 bước cơ bản như sau:
Bước 1: Chuẩn bị tuyển dụng;
Bước 2: Thông báo tuyển dụng;
Bước 3: Thu nhận và tiến hành sàng lọc hồ sơ;
Bước 4: Phỏng vấn sơ bộ và kiểm tra trắc nghiệm;
Bước 5: Phỏng vấn tuyển chọn;
Bước 6: Thời gian tập sự thử việc;
Bước 7: Quyết định tuyển dụng
Cuộc phỏng vấn giữa người tuyển dụng và ứng viên diễn ra ở bước thứ 5 và tùy vào quy định của mỗi doanh nghiệp mà quy trình tuyển dụng có thể giữ nguyên hoặc giản lược để phù hợp; dù vậy hoạt động phỏng vấn là bước không thể thiếu trong quy trình này
1.3.2 Phỏng vấn trong tuyển dụng
Phỏng vấn trong tuyển dụng là một khâu đặc biệt quan trọng, nó nằm sau khâu xem xét, sàng lọc hồ sơ ứng viên Đây là cơ hội để hai bên có thể gặp gỡ và trao đổi thông tin nhiều hơn Từ đó, nhà tuyển dụng hay người phỏng vấn (NPV) đánh giá ứng viên (UV) qua các yếu tố ngoại hình, năng lực, kỹ năng, thái độ một
Trang 33cách trực tiếp, chân thật Đồng thời, đây là cơ hội để UV thể hiện bản thân cho NPV thấy sự phù hợp của mình với vị trí tuyển dụng
Theo giáo trình Quản trị nguồn nhân lực của PGS.TS Trần Kim Dung
(2015), tác giả chia các hình thức phỏng vấn cơ bản gồm:
- Phỏng vấn không chỉ dẫn: Là hình thức phỏng vấn kiểu nói chuyện, không
có bản câu hỏi kèm theo Sau khi nghiên cứu về hồ sơ UV đối chiếu với mô tả công việc đang tuyển, người phỏng vấn sẽ ghi lại những điểm mạnh, yếu của UV và những điều chưa rõ cần làm rõ trong phỏng vấn Trong quá trình PV, NPV có thể hỏi những câu hỏi khác nhau cho những UV khác nhau
- Phỏng vấn theo mẫu: Đây là hình thức có sử dụng bản câu hỏi mẫu trong quá trình PV, các câu hỏi được thiết kế bao trùm hết những vấn đề quan trọng cần tìm hiểu về UV Hình thức PV này ít tốn thời gian, có độ chính xác cao
- Phỏng vấn tình huống: Người PV đưa ra tình huống giả định trong thực tế
và yêu cầu UV phải trình bày cách giải quyết vấn đề
- Phỏng vấn liên tục: Là hình thức mà UV bị nhiều người phỏng vấn hỏi liên tục, riêng biệt không chính thức UV thường không biết là mình đang bị phỏng vấn nên UV dễ bộc lộ những điểm yếu của mình
- Phỏng vấn nhóm: Hội đồng phỏng vấn hoặc nhóm phỏng vấn viên cùng hỏi UV, cách thức giống như một cuộc họp báo
- Phỏng vấn căng thẳng: Là hình thức hỏi xoáy mạnh vào điểm yếu của ứng viên làm cho ứng viên cảm thấy không thoải mái Mục đích của loại câu hỏi này nhằm đánh giá cách thức phản ứng, giải quyết vấn đề, mức độ nhạy cảm, trạng thái tâm lý của ứng viên khi bị căng thẳng trong công việc Nhược điểm của hình thức phỏng vấn này là nếu sử dụng câu hỏi không khéo sẽ dễ rơi vào trường hợp xúc phạm đến ứng viên, gây ra một cuộc thoại tiêu cực
1.3.3 Đặc điểm xã hội của người phỏng vấn và ứng viên
Người phỏng vấn (hay nhà tuyển dụng) là tên gọi chung cho một cá nhân
hoặc một số người có chức danh, quyền hạn đại diện cho một tổ chức doanh nghiệp,
do đó xét trong ngôn cảnh cuộc phỏng vấn tuyển dụng thì họ giữ vị thế cao hơn ứng
Trang 34viên Về tuổi tác, đây là nhóm đối tượng từ trên 25 – 50 tuổi như thực tế khảo sát
mà chúng tôi ghi nhận được Về trình độ, người phỏng vấn là những người có kiến thức, kinh nghiệm dày dặn, đa dạng và đặc biệt chuyên sâu ở lĩnh vực mà họ đang tuyển nhân viên Tổng thể những đặc điểm kể trên là tiền đề tạo nên một phong cách ngôn ngữ đặc trưng của vai người phỏng vấn, đó là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt nhưng đan xen khá nhiều từ ngữ, thuật ngữ chuyên môn; gần gũi nhưng không kém phần trang trọng
Những người phỏng vấn được đề cập đến trong dữ liệu mà luận văn thu thập, thường giữ chức vụ là Trưởng/ Phó phòng (kinh doanh/ marketing), trưởng bộ phận và mỗi công ty chỉ đại diện một người tham gia phỏng vấn trực tiếp các ứng viên (song thoại) Vì họ có vị thế cao hơn ứng viên nên họ có quyền làm chủ cuộc thoại, quyết định sự bắt đầu và kết thúc cuộc phỏng vấn
Ứng viên là từ chung để chỉ những người tham dự một cuộc phỏng vấn tìm
việc làm Tùy vào vị trí công việc mà yêu cầu đối với các ứng viên có sự khác nhau: trình độ, kinh nghiệm, độ tuổi, giới tính, kỹ năng, v.v Tuy nhiên, những yêu cầu cơ bản đối với ứng viên ở vị trí nhân viên kinh doanh, nhân viên marketing, gồm: độ tuổi sẽ dao động từ 21 – 32 tuổi, ngoại hình dễ nhìn, có trình độ văn hóa nhất định (đã tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học); sức khỏe tốt, nhiệt huyết với công việc, sáng tạo, thích nghi tốt với môi trường thay đổi
1.3.4 Phỏng vấn tuyển dụng trong lĩnh vực tiếp thị
1.3.4.1 Đặc điểm của lĩnh vực tiếp thị
Lĩnh vực tiếp thị là cách gọi của người Việt đối với thuật ngữ Marketing
trong tiếng Anh Khi sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển thì nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa con người cũng ra đời và phát triển theo Trong quá trình đó, phát sinh nhiều mâu thuẫn trong các mối quan hệ như: mâu thuẫn giữa người bán và người mua, giữa những người bán với nhau Kết quả là làm cho hoạt động tiêu thụ hàng hóa trở nên khó khăn và nhằm giải quyết những mâu thuẫn này, các doanh
nghiệp đã đưa ra các giải pháp và chúng được gọi là Marketing
Trang 35Trong những định nghĩa về Marketing, luận văn lựa chọn định nghĩa tiêu
biểu của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, American Marketing Associate, gọi tắt là AMA (2007): “Marketing là hoạt động, tập hợp các thể chế và quy trình nhằm tạo dựng, tương tác, mang lại và thay đổi các đề xuất có giá trị cho người tiêu dùng, đối tác cũng như cả xã hội nói chung” Vậy, tiếp thị hay Marketing là toàn bộ các
quá trình nhằm tạo dựng được mối quan hệ với khách hàng thông qua việc giới thiệu những sản phẩm, dịch vụ nhằm đem lại các giá trị nhất định cho doanh nghiệp Tiếp thị có hai hình thức, hình thức truyền thống như tư vấn, giới thiệu trực tiếp với khách hàng; hình thức gián tiếp qua các phương tiện internet
Nhân viên trong lĩnh vực này chính là người mang sản phẩm, dịch vụ đến gần với khách hàng bằng những hình thức trực tiếp hay gián tiếp Ở Việt Nam, người ta vẫn dùng tên gọi nhân viên tiếp thị cho những người mang sản phẩm giới thiệu cho người tiêu dùng một cách trực tiếp và vô tình làm lu mờ đi chức năng tổng quát của công việc tiếp thị Với mục đích tiếp cận thực tế cũng như phân tích diễn ngôn của nhân vật giao tiếp mà tính chất công việc là một điều cực kỳ quan trọng
cho đặc điểm diễn ngôn, nên luận văn sẽ khảo sát các cuộc phỏng vấn của nhân viên kinh doanh, nhân viên marketing, nhân viên chăm sóc khách hàng và nhân viên bán hàng với mô tả công việc gần nhất của lĩnh vực tiếp thị
Vậy có thể hiểu, các vị trí nhân viên kể trên đóng vai trò là người liên kết trực tiếp giữa doanh nghiệp và khách hàng hiện tại, quản lý công việc hàng ngày và đảm bảo sự hài lòng của khách hàng đối với công việc và sản phẩm của doanh nghiệp
Để làm tốt vai trò này, họ cần các phẩm chất tiên quyết như: nhanh nhẹn, nhiệt tình, chịu được áp lực cao, kỹ năng mềm tốt, v.v
1.3.4.2 Văn hóa vùng miền đối với hội thoại PVTD trong lĩnh vực tiếp thị
Ngôn ngữ và văn hóa là hai mặt tồn tại gắn kết với sự phát triển của xã hội Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, để truyền tải và lưu giữ văn hóa và ngược lại văn hóa tác động làm biến đổi ngôn ngữ Nói như vậy để thấy ngôn ngữ và văn hóa là
Trang 36mối quan hệ khăng khít không thể tách rời mà ảnh hưởng lẫn nhau Về thể loại phỏng vấn trong tuyển dụng là hình thức hội thoại mà ở đó yếu tố văn hóa vùng miền tác động mạnh mẽ đến cuộc giao tiếp Hơn thế lĩnh vực tiếp thị là nơi đề cao vai trò của giao tiếp, do đó, để tìm hiểu về đặc trưng của thể loại này, chúng tôi không thể bỏ qua yếu tố văn hóa, đặc biệt là văn hóa vùng miền tác động đến diễn ngôn hội thoại trong lĩnh vực tiếp thị Trước hết, đặc điểm giao tiếp của người Việt
đã được GS TS Trần Ngọc Thêm (2006) khái quát bởi những nét như sau:
Trong giao tiếp, người Việt vừa yêu thích nhưng lại có phần rụt rè Sự rụt rè này xuất phát từ tính cố hữu, ngự trị bởi tư duy thuần nông, xem trọng tình làng nghĩa xóm, xem trọng tính cộng đồng Hai mặt đối lập này tồn tại đan xen nhưng không mâu thuẫn, tạo nên tính thích ứng linh hoạt trong giao tiếp
Người Việt coi trọng danh tiếng, thể diện mà biểu hiện qua năng lực giao tiếp Trước khi đưa ra vấn đề cần bàn luận, họ thường sử dụng lối nói quanh co, dẫn dắt khá dài nhằm tránh gây mất thể diện của đối phương Vì lẽ đó mà lối xưng hô, chào hỏi và lối nói rào đón của người Việt cũng đa dạng hơn văn hóa giao tiếp của các nước phương Tây
Từ những đặc điểm chung đó, mỗi miền lại có những đặc điểm riêng trong
giao tiếp và thể hiện qua diễn ngôn của mình Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam
(2006) do Trần Quốc Vượng chủ biên, có nhận xét:
Người miền Bắc trọng hình thức hơn cả, họ mang đậm cốt cách của kẻ sĩ, xem trọng học thức, khoa cử và giá trị tri thức Hoạt động kinh doanh, buôn bán không phải là trọng điểm ở nơi đây Đó cũng là lý do mà chất lượng dịch vụ được đánh giá thấp hơn so với miền Nam và miền Trung Là vùng đất có lịch sử lâu đời, từng là kinh đô của đất nước nên người miền Bắc có một sự kiêu hãnh ngấm sâu trong tư tưởng Tất cả những đặc điểm này đã tạo nên một phong thái tự tin, một vẻ ngoài chỉn chu thường thấy ở người dân nơi đây Xét tổng thể diễn ngôn của người miền Bắc, đặc điểm nổi bật là luôn đề cao lễ nghĩa, sử dụng nhiều biểu thức rào đón, sử dụng kết hợp ca dao, tục ngữ trong quá trình diễn đạt nhưng vẫn đảm bảo sự
Trang 37mạch lạc của hội thoại Bên cạnh đó, họ có một sự khéo léo trong cách điều hướng cuộc thoại và ngay cả trong cách thức thương lượng cũng là thế mạnh so với người miền Trung và miền Nam
Khác hẳn với người miền Bắc, người miền Trung sống trong điều kiện môi trường không thuận lợi, có thể nói là khắc nghiệt với hai mùa: nắng gió và mưa bão
Họ không có lựa chọn nào khác là chấp nhận thích ứng với môi trường, nương theo thiên nhiên Do đó, người miền Trung có tính cần cù, chịu khó, kiên nhẫn, họ chú trọng giữ thế cân bằng trong quan hệ giao tiếp Chính bởi cuộc sống đầy khó khăn
và cái chất thuần nông, dân dã mà thường thì người miền Trung chuộng lối nói thẳng, ít khi nói vòng quanh co Vì vậy, trong PVTD (lĩnh vực tiếp thị), đa số người miền Trung sẽ hỏi và đáp thẳng vấn đề, diễn ngôn do đó mà ngắn gọn, xúc tích nhưng đôi khi được đánh giá chưa mềm dẻo
Cuối cùng, chúng ta đến với đặc trưng về lối sống, văn hóa của người miền Nam Miền Nam nước ta có khí hậu ôn hòa, điều kiện sống thuận lợi và điều này đã ảnh hưởng đến tính cách của con người nơi đây Cùng với đó, sự tác động của lịch
sử đã tác động không nhỏ khiến khu vực này phát triển vượt bậc về kinh tế so với các vùng khác trong cả nước Từ đó, con người trở nên năng động, cởi mở, thân thiện Ngôn ngữ do đó mà mang đặc trưng diễn ngôn mà họ sử dụng cũng xúc tích,
dễ hiểu Lối dẫn nhập vào vấn đề trực tiếp, hiếm khi sử dụng lối nói vòng, rào đón, quanh co Trong văn hóa kinh doanh, nếu chủ doanh nghiệp là người miền Nam thì văn hóa doanh nghiệp cũng có sự khác biệt, đó là môi trường làm việc phóng khoáng, khuyến khích sự năng động, sáng tạo, cởi mở, tạo cơ hội đào tạo nhân viên phát triển mà đảm bảo hiệu suất công việc
Tóm lại, diễn ngôn của mỗi cá nhân là sản phẩm của sự kết hợp nhiều yếu
tố, trong đó văn hóa vùng miền giữ vai trò không nhỏ làm nên nét đặc trưng phát ngôn của người nói, chi phối sự tương tác trong giao tiếp hội thoại
Trang 38TIỂU KẾT
Chương 1 của luận văn đã trình bày những vấn đề cơ bản nhất về lý luận, làm cơ sở cho việc phân tích đặc điểm diễn ngôn hội thoại trong phỏng vấn tuyển dụng nói chung và lĩnh vực tiếp thị nói riêng Chương này tổng hợp và phân tích các khái niệm có liên quan đến lý thuyết phân tích diễn ngôn, mạch lạc trong diễn ngôn; phân tích hội thoại; lý thuyết về hành động ngôn ngữ và các đặc trưng về văn hóa vùng miền có ảnh hưởng đến phong cách hội thoại cũng như đặc trưng trong sử dụng từ ngữ của các thoại nhân
Từ lý thuyết hội thoại có thể thấy phỏng vấn là một cuộc thoại điển hình có cấu trúc là một hệ thống gồm các đơn vị được xếp theo trật tự: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, lượt lời (có quan điểm thay đơn vị này thành tham thoại) và hành động ngôn ngữ Tuy nhiên, phỏng vấn trong tuyển dụng là dạng hội thoại đặc biệt,
nó vừa mang đặc điểm của cuộc thoại thông thường vừa có những nét đặc thù Trên
cơ sở kế thừa các tác giả đi trước, chúng tôi chọn một số khái niệm phù hợp để làm công cụ nghiên cứu của luận văn ở các chương sau
Trang 39Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ TỪ NGỮ VÀ CẤU TRÚC HỘI THOẠI
PHỎNG VẤN TUYỂN DỤNG
2.1 Từ ngữ trong hội thoại PVTD
Cuộc thoại PVTD mang phong cách ngôn ngữ sinh hoạt với tính chất gần gũi, nhưng biến đổi linh hoạt, tùy vào tình huống giao tiếp Do đó, trường từ vựng trong cuộc thoại sẽ phụ thuộc không nhỏ vào lĩnh vực, ngành nghề đang giao tiếp Trong lĩnh vực tiếp thị, chúng tôi nhận thấy đặc điểm sử dụng ngôn từ ở người phỏng vấn và ứng viên, cụ thể như sau:
- Sử dụng khá nhiều thuật ngữ chuyên ngành;
- Sử dụng chêm xen ngoại ngữ
a Sử dụng thuật ngữ chuyên ngành
Thuật ngữ là từ, ngữ biểu đạt các khái niệm chuyên môn khoa học, kỹ thuật (trong tiếng Việt, thuật ngữ chủ yếu là từ ngữ Hán Việt và từ ngữ gốc Ấn - Âu)
Sử dụng thuật ngữ chuyên ngành trong giao tiếp nói chung và trong PVTD
ở lĩnh vực tiếp thị nói riêng sẽ giúp người nói tiết kiệm được số lượng từ trong các phát ngôn, đồng thời thể hiện được sự chuyên nghiệp, hiểu biết của bản thân đối với vấn đề được nói đến Mặt khác, lĩnh vực tiếp thị là một ngành có nguồn gốc ra đời
từ các nước tư bản phương Tây nên nhiều thuật ngữ được sử dụng có nguồn gốc tiếng Ấn - Âu, chủ yếu là tiếng Anh Điều này không có nghĩa chúng ta không thể dịch các thuật ngữ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt, nhưng để đảm bảo tính chính xác
về nội dung ngữ nghĩa của những công việc, hoạt động mà thuật ngữ đó diễn đạt, người sử dụng bắt buộc phải giữ trọn vẹn chúng Chẳng hạn, trong ngành marketing
sẽ ít người dùng cụm từ “tiếp thị kỹ thuật số” để thay cho thuật ngữ digital marketing, “quan hệ công chúng” thay cho PR, hay “viết nội dung quảng cáo” thay cho viết content,v.v
Về vấn đề người nói có sử dụng thuật ngữ hay không, hoặc nếu có thì tần suất xuất hiện của thuật ngữ trong diễn ngôn nhiều hay ít, phụ thuộc phần lớn vào yếu tố chủ quan, ở đây gồm: tâm lý, tính cách, thói quen Ngoài ra, những yếu tố
Trang 40Ví dụ 1: Trích cuộc phỏng vấn số 20
NPV: Theo em thì để quảng cáo thương hiệu của công ty thì em sẽ sử dụng nền tảng xã hội nào là hiệu quả?
UV: Dạ, căn cứ vào cái sản phẩm của công ty mình thì em sẽ ưu tiên chạy
facebook để tăng traffic website là một xu hướng của Marketing Online hiện nay
Ngoài ra thì em sử dụng các nền tảng khác như tiktok cũng là lựa chọn em sẽ nhắm tới
Ví dụ 2: Trích cuộc phỏng vấn số 21 NPV: Vậy công cụ nào theo em là hiệu quả nhất trong digital marketing?
UV: Em nghĩ là công cụ Google Analytics và Webmaster Tool vì nó giúp
mình xác định số lượng tìm kiếm mỗi tháng, đồng thời xem các từ khóa chính mà phân khúc khách hàng gõ vào công cụ tìm kiếm
Hai ví dụ trên ứng với cuộc thoại phỏng vấn vị trí nhân viên digital marketing, người nói bắt buộc sử dụng thuật ngữ tiếng Anh chuyên ngành để diễn đạt thay vì sử dụng tiếng Việt thay thế Tất nhiên, người nói cũng biết chắc rằng đối tượng đang tương tác với mình hiểu được các thuật ngữ này Vì sự khác nhau về yêu cầu trình độ nên ở cuộc phỏng vấn nhân viên bán hàng, tỷ lệ sử dụng thuật ngữ trong quá trình phỏng vấn chiếm tỷ lệ rất ít so với phỏng vấn nhân viên marketing Luận văn có bảng thống kê cho bốn vị trị tuyển dụng mà chúng tôi đã khảo sát dưới đây: