1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Câu Lạc Bộ Sinh Viên Tiếp Cận Từ Góc Độ Văn Hóa Học Đường Pdf

352 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu Lạc Bộ Sinh Viên Tiếp Cận Từ Góc Độ Văn Hóa Học Đường
Tác giả Nguyễn Lê Thị Anh Như
Người hướng dẫn TS. Trần Phú Huệ Quang
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 352
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính hiệu quả của nó, được các trường đại học trên thế giới nhận ra, trong đó việc tổ chức phát triển tốt các câu lạc bộ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối sinh viên với sinh

Trang 1

NGUYỄN LÊ THỊ ANH NHƯ

CÂU LẠC BỘ SINH VIÊN TIẾP CẬN

TỪ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ HỌC ĐƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HOÁ HỌC

MÃ SỐ: 8229040

THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 2

NGUYỄN LÊ THỊ ANH NHƯ

CÂU LẠC BỘ SINH VIÊN TIẾP CẬN

TỪ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ HỌC ĐƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HOÁ HỌC

MÃ SỐ: 8229040

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRẦN PHÚ HUỆ QUANG

THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 3

Danh mục các từ viết tắt iii

Danh mục các sơ đồ iv

Danh mục các bảng v

Lời cảm ơn vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

1.1 Cơ sở lý luận 12

1.1.1 Các khái niệm 12

1.1.2 Lý thuyết tiếp cận: lý thuyết chức năng (Fuctionalism) 20

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Vị trí CLBSV trong hệ thống hoạt động sinh viên 22

1.2.2 Chủ trương của trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM về câu lạc bộ sinh viên 23

1.2.3 Đặc điểm sinh viên đại học Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM 26

1.3 Tổng quan câu lạc bộ sinh viên ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM 30

1.3.1 Phân loại 30

1.3.2 Quy trình thành lập và đăng ký hoạt động 42

1.3.3 Bộ nhận diện câu lạc bộ sinh viên 46

1.3.4 Đối tượng tham gia 49

Tiểu kết chương 1 53

CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG CỦA CÂU LẠC BỘ SINH VIÊN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ HỌC ĐƯỜNG 55

2.1 Đặc trưng cơ cấu tổ chức 55

2.2 Đặc trưng nội dung hoạt động 60

Trang 4

2.5.2 Hạn chế sự kết nối giữa các câu lạc bộ sinh viên 71

2.5.3 Hạn chế về sự kế thừa hoạt động 72

2.5.4 Hạn chế nguồn lực vật chất và phương tiện hoạt động 73

Tiểu kết chương 2 75

CHƯƠNG 3 VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA CÂU LẠC BỘ SINH VIÊN ĐỐI VỚI VĂN HOÁ HỌC ĐƯỜNG 77

3.1 Vai trò của câu lạc bộ sinh viên 77

3.1.1 Đáp ứng nhu cầu hoạt động nhóm của sinh viên và nhu cầu quản lý nhóm của nhà trường 77

3.1.2 Đáp ứng nhu cầu hoạt động ngoại khoá chính thức 79

3.2.3 Cân bằng hoạt động chính quy và hoạt động ngoại khoá 80

3.2.4 Thúc đẩy quá trình xã hội hoá trong hệ thống hoạt động

sinh viên 82

3.2 Chức năng của câu lạc bộ sinh viên 84

3.2.1 Chuẩn bị cho sự phát triển toàn diện 84

3.2.2 Rèn luyện kỹ năng cho sự phát triển toàn diện 90

3.2.3 Bồi dưỡng văn hoá ứng xử học đường đại học 107

Tiểu kết chương 3 116

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122 PHỤ LỤC

Trang 5

1 Câu lạc bộ sinh viên CLBSV

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM,

Trang 6

Sơ đồ 1.2 Tiêu chí phân loại câu lạc bộ sinh viên 33

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức câu lạc bộ sinh viên 57

Sơ đồ 3.1 Mức độ quan trọng của CLBSV trong việc tạo môi trường học

tập năng động 82

Trang 7

Bảng 1.2 Tình hình tham gia tương quan giới tính 52

Bảng 2.1 Chất lượng hoạt động câu lạc bộ sinh viên 69

Bảng 3.1 Vai trò của câu lạc bộ sinh viên đối với nhà trường 78

Bảng 3.2 Tình hình tham gia câu lạc bộ sinh viên 80

Bảng 3.3 Mục đích tham gia CLBSV 85

Bảng 3.4 Tiêu chí tham gia câu lạc bộ sinh viên 87

Bảng 3.5 Tác động của câu lạc bộ sinh viên đến thành tích học tập 92

Bảng 3.6 CLBSV cải thiện kỹ năng mềm sinh viên 95

Bảng 3.7 Vai trò của sinh viên khi tham gia câu lạc bộ sinh viên 99

Bảng 3.8 Hoạt động tích cực của sinh viên khi tham gia CLBSV 106

Bảng 3.9 Câu lạc bộ sinh viên cải thiện các mối quan hệ 112

Bảng 3.10 CLBSV tạo niềm tin và thúc đẩy chia sẻ 115

Trang 8

nhân và tập thể

Trước tiên, xin trân trọng cảm ơn người đã hướng dẫn tôi TS Trần Phú Huệ Quang Cô không chỉ nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ tài liệu, giải đáp thắc mắc mà còn động viên tôi khi gặp những khó khăn khi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

trình học tập, giúp tôi tạo nền tảng nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn

Bên cạnh đó tôi cũng gửi lời đến các cán bộ nhân viên và các bạn sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh - Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh đã nhiệt tình cung cấp những thông tin quan trọng để tôi có nguồn tư liêu quý giá để thực hiện luận văn này

Cuối cùng xin cảm ơn bạn bè, tập thể lớp K17B đã động viên và giúp

đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Do giới hạn kiến thức, bản thân còn nhiều thiếu sót và hạn chế, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các Thầy, Cô để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn Một lần nữa xin gửi đến thầy cô lời cảm ơn chân thành và tốt đẹp nhất!

Trang 9

Xu thế toàn cầu hoá kéo các quốc gia xích lại gần nhau đồng nghĩa với nâng cao sức cạnh tranh và tầm vóc trí tuệ con người Sứ mạng giáo dục của ngôi trường có bề dày truyền thống đã thúc đẩy Ban Giám hiệu nhà trường xây dựng các chiến lược nhằm tầm vị thế và chất lượng giáo dục trong khu vực và quốc tế Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM) đã xây dựng triết lý giáo dục “Giáo dục toàn diện, khai phóng, đa văn hóa” tiếp nối truyền thống và phát triển trong tương lai Nhà trường đã triển khai nhiều hoạt động nhằm đạt được triết lý giáo dục đó, các thành quả về nghiên cứu khoa học của giảng viên, sinh viên, vị trí trong bảng xếp hạng đại học là minh chứng cho sự thay đổi đó

Bên cạnh việc đào tạo chuyên môn thì nhà trường còn chú trọng vào việc xây dựng đời sống văn hóa cho sinh viên, trong đó chú trọng hỗ trợ cho các câu lạc bộ sinh viên phát triển nhằm thu hút sinh viên vào tham gia Hoạt động này không chỉ giúp sinh hoạt có nơi sinh hoạt lành mạnh, phát triển được các kỹ năng xã hội, trách nhiệm xã hội cho bản thân cũng như ứng dụng được kiến thức trên giảng đường liên hệ với thực tế Hoạt động của câu lạc bộ sinh viên trở thành một nhân tố không kém phần quan trọng trong việc thực hiện triết lý trên Văn hóa học đường còn được ghi nhận những dấu ấn trong hoạt động của câu lạc bộ sinh viên, có vai trò quan trọng, một nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng văn hóa học đường đại học Các câu lạc bộ của sinh viên góp phần tạo nên hình ảnh hay diện mạo, tên tuổi của nhà trường và cả chính sinh viên, mà trước nay chưa được chú ý đến nhiều

Câu lạc bộ sinh viên là một trong những phương thức hoạt động ngoại khoá quen thuộc của sinh viên tại các trường đại học trên thế giới Đối với các

Trang 10

vai trò mà của nó đối với sinh viên, nhất là nâng cao rèn luyện kỹ năng, giáo dục chính trị, tư tưởng, thẩm mỹ… Đồng thời, câu lạc bộ còn là môi trường tốt để mỗi thành viên tự điều chỉnh nhận thức, hành vi, rèn luyện, phấn đấu trưởng thành Tính hiệu quả của nó, được các trường đại học trên thế giới nhận ra, trong đó việc tổ chức phát triển tốt các câu lạc bộ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối sinh viên với sinh viên, sinh viên với nhà trường, sinh viên với việc chia sẻ trách nhiệm xã hội và nâng cao việc học tập nghiên cứu Hiện nay, các trường đại học trên thế giới luôn khuyến khích hoạt động câu lạc bộ hoạt động mạnh mẽ, nó là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển toàn diện của sinh viên

Như vậy, các câu lạc bộ sinh viên đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo và hoạt động thực tiễn tại các trường đại học, nên việc tìm hiểu và xác định tầm quan trọng của nó dưới góc nhìn văn hoá sẽ gợi mở nhiều vấn đề lý thú trong bối cảnh Việt Nam Dưới góc nhìn văn hoá học, nó là một thành tố đáng chú ý trong lộ trình xây dựng văn hoá học đường bậc đại học tại Việt Nam

Trong phạm vi nghiên cứu luận văn, chúng tôi không có tham vọng đề cập đến sự đa dạng của văn hóa học đường đại học trên thế giới và Việt Nam,

vì đó là điều bất khả Chúng tôi chỉ tập trung xem xét ở khía cạnh vai trò, chức năng của CLBSV đối với văn hoá học đường, cụ thể tại trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM Từ trường hợp cụ thể này, chúng tôi tập trung tìm hiểu vai trò của văn hoá trong các câu lạc bộ sinh viên, nhằm lý giải được động cơ tham gia và thành quả đạt được của sinh viên khi tham gia vào các câu lạc bộ; vai trò, chức năng của nó trong việc phát triển của sinh viên Trên

cơ sở nhận diện được tầm trọng của các câu lạc bộ của sinh viên, kế thừa các

Trang 11

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong phạm vi bao quát được, chúng tôi tiến hành phân tích hai mảng

nội dung chính, gồm: (1) Lịch sử nghiên cứu HĐNK có bao gồm CLBSV; (2)

Lịch sử nghiên cứu CLBSV

Về nghiên cứu hoạt động ngoại khoá (HĐNK) có bao gồm CLBSV

Nghiên cứu HĐNK ở bậc trung học từ lâu đã được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu, đặc biệt là ở các quốc gia Âu – Mỹ Nikki, L Wilson

(2009) thuộc đại học Wisconsin-Stout (Mỹ), trong luận văn thạc sĩ Impact of

Extracurricular Activities on Students đã nghiên cứu sự tham gia của sinh

viên vào HĐNK Mỗi CLBSV là một không gian giáo dục giúp sinh viên phát triển khả năng lãnh đạo, mối quan hệ và kỹ năng khi tham gia HĐNK (Wilson

& Nikki L, 2009) Tại trường đại học Southern Mississippi (Mỹ), công trình

Impact of Extracurricular Activities on Student Achievement at the High School level nghiên cứu tập trung vào tác động tích cực của việc tham gia

bài kiểm tra tốt nghiệp trung học (Steven Wesley Craft, 2012) Cũng xung quanh vấn đề ý nghĩa tham gia của học sinh vào HĐNK, có nhiều học giả nghiên cứu với nhiều góc nhìn khác nhau, tiêu biểu như Fredricks và Eccles

có hàng loạt các nghiên cứu nhận thấy rằng sự tham gia hoạt động CLBSV có thể liên quan đến kết quả học tập tích cực, bao gồm cải thiện điểm kiểm tra, khát vọng học tập gia tăng và có tác động đến quá trình phát triển của học sinh (Jennifer A Fredricks & Jacquelynne S Eccles, 2006) Theo Gardner, Roth và Brooks-Gunn việc tham gia vào các hoạt động có tổ chức trong

1 Từ viết tắt của Scholastic Assessment Test, bài kiểm tra đánh giá năng lực chuẩn hóa

Trang 12

HĐNK (Gardner và c.s., 2008) Nhận thức của các hiệu trưởng và phụ huynh

về HĐNK đã được nghiên cứu Bempechat và Shernoff Những người đứng đầu trường cho rằng HĐNK là một trong những chiến lược thu hút học sinh đăng ký học (Bempechat & Shernoff, 2012)

Đối với nghiên cứu HĐNK bậc đại học, tuy được sự quan tâm muộn hơn nhưng vẫn có nhiều nghiên cứu Tại đại học Toronto, Fraydoon Bayat đã

thực hiện luận án Tiến sĩ Giáo dục Student engament: aqualitative study of

extracurricular activities nghiên cứu cách sinh viên tham gia vào các câu lạc

bộ thể thao và công dân bằng các cuộc phỏng vấn với sinh viên, giảng viên, hiệu trưởng thông qua quan sát của bốn CLBSV Dữ liệu cho thấy các CLBSV đóng vai trò quan trọng trong đời sống giáo dục đối với sinh viên Công trình này cũng tiết lộ rằng các nhà lãnh đạo CLBSV đã có một tác động đáng kể đến sự tham gia của sinh viên trong các câu lạc bộ và toàn bộ trường học (Fraydoon Bayat., 2015) Cùng năm 2015, Nathan John Gatchalian

(University of Asia and the Pacific) với nghiên cứu What Makes Students in

the Philippines Actively Participate in Extra-Curricular Activities? nhận thấy

hoạt động CLBSV ngày càng phổ biến trong đại học, đồng thời cũng đã thăm

dò thêm những yếu tố khác ảnh hưởng đến sự tham gia tích cực vào các hoạt động câu lạc bộ của một sinh viên đại học (Nathan John Gatchalian, 2015).

Jason Kaufman với nghiên cứu Cultural capital and the extracurricular

activities of girls and boys in the college attainment process đã đánh giá vai trò của HĐNK trong quá trình đạt được kết quả ở đại học của cả nam và nữ (Jason Kaufman, 2004) HĐNK có thể giúp các sinh viên có được những kỹ năng mới, củng cố hoặc phát triển các thái độ tích cực thông qua các nghiên cứu của Zhao, Hueyshan and Mishra (Zhao và c.s., 2000) Nghiên cứu này tập

Trang 13

các loại HĐNK, tác động của sự tham gia vào HĐNK, vai trò của cha mẹ trong HĐNK, nhận thức của các hiệu trưởng nhà trường, giáo viên HĐNK, học sinh và phụ huynh

Về nghiên cứu câu lạc bộ sinh viên

Trên thế giới, quốc gia quan tâm đến vai trò của CLBSV như một đối tượng độc lập từ góc độ khoa học nhiều hơn cả có lẽ là Trung Quốc Hàng loạt các nghiên cứu về vai trò CLBSV trong các trường đại học dưới nhiều góc nhìn khác nhau được tiến hành, đặc biệt là vai trò quan trọng của câu lạc

bộ thể thao đối với sự phát triển thể chất sinh viên và tổ chức nhà trường Tan

Wojie với nghiên cứu Research on the development of physical education

clubs at universities (Tan Wojie, 1998) đã nêu quan điểm cải cách giáo dục

thể chất đại học là một nhiệm vụ lâu dài, tương tự như sự phát triển hoàn chỉnh của một câu lạc bộ thể dục, và cơ chế hoạt động của nó cũng sẽ đòi hỏi những khám phá và nỗ lực dài hạn Wang Jian-wei (2001) tại Viện Giáo dục thể chất Bắc Kinh (Beijing Institute of Physical Education) thông qua công

trình The Study of Constructing Sports Club Models in the Colleges and

Universities phân tích các mô hình cơ bản về tổ chức, đào tạo, tham gia,…

của câu lạc bộ thể thao sinh viên (Wang Jian-wei, 2001) Tác giả cung cấp sự hình thành cơ bản và mức độ phát triển của câu lạc bộ thể thao tại các trường

cao đẳng và đại học Xu Ming (Quảng Tây, Trung Quốc): Research on

Implement of Inside and Outside-class Integrative Pattern of Club System in Physical Education Courses of Colleges and Universities cho rằng việc triển

khai tích hợp hệ thống CLBSV trong các khoá học giáo dục thể chất ở trường cao đẳng đại học giúp cho hoạt động dạy và học trở nên linh hoạt hơn Mô hình này thúc đẩy sự nhiệt tình và hứng thú của sinh viên tham gia học thể

Trang 14

Common Universities of China phân tích đặc điểm của các câu lạc bộ thể thao

trường cao đẳng đại học của Trung Quốc hiện nay (Zou Shi & Feng Huo Hong, 2003) Cheng Ming (Quý Dương, Trung Quốc) với nghiên cứu

Practicality of in-class sports clubs of physical education in Guiyang's college and universities nêu quan điểm rằng tất cả các trường cao đẳng và đại

đại học đều cần thành lập các CLBSV thể thao (Cheng Ming, 2011)

Không dừng ở việc khuyến khích các mô hình câu lạc bộ thể thao nói chung, các nhà nghiên cứu tại còn khuyến khích các loại hình câu lạc bộ thể

thao cụ thể Lan Shi-wen (Gannan Normal University) với nghiên cứu The

Organization Construction of College Students Spare Time Badminton club

nghiên cứu về cơ cấu tổ chức, mô hình câu lạc bộ cầu lông của sinh viên đại học Gannan, khuyến khích sự phát triển của câu lạc bộ cầu lông trong các trường đại học (Lan Shi-wen, 2009) Yu-zhong và cộng sự (2007) (Viện Khoa học và Công nghệ Hà Nam, Tân Hương, Trung Quốc) trong nghiên cứu

Research on the Patterns of College Students' Volleyball Fitness Club đã điều

tra và phân tích tình hình chơi bóng chuyền và các yếu tố ảnh hưởng của nó đến sinh viên Bài viết cũng khám phá các mô hình thiết lập một câu lạc bộ bóng chuyền nhằm nâng cao khả năng tự rèn luyện thể thao và nâng cao khả năng tổ chức thi đấu trong sinh viên (Yu-zhong & et al, 2007)

Ở các quốc gia khác, đặc biệt là các nước Âu – Mỹ, vai trò của HĐNK

đã được các nhà nghiên cứu đánh giá đúng mức và phát huy hết vai trò của nó trong giáo dục CLBSV lại chỉ được xem là một trong rất nhiều hoạt động ngoại khoá đa dạng khác, có lẽ vì thế không có nhiều công trình nghiên cứu

Trang 15

organizations matter… là những tiêu đề quen thuộc từ các website chính thức

của các trường đại học

Ở Việt Nam, nghiên cứu CLBSV có thể nói là một nội dung tương đối

mới Các công trình nghiên cứu có liên quan như: Tìm hiểu nhu cầu hoạt

động văn hoá của thanh niên, sinh viên hiện nay (Nguyễn Thị Thư, 1998), Kỹ năng hoạt động nhóm của sinh viên trường đại học Sài Gòn (Lê Ngọc Huyền,

2010); Trong hội thảo Nâng cao hiệu quả hoạt động công tác chính trị và

Quản lý sinh viên, tác giả Bùi Việt Thành có bài viết câu lạc bộ đội nhóm – mối liên kết bền vững giữa nhà trường và sinh viên từ góc nhìn người quản lý

đã đưa ra cái nhìn tương đối khái quát về hiện trạng hoạt động của các câu lạc

bộ đội nhóm ở các trường đại học trên địa bàn TP.HCM, đồng thời đề xuất kiến nghị và giải pháp khắc phục các tình trạng bất cập trong câu lạc bộ đội nhóm đã nêu (Bùi Việt Thành, 2006)

Khái quát tình hình nghiên cứu có thể thấy tất cả các nghiên cứu về HĐNK và CLBSV mà chúng tôi khảo sát đều quan tâm đến chức năng phát triển kỹ năng, thể chất, tình cảm, tri thức, cùng với các mối quan hệ tác động đến sự tham gia của sinh viên cũng như đề xuất mô hình hình thành và phát triển HĐNK và CLBSV Đặc biệt ở Việt Nam, nghiên cứu về CLBSV còn mang tính chất khái quát, điểm xuyết cho các nội dung chính yếu khác CLBSV dưới góc độ văn hoá học đường càng là một góc nhìn mới mẻ đối với khoa học Việt Nam hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu phương thức hoạt động, cơ cấu tổ chức, nội dung, mục đích,… của CLBSV nhằm khái quát hiện trạng, đặc trưng của CLBSV tại Trường

Trang 16

- Đối tượng nghiên cứu: là các câu lạc bộ sinh viên của trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM Vấn đề nghiên cứu tập trung vào bối cảnh ra đời, tính lịch sử và các giá trị văn hoá của các CLBSV trong môi trường đại học

thuộc trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM

phát triển của CLBSV nhà trường từ năm 1997 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận hệ thống: là cách tiếp cận chính yếu vì bản thân đối tượng nghiên cứu vốn thuộc hệ thống hoạt động sinh viên với chức năng đặc thù duy trì hệ thống nên cần được xem xét phân tích theo cả không gian, thời gian và chủ thể trong tổng hòa mối quan hệ giữa chúng để đưa ra kết luận thấu đáo

thành của các câu lạc bộ sinh viên nhằm lý giải các giá trị văn hoá của các hoạt động tại các câu lạc bộ mang lại cho sinh viên và nhà trường

Công cụ nghiên cứu của luận văn là công cụ quan sát, phỏng vấn sâu và khảo sát thông tin bằng bảng thu thập thông tin nhằm phục vụ cho việc phân tích, so sánh và đối chiếu

Phỏng vấn sâu: tập trung vào khám phá hiểu biết về CLBSV thông qua phỏng vấn sâu, từ đó bổ sung các mô tả phong phú hơn về quá trình, ngữ cảnh

Trang 17

CLBSV, chúng tôi tiến hành 14 cuộc phỏng vấn sâu thuộc 3 đối tượng: sinh viên tham gia CLBSV, sinh viên không tham gia và ban quản lý CLBSV Nghiên cứu này cũng cố gắng khám phá trải nghiệm của sinh viên và cấp quản lý trong các CLBSV theo quan điểm riêng của họ bằng cách tập trung vào những từ ngữ thể hiện và cảm xúc Từ việc xử lý thông tin thứ cấp đồng thời sử dụng phương pháp tổng thuật và phân tích cuộc khảo sát và thảo luận phỏng vấn người tham gia chúng tôi đã khám phá ý nghĩa của CLBSV đối với sinh viên Phương pháp này yêu cầu xử lý thông tin định tính: gỡ băng và phân nhóm các vấn đề để làm dẫn chứng khi phân tích Thông tin định tính sẽ được cụ thể hóa trong phần kết quả nghiên cứu của đề tài

Khảo sát thông tin bằng bảng thu thập thông tin: nhằm đánh giá khách quan đối tượng, phục vụ thông tin và số liệu khách quan, cụ thể cho đề tài Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi được xem là công cụ tiêu chuẩn trong thiết kế khảo sát này Phiếu khảo sát được xây dựng dựa trên các tài liệu, các nghiên cứu khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài, đồng thời ứng dụng lý thuyết chức năng của Manlinowski Phiếu khảo sát gồm 21 câu hỏi với các dạng câu hỏi một lựa chọn, nhiều lựa chọn và dạng câu hỏi đóng (trả lời có/không) Mẫu khảo sát được chúng tôi lựa chọn 120 mẫu là SV năm 3 nhằm đảm bảo các thông tin cần thiết, thấy được nét tổng quan về việc tham gia vào các câu lạc bộ SV tại trường

5.2 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu sử dụng để nghiên cứu trong đề tài này bao gồm các công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành văn hoá học và các ngành: xã hội học, tâm lý học…; các sách công cụ mang tính lý luận về văn hoá học,

Trang 18

6.1 Ý nghĩa khoa học

Thông qua nghiên cứu Câu lạc bộ sinh viên tiếp cận từ góc độ văn

hoá học đườngCâu lạc bộ sinh viên tiếp cận từ góc độ văn hoá học đường

từ đó có thể nhận diện đặc điểm văn hóa CLBSV của trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM Đề tài này còn góp thêm tư liệu làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hoạt động CLBSV, hoạt động học tập nghiên cứu của sinh viên với việc thúc đẩy hình thành văn hoá học đường đại học

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Góp thêm một tập hợp các tài liệu phục vụ cho việc đọc, tham khảo đối với những người quan tâm tìm hiểu về CLBSV cũng như các vấn đề có liên quan

Bên cạnh đó, luận văn này còn có thể góp thêm những cứ liệu thực tiễn nhằm phục vụ cho công tác tổ chức quản lý các các câu lạc bộ - đội nhóm sinh viên Cũng như làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên tiếp cận các vấn đề liên quan đến văn hoá tổ chức

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn dự kiến gồm ba chương sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn Chương này trình bày những tiền đề lý luận và các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài và các lý thuyết tiếp cận, đồng thời định vị đối tượng nghiên cứu trên tọa độ không gian – thời gian – chủ thể cụ thể của địa bàn nghiên cứu để làm cơ sở cho những khảo sát hoạt động CLBSV ở các chương tiếp theo

Chương 2: Đặc điểm và thực trạng của CLBSV trường ĐHKHXH&NV Chương này làm rõ về đặc điểm cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, nguyên tắc hoạt động của CLBSV và đặc điểm ứng xử trong

Trang 19

đường Chương này trình bày vai trò của CLBSV trong việc đáp ứng nhu cầu hoạt động nhóm của sinh viên và quản lý nhóm sinh viên của nhà trường, đáp ứng nhu cầu hoạt động ngoại khoá chính thức, cân bằng hoạt động chính quy

và hoạt động ngoại khoá và thúc đẩy quá trình xã hội hoá của sinh viên Từ

đó, chúng tôi đi sâu vào các chức năng của CLBSV bao gồm chuẩn bị cho sự phát triển toàn diện, rèn luyện kỹ năng cứng và kỹ năng mềm, bồi dưỡng văn hoá ứng xử học trong sinh viên

Trang 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận 1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Câu lạc bộ sinh viên

Câu lạc bộ

Câu lạc bộ là tổ chức mang tính tự nguyện của những người có cùng hoàn cảnh hoặc cùng sở thích, nguyện vọng, chí hướng tham gia sinh hoạt nhằm mục đích giải trí, phát triển thể chất, tinh thần, nghề nghiệp Câu lạc

bộ thường được tổ chức tại các cơ quan văn hóa - giáo dục như: nhà văn hóa, cung văn hóa, trung tâm văn hóa thuộc hệ thống nhà nước hoặc thuộc các cơ quan ban ngành như: quân đội, công an, công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ

nữ, hội người mù và các tổ chức chính trị- xã hội khác

Nội dung và hình thức hoạt động của các câu lạc bộ là tổ chức hoạt động chung theo nhu cầu của các thành viên, mở các lớp học tập để nâng cao trình độ nghiệp vụ, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề để bổ sung kiến thức, giao lưu tình cảm, chia sẻ kinh nghiệm sống hoặc tham gia các quá trình sáng tạo trong hoạt động văn hóa, văn nghệ hoặc trong lĩnh vực ứng dụng khoa học kĩ thuật vào đời sống

Câu lạc bộ sinh viên

CLBSV là phương thức tổ chức tập hợp sinh viên vào các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học (NCKH) và giải trí có hiệu quả cao có đơn vị

CLBSV được manh nha hình thành từ thế kỷ 19, nhanh chóng phát triển ở các trường đại học ở Mỹ mà khởi nguồn từ các cuộc tranh luận xã hội giải quyết các chủ đề như cải cách xã hội, lòng mộ đạo tôn giáo trong khuôn

2 CLBSV theo Do Thái giáo từ một số trường ở New York được thành lập ngày 29/12/1898 do Richard J.H Gottheil, giáo sư ngôn ngữ tại Columbia và là người theo Do Thái giáo

Trang 21

(1897), sinh viên người Mỹ gốc Phi thành lập Alpha Phi Alpha3 (1906); sinh

giáo của các sinh viên Công giáo tại các trường đại học không phải Công giáo Hiệp hội sinh viên Hồi giáo Hoa Kỳ và Canada được thành lập vào năm

1963 Nguồn gốc của sự tham gia của sinh viên trong nghệ thuật có thể được bắt nguồn từ năm 1808 với sự thành lập của Pierian Sodality, một tổ chức âm nhạc và xã hội tại đại học Harvard Các dàn nhạc đại học, các vở kịch và điệu múa cung cấp giải trí cho thành phố và khi các trường đại học xây dựng các phòng hòa nhạc và nhà hát thì các hoạt động này càng mạnh mẽ hơn Hiện nay mô hình CLBSV theo sở thích và nhu cầu của sinh viên đã trở nên phổ biến ở hầu hết các trường Các nhà xã hội học đã giải thích mô hình này như

là một phức hợp của các nền văn hóa sinh viên, trong đó các sinh viên phải đối mặt với cả cơ hội và thách thức của việc lựa chọn các câu lạc bộ phù hợp

để tham gia cũng như việc quyết định nhóm sinh viên để liên kết

Mục đích chủ yếu của câu lạc bộ là tạo điều kiện, khuyến khích và tổ chức cho sinh viên thi đua học tập, tập sự nghiên cứu khoa học và có điều kiện tiếp cận với thực tế Sự tham gia vào các hoạt động CLBSV đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển học vấn, xã hội và tình cảm của sinh viên Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên tham gia vào

3 Hiệp hội người Mỹ gốc Phi lớn nhất chuyên nghiên cứu văn học và xã hội thành lập ngày 4/12/1906 tại Cornell ở Ithaca, New York Mục đích là "Manly Deeds, Scholarship, and Love for All Mankind" và phương châm của nó là "First of All, Servants of All, We Shall Transcend All” Hiện tại, có hơn 730 chương trình hoạt động ở Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Âu, và châu Á

4 Tổ chức sinh viên Mỹ Latinh đầu tiên ở Hoa Kỳ nhằm đoàn kết cộng đồng Latino được thành lập vào ngày 26/12/1931 Thành viên gồm cả sinh viên đại học, sau đại học và người đang đi làm cam kết hướng tới việc trao quyền cho cộng đồng Mỹ Latinh bằng cách cung cấp các chương trình và hoạt động văn hoá quảng bá và bảo tồn văn hoá Mỹ Latin

5 Hiệp hội người Mỹ bản xứ được thành lập vào ngày 13/2/1996 tại đại học North Carolina ở Pembroke Đây

là Hiệp hội người Mỹ bản địa đầu tiên ở Hoa Kỳ

6 Newman là tổ chức các trung tâm Công giáo tại các trường đại học không phải Công giáo được thành lập năm 1888 tại Oxford câu lạc bộ Newman American đầu tiên được Timothy Harrington thành lập vào năm

1893 tại đại học Pennsylvania Việc thiết lập phong trào này được lấy cảm hứng từ các bài viết của Đức Hồng y John Henry Newman khuyến khích xã hội dành cho các sinh viên Công giáo tham dự các trường thế

Trang 22

các hoạt động CLBSV thì có điểm trung bình cao hơn Tiêu biểu như Jenifer

A Fredricks nhận thấy rằng sự tham gia hoạt động CLBSV có thể liên quan đến kết quả học tập tích cực, bao gồm cải thiện điểm kiểm tra, khát vọng học tập gia tăng và có tác động đến quá trình phát triển của học sinh (Jennifer A Fredricks & Jacquelynne S Eccles, 2006) Theo Corey Blomfeild & Bonnie Barber việc tham gia vào các hoạt động có tổ chức trong trường trung học là tích cực liên quan đến giáo dục công dân và ở một mức độ nào đó, thành công nghề nghiệp ở tuổi trưởng thành (Corey Blomfield & Bonnie Barber, 2010) Hơn nữa, sự tham gia vào các hoạt động còn góp phần hình thành tính cách, tăng sự tự tin, giảm căng thẳng, tạo ra niềm tự hào và ý thức cộng đồng, nuôi dưỡng cảm giác thuộc về,… cho sinh viên Mỗi sinh viên cho dù được biết đến hay không, mọi người đều có sở thích và thế mạnh kỹ năng và có xu hướng tận dụng lợi thế hoặc sức mạnh bản thân để xây dựng cuộc sống của mình CLBSV là môi trường thuận lợi và an toàn để sinh viên phát triển sở thích và thế mạnh kỹ năng của mình

Câu lạc bộ sinh viên là tập hợp các “Nhóm”

Theo triết học Marx – Lenin, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, nhờ hoạt động nhóm mà con người tạo ra xã hội Trong quá trình hình thành con người không thể tách rời khỏi các hoạt động nhóm trong sinh hoạt hằng ngày Những môi trường nhóm đầu tiên là gia đình, họ hàng, bạn bè, hàng xóm,… tiếp theo là các môi trường nhóm mở rộng hơn như nhóm đáp ứng nhu cầu, sở thích cá nhân, nhóm công việc, nhóm chuyên môn… Hoạt động nhóm có vai trò quan trọng trong hình thành phát triển nhân cách, tư duy nhận thức và hành vi của mỗi con người trong xã hội Từ

đó, nhóm có những tác động rất lớn đến sự phát triển văn hoá của môi trường cộng đồng và xã hội

Giáo trình Công tác xã hội nhóm có nêu: “Nhóm là tập hợp có từ hai

người trở lên, giữa họ có một sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá

Trang 23

trình thực hiện hoạt động chung nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của tất cả thành viên trong nhóm Tất cả các thành viên trong nhóm được điều chỉnh và

Có nhiều cách phân loại nhóm khác nhau George Simmel phân biệt

nhóm theo quy mô, nhỏ nhất là nhóm đôi, nhóm ba, nhóm nhỏ (từ 4-20

người), nhóm trung bình (từ 20-30 người) và nhóm lớn (trên 40 người) Nhóm

càng lớn thì cấu trúc càng phức tạp Ngoài ra, còn có các phân loại nhóm theo

đặc điểm lao động sản xuất: nhóm giáo viên, nhóm công nhân, nhóm hành

chính, nhóm khách hàng…; phân loại tính chất tồn tại thì bao gồm nhóm tự

nhiên là nhóm có thực tồn tại trong cuộc sống (nhóm người ở kí túc xá, nhóm

người ở cùng khu phố…) và nhóm quy ước hình thành do con người chủ định

xây dựng hoặc phân chia các cá nhân theo mục tiêu, nhiệm vụ nhất định

Theo đó CLBSV là nhóm quy ước CLBSV trong trường đại học là hình thức

sinh hoạt nhóm đã được manh nha hình thành từ thế kỷ XIX

Văn hoá nhóm

Nhóm có quy ước về cách ứng xử cũng như sinh hoạt nhóm Những quy ước này có thể được quy định ngầm hoặc viết thành văn bản Theo J.H Fisher, sự khác biệt giữa xã hội và nhóm ở chỗ xã hội luôn đặc trưng bởi hệ giá trị, chuẩn mực văn hoá, còn nhóm luôn đặc trưng bởi hệ các mục tiêu, nhiệm vụ nhất định Nhóm này khác nhóm kia ở mục đích, chức năng, nhiệm

vụ, còn xã hội này khác xã hội kia ở đặc điểm văn hoá Tuy nhiên, ở các nhóm có tính liên kết cao và lịch sử lâu dài sẽ hình thành văn hoá nhóm Nhóm hình thành trong các môi trường văn hoá khác nhau sẽ hình thành văn hoá nhóm khác nhau

Văn hoá nhóm nhằm nói đến những giá trị, niềm tin, thói quen và những truyền thống mà nhóm hình thành Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến văn hoá nhóm như: phong cách lãnh đạo, loại hình công việc, lịch sử, mục tiêu và nhiệm vụ Cá nhân có đóng góp vào việc hình thành và duy trì văn hoá

Trang 24

nhóm bằng cách mang tới giá trị bản thân mình Lúc đầu các thành viên tìm hiểu, khám phá về hệ thống giá trị đặc trưng của người khác và tìm ra được điểm chung để gắn bó với nhau Qua các buổi gặp mặt và làm việc, chia sẻ với nhau về những gía trị của cá nhân, niềm tin nhóm có được hệ thống giá trị chung Hệ thống giá trị này tiếp tục phát triển trong suốt giai đoạn nhóm tồn tại và trở thành văn hoá nhóm Văn hóa nhóm chịu tác động của môi trường

mà nhóm hoạt động (Nguyễn Thị Thái Lan, 2012)

Bất kỳ ai cũng đều thuộc về nhóm, cơ bản là nhóm gia đình và mở rộng

là nhóm xã hội “Không một nhóm người nào có thể vượt ra ngoài phạm vi

1.1.1.2 Hoạt động ngoại khoá

Theo Cadwallader, Garza, và Wagner (2002), HĐNK được định nghĩa

là các hoạt động mà học sinh, sinh viên tham gia khi giờ học chính quy kết thúc Các hoạt động này có thể bao gồm các hoạt động thể thao, CLBSV, ban nhạc, dàn hợp xướng và các tổ chức lãnh đạo sinh viên (trích theo Steven Wesley Craft, 2012)

HĐNK được định nghĩa trong từ điển Merriam là các hoạt động giáo dục nằm ngoài phạm vi của chương trình học thông thường, được công nhận

là các hoạt động chính thức hoặc bán chính thức, thường tổ chức hoạt động sinh viên (như thể thao) để kết nối với trường học và không có tín chỉ học tập

(Definition of Extracurricular, 2018) Một số hoạt động này có thể xảy ra bên

ngoài khuôn viên nhà trường HĐNK đều có các yếu tố chung bao gồm: các cuộc họp thường kỳ, nhấn mạnh vào việc phát triển kỹ năng, định hướng mục tiêu, tương tác tích cực với bạn bè dưới sự giám sát và sự lãnh đạo của một hoặc nhiều người có thẩm quyền

HĐNK được chia thành hai loại: hoạt động HĐNK cấu trúc (chính thức) và HĐNK phi cấu trúc (không chính thức) Các hoạt động cấu trúc có thể bao gồm các hoạt động theo đội nhóm, câu lạc bộ hoặc bất kỳ hoạt động

Trang 25

nào của trường hoặc đơn vị khác, nhấn mạnh việc xây dựng kỹ năng dưới sự chỉ dẫn của các nhà lãnh đạo có thẩm quyền Các hoạt động phi cấu trúc bao gồm các hoạt động vui chơi ngoài giờ học cùng bạn bè

Lịch sử nghiên cứu HĐNK có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí là đối nghịch HĐNK đã từng được xem là yếu tố thư giãn vui vẻ và không liên quan đến mục đích chính của trường là thành tích học tập, không quan trọng

so với chương trình học thuật, có thể đó là lý do tại sao HĐNK là một trong những mục đầu tiên bị cắt giảm trong đối với một số trường học Ngược lại theo nhiều ý kiến khác, HĐNK giúp học sinh tham gia sâu hơn vào đời sống

và trí tuệ của trường Để khẳng định quan điểm của mình, một số học giả đề xuất các thuật ngữ thay thế HĐNK như "beyond the curriculum" (vượt chương trình giảng dạy) để cố gắng thay đổi quan niệm truyền thống về HĐNK, thay vì coi đó là “sự bổ sung” (extra) bằng cách cho thấy giá trị đích thực và ý nghĩa của các chương trình ngoại khoá trong giáo dục ((Hallberg & Kirk, 1971) Kể từ đó, hàng loạt các nghiên cứu về HĐNK đều cho thấy tác

động tích cực của nó Một nghiên cứu của Hollrah (2001) là Tham gia hoạt

động ngoại khoá có tác động lớn đến thành tích sinh viên (Involvement in extracurricular activities has a large impact on student achievement), sau khi

đặt câu hỏi cho gần 300 sinh viên đại học tham gia hoạt động ngoại khóa, nghiên cứu của cô chỉ ra rằng việc tham gia vào các hoạt động ngoại khóa làm tăng sự phát triển trí tuệ và xã hội của sinh viên (Steven Wesley Craft, 2012) Các nghiên cứu của (Stephens & Schaben, 2002) do Bộ Giáo dục Hoa Kỳ tiến hành và nghiên cứu của Marsh & Kleitman (2002) đều cho thấy rằng những sinh viên sẽ có kết quả học tập tốt hơn bất kể nguồn gốc của họ nếu họ tham gia vào các hoạt động ngoại khóa cấu trúc Học sinh dành nhiều thời gian với các hoạt động ngoại khóa phi cấu trúc cho thấy thói quen làm việc kém hơn

và điểm kiểm tra thấp hơn Đến năm 2012, nghiên cứu của Fraydoon Bayat chỉ ra những lợi ích cụ thể của HĐNK: những người tham gia HĐNK có thể

Trang 26

học các kỹ năng như làm việc theo nhóm, kỹ năng lãnh đạo, và có thể làm giảm khả năng tham gia vào các hành vi tiêu cực Phần lớn các tài liệu nghiên cứu cho biết người tham gia các hoạt động ngoại khóa thường có điểm trung bình cao hơn, giảm điểm vắng mặt, và sự liên kết ngày càng tăng với nhà trường (Fraydoon Bayat., 2015)

Ở Việt Nam, HĐNK cũng có một số công trình nghiên cứu liên quan Trong đó nổi trội hướng nghiên cứu từ đối tượng cụ thể, phân tích thực trạng

và đề xuất các biện pháp có các công trình: Biện pháp quản lý HĐNK ở

Trường Trung học phổ thông nọi trú Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng (Phạm

Thị Khanh, 2008), Luận văn Quản lý HĐNK của khoa ngoại ngữ du lịch,

Trường Cao đẳng du lịch Hà Nội ( (Đặng Thị Diệp Linh, 2011), Quản lý HĐNK trong bối cảnh đổi mới giáo dục tại trường tiểu học Việt Úc - Hà Nội

(Nguyễn Thị Tú An, 2015) Tính tích cực của HĐNK đối với học sinh, sinh viên và các nhà quản lý giáo dục được khẳng định ở nhiều phương diện khác

nhau Luận văn Tác động của HĐNK đến tính tích cực học tập của học sinh

trung học phổ thông (Nguyễn Thị Thảo, 2013) cũng đã nêu lên các tác động

tích cực học tập đối với học sinh trung học phổ thông và chú ý đến tác động khác nhau giữa học sinh nam và học sinh nữ

Việc khảo sát tài liệu cũng cho thấy rằng các sinh viên tham gia các hoạt động ngoại khóa cũng có cuộc sống lành mạnh hơn và đưa ra các quyết định tốt hơn về sức khoẻ của mình Đối với sinh viên, nếu tri thức được hình thành từ tiết học chính quy thì kỹ năng thường được thực hành và tích luỹ thông qua các hoạt động ngoại khóa

1.1.1.3 Văn hoá học đường

Văn hoá học đường là một trong những khái niệm phức tạp và quan

trọng trong giáo dục Thuật ngữ Văn hoá học đường xuất hiện lần đầu có lẽ vào năm 1932 trong công trình The Sociology of Teaching của Wiley và trở

nên phổ biến trong các nước nói tiếng Anh vào nửa đầu thế kỷ 20 Văn hoá

Trang 27

học đường thường dùng để chỉ niềm tin, nhận thức, mối quan hệ, thái độ, các quy tắc thành văn và bất thành văn đã hình thành và ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh hoạt động trường học Thuật ngữ này cũng bao gồm các vấn đề cụ thể hơn như sự an toàn về thể chất và tinh thần của học sinh, trật tự của lớp học, không gian học đường và nhấn mạnh sự đa dạng chủng tộc, ngôn ngữ hoặc văn hoá Văn hoá học đường theo Fullan (2007) định nghĩa là niềm tin

và giá trị hướng dẫn rõ ràng trong cách hoạt động của một trường học Văn hóa học đường bao gồm tất cả thái độ, các hành vi và các giá trị mong muốn ảnh hưởng đến hoạt động trường học (trích theo Darlene Fisher, 2012)

Ở Việt Nam, thuật ngữ này cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm

Trong Văn hoá và văn hoá học đường tác giả Nguyễn Khắc Hùng đã dẫn ra

nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá học đường Tiêu biểu như Phạm Minh Hạnh định nghĩa: “Văn hoá học đường là văn hoá của tổ chức nhà trường đang tồn tại trong một xã hội, là hệ thống những quy định tường minh hay ngầm ẩn các chuẩn mực đạo đức, giá trị cơ bản, quy tắc ứng xử tốt đẹp giữa các thành viên trong nhà trường với nhau, giữa các thành viên trong nhà trường và các tổ chức, các nhân ngoài xã hội có liên quan trong quá trình hoạt

Hùng, 2011); Phạm Minh Hạc “Văn hoá học đường là hệ các chuẩn mực, giá trị giúp các cán bộ quản lý nhà trường, các thầy cô, các vị phụ huynh và các

em học sinh, sinh viên có các cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp” (Phạm Minh Hạc, 2015).

Trong hội thảo quốc tế Văn hóa học đường đại học Việt Nam trong thời

kỳ phát triển và hội nhập (2018) được tổ chức tại trường ĐHKHXH&NV,

học đường là một bộ phận của văn hóa giáo dục Chức năng quan trọng nhất của văn hóa giáo dục nói chung và văn hóa học đường nói riêng là làm công

cụ để cụ thể hóa và hiện thực hóa triết lý giáo dục (Trần Ngọc Thêm, 2018)

Trang 28

Ngô Văn Lệ bên cạnh việc khẳng định tầm quan trọng của văn hoá học đường với tính chất song song của việc hình thành hệ thống giáo dục cũng chính là lúc hình thành văn hoá giáo dục thì còn cho rằng: "Văn hóa, một mặt

kế thừa và phát huy các giá trị có giá trị và phù hợp trong bối cảnh hiện nay, mặt khác, là sự tiếp nhận có chọn lọc những tinh hoa của giáo dục thế giới Mỗi một quốc gia có truyền thống giáo dục của mình và vì vậy giáo dục học đường cũng rất đa dạng Không có chuẩn mực quốc tế trong giáo dục học đường" (Ngô Văn Lệ, 2018).

Võ Văn Sen cụ thể hoá: "là hệ thống giá trị hữu hình như đặc trưng môi trường, cảnh quan, kiến trúc, của không gian trường đại học; và các giá trị

vô hình gồm phương thức tổ chức hoạt động, phương thức tổ chức quản lý, truyền thống học đường, nề nếp, quan hệ giao tiếp, ứng xử, phương thức sinh hoạt, được xây dựng trong quá trình tương tác giữa các bên tham gia như nhà quản lý giáo dục, giảng viên, sinh viên, học viên, đội ngũ phục vụ đào tạo, Quá trình tương tác này tạo ra các giá trị vừa mang tính phổ quát vừa mang tính đặc thù được thể hiện qua các hoạt động dạy và học, các hoạt động của tổ chức giáo dục và đào tạo." (Võ Văn Sen, 2018)

Sơ lược các lý giải về văn hoá học đường theo chiều dài của thời gian, đến hiện tại văn hoá học đường đã được khẳng định đúng vị trí và vai trò của mình là bộ phận của văn hoá, một tiểu hệ thống chứa đựng các giá trị do cộng đồng chủ thể nhà trường sáng tạo và tích luỹ qua lịch sử Mà trong đó, CLBSV là một trong những yếu tố góp phần làm nên giá trị của tiểu hệ thống này

1.1.2 Lý thuyết tiếp cận: lý thuyết chức năng (Fuctionalism)

Lý thuyết chức năng (Fuctionalism) bắt đầu từ thế kỷ 20 và thống lĩnh nhân học xã hội Anh đến khoảng 1960, ảnh hưởng mạnh mẽ tới Mỹ và nhiều nơi khác Trường phái chức năng đã định hình và được các nhà Nhân loại học châu Âu ứng dụng rộng rãi trong các vùng lãnh thổ là thuộc địa châu Âu, Úc,

Trang 29

Ấn Độ và Đông Phi Chức năng luận cổ điển (Classic Functionalism) đạt tới

vị trí phổ biến được chấp nhận như là lý luận xã hội học hiện đại trong xã hội học Mỹ những năm trước và sau thế chiến thứ hai Sau chiến tranh thế giới thứ hai, thuyết chức năng đã đánh mất vị thế của một lý thuyết nổi trội thay vào đó là sự quan tâm về các thuyết biến đổi văn hoá Vào thập niên 1980, phục hưng với cái nhãn Tân chức năng luận (Neo - Functionalism) Mặc dù vậy, các công trình của Malinowski và Radcliffe-Brown và các học trò: Fortes, Cluckman, Schapera, Richards… vẫn được quan tâm rộng rãi và tạo nguồn cảm hứng nghiên cứu cho những nhà Nhân học, xã hội học và Văn hoá học hiện đại

Nghiên cứu chức năng của một thể chế là tìm kiếm vai trò của nó trong tương quan hệ với những thể chế, những thành tố văn hóa khác Chức năng của một thể chế là ở sự đóng góp của nó đối với sự liên tục và sống sót của toàn thể Chức năng luận dựa trên những nghiên cứu thực địa lâu dài, quan sát tham dự, tìm hiểu hiện tượng văn hóa trong bối cảnh văn hóa xã hội, nhấn mạnh nghiên cứu đồng đại trên chứng cứ thực nghiệm “tại đây và bây giờ” (here and now)

Thuyết chức năng được chia thành hai hệ tư tưởng, mỗi hệ nổi bật lên một tên tuổi chủ chốt Trường phái chức năng tâm lý (Psychological functionalism) gắn liền với tên tuổi của Malonowski (1884-1942) và chức năng cấu trúc nổi tiếng với A.R Radcliffe-Brown (1881-1955)

Theo trường phái chức năng tâm lý, mỗi nền văn hóa có thể được hiểu như

là một toàn thể hữu cơ của những thể chế (instituations) Thể chế là những cách thức chung và tương đối ổn định để tổ chức các hoạt động của con người nhằm đáp ứng hay thỏa mãn nhu cầu trong xã hội Thể chế tương ứng với một

hệ thống được tổ chức của những hoạt động có mục đích bao gồm sáu thành tố: những người tham gia hoạt động, quan hệ giữa họ, những quy tắc chuẩn

Trang 30

mực phải theo, nội dung hoạt động, công cụ vật liệu được sử dụng trong hoạt động, chức năng được thực hiện bởi hoạt động

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy CLBSV như là một thể chế nhỏ trong mối quan hệ hữu cơ với các thể chế nhỏ khác đóng vai trò nhất định trong việc hình hành và phát triển văn hoá học đường (thể chế lớn hơn) Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu trước đó, đối sánh với trường hợp cụ thể tại trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM chúng tôi nhận thấy để tìm hiểu đặc trưng, chức năng hoạt động của CLBSV thì việc vận dụng trường phái chức năng tâm lý (Psychological functionalism) như là một

cơ sở lý thuyết vững chắc trong quá trình nghiên cứu

Qua đó, chúng tôi đi sâu vào phân tích các đặc trưng (Chương 2), rút ra vai trò và chức năng của CLBSV trong việc xây dựng văn hoá học đường (Chương 3)

1.2 Cơ sở thực tiễn 1.2.1 Vị trí CLBSV trong hệ thống hoạt động sinh viên

Trong công trình Thực chất của Kula (The Essentials of the Kula –

1922) B Malinowski đã nêu văn hoá cộng đồng là một bức tranh tổng thể mà

trong tâm trí những thành viên không tồn tại bức tranh tổng thể đó, đơn giản

là họ đang ở trong bức tranh nên không thấy được cái tổng thể của người quan sát từ bên ngoài (R Jon Mcgeee & Richard L Warms, 2010) Trong bức tranh tổng thể của văn hoá đại học, nếu hai thành phần hoạt động của ban quản lý nhà trường và hoạt động của giảng viên, cán bộ nhân viên mang chức năng định hướng, thì hoạt động sinh viên góp phần trong việc hình thành và phát triển văn hoá học đường CLBSV là tổ chức có số lượng đông đảo tại các trường đại học, tại trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM tính trong năm

2020 là 105 CLBSV (chưa bao gồm CLBSV tự do), trung bình mỗi đoàn khoa, bộ môn có khoảng ba CLBSV bên cạnh các câu lạc bộ trực thuộc đoàn trường, hội sinh viên, phòng ban khác và CLBSV tự do Số lượng sinh viên

Trang 31

quan tâm và tham gia hoạt động của các CLBSV hằng năm rất lớn Vì thế,

Hoạt động sinh viên bao gồm: hoạt động chính khóa, hoạt động ngoại khóa Trong hoạt động ngoại khóa thì bao gồm: Hoạt động ngoại khóa phi chính thức (phi cấu trúc) là các hoạt động giải trí tự do của sinh viên không mang tính chất tổ chức và độc lập với nhà trường; Hoạt động ngoại khóa chính thức (cấu trúc) là các hoạt động đoàn hội và hoạt động câu lạc bộ đội nhóm sinh viên (Steven Wesley Craft, 2012)

Cụ thể được thể hiện dưới sơ đồ 1:

Sơ đồ 1.1 Hoạt động sinh viên

Như vậy, CLBSV nằm trong hệ thống hoạt động sinh viên trực thuộc hoạt động ngoại khoá chính thức, giao nhau và có mối quan hệ tương hỗ với hoạt động đoàn hội sinh viên

1.2.2 Chủ trương của trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM về câu lạc bộ sinh viên

Các nghiên cứu HĐNK trên thế giới có xu hướng sử dụng một mô hình nghiên cứu cụ thể để tập trung vào phân tích để mang lại kết quả chính xác

Trang 32

khách quan Theo đó, CLBSV là một bộ phận của HĐNK cũng cần áp dụng phương pháp nghiên cứu này, và trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM là đối tượng được chọn mẫu nghiên cứu phù hợp

Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM thành lập từ năm 1955, tiền thân là Đại học Văn Khoa, sau đó đổi tên thành đại học Tổng Hợp Thành phố

60 năm xây dựng và phát triển, đây là một trong hai trung tâm lớn đào tạo về các ngành khoa học xã hội và nhân văn của cả nước, dẫn đầu về số lượng sinh viên quốc tế với 73 quốc tịch ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM cũng là đơn vị gắn liền với phong trào học sinh - sinh viên Sài Gòn - Gia Định - TP.HCM,

có những đóng góp to lớn vào lịch sử cách mạng Việt Nam

Toàn trường có hơn 20.000 sinh viên các hệ đại học và sau đại học được đào tạo theo 56 chương trình giáo dục (phân ngành) thuộc 27 ngành đào tạo bậc, 43 chương trình sau đại học và 11 chương trình liên kết quốc tế Trường có quan hệ đối tác với hơn 250 trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới thể hiện trong nhiều hình thức đa dạng bao gồm: trao đổi sinh viên và giảng viên; Các chương trình học tập ở nước ngoài; Các dự án nghiên cứu và hội thảo khoa học và xuất bản các ấn phẩm khoa học Chương trình đào tạo của nhiều khoa đã được mạng lưới các trường Đông Nam Á (AUN)

kiểm định chất lượng (Số liệu dẫn theo Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn - Lịch sử và truyền thống, 2017)

Một lợi thế khác nữa là Trường thuộc thành phố Hồ Chí Minh là một vị trí địa kinh tế phát triển năng động nhất cả nước Bên cạnh đó, là thành viên của ĐHQG-HCM đang phát triển mô hình theo đuổi xu thế phát triển của giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới

Trong những năm qua, ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM đã thực hiện

Chiến lược phát triển giai đoạn 2007 – 2012 tầm nhìn 2020 và Chiến lược phát triển giai đoạn 2011 – 2015 tầm nhìn đến 2020 Sau hai chiến lược giai

Trang 33

đoạn 2007 – 2012 và 2011 – 2015 cũng tạo được sự đồng bộ trong phối hợp

ba bên phòng Công tác sinh viên – Đoàn Hội sinh viên – đơn vị chức năng khác góp phần xây dựng được không khí học tập ổn định, thi đua phấn đấu trong sinh viên, tạo được những thành tích nhất định theo hướng xây dựng văn hóa đại học: tự do học thuật, dân chủ, sáng tạo, thân thiện

Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM tiếp tục thực hiện Kế hoạch

Chiến lược ĐHQG-HCM giai đoạn 2016 – 2020, tầm nhìn 2030 với mục tiêu:

"Có những phát triển chiến lược về xây dựng nguồn lực, về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường văn hoá đại học" Theo đó, công tác sinh viên và văn hoá đại học thuộc chương trình số 5 trong số bảy chương trình trong cả 3 giai đoạn chiến lược cho thấy sự quan tâm đặc biệt của nhà trường về nội dung này

Song song đó, thực hiện chủ trương quyết sách của lãnh đạo Nhà trường, Đoàn trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM xác định rõ hoạt động tập trung vào "Công tác giáo dục, công tác tổ chức và xây dựng Đoàn, công tác học thuật, công tác đào tạo kỹ năng, phương pháp, công tác tình nguyện, cộng đồng, công tác hỗ trợ sinh viên, công tác thanh niên, công tác truyền

thông, đối ngoại, hoạt động của Hội sinh viên trường" (Trường Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn - Lịch sử và truyền thống, 2017)

Giai đoạn 2007-2017, mô hình tập hợp sinh viên theo hình thức chi đoàn, hội ngày càng khó khăn do học chế tín chỉ vì thế mô hình câu lạc bộ – đội – nhóm ngày càng được phát huy cao độ Số lượng câu lạc bộ đội nhóm từ

61 (tháng 2/2012) lên 87 (tháng 5/2017) tăng 154% phủ đều khắp các mặt: học tập, nghiên cứu khoa học, tình nguyện vì cộng đồng, kỹ năng ở cả ba cấp

trường - khoa - lớp (Văn kiện Đại hội Đại biểu Đoàn khối Cán bộ trẻ lần thứ

II, nhiệm kỳ 2017 – 2019, 2017) Năm 2010, Đoàn trường thành lập Trung

tâm quản lý Câu lạc bộ - Đội - Nhóm, sau chuyển thành Ban quản lý Câu lạc

bộ - Đội - Nhóm, ra Nghị quyết về việc phát triển các câu lạc bộ - đội - nhóm

Trang 34

Sự phân công quản lý các loại hình câu lạc bộ đội nhóm giữa tổ chức Đoàn và Hội được quy định chặt chẽ: đoàn quản lý câu lạc bộ đội nhóm học thuật, lý luận, Hội quản lý câu lạc bộ tình nguyện, sở thích, văn nghệ thể thao Ban Quản lý câu lạc bộ – đội – nhóm phụ trách việc hỗ trợ, kết tập các đội, nhóm

tự phát cũng như thành lập câu lạc bộ – đội – nhóm mới

CLBSV được tạo điều kiện phát triển trong một môi trường thuận lợi

đã và đang phát huy tiềm lực để mang đến nhiều hoạt động bổ ích, thú vị dành cho sinh viên Với hơn 100 CLBSV thuộc đoàn hội sinh viên, một số CLBSV thuộc đơn vị khác (trực thuộc Trường) và CLBSV tự do đang hoạt động tạo nên bức tranh sôi động Mỗi CLBSV đều có những màu sắc riêng nhưng vẫn cùng thực hiện triết lý giáo dục của nhà trường: Giáo dục toàn diện

- Khai phóng - Đa văn hóa Song, dưới góc độ văn hoá học học đường vẫn chưa có cái nhìn toàn diện về chủ trương, mục tiêu hoạt động với các hoạt động trên thực tế

1.2.3 Đặc điểm sinh viên đại học Trường ĐHKHXH&NV, HCM

ĐHQG-Đa văn hoá

Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM là đơn vị dẫn đầu cả nước về việc thu hút sinh viên, học viên quốc tế với 73 quốc tịch, học tập và nghiên cứu ngắn hạn hàng năm Với đặc trưng ngành học về văn hoá, ngôn ngữ của nhiều quốc gia như Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Nga, Italia, Pháp, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia… sinh viên trường đã hoà mình vào môi trường học thuật đa văn hoá Hàng năm, có hàng trăm sinh viên tham gia các chương trình giao lưu, trao đổi văn hoá với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp các châu lục thông qua các chương trình như lễ hội văn hoá dân gian Surin, chương trình Tàu Thanh niên Đông Nam Á, liên hoan thanh niên Việt- Trung… để lại hình ảnh thân thiện, tốt đẹp trong mắt bạn bè quốc tế Đây là

cơ hội hiểu hơn về nhiều đất nước, con người khác nhau để có cách nhìn nhận

Trang 35

đúng đắn, tôn trọng sự khác biệt, thay đổi và phát triển bản thân Học tập trong môi trường đa văn hoá yêu cầu sinh viên phải học tập và trau dồi ngôn ngữ và văn hoá, chuẩn bị hành trang kỹ năng thật tốt với tinh thần luôn chủ động và không ngừng hoàn thiện bản thân, các khoa và bộ môn (nhất là khối ngoại ngữ) cũng cố gắng cải thiện, tạo điều kiện học tập cho sinh viên có thể thông qua những CLBSV cải thiện ngoại ngữ, kỹ năng… cho từng khoa bộ môn, khuyến khích sinh viên trong lớp học trao đổi và giao tiếp thường xuyên với nhau, giới thiệu nhiều chương trình giao lưu văn hóa cho sinh viên

Phong trào sinh viên sôi nổi

Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM luôn nằm trong số các trường

có phong trào sinh viên sôi nổi của thành phố và cả nước Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM là nơi khởi đầu của chiến dịch Xuân tình nguyện mà nay đã trở thành hoạt động tình nguyện quốc gia; Là nơi mà lễ hội các ngành học trở thành bản sắc với lễ hội văn hoá Đông phương, ngày hội Việt Nam học, ngày hội Nhân học, ngày hội xã hội học, điểm hẹn Văn hoá Nhân văn… phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc trong sinh viên Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM nhận được huân chương lao động hạng III nhân kỷ niệm 20 năm phong trào tình nguyện hè (1994 – 2013)

và kỷ niệm mười năm chiến dịch xuân tình nguyện; Triển khai hiệu quả cuộc vận động sinh viên năm tốt bằng các giải pháp truyền thông sáng tạo và tạo động lực rèn luyện trong sinh viên Đoàn Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-

HCM đạt danh hiệu Lá cờ đầu trong công tác Hội và phong trào sinh viên

TP.HCM trong nhiệm kỳ VI (2013 – 2014); Năm 2017, được Ban Thường vụ Thành đoàn TP.HCM trao cờ thi đua Đơn vị xuất sắc dẫn đầu cụm thi đua số

2 - khu vực đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

Từ định hướng của Hội sinh viên TP HCM, Hội sinh viên trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM xây dựng các mô hình phát huy thế mạnh mảng hoạt động tình nguyện và giao lưu quốc tế của sinh viên, góp phần nâng

Trang 36

cao vị trí của phong trào sinh viên trường trong phong trào sinh viên thành phố Ngoài học tập, nghiên cứu khoa học, sinh viên còn tham gia các hoạt động văn thể mỹ và hoạt động cộng đồng nhằm phát huy các khả năng của mình cũng như tăng cường những kiến thức về xã hội, kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm và tương trợ cộng đồng Thường xuyên tổ chức các hoạt động như: hội diễn văn nghệ, hội thao sinh viên, lễ hội văn hoá, công tác xã hội phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, thăm hỏi các thương bệnh binh, giúp

đỡ người nghèo neo đơn, trẻ em tàn tật , xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, tham gia các chiến dịch: mùa hè xanh, xuân tình nguyện, hiến máu nhân đạo, tiếp sức mùa thi

Hội sinh viên trường còn tăng cường tổ chức chuỗi chương trình nhằm nâng cao nhận thức và phát huy giá trị của sinh viên Đoàn trường triển khai

bộ 10 quy tắc ứng xử trong sinh viên, tổ chức các hoạt động trang bị kiến thức văn hóa xã hội qua chuỗi chương trình Điểm hẹn văn hóa Nhân Văn do câu

lạc bộ Văn minh học đường tổ chức, mời gọi sinh viên nước ngoài cùng tham gia các hoạt động tình nguyện như nhóm tình nguyện viên Malaysia trong chiến dịch mùa hè xanh, nhóm sinh viên Đức trong các chiến dịch xuân tình nguyện Các chương trình không ngừng được sáng tạo về ý tưởng, đầu tư về chất lượng với quy mô ngày càng rộng, tiêu biểu như: hội thao sinh viên toàn trường, liên hoan tiếng hát sinh viên, liên hoan nhóm nhảy sinh viên trường – chủ đề khi người ta trẻ (2014), cuộc thi nét đẹp sinh viên nhân văn…; Chuỗi chương trình sinh hoạt của câu lạc bộ Guitar Nhân Văn và các chương trình – hội diễn văn nghệ cấp trường và cấp cơ sở… Phát huy thế mạnh chuyên

ngành xã hội nhân văn và vai trò chủ động phải kể đến đội hình chuyên Tự

hào Việt Nam gắn với chuyên ngành của sinh viên Lịch sử, Triết học, Nhân

học; Đội hình chuyên Truyền thông gắn với chuyên ngành của Báo chí & Truyền thông; Đội hình chuyên Ong mở đường, Ong năng động tổ chức phát

triển cộng động của sinh viên khối ngành Công tác xã hội, Tâm lý học; Đội

Trang 37

hình chuyên Ong hội nhập của sinh viên khối ngành Đông phương học, Văn hóa học; Đội hình Dạy ngoại ngữ hỗ trợ du khách nước ngoài của sinh viên

khối ngành ngoại ngữ và Quan hệ Quốc tế

Hội sinh viên cùng Đoàn trường triển khai cuộc vận động xây dựng phong cách cán bộ Đoàn – Hội trường Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-

HCM đến toàn thể cán bộ Đoàn Hội các cấp gắn với danh hiệu Cán bộ Hội

sinh viên tiêu biểu Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM qua các tiêu chí

đánh giá: học tập, tác phong, nghiệp vụ công tác – kỹ năng, hội nhập Công tác tập huấn cán bộ Hội sinh viên các cấp được thực hiện với chuỗi chương trình tập huấn hạt giống đỏ, cuộc thi Nếu tôi là chủ tịch Hội sinh viên trường… là môi trường giao lưu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ dành riêng cho cán bộ Hội toàn trường

Hệ thống các câu lạc bộ đội nhóm thuộc cấp hội phát triển mạnh cả về chất lượng lẫn số lượng

Phong trào nghiên cứu khoa học sinh viên mạnh mẽ

Học tập và nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sinh viên Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM bởi đây là ngôi trường theo định hướng nghiên cứu của quốc gia Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM xét dưới góc độ lịch sử xã hội là trường có truyền thống của giới tri thức xã hội tham gia vào quản lý đất nước Xét về không gian xã hội là nơi hội tụ đến

từ mọi miền đất nước (Bắc, Trung, Nam) và là nơi được nhiều sinh viên quốc

tế lựa chọn đến học tập và nghiên cứu

SV được khuyến khích nghiên cứu học tập thông qua các buổi thảo luận chuyên đề, tham gia sinh hoạt các câu lạc bộ học thuật, đi du khảo, khảo sát thực tế, tham gia hội thảo khoa học và chương trình nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên hoặc các chương trình nghiên cứu khoa học do trường hoặc các đơn vị khoa học trong nước, quốc tế tổ chức tại Việt Nam hoặc nước

Trang 38

phần hoặc theo các chương trình trao đổi, giao lưu sinh viên cũng là hình thức phổ biến

Các cuộc thi học thuật cấp trường, cấp đại học quốc gia, cấp thành phố gắn liền kiến thức chuyên ngành với nhiều hình thức phong phú vừa là sân chơi vừa tạo cơ hội cho sinh viên tiếp cận tri thức và thực tế Trong năm 2013- 2014, có 04 cuộc thi học thuật cấp trường, 54 cuộc thi học thuật do Liên chi Hội, câu lạc bộ – Đội – Nhóm tổ chức Điển hình như cuộc thi Mỏ neo vàng, Tự hào trường tôi, Âm vang Điện Biên, Tài năng Báo chí, Khám phá phương Đông, City mini – Khám phá đô thị, Chinh phục Tảng băng trôi,

Ai thông minh hơn sinh viên năm 1, Up out loud… thu hút hơn 8.000 lượt sinh viên tham gia

Hệ thống các câu lạc bộ học thuật cấp khoa, bộ môn từng bước phát triển góp phần đa dạng hoá các hoạt động học thuật của nhà trường, nâng cao thế mạnh tổ chức nhiều sân chơi học thuật bổ ích cho sinh viên

1.3 Tổng quan câu lạc bộ sinh viên ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM 1.3.1 Phân loại

Tại trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM, Ban quản lý câu lạc bộ đội nhóm phân ba loại CLBSV: câu lạc bộ học thuật, câu lạc bộ sở thích, câu lạc

bộ tình nguyện câu lạc bộ học thuật: là dạng câu lạc bộ phổ biến, có thể tìm thấy ít nhất một câu lạc bộ học thuật trong mỗi khoa theo chủ trương của trường Những thành viên tham gia với mục đích đầu tiên đều muốn nâng cao kiến thức, kỹ năng có liên quan đến chuyên ngành của mình Câu lạc bộ sở thích: có loại hình hoạt động phong phú như về thể thao, nghệ thuật… hay rèn luyện kỹ năng Loại hình câu lạc bộ này đáp ứng các như cầu về sở thích, năng khiếu, rèn luyện sức khoẻ, tinh thần thể dục thể thao và phát triển các kỹ năng cần thiết cho sinh viên Câu lạc bộ tình nguyện: Là dạng câu lạc bộ tạo môi trường lành mạnh, tu dưỡng lối sống tích cực, đạo đức cho những sinh

Trang 39

viên có lòng nhiệt huyết tham gia vào các hoạt động từ thiện, hoạt động cộng đồng, công ích giúp đỡ hoàn cảnh khó khăn trong xã hội

Lý giải về cách phân loại này, Ban quản lý câu lạc bộ đội nhóm cho rằng

về cơ bản các hoạt động tình nguyện có thể xếp vào câu lạc bộ sở thích và nhiều trường đại học cũng phân loại như thế Tuy nhiên, vì hoạt động tình nguyện của các CLBSV quá sôi nổi nên hiện nay vẫn phân riêng câu lạc bộ tình nguyện Dù phân loại theo cấp hay theo lĩnh vực hoạt động thì cũng nhằm phục vụ cho khâu quản lý tổ chức thực hiện hiệu quả hơn, còn riêng đối với hoạt động CLBSV thì dường như không có tác động gì lớn Mặt khác, ngay từ đầu thành lập, thì mỗi câu lạc bộ đều đề ra phương hướng, chức năng, nhiệm vụ của mình và sẽ hoạt động theo kim chỉ nam đó Và mục đích chung của tất cả các câu lạc bộ vẫn hướng về phục vụ nhu cầu và lợi ích sinh viên nên Ban quản lý câu lạc bộ đội nhóm vẫn theo phân loại như vậy

Với quan điểm đó, cách phân loại của Trường ĐHKHXH&NV, HCM hiện nay vẫn còn sơ sài, chưa bao quát hết được các lĩnh vực hoạt động CLBSV nhất là các câu lạc bộ về rèn luyện kỹ năng đang hoạt động rất mạnh: Văn minh học đường, Sinh viên 5 tốt, Mặt khác, xét về ngữ nghĩa thì các đặt tên phân loại câu lạc bộ sở thích quá chung chung bởi cả thể thao, nghệ thuật, tình nguyện đều thuộc về sở thích

ĐHQG-Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy có hai tiêu chí lớn để phân loại CLBSV như sau:

Xét về đơn vị trực thuộc bao gồm: câu lạc bộ trực thuộc HSV trường; câu

lạc bộ thuộc đoàn trường; câu lạc bộ thuộc đoàn khoa, bộ môn; câu lạc bộ thuộc phòng ban khác (thuộc trường); câu lạc bộ tự do Việc phân hoá CLBSV theo đơn vị trực thuộc xuất phát đầu tiên là do nhu cầu của đơn vị mà

hình thành “CLB ra đời là đáp ứng nhu cầu của sinh viên mà nếu nó trực

thuộc chỗ nào thì nó phải đáp ứng nhu cầu của cái tổ chức đó” (Trích biên

bản phỏng vấn 14) Đối với các đơn vị quản lý thì CLBSV là công cụ tập hợp

Trang 40

sinh viên theo nhóm nhu cầu hiệu quả, thông qua câu lạc bộ mà nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên để định hướng hoạt động đào tạo, phục

vụ chất lượng và hiệu quả hơn Còn đối với các câu lạc bộ tự do cũng phục vụ nhu cầu của một cộng đồng sinh viên, dù quy mô lớn hay nhỏ thì nó cũng đã thể hiện được tiếng nói chính thức của cộng đồng sinh viên đó, từ đó tác động lại trường nói chung, các đơn vị trực thuộc nói riêng cũng có thể liên hệ và cải

thiện cũng như định hướng hoạt động tốt hơn “Nhiều khi không trực thuộc sự

quản lý của đoàn hội nhưng mục tiêu chung của các bạn là vẫn hướng về sinh viên vẫn phục vụ nhu cầu và lợi ích của các bạn sinh viên Thì điều đó tất cả

có thuộc hệ thống nào thì cũng chung mục tiêu hết có thể hỗ trợ liên kết với nhau” (Trích biên bản phỏng vấn 12) Song song đó, việc phân cấp trực thuộc

cũng cho thấy sự phân hóa khả năng, nhu cầu sinh viên rất tốt Khả năng hay nhu cầu sinh viên có thể tham gia hoạt động khuôn khổ vừa và nhỏ do câu lạc

bộ của khoa bộ môn tổ chức, hay hoạt động khuôn khổ lớn toàn trường, toàn ĐHQG hay toàn thành do câu lạc bộ cấp trường, đơn vị… tổ chức thì vẫn có

đa dạng sự lựa chọn

Xét về loại hình hoạt động thì lại phân loại đa dạng hơn nhưng đều dựa

trên một tiêu chí chung là tính chất hoạt động Ở Việt Nam chủ yếu các loại CLBSV: thể thao (sports), học thuật và định hướng nghề nghiệp (academic & professional affiliations), cộng đồng (community service), giao lưu văn hóa (multicultural organizations), nghệ thuật (arts) Còn ở các quốc gia khác còn phổ biến thêm các CLBSV: hoạt động tổ chức (leadership), chính trị (politics), tôn giáo (religion)… Các trường đại học trên thế giới theo xu hướng đa dạng văn hóa nên các sinh viên thường có nhu cầu tham gia vào các

tổ chức mà ở đó họ có nhiều điểm chung với bạn bè xung quanh mình, tìm kiếm sự tương đồng văn hoá Điều này đặc biệt ý nghĩa với sinh viên du học, trao đổi sinh, bởi hiện tượng “sốc văn hóa” thường gặp ở các sinh viên quốc

tế hoặc các quốc gia đa văn hoá Ở CLBSV, thành viên có thể dễ dàng chia sẻ

Ngày đăng: 22/08/2023, 02:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Barbara Fralinger. (2012). Barbara Fralinger và Valerie Olson. Văn hóa tổ chức ở cấp độ trường đại học: Một nghiên cứu dựa trên bộ công cụ đánh giá văn hóa tổ chức (OCAI) (Phạm Thị Ly, B.d.v) [Blog]. Lypham.net.http://www.lypham.net/?p=966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tổ chức ở cấp độ trường đại học: Một nghiên cứu dựa trên bộ công cụ đánh giá văn hóa tổ chức (OCAI)
Tác giả: Barbara Fralinger, Valerie Olson
Nhà XB: Lypham.net
Năm: 2012
3. Bempechat, J., & Shernoff, D. (2012). Parental Influences on Achievement Motivation and Student Engagement. Trong Handbook of research on student engagement (tr 315 – 342). https://doi.org/10.1007/978-1-4614-2018-7_15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parental Influences on Achievement Motivation and Student Engagement
Tác giả: J. Bempechat, D. Shernoff
Nhà XB: Handbook of Research on Student Engagement
Năm: 2012
4. Brown, R., & Evans, W. (2002). Extracurricular Activity and Ethnicity: Creating Greater School Connection among Diverse Student Populations.Urban Education - URBAN EDUC, 37, 41–58.https://doi.org/10.1177/0042085902371004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Extracurricular Activity and Ethnicity: Creating Greater School Connection among Diverse Student Populations
Tác giả: Brown, R., Evans, W
Nhà XB: Urban Education - URBAN EDUC
Năm: 2002
5. Bùi Việt Thành. (2006). CLB đội nhóm – mối liên kết bền vững giữa nhà trường và sinh viên. Trong Hội thảo Nâng cao hiệu quả hoạt động công tác chính trị và quản lý sinh viên. Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: CLB đội nhóm – mối liên kết bền vững giữa nhà trường và sinh viên
Tác giả: Bùi Việt Thành
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
6. Charlotte Towle. (1965). Nhu cầu chung của con người. (Vũ Thị Kim Lan dịch). Nxb Trường Công tác xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu chung của con người
Tác giả: Charlotte Towle
Nhà XB: Nxb Trường Công tác xã hội
Năm: 1965
7. Cheng Ming. (2011). Practicality of in-class sports clubs of physical education in Guiyang’s college and universities. Nanchang College of Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Practicality of in-class sports clubs of physical education in Guiyang’s college and universities
Tác giả: Cheng Ming
Nhà XB: Nanchang College of Education
Năm: 2011
9. Darlene Fisher. (2012). School Culture: Creating a unified culture of learning in a multi- cultural setting. Www.Ibo.Org. https://www.ibo.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: School Culture: Creating a unified culture of learning in a multi- cultural setting
Tác giả: Darlene Fisher
Nhà XB: Www.Ibo.Org
Năm: 2012
11. Đặng Bá Lãm. (2003), Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: chiến lược phát triển. Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: chiến lược phát triển
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2003
12. Đặng Cảnh Khanh. (2006). Xã hội học thanh niên. Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học thanh niên
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
13. Đặng Thị Diệp Linh. (2011). Quản lý hoạt động ngoại khoá của khoa ngoại ngữ du lịch, Trường Cao đẳng du lịch Hà Nội. Trường đại học Giáo dục - ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động ngoại khoá của khoa ngoại ngữ du lịch
Tác giả: Đặng Thị Diệp Linh
Nhà XB: Trường đại học Giáo dục - ĐHQG HN
Năm: 2011
14. Đỗ Long. (2008). Tâm lý học với văn hoá ứng xử. Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học với văn hoá ứng xử
Tác giả: Đỗ Long
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2008
15. Hồ Sĩ Lộc. (2011). Đề tài Xây dựng văn hoá học đường ở một số trường đại học ở Hà Nội hiện nay. Học viện báo chí tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài Xây dựng văn hoá học đường ở một số trường đại học ở Hà Nội hiện nay
Tác giả: Hồ Sĩ Lộc
Nhà XB: Học viện báo chí tuyên truyền
Năm: 2011
16. Lê Ngọc Hùng (Chủ biên). (2008). Lịch sử và lý thuyết xã hội học. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
17. Fraydoon Bayat. (2015). Student engagement: A qualitative study of extracurricular actives [University of Toronto].https://tspace.library.utoronto.ca/bitstream/1807/70846/1/Bayat_Fraydoon_201511_EdD_thesis.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Student engagement: A qualitative study of extracurricular actives
Tác giả: Fraydoon Bayat
Nhà XB: University of Toronto
Năm: 2015
20. Hallberg & Kirk. (1971). Beyond the Co-Curriculum. Naspa Journal, 8, 197–200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Beyond the Co-Curriculum
Tác giả: Hallberg, Kirk
Nhà XB: Naspa Journal
Năm: 1971
21. Harrison, P., & Narayan, G. (2003). Differences in Behavior, Psychological Factors, and Environmental Factors Associated with Participation in School Sách, tạp chí
Tiêu đề: Differences in Behavior, Psychological Factors, and Environmental Factors Associated with Participation in School
Tác giả: Harrison, P., Narayan, G
Năm: 2003
22. Harvard university top questions. https://www.unigo.com/colleges/harvard-university/q-and-a/what-are-the-most-popular-student-activities-groups-17/1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Harvard university top questions
Nhà XB: Unigo
24. Harvard university top questions. https://www.unigo.com/colleges/harvard-university/q-and-a/what-are-the-most-popular-student-activities-groups-17/4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Harvard university top questions
Nhà XB: Unigo
25. Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ (National Research Council) (2007). Phương pháp học tập tối ưu. Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp học tập tối ưu
Tác giả: Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ (National Research Council)
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2007
23. Harvard university top questions. https://www.unigo.com/colleges/harvard-university/q-and-a/what-are-the-most-popular-student-activities-groups-17/5 Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm