Cùng với đó, vấn đề chuyển dịch các ẩn dụ ngữ âm này sang tiếng Việt ra sao hiện vẫn đang bỏ ngỏ, trong khi ở nước ngoài đã có khá nhiều nghiên cứu bàn về vấn đề dịch các ẩn dụ ngữ âm tr
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác
…… , ngày … tháng….năm 2022
Người viết
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Đình Phức và TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh đã hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa học và thực hiện công trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong hội đồng chấm các chuyên đề và hội đồng chấm luận án các cấp đã dành thời gian đọc và góp ý cho luận án
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, quý thầy cô khoa Ngôn ngữ học, Trường ĐH.KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt khóa học và viết luận án
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, quý thầy cô, đồng nghiệp khoa Ngôn ngữ Trung Quốc, Trường ĐH.KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học và thực hiện công trình nghiên cứu
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè luôn động viên, hỗ trợ để tôi hoàn thành tốt luận án
Dù đã nỗ lực rất nhiều trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu, luận án chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhậ được sự lượng thứ, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp
để luận án và những công trình nghiên cứu sau này của tôi được hoàn thiện hơn Trân trọng!
TP.HCM, ngày ….tháng… năm 2022
Tác giả
Phan Thị Hà
Trang 51 Cách ghi nội dung trích dẫn:
1.1 Cách ghi nội dung trích dẫn:
Nội dung trích dẫn nguyên văn (trực tiếp): được trình bày theo kiểu chữ thường, in nghiêng và trong dẫu ngoặc kép (―‖)
Nội dung trích dẫn tóm tắt đại ý (gián tiếp): được trình bày theo kiểu chữ thường, có in nghiêng phần nội dung quan trọng của ý kiến được trích dẫn
1.2 Cách ghi nguồn trích dẫn: Dùng dấu ngoặc vuông [ ] để tạo dấu hiệu, trong đó ghi lần lượt: số thứ tự của tài liệu trong danh mục tài liệu tham khảo, số trang (nếu
có, được ghi đúng với số trang trong tài liệu tham khảo) Hai yếu tố này được ngăn
cách nhau bằng dấu phẩy (,) Ví dụ: [15, tr.145], nghĩa là tài liệu tham khảo thứ 15 (trong danh mục tài liệu tham khảo), trang 145; [dẫn theo 18, tr.186], nghĩa là dẫn theo tài liệu tham khảo thứ 18 (trong danh mục tài liệu tham khảo), trang 186
2 Để giản tiện trong trình bày, một số từ ngữ thường lặp lại trong luận án được viết tắt sau:
Trang 6LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC BẢNG ix
MỞ ĐẦU 1
0.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
0.2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
0.2.1 Mục đích nghiên cứu 3
0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
0.3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 4
0.3.1 Lược sử phát triển ẩn dụ 4
0.3.2 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm 8
0.3.3 Nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng 21
0.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 27
0.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU 28
0.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 30
0.6.1 Ý nghĩa khoa học 30
0.6.2 Ý nghĩa thực tiễn 30
0.7 BỐ CỤC LUẬN ÁN 31
Trang 71.1.1 Các khái niệm NNHTN hữu quan 33
1.1.2 Ngữ nghĩa học tri nhận 35
1.1.2.1 Bốn nguyên lý tạo nghĩa của nghĩa học tri nhận 36
1.1.2.2 Ẩn dụ ý niệm 39
1.1.3 Cơ chế tạo nghĩa và tri nhận nghĩa của ẩn dụ 40
1.1.3.1 Mô hình ánh xạ (Mapping) 40
1.1.3.2 Mô hình Hội nhập ý niệm (Conceptual Blending) 42
1.1.4 Mối tương quan giữa ẩn dụ và hoán dụ dưới góc nhìn tri nhận luận 45
1.2 ẨN DỤ NGỮ ÂM 46
1.2.1 Các thuyết ẩn dụ ngữ âm 46
1.2.2 Cơ sở hình thành ẩn dụ ngữ âm 53
1.2.2.1 Cơ sở ngôn ngữ 53
1.2.2.2 Cơ sở tâm lý 57
1.2.3 Các loại ẩn dụ ngữ âm 58
1.2.4 Quá trình tạo nghĩa ẩn dụ ngữ âm 67
1.2.5 Ẩn dụ ngữ âm trong mối tương quan với ẩn dụ ý niệm 70
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÁC PHẨM HỒNG LÂU MỘNG 71
1.3.1 Khái quát nội dung tác phẩm 71
1.3.2 Ý nghĩa và giá trị Hồng lâu mộng 71
1.3.3 Cơ sở luận giải ý nghĩa ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng 72
1.3.3.1 Thân thế, cuộc đời tác giả, bối cảnh xã hội, bối cảnh lịch sử 72
1.3.3.2 Các cứ liệu bình chú Hồng lâu mộng 75
Trang 81.4.1 Định nghĩa về dịch 76
1.4.2 Một số phương pháp dịch thuật phổ biến 77
1.5 TIỂU KẾT 81
CHƯƠNG 2: ẨN DỤ NGỮ ÂM TRONG HỒNG LÂU MỘNG 83
2.1 CÁC LOẠI ẨN DỤ NGỮ ÂM TRONG HỒNG LÂU MỘNG 83
2.1.1 Ẩn dụ phỏng hình âm thanh tự nhiên 84
2.1.2 Ẩn dụ phỏng hình cấu âm – thính giác 85
2.1.3 Ẩn dụ dựa phỏng hình đồng âm 87
2.2 PHẠM VI SỬ DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA ẨN DỤ NGỮ ÂM TRONG HỒNG LÂU MỘNG 93
2.2.1 Ẩn dụ ngữ âm trong từ mô phỏng âm thanh 93
2.2.2 ẨN DỤ NGỮ ÂM TRONG TÊN RIÊNG 102
2.3 TIỂU KẾT 138
CHƯƠNG 3.VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH ẨN DỤ NGỮ ÂM TRONG HỒNG LÂU MỘNG SANG TIẾNG VIỆT 140
3.1 Sơ lược về bản dịch Việt ngữ của nhóm Vũ Bội Hoàng 140
3.2 Các phương pháp dịch ẩn dụ ngữ âm trong bản dịch của Vũ Bội Hoàng 141
3.2.1 Phương pháp dịch ý 141
3.2.2 Phương pháp dịch ý thêm chú thích 149
3.2.3 Phương pháp trực dịch 151
3.2.4 Phương pháp trực dịch kết hợp bổ sung chú thích 159
3.2.5 Phương pháp trực dịch kết hợp dịch ý và bổ sung chú thích 161
Trang 93.2.7 Phương pháp dịch trung thành có thêm chú thích 163
3.2.8 Phương pháp dịch ngữ nghĩa thêm chú thích 164
3.3 So sánh dịch ẩn dụ ngữ âm trong bản dịch của Vũ Bội Hoàng với các bản dịch tiếng Anh 165
3.3.1 Bản dịch Anh ngữ của David Hawkes và của Yang Hsianyi 165
3.3.2 So sánh dịch ẩn dụ ngữ âm từ mô phỏng âm thanh trong bản dịch tiếng Việt với các bản dịch tiếng Anh 166
3.3.3 So sánh dịch ẩn dụ ngữ âm trong tên riêng của bản dịch tiếng Việt với các bản dịch tiếng Anh 171
3.3 TIỂU KẾT 179
KẾT LUẬN 181
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 186
TÀI LIỆU THAM KHẢO 187
PHỤ LỤC 199
Trang 10Hình 1: Mạng hội nhập ý niệm dạng cơ bản (Fauconnier and Turner 2002: 46) 43 Hình 2: Mạng hội nhập ý niệm ẩn dụ THAT SURGEON IS A BUTCHER 44 Hình 3: Mạng hội nhập ý niệm ẩn dụ ―回嘉真好‖ (THẬT TỐT KHI VỀ GIA
(NGHĨA) 68
Trang 11Bảng 1: Một số ADNA Chi Nghiễn Trai bình chú 22
Bảng 2: Tóm lược một số ẩn dụ ÂM THANH LÀ TRẠNG THÁI NHÂN VẬT 96
Bảng 3: Một số tên nhân vật biểu trưng sự kiện lịch sử 110
Bảng 4: Tóm lược một số tên nhân vật biểu trưng thực trạng xã hội 111
Bảng 5: Một số ẩn dụ trong tên Lâm Đại Ngọc 123
Bảng 6: Một số tên nhân vật biểu trưng sự kiện/tình tiết câu truyện 128
Bảng 7: Một số tên nhân vật biểu trưng công việc/nghề nghiệp của nhân vật 129
Bảng 8: Tình hình dịch từ tượng thanh― ‖ biểu trưng tính cách nhân vật 143
Bảng 9: Tình hình dịch ADNA trong nhóm tên riêng là ẩn dụ đồng âm đồng tự 155
Bảng 10: Bảng đối sánh chiến lược dịch ADNA trong từ mô phỏng âm thanh giữa bản dịch tiếng Việt với các bản dịch tiếng Anh 167
Bảng 11: So sánh PP dịch AD đồng âm hoàn toàn giữa bản dịch tiếng Việt và các bản dịch tiếng Anh 171
Bảng 12: So sánh PP dịch các ADNA có chú thích 173
Bảng 13: So sánh dịch AD tương cận âm và đồng âm 175
MỞ ĐẦU
Trang 12chuyển dịch chúng sang tiếng Việt bởi những lý do sau:
Một là, trước nay khi bàn về ẩn dụ, người ta thường nói nhiều về ẩn dụ tu từ
hoặc ẩn dụ tri nhận thể hiện ở các bình diện ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp riêng ẩn dụ xét trên bình diện ngữ âm vẫn rất ít được chú ý Từ sau khi nhà ngôn
ngữ học Ivan Fónagy đưa ra thuật ngữ ẩn dụ ngữ âm (Phonetic Metaphor) vào năm
1999 trong công trình nghiên cứu có tên Why Iconicity (Tại sao lại phỏng hình),
hiện tượng ẩn dụ ngữ âm bắt đầu được chú ý, mở đầu cho khuynh hướng nghiên cứu về nó trên thế giới trong suốt hơn hai thập kỷ qua
Là hiện tượng ngôn ngữ mang tính phổ quát, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như văn học nghệ thuật, ngôn ngữ mạng, quảng cáo, đặt tên, câu đố, câu đối,…nhưng ẩn dụ ngữ âm hiện vẫn chưa được nghiên cứu rộng rãi và xứng tầm với vai trò của chúng trong đời sống ngôn ngữ của con người Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ngữ âm phần lớn hướng tới mục tiêu định nghĩa, phân loại và chứng minh khả năng ứng dụng rộng rãi của chúng nhưng chưa tập trung nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm một cách hệ thống, chưa chỉ rõ cơ chế vận hành cũng như cách thức luận giải ý nghĩa của chúng Xét về thành tựu, các công trình nghiên cứu đã tiến hành với nhiều ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Anh, tiếng Trung Quốc (Li Hong, 2005; Wangyin, 2002…), tiếng Hungary (Ivan Fónagy, 1999), tiếng Croatia (Branko Vulétic, 2003); riêng đối với tiếng Việt, khái niệm ẩn dụ ngữ âm hiện còn khá xa lạ và chưa có bất cứ công trình nghiên cứu nào đề cập một cách chính thức
đến thuật ngữ ẩn dụ ngữ âm Vì thế, việc giới thiệu cũng như ứng dụng một lý thuyết mới vốn đã được không ít học giả thế giới quan tâm vào nghiên cứu ngôn ngữ nói chung, Việt ngữ nói riêng, không chỉ góp phần làm phong phú kho tàng lý luận nghiên cứu ngôn ngữ mà còn thúc đẩy sự khám phá, ứng dụng ngữ âm trong đời sống ngôn ngữ loài người
Hai là, ngôn ngữ học truyền thống miêu tả và thuyết giải hệ thống ngôn ngữ
trong chính bản thân nó, như Ferdinand de Saussure đã nói ở câu kết của giáo trình
Trang 13ngôn ngữ học tri nhận ra đời, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ nói chung và nghiên cứu về ẩn dụ nói riêng đều chỉ tiến hành ở bản thân ngôn ngữ và trong phạm
vi ngôn ngữ mà không đề cập đến các quá trình tâm trí, tư duy của con người trong việc thụ đắc và sử dụng ngôn ngữ Từ sau sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận, những nghiên cứu ẩn dụ không còn bó hẹp trong phạm vi ngôn ngữ, mà còn quan tâm cả cách thức tư duy, tri nhận thế giới của con người Ngôn ngữ học tri nhận đã thiết lập mối liên hệ mật thiết với các khoa học tri nhận như tâm lý học tri nhận, văn hóa học, triết học, … để giải thích các hiện tượng ngôn ngữ và nhấn mạnh rằng năng lực ngôn ngữ không thể tách rời các năng lực tri nhận khác Dưới góc nhìn tri nhận luận, ẩn dụ được xem là một công cụ tạo nghĩa cho những phạm vi khái niệm mới gần với kinh nghiệm sống của con người, và là một phần trong cách con người
tư duy và hành động trong đời thường Do đó, nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm từ góc độ tri nhận là hướng nghiên cứu mới và phù hợp với xu thế phát triển của lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại Đây cũng là một trong những nền tảng làm nên hệ thống lý thuyết mà luận án dùng để nhận diện và luận giải ý nghĩa ẩn dụ ở bình diện ngữ âm
Ba là, hiện tượng đồng âm, cận âm là cơ sở hình thành ẩn dụ ngữ âm, nó tồn
tại trong mọi ngôn ngữ Có loại ngôn ngữ số lượng âm tiết khá ít so với nhiều ngôn ngữ khác nhưng lượng từ đồng âm rất nhiều và trở thành đặc trưng văn hóa ngôn ngữ Chẳng hạn, tiếng Hán, một trong những ngôn ngữ được nhiều người sử dụng trên thế giới, có số lượng âm tiết hạn chế (chỉ khoảng 1330 âm tiết) nên hiện tượng đồng âm rất phổ biến [114] Tiếng Việt và tiếng Hán cùng loại hình ngôn ngữ đơn lập, số lượng âm tiết của tiếng Việt lên tới 21.096, thực tế sử dụng khoảng 10.000
âm tiết (Lê Trung Hoa, Hồ Lê (1995), tr.10] và có khoảng 7000 đơn vị từ vựng
đồng âm (theo Từ điển đồng âm Tiếng Việt, Hoàng Văn Hành và nhóm tác giả
(1997)) Tuy hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt không phổ biến như tiếng Hán, nhưng tiếng Việt có lượng lớn từ gốc Hán, ngoài ra còn có cả từ gốc Pháp, gốc Anh, khiến hiện tượng xung đột vỏ âm thanh giữa các từ khác nhau về nguồn gốc thường xuyên xảy ra, vừa phức tạp nhưng cũng hết sức thú vị Như vậy, từ việc nghiên cứu
Trang 14ẩn dụ ngữ âm trong tiếng Hán, cụ thể trong tác phẩm Hồng lâu mộng, cùng việc
chuyển dịch chúng sang tiếng Việt qua một bản dịch cụ thể, có thể góp phần làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề thú vị từ cả trong tiếng Hán lẫn tiếng Việt
Bốn là, Hồng lâu mộng được xem là tác phẩm văn học đỉnh cao viết bằng văn
Bạch thoại – nền tảng của tiếng Hán hiện đại, đã khai thác triệt để và hiệu quả hiện tượng đồng âm như một phương thức ẩn dụ, tạo nên sự độc đáo và thành công vượt
bậc về mặt nghệ thuật của tác phẩm Trong Hồng lâu mộng, chúng ta dễ dàng tìm
thấy hàng trăm ẩn dụ ngữ âm, thể hiện dưới nhiều hình thức như họ tên nhân vật, tên địa danh, kiến trúc, tên các vật dụng, trong thơ, từ, câu đối, câu đố, truyện cười
và trong cả lời thoại nhân vật… Không những thế, ý nghĩa ẩn dụ ngữ âm còn không ngừng gia tăng theo thời đại, theo từng giai tầng, thế hệ độc giả khác nhau, đây chính là kết quả tự nhiên của quá trình tri nhận của con người Đúng như Lỗ Tấn
từng nhận xét về Hồng lâu mộng: ―Nhà Đạo học xem thì thấy dâm, tài tử xem thì thấy vương vấn, nhà cách mạng xem thì thấy chống Mãn Thanh, nhà lưu ngôn xem thì thấy việc kín trong cung vậy‖ [31, tr.30]
Thế nhưng, theo chúng tôi tìm hiểu, hiện chưa có công trình nào tập trung
khảo sát, phân tích ý nghĩa ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng một cách đầy đủ và
hệ thống Cùng với đó, vấn đề chuyển dịch các ẩn dụ ngữ âm này sang tiếng Việt ra sao hiện vẫn đang bỏ ngỏ, trong khi ở nước ngoài đã có khá nhiều nghiên cứu bàn
về vấn đề dịch các ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng sang các ngôn ngữ khác, đặc biệt là tiếng Anh Xuất phát từ các nguyên nhân trên đây, chúng tôi chọn đề tài Ẩn
dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng và vấn đề chuyển dịch chúng sang tiếng Việt với
mong muốn khảo sát, miêu tả và phân tích một cách hệ thống ẩn dụ ngữ âm trong
Hồng lâu mộng Trên cơ sở đó tiếp tục khảo sát việc chuyển dịch chúng sang tiếng
Việt, từ đó đề xuất quy trình và cách dịch phù hợp và hiệu quả hơn
0.2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 0.2.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng và vấn đề chuyển dịch
sang tiếng Việt nhằm:
Trang 15- Nghiên cứu các ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng để làm rõ vai trò của
chúng trong tác phẩm cũng như khả năng ứng dụng của chúng trong các lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật;
- Nghiên cứu các thủ pháp chuyển dịch ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng từ
tiếng Hán sang tiếng Việt góp phần xây dựng quy trình dịch cho công tác dịch thuật các tác phẩm văn học nghệ thuật sử dụng nhiều hình thức ẩn dụ, đặc biệt là ẩn dụ ngữ âm
0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục đích nghiên cứu, luận án lần lượt tiến hành các nhiệm vụ sau:
(1) Hệ thống lại lý thuyết ẩn dụ ngữ âm từ khái niệm, phân loại đến cơ sở hình thành, cơ chế tạo nghĩa ẩn dụ ngữ âm (từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận)
(2) Phân tích đặc và vai trò của các ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng
(3) Xác định, đánh giá các phương pháp dịch ẩn dụ ngữ âm từ tiếng Hán sang tiếng Việt trong bản dịch Việt ngữ của Vũ Bội Hoàng, có so sánh, đối chiếu nhất định với một số bản dịch tiếng Anh Đề xuất một số giải pháp gợi ý cho các dịch giả khi dịch ẩn dụ ngữ âm, nhằm nâng cao chất lượng bản dịch về cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật
0.3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 0.3.1 Lược sử phát triển ẩn dụ
Lịch sử nghiên cứu ẩn dụ trong ngôn ngữ học đã trải qua nhiều giai đoạn với nhiều lý thuyết và các quan điểm khác nhau Dựa vào các quan điểm về ẩn dụ có thể chia ẩn dụ theo hai hướng: ẩn dụ tu từ học truyền thống (từ học thuyết của Aristotle đến giữa thế kỷ XX) và ẩn dụ theo quan điểm tri nhận (từ giữa thế kỷ XX đến nay)
Để có cái nhìn tổng quát hơn về ẩn dụ ngữ âm – đối tượng nghiên cứu của luận án, chúng tôi sẽ trình bày sơ lược tiến trình nghiên cứu ẩn dụ để thấy được mối liên hệ giữa ADNA với các ẩn dụ khác, nhằm hiểu rõ hơn về ẩn dụ ngữ âm cũng như khả năng ứng dụng của nó trong quá trình sử dụng ngôn ngữ của con người
Trang 160.3.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống
Lịch sử ẩn dụ tu từ học truyền thống được tính từ khi nó được bàn đến lần đầu
trong tác phẩm Thuật hùng biện (Rhetoric) và Thi ca (Poetic) của nhà triết học Hi
Lạp cổ đại nổi tiếng – Aristotle (khoảng năm 335 TCN) đến giữa thế kỷ XX, có thể tóm lược thành ba kiểu quan điểm còn được ứng dụng cho đến ngày nay, đó là thuyết so sánh, thuyết thay thế và thuyết tương tác
(1) Thuyết so sánh (Comparison Theory)
Aristotle là người đầu tiên đưa ra quan điểm ẩn dụ là so sánh, ông cho rằng:
những ẩn dụ được sử dụng rất đạt thì đồng thời cũng là những so sánh, và những so sánh, ngược lại, cũng sẽ là những ẩn dụ nếu không dùng từ so sánh ―như‖ (Thi ca)
(dẫn lại Trần Văn Cơ, 2009), [36, tr.62] Quan điểm này đã trở thành kim chỉ nam cho nhiều nghiên cứu về ẩn dụ trong suốt một thời gian dài Đến thế kỷ 20, các nghiên cứu ẩn dụ đã cụ thể hóa ý nghĩa của ẩn dụ, cho rằng ý nghĩa ẩn dụ được xác định qua sự so sánh tương ứng bằng nhau ―X là Y‖ và nó được đưa ra từ câu ―X là như Y‖ Với quan niệm như vậy, giải thích một ẩn dụ cũng tức là giải thích một so sánh tương ứng, và ẩn dụ tốt nhất được xem như là phiên bản tỉnh lược của sự tương ứng/ tương đồng hoặc là sự so sánh bỏ đi các từ ―giống‖ (like) và ―như /như là‖ (as) (Cornell Way, 1991) [57, tr.34], Goatly (1997)…, ví dụ: "Sam là một con lợn." đơn giản chỉ là một dạng rút ngắn của "Sam giống như một con lợn‖
Trần Văn Cơ (2009) [36, tr.55-84] nhận định, thuyết so sánh cũng như các thuyết khác về ẩn dụ đều có cùng một khiếm khuyết, đó là chúng biến ý nghĩa ở chiều sâu, không hiện rõ của ẩn dụ thành quá rõ ràng, quá dễ hiểu, trong khi đó ẩn
dụ thường là rất khó thuyết giải và phỏng theo
(2) Thuyết thay thế (Substitution Theory)
Sau Aristotle, vào khoảng thế kỷ I, nhà hùng biện nổi tiếng Roman - Quintilian đã đặt nền móng cho thuyết thay thế (Substitution Theory) Ông cho rằng biểu thức ẩn dụ luôn được dùng thay cho một biểu thức nghĩa đen nào đó tương đương với nó Cụ thể hơn, ẩn dụ là hiện tượng dùng một từ để thay thế cho một từ
khác, ví dụ: Anh ta là một con cáo già (He is an old fox.), trong đó, từ cáo già thay
Trang 17thế cho xảo quyệt (crafty) Thuyết này sau này được rất nhiều học giả ủng hộ và cho
đến nay nhiều nhà nghiên cứu vẫn theo quan điểm này
Cả Aristotle và Quintilian đều xem ẩn dụ là phương thức tu từ với chức năng trang trí,khiến ngôn ngữ đẹp, sinh động, giàu hình tượng và có tính thuyết phục hơn Tuy cả hai thuyết này đều chỉ nghiên cứu ẩn dụ ở cấp độ từ, nhưng đều sớm nhận ra rằng, cấu trúc ẩn dụ không thể dùng quy tắc ngôn ngữ thông thường để giải thích,
nó khác xa với quy tắc ngôn ngữ thông thường Còn trong khi nói, con người biết dùng một từ để thay thế một từ khác, nhưng họ dùng một từ để thay thế một từ khác như thế nào? Có theo quy luật nào hay không? Và câu sau khi thay thế đã được người nghe lý giải ra sao? Những vấn đề này lý luận ẩn dụ tu từ học truyền thống không thể giải thích, và vẫn là vấn đề thu hút nghiên cứu trong nhiều thế kỷ sau đó, thậm chí đến tận gần đây
(3) Thuyết tương tác (Interaction Theory)
Từ năm 1930 đến 1970 có thể được xem là giai đoạn chuyển tiếp trong nghiên cứu ẩn dụ Bắt đầu từ quan điểm ―thay thế‖ và ―so sánh‖, I.A.Richards (1936) đã
đặt nền móng cho thuyết tương tác (Interaction Theory), đánh dấu sự thay đổi quan
trọng trong cách nhìn nhận bản chất ẩn dụ Theo Richards, để ẩn dụ hoạt động được, độc giả cần phải ý thức sự mở rộng nghĩa, cùng lúc chú ý cả nghĩa cũ và nghĩa mới
- tức là độc giả cần phải liên kết hai sự vật với nhau, ―tương tác lẫn nhau‖, ―thâm nhập vào nhau‖ để cuối cùng tạo ra nghĩa mới Sau này, Max Black (1962) [52, tr.30-35] đã phát triển thuyết tương tác thành lý thuyết mang tính đột phá, đó là xem bản chất của ẩn dụ nằm ở sự tương tác giữa một biểu thức ẩn dụ và ngữ cảnh trong
đó nó được sử dùng M Black cho rằng, khi liệt một câu nào đó vào lớp ẩn dụ, nghĩa là nói về ý nghĩa của nó chứ không phải nói về chính tả, ngữ âm, ngữ điệu hoặc ngữ pháp; và khi xem xét ẩn dụ, cần phải chú ý đến hoàn cảnh sử dụng chúng Quan điểm của Richar và Black đã chỉ rõ: ẩn dụ thuộc về lĩnh vực ngữ nghĩa
ở cấp độ câu chứ không chỉ ở cấp độ từ; khi xem xét ẩn dụ cần phải liên kết hai sự vật với nhau và cần phải chú ý đến hoàn cảnh sử dụng chúng
Nhà triết học Mĩ Donal Davidson (1978) [58, tr.31-47] có cách nhìn nhận ẩn
dụ rất riêng Ông cho rằng, những lý thuyết về ẩn dụ thường sai lầm ở chỗ chỉ tập
Trang 18trung vào nội dung, những tư tưởng do ẩn dụ gợi ra, rồi gán nội dung đó cho bản thân ẩn dụ Tất nhiên ẩn dụ thường giúp chúng ta nhận ra những thuộc tính của sự vật mà trước đây chúng ta chưa nhận ra Nhưng vấn đề không phải ở chỗ đó, mà là
ở chỗ bằng cách nào ẩn dụ có liên quan đến cái mà nó bắt chúng ta phải nhìn thấy
Ẩn dụ bắt chúng ta nhìn thấy đối tượng này thông qua đối tượng khác Ẩn dụ bày ra
cho chúng ta thấy sự tương tự và giống nhau nhưng không khẳng định một cách hiển ngôn sự giống nhau, nếu chúng ta biết rõ rằng đó là ẩn dụ, thì chúng ta có
nhiệm vụ tìm những nét chung đó Quan điểm này của ông đã đề cập đến ẩn dụ là quá trình tư duy chứ không đơn thuần chỉ là phép so sánh để tìm ra nét chung hay
nét riêng giữa hai sự vật
Quan điểm về ẩn dụ trong giai đoạn tiền tri nhận của Richards, Black và Davidson đều mới mẻ và có tiến bộ so với các quan điểm trước đó, bởi ẩn dụ đã bắt đầu được xem là vấn đề ngữ nghĩa và không chỉ giới hạn ở từ mà mở rộng sang câu Đặc biệt với quan điểm ẩn dụ nhờ sự giống nhau giúp ta nhìn thấy đối tượng này thông qua đối tượng khác của Davidson, có thể hiểu rằng, ẩn dụ là phương thức tư duy, điều này cho thấy, quan điểm của ông đã tiệm cận quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận
0.3.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận
Trong thập niên 80 của thế kỷ 20, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tri nhận và sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận, việc nghiên cứu ngôn ngữ không còn gói gọn trong phạm vi ngôn ngữ, mà hướng tới vấn đề thụ đắc và sử dụng ngôn ngữ của con người Từ đó, những nghiên cứu về ẩn dụ cũng chuyển trọng tâm từ phân tích và đánh giá ẩn dụ trong ngôn ngữ văn học, thi ca, hùng biện,
tu từ học, phê bình văn học sang nghiên cứu ngôn ngữ đời thường và những phạm
vi có liên quan đến tư duy, nhận thức, ý thức, đến hệ thống ý niệm trong hoạt động
tư duy thường nhật của con người
Tác phẩm Ẩn dụ chúng ta đang sống (Metaphors we live by) (1980) [82] của
Goerge Lakoff và Mark Johnson ra đời đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong nghiên cứu ẩn dụ, làm thay đổi hoàn toàn cái nhìn về ẩn dụ Trong công trình này, Lakoff
và Johnson đã chứng minh rằng: ẩn dụ không chỉ là phương tiện tu từ - là vấn đề
Trang 19của từ, của ngôn ngữ và chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ văn chương, thi ca, mà còn là quá trình tư duy, công cụ tri nhận của con người đối với thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng, nó tồn tại khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày, trong tư duy và hành động của con người
Dưới góc nhìn cùa ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ là sự ánh xạ giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là miền ý niệm cụ thể được ánh xạ (hay phóng chiếu) lên miền đích - miền chỉ những ý niệm trừu tượng, nhờ vào sự tương đồng giữa hai miền ý niệm Quá trình ánh xạ diễn ra theo nguyên tắc một chiều, tức là miền nguồn được ánh xạ lên miền đích và không có chiều ngược lại Quan điểm tri nhận xem ẩn dụ là hiện tượng thuộc về nhận thức, bản chất của nó là ở sự ngữ nghĩa hóa và cảm nhận các hiện tượng thuộc chủng loại này trong thuật ngữ của các hiện tượng thuộc chủng loại khác; ẩn dụ là công
cụ tạo nghĩa cho những phạm vi khái niệm mới, gần với kinh nghiệm trực tiếp của con người Do đó, ẩn dụ phải được phân tích là sự ánh xạ giữa hai miền ý niệm và việc luận giải ngữ nghĩa ẩn dụ phải dựa vào kinh nghiệm luận (Lakoff & Jonhson, 1980) [81]; Dirk Geeraerts, (2010) [66, tr.167-200]) Dựa vào quan điểm này có thể hiểu ẩn dụ ngữ âm cũng là sự ánh xạ giữa hai miền (lĩnh vực) dựa trên những nét tương đồng về mặt ngữ âm, và cơ chế hoạt động của ẩn dụ ngữ âm cũng là cơ chế hoạt động của ẩn dụ tri nhận
0.3.2 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm 0.3.2.1 Nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm ở một số nước trên thế giới
Trước khi thuật ngữ ―ẩn dụ ngữ âm‖ ra đời, người ta đã bàn nhiều đến mối
tương quan giữa âm thanh và ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ Có quan điểm cho rằng, hình thức của từ (âm thanh) liên hệ với cái mà chúng biểu thị là hoàn toàn võ đoán, thế nhưng nhiều chuyên gia ngôn ngữ đã chứng minh giữa âm thanh và ý nghĩa có mối liên hệ chặt chẽ và có tính lý do Hiện tượng này được các nhà ngôn
ngữ học ở Châu Âu ở đầu thế kỷ 20 thừa nhận và nghiên cứu dưới tên gọi tính phỏng hình (Iconicity) (Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng dịch là tính hình hiệu) Tiêu
biểu có Jakobson (1965), Haiman (1980, 1983, 1985a), Givon (1985), Hopper & Traugot (2003), (Saeed 2003:5) …và các hội thảo khoa học quốc tế về tính hình hiệu trong ngôn ngữ và văn chương được tổ chức ở Zurich (1997), Amsterdam
Trang 20(1999), Neja (2001), Louvain-la-Neuve (2003), Krakow (2005), Johannesburg
(2007)… Tất cả đã góp phần chứng minh rằng: Tính phỏng hình là chỉ sự giống nhau hoặc sự tương đồng tự nhiên giữa hình thức của một ký hiệu (có thể là một chữ cái, một âm thanh, một từ, một từ tổ) với một thực thể hay một ý niệm mà nó đề cập tới trong thế giới, hay đúng hơn là trong tri nhận của chúng ta về thế giới Tính phỏng hình có mặt trong mọi ngôn ngữ và thể hiện ở tất cả các cấp độ từ những tín hiệu ngôn ngữ nhỏ nhất như âm vị cho đến các cấu trúc (cú pháp, văn bản) [116,
tr.11]
Ivan Fónagy, nhà ngôn ngữ học người Hungary, lần đầu đưa ra thuật ngữ ―ẩn
dụ ngữ âm‖ trong nghiên cứu có tựa Why Iconicity (1999) [64] để chỉ mối tương
quan giữa phương thức cấu âm với ý nghĩa mà nó biểu đạt Ông cho rằng các
trường hợp sau có thể xem là ẩn dụ ngữ âm: (1) Sự tương ứng giữa phương thức phát âm với loại tình cảm mà chúng ta muốn thể hiện, (2) Sự thống nhất giữa sự vận động (kinesic) của cơ quan phát âm với tư thế cơ thể, (3) Tốc độ, trường độ và cường độ (tense) trong lời nóithể hiện sắc thái tình cảm khác nhau Thực chất ẩn dụ ngữ âm mà Fónagy bàn đến chính là tính phỏng hình của ngôn ngữ (iconicity), là sự
tương đồng (analogy) giữa cách thức phát âm với ý nghĩa mà nó biểu đạt, nhưng xét
về nghĩa rộng, đó cũng là ẩn dụ
Theo tìm hiểu của chúng tôi, Fónagy là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ ẩn dụ ngữ âm, nhưng người đầu tiên đặt nền móng xây dựng thuyết ẩn dụ ngữ âm là
Branko Vuletíc - nhà nghiên cứu ngôn ngữ - văn học người Croatia Trong công
trình nghiên cứu viết bằng tiếng Croatia Gramatika govora (Speech Grammar, 1980) Branko Vuletíc bàn về sự tương quan của âm thanh (sound relations) và đã chỉ rằng
sự tương quan của âm thanh là tạo ra sự liên kết, xác định các nội dung khác nhau thông qua các yếu tố âm thanh giống hệt nhau hoặc giống nhau một phần (B.Vuletic, 2003) [97, tr.12] Theo ông, tương quan âm thanh có thể là từ tượng
thanh, những ẩn dụ cảm giác (synaesthetic) và các nội dung mang tính ẩn dụ khác Quan điểm này bao gồm cả các trường hợp ẩn dụ ngữ âm mà Ivan Fónagy đưa ra
Branko Vuletíc (1997a, 1997b) đưa ra định nghĩa đầu tiên về ẩn dụ ở bình
diện ngữ âm với tên gọi ẩn dụ âm thanh (Sound Metaphor) và định nghĩa rằng: sự
Trang 21liên tưởng về các nội dung khác nhau thông qua sự tương đồng hoặc tương cận giữa những năng biểu của chúng được gọi là ẩn dụ âm thanh [97, tr.14] Điều
đáng chú ý là ―nội dung‖ (content) mà Vuletíc đưa ra tương đương với ―hệ thống ý niệm‖ của Lakoff và ―sở chỉ‖ của Saussure, ―sự liên tưởng‖ (association) mà Vuletíc đề cập tới, về bản chất giống ―sự ánh xạ‖ của Lakoff
Năm 2003, trong công trình nghiên cứu chuyên sâu về ẩn dụ ngữ âm có tựa
Phonetic Metaphor (Ẩn dụ ngữ âm) Branko Vuletíc chính thức dùng thuật ngữ ẩn
dụ ngữ âm để gọi chung các hiện tượng ẩn dụ âm thanh đồng thời mở rộng phạm
vi nghiên cứu từ hoạt động cấu âm – thính giác lên cấp độ phụ âm và vần
Năm 2005, học giả Trung Quốc - Li Hong là người đầu tiên dẫn dùng khái
niệm ẩn dụ ngữ âm vào nghiên cứu tiếng Hán trong bài viết Some Reflections on Phonetic Metaphors [118] Bài viết được xem là sự nghiên cứu tiếp nối của hai
quan điểm trên về ẩn dụ ngữ âm Trên nền tảng lý luận ẩn dụ tri nhận của K.Lakoff
và ngữ pháp tri nhận của R.W.Langgacker, Li Hong định nghĩa ẩn dụ ngữ âm là
―dùng một đơn vị biểu trưng để nói rõ hoặc kích hoạt một đơn vị biểu trưng khác‖ Với
quan điểm này, ẩn dụ ngữ âm được mở rộng xem xét ở cấp độ từ và được gọi là một đơn vị biểu trưng - symbolic unit (sự kết hợp của đơn vị ngữ âm với đơn vị ngữ nghĩa), trong đó miền nguồn (cái biểu đạt) và miền đích (cái được biểu đạt) đã có hình thức thể hiện cụ thể, rõ ràng Trong nghiên cứu này, Li Hong dựa vào phương pháp phân tích từ vựng học trong tiếng Anh chia ẩn dụ ngữ âm thành sáu loại lớn gồm: 1)
ẩn dụ kiểu đồng âm dị nghĩa (Homonym Metaphor); 2) ẩn dụ trong Yết hậu ngữ và câu đối thơ; 3) ẩn dụ ngữ âm vào từ đồng âm đồng tự di nghĩa; 4) nhại âm (prody); 5) gieo vần ngữ âm; 6) ẩn dụ ngữ âm trong văn hóa Đây cũng là nghiên cứu đầu tiên tiến hành phân loại ẩn dụ ngữ âm, mặc dù sự phân loại chưa rõ ràng, còn chồng chéo nhau, nhưng Li Hong đã liệt kê được các hình thức ẩn dụ ngữ âm tương đối cụ thể làm tiền đề cho nhiều nghiên cứu sau đó
Nghiên cứu của Li Hong đã gây được sự chú ý cho đồng nghiệp ở Trung Quốc, mở đầu cho hàng loạt nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm trong tiếng Hán được tiến hành cả từ góc độ lý thuyết và thực tiễn ứng dụng, tiêu biểu có thể kể đến các nghiên cứu sau:
Trang 22(1) Các nghiên cứu từ góc độ lý thuyết
Bài viết Tìm hiểu và phân tích ẩn dụ ngữ âm (2006) của Wei Wande và Yi
Hui [137] giới thiệu cơ chế tri nhận của ẩn dụ ngữ âm và tiến hành phân loại, đối chiếu với tiếng Anh, nhằm tìm ra sự khác biệt văn hóa mà ẩn dụ ngữ âm đã thể hiện trong cả hai ngôn ngữ Tác giả cho rằng, trong quá trình tri nhận ẩn dụ ngữ âm, chúng ta phải dựa vào các phương pháp tri nhận phức tạp như tri giác, trí nhớ, sự tưởng tượng, nhận biết, suy nghĩ và suy luận, ngoài ra phần lớn còn phụ thuộc vào ngữ cảnh
Bài viết Ẩn dụ ngữ âm và sự giải mã ngữ dụng của nó (Phonetic Metaphor
and Its Pragmatic Interpretation) (2009) của Chen Jiahuang, Duan Cheng [105] cho rằng, định nghĩa ẩn dụ ngữ âm Li Hong đưa ra còn rất mơ hồ, nên đã kết hợp quan
điểm của Lakoff và Branko Vuletic giải thích ẩn dụ ngữ âm như sau: sự liên tưởng giữa những cái biểu đạt khác nhau với những cái được biểu đạt dựa vào những nét tương đồng thể hiện ở những thành phần ngữ âm giống nhau hoặc gần giống Nói cách khác, đó là sự ánh xạ qua các miền ý niệm (a cross-domain mapping) trong hệ thống ý niệm ở bình diện ngữ âm Có thể thấy rằng, định nghĩa này là sự khẳng định lại định nghĩa của Branko Vuletíc, có điều xem sự liên tưởng giữa những cái biểu đạt khác nhau nhờ vào sự tương đồng ngữ âm là ánh xạ theo cách hiểu của ngữ học
tri nhận
Bài viết Ẩn dụ ngữ âm dưới góc nhìn của thuyết Quan yếu (2011) của Liu
Xiaoling, Zheng Hongping [125] cho rằng việc giải mã ẩn dụ ngữ âm phải được tiến
hành trong ngữ cảnh cụ thể, xem đó là một quá trình minh chỉ1 (ostension) – suy luận (inference) Trong đó, sự tương đồng ngữ âm chính là những minh chỉ kích
thích người đọc, người nghe liên tưởng, suy luận đến ý nghĩa hàm ẩn phía sau đó
Bài viết Cơ sở lý thuyết tồn tại ẩn dụ ở bình diện ngữ âm của Liu Fengxian
(2015) [123] bàn về cơ sở hình thành ẩn dụ ngữ âm bao gồm tính hình hiệu ngôn ngữ, sự tương đồng ngữ âm, cơ sở tâm lý và nguyên lý tiết kiệm Ngoài ra bài viết
1
Minh chỉ là sự gây chú ý của người đọc, người nghe bằng các hành vi trực quan (ostensive behavior) hay các kích thích trực quan (ostensive stimulus) để kích thích người đọc, người nghe suy luận
Trang 23còn phân tích mối liên hệ giữa ẩn dụ ngữ âm với ẩn dụ ở các bình diện khác nhau và mối liên hệ giữa hai miền của ẩn dụ ngữ âm
Bài viết Thử bàn về ẩn dụ ngữ âm của Jiang Taishan (2016) [114] trên cơ sở
lý thuyết ẩn dụ tri nhận đã phân tích sâu hơn về quan điểm ẩn dụ ngữ âm mà Li Hong đưa ra Tác giả cho rằng khái niệm ẩn dụ ngữ âm của Li Hong bao gồm hai hiện tượng ngôn ngữ khác biệt nhau, đó là hiện tượng một từ ngữ dùng hình thức
tương đồng ngữ âm, gieo vần (hoặc láy vần) để kích hoạt một từ vựng khác; hiện
tượng thứ hai chỉ sự ánh xạ liên miền dựa vào đặc điểm phát âm hoặc cảm nhận âm thanh của lời nói Bài viết cũng tìm ra điểm khác biệt giữa ẩn dụ ngữ âm với ẩn dụ ý niệm, đó là, giữa hai miền của ánh xạ trong ẩn dụ ngữ âm không liên quan về mặt ý
nghĩa mà chỉ dựa vào sự tương đồng ngữ âm Bàn về chức năng ẩn dụ của ngữ âm (2016) của Wang Huijuan [135] đã
chứng minh ngữ âm có chức năng ẩn dụ và thể hiện ở nhiều cấp độ ngữ âm, âm điệu,
từ vựng và cả ngữ đoạn, đồng thời cho rằng: nguồn gốc ngôn ngữ mang tính ẩn dụ của âm thanh, chức năng ẩn dụ của ngữ âm gắn liền với với hình ảnh (image) và tính ẩn dụ của ngữ âm bắt nguồn từ tư duy có tính thơ ca của văn hóa Trung Quốc Như vậy chức năng ẩn dụ của ngữ âm đều có nguồn gốc sâu xa từ ngôn ngữ học và phương thức tư duy
Bài viết Bàn về ẩn dụ ngữ âm của và Zhao Yong (2017) [144] thông qua mối
liên hệ giữa các từ ngữ có liên quan về mặt ngữ âm với hình thái tu từ và mối quan
hệ của tính hình hiệu với ẩn dụ, tác giả cho rằng giữa miền nguồn và miền đích không có tính hình hiệu về mặt ngữ nghĩa mà sự ánh xạ liên miền xảy ra dựa trên tương đồng về ngữ âm, vì thế hiện tượng này nên gọi là hoán dụ ngữ âm và cho rằng cách gọi ẩn dụ ngữ âm của tu từ ngữ âm là chưa đầy đủ, nên gọi là dùng tính hình hiệu và tính biểu trưng để giải thích tu từ ngữ âm sẽ thỏa đáng hơn
Trong khi nhiều nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm đều dùng thuyết Quan yếu để luận giải ý nghĩa ẩn dụ ngữ âm, Chen Minghong (2017) [106] đã ứng dụng lý thuyết Hòa trộn ý niệm (Blending theory) phân tích cơ chế tạo nghĩa và luận giải ý nghĩa ẩn dụ
âm, đồng thời tổng kết, hệ thống những nghiên cứu quan tâm đến vấn đề giảng dạy
ẩn dụ ngữ âm trong môn nghe trong hoạt động giảng dạy ngoại ngữ
Trang 24(2) Về phân loại ẩn dụ ngữ âm
Wang Yin (2007) [136] trên cơ sở phân loại của Li Hong đã tiến hành phân ẩn
dụ ngữ âm thành bảy tiểu loại: 1) ẩn dụ đồng âm dị nghĩa; 2) ẩn dụ trong Yết hậu ngữ và câu đối; 3) ẩn dụ đồng âm đồng tự (chữ) dị nghĩa; 4) ẩn dụ đồng âm dị tự; 5)
ẩn dụ láy âm đầu (láy phụ âm); 6) ẩn dụ trong từ lóng, từ ám chỉ; 7) ẩn dụ ngữ âm trong văn hóa dân gian Cách phân loại này rất mở, có thể bao quát đượchầu hết hiện tượng ẩn dụ ngữ âm, tuy nhiên phạm vi quá rộng lại liệt kê từ nhiều góc độ nên trùng hợp, chồng chéo lẫn nhau
Chen Jiahuang, Duan Cheng (2009) [105]cho rằng sự phân loại của Li Hong
có sự chồng chéo lẫn nhau, thực chất chỉ cần phân thành ba loại: ẩn dụ đồng âm dị nghĩa, ần dụ đồng âm đồng tự dị nghĩa và ẩn dụ nhại âm (parody)
Trong bài viết So sánh đối chiếu liên văn hóa của ẩn dụ ngữ âm giữa tiếng Anh và tiếng Hán (2011) [139], Xin Chunhua căn cứ vào mối tương quan giữa hai miền ý niệm là âm và nghĩa chia ẩn dụ ngữ âm thành hai loại lớn là: ẩn dụ ngữ âm
dựa vào mối quan hệ ngữ âm – ngữ nghĩa (xét ở cấp độ từ) và ẩn dụ ngữ âm dựa vào âm cảm – tức cảm nhận âm thanh (xét ở cấp độ âm vị - hình vị)
Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy từ sau nghiên cứu đầu tiên của Li Hong, hàng năm ở Trung Quốc đều có các nghiên cứu lý thuyết ẩn dụ ngữ âm, đồng thời tập trung chủ yếu ở ba khía cạnh: 1) Cơ sở hình thành ẩn dụ ngữ âm (Wang Yin, Liu Fengxiang, Zhao Yong, Wang Huijuan…); 2) Phân loại ẩn dụ ngữ âm (Wang Yin, Chen Jiahuang, Duan Cheng, Xin Chuanhua, Li HaiTang, Liu Zhiping ); 3) Tìm hiểu cơ chế tri nhận ẩn dụ ngữ âm
Đối với cơ sở hình thành ẩn dụ ngữ âm, phần lớn các nghiên cứu đã xác định
ẩn dụ ngữ âm được hình thành từ nguyên lý phỏng hình của ngôn ngữ ở bình diện ngữ âm, từ đồng âm và cơ sở tâm lý xuất phát từ nguyên tắc tiết kiệm trong giao tiếp ngôn ngữ Điều này góp phần chứng minh ẩn dụ cũng tồn tại ở bình diện ngữ
âm chứ không chỉ có ở bình diện ngữ pháp hay từ vựng mà người ta thường gọi là
ẩn dụ ngữ pháp và ẩn dụ từ vựng Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn chỉ dừng lại ở mức độ gợi ý chứ chưa bàn sâu về vấn đề này Do đó đây cũng là một khoảng trống
Trang 25để luận án tiếp tục bổ sung, củng cố thêm luận cứ, chứng minh hiện tượng ẩn dụ ngữ âm tồn tại trong ngôn ngữ là tất yếu
Về phân loại ẩn dụ ngữ âm, các nghiên cứu ban đầu liệt kê đầy đủ những trường hợp được cho là ẩn dụ ngữ âm, tuy nhiên sự phân loại này không cùng góc
độ và cấp độ nên chồng chéo nhau (Li Hong (2005) [118], Wang Yin (2007) [136]) Các nghiên cứu sau này đã tập trung xem xét ẩn dụ ngữ âm ở góc độ ngôn ngữ học
và tiến hành phân loại cụ thể và có trình tự rõ ràng hơn Chẳng hạn, Chen Jiahuang
và Duan Cheng (2010) [105] chia ẩn dụ ngữ âm thành ba loại là ẩn dụ đồng âm dị nghĩa, ẩn dụ đồng âm đồng tự dị nghĩa và ẩn dụ do nhại lại âm (parody); Chen Chuanhua phân thành hai loại là ẩn dụ ngữ âm dựa vào cảm âm (cảm nhận âm thanh) và ẩn dụ ngữ âm dựa vào mối quan hệ âm và nghĩa Cách phân loại của Chen Chuanhua tương ứng với cơ sở hình thành ẩn dụ ngữ âm Đó là, ẩn dụ dựa vào cảm
âm - tức tính hình hiệu ngữ âm và mối quan hệ âm – nghĩa là ẩn dụ ở cấp độ từ vựng
Các tác giả tập trung tìm hiểu cơ chế tri nhận ADNA đều từ góc nhìn của thuyết quan yếu (Relavance Theory), trong đó nổi bật có Wei Wande và Yi Hui (2006) [137], Liu Xiaoling, Guo Hongping (2011) [125] Họ cho rằng, việc sử dụng và luận giải ẩn dụ ngữ âm phải được tiến hành trong ngữ cảnh nhất định và cơ
chế tri nhận nó là quá trình minh chỉ - suy luận Góc nhìn này làm rõ được yếu tố
ngữ dụng Tuy nhiên, các nhà ngữ học tri nhận cho rằng, suy nghĩ và tư duy của con người vốn là một quá trình phức tạp, và ẩn dụ cũng chính là một phương thức tư duy mà theo ngôn ngữ học tri nhận nó phải được phân tích là sự ánh xạ giữa các miền ý niệm và cơ sở luận giải ý nghĩa là kinh nghiệm luận, còn cơ chế tạo nghĩa là quá trình hội nhập ý niệm (Conceptual Blending) (xem Lakoff & Johnson (1980), Ungerer.F & H.J.Schmid (1996) [95], Vyvyan E & Melanie G (2009) [94], Kövecses Z (2010) [79], Greeraerts D (2010) [66]) Trên cơ sở này, Chen Minghong (2017) [106], Cheng Yige, Peng Chen, Huang Qun (2017) [109] đã ứng dụng lý thuyết Hội nhập ý niệm phân tích cơ chế tạo nghĩa và luận giải ý nghĩa ẩn
dụ âm Chúng tôi cho rằng, việc lựa chọn lý thuyết Hội nhập ý niệm (còn gọi là Hòa trộn ý niệm) để nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm là hợp lý, phù hợp với nguyên lý và cơ
Trang 26chế tạo nghĩa của ngữ nghĩa học tri nhận Các nghiên cứu này là cơ sở thúc đẩy chúng tôi lựa chọn thuyết Hội nhập ý niệm để luận giải ý nghĩa của các ẩn dụ ngữ
âm trong Hồng lâu mộng
(3) Nghiên cứu ứng dụng ẩn dụ ngữ âm
Bên cạnh những nghiên cứu về lý thuyết ẩn dụ ngữ âm, nhiều bài viết và công trình nghiên cứu ứng dụng của ẩn dụ ngữ âm trong các lĩnh vực như văn học nghệ thuật, quảng cáo, so sánh đối chiếu ngôn ngữ, so sánh dịch thuật, giảng dạy ngoại ngữ…cho thấy tính ứng dụng linh hoạt của hiện tượng này
Các nghiên cứu tìm hiểu, phân tích hiện tượng ẩn dụ ngữ âm trong các ngôn
ngữ như Giải mã tri nhận ẩn dụ ngữ âm của từ ngữ tiếng Anh trên mạng của Li Limin (2009) [116]; Ẩn dụ ngữ âm trong thành ngữ tiếng Anh của Zhang Lei (2009) [143] bàn về nguồn gốc và cơ sở hình thành ẩn dụ ngữ âm Ẩn dụ ngữ âm và chức năng của nó trong tiêu đề tin tức báo chí của Hu Zhongkun (2011) [114] chỉ ra ba
chức năng quan trọng của ẩn dụ ngữ âm trong cách đặt tiêu đề báo chí là: ngụ ý, hài
hước, thu hút độc giả Nghiên cứu từ ngữ theo phong trào của tiếng Nhật từ góc nhìn ẩn dụ ngữ âm Guo Xiumei (2012), Phân tích hiện tượng ẩn dụ ngữ âm trong cách dùng từ ngữ trên mạng của Wu Zhihui (2010) [148] đã liệt kê các ADNA thường thấy trong ngôn ngữ mạng Gần đây nhất có nghiên cứu Ẩn dụ ngữ âm của
từ hài âm trong ngôn ngữ mạng và động cơ ngữ dụng của chúng của Chen Yebei và
Shen Meiying (2017) [108] cho rằng, động cơ sử dụng ADNA trong ngôn ngữ mạng là nhằm tăng cường tính linh hoạt, tính uyển chuyển trong biểu đạt của ngôn ngữ, thúc đẩy việc giao tiêp trên mạng được nhanh gọn và phong phú hơn Nhìn chung, các nghiên cứu trên đây chủ yếu tóm tắt các quan điểm về ẩn dụ ngữ âm của Fónagy, Li Hong, liệt kê các hình thức ẩn dụ ngữ âm trong tiếng Anh, tiếng Nhật và phân tích chúng theo quan điểm ẩn dụ tri nhận của Lakoff, nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc chứng minh có hiện tượng này tồn tại trong các ngôn ngữ Trung, Anh hay Nhật
Các nghiên cứu hiện tượng ADNA trong quảng cáo có: Phân tích sơ lược ẩn
dụ ngữ âm trong ngôn ngữ quảng cáo của Wu Yiting (2010) [150], Phân tích ẩn dụ ngữ âm trong ngôn ngữ quảng cáo của Liu Zhiping (2013) Luận văn thạc sĩ có tên
Trang 27Ứng dụng ẩn dụ ngữ âm trong quảng cáo của Li Haitang (2012) [116] và bài viết Nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm tiếng Nga trong quảng cáo của Li Haitang (2012) Tất
cả đều phân loại ẩn dụ ngữ âm theo quan điểm của Li Hong và phân tích chúng từ góc nhìn của thuyết Quan yếu (Relevance Theory)
Chen Jiahuang và Duancheng (2009) cho rằng các hình thức và nguyên tắc sử dụng ẩn dụ ngữ âm trong quảng cáo cần chú ý đến ba nguyên tắc: tính hình hiệu, nguyên tắc ngữ cảnh hóa và nguyên tắc văn hóa (chú ý khác biệt về văn hóa)
Chun, Linluo (2014) xem xét vấn đề giảng dạy hiện tượng ẩn dụ ngữ âm trong tiếng Anh qua bài hát như thế nào để học sinh hiểu được các ẩn dụ ngữ âm, từ đó dễ
lý giải ý nghĩa của bài hát hơn Chen, Minghong (2017) tiến hành tìm kiếm phương pháp để giảng dạy ẩn dụ ngữ âm trong môn nghe tiếng Trung, đồng thời tổng kết,
hệ thống lại những nghiên cứu quan tâm đến vấn đề giảng dạy ẩn dụ ngữ âm trong môn nghe
Ngoài ra có hàng chục bài báo và luận văn thạc sĩ phân tích hiện tượng ẩn dụ
ngữ âm trong nghệ thuật tấu hài Tướng thanh (Xiàngsheng), Yết hậu ngữ, và trong
các tác phẩm văn học Các nghiên cứu này đều chủ yếu thống kê các hình thức ẩn
dụ ngữ âm và phân tích chúng theo quan điểm của Li Hong
0.3.2.2 Nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm ở Việt Nam
Trên đây đã đề cập, khái niệm ẩn dụ ngữ âm còn khá xa lạ trong giới Việt ngữ
học, cho nên ở Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào đề cập khái niệm ẩn dụ ngữ
âm một cách chính danh Tuy nhiên, đồng âm hay những yếu tố âm thanh tương tự
có khả năng tạo nghĩa mới hoặc có lợi cho việc tạo nghĩa, với tư cách một trong những thuộc tính phổ quát của ngôn ngữ, trong Việt ngữ học truyền thống, ẩn dụ
ngữ âm vẫn tồn tại và được chú ý nghiên cứu dưới các tên gọi biểu tượng ngữ âm
và chơi chữ đồng âm
a) Về biểu tượng ngữ âm
Trong Việt ngữ học đã có nhiều nghiên cứu bàn về sự tương quan giữa âm
thanh và ý nghĩa Cao Xuân Hạo (1963), trong báo cáo khoa học về Từ mô phỏng đã
phân tích các nét khu biệt của từng âm vị và cả về vị trí cấu âm, phương thức phát
Trang 28âm và hình dáng khí quan phát âm để chỉ ra sự tương ứng giữa các nét khu biệt đó
với ý nghĩa của từ mô phỏng Đỗ Hữu Châu trong Các bình diện của từ và từ tiếng Việt (1997) [7, tr.34-37] khẳng định rõ ràng rằng mỗi âm có những đặc tính vật lý –
vận động riêng, và những đặc tính này có thể được lợi dụng phục vụ cho nghĩa
Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983) [1,
tr.354-379] chỉ ra rằng, các đơn vị ngữ âm tiếng Việt bên cạnh chức năng là vỏ âm thanh còn có giá trị phong cách và giá trị biểu cảm Giá trị biểu cảm của hình thức ngữ âm có được là nhờ biểu tượng ngữ âm Khi cấu tạo của một hình thức ngữ âm trong những tương quan nhất định với một nội dung biểu đạt, có khả năng gợi ra những liên tưởng phù hợp với nội dung biểu đạt thì ta có biểu tượng ngữ âm Trên
cơ sở đó, ông đã đưa ra danh mục gồm 21 khuôn ngữ âm – ngữ nghĩa tạo thành
những biểu tượng ngữ âm khác nhau, ví dụ: khuôn ép như ép, bẹp, giẹp, lép…mang biểu tượng về sự giảm chiều cao, sự thu hẹp lại; khuôn úp như úp, cụp, chụp, thụp…mang biểu tượng về sự hạ thấp đột ngột; khuôn ơ – ân mang biểu tượng về trạng thái kém lí trí: dớ dẩn, đờ đẫn, ngơ ngẩn; khuôn t – m như táy máy, tắt mắt, tẩn mẩn… mang biểu tượng về sự chú ý đến cái nhỏ Ông cũng chỉ ra rằng, những
hình thức ngữ âm tự thân vốn không có nghĩa, nhưng khi chúng ta nắm được và khai thác được những đặc tính âm học của chúng, đặt chúng vào những tương quan
cụ thể nào đó với nội dung thì ta có thể tạo được những biểu tượng ngữ âm Đặc tính âm học của nguyên âm, phụ âm và thanh điệu kết hợp thủ pháp điệp âm sẽ tạo
ra biểu tượng ngữ âm Nguyên nhân hình thành biểu tượng ngữ âm trong tiếng Việt
đó là: sự liên hội trong đầu óc những từ ngữ có một số nét giống nhau về cơ cấu ngữ
âm – ngữ nghĩa; và sự lựa chọn âm thanh trong khi sử dụng, tạo ra sự phù hợp, sự thống nhất giữa hình thức ngữ âm và nội dung biểu đạt
Sau nghiên cứu của Cù Đình Tú, nhiều tác giả tập trung nghiên cứu nghĩa biểu trưng khuôn vần trong từ láy tiếng Việt Tiêu biểu có Nguyễn Thị Hai (1986) [23] phân tích sự tương ứng giữa âm thanh và ý nghĩa từ vựng của các loại từ láy tượng thanh – biểu cảm và tượng hình - biểu cảm; Phi Tuyết Hinh (1990; 1998) [32,33] dựa trên lý thuyết về mối quan hệ kết hợp và quan hệ liên tưởng trong ngôn ngữ do Ferdinand de Saussure đã phân tích cấu tạo âm vị, đặc điểm ngữ âm của mỗi âm vị
Trang 29trong khuôn vần tìm sự tương ứng giữa đặc điểm ngữ âm của khuôn vần với ấn tượng ngữ nghĩa (nghĩa biểu trưng) do khuôn vần tạo ra trong từ láy Nguyễn Quang Minh Triết (2009) [21] tổng kết đưa ra nghĩa biểu trưng của thêm một số khuôn vần…
Đinh Trọng Lạc trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (2012)
[4, tr.10] cũng đã có nghiên cứu sâu rộng về biện pháp tu từ ngữ âm ở cấp độ âm vị Ông đưa ra 4 phương tiện ngữ âm kết hợp với 7 biện pháp tu từ ngữ âm có thể tạo
nên giá trị biểu trưng của ngữ âm – hiệu quả tu từ ngữ âm ở cấp độ âm vị (trong
luận án chúng tôi gọi là ẩn dụ dựa vào tính hình hiệu ngữ âm) Bốn phương tiện ngữ
âm đó là: 1) giá trị biểu trưng cả một số khuôn vần; 2) đặc tính âm học của nguyên âm; 3) đặc tính âm học của phụ âm; 4) đặc tính âm học của thanh điệu Bảy biện pháp tu từ ngữ âm gồm: 1) điệp âm; 2) điệp vần; 3) điệp thanh; 4) tượng thanh; 5) hài âm; 6) tạo nhịp điệu; 7) tạo âm hưởng Sự kết hợp này tạo ra giá trị biểu tượng ngữ âm (sound symbolism) thể hiện những ý nghĩa mới đó là những cảm xúc – biểu cảm khác hẳn với ý nghĩa từ ngữ trong ngôn bản Trước khi bàn về phương tiện ngữ
âm và biện pháp tu từ ngữ âm tác giả đã phân biệt rõ ý nghĩa và giá trị biểu trưng Theo ông, ý nghĩa là thường gắn với vỏ âm thanh một cách ước định, tức võ đoán Còn giá trị biểu trưng là nói tới mối quan hệ có tính lý do giữa cái biểu hiện và cái
được biểu hiện, mối quan hệ được cảm nhận do sự liên tưởng tương đồng Phân tích trên của Đinh Trọng Lạc thêm minh chứng cho thấy giá trị tu từ của ngữ âm cũng
có khả năng tạo nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ ở cấp độ âm vị Đáng chú ý là, trong
phần ẩn dụ, tác giả đã bàn tới ẩn dụ hình tượng và ẩn dụ bổ sung (ẩn dụ chuyển đổi
cảm giác) Trong đó ẩn dụ hình tượng là nguồn sản sinh ra đồng nghĩa, chẳng hạn
hoa đồng nghĩa với tốt đẹp, cao quý, kim cương, ngôi sao sáng là biểu hiện cái quý
giá, phẩm chất của con người [1, tr.50] Trong ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ loại này
giống như ẩn dụ quy ước (conventional metaphor) và được xem là trường hợp ẩn dụ
hình thành trên cơ sở hoán dụ (metaphor from metonymy) [95; tr.319]
Trong Từ điển tu từ-Phong cách thi pháp học của Nguyễn Thái Hòa (2006)
[22], các khái niệm: bắt chước, bắt chước phong cách, chơi chữ, điệp âm, điệp cuối, điệp đầu, điệp ngữ, điệp phụ âm đầu, điệp khúc, điệp thanh, điệp từ liên kết, điệp
Trang 30vần, hài âm, hài thanh, nhịp-nhịp điệu, phép nhại, từ láy, từ tượng thanh, vần…đều
là biểu hiện của ẩn dụ ngữ âm
b) Về chơi chữ đồng âm Trong Việt ngữ truyền thống, ẩn dụ ngữ âm dựa vào
từ đồng âm thường được xếp vào mảng nghệ thuật chơi chữ đồng âm hoặc dựa vào yếu tố âm thanh tương tự Nhận thức được tiềm năng ứng dụng của hiện tượng ngôn
ngữ này, Lãng Nhân (1970) đã thu thập tư liệu, tập hợp và viết thành cuốn Chơi chữ
Nội dung sách chia làm 12 phần: 1) Hoành phi, trướng; 2) Câu đối; 3) Lục bát; 4) Tập Kiều, vịnh Kiều; 5) Hát ả đào; 6) Thơ ngũ ngôn; 7) Thơ thất ngôn; 8) Văn biền ngẫu; 9) Thổ âm, thổ ngữ; 10) Dịch ngoại ngữ; 11) Văn thơ Việt Nam hóa; và 12) Quốc ngữ nước ta Tuy công trình chưa xác định rõ được các kiểu dạng chơi chữ nhưng đã sưu tầm, tập hợp được nhiều tư liệu quý ở nhiều thể loại văn học Sau
cuốn Chơi chữ của Lãng Nhân, tuy chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về nội
hàm của hiện tượng này, nhưng cũng đã có một số công trình bước đầu chú ý khai thác giá trị ngữ âm và tính ứng dụng cao của chúng, đồng thời đã đạt được những kết quả có giá trị Cụ thể:
- Trong công trình Thú chơi chữ Lê Trung Hoa, Hồ Lê (1990, 2013) [15] đã khẳng định rằng chính tính phân tiết với mỗi âm tiết gồm ba phần âm đầu, vần và
thanh điệu đã tạo ra cách chơi chữ bằng trùng điệp (điệp âm, điệp vần) và hiện tượng đồng âm (Đây cũng là những trường hợp cơ bản của ẩn dụ ngữ âm – đối tượng nghiên cứu của luận án) Trên cơ sở đó, tác giả đã xác định được 14 loại hình chơi chữ gồm: 1) Chơi chữ bằng cách nói lái; 2) Chơi chữ bằng cách đảo từ, đảo ngữ, đảo cú; 3) Chơi chữ bằng hiện tượng đồng âm; 4) Chơi chữ bằng cách trùng điệp; 5) Chơi chữ bằng cách mô phỏng (nhại từ, nhại ngữ, nhại câu, nhại bài); 6) Chơi chữ bằng hiện tượng đồng nghĩa; 7) Chơi chữ bằng hiện tượng đồng âm và đồng nghĩa; 8) Chơi chữ bằng cách tạo ra hiện tượng nghịch nghĩa, nói ngược; 9) Chơi chữ bằng từ liên nghĩa thật và giả; 10) Chơi chữ bằng cách sử dụng nghĩa phái sinh thật và giả; 11) Chơi chữ bằng cách tạo chữ, xáo chữ, chiết tự, tách từ; 12) Chơi chữ bằng cách hạn vận, hạn từ; 13) Các lối chơi chữ bằng thành ngữ, tục ngữ,
ca dao; và 14) Các lối chơi chữ chung quanh Truyện Kiều Ngoài ra tác giả còn khẳng định: ―Chơi chữ không dừng lại ở trò chơi,…mà còn chứa một bộ phận nhằm
Trang 31thông báo đến người đời những cách đánh giá hiện tượng này, sự kiện kia của xã hội.‖ [15, tr.10] Từ nhận định này chúng tôi cho rằng có thể nhận thấy ẩn dụ ngữ
âm đều xuất hiện trong 7 kiểu chơi chữ đầu tiên Tuy không phải trường hợp nào thuộc 7 kiểu chơi chữ này cũng đều là ẩn dụ ngữ âm, nhưng một số trường hợp được xem là ẩn dụ Chẳng hạn, trong kiểu chơi chữ bằng cách nói lái có các cách
nói: Vũ Như Cẩn, Nguyễn Y Vân mới đầu nghe tưởng tên người nhưng thực ra là nói vẫn như cũ, vẫn y nguyên, tức tên chỉ sự bảo thủ, trì trệ dùng để châm biếm tiêu cực Trong kiểu chơi chữ đảo từ, đảo ngữ, đảo cú thì có từ ―đại học‖ đảo lại là ―học đại‖ hay trong câu đối của Xiển Bột chửi tri huyện Thằng: ―Tri huyện là tri huyện Thằng,
ăn nói lằng nhằng là thằng tri huyện‖ Trong kiểu chơi chữ bằng cách trùng điệp, cụ
Nguyễn Khuyến viết câu đối khi viếng cảnh chùa, gặp sư cụ rụng hết răng nói phều
phào: ―Phất phất phóng phong phan, pháp phái phi phù, phù phụng Phật./Căn căn canh cổ kệ, ca cao kì cứu, cứu cùng kinh.‖ Vế đầu lặp phụ âm ―ph‖đọc lên nghe như tiếng nói của người móm; vế sau với phụ âm ―c‖ đọc lên như giọng kẻ
ngọng…
Ngoài ra còn có công trình Nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt
của Triều Nguyên (2007) [38] Sách trọn bộ gồm bốn tập, trong đó tập 1 đã dành hẳn bốn chương bàn về những cách chơi chữ có nhiều trường hợp tương đồng với các trường hợp ẩn dụ ngữ âm Cụ thể: chương 1 – Chơi chữ theo cách cùng âm; chương 2 – Chơi chữ theo cách nhại, cách gần âm; chương 4 – Chơi chữ theo cách điệp âm; và chương 5 – Chơi chữ theo cách nói lái Về cơ bản, nội dung các cách
chơi chữ này trùng lặp nhiều với nội dung cuốn Thú chơi chữ của Lê Trung Hoa,
Hồ Lê (2013), tuy nhiên tác giả đã tiến hành phân loại ngữ liệu nghiên cứu theo nguồn gốc từ thuần Việt và từ Hán – Việt …Dù vấn đề được trình bày khá chi tiết nhưng cũng khá rối và chung quy lại tác giả cũng chỉ xem đó là những cách chơi chữ xuất hiện trong văn chương
Các công trình trên được xem là những nghiên cứu tiêu biểu về ẩn dụ ngữ âm
từ góc độ ngôn ngữ học truyền thống, đã góp phần tích cực trong việc định hướng
về mặt phân loại các phương tiện, hình thức chơi chữ, hoặc cách gọi mang hàm ý
Trang 32sâu rộng hơn, đó là phương tiện tu từ và biện pháp tu từ dựa vào yếu tố tương đồng ngữ âm trong tiếng Việt
0.3.3 Nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng 0.3.3.1 Các nghiên cứu về Hồng lâu mộng – Cơ sở luận giải ý nghĩa ẩn dụ ngữ
âm
Có thể nói, công trình nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng sớm nhất là Chi Nghiễn Trai trùng bình Thạch đầu ký *(1754-1760) [158] của nhà Hồng học đầu tiên Chi Nghiễn Trai viết từ thời Tào Tuyết Cần còn sống Với khoảng 3000 lời bình chú trong đó không ít dựa vào sự đồng âm để giải nghĩa, đây còn là công trình nghiên cứu về ẩn dụ ngữ âm đồ sộ, có tính hệ thống và giàu tính thuyết phục Hầu hết những nghiên cứu liên quan sau này đều lấy đó làm
cơ sở Có thể liệt kê một số ẩn dụ ngữ âm mà họ Chi đã giải thích trong sách này theo bảng sau:
Hồi Câu trong nguyên tác Hồng lâu
mộng
Lời bình chú của Chi Nghiễn Trai
Hồi 1 Chỉ có một con gái, nhũ danh là
Anh Liên Tựa như nói ƯNG LÂN thương) vậy (yīng lián, đáng
Hồi 7
,
Người nói tên Hương Lăng
Hai chữ (Hương Lăng) khởi từ chữ liên (sen), đại khái ―Anh Liên (yīng lián)‖ tức ―đáng thương (yīng lián)‖ vậy Hương Lăng cũng có
nghĩa tương liên (xiāng lián, thương nhau)
Tên này là tên đổi từ Anh Liên
Hồi 2
Lúc nãy đi qua của trước, vì nhìn thấy a đầu Kiều Hạnh đó đi mua chỉ
(Kiều Hạnh, âm đọc Jiāo Xìng) cũng như Kiểu
hạnh (jiǎo xìng tức may mắn) vậy
Họ Chi cũng bình chú tên của bốn nàng Xuân (trong ngoặc kép) lần lượt như sau:
Tích-xī
Nguyên ưng thán tức (Vốn nên phải than tiếc)
Trang 33Hồi 4
Cái người bị đánh này chính là con trai của một viên quan nhỏ trong vùng tên Phùng Uyên
(Phùng Uyên, féng yuān) Thật đúng là oan
nghiệt tương phùng (yuān niè xiāng féng)
Nên tên là Vạn Diễm Đồng Bôi (Vạn Diễm Đồng Bi, wàn yàn tóng bēi) (tên
này) ẩn chữ bi (bēi, bi thương)
Bảng 1: Một số ADNA Chi Nghiễn Trai bình chú
Từ bảng trên đây, có thể thấy Chi Nghiễn Trai luận giải ý nghĩa hàm ẩn của các tên riêng trong nguyên tác (các chữ được gạch chân, in đậm) bằng những từ ngữ đồng âm tương ứng ở cột bên phải Nghĩa này là nghĩa liên tưởng xuất phát trên cơ
sở tương đồng về ngữ âm
Tuy nhiên, việc tạo nghĩa ẩn dụ (phần lớn trong tên riêng) trong tác phẩm không chỉ dựa vào sự đồng âm mà còn phải dựa trên cơ sở nhiều thông tin liên quan khác như lịch sử, hiểu biết xã hội, trải nghiệm Sau Chi Nghiễn Trai điểm bình
Hồng lâu mộng, nhóm Cựu Hồng học tiêu biểu là phái Sách Ẩn (索隐派) với tác phẩm tiêu biểu Hồng lâu mộng sách ẩn (红楼梦索隐 (1916) của Vương Mộng
Nguyễn và Thẩm Bình Am là tư liệu khảo chứng Hồng lâu mộng viết về người thật,
việc thật trong lịch sử Đây cũng là cơ sở để xác định ý nghĩa của ẩn dụ ngữ âm đã được nhiều công trình nghiên cứu trích dẫn
Sau phong trào Ngũ Tứ các tác phẩm Thạch đầu kí sách dẫn (石头记索隐)
của Thái Nguyên Bồi và Hồng lâu mộng thích chân (红楼梦释真) (1919) của Đặng Cuồng Ngôn tập trung tìm tòi, khám phá những bí mật – chân tướng sự thật
ẩn giấu sau những câu chuyện được kể trong tác phẩm và cho rằng Giả Bảo Ngọc là
ánh xạ của hoàng tử Dận Nhưng thời vua Khang Hi, bối cảnh trong Hồng lâu mộng thực chất là trạng thái chính trị thời Khang Hi Phái Tân Hồng học đại diện là Hồ Thích với tác phẩm Hồng lâu mộng khảo chứng (红楼梦考证) (1921), Du Bình
Trang 34Bá với Hồng lâu mộng biện (红楼梦辩) (1923) đã chủ trương tìm hiểu tác phẩm
thông qua thân thế và cuộc đời riêng của tác giả Bằng phương pháp khảo chứng
tiểu sử, họ rút ra kết luận: Hồng lâu mộng chính là những ghi chép việc thực của
bản thân tác giả, nhà họ Giả chính là nhà họ Tào, Giả Bảo Ngọc chính là Tào Tuyết Cần Các kết quả nghiên cứu này vừa là luận cứ giải thích ý nghĩa ẩn dụ ngữ âm, vừa là cơ sở tạo ra các ẩn dụ ngữ âm mới, tức cách hiểu mới của các thế hệ độc giả
của Hồng lâu mộng sau này
Các khảo cứu trên của các nhà Hồng học là căn cứ, cơ sở quan trọng trong việc luận giải ý nghĩa ẩn dụ ngữ âm của nhiều thế hệ độc giả và nhà nghiên cứu
0.3.3.2 Các nghiên cứu về ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng
Các nghiên cứu về nghệ thuật dùng từ đồng âm trong Hồng lâu mộng được
tiến hành theo hai khuynh hướng sau:
(1) Theo khuynh hướng tu từ học truyền thống: Hiện tượng ẩn dụ ngữ âm ở
Trung Quốc xưa nay thường được nghiên cứu theo quan điểm tu từ học truyền
thống với tên gọi chung là hài âm song quan Hài âm song quan là biện pháp tu từ
thông qua vận dụng hình thức đồng âm cố ý tạo cho câu đồng thời có hai tầng ý nghĩa là nghĩa hiển minh và nghĩa hàm ẩn Các nghiên cứu về hiện tượng hài âm
trong Hồng lâu mộng tiêu biểu có:
Bài viết Các hình thức hài âm trong Hồng lâu mộng (Li Fangyuan, 1996) [154] tiến hành phân loại các hình thức hài âm trong Hồng lâu mộng theo đặc trưng tu từ
học như: hài âm song quan, hài âm phi bạch, phỏng từ, đố chữ, hồi văn hay tương khảm…;
Bài Hài âm song quan trong Hồng lâu mộng (Kong Zhaoqi, 2015) [115] tiến
hành phân tích, tổng hợp vai trò, tác dụng của hiện tượng hài âm song quan trong lập ý, cấu tứ, xây dựng kết cấu tác phẩm, cũng như biểu đạt nội dung, chủ đề của tác phẩm;
Bài Hài âm song quan trong tên người, tên địa danh trong Hồng lâu mộng
(Xie Shuhe, 2017; Li Han, 2016) [116] phân tích, giải mã các ngụ ý sâu xa trong
Trang 35một số tên nhân vật và địa danh điển hình thể hiện tư tưởng, tính cách, số phận của nhân vật
Bài nghiên cứu Bàn về ngữ âm song quan trong Hồng lâu mộng và bản dịch tiếng Anh (Liu Lixiao, Jia Wenboyi 2010) đã chỉ ra các biện pháp, kỹ thuật dịch các hài âm song quan trong Hồng lâu mộng sang tiếng Anh;
Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu, khảo sát ngắn về hiện tượng hài âm trong
tác phẩm Hồng lâu mộng, nhưng nhìn chung chỉ dừng lại ở những bài viết giới thiệu
hoặc phân loại sơ bộ theo hệ thống tu từ có sẵn, và phần lớn là nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ nghệ thuật hơn là từ góc độ ngôn ngữ học
(2) Theo khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận: Sau nghiên cứu của học giả Li Hong về ẩn dụ ngữ âm (2005) theo quan điểm tri nhận luận gây được sự chú ý ở
Trung Quốc, đã có không ít nghiên cứu đã vận dụng lý luận ngôn ngữ học tri nhận
tiến hành tìm hiểu, phân tích ẩn dụ ngữ âm trong tác phẩm văn học kinh điển Hồng lâu mộng Có thể liệt kê một số nghiên cứu tiêu biểu dưới đây:
Các nghiên cứu về ẩn dụ ngữ âm trong tên riêng tiêu biểu có Phân tích sơ lược
về ẩn dụ ngữ âm trong tên ―Kim Lăng thập nhị thoa‖ của Meng Xiaoxi (2006) [128], Ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng của Tan Shanyan và Huang Shuguang (2008) [129], Phân tích ẩn dụ ngữ âm trong tên họ nhân vật nữ trong Hồng lâu mộng của Lihan (2017)…Các nghiên cứu này đã vận dụng thuyết ánh xạ ẩn dụ ý
niệm, phân tích sơ lược về ẩn dụ ngữ âm trong họ tên nhân vật, địa danh và trong
tên đồ vật trong Hồng lâu mộng Các bài viết chủ yếu bàn về hai miền nguồn và
đích trong các ánh xạ ẩn dụ ngữ âm tiêu biểu nhất
Gần đây nhất có bài viết Ẩn dụ ngữ âm trong tên nhân vật của Hồng lâu mộng nhìn từ góc độ hội nhập ý niệm của Cheng Yige, Pengchen, Huangpan (2017) [109]
đã vận dụng thuyết Hội nhập ý niệm (Conceptual Blending Theory) để giải thích một số ẩn dụ ngữ âm trong tên gọi nhân vật Bài viết đã phân tích cơ chế hình thành
và luận giải ý nghĩa ẩn dụ ngữ âm và cho rằng ẩn dụ ngữ âm là do các không gian tinh thần (mental spaces) không cùng miền tri nhận của con người tạo nên Sự ánh
xạ ngữ âm giữa các không gian tinh thần tạo thành một không gian tinh thần mới
Trang 36trong đó chứa đựng ý niệm mới được hình thành có chọn lọc từ các không gian đầu vào (input spaces) – đó là quá trình tạo ra nghĩa mới của ẩn dụ ngữ âm
0.3.3.3 Các nghiên cứu về vấn đề dịch thuật ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu
mộng
Cùng với sự phổ biến của tác phẩm Hồng lâu mộng trên thế giới, các nghiên cứu dịch thuật tác phẩm Hồng lâu mộng và nghiên cứu so sánh các bản dịch cũng rất được giới học thuật quan tâm Hiện nay Hồng lâu mộng đã được dịch ra hơn 20
thứ tiếng phổ biến trên thế giới, trong đó tiếng Anh chiếm số lượng bản dịch nhiều nhất với 12 bản dịch Hai bản dịch tiếng Anh nổi tiếng và được giới học giả Trung
Quốc và thế giới quan tâm nghiên cứu nhiều nhất là bản dịch The Story of the Stone
của David Hawkes& John Minford (dịch trong hơn 10 năm, từ 1973-1986) [158,
159] và bản dịch A Dream of the Red Mansions của vợ chồng YangHsien-yi &
Gladys Yang (1978) [155] đã trở thành nguồn ngữ liệu quan trọng cho nhiều nghiên cứu về dịch thuật và so sánh đối chiếu giữa các bản dịch với nhau và với nguyên tác Các nghiên cứu về phương pháp dịch các thủ pháp tu từ, ẩn dụ ngữ âm (còn gọi là
ngữ song quan) trong Hồng lâu mộng phần lớn cũng đều dựa vào ngữ liệu của hai
bản dịch này Các nghiên cứu nổi bật có:
Feng Qinghua (2008) [126] trong cuốn Hồng dịch nghệ đàn—nghiên cứu nghệ thuật dịch Hồng lâu mộng 《红译艺坛 〈红楼梦〉翻译艺术研究》 đã dành một chương bàn về ―vấn đề dịch tu từ ngữ âm‖ ở năm phương diện hài âm, hài âm song quan, ngữ âm phi bạch, từ mô phỏng và âm uốn lưỡi Trong đó tác giả đã phân
tích xác đáng nhiều ví dụ, chú trọng so sánh việc dịch phép tu từ hài âm trong hai bản dịch của Hawkes và của Yang, thế nhưng tác giả chú trọng nhiều hơn tới mục đích so sánh và thưởng thức hai bản dịch này chứ chưa ứng dụng được lý luận tu từ ngữ âm trong tiếng Hán và tiếng Anh
Bài viết So sánh việc dịch ngữ song quan trong Hồng lâu mộng trong hai bản dịch tiếng Anh của Hawkes và của Yang của Li Xiang (2001) [119] tìm hiểu cách
làm thế nào để dịch thuật có thể chuyển đạt được mục đích, tôn chỉ, nội dung và ý
nghĩa của tác phẩm hàm chứa trong ngữ song quan, đồng thời cũng nêu ra những
Trang 37cái được và mất khi dịch ngữ song quan và tổng kết những phương pháp dịch chúng
trong hai bản dịch tiếng Anh này
Nhiều bài viết tìm hiểu, nghiên cứu về phương pháp dịch ngữ song quan trong tên riêng của Hồng lâu mộng như: Bàn về vấn đề dịch ngữ song quan trong tên người, tên địa danh trong Hồng lâu mộng của Wang Jinbo và Wangyan (2004) [132]; Bàn về phương pháp dịch tên nhân vật trong Hồng lâu mộng trong hai bản dịch tiếng Anh của Hawkes và của Yang của Wang Jing (2010) [133]; Tìm hiểu vấn
đề dịch ngữ song quan trong tên nhân vật của Hồng lâu mộng trong bản dịch tiếng Anh của Yang Xianyi của Chen Ying (2016) [107] …Các nghiên cứu này đã khẳng
định tên riêng là một phần quan trọng trong cấu tứ nội dung và thể hiện tư tưởng, tôn chỉ của tác phẩm, và ẩn dụ ngữ âm trong tác phẩm là bút pháp nghệ thuật thể hiện sự tinh hoa, tinh túy của văn hóa ngôn ngữ Hán mà dịch giả cần phải hiểu rõ và nắm vững khi dịch để bản dịch được thành công Các nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt trong cảm nhận và mức độ nhận biết các nội dung hàm chứa trong mỗi tên riêng và chiến lược dịch những tên riêng giữa dịch giả là người bản ngữ và dịch giả của ngôn ngữ dịch là tùy vào mục đích dịch của dịch giả
Bài viết Khả năng luận giải của thuyết Quan yếu trong việc dịch ngữ song quan trong tên người trong tác phẩm Hồng lâu mộng của Chen Quanxian, Zhou
Yunrui, (2010) [104] so sánh, phân tích và chỉ ra những thông tin quan trọng trong
ẩn dụ ngữ âm bị mất đi trong bản dịch của Hawkes và của Yang, đồng thời vận dụng quan điểm dịch thuật của thuyết Quan yếu chỉ ra hai nguyên nhân gây ra sự thiếu sót này đó là do sự hạn chế trong xử lý ở phương diện tri nhận và do sự khác biệt của thể loại văn tự ngôn ngữ nguyên tác và ngôn ngữ dịch khác nhau dẫn đến
sự lược bỏ thông tin khi dịch
Ngoài ra còn có hàng trăm bài viết nghiên cứu về vấn đề chuyển dịch ẩn dụ
ngữ âm hay còn gọi là ngữ song quan trong Hồng lâu mộng sang tiếng Anh và các
thứ tiếng khác nhưng chủ yếu theo một mô típ, kế thừa các nghiên cứu đi trước và chưa có tính độ phá hay phát hiện mới Một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về các
vấn đề liên quan như luận văn Bàn về vấn đề dịch ngữ song quan trong Hồng lâu mộng của Zhang Yu (2011) tìm hiểu các phương pháp dịch ẩn dụ ngữ âm trong tên
Trang 38riêng, trong thơ và trong lời thoại của nhân vật sang tiếng Duy Ngô Nhĩ; luận văn
Thạc sĩ Nghiên cứu dịch ngữ song quan trong Hồng lâu mộng sang tiếng Anh của
Bao Shanshan (2016) đã dành chương 1 thảo luận về ẩn dụ ngữ âm và cách thức dịch sang tiếng Anh đã định hình rõ hơn về ẩn dụ ngữ âm, góp phần khơi gợi ý tưởng nghiên cứu cho luận án
Như vậy, có thể thấy rõ, đã có không ít nghiên cứu tập trung vào ẩn dụ ngữ
âm trong Hồng lâu mộng, và dù theo hướng tu từ truyền thống hay ngôn ngữ học tri
nhận, tất cả đều cho thấy ẩn dụ ngữ âm thực sự là phương thức truyền tải những ẩn
ý sâu xa từ tác phẩm đến độc giả, và độc giả nhờ đó có thể giải mã những ngụ ý của tác giả, hiểu hơn về giá trị đích thực của tác phẩm
Ở Việt Nam hiện chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt về Hồng lâu mộng từ góc độ ngôn ngữ, các công trình đã công bố chủ yếu vẫn từ góc độ văn học Tài liệu nghiên cứu về Hồng lâu mộng cũng như các văn bản Hồng học ở Việt Nam
còn khá hiếm, người đọc, người nghiên cứu khó có thể tiếp cận được Luận án của
chúng tôi tập trung nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng và vấn đề
chuyển dịch chúng sang tiếng Việt trong bản dịch của Vũ Bội Hoàng là hướng đi mới và không trùng lặp với bất kỳ đề tài nghiên cứu nào về ẩn dụ ngữ âm mà chúng tôi đã tìm hiểu Kết quả nghiên cứu của luận án là sự tổng hợp, phân loại, so sánh, phân tích hiện tượng này trên cơ sở các tài liệu tiếng Hán, với mong muốn cung cấp thêm thông tin, giúp độc giả hiểu thêm về một thế giới huyền ảo ngoài câu chữ của
Hồng lâu mộng
0.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án là:
- Các ẩn dụ ngữ âm trong lớp từ phỏng thanh, từ đồng âm và từ cận âm trong
tác phẩm Hồng lâu mộng (bản tiếng Trung Hồng lâu mộng bát hồi hiệu bản) bản
120 hồi của Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc do Nhà xuất bản Văn học Nhân dân Bắc Kinh ấn hành năm 1958
- Các phương pháp dịch ADNA trong Hồng lâu mộng trong bản dịch Việt ngữ
của nhóm Vũ Bội Hoàng (tái bản năm 1996)
Trang 390.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án là phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp miêu tả: được chúng tôi sử dụng để miêu tả đối tượng khảo sát
là ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng ở các phương diện phân loại, mô hình ẩn dụ
để thấy được đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa cũng như vai trò phong phú của ẩn dụ ngữ
âm Trên cơ sở số lượng và phân loại ẩn dụ ngữ âm, luận án miêu tả, phân tích các phương pháp dịch khi ứng dụng chuyển dịch các ẩn dụ ngữ âm sang tiếng Việt trong bản dịch của nhóm Vũ Bội Hoàng
- Phương pháp phân tích: được sử dụng để phân tích và khái quát ý nghĩa của
ẩn dụ ngữ âm nhằm chứng minh giá trị nghệ thuật và giá trị nội dung mà đối tượng nghiên cứu chuyển tải
- Phương pháp so sánh – đối chiếu : Phương pháp này được sử dụng lồng ghép
trong phần miêu tả c hiến lược chuyển dịch ẩn dụ ngữ âm Tìm hiểu cách chuyển dịch từ nguyên tác sang tiếng Việt cũng là một hình thức đối sánh để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ Ngoài ra luận án còn tiến
hành đối sánh hai điển dạng của ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng là ẩn dụ trong
từ mô phỏng âm thanh và trong tên riêng của bản dịch Việt ngữ với hai bản dịch Anh ngữ của Hawkes và Yang Việc đối chiếu không nhằm tìm ra sự tương đồng và
dị biệt giữa ẩn dụ ngữ âm trong tiếng Hán với tiếng Việt hay với tiếng Anh, mà chỉ
sử dụng như một phương tiện miêu tả hữu hiệu, làm nổi bật vai trò, giá trị ẩn dụ ngữ
âm và chiến lược chuyển dịch chúng sang tiếng Việt
Để triển khai phương pháp miêu tả có hiệu quả, chúng tôi sử dụng một số thủ pháp, thao tác cơ bản sau:
Thủ pháp nghiên cứu tư liệu:
- Nghiên cứu sách, báo, giáo trình, từ điển chuyên khảo, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ tri nhận, ẩn dụ, ẩn dụ ngữ âm và về nghiên cứu dịch thuật phục vụ cho mục đích hệ thống cơ sở lý thuyết của luận án
Trang 40- Nghiên cứu các sách báo, chuyên khảo, các công trình nghiên cứu về Hồng lâu mộng phục vụ cho mục đích nhận diện, tổng hợp, phân tích ẩn dụ ngữ âm trong
tác phẩm
Thủ pháp tổng hợp và chọn lọc ngữ liệu: tổng hợp và chọn lọc các trường
hợp ẩn dụ ngữ âm phù hợp yêu cầu và tiêu chí của luận án, làm cơ sở ngữ liệu cho
việc triển khai nghiên cứu ở chương 2 và 3
Thủ pháp phân loại: trên cơ sở phân loại ẩn dụ ngữ âm trong chương 1, chương 2 tiếp tục phân loại các ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng trên cơ sở ngữ
liệu đã tổng hợp, đồng thời tiến hành chọn lọc để làm cơ sở khảo sát các phương
pháp chuyển dịch chúng trong bản dịch Việt ngữ
Thủ pháp thống kê: Thủ pháp này cho thấy tần suất sử dụng ẩn dụ ngữ âm
trong tác phẩm, đồng thời cũng sử dụng tìm hiểu phương pháp, chiến lược dịch từng loại ẩn dụ ngữ âm để làm cơ sở miêu tả, đánh giá chiến lược chuyển dịch ẩn dụ ngữ
âm trong bản dịch
Thủ pháp hệ thống hóa: sắp xếp, phân loại, miêu tả đặc điểm phương pháp
dịch thuật ẩn dụ ngữ âm theo hệ thống phân loại của ẩn dụ ngữ âm Hệ thống hóa miêu tả giúp phân loại được đầy đủ hơn, chuẩn xác hơn, giúp cho việc phân tích và
đánh giá chiến lược dịch ẩn dụ ngữ âm toàn diện và sâu sắc hơn
Trong quá trình nghiên cứu, các thủ pháp, phương pháp trên được vận dụng đan xen, kết hợp, hỗ trợ lẫn nhau Luận án lựa chọn phương pháp phân tích định tính giữ vai trò chủ đạo, các dữ liệu định lượng sẽ là những thành tố bổ sung, làm cơ sở cho quá trình miêu tả, luận giải
Ngữ liệu phục vụ cho nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu được lấy từ các nghiên
cứu, sách khảo cứu về Hồng lâu mộng như sau:
- Huang Shengtai (2011) Nghiên cứu từ mô phỏng âm thanh trong Hồng lâu mộng và vấn đề chuyển dịch chúng trong tiếng Anh, LATS ĐH Ngoại ngữ Thượng
Hải, 2011;
- Du Bình Bá (1954) Chi Nghiễn Trai Hồng lâu mộng tập bình 《脂砚斋红楼
梦辑评》 (1954)