Trong xu thế phát triển và hội nhập toàn cầu như hiện nay, SV Việt Nam cần phải được tiếp cận với kiến thức về KN như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, tổ chức công việc và cuộc số
Trang 1NGUYỄN THỊ MINH CHÂU
BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI VIỆC HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn TS Vũ Thị Kim Hoa - người hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các nhà báo, biên tập viên, phóng viên, các bạn sinh viên,… đã dành thời gian trao đổi, tham gia trả lời phỏng vấn; các thầy cô ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã chỉ bảo, góp ý
và cung cấp tài liệu tham khảo; các anh chị học viên cùng lớp Cao học Báo chí khóa 18 tại thành phố Hồ Chí Minh đã đồng hành, hỗ trợ, giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình tôi - những người đã luôn sát cánh động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Châu
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Thị Kim Hoa - Phó Trưởng Ban Đào tạo sau đại học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Các kết quả công bố trong luận văn là hoàn toàn chính xác Các trích dẫn, tham khảo đều rõ nguồn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Châu
Trang 4Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN
TỬ VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO
1.2 Một số vấn đề cơ sở lý luận về báo mạng điện tử 19 1.3 Thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh 28
TRỢ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN
2.1 Thực trạng công tác giáo dục kỹ năng mềm của sinh viên trên
2.2 Tác động của báo mạng điện tử đối với việc hỗ trợ phát triển kỹ
năng mềm cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh 66
BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI VIỆC HỖ TRỢ PHÁT
TRIỂN KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN THÀNH PHỐ
3.1 Nhóm giải pháp về nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh
3.2 Nhóm giải pháp về hình thức thể hiện nội dung giáo dục kỹ năng
mềm cho sinh viên trên báo mạng điện tử 83 3.3 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho
Trang 6Thiếu KNM là một thực trạng đáng cảnh báo của SV hiện nay Một số liệu thống kê cho thấy, 37% SV ra trường không tìm được việc làm do thiếu KNM Theo kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu môi trường và các vấn đề
xã hội, tiến hành với hơn 1000 SV thuộc 10 trường ĐH, cao đẳng, 77% SV chưa từng biết về KN sống, dẫn đến lúng túng khi trả lời các kiến thức về KN sống và hầu hết chưa biết cách xử lý các tình huống Tiến sĩ Phùng Khắc Bình
- nguyên Vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh - SV, Bộ Giáo dục và Đào tạo - từng nhận định: “KN sống cho SV cũng quan trọng không kém tri thức chuyên ngành, bởi điều đó sẽ hình thành ở SV nhận thức và hành vi chuẩn đối với cuộc sống và công việc” PGS.TS Trần Quốc Thành (ĐH Sư phạm Hà Nội) cho rằng bạn trẻ hiện nay quan tâm trang bị tri thức khoa học chuyên ngành trong sách vở, ít chú ý đến việc rèn luyện để hình thành KN sống
Trong xu thế phát triển và hội nhập toàn cầu như hiện nay, SV Việt Nam cần phải được tiếp cận với kiến thức về KN như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, tổ chức công việc và cuộc sống, ứng xử với các tình huống khó xử trong cuộc sống, thể hiện bản thân, vv… để chủ động xử lý mọi tình huống trong cuộc sống và quan trọng hơn là khơi gợi những khả năng tư duy sáng tạo, biết phát huy thế mạnh bản thân, nhập cuộc nhanh, rút ngắn lộ trình
đi đến thành công
Từ khi hình thành đến nay, BC ngày càng khẳng định được vai trò, tác dụng của mình đối với mọi mặt đời sống xã hội, ảnh hưởng đối với các tầng lớp nhân dân - công chúng của BC Đặc biệt, sự ra đời của BMĐT làm thay đổi cục diện của BC Công chúng trẻ nồng nhiệt đón nhận và tiếp nhận những thông tin trên báo mạng Đáp ứng nhu cầu của công chúng, khá nhiều nội dung trên BMĐT dành cho giới trẻ Nhiều chuyên mục trong số đó có nội
Trang 7nhằm định hướng cho SV xác định những KN cần được học tập, rèn luyện Một số chủ đề KNM được BC xây dựng thành diễn đàn nhiều kỳ, đăng tải nhiều ý kiến trái chiều nhưng thiếu tổng kết, nêu quan điểm của tòa báo để định hướng cho SV về KN được trao đổi trên diễn đàn Báo mạng chưa tạo dư luận xã hội mạnh mẽ hơn để góp phần cải tiến chương trình đào tạo cư nhân theo hướng bổ sung nội dung KNM nhằm trang bị KN cho SV đáp ứng yêu cầu của các nhà tuyển dụng khi ra trường, bên cạnh kiến thức chuyên môn
Với tư cách là học viên Cao học BC, nghiên cứu về BC, đồng thời, xuất phát từ công việc là một cán bộ Đoàn tại một trường ĐH tại TPHCM,
gắn bó và đồng hành với SV, tôi chọn đề tài “Báo mạng điện tử đối với việc
hỗ trợ phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh (khảo sát VnExpress.net, Tuổi trẻ online, Thanh niên online” từ tháng 6/2012 - 6/2013) nhằm làm sáng tỏ nội dung trên và góp phần cung cấp cái nhìn tổng
quan, khoa học về vấn đề trên, phục vụ cho công tác của bản thân và đóng góp vào công tác Đoàn và phong trào SV của thành phố
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong phạm vi của luận văn và do tính chất của đề tài (về đặc điểm riêng của SV Việt Nam, cụ thể là SV TPHCM; đặc điểm BMĐT Việt Nam mới phát triển vũ bão trong những năm gần đây), tôi nghiên cứu và khảo sát các công trình nghiên cứu, sách, bài báo liên quan đến vấn đề này đã được thực hiện, cụ thể như sau:
Một số tác phẩm đề cập đến những nội dung gần nhất với đề tài của tôi tập trung vào tác động của BC đối với lối sống thanh niên, SV gồm có:
sách “Internet - SV - Lối sống: Một nghiên cứu xã hội học về phương tiện
truyền thông kiểu mới” (tác giả Nguyễn Quý Thanh Nxb ĐH Quốc gia Hà
Trang 8chung đến lối sống thanh niên, SV, cụ thể như sau: “Tác động của BC đối với
việc xây dựng lối sống tích cực của thanh niên, SV hiện nay” (Chủ nhiệm đề
tài PGS.TS Tạ Ngọc Tấn, TS Nguyễn Thị Thoa, TS Văn Đình Ưng, PGS.TS Dương Xuân Ngọc, TS Trần Đăng Tuấn Cơ quan chủ trì: Phân viện
BC và Tuyên truyền, 1998), “Tác động truyền thông đại chúng đến đời sống
SV TPHCM” (Chủ nhiệm đề tài CN Nguyễn Đỗ Tùng Cơ quan chủ trì:
Trung tâm Phát triển Khoa học và công nghệ Trẻ TPHCM, 2012), “Ảnh
hưởng của văn hóa nghe nhìn lên đời sống giới trẻ tại TPHCM” (Chủ nhiệm
đề tài TS Đỗ Nam Liên Cơ quan chủ trì: Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa học
và Văn học - Viện Khoa học Xã hội tại TPHCM, 2002) Bên cạnh đó là một
số bài báo cũng đề cập đến ảnh hưởng của BC đối với thanh niên, SV như:
“Ảnh hưởng của BC đối với thanh niên, SV” (tác giả Lê Đức Phúc Nguồn: Tạp chí Tâm lý học, 2005), “Tác động nhiều mặt của BC đối với giới trẻ” (tác giả Trần Quang Đại Nguồn: http://dantri.com.vn, 2011), “Truyền thông mạng
tác động lối sống giới trẻ: Hậu quả khó lường” (tác giả Tường Vân Nguồn:
www.sggp.org.vn, 2010), “Dư luận xã hội của công chúng thanh niên đô thị
Hải Phòng về một số yếu tố trong hoạt động truyền thông đại chúng” (tác giả
Đinh Thị Phương Thảo Tạp chí Tâm lý học, 2007)
Cụ thể hơn, một số tác phẩm đề cập đến ảnh hưởng của BC đối với công tác giáo dục thanh niên, SV về một mặt cụ thể nào đó Ví dụ như: đề tài
nghiên cứu: “BC với việc giáo dục văn hóa thẩm mỹ cho thế hệ trẻ Việt Nam
hiện nay” (Chủ nhiệm đề tài TS Đỗ Xuân Hà, Lê Bảo, Văn Giá, Trần Tố
Nga, PTS Nguyễn Quốc Toàn Cơ quan chủ trì: trường ĐH Tổng hợp Hà
Nội, 1995), sách “Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm
mỹ ở nước ta hiện nay" (tác giả Trần Ngọc Tăng Nxb Chính trị Quốc gia,
Trang 91999) hay bài báo “Giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống văn hóa cho
thanh niên trên truyền thông đại chúng” (tác giả Ngô Văn Thạo Nguồn: Tạp
chí Lý luận chính trị, 2010),
Bên cạnh đó, một số tác phẩm nghiên cứu về việc thanh niên, SV tiếp cận và sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó có BMĐT,
sách, báo trên mạng internet Cụ thể như các đề tài nghiên cứu “Thanh thiếu
niên Việt Nam với việc tiếp cận và sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng” (Chủ nhiệm đề tài ThS Nguyễn Thị Mai Hương, ThS Nguyễn Đình
Anh Nguồn: www.gopfp.gov.vn, 2010); “Điều kiện tiếp nhận sản phẩm BC
của thanh niên SV khu vực Hà Nội (khảo sát một số trường ĐH cao đẳng ở
Hà Nội) - Các chuyên đề” (Chủ nhiệm đề tài PGS.TS Nguyễn Văn Dững,
ThS Đỗ Thu Hằng, TS Văn Đình Ưng, TS Dương Tự Đam, ThS Trần Bá Dung, TS Nguyễn Sĩ Liêm Cơ quan chủ trì: Phân viện BC và Tuyên truyền,
2003); sách “Văn hóa nghe nhìn và giới trẻ” (tác giả Đỗ Nam Liên, Hà Thanh Vân, Huỳnh Vĩnh Phúc Nxb Khoa học xã hội, 2005) Hay các bài báo “SV và
văn hóa nghe nhìn” (tác giả Hồng Ngọc Diệu An Nguồn: http://enews.agu
edu.vn, 2009), “Trào lưu đọc sách online hút giới trẻ” (tác giả Lê Nho Việt
Nguồn: www.vietnamnet.vn, 2011)
Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu như trên, có thể thấy đã từng có các tác phẩm đề cập đến tác động hay ảnh hưởng của BMĐT đối với lối sống thanh niên, SV Một số đề tài nhiên cứu sâu vào một mặt tác động cụ thể của BC đối với thanh niên, SV như văn hóa, thẩm mỹ, chính trị tư tưởng, lối sống hay đạo đức cách mạng, vv Bên cạnh đó nhiều đề tài nghiên cứu theo chiều ngược lại, nghĩa là phân tích và chỉ ra được thanh niên, SV tiếp cận, sử dụng BMĐT và các phương tiện truyền thông đại chúng như thế nào
Trang 10Như vậy, chưa có đề tài nào nghiên cứu BMĐT đối với việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV Đồng thời, tại TPHCM, đã có đề tài nghiên cứu về tác động của truyền thông đại chúng lên đời sống SV tại TPHCM nhưng chưa
đề cập cụ thể đến tác động của BMĐT đến việc hỗ trợ phát triển KNM cho
SV thành phố
Luận văn của tôi sẽ nghiên cứu theo hướng tìm hiểu và đánh giá tác động của BMĐT đến việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV TPHCM Đây là một đề tài cá nhân tôi đánh giá là tương đối mới, gắn với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, khi thời gian gần đây xã hội và BC nói chung, đặc biệt là các BMĐT - kênh truyền thông đại chúng mà công chúng trẻ tiếp cận nhiều nhất - đặc biệt quan tâm đến KNM cho thanh niên nói chung và SV nói riêng Yếu tố này tạo một không gian trống để nghiên cứu và hứa hẹn nhiều điều thú vị, bổ ích Đồng thời, đề tài góp phần chứng minh chức năng giáo dục và kể cả chức năng phản biện xã hội của BC Việt Nam nói chung và BMĐT nói riêng trong giai đoạn phát triển nhanh thần tốc của BMĐT, góp phần khẳng định chức năng của BMĐT
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở đúc kết lý luận, nghiên cứu, khảo sát thực tiễn tác động của BMĐT đến việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV TPHCM, đề tài hướng tới mục tiêu đề xuất một số giải pháp để BMĐT định hướng nội dung và cách thức thông tin nhằm tăng cường hiệu quả và phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình trong việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV TPHCM
Trang 11- Khảo sát thực tế SV TPHCM nhằm đánh giá tác động của BMĐT đến việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV TPHCM
- Đánh giá ưu, khuyết điểm của việc tác động của BMĐT đến việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV TPHCM và phân tích nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp để BMĐT định hướng nội dung và cách thức thông tin nhằm tăng cường hiệu quả và phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình trong việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV TPHCM, góp phần vào đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xã hội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của BMĐT trong việc hỗ trợ phát triển KN thực mềm cho SV
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Khảo sát trên 03 trang BMĐT: www.tuoitre.vn; www.thanhnien com.vn;
www.vnexpress.vn trong vòng một năm: từ tháng 6/2012 đến tháng 6/2013
- Khảo sát SV 05 trường tại TPHCM: ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia TPHCM), ĐH Sư phạm TPHCM,
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu luận văn này trên cơ sở vận dụng những kiến thức lý luận trong các công trình nghiên cứu, các bài tổng quan, sách, tài liệu, bài báo,… về BC, BMĐT, KNM của thanh niên, SV
Trang 12Ngoài ra, để thực hiện đề tài luận văn này, tôi dự kiến sẽ áp dụng các
phương pháp nghiên cứu như:
- Nghiên cứu tài liệu: tra cứu các tài liệu bao gồm đề tài nghiên cứu,
các bài tổng quan, sách, bài báo, hồ sơ có liên quan đến đề tài để rút ra các thông tin cần thiết nhằm khái quát, bổ sung, hệ thống lý thuyết để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài
- Phương pháp thống kê, phân tích: để thống kê tài liệu, sự kiện, dữ liệu, số liệu, con số,… có được trong quá trình khảo sát để từ đó có những phân tích nhận định phù hợp với kết quả thu được một cách khoa học nhất
- Phương pháp khảo sát: tiến hành khảo sát các tin, bài cũng như các ứng dụng đa phương tiện (như video clip, các đoạn ghi âm, hình ảnh,…) đã được đăng trên 3 trang BMĐT: www.tuoitre.vn; www.thanhnien.com.vn; www.vnexpress.vn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát: phỏng vấn viết, được thực hiện cùng một lúc với nhiều SV theo một phiếu khảo sát (bảng hỏi) thực hiện bằng ứng dụng Google Docs trên trang www.drive.google.com, bao gồm
đa số các câu hỏi đóng để khảo sát tác động của BC đối với việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV Sau khi thu thập phiếu khảo sát thì phân tích dữ liệu khảo sát bằng phần mềm phân tích dữ liệu SPSS
- Phương pháp phỏng vấn sâu: ngoài việc điều tra bằng phiếu khảo sát bên cạnh các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích để có được những số liệu cụ thể khách quan, tin cậy thì để bổ sung cho phần thông tin định lượng, tôi dự kiến sẽ sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn sâu (phỏng vấn cá nhân), theo phương pháp nghiên cứu định tính, để hỏi sâu những vấn đề có liên quan Tôi sẽ tiến hành phỏng vấn sâu SV để có nhận định sâu hơn về vấn đề BMĐT
hỗ trợ phát triển KNM cho SV TPHCM, nhằm hoàn thiện cái nhìn tương đối tổng thể về vấn đề này
Trang 136 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, KNM là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm, trong đó
có SV - những người đang chuẩn bị hành trang vào đời, mở đầu bằng việc tìm kiếm việc làm Trong các giải pháp nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của KNM cũng như trang bị KNM cho người trẻ, trong đó có
SV, ngoài sách vở, các chương trình trang bị KNM thì truyền thông có vai trò quan trọng, đặc biệt là BMĐT - loại hình BC được SV sử dụng nhiều nhất hiện nay BMĐT đã “vào cuộc” các vấn đề truyền thông, cung cấp kiến thức
về KNM, góp phần mang lại hiệu quả xã hội trong việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV TPHCM Bên cạnh đó, làm thế nào để cải thiện chất lượng truyền
thông về KNM của BMĐT cũng là vấn đề đặt ra để nghiên cứu
7 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận về BMĐT và KNM
- Chỉ ra được thực trạng KNM của SV TPHCM
- Đánh giá được tác động của BMĐT trong việc hỗ trợ phát triển
KNM cho SV TPHCM
- Đưa ra được hệ thống giải pháp khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả của BMĐT trong việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV TPHCM
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trang 14- Đề xuất các giải pháp để BMĐT tăng cường hiệu quả, tác dụng của các chuyên mục, tác phẩm BC, đáp ứng ngày càng tốt hơn vai trò hỗ trợ phát triển KNM cho SV Qua đó, tăng lượng độc giả là SV với BMĐT, đặc biệt là những chuyên mục dành cho SV, thanh niên, những chuyên mục gắn với KNM
- Kết quả của luận văn có thể vận dụng vào việc khai thác, phát huy BMĐT, phương tiện truyền thông đại chúng trong việc giáo dục KNM cho
SV các trường ĐH trong công tác Đoàn, Hội và phong trào SV
- Đề xuất với Thành Đoàn, Hội SV Việt Nam TPHCM những cơ chế, chính sách, giải pháp phát huy vai trò BMĐT, phương tiện truyền thông đại chúng trong việc giáo dục KNM cho SV (trên cơ sở Thành Đoàn hiện đang sở hữu một số cơ quan BC gắn với thanh niên, SV: Báo Tuổi trẻ, Báo Mực tím, Truyền hình Thanh niên,… và kể cả website của Thành Đoàn)
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN
1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm kỹ năng mềm
1.1.1.1 Thế nào là kỹ năng mềm?
KN "mềm" (soft skills) là thuật ngữ dùng để chỉ các KN thuộc về trí tuệ cảm xúc (EQ) của con người như: một số nét tính cách (quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới), sự tế nhị, KN ứng xử, thói quen, sự lạc quan, chân thành, KN làm việc theo nhóm,… Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến sự xác lập mối quan hệ với người khác Những KN này
là những thứ thường không được học trong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không thể sờ nắm, nhưng không phải là KN đặc biệt
mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người KNM quyết định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc
Có nhiều định nghĩa khác nhau về KNM nhưng các định nghĩa đó đều thống nhất trên nội dung cơ bản
- Theo WHO (1993), năng lực tâm lý xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội KNM là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý
xã hội này Đó là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày
- Theo UNICEF, giáo dục dựa trên KNM cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức,
Trang 16thái độ, hành vi Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì, và làm như thế nào)
Như vậy, KN sống và KNM không hoàn toàn là một nhưng giữa chúng có nhiều phần chung KNM là một phần nội dung cơ bản của KN sống
Giáo dục KN sống được áp dụng theo nhiều cách khác nhau Ở một
số nơi, KN sống được kết hợp với các chương trình giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh Một số nơi khác, giáo dục KN sống nhằm vào giáo dục hành vi, cách cư xử, giáo dục an toàn trên đường phố, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống HIV / AIDS hay giáo dục lòng yêu hòa bình…
Giáo dục KNM là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và KN thích hợp
Vì vậy, giáo dục KNM cho học sinh, SV được hiểu là giáo dục những
KN mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp các bạn học sinh, SV có thể chuyển tải những gì mình biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ)
và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học sinh, SV biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống
Sau một thập kỷ áp dụng giáo dục KNM trên thế giới, các cuộc nghiên cứu đánh giá kết quả và cho thấy những thanh thiếu niên được giáo dục KNM đã có những hành vi đổi mới, những hành vi đó được quan sát thấy như sau:
- Biết hợp tác tốt trong đội, nhóm
- Có lối sống lành mạnh, nhận thấy trách nhiệm về sức khỏe của mình
- Giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình
- Biết phân tích có phán đoán các giá trị, quy chuẩn trong truyền thông và ngoài xã hội
Trang 17- Thành công hơn trong các cuộc phỏng vấn xin việc làm
- Biết tự khẳng định và xử sự bình đẳng
- Biết biểu lộ sự bao dung, sự tôn trọng người khác
- Ý thức về giá trị bản thân
- Nhạy bén đối với các vấn đề giới, tôn trọng quyền con người
- Biết quan tâm đến nhu cầu của người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ Dựa trên cách phân loại từ lĩnh vực sức khỏe, UNESCO đưa ra cách phân loại KNM thành 3 nhóm (UNESCO Hà Nội, 2003):
+ KN nhận thức: Bao gồm các KN cụ thể như: Tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, khả năng sáng tạo, tự nhận thức về bản thân, đặt mục tiêu, xác định giá trị
+ KN đương đầu với cảm xúc: Bao gồm động cơ, ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lý, tự giám sát và tự điều chỉnh
+ KN xã hội hay KN tương tác: Bao gồm KN giao tiếp; tính quyết đoán; KN thương thuyết/ từ chối; lắng nghe tích cực, hợp tác, sự thông cảm, nhận biết sự thiện cảm của người khác, vv…
Trong tài liệu về giáo dục KNM hợp tác với UNICEF (Bộ Giáo dục
và Đào tạo) đã giới thiệu cách phân loại khác, trong đó KNM cũng được phân thành 3 nhóm:
+ KN nhận biết và sống với chính mình gồm: KN tự nhận thức; lòng
tự trọng; sự kiên định; đương đầu với cảm xúc; đương đầu với căng thẳng
+ Những KN nhận biết và sống với người khác bao gồm: KN quan hệ/ tương tác liên nhân cách; sự cảm thông; đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác; thương lượng giao tiếp có hiệu quả
+ Các KN ra quyết định một cách hiệu quả bao gồm các KN: Tư duy phê phán; tư duy sáng tạo; ra quyết định; giải quyết vấn đề
Trang 18Danh mục các kỹ năng mềm
1 KN tự nhận thức (self-awareness)
2 KN nói (Oral/spoken communication skills)
3 KN viết (Written communication skills)
4 KN thương thuyết, thuyết phục (negotiation/persuation)
5 Làm việc theo nhóm, đội (Teamwork/collaboration skills)
6 KN suy nghĩ tích cực (Positive thinking)
7 Giải quyết vấn đề (Problem-solving skills)
8 KN ra quyết định (Decision making)
9 KN thiết lập mục tiêu (Goal setting)
10 KN kiểm soát tình cảm (Emotion management)
11 KN phát triển lòng tự trọng (Selfesteem)
12 Tự tạo động lực (Self-motivation/initiative)
13 Tư duy phê phán (Critical thinking)
14 Đối mặt với thách thức (Risk-taking skills)
15 Tính linh hoạt, thích ứng (Flexibility/adaptability)
16 KN lãnh đạo (Leadership skills)
17 KN liên kết, quan hệ (Interpersonal skills)
18 Chịu áp lực công việc (Working under pressure)
19 KN đặt câu hỏi (Questioning skills)
20 Tư duy sáng tạo (Creativity)
21 KN gây ảnh hưởng (Influencing skills)
22 Tổ chức (Organization skills)
23 KN thích nghi đa văn hoá (Multicultural skills)
24 Tinh thần học hỏi (Academic/learning skills)
25 Định hướng chi tiết công việc (Detail orientation)
26 KN đào tạo, truyền thụ (Teaching/training skills)
27 KN quản lý thời gian (Time management skills)
Trang 191.1.1.2 Các kỹ năng cần thiết đối với sinh viên
Những KN thuộc hai nhóm những KN cơ bản và nhóm những KN chuyên biệt sau đây là những KN rất cần thiết cho sinh viên đã được tập hợp trong cuốn: “Cẩm nang những KN thực hành xã hội cần thiết cho SV”
Những KN cơ bản bao gồm: KN giao tiếp, KN làm việc nhóm, KN học ĐH, KN xây dựng hình ảnh bản thân
Những KN chuyên biệt: KN hội nhập và thích nghi, KN sống tự lập,
KN thiết lập và cam kết thực hiện mục tiêu, KN giải tỏa stress, cân bằng hoạt động học tập với các hoạt động khác, KN lãnh đạo, KN giải quyết vấn đề, KN định hướng nghề nghiệp, KN tìm việc và phỏng vấn, KN tư duy sáng tạo
Ngoài những KN cụ thể được hệ thống theo hai nhóm trên còn nhiều
KN khác Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, ta chỉ đề cập đến các KNM
đã được Hội SV TPHCM nghiên cứu, hệ thống hóa và xác định là những KNM cần thiết đối với SV kể trên
1.1.2 Khái niệm báo mạng điện tử
BMĐT là loại hình BC hiện đại nhất hiện nay BMĐT ra đời kể từ sau khi internet ra đời, được biết đến đầu tiên là tờ Chicago Tribune (tháng 5/1952) tại Mỹ và ở Việt Nam là trang điện tử http//quehuongonline.vn của tạp chí Quê hương của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc
Bộ Ngoại giao Việt Nam (ngày 31/12/1997)
Có nhiều tên gọi đối với loại hình BC này trên thế giới: báo điện tử (electronic journal), báo trực tuyến (online newspaper), báo mạng (cyber newspaper), BC internet (internet newspaper) và BMĐT Trong đó, khái niệm thông dụng nhất ở Việt Nam ta là báo điện tử
Theo TS Nguyễn Thị Trường Giang - Học viện BC - Tuyên truyền: báo điện tử là tên gọi được thể hiện trước hết trong các văn bản pháp quy của Nhà nước, đồng thời, thể hiện ở tên gọi của các BMĐT thuộc các cơ quan báo
in nước ta Nghị định 55/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 của Chính phủ về Quản lý và cung cấp dịch vụ Internet, tại điều 12 có ghi: “Dịch vụ thông tin
Trang 20trên Internet là một loại hình dịch vụ ứng dụng Internet, bao gồm dịch vụ phát hành BC (báo in, báo hình, báo điện tử), phát hành xuất bản phẩm trên Internet và dịch vụ cung cấp các loại hình điện tử khác trên Internet” Luật số 12/1999/QH10 ngày 12/6/1999 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BC được Quốc hội nước ta thông qua ngày 28/12/1989, tại điều 3, chương 1 cũng
có ghi “báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài” để chỉ loại hình
BC này Dù vậy, khái niệm này khá chung chung, không thể hiểu rõ được đây
là loại hình BC phát hành trên mạng: mạng LAN của tòa soạn hay mạng internet Báo phát thanh, truyền hình cũng là báo điện tử Cho nên việc sử dụng tên này nếu cũng sẽ dễ gây nhầm lẫn
Báo trực tuyến là khái niệm được đưa ra trên cơ sở tiếp cận từ đặc trưng nổi trội của loại hình truyền thông này làm tên gọi Thuật ngữ này được
sử dụng đầu tiên ở Mỹ và nay trở thành cách gọi quốc tế Đối với Việt Nam
ta, thuật ngữ “trực tuyến” (online) trong các từ điển tin học được dùng để chỉ trạng thái của một máy tính khi đã kết nối với mạng máy tính và sẵn sàng hoạt động Thuật ngữ này thường được giới trẻ sử dụng nhiều hơn các đối tượng khác Nguyên nhân là do tên gọi cũng chưa được thuần Việt
Báo mạng cũng là cách gọi được nhiều người sử dụng, là cách gọi tắt của báo mạng internet Cách gọi này nếu xét về chuyên môn BC hay công nghệ thông tin thì đều chưa chính xác vì có nhiều loại mạng khác nhau Internet là mạng của các mạng, bao gồm nhiều loại mạng nên gọi như thế sẽ không phân biệt mạng hay mạng internet
Báo internet: kết hợp tên gọi của internet với một tờ báo Internet cung cấp không gian cho một tờ báo hoạt động Tờ báo dùng Internet làm phương tiện truyền tải và hoạt động trên Internet Thế nhưng, cách gọi này cũng dễ gây nhầm lẫn là tất cả các trang web có mặt trên Internet đều là BMĐT trong khi thực tế không phải như vậy và cũng dễ nhầm lẫn cho một độc giả bình thường giữa một trang web với một tờ báo internet
Trang 21Năm 2003, các cán bộ nghiên cứu và giảng dạy truyền thông đại chúng của Học viện BC và Tuyên truyền đã thảo luận và thống nhất tên gọi là
BMĐT Từ đó, mở một chuyên ngành đào tạo mới: BMĐT và thành lập tổ bộ
môn BMĐT Tên gọi này phù hợp nhất hiện nay vì: khẳng định được loại hình BC này hoạt động trên không gian internet; giúp ta hiểu chính xác đặc trưng của loại hình này: tính đa phương tiện, tính tương tác cao, tính tức thời, tính phi định kỳ, khả năng truyền thông tin không hạn chế,…
Như vậy, về khái niệm của BMĐT, theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững:
“BMĐT là một loại hình BC - truyền thông tồn tại, phát triển trên mạng Internet toàn cầu” [8, tr.123]
Còn theo TS Nguyễn Thị Trường Giang: “BMĐT là một loại hình
BC được xây dựng dưới hình thức một trang web và phát hành trên mạng Internet” [16, tr.53]
Hai khái niệm nêu trên về BMĐT cơ bản thể hiện được đặc điểm đặc trưng của loại hình BC này, phân biệt được với các loại hình BC khác
Dù vẫn còn được luận bàn, song từ hai khái niệm trên, ta đã có thể xác định khái niệm như sau: “BMĐT là một loại hình báo chí được xây dựng, tồn tại dưới hình thức một trang web và phát hành trên mạng Internet”
1.1.3 Cơ chế tác động của báo mạng điện tử
BMĐT như đã phân tích ở trên là một loại hình BC, một bộ phận của truyền thông đại chúng Do vậy, sự tác động của BMĐT, cơ chế tác động của BMĐT cũng tuân thủ theo cơ chế tác động của truyền thông đại chúng
Theo từ điển tiếng Việt, cơ chế “là cách thức theo đó một quá trình thực hiện” Quá trình và cách thức đó bao gồm các công đoạn và mối quan hệ giữa chúng theo một trật tự logic nhằm hướng tới đối tượng với một mục đích nào đó
Có nhiều mô hình truyền thông trên thế giới và trong nước do các học giả, các nhà nghiên cứu về BC truyền thông xây dựng Qua nhiên cứu nhiều
mô hình, tác giả luận văn chọn dẫn chứng mô hình tổng quát về cơ chế tác động của BC - truyền thông, trong đó có BMĐT theo quan điểm của PGS.TS
Trang 22Nguyễn Văn Dững trong quyển sách Cơ sở lý luận báo chí (nhà xuất bản Lao động, 2012) vì mô hình này khá phù hợp khi phân tích về cơ chế tác động của BMĐT đối với công chúng trẻ trong việc hỗ trợ phát triển KNM cho SV
Thực tiễn được nhà báo nhận thức và phản ánh thông qua tác phẩm
BC, sản phẩm BC “Phản ánh thông tin giúp nhiều người cùng hiểu biết, cùng thống nhất nhận thức (hoặc giảm dần sự khác biệt), cùng chia sẻ để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, vv , nhằm thúc đẩy xã hội phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân” [8, tr.146]
Tác phẩm, sản phẩm BC sau khi được mã hóa sẽ được truyền tải thông qua kênh truyền thông, ở đây phân tích là kênh BMĐT, tác động vào quần chúng xã hội, cụ thể là vào ý thức quần chúng Nói đến tác động của BMĐT đối với ý thức quần chúng đồng thời cũng có nghĩa là tác động vào dư luận xã hội Tại đây BMĐT đã tạo ra được hiệu lực của mình đối với công chúng Hiệu lực này thể hiện ở chỗ góp phần hình thành tri thức và nhận thức chính trị, hoặc hình thành tri thức mới, nhận thức mới cho công chúng
Thực tiễn (sự kiện và vấn đề thời sự)
Chủ thể (nhà báo)
Thông điệp (tác phẩm
và sản phẩm báo chí)
Kênh truyền thông (báo
in, phát thanh, truyền hình, BMĐT ,…)
Ý thức quần chúng (hay công chúng )
Nhận thức (chính trị)
Hiểu biết tri thức tổng hợp
Thái
độ, hành
vi
Hiệu lực Hiệu quả tác động
Mối quan hệ giữa hiệu lực và
hiệu quả
Trang 23“Hiệu lực tác động của BC là năng lực tạo ra sự quan tâm, thu hút sự chú ý của công chúng, tạo ra những chấn động dư luận xã hội, khơi thức, truyền dẫn, có thể định hướng và điều hòa dư luận xã hội” [8, tr.150]
Hiệu lực tác động của ấn phẩm BC phụ thuộc vào: tính chất, quy mô, năng lực và mối quan hệ tác động của các sự kiện và vấn đề thông tin trong mối quan hệ của công chúng và dư luận xã hội; sức thuyết phục và độ tin cậy của nguồn tin; thời điểm thông tin; vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm BC
Cũng tại nơi ý thức công chúng mà BMĐT tác động vào, con đường từ chỗ hình thành nhận thức và hiểu biết dẫn đến việc tác động vào thái độ, hành vi của con người để làm thay đổi hoặc hình thành hành vi mới, thái độ mới chính là con đường cho thấy hiệu quả tác động Hiệu quả tác động của con người mà trên bình diện chung của toàn xã hội là tạo ra hiệu quả xã hội
Hiệu quả - theo từ điển tiếng Việt - là “kết quả thực của việc làm mang lại” Kết quả thì có thể nhận biết ngay nhưng hiệu quả thì thường cần có thời gian và thể hiện qua nhiều tầng nấc, nhiều dạng thức, nhất là hiệu quả hoạt động xã hội Hiệu quả tác động của BMĐT - cũng là hiệu quả tác động của BC truyền thông “được thể hiện qua nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng xã hội về những vấn đề cơ bản, bức xúc, thiết thực của tiến trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như việc hình thành nhân cách, diện mạo văn hóa của mỗi cá nhân và niềm tin chính trị” [8, tr.151]
Những chuyển biến về nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng và đông đảo nhân dân phù hợp với mục đích, yêu cầu, tác động của BMĐT là tập hợp của những kết quả và hiệu ứng xã hội cụ thể thể hiện hiệu quả tác động của BMĐT
Ở BMĐT, tần suất tương tác giữa chủ thể và công chúng truyền thông
có điều kiện thực hiện tốt nhất, nên năng lực và hiệu quả tác động lớn nhất
Trang 241.2 Một số vấn đề cơ sở lý luận về báo mạng điện tử
1.2.1 Chức năng của báo mạng điện tử
Nói đến chức năng của BC chính là nói đến mục đích của hoạt động
BC, nói đến vấn đề người ta viết báo để làm gì; vì sao công chúng đọc, nghe, xem tác phẩm BC; ý nghĩa xã hội của BC ra sao,…
Tuy nhiên, truyền thông đại chúng nói chung, BC nói riêng, cụ thể là BMĐT là một hiện tượng tinh thần độc đáo, phức tạp; muốn xác định chức năng của nó cần phải xem xét trên nhiều quan hệ khác nhau
1.2.1.1 Chức năng thông tin
Thông tin là chức năng cơ bản, chức năng khởi nguồn của BC BC ra đời là để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu thông tin giao tiếp của con người và xã hội Xã hội càng phát triển, con người càng văn minh thì nhu cầu thông tin giao tiếp càng cao, càng đa dạng phong phú
Ở BMĐT, chức năng này càng được thể hiện mạnh mẽ nhờ vào sự vượt trội trong việc cung cấp thông tin nhanh, sức lan tỏa rộng
1.2.1.2 Chức năng tư tưởng
Chức năng tư tưởng là chức năng xuyên suốt, thể hiện tính mục đích của BC Với chức năng này, theo quan điểm của Đảng ta, BC là công cụ, phương tiện quan trọng dùng để truyền bá hệ tư tưởng của Đảng, giáo dục lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Với BMĐT, thoạt đầu thì tưởng như chức năng này không phải là thế mạnh, nhưng với những ưu thế của BMĐT đã trình bày ở phần chức năng thông tin, BMĐT lại thực hiện tốt chức năng này khi mà giờ đây, đại bộ phận công chúng sử dụng BMĐT có thể đọc thấy và tự tìm thấy những nội dung lý luận trên và góp phần tăng diện rộng và độ phủ, góp phần làm cho hệ tư tưởng
- lý luận này trở thành chủ đạo, chiếm ưu thế trong đời sống tinh thần, tư tưởng của đông đảo nhân dân BMĐT cùng với các loại hình BC khác tham gia hợp thành binh chủng xung kích, đi đầu trong công tác tư tưởng của Đảng
Trang 251.2.1.3 Chức năng khai sáng - giải trí
Chức năng khai sáng - giải trí được hiểu rằng, BMĐT không chỉ là kênh thông tin - truyền thông quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, mà còn là diễn đàn trao đổi, chia sẻ KN và kinh nghiệm phong phú nhằm nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững
Giải trí là nhu cầu ngày càng đòi hỏi cao trong điều kiện kinh tế thị trường Giải trí cũng là cách thức phổ biến, bảo vệ hệ giá trị văn hóa BMĐT tham gia và tạo điều kiện giúp công chúng sử dụng thời gian rỗi hợp lý, đáp ứng nhu cầu cân bằng trạng thái tâm lý để tái sản xuất sức lao động BMĐT là loại hình BC có nhiều phương thức giải trí thú vị và hữu ích cùng với truyền hình, phát thanh
Theo Thomas Jefferson: “BC là công cụ tốt nhất cho việc mở mang trí tuệ của con người, và nâng con người lên trở thành có lý trí, phẩm hạnh, và mang tính xã hội”
Đây là chức năng quan trọng để làm căn cứ nghiên cứu về đối tượng của đề tài
1.2.1.4 Chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội
Chức năng quản lý, giám sát xã hội của BMĐT thể hiện ở chỗ, BMĐT tham gia duy trì và phát triển mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể quản lý thông qua việc duy trì và phát triển dòng thông tin hai chiều, bảo đảm cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi
Thực hiện phản biện xã hội là BMĐT góp phần tập hợp trí tuệ và cảm xúc của toàn thể nhân dân, trước hết là lực lượng chuyên gia bậc cao, các tầng lớp trí thức xã hội góp ý cho các quyết sách lớn của nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
1.2.1.5 Chức năng kinh tế - dịch vụ
Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế và dịch vụ là một trong những hoạt động cơ bản, thiết thực của các cơ quan BC để phát triển tờ báo mình
Trang 26Trong đó có quảng cáo là hoạt động tiêu biểu và các dịch vụ xã hội như tư vấn sức khỏe, KNM, giới thiệu việc làm,
Các chức năng của BMĐT không tồn tại độc lập và phát huy hiệu lực một cách riêng lẻ mà phải phối hợp và hỗ tương nhau để hiệu quả của nó được đảm bảo thực thi tốt nhất
Trong khuôn khổ luận văn, chúng ta sẽ đặc biệt quan tâm đến chức năng khai sáng và phản biện xã hội của BMĐT
1.2.2 Cấu trúc tin, bài của báo mạng điện tử
Cấu trúc tin, bài trên BMĐT được tổ chức theo nhiều cửa:
1.2.2.1 Tít chính
Tít chính là đầu đề, tiêu đề, nhan đề của tin, bài “Tít phải khái quát được cả nội dung của bài báo trong một cấu trúc ngôn ngữ định danh xác định, chuẩn mực, ngắn gọn và có thể có sức biểu cảm (đối với nhiều loại tít); tít phải được trình bày hấp dẫn (về market)” [21, tr.141]
Tít và bài có mối quan hệ chặt Tít thể hiện nội dung của bài Đôi khi,
“tít còn có tác dụng nâng bài lên một tầm mới” [21, tr.141] Những trường hợp tít không thể hiện được hết nội dung, thậm chí không ăn nhập vào bài thì
là do lỗi đặt tít
1.2.2.2 Sapô (chapeau)
Sapô là đoạn văn mở đầu hay phi lộ giới thiệu tóm tắt nội dung bài,
nằm giữa tít và bài báo “Xét về phương pháp thông tin, có hai loại sapô chính: tóm tắt thông tin cốt lõi của tác phẩm và nhắc lại thông tin, gợi sự liên tưởng tới những thông tin đã có từ trước” [53, tr.101]
Tin, bài BMĐT nào nhất thiết cũng phải có sapô vì yêu cầu đọc thông tin tóm tắt của công chúng (đặc điểm công chúng ít thời gian nhưng lại muốn tiếp nhận nhiều thông tin nhất nên đôi khi chỉ đọc phần sapô) Sapô là câu trả lời cho việc công chúng quyết định có đọc tiếp hay không nên sapô cần hấp dẫn, lôi cuốn được người đọc đến với toàn bộ nội dung thông tin
Trang 271.2.2.3 Chính văn (phần thân)
Chính văn là toàn bộ nội dung chính của tin, bài Chính văn trong BMĐT được viết ngắn gọn, đúng trọng tâm, dễ hiểu, cụ thể và rõ ràng, không diễn đạt lòng vòng, phức tạp Theo ông Thang Đức Thắng - Tổng Biên tập VNExpress: sử dụng tối thiểu con chữ để thể hiện lượng tối đa thông tin, thỏa mãn thông tin, ý thích của người đọc chứ không phải của người viết
1.2.2.4 Tít phụ
Tít phụ đóng vai trò định vị sự việc: chỉ rõ thời gian và địa điểm hoặc đưa ra miền thông tin “Người ta không đọc thông tin theo dòng mà theo từng khối Vì vậy, khi viết cho BMĐT cần cắt thông tin làm nhiều khối và thêm tít con trong bài” [8, tr.205]
1.2.2.5 Hình ảnh tĩnh (still image)
Hình ảnh tĩnh gồm ảnh chụp và hình họa, gắn với nội dung thông tin, tham gia chuyển tải thông tin và góp phần vào thành công của tác phẩm BC nói riêng và sản phẩm BC nói chung Vì hình ảnh thu hút người đọc hơn là chữ viết và góp phần thôi thúc người đọc đọc tác phẩm Nếu hình ảnh tốt, phản ánh đúng nội dung thông tin thì người đọc chỉ cần đọc và hiểu được nội dung tác phẩm Hình ảnh tĩnh còn có tác dụng giúp mắt người đọc nghỉ ngơi khi lướt trên trang báo
1.2.2.6 Hình ảnh động (animation)
Hình ảnh động: là tập hợp nhiều hình ảnh tĩnh và được thể hiện qua hình thức slideshow (trình diễn ảnh) và animation Nhiều hình ảnh khác nhau được sắp xếp theo một trật tự nhất định để tự động hiển thị nối tiếp nhau trên màn hình Đi kèm mỗi ảnh có chú thích
Trang 281.2.2.8 Audio
Audio là âm thanh được sử dụng trong BMĐT, gồm tiếng nói, tiếng động, âm nhạc, các chương trình phát thanh trên web Audio giúp bài báo gần gũi hơn với người tiếp nhận Audio phản ánh khách quan thông tin, tăng sức thuyết phục và nó diễn đạt hơn hẳn văn bản
1.2.2.9 Video
Video gồm hình ảnh và âm thanh Bản thân nó đã mang tính đa phương tiện Khi video được tích hợp với hình ảnh tĩnh và văn bản thì nó giúp BMĐT vượt trội hơn các loại hình BC trước đó
1.2.2.9 Các box thông tin tư liệu, hộp dữ liệu
Hộp dữ liệu là “phần tư liệu mở rộng, có vai trò bổ trợ, làm rõ hơn, sâu hơn cho các chi tiết, nội dung chính của tác phẩm” [53, tr.104] Nó có nhiệm vụ tham gia cắt thông tin làm nhiều khối theo yêu cầu đặc điểm của việc đọc báo của độc giả trên màn hình máy tính, điện thoại
“Phần tư liệu mở rộng gồm: con số ấn tượng, bảng biểu, ảnh; một hay nhiều đoạn phỏng vấn ngắn những nhân vật tuy không liên quan nhưng lại có những suy nghĩ, đánh giá đúng về sự kiện; tư liệu bổ sung chi tiết trong phần thân (mở rộng hoặc chuyên sâu); ý kiến lãnh đạo và chuyên gia” [53, tr.104]
Trang 291.2.3 Đặc điểm của báo mạng điện tử
1.2.3.1 Khả năng đa phương tiện
Người ta nói BMĐT là một loại hình BC tổng hợp, tích hợp nhiều công nghệ (multimedia) Trên một tờ báo mạng, thậm chí ngay trong một tác phẩm báo mạng có thể tích hợp cả báo viết, báo phát thanh và báo hình Được trực quan những hình ảnh, video clip, lắng nghe những âm thanh mà không hề
bị phụ thuộc vào các yếu tố thời gian, không gian
1.2.3.2 Tính tức thời và phi định kỳ
Nhờ vào sự phát triển của công nghệ, máy vi tính và đặc biệt là vai trò của mạng toàn cầu Internet, các nhà báo trực tuyến có thể dễ dàng xâm nhập
sự kiện, nhanh chóng viết bài và gửi về toà soạn thông qua hệ thống thư điện
tử Với tốc độ đường truyền nhanh, thậm chí các nhà báo có thể đưa tin cùng lúc với sự kiện
BMĐT còn cho phép nhà báo thường xuyên update thông tin Điều này khác với báo giấy hoặc các loại hình BC khác ở chỗ nhà báo có thể đăng tải thêm tin tức bất cứ lúc nào mà không phải chờ đến giờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình như ở các loại hình BC khác Chính vì thế mà người ta còn cho BMĐT một đặc trưng là tính phi định kì
Đặc điểm này giúp cho báo mạng dễ dàng vượt trội hơn so với các loại hình BC khác về tốc độ thông tin, lượng thông tin, đảm bảo tính thời sự
và tạo ra sự thuận tiện cho độc giả
1.2.3.3 Tính tương tác
Tính tương tác là một trong những đặc trưng quan trọng của BC Khi
mà mọi điều kiện của con người được nâng cao, nhu cầu được đáp ứng về thông tin, cũng như sự tương tác với BC của độc giả càng được coi trọng
Ở bất kì loại hình BC nào, tính chất này cũng được những người làm báo lưu tâm Đối với báo mạng, nhờ có những đặc trưng nổi trội về công nghệ
mà dường như tính tương tác có vẻ cao hơn so với các loại hình còn lại
Trang 30Ngoài ra còn có thể thấy sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật trong tác phẩm BC
Quá trình tương tác trên BMĐT nhanh chóng và thuận tiện hơn nhiều
so với các loại hình BC khác Ngay sau mỗi tác phẩm BC đăng trên trang BMĐT đều có mục phản hồi, ngoài ra còn có rất nhiều kênh tương tác khác như feedback, vote, email, forum,… tiện cho độc giả dễ dàng đóng góp ý kiến của mình Điều này khó thấy trên báo hình, phát thanh hay báo giấy
1.2.3.4 Khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin
BMĐT cho phép lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học, với một lượng khổng lồ thông tin lưu trữ Đồng thời với đó là khả năng tìm kiếm dễ dàng nhờ vào các mục tìm kiếm với các từ khoá được đính kèm trên mỗi trang BMĐT Có thể xem theo ngày, xem theo bài, hoặc theo chủ đề,… Nếu không
có điều kiện đọc ngay lúc online, độc giả báo mạng có thể lưu bài viết lại để đọc sau, hoặc là độc giả cũng có thể đọc lại nhiều lần tuỳ thích, mà thao tác hoàn toàn đơn giản Điều này với truyền hình hay phát thanh là vô cùng khó
1.2.3.5 Khả năng liên kết lớn
BMĐT có khả năng liên kết vô cùng lớn nhờ vào các siêu liên kết (hyperlink), các từ khóa, web link,… Từ một bài báo, độc giả có thế dễ dàng tìm kiếm những thông tin liên quan thông qua các liên kết để tìm hiều sâu hơn
về vấn đề quan tâm Hoặc từ một trang báo, có thể dễ dàng đi đến các web liên kết khác chỉ với một thao tác click chuột
Khả năng liên kết của BMĐT thật sự mở ra một kho thông tin vô hạn cho độc giả
1.2.3.6 Tính xã hội hoá cao, khả năng cá thể hoá tốt
Nhờ vào sự phủ sóng của mạng toàn cầu Internet, BMĐT không có giới hạn về khoảng cách, thêm vào đó là tính tương tác cao, do đó dễ dàng có thể thấy tính xã hội hoá rất cao ở loại hình BC mới mẻ này
Tuy nhiên, BMĐT lại cũng có khả năng cá thể hoá tốt Điều này thoạt nghe tưởng như mâu thuẫn, nhưng hoàn toàn không phải Tính cá thể hoá
Trang 31được thể hiện ở chỗ người đọc được chủ động lựa chọn tờ báo, trang báo, bài báo theo nhu cầu, đọc bao lâu tùy thích
Ngoài ra, BMĐT có độ lan toả cao, dễ dàng đính chính, chi phí thấp
do chỉ phải post bài một lần duy nhất, đồng thời thông tin lại có giá trị sử dụng cao hơn do được đọc theo nhu cầu của độc giả
Tuy vậy, BMĐT còn một vài hạn chế, đó là độ tin cậy của thông tin còn thấp, muốn đọc được báo mạng thì độc giả ít nhất cũng phải có máy tính nối mạng, và biết những thao tác sử dụng đơn giản nhất
1.2.4 Công chúng của báo mạng điện tử
BMĐT là một loại hình BC mới, mang những đặc điểm riêng khác biệt so với các loại hình BC truyền thống Chính sự khác biệt này đã quy định cho báo mạng một đối tượng độc giả riêng, mang những nét đặc thù khác biệt
so với đối tượng công chúng độc giả của các loại hình BC truyền thống
1.2.4.1 Độc giả báo mạng điện tử có trình độ nhất định so với mặt
bằng xã hội
Do tính đặc thù của mình mà BMĐT đặt ra những yêu cầu nhất định đối với độc giả của mình Và yêu cầu đầu tiên là vấn đề trình độ của độc giả Điều này có thể dễ dàng nhận thấy bởi hầu hết những người truy cập internet cũng như theo dõi thông tin trên BMĐT đều là những người có trình độ nhất định Ở nước ta, gần như 100% độc giả BMĐT thuộc những đối tượng tri thức sống, làm việc, học tập ở những trung tâm thành phố lớn Họ là những nhà hoạt động chính trị, xã hội, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, kinh doanh, giáo viên, học sinh, SV,… Công việc và nhu cầu sống của họ quy định việc thường xuyên tiếp xúc và theo dõi những thông tin trên BMĐT, hơn thế nữa
để có thể sử dụng và theo dõi những thông tin trên BMĐT cũng đòi hỏi những độc giả này có sự hiểu biết về internet, về máy tính,… Chính vì vậy có thể nói công chúng BMĐT ở Việt Nam là những người thuộc tầng lớp trí thức trong
xã hội và xét về địa điểm công chúng báo mạng là những người tập trung hầu hết ở các thành phố lớn
Trang 321.2.4.2 Độc giả báo mạng có điều kiện và khả năng sử dụng công
nghệ hiện đại
Đặc trưng của loại hình BMĐT là internet và máy vi tính, chúng gắn liền với nhau Độc giả muốn tiếp nhận những thông tin BMĐT bên cạnh việc biết chữ như báo in thì cần phải có những điều kiện công nghệ và khả năng về công nghệ nhất định Đó là cần có trang thiết bị máy tính và kết nối internet
để có thể truy cập vào các trang báo điện tử Tiếp đó là vấn đề xử lý và sử dụng công nghệ như thế nào để có thể tiếp nhận thông tin từ những trang báo điện tử này đòi hỏi công chúng báo mạng cần có những hiểu biết, khả năng về công nghệ để có thể sử dụng máy vi tính và xử lý những vấn đề tin học trong quá trình tiếp nhận thông tin từ BMĐT
Công chúng BMĐT là những người có điều kiện để có thể trang bị cho mình những trang thiết bị kỹ thuật như internet và lắp đặt internet để có thể tiếp nhận thông tin từ báo mạng hoặc là đủ điều kiện để có thể tiếp nhận thông qua những dịch vụ internet có trả phí, đó còn là những công nhân viên chức làm việc tại các văn phòng, cơ quan,… - những địa điểm có trang bị đầy
đủ máy tính và nối mạng Ngoài ra còn vấn đề sử dụng công nghệ, có thể nói công nghệ vào Việt Nam khá muộn chính vì vậy ở Việt Nam lực lượng tiếp nhận và có những KN về công nghệ hầu hết là những người trẻ, có độ tuổi trung bình dưới 40 tuổi
1.2.4.3 Độc giả báo mạng điện tử thường có quỹ thời gian hạn hẹp
Một trong những khả năng ưu thế của BMĐT so với các loại hình BC khác là khả năng cung cấp lượng thông tin lớn, nhanh chóng và cập nhật Đặt trong điều kiện cuộc sống hiện đại khi mà thời gian dành cho việc tiếp nhận thông tin không nhiều có thể thấy sự ưu thế của BMĐT
Từ đây có thể thấy công chúng BMĐT là những người muốn tiếp thu thông tin một cách nhanh chóng, tức họ là những người có ít thời gian dành cho việc tiếp nhận thông tin hằng ngày, đó là những người làm việc tại các
Trang 33công sở, là những người nghiên cứu Họ muốn có thông tin trong một khoảng thời gian ngắn nhưng được chắt lọc và đầy đủ, phục vụ tốt nhu cầu, và thích hợp nhất chính là BMĐT
1.2.4.4 Độc giả báo mạng điện tử là những người có nhu cầu thông
tin cao
BMĐT không giống các loại hình BC khác là nó mang một lượng thông tin khổng lồ, không bị giới hạn bởi bất cứ điều gì, chính vì vậy, lượng thông tin mà độc giả có thể tìm thấy trên inetnet là rất lớn, nó tạo thế mạnh cho báo điện tử khi thu hút những công chúng có nhu cầu thông tin cao Không chỉ vậy, công chúng báo mạng là những người lao động trí óc, chính vì vậy nhu cầu thông tin của họ trong cuộc sống là rất lớn, mà báo mạng có thể đáp ứng được
Công chúng báo mạng loại này có thể là những người nghiên cứu, học tập hoặc những nhà kinh doanh,… Họ cần tìm thông tin để đáp ứng nhu cầu của mình, và họ tìm đến BMĐT
Từ đó có thể chỉ ra rằng, công chúng BMĐT ở Việt Nam phần lớn là những người trẻ, có độ tuổi trung bình không quá 40, họ hầu hết là những người đang sống, làm việc, học tập tại các thành phố lớn, do những yêu cầu của công việc và nhu cầu hằng ngày, họ tìm đến BMĐT nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của mình Trong đó có lực lượng SV
1.3 Thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1 Đặc điểm của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1.1 Đặc điểm chung của sinh viên
SV là những người mà lứa tuổi có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách
Trang 34SV là một nhóm xã hội đặc biệt, đang tiếp thu những kiến thức, KN chuyên môn ở các trường cao đẳng, ĐH để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường
SV có hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức, KN, kỹ xảo nghề nghiệp ở các trường cao đẳng, ĐH Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên - SV là sự phát triển tự ý thức Nhờ có
tự ý thức phát triển, SV có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Chẳng hạn SV đang học ở các trường cao đẳng, ĐH sư phạm, họ nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp, qua đó họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học
Ở SV đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày SV là những trí thức tương lai, ở các bạn sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở ĐH là cơ hội tốt để SV được trải nghiệm bản thân Vì thế, SV rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách
để khẳng định mình
Một đặc điểm nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của SV, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp họ học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn
SV là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục khác nhau, không phải bất cứ SV nào cũng được phát triển
Trang 35tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi SV
Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, mặc dù là những người có trình độ nhất định, SV không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin
Lứa tuổi SV có những nét điển hình kể trên, đây là thế mạnh của họ
so với các lứa tuổi khác Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, KN, SV cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của SV
Được Đảng dành nhiều sự quan tâm, đầu tư cho thanh niên, trí thức thông qua hai nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa X của Đảng: Nghị quyết về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, nghị quyết về “Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục góp phần giáo dục SV nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về tư tưởng, từ đó xây dựng cho mình một lối sống đẹp, có hoài bão, ước mơ và nhận thức phải trang bị đầy đủ kiến thức, KNM để trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội
1.3.1.2 Đặc điểm của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
Trong điều kiện tình hình kinh tế - xã hội của thành phố và đất nước phát triển, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, giáo dục và đào tạo ở bậc ĐH, cao đẳng tiếp tục được đổi mới thì số lượng SV, số lượng các trường ĐH, cao đẳng trên địa bàn thành phố phát triển mạnh, chất lượng từng bước được cải thiện SV thành phố phần lớn thể hiện sự năng động, cần
cù trong học tập, nghiên cứu khoa học, tích cực rèn luyện, tham gia các hoạt động tình nguyện [25, tr.2]
Trang 36Nhận thức, thái độ, lối sống của SV TPHCM chuyển biến theo chiều hướng tích cực SV ngày càng quan tâm hơn đến thời cuộc, đến sự phát triển của đất nước và thành phố, tin tưởng vào đường lối của Đảng, phấn đấu vì sự phát triển và vị thế của đất nước Ý thức về các giá trị truyền thống, văn hóa, dân tộc ngày càng tiến bộ; trách nhiệm đối với cộng đồng, ý thức sống và làm việc theo pháp luật ngày một nâng cao SV thành phố ngày càng năng động, sáng tạo, chủ động trong học tập, nâng cao trình độ chuyên môn và các KN xã hội; ngày càng coi trọng giá trị thực của tri thức và nắm bắt nhanh những tiến
bộ về khoa học công nghệ SV có ý thức cống hiến sức trẻ và khả năng, trình
độ chuyên môn của mình cho cộng đồng xã hội
Trong điều kiện giáo dục và đào tạo vẫn còn nhiều vấn đề chưa theo kịp những yêu cầu của quá trình xây dựng và phát triển đất nước Giáo dục
ĐH áp dụng phương thức đào tạo tín chỉ, trong khi đó điều kiện cơ sở vật chất học tập, giảng dạy còn nhiều khó khăn, đội ngũ giảng viên, chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy chưa đổi mới kịp thời dẫn đến chất lượng đào tạo SV còn có khoảng cách với nhu cầu xã hội và với trình độ chung của khu vực và thế giới trong bối cảnh cạnh tranh về thị trường lao động, công nghệ,
kỹ thuật, yêu cầu về nguồn lao động trên địa bàn thành phố ngày càng cao Chính sách thu hút nhân tài, đãi ngộ của hệ thống các cơ quan Nhà nước cho tài năng trẻ chưa thỏa đáng Sự định hướng những giá trị sống tốt đẹp cho SV trước sự bùng nổ thông tin và làn sóng du nhập của văn hóa từ các quốc gia khác còn nhiều hạn chế Các thế lực thù định tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam, luôn tìm cách lôi kéo, vận động SV đi ngược đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Một bộ phận SV thành phố sống thiếu lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, thiếu ý thức chấp hành pháp luật; dễ bị các thế lực thù địch lôi kéo;
có lối sống thực dụng, đua đòi, lãng phí; đề cao cá nhân; có biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống, cá biệt có một số SV sa vào tệ nạn xã hội; có biểu
Trang 37hiện coi trọng bằng cấp, xem nhẹ việc học tập, rèn luyện thực chất; thiếu kiến thức và KNM trong quá trình hội nhập.
1.3.2 Thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
Trong xu thế hội nhập ngày càng cao của đất nước, khoa học kỹ thuật phát triển, nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực cung cấp cho xã hội ngày càng cao thì yêu cầu đào tạo KNM trong SV đã và đang đặt ra như là một vấn đề của toàn xã hội
Trong thời đại mới, ngoài kiến thức, mỗi chúng ta rất cần trang bị cho mình những KN để ngày càng hoàn thiện bản thân và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Vì vậy, việc trang bị KNM cần song hành với việc trang
bị văn hóa Đó là một trong những bước chuẩn bị đầu tiên cho quá trình định hướng xây dựng KN trong SV
SV TPHCM chủ động trong học tập, nâng cao trình độ chuyên môn
và các KNM Bên cạnh những hoạt động giáo dục, rèn luyện KNM do nhà trường, Đoàn - Hội và các tổ chức chính trị - xã hội khác tổ chức, một bộ phận SV đã tự tổ chức được những hoạt động nhằm tự tạo môi trường để rèn luyện KNM Bên cạnh đó vẫn có một bộ phận SV còn yếu về năng lực thực hành, thiếu KNM, hạn chế về tác phong công nghiệp [25, tr.2] Nhìn chung, mặt bằng KNM của SV TPHCM dù cao hơn mặt bằng SV các tỉnh thành khác song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc và cuộc sống của chính họ cũng như đòi hỏi của xã hội “SV TPHCM còn yếu về năng lực thực hành, thiếu KNM, hạn chế về tác phong công nghiệp” [25, tr.2]
Theo khảo sát của Trung tâm Hỗ trợ Học sinh - SV TPHCM khảo sát trên 500 SV thành phố về đánh giá của SV về tầm quan trọng của KNM (tài liệu này gọi là KN thực hành xã hội), kết quả 100% đều nhận định KNM có vai trò quan trọng và cần thiết Trong số SV khảo sát, nếu SV năm cuối 92,03% SV đánh giá là “rất cần thiết” trong khi đó SV năm nhất chỉ là 50% đánh giá như vậy Và sang năm thứ 2, thứ 3, nhận thức về tầm quan trọng của KNM ngày càng tăng
Trang 38Như vậy sự quan tâm của SV đến vấn đề KNM là tăng dần qua quá trình học Điều này thể hiện kết quả của việc tuyên truyền cho SV về tầm quan trọng của KNM
Nhìn nhận về KN trong xã hội nói chung và trong SV nói riêng vẫn còn có một số vấn đề đáng quan tâm như sau:
Thứ nhất: theo Nghiên cứu của Viện Giáo Dục Việt Nam thì hiện nay
trong 100% SV tốt nghiệp ra trường đã có đến 83% SV đánh giá là thiếu KNM Trong số 100% SV ra trường thì có đến 37% SV không tìm được việc làm phù hợp vì nhiều nguyên nhân trong đó do yếu tố KN là chủ yếu Con số này cho ta cái nhìn tổng thể thực tế KN rất yếu trong hầu hết SV
Theo thống kê của Viện Khoa học lao động (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) dự báo, đến năm 2020, lực lượng trong độ tuổi lao động là 57,5 triệu người Sẽ có khoảng 50 triệu lao động có việc làm và khoảng 27,5 triệu người được đào tạo nghề Trong đó, trình độ trung cấp nghề chiếm 14,4%, cao đẳng nghề và kỹ sư thực hành 13,6%, sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng là 72%
Dự thảo cũng nêu, từ nay đến 2020, sẽ đưa khoảng 800.000 người đi làm việc nước ngoài, bảo đảm 100% lao động xuất khẩu phải qua đào tạo nghề, trong đó 50% có trình độ trung cấp trở lên Thế nhưng đó là một quãng thời gian khá dài Trong khi trước mắt, nước ta có khoảng 400.000 doanh
Trang 39nghiệp, nhưng lượng lao động đáp ứng nhu cầu về chuyên môn và KN quá thấp cứ 2.000 hồ sơ xin việc được nộp vào chỉ có 40 hồ sơ đạt yêu cầu Đó là một con số đánh giá được tổng quan về chất lượng thật sự của SV so với yêu cầu thực tế của doanh nghiệp Khoảng cách này là quá xa
Thứ hai: Theo đánh giá mới nhất do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp
với Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kỳ, trong 59 trường ĐH được khảo sát, chỉ
có gần 50% SV đáp ứng được nhu cầu về tiếng Anh, gần 20% không đáp ứng
và phần còn lại cần phải được đào tạo thêm
Theo điều tra mới đây của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: SV sau khi tốt nghiệp có đến hơn 13 % phải đào tạo lại hoặc bổ sung KN mới, gần 40 % phải kèm cặp tại nơi làm việc và hơn 41 % cần làm quen với công việc một thời gian mới có thể làm được
Như vậy những số liệu trên cho ta thấy chất lượng giáo dục về KN cần được chú trọng đúng mức hơn nữa
Thứ ba: Hiện nay do nhu cầu thực tế của các khoá KNM đang tăng
lên cho nên cũng nở rộ những đơn vị đào tạo KNM Tuy nhiên, về chương trình đào tạo, nội dung, giá thành của mỗi đơn vị khác nhau Tùy từng "mảng"
KN, các trung tâm tạo ra thế mạnh cho riêng mình bằng cách mời những giảng viên chuyên môn trong lĩnh vực đó về giảng dạy Tuy vậy, nét riêng của từng nơi chưa nhiều
Số lượng các đơn vị đào tạo KN rất nhiều nhưng chưa có một sự kiểm định chung nào cho các đơn vị này Điều này cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng SV sau khi đào tạo về khả năng ứng dụng vào thực tế
Thứ tư: Việc đào tạo KN cho SV tại các trường ĐH, cao đẳng cũng
chưa được thật sự chú trọng, việc tổ chức học chỉ dừng ở các buổi hội thảo chuyên đề, chưa có một chương trình được nghiên cứu và dành riêng theo từng giai đoạn phát triển của SV
Từ những thực trạng và nhu cầu thực tiễn nêu trên, vấn đề đặt ra là cần định hướng để làm giảm khoảng cách chênh lệch giữa thực tế đào tạo, tự
Trang 40đào tạo KNM và nhu cầu xã hội là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách Đây cũng là một mảng đề tài khá hay để BMĐT khai thác cũng như quan tâm để thực hiện chức năng khai sáng, phản biện xã hội của mình
1.4 Giới thiệu về các báo khảo sát
1.4.1 Báo Tuổi trẻ online: www.tuoitre.vn (Cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Hồ Chí Minh)
Báo Tuổi Trẻ ra đời chính thức ngày 02/9/1975 Số báo Tuổi Trẻ đầu tiên phát hành với số lượng khoảng 5.000 bản/tuần Trụ sở đầu tiên của báo Tuổi Trẻ tại 55 Duy Tân (nay là Phạm Ngọc Thạch, Q.3, TPHCM) Tiền thân của tờ báo này bắt đầu từ những tờ truyền đơn và bản tin inroneo của SV, học sinh Sài Gòn trong phong trào chống Mỹ những ngày chiến trang Việt Nam
Đến tháng 7/1981, Tuổi Trẻ được phát hành hai kỳ/tuần (thứ tư và thứ bảy) với số lượng 30.000 bản/kỳ Ngày 10/8/1982, Tuổi Trẻ tăng lên ba kỳ phát hành mỗi tuần (thứ ba, thứ năm, thứ bảy)
Ngày 16/01/1983, Tuổi Trẻ Chủ nhật ra đời với số lượng khoảng 20.000 tờ mỗi kỳ Bảy năm sau, Tuổi Trẻ Chủ nhật đạt kỷ lục 131.000 tờ trong năm 1990 Ngày 01/01/1984, Tuổi Trẻ Cười ra đời, là tờ báo trào phúng duy nhất của Việt Nam lúc đó Số lượng phát hành ban đầu khoảng 50.000, sau đó nhanh chóng tăng đến 250.000 tờ vào cuối năm đó
Đến ngày 01/9/2000, số thứ sáu được phát hành Sau đó, 2 số thứ
tư và thứ hai lần lượt được xuất bản vào các ngày 23/01 và 07/10/2002 Báo điện tử Tuổi Trẻ Online ra mắt chính thức ngày 01/12/2003 Được xuất bản lần đầu dưới thời Tổng biên tập Lê Hoàng năm 2003 Chưa đầy hai năm sau, TTO đã vươn lên vị trí thứ ba về số lượt truy cập trong bảng xếp hạng tất cả các website tiếng Việt trên thế giới Sau đó, nhanh chóng trở thành ấn phẩm
có tốc độ phát triển nhanh mạnh nhất với thứ hạng khoảng 740 trên thế giới
và trong top 10 ở Việt Nam Hiện nay trên 4.500.000 lượt truy cập/ngày Ngày 20/3/2010, báo điện tử TTO đổi tên miền từ www.tuoitre.com.vn thành www.tuoitre.vn và thay giao diện mới