1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về công tác cán bộ trong xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cán bộ trong xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên ở tỉnh bắc giang hiện nay

126 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên ở tỉnh Bắc Giang hiện nay
Tác giả Lê Phương Linh
Người hướng dẫn GS, TS. Dương Xuân Ngọc
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ (16)
  • 1.2 Yêu cầu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong xây dựng đội ngũ giảng viên các trường dạy nghề tỉnh Bắc Giang hiện nay (34)
  • 1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong xây dựng đội ngũ giảng viên các trường dạy nghề tỉnh Bắc (40)
  • Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG DẠY NGHỀ TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH (45)
    • 2.1 Thực trạng đội ngũ giảng viên một số trường dạy nghề tỉnh Bắc Giang hiện (45)
    • 2.2 Thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên một số trường dạy nghề tỉnh Bắc Giang hiện (53)
    • 2.3 Những vấn đề đặt ra trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên một số trường dạy nghề tỉnh Bắc Giang hiện nay (71)
  • Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH (76)
    • 3.1 Phương hướng xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề tỉnh Bắc (76)
    • 3.2 Giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề tỉnh Bắc Giang hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh (86)
  • KẾT LUẬN (101)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (103)
  • PHỤ LỤC (107)

Nội dung

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ

1.1.1 Về cán bộ 1.1.1.1 Khái niệm cán bộ, nhà giáo

Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

Cán bộ đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt chính sách của Đảng và Chính phủ đến người dân, giúp họ hiểu và thực hiện các chính sách đó Đồng thời, cán bộ cũng có trách nhiệm báo cáo tình hình của dân chúng để Đảng và Chính phủ có thể điều chỉnh chính sách cho phù hợp.

Trong từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1993, cán bộ có 2 nghĩa:

Người làm công tác chuyên môn trong cơ quan Nhà nước và người có chức vụ trong tổ chức được phân biệt rõ ràng với những người không có chức vụ.

Trong Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, xuất bản năm 1999, cán bộ có nghĩa nhƣ sau:

Cán bộ là những người có chuyên môn nghiệp vụ làm việc trong cơ quan Nhà nước, nhằm phân biệt với những người không thuộc nhóm công chức, viên chức Nhà nước.

Người làm công tác có chức vụ trong cơ quan, tổ chức là đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, phân biệt với những người không có chức vụ Bộ phận này được hình thành thông qua bầu cử dân chủ hoặc quá trình đề bạt, bổ nhiệm.

Trong cuốn “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa”, PGS,TS Nguyễn Phú Trọng và PGS,TS Trần Xuân Sầm định nghĩa rằng cán bộ là những người giữ chức vụ quan trọng trong tổ chức, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động và các mối quan hệ trong lãnh đạo, quản lý, từ đó góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức.

Theo Luật cán bộ, công chức được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, cán bộ được định nghĩa là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn hoặc bổ nhiệm vào các chức vụ trong cơ quan của Đảng Cộng sản, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội Cán bộ làm việc tại các cấp trung ương, tỉnh, thành phố, huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh, có biên chế và nhận lương từ ngân sách nhà nước.

Trong luận văn này, cán bộ được định nghĩa là những người lãnh đạo, quản lý, chuyên môn, nhà khoa học, công chức hoặc viên chức, những người làm việc và nhận lương từ ngân sách Nhà nước hoặc các nguồn khác Họ được hình thành thông qua các hình thức bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt và phân công.

Trong xã hội phong kiến, thầy đồ được coi là những người có tâm và tài, được tôn vinh bởi cả cộng đồng Vai trò của người thầy giáo không chỉ là truyền thụ tri thức mà còn là giáo dục đạo đức, giúp học trò trở thành những công dân có ích cho xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa “người thầy giáo” để chỉ những cá nhân tham gia vào công tác giáo dục và nhiệm vụ “trồng người” trong xã hội.

Theo Từ điển Tiếng Việt, nhà giáo được định nghĩa là những người làm nghề dạy học Luật Giáo dục 2005, Điều 70 khoản 3, đã xác định rõ tên gọi của nhà giáo tại các cơ sở giáo dục khác nhau: giáo viên là những người giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, trong khi giảng viên là những người dạy ở cơ sở giáo dục đại học.

1.1.1.2 Quan điểm về vai trò và nhiệm vụ của cán bộ, nhà giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng cán bộ là yếu tố quyết định cho mọi công việc, với sự thành công hay thất bại phụ thuộc vào chất lượng cán bộ Cán bộ không chỉ là bộ phận quan trọng trong bộ máy Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, mà còn là cầu nối giữa chính sách của Đảng và Chính phủ với người dân Họ có trách nhiệm giải thích chính sách cho dân chúng và báo cáo tình hình của dân đến các cấp lãnh đạo Do đó, cán bộ được coi là lực lượng tinh túy nhất của xã hội, giữ vai trò trung tâm và quan trọng trong hệ thống chính trị của đất nước.

Giáo dục là trách nhiệm chung của toàn Đảng và toàn dân, nhưng những người thực hiện nhiệm vụ này chính là các nhà giáo Các thầy cô giáo đóng vai trò tiên phong trong lĩnh vực tư tưởng và văn hóa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của người giáo viên, cho rằng yếu tố quyết định chất lượng giáo dục là việc xây dựng và chăm sóc đội ngũ giáo viên.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò và nhiệm vụ của người thầy có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời Vai trò quan trọng của người thầy trong xã hội được thể hiện rõ nét qua các nhiệm vụ mà họ đảm nhận.

Theo Người, giáo viên có vai trò quan trọng trong việc đào tạo cán bộ cho đất nước, truyền bá lý tưởng đạo đức và các giá trị văn hóa của dân tộc Họ bồi dưỡng phẩm chất và năng lực sáng tạo cho thế hệ trẻ, phù hợp với sự phát triển xã hội Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng không có giáo viên thì không có giáo dục, và không có giáo dục thì không thể phát triển kinh tế - văn hóa Trách nhiệm của người thầy là dạy dỗ con em nhân dân trở thành công dân, lao động, chiến sĩ và cán bộ tốt cho đất nước.

Trong bài phát biểu tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội (10/1964), Người nói:

Nghề giáo viên là một trong những nghề vĩ đại nhất, đóng góp tích cực vào việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản Những thầy giáo tốt, dù không nổi tiếng hay nhận huân chương, vẫn là những anh hùng vô danh, có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ Nếu không có sự dạy dỗ của họ, việc xây dựng xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó, nghề thầy giáo không chỉ quan trọng mà còn rất vinh quang, và những quan điểm sai lệch về nghề này cần phải được điều chỉnh.

Yêu cầu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong xây dựng đội ngũ giảng viên các trường dạy nghề tỉnh Bắc Giang hiện nay

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khoá X đã thông qua Nghị quyết số 27-NQ/TƯ về việc “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước” Nghị quyết nhấn mạnh vai trò quan trọng của trí thức Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Việc xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh không chỉ nâng cao trí tuệ dân tộc mà còn tăng cường sức mạnh đất nước và năng lực lãnh đạo của Đảng Đầu tư vào đội ngũ trí thức chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững.

Việc xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội và hệ thống chính trị, với Đảng và Nhà nước đóng vai trò quyết định Trí thức cần phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chuyên môn để đóng góp cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Cần thực hành dân chủ và tôn trọng tự do tư tưởng trong nghiên cứu, sáng tạo nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Đồng thời, cần tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của trí thức và trọng dụng họ dựa trên đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến, cùng với chính sách đặc biệt đối với nhân tài.

Nghị quyết 27-NQ/TW đặt mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức mạnh mẽ, chất lượng cao và cơ cấu hợp lý đến năm 2020, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và tiến tới ngang tầm với trí thức các nước tiên tiến Để đạt được điều này, cần gắn bó chặt chẽ giữa Đảng, Nhà nước và trí thức, đồng thời tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên liên minh công-nông-trí thức Trong những năm tới, cần hoàn thiện các cơ chế, chính sách hiện có và xây dựng các chính sách mới để phát huy hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức, đồng thời xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ trí thức đến năm 2020.

Theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu trở thành nước công nghiệp hiện đại, trong đó phát triển nguồn nhân lực là một trong ba giải pháp đột phá Chất lượng dạy nghề đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống pháp luật về dạy nghề tại Việt Nam đã được thiết lập đồng bộ, với hệ thống dạy nghề chính quy gồm ba cấp độ: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề Mạng lưới cơ sở dạy nghề đã được mở rộng và phân bố hợp lý theo các ngành kinh tế và vùng miền Đến năm 2010, cả nước có 123 trường cao đẳng nghề, 300 trường trung cấp nghề, 810 trung tâm dạy nghề và hơn 1.000 cơ sở khác tham gia vào hoạt động dạy nghề.

Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, các trường dạy nghề cần hiện đại hóa cơ sở vật chất và đa dạng hóa loại hình đào tạo Để đáp ứng yêu cầu này, cần có đội ngũ giảng viên mạnh mẽ, có khả năng làm chủ công nghệ mới và dẫn dắt người học đến tri thức, hình thành kỹ năng chuyên môn, sự thành thạo và niềm đam mê nghề nghiệp.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định cho sự cạnh tranh kinh tế - xã hội của các quốc gia Cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao ngày càng gia tăng trên quy mô toàn cầu, yêu cầu người lao động phải có kỹ năng nghề cao và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế Đào tạo theo hướng cầu đã trở thành phương pháp hiệu quả, được áp dụng rộng rãi tại các quốc gia phát triển.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ:

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo là cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, với mục tiêu nâng cao chất lượng theo các tiêu chí chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, được xác định là một đột phá chiến lược Để đạt được điều này, cần đẩy mạnh đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu xã hội và thiết lập cơ chế, chính sách liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo cơ hội thúc đẩy phát triển dạy nghề và nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao Sự hội nhập quốc tế sâu rộng giúp dạy nghề tiếp cận kiến thức và công nghệ mới, đồng thời mở rộng trao đổi kinh nghiệm và thu hút nguồn lực bên ngoài, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của giáo dục dạy nghề.

Trong những năm qua, đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN) đã tăng nhanh về số lượng, từ khoảng 33.000 GVDN vào năm 2010, gấp gần 4 lần so với năm 2001 Chất lượng giáo viên cũng được nâng cao, với 85% giảng viên đạt chuẩn trình độ cao đẳng nghề và 75% giáo viên đạt chuẩn trình độ trung cấp nghề.

Gần 49% giáo viên tại các trung tâm dạy nghề có trình độ sư phạm đạt chuẩn Hiện nay, khoảng 46,3% giáo viên có khả năng giảng dạy tích hợp cả lý thuyết và thực hành nghề.

Công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề (GVDN) đã có nhiều cải cách và mở rộng mạng lưới các cơ sở đào tạo Hiện nay, ngoài 4 trường đại học sư phạm kỹ thuật, đã có gần 30 khoa sư phạm dạy nghề tại các trường cao đẳng nghề uy tín, nhằm nâng cao kỹ năng nghề và nghiệp vụ sư phạm cho GVDN.

Chính sách đối với Giảng viên Dạy nghề (GVDN) đang ngày càng được chú trọng, với việc GVDN được áp dụng các chính sách chung dành cho nhà giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân Bên cạnh đó, GVDN còn được hưởng một số chế độ và chính sách riêng biệt, bao gồm chế độ làm việc, chế độ sử dụng, và bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ Đặc biệt, có chính sách phụ cấp cho giảng viên khi dạy thực hành các nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, cũng như phụ cấp đặc thù dành cho GVDN là người tàn tật, khuyết tật.

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả và tiến bộ, công tác phát triển và đổi mới cơ chế chính sách cho đội ngũ giáo viên dạy nghề vẫn còn nhiều bất cập và tiến độ khắc phục rất chậm.

Mặc dù số lượng giáo viên dạy nghề (GVDN) đã tăng lên trong những năm qua, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu đổi mới và phát triển dạy nghề Tỷ lệ học sinh quy đổi trên mỗi giảng viên hiện chỉ đạt 26 học sinh, sinh viên/giáo viên, trong khi mục tiêu đặt ra là 20 học sinh, sinh viên/giáo viên vào năm 2010 Để đạt được mục tiêu này, số lượng GVDN cần phải tăng cường đáng kể trong thời gian tới.

2015 có khoảng 51.000 người và năm 2020 là 77.000 người

Cơ cấu ngành nghề đào tạo giáo viên dạy nghề (GVDN) hiện chưa hợp lý, với nhiều nghề thiếu giáo viên được đào tạo bài bản và kỹ năng nghề còn hạn chế Tỷ lệ giáo viên dạy tích hợp thấp hơn yêu cầu của chương trình đào tạo, trong khi trình độ ngoại ngữ và tin học của GVDN còn yếu, ảnh hưởng đến khả năng cập nhật công nghệ mới và áp dụng phương pháp sư phạm hiện đại Khả năng phát triển chương trình và biên soạn giáo trình, tài liệu dạy nghề cũng còn hạn chế Các trường đại học sư phạm kỹ thuật chỉ đào tạo sư phạm kỹ thuật cho khoảng 30 nghề trong tổng số hơn 400 nghề, chiếm 7,5% tổng số danh mục nghề đào tạo, dẫn đến tình trạng dư thừa giáo viên dạy nghề cho một số nghề trong khi nhiều nghề khác lại thiếu hụt nghiêm trọng.

Những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong xây dựng đội ngũ giảng viên các trường dạy nghề tỉnh Bắc

1.3.1 Những yếu tố địa lý tự nhiên

Bắc Giang là một tỉnh miền núi trung du thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, nằm giáp ranh với tỉnh Lạng Sơn ở phía bắc và đông bắc, tỉnh Thái Nguyên ở phía tây và tây bắc, cùng với các tỉnh Bắc Ninh và Quảng Ninh ở phía nam và đông nam.

Bắc Giang có hệ thống giao thông quan trọng với các trục đường bộ, đường sắt và đường thủy, bao gồm Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn dẫn đến cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng Ngoài ra, các trục quốc lộ liên vùng như Quốc lộ 31 và Quốc lộ 37 kết nối Bắc Giang với Lạng Sơn, Móng Cái (Quảng Ninh), Hải Dương, Hải Phòng và cảng Cái Lân (Quảng Ninh) Hệ thống giao thông còn được bổ sung bởi đường sắt Kép - Quảng Ninh và các tuyến đường thủy qua sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam.

Bắc Giang, cách thủ đô Hà Nội khoảng 50 km, nằm gần các trung tâm công nghiệp và đô thị lớn trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, bao gồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh.

Vị trí địa lý thuận lợi đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế liên vùng và tăng cường giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, các tỉnh Đông Bắc, cũng như các tỉnh thành khác trên toàn quốc.

Bắc Giang, với vị trí địa lý thuận lợi, có tiềm năng phát triển thành một đầu mối kinh tế quan trọng, kết nối khu vực kinh tế cửa khẩu Lạng Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Hồng Sự phát triển kinh tế của tỉnh cũng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ giáo viên dạy nghề, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của tỉnh và cả nước.

1.3.2 Những yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội

Giai đoạn 2001-2010, tỉnh ghi nhận sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ với tốc độ bình quân gần 9% mỗi năm GDP bình quân đầu người đã tăng hơn 2,7 lần, đạt 650 USD/người vào năm 2010.

Từ năm 2001 đến 2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8,3%, với nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,1%, công nghiệp- xây dựng tăng 19,7%, và dịch vụ tăng 7,6% Giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn, đạt 9%, trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 17,9%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,6%, và dịch vụ tăng 9,8% Tổng cộng, trong giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 8,7%, với công nghiệp- xây dựng tăng 19%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,8%, và dịch vụ tăng 8,6%.

Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tích cực, với tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng, trong khi tỷ trọng lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm Cụ thể, năm 2001, công nghiệp - xây dựng chiếm 14,7%, dịch vụ 35,5%, và nông, lâm nghiệp và thủy sản 49,8% Đến năm 2005, tỷ trọng tương ứng là 23,3% cho công nghiệp - xây dựng, 34,6% cho dịch vụ, và 42,1% cho nông, lâm nghiệp và thủy sản Đến năm 2010, cơ cấu kinh tế đã khá cân bằng, với nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 32,5%, công nghiệp - xây dựng 33,6%, và dịch vụ 33,9%.

Sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp và tăng tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp - dịch vụ đã diễn ra rõ rệt Năm 2001, tỷ lệ lao động trong nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 82,7%, trong khi công nghiệp - xây dựng chỉ chiếm 6,1% và dịch vụ 11,2% Đến năm 2005, tỷ lệ lao động trong nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống 78,2%, công nghiệp - xây dựng tăng lên 8,5%, và dịch vụ đạt 13,3% Đến năm 2010, tỷ lệ lao động trong nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giảm còn 69,3%, trong khi công nghiệp - xây dựng tăng lên 14,6% và dịch vụ đạt 16,1%.

Sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp như Đình Trám, Song Khê - Nội Hoàng và các xí nghiệp May Hàn Quốc đã làm gia tăng nhu cầu lao động trên địa bàn tỉnh.

Nhu cầu đào tạo nghề cho người lao động ngày càng tăng, dẫn đến sự phát triển của các khu, cụm công nghiệp Bắc Giang không chỉ thu hút các ngành nghề sử dụng nhiều lao động như may công nghiệp, giầy da, điện tử, mà còn chú trọng đến việc phát triển các ngành công nghệ cao, sử dụng lao động có kỹ thuật và ít gây ô nhiễm môi trường, như công nghệ thông tin và cơ khí chế tạo.

Để đào tạo nguồn lao động chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh và cả nước, việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN) là rất quan trọng Đội ngũ này cần đảm bảo cả về số lượng lẫn chất lượng, nhằm đào tạo những thế hệ người lao động có tay nghề vững vàng và phẩm chất đạo đức tốt, phục vụ cho sự phát triển của đất nước.

1.3.3 Yếu tố cơ chế, chính sách về công tác cán bộ

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN) Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 đã đề ra mục tiêu xây dựng và đào tạo đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý trong các trường dạy nghề Gần đây, nhiều hành động cụ thể đã được thực hiện để cải thiện chất lượng GVDN, bao gồm tổ chức các cuộc thi GVDN giỏi toàn quốc, cử giáo viên Việt Nam sang Malaysia học tập kinh nghiệm, và hợp tác với các tổ chức quốc tế như Nhật Bản, Hàn Quốc để chuyển giao công nghệ trong đào tạo nghề.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII năm 2010 đã xác định phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo, với mục tiêu nâng cao chất lượng dạy nghề Đến năm 2011, việc cải thiện chất lượng đào tạo nghề đã được UBND tỉnh đưa vào một trong năm chương trình phát triển trọng điểm giai đoạn 2011-2020 Sở Lao động cũng đã triển khai đề án “Quy hoạch cơ sở dạy nghề đến năm 2020” nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực.

TB XH đã thực hiện một đánh giá toàn diện về đào tạo nghề, nhấn mạnh chính sách đào tạo giáo viên dạy nghề (GVDN) và chỉ ra những hạn chế hiện tại như số lượng và chất lượng GVDN còn yếu kém Mặc dù giảng viên có sự nhiệt huyết trong giảng dạy, nhưng nhiều người vẫn thiếu hụt về chuyên môn và kỹ năng sư phạm, đặc biệt là trong kỹ năng giảng dạy Hơn nữa, nguồn kinh phí hỗ trợ cho giảng viên nâng cao trình độ còn hạn chế, và các trường dạy nghề chưa có chính sách thu hút GVDN giỏi cùng các chuyên gia tham gia vào quá trình đào tạo.

THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG DẠY NGHỀ TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Ngày đăng: 22/08/2023, 01:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Anh (1999), “Đội ngũ trí thức tr trong các trường đại học, cao đẳng”, Báo Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ trí thức tr trong các trường đại học, cao đẳng
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 1999
2. Ban khoa giáo Trung ƣơng (2002), Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới- chủ trương, thực hiện, đánh giá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới- chủ trương, thực hiện, đánh giá
Tác giả: Ban khoa giáo Trung ƣơơng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, BCH TW khóa X “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, BCH TW khóa X “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật
Năm: 2011
6. Đảng ủy trường Cao đẳng nghề Bắc Giang (2011), Báo cáo tổng kết năm học 2010- 2011, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2010- 2011
Tác giả: Đảng ủy trường Cao đẳng nghề Bắc Giang
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2011
7. Đảng ủy trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp (2011), Báo cáo tổng kết năm học 2010- 2011, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2010- 2011
Tác giả: Đảng ủy trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2011
8. Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2010
9. Vũ Văn Gầu- Nguyễn Anh Quốc (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp phát triển giáo dục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp phát triển giáo dục
Tác giả: Vũ Văn Gầu, Nguyễn Anh Quốc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
12. Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
14. Lê Thị Thanh Hoa (2008), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc đổi mới giáo dục cao đẳng ở Nghệ An trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc đổi mới giáo dục cao đẳng ở Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Lê Thị Thanh Hoa
Năm: 2008
15. Bùi Kim Hồng (2009), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tổ chức, cán bộ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tổ chức, cán bộ
Tác giả: Bùi Kim Hồng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
16. Nguyễn Thị Lệ Hường (2006), Những giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ giáo viên trường Cao đẳng ư phạm Hòa Bình trong giai đoạn 2006- 2010, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ giáo viên trường Cao đẳng ư phạm Hòa Bình trong giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Nguyễn Thị Lệ Hường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
17. Hồ Chí Minh (1996), Biên niên tiểu sử, tập 8, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên tiểu sử
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 1996
18. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 1
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
19. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
20. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
21. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
22. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 5
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
23. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 6
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Số lƣợng giáo viên dạy nghề toàn tỉnh - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về công tác cán bộ trong xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cán bộ trong xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên ở tỉnh bắc giang hiện nay
Bảng 2.1 Số lƣợng giáo viên dạy nghề toàn tỉnh (Trang 46)
Bảng 2.2 T  lệ giảng viên đã tham gia các khóa học bồi dƣ ng và - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về công tác cán bộ trong xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cán bộ trong xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên ở tỉnh bắc giang hiện nay
Bảng 2.2 T lệ giảng viên đã tham gia các khóa học bồi dƣ ng và (Trang 58)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w