BAN CHỈ ĐẠO PGS, TS Trương Ngọc Nam PGS, TS Phạm Huy Kỳ PGS, TS Lương Khắc Hiếu BAN BIÊN SOẠN Ths Nguyễn Thanh Thảo Ths Đỗ Thúy Hằng Ths Vũ Thị Hồng Luyến Ths Phạm Thị Thúy Hằng Ths Nguy
Trang 2BAN CHỈ ĐẠO
PGS, TS Trương Ngọc Nam
PGS, TS Phạm Huy Kỳ
PGS, TS Lương Khắc Hiếu
BAN BIÊN SOẠN
Ths Nguyễn Thanh Thảo
Ths Đỗ Thúy Hằng
Ths Vũ Thị Hồng Luyến
Ths Phạm Thị Thúy Hằng
Ths Nguyễn Thị Hải Yến
Ths Nguyễn Thị Kim Oanh
CN Nguyễn Thị Lay Dơn
Địa chỉ: 36 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội
ĐT: 04.38340041
• DOÃN THỊ CHÍN, TRẦN THỊ VUI
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh qua những bức thư, điện và lời kêu gọi của Người đối với kiều bào
• TRẦN ĐÌNH THẢO, NGÔ MINH THUẬN
Những nguyên tắc trong tư tưởng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết tôn giáo
• NGUYỄN XUÂN TRUNG
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
• NGUYỄN ĐÌNH HÒA
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam
• LÊ ĐÌNH NĂM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
và ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới hiện nay
• ĐOÀN THẾ HANH
Làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện hiện nay
• NGUYỄN DUY HẠNH, CHU XUÂN QUẢNG
8 14
47
35
40 23
55 60 69
75
Trang 3tộc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh” Nghị quyết Hội
nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
Ðảng (khóa IX)
• NGUYỄN VĂN HUYÊN
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc theo
tinh thần đại hội lần thứ XI của Đảng
• ĐỖ NGỌC NINH
Về bài học “không ngừng củng cố, tăng
cường đoàn kết: đoàn kết toàn đảng, đoàn kết
toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế”
trong Cương lĩnh 2011 của Đảng
• TRẦN VĂN PHÒNG
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
theo tinh thần văn kiện đại hội XI của Đảng
• ĐẶNG HỮU, PHẠM NGỌC QUANG
Phát huy sức mạnh trí tuệ toàn dân tộc, đổi
mới và thực hiện có hiệu quả chiến lược
phát triển – một đòi hỏi bức xúc của đất
nước ta
• NGUYỄN THANH TUYỀN
Tăng cường sự đồng thuận và khối đại
đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
• NGUYỄN VĂN GIANG
Đại đoàn kết toàn dân tộc – bài học lớn của
Cách mạng Tháng Tám
• ĐINH QUANG HẢI
Đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp mọi lực
lượng yêu nước trong mặt trận dân tộc
• NGUYỄN ĐỨC KHANG
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc hiện nay
• NGUYỄN THẾ TRUNG
Xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
• BÙI XUÂN ĐỨC
Mặt trận tổ quốc Việt Nam và tư tưởng đại đoàn kết dân tộc trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
106 111
117
158
161 169
174
180
186
190 201
124 128
132
Trang 4xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Chính tư tưởng đoànkết, tinh thần yêu nước nồng nàn, đã tạo sức mạnh to lớn để cha ông ta chiến thắng “thùtrong, giặc ngoài”, bảo vệ vững chắc bờ cõi, non sông, giữ vững sự thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thịnh vượng, sánh vai cùng các cườngquốc, năm châu.
Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán trong tư duy lý luận vàthực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, trở thành chiến lược, phương phápcách mạng và là bộ phận quan trọng trong đường lối của Đảng ta Đó là tư tưởng vềđoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh cao nhất của dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh vìđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Hiện nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu nét đặc sắctrong tư tưởng của Người về xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, đồng thờivận dụng tư tưởng đó một cách linh hoạt và sáng tạo là một vấn đề chính trị - thực tiễncấp thiết, có ý nghĩa quyết định thành công của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu của xây dựng, củng cố khối đại đoàn kếtdân tộc là để tạo sức mạnh tổng hợp của toàn thể dân tộc nhằm giải quyết các nhiệm vụgiải phóng dân tộc, giải phóng con người, cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hộimới - xã hội xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta; đó còn là nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chống các âm mưu và hành động gây chia rẽ, phá hoạikhối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực phản động
Đoàn kết dân tộc ở Việt Nam không phải ngẫu nhiên hình thành, theo Hồ ChíMinh, các dân tộc trên đất nước ta đoàn kết chặt chẽ là vì đồng bào các dân tộc ViệtNam không phân biệt dân tộc, giai cấp, tín ngưỡng, vùng miền đều có chung một cộinguồn sâu xa là con Lạc cháu Hồng, đều là con dân nước Việt, gắn với những truyềnthống tốt đẹp lâu đời trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc; mọingười dân và mọi dân tộc ở Việt Nam đều có chung những lợi ích cơ bản là chủ quyềnquốc gia, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và vận mệnh dân tộc; có một Chính phủchung thống nhất đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc, mang trách nhiệm trước nhân
Trang 5Thực tiễn cho thấy, nhờ không ngừng xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnhcủa khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo dântộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trước yêu cầu mới của sự nghiệpcách mạng nước ta và những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước, thế giới hiệnnay, việc nghiên cứu, tìm hiểu nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng,củng cố khối đoàn kết dân tộc có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn.
Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoànkết dân tộc và vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay, Ban Giámđốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã chỉ đạo Trung tâm Thông tin khoa học tuyểnchọn các bài viết đã công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành của các nhà nghiên
cứu, biên soạn và giới thiệu ấn phẩm Thông tin chuyên đề số 5/2015 với nhan đề:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc ở nước ta hiện nay”
Kết cấu Thông tin chuyên đề gồm 2 phần:
Phần I: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Phần II: Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay
Mặc dù tập thể cán bộ trong ban biên tập tham gia sưu tầm, tuyển chọn đã hết sức
cố gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Ban Biên tập xin trân trọng
giới thiệu cuốn Thông tin chuyên đề số 5/2015 và mong nhận được ý kiến đóng góp
của bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn
BAN BIÊN TẬP
Trang 6Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc là
một nội dung quan trọng trong hệ
thống tư tưởng của Người, có giá
trị bền vững đối với mỗi bước phát triển
của cách mạng Việt Nam, đặc biệt đối với
thực hiện và phát huy đại đoàn kết toàn dân
tộc ở nước ta hiện nay Trong bối cảnh các
thế lực thù địch ra sức tiến công phủ nhận
bản chất cách mạng, khoa học của chủ
nghĩa Mác - Lênin nói chung, tư tưởng Hồ
Chí Minh nói riêng và chia rẽ khối đại đoàn
kết toàn dân tộc như hiện nay thì tìm hiểu
tư tưởng của Người về dân tộc cũng như
và về thực tiễn
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, giảiphóng dân tộc, đem lại độc lập, tự do, hạnhphúc cho nhân dân lao động ở nước ta làkhát vọng cháy bỏng và được hình thành từrất sớm Hiện thực xã hội Việt Nam, conđường thoát khỏi ách nô lệ của nhân dânlao động luôn là tiền đề xuất phát điểm chomục đích, cho suy nghĩ và hành động củaNgười trên đường đi tìm đường cứu nước.Tiếp xúc với nhiều lý luận, học thuyếtchính trị, nền văn hóa khác nhau trên thếgiới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện
đạI đoàn kếT dân TộC
-tư -tưởng hồ Chí Minh về dân tộC
và đại đoàn Kết toàn dân tộC
ở nướC ta
?TS NGUYỄN VĂN THANH - NCS LÊ TRỌNG TUYẾN
Khoa triết học – học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng
Trang 7thấy con đường cách mạng đúng đắn, con
đường giải phóng dân tộc bằng cách mạng
vô sản Có thể thấy vấn đề dân tộc có tần
suất rất lớn trong các tác phẩm và có vị trí
quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
thống nhất với quan điểm chủ nghĩa Mác
-Lênin về bản chất cách mạng, khoa học; nó
đối lập với các quan điểm phi mácxít và
còn vượt lên trên quan điểm của Quốc tế
cộng sản lúc bấy giờ Bản chất cách mạng,
khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
dân tộc biểu hiện ở sự phản ánh đúng mâu
thuẫn hiện thực xã hội Việt Nam, phù hợp
với truyền thống lịch sử dân tộc ta và với
tính chất của thời đại Có thể thấy, vấn đề
dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh hàm
chứa một nguyên tắc cơ bản là lấy mục tiêu
tối cao, xuyên suốt nhất quán là giải phóng
dân tộc, đưa nước ta tiến lên CNXH Suốt
quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định
và nhất quán với nguyên tắc đó, đồng thời
rất linh hoạt trong vận dụng để tập hợp lực
lượng tạo sức mạnh tổng hợp phù hợp với
từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể Nguyên
tắc trên vừa phản ánh tính khoa học, cách
mạng, vừa thể hiện sắc thái độc đáo Hồ Chí
theo Hồ Chí Minh, hoàn không phải là thứchủ nghĩa dân tộc phong kiến, tư sản haycủa Quốc tế II (càng không phải là chủnghĩa dân tộc cải lương), mà là chủ nghĩadân tộc chân chính, theo lập trường chủnghĩa Mác - Lênin, gắn dân tộc với quốc tế,dân tộc với giai cấp, hướng tới triệt để giảiphóng dân tộc, giải phóng xã hội và giảiphóng con người”(1)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện rasức mạnh của các dân tộc thuộc địa, đặcbiệt là của dân tộc Việt Nam trong thời đạimới Người khẳng định: “Chủ nghĩa dântộc là động lực lớn của đất nước”(2) Nhờphát hiện đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đềnghị Quốc tế cộng sản phát động chủ nghĩadân tộc để thực hiện giải phóng giai cấp,dân tộc, loài người khỏi áp bức bóc lột theotinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin Ngườiviết: “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứnhân danh Quốc tế Cộng sản”(3) Chủ tịch
Hồ Chí Minh rất tin tưởng vào sức mạnh,vào sự tất thắng và vai trò to lớn của chủnghĩa dân tộc theo quan điểm của mình.Theo Người, sự thắng lợi của chủ nghĩa dântộc có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với pháttriển cách mạng thế giới Chủ tịch Hồ ChíMinh chỉ rõ: “Khi chủ nghĩa dân tộc của họ
Trang 8quốc tế”(4).
Với chủ nghĩa dân tộc của mình, Chủ
tịch Hồ Chí Minh cũng đã vượt trước các
nhà yêu nước đương thời ở chỗ đã gắn cách
mạng giải phóng dân tộc ở nước ta với cách
mạng vô sản thế giới và xác định được rõ
mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam Xã
hội Việt Nam vốn tồn tại hai mâu thuẫn cơ
bản là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta
với đế quốc và giữa đại bộ phận nhân dân
mà cơ bản là nông dân với kẻ chiếm hữu
ruộng đất Cách mạng chỉ có thể thắng lợi
khi đồng thời giải quyết cả hai mâu thuẫn
đó, nhưng trước hết phải giải quyết được
mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với đế
quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Nếu không giải quyết được vấn đề dân
tộc, thì chẳng những quốc gia dân tộc còn
chịu mãi kiếp trâu ngựa mà quyền lợi của
bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không
đòi được”(5) Với tư tưởng về chủ nghĩa
dân tộc làm cơ sở lý luận và với việc phân
tích một cách khoa học mâu thuẫn cơ bản
của xã hội Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Minh xác định được rõ mục tiêu, con
đường, biện pháp, đối tượng, lực lượng,
động lực của cách mạng giải phóng dân tộc
ở nước ta
Mặt trận Việt Minh, hiện nay là Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam là sản phẩm tất yếu và
là hiện thân hiện thực hóa trên thực tiễn củachủ nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh đã đề
ra Khi đánh giá tầm vóc và giá trị tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân tộc, Đại tướng VõNguyên Giáp viết: “Việt Minh là một sángtạo, một biểu hiện tập trung của thiên tài
Hồ Chí Minh Việt Minh chứa đựng tưtưởng chính yếu của Chủ tịch Hồ ChíMinh: Đoàn kết dân tộc, đại đoàn kết toàndân tộc không phải là sách lược, mà làchiến lược lâu dài, trước sau như một củangười cộng sản yêu nước Hồ Chí Minh”(6).Những thắng lợi của cách mạng ViệtNam dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủtịch Hồ Chí Minh là bằng chứng hùng hồnchứng minh bản chất cách mạng, khoa học,giá trị bền vững trong tư tưởng của Người
về chủ nghĩa dân tộc chân chính Giá trị đókhông chỉ mang tính lịch sử, mà còn có tínhthời đại, tính thời sự sâu sắc Trong cuộcđấu tranh, cạnh tranh hiện nay, mỗi dân tộcđều phải tìm mọi cách tạo ra sức mạnh, đặcbiệt là sức mạnh từ con người, từ dân tộc,
từ đoàn kết thống nhất toàn dân tộc, đó làphương thức ưu việt nhất cho phát triển bềnvững Nhiều nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo
Trang 9đất nước mình Tuy nhiên, hiệu quả của sự
vận dụng còn phụ thuộc vào bản chất chế
độ chính trị, lập trường chính trị của giai
cấp thống trị xã hội ở từng nước Giá trị
cũng như sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc
theo tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ thật sự bền
vững và có ý nghĩa tiến bộ xã hội khi hiểu
và vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng
của Người vào thực tiễn xã hội Đối với chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì
chủ nghĩa dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí
Minh luôn là trọng tâm của sự chống phá
cách mạng hiện nay Chúng tìm mọi cách
gây mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ bên trong của
một dân tộc và giữa các dân tộc với nhau
Chúng tuyên truyền, ủng hộ cho chủ nghĩa
ly khai, chủ nghĩa dân tộc cực đoan gây
hằn thù giữa các tộc người trong một dân
tộc Hiện nay, một số nước đã giành được
độc lập dân tộc và đang có thiện chí với xu
hướng XHCN Xu hướng theo con đường
phát triển CNTB hay là sự lệ thuộc vào các
nước tư bản phát triển đã từng bước bộc lộ
sự bế tắc ở nhiều nước trên thế giới Trong
bối cảnh ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa dân tộc càng có giá trị và có tính phổ
biến
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa
Hồ Chí Minh đã xác định rõ quan điểm,nguyên tắc về đại đoàn kết toàn dân tộc mộtcách khoa học Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉrõ: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòabình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dùnhững người đó trước đây chống chúng ta,bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết vớihọ”(7); “Ta đoàn kết để đấu tranh chothống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta cònphải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai cótài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổquốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kếtvới họ”(8) Như vậy, nguyên tắc được rút
ra từ chủ nghĩa dân tộc theo tư tưởng HồChí Minh để thực hiện đại đoàn kết toàndân tộc vừa có tính bất biến, vừa có sự linhhoạt trong vận dụng Cái bất biến là lợi íchtối cao của dân tộc, là độc lập dân tộc vàCNXH, còn sự linh hoạt trong vận dụng làtùy theo tình hình cụ thể để hình thành các
tổ chức tập hợp quần chúng Hai mặt đóluôn thống nhất với nhau, không quá đề caohay hạ thấp một mặt nào
Đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn là vấn đềlớn trong đường lối, quan điểm của Đảng
và là sức mạnh vô địch bảo đảm thắng lợicủa sự nghiệp đổi mới ở nước ta Chủ đềlớn của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
Trang 10khẳng định: “Lấy mục tiêu xây dựng một
nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm
điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định
kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp
nhận những điểm khác nhau không trái với
lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần
dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan
dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào
mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã
hội ”(9) Có thể thấy, Đảng ta đã có sự
phát triển, mở rộng và vận dụng cụ thể hơn
tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc vào thực
hiện đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay
Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận
hiện nay cần đặt nhiệm vụ trọng tâm vào
bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó phải thật
sự quan tâm đến tư tưởng của Người về dân
tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc Phải có trí
tuệ, tri thức khoa học thì mới có thể vạch
trần bản chất phản động, phản khoa học của
các luận điệu sai trái; đồng thời tuyên
truyền, xã hội hóa nội dung, giá trị tư tưởng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa
dân tộc
Thế giới sẽ còn có nhiều đổi thay, biến
mạng Việt Nam và với các dân tộc đangđấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, tiến
(1) Võ Nguyên Giáp (Chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí
Minh và con đường cách mạng Việt Nam, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.91.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2000, tr.466
(3),(4) Sđd, tr.467 (5) Ban nghiên cứu lịch sử Trung ương: Văn kiện
Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 1945), NXB Sự thật,
Hà Nội, 1977, tr.191
(6) Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây,
NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.16-17
(7),(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.438
(9) ĐCSVN: Dự thảo các văn kiện trình đại hội XI
của Đảng, 2010, tr.66
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính 2011.- Số 2.- Tr.14 – 17.
Trang 11trị.-Đoàn kết là một truyền thống quý
báu của dân tộc ta trong suốt quá
trình đấu tranh dựng nước và giữ
nước Kế thừa và phát huy truyền thống đó,
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và
không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, đoàn kết đồng bào ở trong
nước với kiều bào ở nước ngoài nhằm phát
huy sức mạnh toàn dân tộc
Sinh thời, Hồ Chí Minh rất quan tâm đếnvấn đề Đại đoàn kết Trong tất cả các bàinói, bài viết của Người, Đại đoàn kết chiếm
tỷ lệ gần 50% Cuối đời, trong bản Di chúc
bất hủ, điều mong muốn cuối cùng củaNgười là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoànkết, phấn đấu, xây dựng một nước Việt
lời Kêu gọi Của người đối với Kiều Bào
?TS DOÃN THỊ CHÍN - TS TRẦN THỊ VUI học viện Báo chí và tuyên truyền - học viện Chính trị quốc gia hồ Chí Minh
Sinh thời Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề đại đoàn kết, không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết đồng bào trong nước với kiều bào ở nước ngoài Người đã nhiều lần gửi thư, điện và lời kêu gọi đối với kiều bào Trong
đó, Người luôn chú ý khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc của người Việt Nam; đồng thời, vận động, chỉ đạo phong trào Việt kiều hoạt động đúng hướng Ngày nay, trước những biến động khôn lường của tình hình thế giới, để thực hiện thành công mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn cần được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt.
When alive, Ho Chi Minh was interested in great national unity and ways to constantly expand national solidarity between domestic fellows and expatriates He repeatedly sent letters, telegrams, and appeals to Vietnamese overseas in which he continuously paid attention to arousing their patriotism, unity spirit and Vietnamese national pride Simul- taneously, he advocated and led movements of oversea Vietnamese into the right direc- tion Today, facing with unpredictable changes of global situation, his ideas of great national solidarity are still guidelies to successfully implement the goals of bulding a strong country with prosperous poeple in a democratic, fair and civilized society.
Trang 12rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, trong
suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình, Bác Hồ đã nhiều lần gửi thư, điện
cho kiều bào với tinh thần đại đoàn kết toàn
dân tộc
Trải qua 30 năm (1911-1941) sinh sống
và hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái
Quốc là một kiều bào tiêu biểu Hoạt động
của Người trong thời gian bôn ba ở nước
ngoài gắn liền với công tác vận động cách
mạng, vận động quần chúng, để lại dấu ấn
sâu đậm về phương pháp và phong cách
vận động đồng bào ở xa Tổ quốc Những
năm tháng lãnh đạo nhân dân đấu tranh
giành chính quyền, kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý đến công tác
vận động kiều bào hướng về Tổ quốc
Trong các lời kêu gọi, thư gửi thư chúc Tết
hằng năm, Người không bao giờ quên
những người con xa Tổ quốc
Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Hồ
Chí Minh nói chung và qua những bức thư,
những lời kêu gọi của Người đối với kiều
bào nói riêng là tư tưởng vị tha, cách mạng,
nhân bản, đoàn kết chặt chẽ, lâu dài, rộng
rãi, đoàn kết thật sự, đoàn kết với tất cả các
giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo khác
nhau, không phân biệt trước đây họ đã theo
phe nào, miễn là họ yêu nước, tán thành
độc lập, tự do, thống nhất và mưu cầu hạnh
dân tộc của người Việt Nam; đồng thời, vậnđộng, chỉ đạo phong trào Việt kiều hoạtđộng đúng hướng
Cách mạng tháng Tám thành công với
sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộnghòa đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dântộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập dân tộc,dân chủ và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xãhội Tuy nhiên, ngay từ khi mới ra đời, Nhànước ta phải đương đầu với muôn vàn khókhăn thử thách: Nạn đói, giặc ngoại xâm,giặc dốt, nạn tài chính khánh kiệt
Trước vận mệnh của chính quyền cáchmạng “ngàn cân treo sợi tóc”, trên cương
vị Chủ tịch nước, mặc dù phải đối mặt vớibộn bề khó khăn nhưng Bác vẫn luôn quantâm đến đồng bào đang sinh sống ở xa Tổquốc Ngày 5 11.1945, Chủ tịch Hồ ChíMinh ra Lời kêu gọi kiều bào Việt Nam ởPháp Người hoan nghênh đồng bào đã gửi
tờ kháng nghị cho Chính phủ Anh đòi rútquân đội Anh - Ấn ra khỏi Nam Bộ Sau khiphân tích tính chất chính nghĩa của nhândân ta và sự tiếp nối truyền thống đấu tranhbất khuất của ông cha ta trong suốt 80 nămPháp thuộc, Người khẳng định, cuộc khángchiến hiện thời của quân và dân ta là để bảo
vệ nền tự do, độc lập của dân tộc: “Lịch sửnước nhà chưa bao giờ trông thấy chúng tađoàn kết chặt chẽ như ngày nay để biểudương ý chí mạnh mẽ của một dân tộc thích
Trang 13chết tự do hơn sống nô lệ”(2).
Người chỉ rõ nhiệm vụ của kiều bào là
làm cho dân tộc Pháp nghe thấy tiếng nói
của Tổ quốc; đấu tranh chống những luận
điệu tuyên truyền phản động của thực dân
Pháp; nhắc nhở, động viên mọi người hãy
tỏ ra xứng đáng với những anh em đang
chiến đấu anh dũng ở Nam Bộ để bảo vệ
nền độc lập của nước nhà
Ngày 2.1.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
gửi thư chúc Tết Việt kiều ở Lào và Thái
Lan Với đồng bào Việt Nam ở Lào, Người
căn dặn : “Lào và Việt Nam là hai nước anh
em Mối quan hệ giữa hai dân tộc là rất mật
thiết Đối với kiều bào ta làm ăn sinh sống
ở đất nước Lào thì Lào như là một Tổ quốc
thứ hai Tục ngữ có câu: “Bán bà con xa,
mua láng giềng gần” ý nghĩa là như thế
Vậy nên sự đoàn kết chẳng những bao
gồm đồng bào Việt, mà bao gồm cả đồng
bào Việt với đồng bào Lào Đoàn kết chặt
thì lực lượng to Lực lượng to thì quyết
thắng lợi”(3)
Với kiều bào ở Thái Lan, Người biểu
dương những đóng góp của Việt kiều đối
với công cuộc giải phóng đất nước Nay
nước nhà đã giành được chính quyền, đồng
bào lại hăng hái ủng hộ nền độc lập và cuộc
kháng chiến ở Nam Bộ Người chúc đồng
bào một năm mới đầy hạnh phúc và vượt
được mọi khó khăn, góp phần một cách có
hiệu quả vào việc giữ vững nền độc lập của
Tổ quốc
Ngày 19.12.1947,Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết Lời kêu gọi nhân kỷ niệm một năm
kháng chiến toàn quốc Trong Lời kêu gọi
có đoạn viết: “Các kiều bào ta ở hải ngoại,mình tuy sống ở nước ngoài, nhưng luônluôn hết lòng giúp Tổ quốc”(4)
Trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Lờikêu gọi của Bác Hồ đã thể hiện tình cảm,
sự quan tâm chia sẻ của vị lãnh tụ đối vớikiều bào Lời kêu gọi của Người đã kịp thờikhích lệ tinh thần đoàn kết xây dựng nềnđộc lập của Tổ quốc
Tháng 7 năm 1951, Người viết thư chokiều bào ở Vân Nam, Trung Quốc vớinhững lời gần gũi yêu thương:
“Thân ái gởi đồng bào ở Vân Nam, Tôicùng Chính phủ và đồng bào trong nước,rất vui lòng được biết rằng: Kiều bào ta ởVân Nam đều nồng nàn yêu nhớ Tổ quốc,ủng hộ kháng chiến, mọi người đoàn kếtchặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau, thi đuahọc hỏi và giúp nhau tiến bộ…kiều bào tacàng phải đoàn kết nội bộ, khuyên bảonhau ủng hộ Đảng, ủng hộ Chính phủ,thành thật đoàn kết với anh em Trung Hoa,học tập những đạo đức và kinh nghiệm quýbáu của Trung Quốc để giúp ích cho nướcnhà Mọi người mọi việc đều cố gắng làmkiểu mẫu Làm được như thế, tức là kiềubào giúp sức vào việc thắt chặt thêm tìnhnghĩa đoàn kết thân ái giữa hai dân tộc Việt– Hoa Mong kiều bào cố gắng Xin chúctoàn thể kiều bào mạnh khoẻ, và gởi cáccháu thanh niên, nhi đồng nhiều cáihôn”(5)
Bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đãthể hiện sự trân trọng và tình cảm yêu quý
Trang 14kiều bào ở Vân Nam Qua thư, Bác cũng
mong muốn xây dựng tình đoàn kết giữa
kiều bào với nhân dân Trung Quốc; thể
hiện niềm mong mỏi thắt chặt tình đoàn kết
Việt - Trung của Người
Trong chỉ đạo xây dựng hậu phương
miền Bắc, đi liền với những nhiệm vụ cần
kíp khác, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh
việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân
Người cho rằng, sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc có thể làm thay đổi
tất cả, có thể dời non, lấp biển; đặc biệt là
việc đoàn kết người Việt Nam ở trong nước
với người Việt Nam ở nước ngoài Năm
1956, trong Lời chúc mừng năm mới, Bác
viết: “Điều chủ chốt là đồng bào trong nước
và kiều bào ngoài nước cần phải đoàn kết
hơn nữa trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
cùng nhau ra sức củng cố miền Bắc về mọi
mặt, vì miền Bắc là nền tảng lực lượng của
nhân dân ta Miền Bắc vững mạnh, thì chế
độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vững
mạnh, đồng bào miền Nam có chỗ dựa
vững mạnh trong cuộc đấu tranh chống đế
quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng”(6)
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: Đại
đoàn kết dân tộc là một chiến lược cách
mạng có tính lâu dài, nhất quán, có ý nghĩa
sống còn đối với mọi cuộc cách mạng Nó
quyết định sự thành bại cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc, giành lại chủ quyền đất
nước cũng như công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Với Người, đại đoàn kết dân
tộc không phải xuất phát từ ý muốn chủ
quan của lý luận mà đó là sự tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn của quá trình cách mạng.Ngày 27 tháng 1 năm 1957, Chủ tịch HồChí Minh gửi Điện chúc Tết kiều bào BứcĐiện ngắn gọn nhưng vẫn thể hiện rất rõtinh thần đại đoàn kết dân tộc Người viết:
“Nhân dịp năm mới, tôi gửi lời thân ái chúctoàn thể kiều bào vui vẻ, mạnh khoẻ, đoànkết và tiến bộ Đồng thời kiều bào nên tăngcường tình hữu nghị với nhân dân địaphương”(7)
Qua nội dung bức điện, chúng ta nhậnthấy tinh thần đoàn kết quốc tế cũng nhưniềm mong mỏi của Người đối với kiều bào
về việc xây dựng tình đoàn kết tiến bộ trênmọi lĩnh vực, vượt qua mọi khó khăn đểhòa nhập cuộc sống sở tại
Nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hìnhcách mạng mới, ngày 11.11.1959, Chủ tịch
Hồ Chí Minh ra Quyết định thành lập BanTrung ương phụ trách công tác đón tiếpViệt kiều về nước Tiếp đó, ngày 8.1.1960,Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài viết “Kiềubào ta ở Thái Lan luôn luôn hướng về Tổquốc” đăng trên báo Nhân Dân Trong bàiviết, Người còn nhắc đến Hội “Ái hữu”của Việt kiều thành lập trên đất Thái Lannhằm mục đích: “Đoàn kết - đoàn kết giữaViệt kiều với nhau và đoàn kết giữa ngườiViệt với người Xiêm; nhắc nhủ kiều bào
yêu Tổ quốc và giúp kiều bào học chữ quốc
ngữ”(8)
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh chính là ngườinhìn nhận rõ vai trò sức mạnh của kiều bàotrong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổquốc Ngày 27.1.1969, Chủ tịch Hồ Chí
Trang 15Minh có bức Thư gửi kiều bào tại Pháp.
Trong Thư, Bác nhắn gửi các cụ phụ lão,
anh chị em và các cháu thanh niên, nhi
đồng Việt kiều ở Pháp niềm vui sau khi
nhận được quà và thư của các cụ và anh chị
em Người khen ngợi: Tuy ở xa quê hương,
bà con Việt kiều vẫn luôn luôn hướng về
Tổ quốc thân yêu, ra sức góp phần vào sự
nghiệp chống Mỹ, cứu nước
Nhận định về tình hình trong nước, Bác
viết: “Trong cuộc kháng chiến vĩ đại hiện
nay, đồng bào và chiến sĩ ta ở hai miền
Nam Bắc đều rất anh hùng Gái, trai, già,
trẻ, ai cũng hăng hái thi đua yêu nước
“Người tốt việc tốt” như hoa nở mùa Xuân,
nêu gương sáng của chủ nghĩa anh hùng
cách mạng Vì vậy, chúng ta đã giành được
nhiều thắng lợi rất vẻ vang, và được anh em
bè bạn khắp năm châu khen ngợi, mến yêu
và nhiệt liệt đồng tình, ủng hộ Tuy cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước còn
nhiều gian khổ hy sinh, nhân dân ta nhất
định sẽ đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm
lược Miền Nam nhất định sẽ được giải
phóng, Bắc Nam nhất định sẽ sum họp một
nhà Mong các cụ và anh chị em cố gắng
hơn nữa, luôn luôn đoàn kết chặt chẽ và
tranh thủ sự đồng tình ủng hộ ngày càng
mạnh mẽ của nhân dân Pháp anh em, đối
với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của
nhân dân ta”(9)
Có thể nói, tư tưởng đại đoàn kết của
Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ lòng
nhân ái bao la, lòng tin vô hạn đối với nhân
dân, đối với dân tộc nói chung và đối với
kiều bào - những người dân Việt sống xa
Tổ quốc nói riêng Người thương yêu và tintưởng ở mỗi con người, biết khơi dậy trong
họ những khả năng tiềm tàng; thức tỉnh,giáo dục họ tự giác đứng lên đấu tranh cho
sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc, vươn tớinhững giá trị cao đẹp của con nguời trongcuộc sống
Với Hồ Chí Minh đại đoàn kết dân tộc
là một trong những nhân tố hàng đầu quyếtđịnh sự thắng lợi của cách mạng Quá trìnhphát triển cách mạng của nước ta thể hiệnrất rõ quy luật đó: Có đoàn kết mới cóthắng lợi, càng gặp kẻ thù to lớn, càng gặpkhó khăn gian khổ bao nhiêu, thì phải thắtchặt đoàn kết bấy nhiêu; đoàn kết rộng rãi,càng vững chắc bao nhiêu thì thành quảcách mạng càng thu lại to lớn bấy nhiêu.Thực tế lịch sử cách mạng trong nhữngthập kỷ qua đã cho chúng ta một bài học vôcùng quý báu Đó là, dù trong cách mạnggiải phóng dân tộc hay trong cách mạng xãhội chủ nghĩa, chừng nào giương cao ngọn
cờ Đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào
ở trong nước với kiều bào sinh sống ở nướcngoài, thì chẳng những bảo đảm thắng lợicho sự nghiệp cách mạng, mà còn giữ vữngđược độc lập tự chủ, càng giữ vững đượcđộc lập tự chủ thì càng có điều kiện, có khảnăng thực tế để thực hiện Đại đoàn kết dântộc và thắng lợi của sự nghiệp cách mạngcàng to lớn hơn
Hiện nay có khoảng 4,5 triệu người ViệtNam sinh sống ở nước ngoài Thấm nhuần
tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, với
Trang 16chủ trương coi người Việt Nam ở nước
ngoài là bộ phận không tách rời của cộng
đồng dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước
đã tổ chức lấy ý kiến kiều bào đóng góp
cho dự thảo văn kiện Đại hội Đảng; Luật
Quốc tịch năm 2008 và dự thảo sửa đổi
Hiến pháp năm 2013; giới thiệu đại biểu
kiều bào tham gia Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc
các địa phương Bên cạnh đó, các cơ quan
đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước
ngoài còn tích cực phối hợp với các tổ chức
Đảng ở ngoài nước phát động Cuộc vận
động Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh mạnh mẽ và hiệu quả
trong đảng viên và quần chúng người Việt
Nam ở nước ngoài Những hoạt động trên
đã góp phần khơi dậy lòng yêu nước, gắn
bó với cội nguồn dân tộc của kiều bào, từng
bước đẩy lùi và vô hiệu hóa các hoạt động
đi ngược lại lợi ích cộng đồng và đất nước
Thập niên đầu thế kỷ XXI, bình quân
mỗi năm có khoảng 300 lượt trí thức kiều
bào về nước hợp tác, nghiên cứu khoa học,
giảng dạy Trong bối cảnh kinh tế thế giới
khó khăn, nhiều kiều bào ở Mỹ, Pháp, Đức
và đặc biệt là các nước Đông Âu chọn giải
pháp về Việt Nam đầu tư, kinh doanh; có
nhiều dự án hiệu quả, quy mô lớn Hiện có
trên 3.600 doanh nghiệp có số vốn đăng ký
kinh doanh và vốn đóng góp của kiều bào
khoảng 8,6 tỷ USD Kiều hối gửi về nước
tăng trung bình 10 -15%/năm, năm 2013
đạt gần 11 tỷ USD, chiếm gần 1/l0 GDP,
đưa Việt Nam trở thành một trong số 10
quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất; đónggóp quan trọng vào việc ổn định cán cânthanh toán và kinh tế của đất nước
Sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ratrong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tếquốc tế, giao lưu với thế giới hiện đại.Trước những biến động khôn lường củatình hình thế giới, việc kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại, đoàn kếtgiữa đồng bào trong nước với người ViệtNam sinh sống ở nước ngoài sẽ tạo nên sứcmạnh tổng hợp của cộng đồng các dân tộcViệt Nam để hoàn thành sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm đạt mụctiêu xây dựng một nước Việt Nam: dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh Điều đó cần một sợi chỉ đỏ xuyênsuốt - đó là tư tưởng đại đoàn kết toàn dân
Trang 17Minh tRiết hồ Chí Minh
về dân, dân vẬn và đại đoàn Kết dân tộC
?PGS,TS TRẦN HẬU
ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc việt nam
Đặc trưng nổi bật trong minh triết Hồ Chí Minh là sự quan tâm sâu sắc đến con người, là đấu tranh để giải phóng dân tộc, mang lại độc lập cho đất nước, tự do và hạnh phúc cho những người bị áp bức, bóc lột Đó là chính trị và nhân văn trong minh triết Hồ Chí Minh và cũng là mục đích tư tưởng, điểm đến của chủ kiến và biến chủ kiến đó thành thực tiễn của Người Luận giải minh triết Hồ Chí Minh về dân, dân vận và đại đoàn kết dân tộc, trong bài viết này, tác giả tập trung làm rõ quan điểm của Người về dân và dân chủ, về dân vận và đại đoàn kết dân tộc để đi đến kết luận rằng, nghiên cứu minh triết Hồ Chí Minh về những vấn đề này phải được đặt trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong cái nhìn tổng thể về toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh; không những cần phải khảo cứu di sản lý luận của Người, mà còn phải đi sâu nghiên cứu cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú của Người để từ những việc làm cụ thể của Người mà rút ra những triết lý sâu sắc.
không phải mới lạ đối với giớinghiên cứu, nhưng lại có nhiềucách hiểu khác nhau, khá đa dạng, phong
phú Bài viết không có tham vọng đi sâu
vào khái niệm này, mà chỉ giãi bày những
suy nghĩ bước đầu về khái niệm này một
cách vắn tắt để dẫn lối đi vào tìm hiểu minh
triết Hồ Chí Minh
Triết lý, theo quan niệm của phương Tây
là dựa vào nguyên ngữ Hy Lạp – Philo
Sophia, có nghĩa là yêu mến sự hiểu biết,
sự khôn ngoan, hay là khoa học nghiên cứu
về nguồn gốc, về nguyên lý vận động của
vạn sự Còn theo văn hóa phương Đông,triết lý là phân tích để tìm ra cái lý lẽ của
sự vật Triết có nghĩa là chẻ ra, phân tích
để tìm ra cái lý cái lẽ tinh vi, bản chất,huyền diệu ở bên trong sự vật ấy Khi nàocon người còn chẻ ra, còn phân tích, cònlập luận được cái tinh vi của sự vật bằng lýtrí của mình với những gì có thể làm đượcmột cách rõ ràng, minh bạch, thì đó là minhtriết Việc chẻ ra và phân tích cái lý, cái tinh
vi và huyền diệu của sự vật là khôngngừng, nhưng minh triết thì chỉ dừng lạitrong giới hạn, phạm vi có thể phân tích, lýluận và giải thích được Đó là vì sự hiểu
Trang 18biết của con người bao giờ cũng có giới
hạn nhất định do bị chế ước bởi những tiền
đề và điều kiện khách quan, chủ quan, tùy
thuộc vào không gian và thời gian
Trên một bình diện nhất định, minh triết
và niềm tin có cái gì đó trùng hợp, một khi
minh triết được chứng thực trong thực tế,
được người đời chiêm nghiệm trong đời
sống hiện thực của chính họ Sự lặp đi lặp
lại độ chính xác của minh triết khẳng định
sức sống của nó và qua đó, minh triết được
bổ sung, phát triển Cũng do vậy, tính ổn
định chỉ là tương đối của minh triết
Không giống với các vĩ nhân khác, Hồ
Chí Minh là hiện thân cho tinh hoa văn hóa
của dân tộc, tư tưởng của Người thể hiện
đặc trưng của phương pháp khoa học thống
nhất biện chứng giữa nhận thức, tư duy và
hành động thực tiễn Ở minh triết Hồ Chí
Minh nổi bật lên đặc trưng là đấu tranh để
giải phóng dân tộc, mang lại độc lập cho
đất nước, tự do, hạnh phúc cho những
người bị áp bức, bóc lột Đó là chính trị và
nhân văn trong minh triết Hồ Chí Minh, là
mục đích của tư tưởng, điểm đến của chủ
kiến và biến chủ kiến đó thành thực tiễn
Trong minh triết Hồ Chí Minh, điều
xuyên suốt và kiên định là sự quan tâm sâu
sắc đến con người, là thái độ tin cậy con
người, nâng niu, tôn trọng từng con người,
coi con người là trung tâm, là xuất phát
điểm của mọi suy nghĩ và hành động Đó
chính là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.Mục đích của chính trị và cách mạng đềuhướng tới mục đích nhân văn Ở Việt Nam,
đó là giải phóng những người dân mấtnước, đang bị đọa đày, đau khổ, họ cần cóđộc lập, tự do và hạnh phúc Muốn vậy, chỉ
có con đường làm cách mệnh nhằm giảiphóng dân tộc, giải phóng xã hội, giảiphóng con người, trong đó giải phóng conngười là cái đích cuối cùng
Con đường cách mạng, theo Hồ Chí
Minh, chỉ có thể là con đường “lấy sức ta
mà tự giải phóng cho ta” Trên con đường
ấy, muốn thắng lợi và giảm tối đa tổn thất,
phải nắm vững nguyên tắc “dĩ bất biến,
ứng vạn biến” Đây là sự chọn lọc để nhấn
mạnh và vận dụng điểm quan trọng nhất
trong chủ nghĩa Mác là phép biện chứng.
Con đường ấy cũng là con đường dựa trênyếu tố con người mà ông cha ta đã đúc kết
thành chân lý: Việc nhân nghĩa cốt ở yên
dân Cho nên, thức tỉnh con người, tổ chức
và đoàn kết họ, đưa họ ra đấu tranh giànhđộc lập, tự do là tất cả những gì thật rõràng, minh bạch trong mục tiêu chính trị,mục tiêu cách mạng của Hồ Chí Minh Đóchính là cơ sở để nghiên cứu và tìm tòinhững tinh hoa trong minh triết Hồ ChíMinh về Dân, Dân vận và Đại đoàn kết dântộc Tuy nhiên, đây là vấn đề rất lớn, trongkhuôn khổ một bài viết, chúng tôi chỉ cóthể nêu lên được một vài vấn đề Nghiên
Trang 19cứu đầy đủ minh triết Hồ Chí Minh về Dân,
Dân vận và Đại đoàn kết dân tộc là công
việc của một nghiên cứu có tầm cỡ quốc
gia, thâu thái trí tuệ của nhiều người Tiếc
rằng, trong danh mục các đề tài khoa học
xã hội của các chương trình khoa học, công
nghệ trọng điểm cấp nhà nước đã vắng
bóng đề tài này!
1 MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH VỀ
DÂN VÀ DÂN CHỦ
Trước hết, suy ngẫm về khái niệm về
Dân của Hồ Chí Minh
Từ xa xưa, trong lịch sử loài người, các
nhà hiền triết đã luận bàn nhiều về khái
niệm Dân và về vai trò của người dân trong
xã hội Nhiều nghiên cứu cũng luận giải
các khái niệm cho là khác nhau, như Dân,
Dân chúng, nhân dân, quần chúng Đi sâu
vào học thuật để duy danh định nghĩa chắc
còn nhiều ý kiến Ở đây, chúng tôi chỉ bàn
về Dân trong minh triết Hồ Chí Minh
Dựng nước nhờ dân, trị chính nhờ dân
là xuất phát từ tư tưởng “nước lấy dân là
gốc” của Khổng Tử Tư tưởng dân là gốc
của Khổng Tử đã được Mạnh Tử khái quát
thành “Dân là quý, thứ đến xã tắc, vua là
thường”(l) Tư tưởng đó mang ý nghĩa tích
cực, vô cùng quan trọng Những người
thống trị sáng suốt trong xã hội phong kiến
hàng ngàn năm của loài người đều chịu ảnh
hưởng của tư tưởng này Đó là giá trị trong
lịch sử tư tưởng văn minh của nhân loại,
một nội dung trọng yếu trong giá trị vănhóa phương Đông
Tìm hiểu, suy ngẫm về tư tưởng Hồ ChíMinh về Dân và Dân chủ xuất phát từ đặcđiểm nổi bật của Người là rất coi trọng kếthừa những giá trị tư tưởng văn minh củanhân loại, chứ không bó hẹp trong một họcthuyết nào; đồng thời, Người lại rất coitrọng truyền thống của dân mình, nướcmình, coi mình là một người con của dântộc, của nhân dân, ở trong dân, ở giữa dân,chứ không ở ngoài dân, càng không ở trêndân Truyền thống nổi bật của dân ViệtNam chính là truyền thống đoàn kết dântộc để dựng nước và giữ nước qua hàngngàn năm lịch sử Hồ Chí Minh đã luôntrân trọng kế thừa truyền thống dân tộc,cho dù thời gian và không gian có thay đổi,nhưng những đặc trưng đó không bị biếndạng, bị tha hóa, luôn được kế thừa mộtcách nhất quán, thủy chung như nhất, kể từkhi Người bắt đầu hoạt động yêu nước ởthuở hàn vi, lúc sơ khai của sự nghiệp cáchmạng, bản thân bị truy nã, tù đày, nằm gainếm mật cho đến khi Người giữ cương vị caonhất của Đảng, của Nhà nước, được cả dântộc và bạn bè quốc tế tôn vinh, quý trọng
Theo Hồ Chí Minh, Dân là mọi người
Việt Nam, là mọi “con dân nước Việt”, là
“mỗi một người con Rồng cháu Tiên”, là
con Lạc cháu Hồng cùng chung một Tổ
quốc không phân biệt “già, trẻ, gái, trai,
Trang 20giàu, nghèo, quý, tiện”, bao gồm tất cả
những ai còn thừa nhận mình là con dân
nước Việt, còn mang dòng máu Việt Nam
Một biên độ rộng lớn dùng để chỉ khái
niệm Dân, không có sự phân biệt đẳng cấp,
ngôi thứ, tất thảy đều được bình đẳng, được
tôn trọng là đặc trưng nổi bật của tư tưởng
Hồ Chí Minh và Người khẳng định “đã là
con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay
nhiều lòng ái quốc” Quan điểm đó về Dân
thật rõ ràng, minh bạch, có tác dụng thu
phục lòng người, và không giống với cách
định nghĩa của nhiều người về Dân Đó
chính là triết lý nền tảng để lý giải mọi vấn
đề liên quan đến dân và xây dựng khối
đoàn kết dân tộc, xây dựng Mặt trận Dân
tộc Thống nhất rộng rãi và bền chặt, một
trong những nhân tố chủ yếu bảo đảm cho
thắng lợi của cách mạng nước ta trong mọi
thời kỳ khác nhau Đã là con dân nước Việt
thì đều được trọng dụng để xây dựng và
bảo vệ đất nước tùy theo tài, đức của mỗi
người, đó là một tư tưởng lớn, có ý nghĩa
thực tiễn sâu sắc
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm
Dân, Nhân dân, đồng bào, quần chúng
đều là đồng nghĩa, đều chỉ con dân đất Việt,
tùy hoàn cảnh khác nhau mà dùng khái
niệm nào cho thích hợp Một lôgíc độc đáo
là Hồ Chí Minh luôn gắn liền Dân với Dân
tộc, Dân với đất nước Người dân Việt
Nam, dù thuộc tộc người nào, hoàn cảnh
xã hội nào, chính kiến nào đều là ngườiViệt Nam, mang dòng máu Việt Nam, đó
là cái chung nằm trong cái riêng của mỗi
cá thể Không có người dân nào không gắnliền với dân tộc, với đất nước, ai cũng có
Tổ quốc Tổ quốc, Đất mẹ là vô cùngthiêng liêng đối với mỗi người Việt Nam
Do đó, tinh thần dân tộc, lòng yêu nước làgiá trị bền vững trong mỗi người dân Việt.Cuộc sống và vận mệnh của mỗi người dângắn liền hữu cơ với vận mệnh của cả dântộc, cả đất nước; vận mệnh của dân tộc lạiquyết định vận mệnh của mỗi người dân.Chính vì với quan điểm biện chứng ấy mà
Hồ Chí Minh đã phát hiện và rút ra kết luậncực kỳ quan trọng: Hễ là người Việt Namthì dù trong bất cứ hoàn cảnh xã hội và điềukiện lịch sử nào cũng đều có tinh thần dântộc, đều có lòng yêu nước Ở nước ta, tinhthần dân tộc và lòng yêu nước nổi bật lênbao trùm hết thảy, vượt lên mọi tín điều, trởthành lẽ sống của mỗi người Người nói:Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngóndài Nhưng ngắn, dài đều hợp nhau lại nơibàn tay Trong mấy triệu người cũng cóngười thế này, thế khác, nhưng thế này haythế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta Vậynên, ta phải khoan hồng đại độ, ta phảinhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì aicũng có ít hay nhiều lòng ái quốc(2).Cái vĩ đại trong triết lý đó của Hồ ChíMinh về Dân đã vượt lên mọi sự hẹp hòi,
Trang 21phân biệt, đố kỵ thường xảy ra khi trong
thực tế ảnh hưởng của ý thức hệ truyền
thống đã đưa đến sự phân hóa và đấu tranh
giai cấp, phân tầng xã hội vô cùng quyết
liệt Vì phát hiện thấy cái bản ngã phổ quát
nhất trong một người Dân Việt, mà trong
tư tưởng cũng như suốt cuộc đời hoạt động
cách mạng cho đến khi đi xa, từ khi bắt đầu
con đường cứu nước cho đến khi giành
được độc lập cho dân tộc, Người không có
bạn đường, mà chỉ có những người cùng
một tấm lòng, đoàn kết với nhau cùng một
chí hướng đấu tranh cho quyền lợi của dân
tộc, hạnh phúc cho nhân dân Nhiệm vụ
cách mạng có thể thay đổi, phương pháp
cách mạng có thể linh hoạt tùy theo mỗi
thời kỳ, nhưng khi đã đoàn kết thành lực
lượng cách mạng thì không loại trừ, không
có đồng minh tạm thời, đã đoàn kết thì phải
thật lòng và Người đã đưa ra khái niệm
“Tinh thành đoàn kết”.
Theo Hồ Chí Minh, Dân là một khái
niệm rất cụ thể, rõ ràng Dân không phải là
trừu tượng, chung chung, không xác định,
mà chính là những con người cụ thể bằng
xương, bằng thịt, sống và làm việc quanh
ta, hàng ngày, hàng giờ giao tiếp, trao đổi,
lao động, học tập, cùng vui, cùng buồn,
cùng sướng, cùng khổ với ta Hồ Chí Minh
nhìn thấy từng con người trong cộng đồng,
hiểu rất rõ từng con người, thông cảm và
trân trọng đặc tính nghề nghiệp, hoàn cảnh
xã hội, tâm linh tôn giáo, bản sắc dân tộc,tính cách, đặc điểm thế hệ, giới tính, lứatuổi, tâm tư nguyện vọng của con người,luôn đặt mình vào hoàn cảnh của họ để
hiểu họ, như nhà thơ Tố Hữu đã viết: Nỗi
đau dân nước, nỗi năm châu Hồ Chí Minh
sở dĩ thấy được từng người Dân như vậy lànhờ đã vận dụng quan điểm cơ bản về conngười của lý luận Mác, nhờ biết tiếp biếntruyền thống nhân văn cổ điển phương Tây,phương Đông và kế thừa, phát triển nhữnggiá trị văn hóa Việt Nam trong lịch sử vềcon người Bản chất Dân, Dân tộc trongcon người Hồ Chí Minh là cơ sở cho đứckhiêm tốn, giản dị, luôn coi mình chỉ làcông bộc của Dân, không bao giờ đứngtrên nhân dân, vì thế mới có thể thấu hiểuđược từng người trong cộng đồng và do đó,mới đoàn kết được từng con người, tạo nềntảng vững bền cho khối đại đoàn kết, khắcphục thói đoàn kết theo phong trào, chỉ có
số lượng nhưng không bền chặt
Cái triết lý hiểu Dân qua từng con người
cụ thể ở Hồ Chí Minh thật là giản dị, rõ
ràng, minh bạch nhưng lại đạt tới trình độsiêu việt, vượt lên mọi người Người đãthực hiện nhất quán triết lý đó trong suốtđời hoạt động cách mạng qua mọi thời kỳ,
từ khi còn hoạt động bí mật, chưa giànhđược chính quyền cho đến lúc cách mạngthành công, Người trở thành lãnh tụ của cảdân tộc, giữ cương vị có quyền lực cao nhất
Trang 22trong Đảng và Nhà nước Quyền lực cao đã
không thay đổi được tư tưởng và hành
động của Người và Người đã kịch liệt phê
phán bệnh quan liêu, tác phong quan dạng
của những cán bộ, đảng viên có chức, có
quyền, xa rời nhân dân, lên mặt lãnh tụ,
thái độ vô cảm trước hiện thực cuộc sống
của người dân Con đường hoạt động cách
mạng của Người bắt đầu từ nhen nhóm
từng người, bắt đầu từ từng con người, trân
trọng, nâng niu, nhẫn nại thức tỉnh, đào tạo
từng người một cách bền bỉ, không quản
khó khăn, không nề công sức: Người đã
biết đánh giá đúng, sử dụng đúng và phát
huy đúng sở trường của từng người, đồng
thời cũng tôn trọng, chăm lo, tạo điều kiện
và nâng cao nhân cách của từng con người
Từ trong triết lý của Hồ Chí Minh về Dân,
ta tìm thấy một nhân cách luận Hồ Chí
Minh, đó là rất coi trọng cá nhân để rất coi
trọng cộng đồng, vì mỗi cá nhân là một thành
phần chủ động, tích cực của cộng đồng, còn
cộng đồng là cái nôi, là môi trường nuôi
dưỡng cái tích cực của mỗi cá nhân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm
Dân luôn gắn liền với vị trí, vai trò của Dân
trong xã hội Nếu Dân gắn liền với Dân tộc,
với đất nước thì đồng thời, Người cũng
khẳng định vị trí làm chủ xã hội, làm chủ
đất nước của Dân Như vậy, Dân - Dân tộc
- Dân chủ là một chùm khái niệm liên hệ
mật thiết với nhau Chỉ có khẳng định được
chỗ đứng và tư cách của người Dân với xãhội, với đất nước thì mới làm rõ đầy đủkhái niệm và quan niệm về Dân Tư tưởng
Hồ Chí Minh về vai trò của Dân trong xã
hội là rõ ràng, dứt khoát: Dân là chủ của
đất nước Vì là người chủ của đất nước,
cho nên quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệmđều là của Dân, không có sự chia sẻ, khôngđược phép xâm phạm và không thể bị thoái
thác Người khẳng định: “Nói tóm lại,
quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Đưa ra chùm khái niệm Dân Dân tộc Dân chủ, Hồ Chí Minh đã tạo ra một nộidung hoàn chỉnh cho khái niệm về Dân.Không thể chỉ nhìn Dân mà không gắn vớiDân tộc, vì Dân tộc là đất nước, là Tổ quốc
-mà người dân ở bất cứ quốc gia nào cũng
có Không thể nói đến Dân mà không nói
rõ chỗ đứng của họ đối với đất nước, khôngnhận rõ vị thế của họ trong xã hội Dân làmchủ đất nước là tất yếu khách quan, quyềnlợi, nghĩa vụ trách nhiệm tất yếu thuộc vềngười dân, vì chính họ làm ra tất cả Lợiích, quyền hành của Dân chỉ bị tước đoạt,xâm phạm khi thế lực cầm quyền do dân
ủy quyền, nhưng tha hóa quay lại chiếmđoạt lợi ích và tiếm quyền của dân Theo
Hồ Chí Minh, đó là bọn sâu mọt, hại dân,
là giặc nội xâm phải kiên quyết đấu tranh
để loại trừ, không thể nhân nhượng Lậptrường dứt khoát đó thể hiện tính triệt đểcách mạng, tính kiên quyết bảo vệ lợi ích
Trang 23của dân, cho dù phải trả giá đắt nhất Vụ án
Trần Dụ Châu thời kháng chiến chống
Pháp là một minh chứng cho tư tưởng đó
Có như vậy mới bảo vệ được lợi ích của
dân, giữ vững được quyền làm chủ của
dân, phát huy được sức mạnh của dân, đem
lại niềm tin cho dân Nếu chỉ nói về vai trò
làm chủ của dân mà không kiên quyết bảo
vệ quyền làm chủ đó thì người dân chỉ còn
làm chủ một cách hình thức Đó là sự lừa
dối đáng khinh bỉ đối với Dân
Xác định vai trò làm chủ đất nước của
Dân, Hồ Chí Minh đưa ra một cách ngắn
gọn, mạch lạc nội hàm của chế độ làm chủ,
đó là:
- Toàn bộ lợi ích đều vì dân (bao nhiêu
lợi ích đều vì dân), trong xã hội chỉ có một
đối tượng là nhân dân được thừa hưởng
mọi thành quả mà xã hội có được Những
lợi ích đó mang tính toàn diện và cụ thể,
bao gồm vật chất và tinh thần, trước mắt và
lâu dài Phải trao toàn bộ lợi ích cho dân,
không một lực lượng, phe nhóm, tập đoàn,
cá nhân nào được chia sẻ, cắt xén, hoặc lợi
dụng vì mục đích khác Việc xâm phạm lợi
ích của Dân bị coi là tội ác và phải bị trừng
phạt Việc đấu tranh bảo vệ hoặc đòi quyền
lợi bị tước đoạt phải được coi là hành động
chính đáng của dân với tư cách chủ sở hữu
lợi ích Như vậy, việc sở hữu lợi ích của
dân là sự sở hữu trọn vẹn, tuyệt đối, không
nhân nhượng Hồ Chí Minh luôn căn dặn
cán bộ, đảng viên: Việc gì có lợi cho dânthì dù khó khăn mấy cũng làm cho kỳđược, việc gì có hại cho dân thì dù nhỏcũng cương quyết tránh Hồ Chí Minh đãcoi vấn đề lợi ích là tiền đề và điều kiệntiên quyết hàng đầu để dân thực hiện quyềnlàm chủ Người dân muốn làm chủ, trướchết họ phải được làm chủ lợi ích của mình,
đó chính là cái cốt lõi của vấn đề làm chủ,
là sự làm chủ trên thực chất và toàn vẹnnhất Người coi độc lập, tự do là đáng quýnhất (“Không có gì quý hơn độc lập tựdo”), nhưng cái cốt lõi của độc lập, tự dolại là lợi ích và Người giải thích: Nướcđược độc lập mà dân không được hưởng
ấm no, hạnh phúc thì độc lập chẳng có ýnghĩa thực tế gì nữa
- Toàn bộ quyền hạn đều thuộc về nhândân (bao nhiêu quyền hạn đều của dân) Làchủ xã hội, là chủ đất nước, người dânđược nắm toàn bộ quyền, trong đó cónhững quyền tự nhiên của con người, nhưquyền được sống, quyền được tự do, đượcmưu cầu hạnh phúc; đồng thời có nhữngquyền để gìn giữ, bảo vệ những quyền tựnhiên đó của con người Khi Nhà nước rađời thì đó là quyền lực quản lý đời sốngtoàn bộ xã hội Quyền lực đó thuộc vềngười dân một cách tuyệt đối, không chia
sẻ, có bao nhiêu quyền người dân đều nắm
bấy nhiêu quyền Quyền lực tối thượng
thuộc về nhân dân là cốt lõi về tư tưởng
Trang 24dân là chủ của đất nước Trong một đất
nước không thể có nhiều người làm chủ,
mà chỉ có một người chủ duy nhất, đó là
Dân Tất cả các hình thức tổ chức trong xã
hội đều là sự ủy quyền của Dân (chính
quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do
dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã
do dân tổ chức nên) Dân chỉ ủy quyền chứ
không trao quyền cho các tổ chức này Vì
vậy, dân luôn kiểm soát việc sử dụng quyền
ấy và thu hồi lại quyền ấy khi thấy cần thiết
phải ủy quyền cho người khác có độ tin cậy
hơn Do vậy, trong một đất nước dân là chủ
thì việc ủy quyền, miễn quyền là hiện
tượng bình thường nhằm thực hiện quyền
làm chủ của Dân
Khi nói về quyền làm chủ đất nước, Hồ
Chí Minh dùng khái niệm quyền hạn mà
không dùng khái niệm quyền lực Có thể
hiểu rằng, quyền lực là khái niệm chung
không có hàm ý giới hạn; quyền hạn là
quyền lực được sử dụng một cách có điều
tiết, không phải quyền lực vô biên Sự tinh
tế trong việc xây dựng khái niệm trong tư
tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh chứng tỏ độ
chính xác và sự mẫn tiệp trong tư duy chính
trị, để không thể tùy tiện hoặc hồ đồ trong
khi lý giải về tư tưởng dân chủ của Người
Quyền hạn gắn liền với trách nhiệm và
nghĩa vụ là hai phương diện gắn bó hữu cơ
với nhau trong tư tưởng dân chủ của Hồ
Chí Minh Quyền hạn càng lớn lao bao
nhiêu thì trách nhiệm càng nặng nề bấynhiêu Quyền hạn tạo điều kiện và chophép người dân làm tròn trách nhiệm củachủ đất nước Trách nhiệm là sự cam kếtbảo đảm cho người dân thực thi vai trò làchủ và quyền làm chủ đất nước Là chủ đấtnước, Dân có trách nhiệm nặng nề nhất là
đổi mới và xây dựng đất nước, hoàn thành
nghĩa vụ kháng chiến, kiến quốc Đối với
đất nước ta, Tổ quốc Việt Nam, đó là tráchnhiệm cao cả nhất, nặng nề nhất, là nghĩa
vụ lớn lao, vĩ đại nhất, khó khăn, gian khổnhất không gì so sánh nổi Chỉ có lực lượng
to lớn, vĩ đại là Dân, chỉ có người chủ duynhất là Dân mới có đủ quyền hạn và đủ lựclượng để hoàn thành trách nhiệm nặng nề
và sứ mệnh lịch sử cao cả ấy Không cómột lực lượng nào có thể thay Dân gánhvác trách nhiệm và nghĩa vụ trọng đại ấy
Người kết luận: Trong bầu trời không gì
quý bằng nhân dân Trong thế giới không
gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân(3) Đó là triết lý Hồ Chí Minh về Dân
và Dân chủ đã được chiêm nghiệm trongthực tế lịch sử đấu tranh cách mạng củanhân dân ta
2 MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN VÀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Gắn liền Dân vận với Đại đoàn kết dântộc là cách tiếp cận hợp với lôgíc, xuất phát
từ tính mục đích của Dân vận Dân vậnkhông vì mục đích tự thân; nó phải đạt mục
Trang 25đích tạo thành khối đại đoàn kết dân tộc,
bao gồm mọi người dân được giác ngộ và
tổ chức lại thành một khối vững chắc để
hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Minh triết Hồ Chí Minh về dân vận xuất
phát từ những nội dung cốt lõi về Dân
trong minh triết Hồ Chí Minh Dân vận,
theo Hồ Chí Minh, là vận động tất cả các
lực lượng của mỗi một người dân không để
sót một người nào góp thành lực lượng
toàn dân để thực hành những công việc
nên làm, những nhiệm vụ được giao Dân
vận của Hồ Chí Minh có đặc điểm:
- Phát động mọi tiềm năng của từng
người dân, bắt đầu từ từng người dân, khai
thác mọi tiềm năng của mỗi người, phát
huy tính tích cực xã hội của họ, không khả
năng nào bị lãng phí, dù là khả năng hạn
chế Đó chính là truyền thống “dụng nhân
như dụng mộc”
- Không bỏ sót một ai, vận động mọi
người dân không có sự phân biệt đối xử
Mọi người dân đều tìm được chỗ đứng
xứng đáng của mình trong xã hội, đều được
làm chủ xã hội, đều có cơ hội thể hiện vai
trò làm chủ đó mà không bị loại trừ
- Mục đích của dân vận là tạo nên sức
mạnh đại đoàn kết để hoàn thành những
việc nên làm, những nhiệm vụ được giao
Đó là những việc có lợi cho dân, cho nước,
cho cả cộng đồng, trong đó có lợi ích của
bản thân mỗi người
- Cách dân vận tốt nhất là để cho mọi
người hành động trên cơ sở hiểu biết rõ ýnghĩa của công việc mình làm, có sự hướngdẫn, giúp đỡ của lực lượng lãnh đạo Đó là
sự kết hợp giữa tính tự giác của người dân
và tinh thần phụ trách của người lãnh đạovới tư cách người phục vụ, người đày tớcủa dân
Từ bốn đặc điểm trên đây toát lên sự tincậy, sự tôn trọng, sự am hiểu, sự trungthành đối với dân Chỉ với tư duy ấy mới
có thể dân vận tốt Đó là cái triết lý cơ bảncủa Hồ Chí Minh về dân vận
Điểm nổi trội và xuyên suốt trong tưtưởng và hành động dân vận của Hồ ChíMinh là đại đoàn kết dân tộc Xuất phát từđặc điểm đất nước ta, minh triết Hồ ChíMinh về đại đoàn kết dân tộc có nội dung
vô cùng phong phú và có những đặc điểmriêng Tìm hiểu những đặc điểm riêng đó
là nghiên cứu về minh triết Hồ Chí Minh
(Còn nữa)
(l) Xem Hồ Văn Phi Đàm đạo với Khổng Tử Nxb
Văn học, Hà Nội, 2002, tr.357.
(2) Xem: Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4 Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.246.
(3) Xem: Hồ Chí Minh Sđd., t.8, tr.276.
Nguồn: Tạp chí Triết học – 2013 – Số 2(261) –Tr 18 - 25.
Trang 26Minh tRiết hồ Chí Minh về dân, dân vẬn
và đại đoàn Kết dân tộC
(Tiếp theo kỳ trước)
?PGS,TS TRẦN HẬU
ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc việt nam
Đặc trưng nổi bật trong minh triết Hồ Chí Minh là sự quan tâm sâu sắc đến con người, là đấu tranh để giải phóng dân tộc, mang lại độc lập cho đất nước, tự do và hạnh phúc cho những người bị áp bức, bóc lột Đó là chính trị và nhân văn trong minh triết Hồ Chí Minh và cũng là mục đích tư tưởng, điểm đến của chủ kiến và biến chủ kiến đó thành thực tiễn của Người Luận giải minh triết Hồ Chí Minh về dân, dân vận và đại đoàn kết dân tộc, trong bài viết này, tác giả tập trung làm rõ quan điểm của Người về dân và dân chủ, về dân vận và đại đoàn kết dân tộc để đi đến kết luận rằng, nghiên cứu minh triết Hồ Chí Minh về những vấn đề này phải được đặt trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong cái nhìn tổng thể về toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh; không những cần phải khảo cứu di sản lý luận của Người, mà còn phải đi sâu nghiên cứu cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú của Người để từ những việc làm cụ thể của Người mà rút ra những triết lý sâu sắc.
1) Sự hình thành minh triết Hồ Chí
Minh về đại đoàn kết dân tộc
Minh triết đại đoàn kết của Hồ Chí Minh
thể hiện nổi bật bản sắc truyền thống yêu
nước và đoàn kết của dân tộc, nâng cao,
phát triển truyền thống đó lên trình độ khoa
học về lý thuyết và trình độ nghệ thuật
trong vận dụng trong thực tế Hồ Chí Minh
đã thâu thái những giá trị văn minh của
nhân loại, những quan điểm cốt lõi của chủ
nghĩa Mác, đồng thời chắt lọc và kế thừa
tinh hoa truyền thống của dân tộc để hình
thành tư tưởng đại đoàn kết dân tộc trongđiều kiện lịch sử mới, đặt tư tưởng đại đoànkết dân tộc trên nền tảng khoa học vữngchắc và cơ sở thực tiễn sinh động
Trong lịch sử, các vĩ nhân trên thế giới
đã đưa ra tư tưởng liên minh, liên hiệp,đoàn kết và tập hợp lực lượng để giànhthắng lợi trong cuộc đấu tranh chống ápbức, bóc lột, như: “Việc giải phóng nhữngngười lao động phải do chính tay nhữngngười lao động làm lấy” và kêu gọi những
Trang 27người bị áp bức không thể tự giải phóng
nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải
phóng toàn thể xã hội, những người cộng
sản phải luôn luôn “đại diện cho lợi ích của
toàn bộ phong trào” và “phải tự mình trở
thành dân tộc, phải là bộ phận kiên quyết
nhất luôn luôn thúc đẩy phong trào”(1)
Con đường đấu tranh giải phóng phải là
con đường “liên hiệp lại”, là đoàn kết và
tập hợp lực lượng thành những liên minh,
những khối đoàn kết vững mạnh Những
quan điểm ấy đã là tiền đề lý luận cho việc
hình thành minh triết đại đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh
Minh triết đoàn kết dân tộc Hồ Chí
Minh còn hình thành trên cơ sở lòng yêu
nước nồng nàn Lòng yêu nước là sản
phẩm của một dân tộc liên tục bị xâm lược
và chịu ách đô hộ của ngoại bang Cảnh
nước mất, nhà tan và cuộc sống nô lệ, lầm
than đã hun đúc lòng yêu nước nồng nàn
của một dân tộc có truyền thống bất khuất
Lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến
những dạng đoàn kết dân tộc dựa trên
những cơ sở khác nhau, như tranh chấp
lãnh thổ, phân chia lợi ích kinh tế hoặc vì
lý do tín ngưỡng, tôn giáo Ở Việt Nam,
lòng yêu nước chân chính là cơ sở cho tư
tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh
đã phát hiện đúng cơ sở quan trọng nhất,
nắm bắt điểm then chốt nhất của dân tộc ta
là lòng yêu nước Khơi dậy lòng yêu nướccủa dân tộc ta chính là tạo cơ sở vững chắccho tư tưởng đại đoàn kết toàn dân, khơidậy sức mạnh của cả dân tộc và nó đãnhanh chóng lan tỏa khắp mọi miền của Tổquốc, thu hút hàng chục triệu người tạo nênkhối đại đoàn kết toàn dân
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí
Minh còn hình thành trên cơ sở tổng kết
kinh nghiệm lịch sử đấu tranh của nhân dân
ta chống áp bức, bóc lột và kinh nghiệmquốc tế Hồ Chí Minh đã phân tích cơ cấu
xã hội, cơ cấu giai cấp, phân tích mâuthuẫn xã hội ở nước ta, chỉ ra những khácbiệt của xã hội Việt Nam so với các nướcchâu Âu và vạch ra đường lối cách mạngmới dựa trên cơ sở đoàn kết, tập hợp tất cảnhững lực lượng có thể đoàn kết được củadân tộc Từ đó chấm dứt thời kỳ khủnghoảng về đường lối, tạo nên bước ngoặtcăn bản của cách mạng Việt Nam
Với bản chất nhân văn cao cả, trí thôngminh lỗi lạc, nhân cách cao thượng, lòng vịtha, bao dung Hồ Chí Minh đã hình thànhnhững triết lý mới về đoàn kết dân tộc, đưađoàn kết dân tộc lên trình độ phát triển mới
2) Một số vấn đề cơ bản trong minh triết Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc đã đi vàocuộc sống, được khảo nghiệm qua cuộcđấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân
Trang 28dân ta, đã trở thành đường lối cơ bản của
Đảng Những vấn đề cơ bản trong triết lý
đại đoàn kết dân tộc đã chứng minh sức
sống mạnh mẽ, bền bỉ trong thực tiễn
phong trào cách mạng của nhân dân, bổ
sung và làm phong phú thêm, góp phần
hình thành lý thuyết phát triển xã hội nước
ta trong lịch sử hiện đại của dân tộc
- Đại đoàn kết dân tộc được hiểu là
những quan điểm, nguyên tắc, phương
pháp tuyên truyền, giáo dục, tổ chức,
hướng dẫn hành động nhằm phát huy đến
mức cao nhất sức mạnh của cả dân tộc và
cả sức mạnh quốc tế trong cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc
và xây dựng đất nước Hồ Chí Minh coi
đoàn kết là vấn đề chiến lược có ý nghĩa
sống còn lâu dài, chứ không phải là sách
lược tạm thời trong từng lúc, từng nơi, lại
càng không phải là một thủ đoạn chính trị
Đây là vấn đề cơ bản nhất về đại đoàn kết
dân tộc, phân biệt giữa đại đoàn kết dân tộc
chân chính với các kiểu đoàn kết dân tộc vì
những động cơ khác Trong thực tế, người
ta thấy có nhiều sự tập hợp lực lượng nhân
dân vì những mục tiêu khác nhau của lực
lượng này hay lực lượng khác Đó không
phải là đại đoàn kết dân tộc chân chính, mà
là thủ đoạn chính trị Sự đoàn kết đó không
bền vững, nó sẽ thay đổi khi mục tiêu chính
trị đã thay đổi, lực lượng nhân dân trở thành
công cụ để phục vụ mục tiêu chính trị
- Đại đoàn kết dân tộc là nội dung xuyên
suốt trong đường lối cách mạng, nó không đơn giản chỉ là phương pháp tập hợp và tổ chức lực lượng quần chúng nhân dân.
Đoàn kết tập hợp nhân dân trước hết vàquan trọng hơn hết là phải đề ra đượcđường lối, chủ trương, chính sách đúngđắn, phù hợp với quyền lợi và nguyện vọngchính đáng của nhân dân và thu hút họ đitheo đường lối đó Như vậy, đại đoàn kếtdân tộc là một nội dung của đường lối cáchmạng, chứ không chỉ là phương pháp vậnđộng quần chúng Theo Hồ Chí Minh, khiđường lối, chính sách không phù hợp lòngdân, thì cho dù phương pháp vận độngquần chúng có hay, có giỏi đến mấy cũngkhông tập hợp nổi quần chúng Nếu đườnglối, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, dùphương pháp đoàn kết, tập hợp quần chúng
có vụng về, đơn giản, thậm chí cán bộ cóthể mắc sai lầm, thì nhân dân vẫn sẵn sàngchia sẻ, giúp đỡ cán bộ sửa chữa khuyếtđiểm và vượt qua
Hồ Chí Minh khẳng định: Đại đoàn kết
dân tộc là nhu cầu, đòi hỏi khách quan của
sự nghiệp cách mạng, là nguyện vọng của nhân dân, chứ không phải là ý muốn chủ quan của người lãnh đạo Nếu khẳng định
quần chúng nhân dân làm nên lịch sử, thìđại đoàn kết dân tộc là sự nghiệp của nhân
Trang 29dân, do nhân dân, vì nhân dân Vai trò của
người lãnh đạo là nhận thức đúng và khẳng
định vị trí quan trọng của đại đoàn kết dân
tộc, khơi dậy, hướng dẫn, tổ chức, tập hợp
lực lượng quần chúng, làm cho khối đại
đoàn kết dân tộc trở nên một lực lượng có
tổ chức vĩ đại, chứ không phải là một sự
liên kết lỏng lẻo, mang tính hình thức hay
ô hợp, rời rạc Trong suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn kiên
trì đấu tranh để xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc trong các hình thức tổ chức có tên
gọi khác nhau của Mặt trận Dân tộc Thống
nhất, coi đó là một nhu cầu khách quan của
sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Thừa
nhận tính khách quan của đại đoàn kết dân
tộc, Hồ Chí Minh trước sau như một chủ
trương thật thà, chân thành trong xử lý các
mối quan hệ trong khối đại đoàn kết dân
tộc, nhất là những lúc cách mạng gặp khó
khăn, phức tạp Mọi thái độ chủ quan áp đặt,
bệnh hình thức, ban ơn, sự không nhất quán,
nói không đi đôi với làm đều xa lạ với tư
tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh
Ở Hồ Chí Minh không bao giờ có bạn
đường tạm thời, lúc này thì đoàn kết, lúc
khác lại bỏ rơi Tinh thần đoàn kết là một
triết lý đoàn kết độc đáo Hồ Chí Minh, hàm
chứa sự tin tưởng, sự chung thủy, lòng bao
dung, đức nhân ái, vị tha, là sự kết hợp văn
hóa phương Đông và phương Tây, kế thừa
văn hóa Việt Nam, đó là văn hóa tâm công,lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhânthay cường bạo của ông cha ta Đã đoànkết thì phải thật lòng với những ai thật lòngmuốn đoàn kết Hồ Chí Minh không chấpnhận sự đoàn kết nửa vời, đoàn kết một cáchhình thức và coi đó là sự giả dối thiếu trungthành, thiếu tôn trọng đối với nhân dân.Minh triết Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
dân tộc bao quát một phạm vi không gian
rất rộng lớn, chứ không chỉ giới hạn trong
một phạm vi nhỏ hẹp Đại đoàn kết dân tộcbao quát trên bình diện rộng lớn mọi ngườidân ở tất cả các lĩnh vực xã hội Đó là đoànkết mọi người Việt Nam yêu nước thuộccác giai tầng xã hội khác nhau, các dân tộc,các tôn giáo, các giới, các lứa tuổi sinhsống ở thành thị, nông thôn, miền núi, hảiđảo, ở nước ngoài, hoạt động trong các lĩnhvực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, anninh, quốc phòng, đối ngoại Tư tưởngđoàn kết rộng rãi đòi hỏi phải xử lý mốiquan hệ lợi ích đa dạng, thực hiện côngbằng, bình đẳng giữa mọi người trên cơ sởtôn trọng lẫn nhau, bao dung và tha thứnhưng giữ vững nguyên tắc vừa đoàn kết,vừa đấu tranh Như vậy, đoàn kết rộng rãi
nhưng không ô hợp “như món xa lát Nga”
(Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói), đoàn kết
có tổ chức, có kỷ cương vì lợi ích chungcủa dân tộc Không thể chỉ vì đoàn kết một
Trang 30nhóm người, một lĩnh vực hoặc một địa
phương này mà làm tổn hại đến việc tập
hợp và đoàn kết nhóm người khác, địa
phương khác, lĩnh vực khác Đại đoàn kết
dân tộc như vậy có sức thu hút rộng rãi,
không có sự phân biệt, do đó khơi dậy tâm
lý bình đẳng và ý thức trách nhiệm cộng
đồng đối với Tổ quốc Mỗi người Việt Nam
dù cư trú ở đâu, có địa vị và hoàn cảnh xã
hội khác nhau, nhưng đều được coi trọng
và đều được đoàn kết trong cộng đồng dân
tộc Hồ Chí Minh nói: “Ai có tài, có đức,
có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục
vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(2) Như
vậy, vừa phục vụ cho lợi ích chung của dân
tộc, vừa bảo đảm quyền lợi cho một con
người Tính đa dạng và phong phú, tính
quần chúng rộng rãi đã làm tăng sự hấp dẫn
và thích nghi của khối đại đoàn kết dân tộc
Để đoàn kết mọi tầng lớp đa dạng và
rộng rãi, Hồ Chí Minh đã thành lập các tổ
chức và giúp đỡ cho đông đảo quần chúng
thành lập các tổ chức của mình, như các
hình thức mặt trận dân tộc thống nhất mang
tính toàn dân và mặt trận của từng giới, các
đảng phái chính trị của trí thức, tư sản dân
tộc (Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội
Việt Nam) có hệ thống tổ chức từ cơ sở
nơi dân cư trú lên đến toàn quốc, có tôn
chỉ, mục đích và quy chế hoạt động phù
hợp với giới mình Như vậy, đại đoàn kết
dân tộc vừa có phạm vi rộng rãi, vừa được
tổ chức theo từng hệ thống để hành động,chứ không phải chỉ là sự tập hợp đám đônghoặc sự liên minh tạm thời, lỏng lẻo, do đósức mạnh của đoàn kết dân tộc được tănglên gấp bội Như vậy, trong minh triết HồChí Minh về đại đoàn kết dân tộc đã toátlên một tư duy hành động, chứ không phải
là khẩu hiệu động viên, kêu gọi
- Minh triết Hồ Chí Minh về đại đoànkết dân tộc còn hàm chứa những nguyêntắc của sự đoàn kết Những nguyên tắc đótoát lên những giá trị tư tưởng cao quý củadân tộc
Trước hết, đại đoàn kết dân tộc phải đảm
bảo lợi ích tối cao của dân tộc và mang lạilợi ích thiết thực cho người dân, giải quyếthài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung củadân tộc với lợi ích của người dân Chỉ cóbảo đảm sự hài hòa đó mới có thể đoàn kếtđược mọi người dân Muốn vậy, cần phảitìm ra mẫu số chung được mọi tầng lớptrong xã hội chấp nhận, có thể tập hợp vàđoàn kết được các thành viên khác nhautrong cộng đồng dân tộc Trong ngót mộtthế kỷ đấu tranh gian khổ và anh dũng, mẫu
số chung mà cả dân tộc ta có thể chấp nhận,
đó là đất nước được độc lập tự do, dân chủ,
Tổ quốc được hòa bình, thống nhất Theo
Hồ Chí Minh, “bất kỳ ai mà thật thà tánthành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân
Trang 31chủ thì dù những người đó trước đây chống
chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà
đoàn kết với họ”(3)
Lấy mẫu số chung làm điểm tương đồng
thì có thể hóa giải những khác biệt, những
mâu thuẫn trong xã hội, làm cho khối đại
đoàn kết dân tộc đi từ nhỏ đến lớn, đi từ
yếu đến mạnh, sự nghiệp chính nghĩa của
dân tộc ngày càng phát triển Bài học lấy
mẫu số chung làm điểm tương đồng đã có
giá trị thiết thực trong việc tìm những bước
đi và giải pháp cụ thể nhằm giải quyết
những khác biệt và mâu thuẫn tồn tại khách
quan trong các mối quan hệ xã hội, nhất là
vào những thời điểm đất nước gặp phải
những tình huống gay go, phức tạp Với
triết lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “cầu
đồng, tồn dị” và “thêm bạn, bớt thù”, Hồ
Chí Minh đã tập hợp, đoàn kết được mọi
lực lượng có thể đoàn kết trong cả nước và
bạn bè quốc tế, tạo nên tầng tầng, lớp lớp
các mặt trận đoàn kết phong phú, đa dạng
của từng ngành, từng giới, từng vùng miền
cho đến toàn quốc, làm nên sức mạnh vô
địch của khối đại đoàn kết dân tộc
Thứ hai, tin tưởng vào dân, biết dựa vào
dân, coi dân là chủ thể, là nguyên tắc quan
trọng của đoàn kết dân tộc Xuất phát từ
triết lý “cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đại đoàn kết
trước hết là đoàn kết đại đa số nhân dân,
tức là công nhân, nông dân, các tầng lớplao động khác Đó là nền gốc của đại đoànkết; nó như cái nền của nhà, gốc của cây.Nhưng đã có nền vững, gốc tốt còn phảiđoàn kết các tầng lớp nhân dân khác,không bỏ sót một ai Khi khẳng định nhândân đóng vai trò chủ thể của đại đoàn kếtdân tộc, Hồ Chí Minh đồng thời chỉ rõĐảng giữ vai trò lãnh đạo khối đại đoàn kết
đó Nhưng, để có thể lãnh đạo khối đạiđoàn kết toàn dân thì Đảng phải “tỏ ra làmột bộ phận trung thành nhất, hoạt độngnhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh
và công tác hàng ngày, khi quần chúngrộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn vànăng lực lãnh đạo của Đảng thì Đảng mớigiành được địa vị lãnh đạo”(4) Đảngkhông thể đòi hỏi quần chúng thừa nhậnquyền lãnh đạo của mình, “trước mặt quầnchúng, không phải ta cứ viết lên trán haichữ “cộng sản” mà ta được họ yêumến”(5)
Thứ ba, muốn có đại đoàn kết dân tộc
bền vững, phải giữ vững nguyên tắc dân
chủ và đồng thuận, cần phải tôn trọng
người dân khi tập hợp và đoàn kết họ trongcác tổ chức quần chúng, tôn trọng quyềnlàm chủ và xây dựng sự đồng thuận xã hội
Sự bền vững của đại đoàn kết dân tộc phụthuộc vào các yếu tố dân chủ và đồngthuận, đồng thời lại cũng tạo điều kiện để
Trang 32thúc đẩy dân chủ và đồng thuận Không có
dân chủ và đồng thuận, sự đoàn kết sẽ lỏng
lẻo, dễ rơi vào hình thức và sẽ tan vỡ khi
chịu tác động của các nhân tố chia rẽ Để
đoàn kết vững bền, Hồ Chí Minh đặc biệt
nhấn mạnh: “Dân ta xin nhớ chữ đồng?
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng
minh”(6) Muốn vậy, phải đấu tranh không
nhân nhượng, chống tư tưởng bè phái
thông qua phê bình và tự phê bình một
cách công khai, dân chủ trong Đảng và
trong các tổ chức Đại đoàn kết không phải
là con đường bằng phẳng, mà phải trải qua
không ngừng đấu tranh, có khi gặp thử
thách, thậm chí cả sự mất mát, để tạo nên
môi trường dân chủ và đồng thuận mới có
thể củng cố cho đại đoàn kết được vững bền
Hồ Chí Minh luôn coi trọng cả hai
phương diện công tác để củng cố đại đoàn
kết dân tộc Một mặt, phải chống những
hoạt động chia rẽ, bè phái; mặt khác, phải
rất coi trọng vai trò của hoạt động lãnh đạo
quản lý, như xây dựng và thực hiện đường
lối, chính sách đúng, có đội ngũ cán bộ,
đảng viên trong sạch là đày tớ thật trung
thành của nhân dân Xây dựng đồng thuận
xã hội sẽ làm cho khối đại đoàn kết dân tộc
được bền chặt, vì nó được bảo đảm bằng
sự tin cậy lẫn nhau trong xã hội Lòng tin
của nhân dân phụ thuộc vào sự đúng đắn
của đường lối, chính sách, sự gương mẫu,
trong sạch, tinh thần phục vụ nhân dân củacán bộ, đảng viên và việc thực hiện dânchủ, công khai, minh bạch trong đời sống
xã hội
- Minh triết Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
dân tộc còn bao gồm những phương pháp
thích hợp và phong phú,linh hoạt nhằm biến
tư tưởng đại đoàn kết thành hiện thực.Nghiên cứu tư tưởng và hành động của
Hồ Chí Minh, có thể khái quát thành 3 loạiphương pháp lớn sau đây:
Một là, phương pháp tuyên truyền, giáo
dục: Con người là chủ thể của đại đoàn kết,
vì vậy phương pháp đầu tiên để thực hiệnđại đoàn kết phải là phương pháp tuyêntruyền, giáo dục nhằm khơi dậy tinh thầnyêu nước chân chính trong mỗi con người
để tạo tiền đề mở cửa đi vào đại đoàn kết
“Tinh thần yêu nước như là cái thứ củaquý Có khi được trưng bày trong tủ kính,trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy Nhưngcũng có khi cất giấu kín đáo trong rương,trong hòm Bổn phận của ta là làm chonhững thứ của quý kín đáo ấy đều đượcđưa ra trưng bày Nghĩa là phải ra sức tuyêntruyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thầnyêu nước của tất cả mọi người đều đượcthực hành vào công việc yêu nước ”(7).Đặc trưng của phương pháp tuyên truyền,giáo dục mà Hồ Chí Minh đã tiến hànhchính là kết hợp chặt chẽ ba yếu tố có quan
Trang 33hệ hữu cơ với nhau, đó là tuyên truyền, tổ
chức, lãnh đạo, trong đó nổi bật là gắn liền
tuyên truyền với tổ chức hành động thực tế
bằng các phong trào, việc làm theo mục
tiêu, nhiệm vụ của từng thời kỳ Như vậy
là kết hợp giữa tư tưởng và hành động, lời
nói và việc làm trong đại đoàn kết dân tộc,
thông qua hành động mà làm cho quần
chúng nhân dân phát huy lòng yêu nước và
tính cố kết cộng đồng, chứ không chỉ dừng
ở những khẩu hiệu tuyên truyền, ở nhận
thức tư tưởng Đó chính là sức mạnh của
công tác tuyên truyền, giáo dục Qua mỗi
thời kỳ cách mạng, việc xác định nội dung
tuyên truyền, giáo dục thiết thực, nhằm vào
những vấn đề phản ánh đúng nguyện vọng
thiết thân và quyền lợi cơ bản, chính đáng
của nhân dân, bao gồm nguyện vọng,
quyền lợi chung của cả dân tộc và nguyện
vọng của từng giai tầng, coi đó là điểm
tương đồng mọi người đều đồng thuận Đó
là những khẩu hiệu hành động thống thiết
đi vào lòng người, thôi thúc mọi người
tham gia vào hành động chung, như:
+ Trước khi giành được chính quyền thì
khẩu hiệu tập hợp quần chúng là “Độc lập
dân tộc và người cày có ruộng”
+ Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
thì khẩu hiệu là “Vừa kháng chiến, vừa
kiến quốc”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả
để chiến thắng”,
+ Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹthì khẩu hiệu là “Không có gì quý hơn độclập tự do”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”
Hai là, xây dựng đại đoàn kết dân tộc
bằng tổ chức
Đại đoàn kết dân tộc bằng các hình thức
tổ chức chứng tỏ sự đoàn kết đã đạt đếntrình độ phát triển cao và chặt chẽ, có thể tậphợp các lực lượng có thể tập hợp được trongcác tổ chức để tiến hành các hoạt động theochương trình đại đoàn kết dân tộc
Mặt trận Dân tộc Thống nhất và nhiều
tổ chức xã hội khác là tổ chức rộng rãi củakhối đại đoàn kết dân tộc phải được xâydựng thật đa dạng, linh hoạt, phải thực sự
là tổ chức của dân, đại diện cho nguyệnvọng và lợi ích chính đáng của dân, đấutranh bảo vệ quyền lợi cho dân Các hìnhthức tổ chức có tên gọi khác nhau của Mặttrận Dân tộc Thống nhất, từ Hội Phản đếđồng minh năm 1930 cho đến Mặt trận Tổquốc ngày nay, là tổ chức chính trị xã hộirộng rãi do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là tổchức quần chúng có vai trò nòng cốt đoànkết, liên minh các tổ chức, đảng phái chínhtrị, cá nhân tiêu biểu trong cả nước trongcuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thốngnhất Tổ quốc Đây là sự vận dụng linh hoạt
và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của HồChí Minh vào hoàn cảnh Việt Nam, khôngngừng nhạy bén thay đổi và hoàn thiện các
Trang 34tổ chức Mặt trận, chống bệnh hình thức,
hành chính hóa, nhà nước hóa, đồng thời
phải đề ra một Cương lĩnh và Chương trình
hành động rõ ràng, thiết thực và vững chắc
cho cả nước, làm cho Mặt trận thực sự là
ngôi nhà chung của các tầng lớp nhân dân,
các dân tộc, các tôn giáo, các cá nhân,
không có sự phân biệt Cán bộ Mặt trận và
các tổ chức xã hội phải tận tụy, gắn bó với
dân, óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi,
miệng nói, tay làm Mặt trận phải là diễn
đàn rộng rãi của đoàn kết và dân chủ xã
hội Bài học về xây dựng tổ chức Mặt trận
của khối đại đoàn kết dân tộc là một điểm
nhấn đáng trân trọng và tự hào của truyền
thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc ta, là
một nội dung nổi trội trong minh triết Hồ
Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Ba là, xử lý một cách sáng tạo, linh hoạt
các mối quan hệ giữa các lực lượng trong
khi thực hiện đại đoàn kết dân tộc Cuộc
đấu tranh giành độc lập và thống nhất Tổ
quốc diễn ra gay go, ác liệt, lâu dài nhiều
thập kỷ, và công cuộc đổi mới đất nước
trong những thập kỷ sau chiến tranh đã làm
cho cơ cấu xã hội, cơ cấu giai cấp ở nước
ta không ngừng thay đổi, luôn đặt ra những
vấn đề mới đòi hỏi phải xử lý linh hoạt và
sáng tạo mối quan hệ giữa các tầng lớp
trong xã hội, nhằm tăng thêm ngày càng
nhiều bầu bạn, bớt đi ngày càng nhiều kẻ
thù, tăng thêm ngày càng nhiều lực lượngtích cực, tranh thủ ngày càng nhiều lựclượng trung gian, giảm đi ngày càng nhiềunhững lực lượng tiêu cực
Hồ Chí Minh luôn rất chú trọng pháthuy vai trò của các lực lượng tiên tiến cáchmạng, những nhân tố tích cực, làm cho lựclượng này ngày càng đông đảo, trưởngthành, làm cơ sở để đoàn kết các lực lượngkhác trong xã hội, trong đó lực lượng côngnhân, nông dân, trí thức chiếm số đông.Lực lượng tích cực làm nòng cốt sẽ làmcho đại đoàn kết được kiến trúc trên nềntảng bền chặt, tạo nên thế đứng vững vàng
để đoàn kết các lực lượng khác đi theođường lối đúng đắn, phân hóa và cô lập cáclực lượng chống lại nhân dân
Với tư tưởng bao dung của Hồ ChíMinh, những người thuộc tầng lớp thượnglưu, trí thức đã từng gắn với bộ máy chínhquyền của chế độ cũ, nhân sĩ quan lại cũ,hoàng tộc , trong quá trình đồng hànhcùng dân tộc, cần được khơi dậy lòng yêunước và ý thức dân tộc xóa bỏ mọi địnhkiến, mặc cảm, có chính sách chân thànhhợp tác và được trọng dụng, thật thà đoànkết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ để cùngchống kẻ thù chung, phục vụ nhân dân, xâydựng đất nước Đối với những người đãtừng lầm đường, lạc lối mà quay về vớinhân dân thì cần có chính sách khoan hồng
Trang 35để đưa họ tái hòa nhập với cộng đồng trong
lòng dân tộc Tuy chiến tranh chống ngoại
xâm xảy ra liên miên, nhưng sau khi thắng
lợi đã không diễn ra cảnh thanh trừng, trả
thù đẫm máu Hồ Chí Minh nói: “Đối với
những đồng bào lạc lối lầm đường ta phải
lấy tình thân ái mà cảm hóa họ Có như thế
mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì
tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”(8) Đức
bao dung và truyền thống lấy đại nghĩa dân
tộc làm trọng đã vượt lên trên mọi ân oán,
hận thù và những ranh giới bên này, bên kia
do chiến tranh xâm lược để lại Chủ trương
xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hận thù, khép
lại quá khứ, nhìn về tương lai, tạo sự tin
cậy lẫn nhau để khắc phục những ngăn
cách, chia rẽ đã làm cho khối đại đoàn
kết dân tộc vượt qua được những rạn nứt,
thử thách do chiến tranh để lại
Nhân dân ta đã phải đối mặt với nhiều
lực lượng chống đối và thù địch để giành
và giữ vững độc lập dân tộc và thống nhất
Tổ quốc Hồ Chí Minh đã nêu mẫu mực
sáng ngời về thêm bạn, bớt thù, chủ trương
phân hóa cao độ, khai thác các mâu thuẫn
trong nội bộ thế lực chống đối, tranh thủ
lôi kéo tối đa những lực lượng nào có thể
tranh thủ được, dù chỉ là một cá nhân, hòa
hoãn với những thế lực có thể hòa hoãn, cô
lập và đấu tranh kiên quyết với những lực
lượng ngoan cố và phản động nhất Tư duy
đó của Hồ Chí Minh đã có tác dụng quantrọng thu hẹp các lực lượng chống đối,giảm bớt khó khăn và tổn thất cho cuộc đấutranh giành độc lập của dân tộc
Quan điểm của Hồ Chí Minh: Tự do tín
ngưỡng, lương giáo đoàn kết và quan điểm đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ là tư tưởng chỉ đạo của
mọi chủ trương, chính sách về tôn giáo,dân tộc, đã có tác dụng tích cực trong việc
xử lý các quan hệ tôn giáo, dân tộc ở nước
ta, không để xảy ra xung đột tôn giáo dântộc và đã huy động được các tầng lớp nhândân theo đạo và dân tộc thiểu số vào việcxây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
Nhờ biết xử lý đúng đắn, sáng tạo vàkhôn khéo các mối quan hệ giữa các lựclượng nói trên mà làm cho các lực lượngtiến bộ và cách mạng ngày càng lớn mạnh,đoàn kết được ngày càng nhiều các lựclượng có thể đoàn kết, làm cho lực lượngnhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộcngày càng đông, càng mạnh, phân hóa vàlàm suy yếu mọi thế lực chống đối Đó là
xu thế có tính quy luật trong sự vận độngcủa khối đại đoàn kết dân tộc, chứng tỏ sựđúng đắn và sức sống mạnh mẽ của minhtriết Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Có thể nói rằng, cho đến nay, việcnghiên cứu lịch sử dân tộc chưa được đặtđúng tầm của nó, trong đó có việc nghiên
Trang 36cứu lịch sử tư tưởng của dân tộc Những
nghiên cứu còn khiêm tốn của một vài học
giả đã quá cố chưa đáp ứng được yêu cầu
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
-trong phạm vi của nghiên cứu này là
nghiên cứu minh triết Hồ Chí Minh, là một
nghiên cứu có ý nghĩa lớn lao, góp phần
tích cực vào nghiên cứu lịch sử tư tưởng
của dân tộc ta
Ngày nay, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ
Chí Minh được đặt trong hoàn cảnh mới,
có những đặc trưng mới khi tình hình trong
nước và thế giới đã có những thay đổi sâu
sắc Thực tiễn cuộc sống đang đòi hỏi phải
thay đổi mạnh mẽ trong tư duy khi nghiên
cứu về lĩnh vực này Sự thay đổi đó phải
vượt ra khỏi sự ràng buộc của tư duy
truyền thống và giải quyết triệt để mối
quan hệ giữa bảo thủ và đổi mới Nghiên
cứu minh triết Hồ Chí Minh về Dân, Dân
vận và Đại đoàn kết dân tộc phải được đặt
trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
nói chung, trong cái nhìn tổng thể về toàn
bộ tư tưởng Hồ Chí Minh Không thể tách
rời toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
để nghiên cứu về Dân, Dân vận và Đại
đoàn kết dân tộc
Trong minh triết Hồ Chí Minh nói
chung, phải nói rằng phạm trù Dân là phạm
trù xuyên suốt Toàn bộ tư tưởng, tình cảm,
hành động trong suốt cả cuộc đời của Hồ
Chí Minh đều nhằm vào chữ Dân Động cơ
ra đi tìm đường cứu nước, dấn thân vào conđường cách mạng đầy chông gai, nguyhiểm cũng chỉ vì Dân, vì nước Vì Dân làtriết lý cao nhất và duy nhất của Hồ ChíMinh; nó chi phối mọi tư duy, hành độngcách mạng và cuộc sống của Người Nhờvậy đã tạo cho Hồ Chí Minh một cuộc đờitrong sáng và đẹp đẽ để đến khi phải từ biệtthế giới này, có thể rút ra một kết luận tuyệt
vời là “không có điều gì phải ân hận”?
Trong thế gian này ít ai, nhất là nhữngchính trị gia, cuối đời lại có thể hạ được câu
bất hủ đó trong Di chúc của đời mình.
Suốt đời vì Dân, nhưng Hồ Chí Minhkhông bao giờ đứng trên dân, luôn coi Dân
là quý nhất, mạnh nhất trong bầu trời Cái
vĩ đại của triết lý này chính là ở chỗ, Người
đã thực hiện được nó trong suốt cuộc đờicách mạng, trong mọi lúc, mọi nơi, dù khókhăn hay thuận lợi, từ lúc hoạt động bí mậtcho đến khi trở thành lãnh tụ của cả dântộc Con người ta luôn dễ bị hoàn cảnhkhách quan làm cho thay đổi, nhất là khi
có chức, có quyền Quyền lực có thể làmthay đổi con người, thậm chí tha hóa bảnchất con người Chỉ có những người thực
sự vì Dân, hiểu rằng chính Dân mới làngười chủ sở hữu quyền lực, người cầmquyền chỉ là được ủy quyền để phục vụnhân dân, thì người đó mới không bị tha
Trang 37hóa bởi quyền lực Theo lôgíc ấy, có thể
thấy rằng, khi con người đã nắm quyền lực
trong tay mà bị tha hóa bởi quyền lực thì
thực tế, họ đã không còn là người được dân
ủy quyền và lẽ đương nhiên, Dân có thể rút
lại quyền đó
Nghiên cứu minh triết Hồ Chí Minh về
Dân, Dân vận và Đại đoàn kết dân tộc
không giống với nghiên cứu các nhà hiền
triết khác Nếu chỉ khảo cứu các tác phẩm
của Hồ Chí Minh mà không đi sâu nghiên
cứu cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng
sôi nổi và phong phú của Người để từ
những việc làm cụ thể rút ra những triết lý
sâu sắc, thì không thể hiểu hết minh triết
Hồ Chí Minh Một lãnh tụ mà đêm ngày lo
cho dân từ những việc nhỏ bình thường
nhất trong cuộc sống, như gửi thuốc lào
cho bộ đội ở chiến dịch biên giới (1950),
nhắc gửi bồ kết cho nữ thanh niên xung
phong, quây nhà tắm cho chị em Ở
Trường Sơn thời kỳ chống Mỹ, và biết bao
câu chuyện bình dị nhưng vô cùng cảm
động khác không thể kể hết đã không chỉ
là câu chuyện về tác phong sinh hoạt của
Hồ Chí Minh, mà nói lên triết lý về mối
quan hệ với Dân Ở Hồ Chí Minh thể hiện
sự gặp gỡ, hòa quện chặt chẽ với nhau đến
mức khó phân biệt giữa triết lý và hành
động, lý trí và tình cảm, cái cao siêu và cái
bình dị Sở dĩ như vậy vì chính Hồ Chí
Minh cũng tự coi mình là Dân, một người
lính vâng lệnh quốc dân ra trận, khi xong
nhiệm vụ thì mong muốn trở về làm mộtngười dân bình thường trong ngôi nhà nhỏnơi non xanh, nước biếc, sớm chiều làm
bạn với con trẻ Đây cũng là triết lý “quan
nhất thời, dân vạn đại” mà người xưa đã
đúc kết
Có người cho rằng, học tập theo minhtriết Hồ Chí Minh rất khó, vì đã là minhtriết thì rất cao siêu, hơn nữa làm sao học
và làm theo lãnh tụ được Kỳ thực, minhtriết Hồ Chí Minh không giống như của cácnhà hiền triết khác; nó gần gũi với cuộcsống mỗi con người như cơm ăn, nướcuống Nếu có cái Tâm trong sáng, tất cả vìDân, không màng danh lợi, ta sẽ thấy minhtriết Hồ Chí Minh gần gũi với mỗi người,việc học tập và làm theo minh triết Hồ Chí
Trang 38tRiết lÝ “hiỂu dân, tin dân, dỰa vào dân”
tRong Chiến lưỢC đại đoàn Kết
Của Chủ tỊCh hồ Chí Minh
?THS PHẠM THỊ HẰNG Báo dân trí, trung ương hội Khuyến học
1 Dân là gốc rễ, là nền tảng của đại
đoàn kết
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh quần chúng
nhân dân là bộ phận gồm đông đảo những
người thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp khác
nhau trong xã hội Tức là, mọi “con dân
nước Việt”, “mỗi một người con rồng cháu
Tiên”, không phân biệt “già, trẻ, gái, trai,
giàu, nghèo, quý, tiện” trong đó công
-nông chiếm tuyệt đại đa số Đó là lực lượng
chủ yếu làm ra sản phẩm vật chất và tinh
thần cho xã hội và sức mạnh của nhân dân
không phải là sự cộng lại giản đơn của số
đông dân chúng mà đó là sức mạnh tổng
hợp do được tổ chức lại, dựa trên một cơ
sở thống nhất về lợi ích, ý chí và hành
động Đánh giá về vai trò của dân, Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: “dân là gốc của
nước, nước lấy dân làm gốc”, “trong thế
giới không có gì mạnh bằng lực lượng
đoàn kết của toàn dân”, “dân chúng công
nông là gốc cách mệnh” và khi “dân khí
mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng
tổng quát có triết lý sâu xa thể hiện một thếgiới quan khoa học, một quan niệm nhânsinh đúng đắn, với ý nghĩa nhân văn cao cả
“Dân là gốc của nước” nên phải chămsóc đến gốc, vì “gốc có vững cây mới bền”,dân có giàu nước mới mạnh Nhưng dânthường không hiểu tình thế trên thế giới,không biết so sánh, không có mưu chước,chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại khônglàm Dân thường thường chia rẽ phái này,bọn kia nên nỗi yếu sức đi, như đũa mỗichiếc mỗi nơi Vậy nên cách mệnh phảitập trung, muốn tập trung phải có Đảngcách mệnh Cách mạng có trong lòng dân,cách mạng có dân là có lực lượng, có hậuphương Dựa vào dân, có dân là có tất cả,trong đó công - nông là nòng cốt, bởi lẽ:
“1 Là vì công - nông bị áp bức nặng nềhơn 2 Là vì công - nông là đông nhất chonên sức mạnh hơn hết 3 Là vì công nông
là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mấtmột cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thếgiới, cho nên họ gan góc”(2) Theo Hồ Chí
Trang 39toàn dân, đồng thời đoàn kết cũng vì lợi ích
của nhân dân đã làm cho dân tộc thoát khỏi
mọi áp bức bóc lột, thoát khỏi đói nghèo
Đảng và Nhà nước phải biết phát huy tinh
thần yêu nước là tài dân, của dân, sức dân,
làm lợi cho dân Vì vậy, dân thực sự là gốc
rễ của đoàn kết dân tộc
2 Dân là chủ thể của đại đoàn kết
Dân không những có lực lượng đông mà
còn cần cù, thông minh, khéo kéo, có nhiều
kinh nghiệm quý báu, biết giải quyết nhiều
vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy
đủ mà “những người tài giỏi, những đoàn
thể to lớn nghĩ mãi không ra” Sức mạnh
của nhân dân được thể hiện trong mọi hoàn
cảnh, điều kiện, công việc, nhưng đặc biệt
thể hiện rõ rệt khi quần chúng tự giác tham
gia giải quyết những công việc hết sức khó
khăn, phức tạp Những nơi cách mạng còn
yếu kém là do không cùng dân bàn bạc
Chỉ nơi nào biết cùng bàn bạc đến nơi đến
chốn, dựa vào dân chúng nơi đó công việc
cách mạng mới tiến triển khá Đại đoàn kết
toàn dân không là tự phát mà là tự giác
Dân giác ngộ cách mạng, tự nguyện đoàn
kết theo Đảng làm cách mạng để giải
phóng mình, giải phóng Tổ quốc Cách
mạng là do dân, dân tự làm lấy, Đảng chỉ
là người lãnh đạo
Ở trong xã hội muốn thành công phải có
ba điều kiện đó là, thiên thời, địa lợi và
nhân hòa Ba điều kiện ấy đều quan trọng
cả, nhưng “thiên thời không quan trọngbằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọngbằng nhân hòa Nhân hòa là tất cả mọingười đều nhất trí Nhân hòa là quan trọnghơn hết”(3) Bởi thực tiễn lịch sử cho thấy,nếu dân chúng đồng lòng việc gì cũng làmđược, dân chúng không ủng hộ việc gì làmcũng không nên Dân là chủ thể của đạiđoàn kết, dân phải làm chủ quá trình đó.Dân vừa là chủ của quá trình đại đoàn kết,đồng thời dân phải có nghĩa vụ, bổn phậnđối với quá trình ấy Cán bộ, đảng viên phảigiải thích cho dân hiểu, giúp dân thực hiệnquyền và nghĩa vụ làm chủ Người dạy:
“Nhân dân được hưởng những quyền lợi
ấy, cho nên mọi người cần phải hăng háilàm tròn nghĩa vụ của mình trong mọi côngviệc kháng chiến, cứu nước, xây dựngnước nhà Nhân dân là bốn giai cấp công,nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và nhữngphần tử khác yêu nước Đó là nền tảng củaquốc dân”(4) Do đó, ai nấy hãy làm trònnghĩa vụ của người công dân, người chủnước nhà
Dân là chủ thể của sức mạnh đại đoànkết, nên trong mọi việc đều phải biết dựavào quần chúng phải động viên, tổ chức,đoàn kết quần chúng Lấy sức quần chúng
để vượt qua khó khăn, nhưng cũng phải đểquần chúng tự giác giúp nhau, tổ chức nhaulại là chính, dân “phải tự lực cánh sinh” vàphải mạnh dạn tác động đến quần chúng
Trang 40làm cho mọi người thấm nhuần tinh thần
làm chủ tập thể Quần chúng thật sự có
quyền dân chủ và cán bộ, đảng viên, đoàn
viên phải xung phong gương mẫu, thì chắc
chắn ngăn ngừa được tệ quan liêu, mệnh
lệnh, lãng phí, tham ô
3 Dân là nguồn gốc sức mạnh vô tận
và vô địch khối đại đoàn kết
Trong chiến lược đại đoàn kết, Chủ tịch
Hồ Chí Minh cho rằng, ý chí của dân là ý
chí đã được hun đúc trong nghèo đói và
khổ cực, ý chí đó mạnh hơn và dẻo dai hơn
sóng cả, nó đánh đổ mọi sức mạnh của sự
áp bức bóc lột Xác định dân là nguồn gốc,
là sức mạnh vô tận và vô địch của đại đoàn
kết là Người đã nhìn thấy lực lượng đông
đảo của dân, trí tuệ của dân, khả năng và
kinh nghiệm giải quyết mọi công việc lớn
nhỏ của dân Người luôn khẳng định: “Dễ
mười lần không dân cũng chịu Khó trăm
lần dân liệu cũng xong” và “Phải dựa vào
quần chúng mà phát động mọi phong trào
sản xuất, chiến đấu Phải làm cho quần
chúng luôn luôn phấn khởi, tin tưởng Làm
việc gì cũng phải có quần chúng Không có
quần chúng thì không thể làm được”(5)
Trong chiến lược đại đoàn kết, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Phải làm
sao cho dân yêu mến Phải nhớ rằng dân là
chủ Dân như nước, mình như cá Lực
lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết Phải làm
cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi
dân tiếc, chớ vác mặt làm quan cách mạngcho dân ghét, dân khinh, dân không ủnghộ”(6) Công cuộc kháng chiến kiến quốc,lực lượng chính là ở dân Cách mạng chỉ
có thể thành công khi được nhân dân ủng
hộ, tham gia Và “Chủ nghĩa xã hội chỉ cóthể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ
và lao động sáng tạo của hàng chục triệungười”(7) Dân có vai trò quan trọng,nhưng dân cũng có những nhược điểm hạnchế cố hữu Vì thế, Người luôn nhắc nhởcán bộ, đảng viên, mọi tổ chức đoàn thể cáccấp từ địa phương đến trung ương phải tất
cả vì lợi ích của dân, phải thương dân, phảiquan tâm đến đời sống của dân và thườngxuyên liên hệ, bàn bạc; giáo dục, giác ngộ
để giúp dân thực hiện sứ mệnh của họ; mỗicán bộ, đảng viên phải thật thà tự phê bìnhtrước nhân dân và hoan nghênh nhân dânphê bình mình, sẵn sàng học hỏi ở nhândân, tự mình phải gương mẫu cần, kiệm,liêm, chính, để nhân dân noi theo Cán bộ,đảng viên từ địa phương đến trung ươngthực hiện được điều đó sẽ đoàn kết đượcnhân dân Sự đoàn kết của nhân dân chính
là nguồn gốc sức mạnh vô tận, vô địch củacách mạng, là chỗ dựa vững chắc củaĐảng, của hệ thống chính trị cách mạng
4 Dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng, của hệ thống chính trị cách mạng
Trong quá trình hoạt động cách mạng,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra