Đóng góp vào sự thành công của hệ thống nội dung trên nhiều lĩnh vực, các chương trình chuyên đề truyền hình đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các chương trình truyền hình bởi nó cu
Trang 1PHÙNG MINH HẢO
QUẢN LÝ NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN ĐỀ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH
VÀ TRUYỀN HÌNH PHÚ THỌ (Khảo sát dữ liệu từ tháng 1/2020 đến tháng 6/2020)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Trang 2PHÙNG MINH HẢO
QUẢN LÝ NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN ĐỀ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH
VÀ TRUYỀN HÌNH PHÚ THỌ (Khảo sát dữ liệu từ tháng 1/2020 đến tháng 6/2020)
Chuyên ngành: Quản lý báo chí truyền thông
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NHẠC PHAN LINH
Trang 3Hà Nội, ngày … tháng … năm 20…
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Lưu Văn An
Trang 4Tôi cam đoan luận văn này do chính tác giả nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nhạc Phan Linh
Các kết quả nghiên cứu và toàn bộ nội dung này chưa được công bố bất kỳ ở đâu Các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, trung thực
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Tác giả
Phùng Minh Hảo
Trang 5Để hoàn thành Luận văn thạc sĩ với đề tài “Quản lý nội dung chương
trình chuyên đề trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Thọ”, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc Học viện Báo
chí và Tuyên truyền, Viện Báo chí, các giảng viên đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, dạy bảo cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn thạc sĩ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nhạc Phan Linh - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giảng viên trong Viện Báo chí, các thầy, cô trong và ngoài Học viện giảng dạy các bộ môn đã cung cấp cho cho tôi những kiến thức và kỹ năng cần thiết ở bậc đào tạo sau đại học
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể Ban Giám đốc Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Thọ; lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên phòng Chuyên đề và Dân tộc - Miền núi đã nhiệt tình hỗ trợ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, nghiên cứu đề tài và hoàn thành Luận văn
Học viên
Phùng Minh Hảo
Trang 6BTV Biên tập viên
Trang 7MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG 12
1.1 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2 Đặc điểm của chương trình chuyên đề truyền hình và các yếu tố quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình địa phương 19
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH PHÚ THỌ 32
2.1 Giới thiệu đối tượng khảo sát 32
2.2 Những ưu điểm và nguyên nhân 39
2.3 Những hạn chế và nguyên nhân 63
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH PHÚ THỌ 76
3.1 Phương hướng 76
3.2 Một số giải pháp 80
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 97
TÓM TẮT LUẬN VĂN 108
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ khi truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội, truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế -
xã hội, an ninh quốc phòng Đối với nước ta, truyền hình ra đời đã tạo một diện mạo mới, góp phần đắc lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Truyền hình là một trong những phương tiện thông tin đại chúng hàng đầu có sức lan tỏa, có tiếng nói và độ tin cậy đối với công chúng Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, truyền hình đã có bước tiến vượt bậc cả về số lượng và chất lượng Công chúng xem truyền hình ngày càng đông đảo, và đòi hỏi về nhu cầu thông tin của công chúng cũng ngày càng cao
Đóng góp vào sự thành công của hệ thống nội dung trên nhiều lĩnh vực, các chương trình chuyên đề truyền hình đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các chương trình truyền hình bởi nó cung cấp cho khán giả những thông tin phong phú, đa dạng, toàn diện, có chiều sâu về một vấn đề hay lĩnh vực cụ thể nào đó Các chương trình chuyên đề truyền hình đã tạo nên bản sắc riêng của mình Tại các đài địa phương, bên cạnh chương trình thời sự, các chương trình chuyên đề truyền hình luôn được quan tâm chú trọng để đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của công chúng
Đối với Đài PT&TH Phú Thọ từ khi thành lập ngày 19/9/1956, trải qua hơn 64 năm hình thành và phát triển luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đặc biệt trong việc tham gia xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh; phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban nhân dân các huyện, thành, thị trong việc tuyên truyền thực hiện các mục tiêu phát triển về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn
Trang 9hóa - xã hội của địa phương, trở thành món ăn tinh thần quan trọng của người dân trong và ngoài tỉnh
Ngày 29/3/2014, kênh truyền hình Phú Thọ chính thức phát sóng trên
Vệ tinh Vinasat 1 Từ đó đến nay đài đã duy trì 18 giờ phát sóng mỗi ngày Trong đó các chương trình do Đài sản xuất chiếm trên 50% Chính vì vậy, ngoài các bản tin Thời sự trong tỉnh, bản tin Quốc tế và các chương trình văn nghệ - giải trí, thì các chương trình chuyên đề đóng vai trò quan trọng trong trong việc duy trì kênh sóng cũng như chiến lược phát triển của Đài
Phú Thọ được coi là vùng đất Tổ cội nguồn của Việt Nam, vùng đất của miền lễ hội và địa danh văn hóa, với những nét văn hóa độc đáo và nhiều làng nghề truyền thống Trong những năm gần đây, kinh tế xã hội của Phú Thọ có nhiều đổi mới và không ngừng phát triển Chính những nét chấm phá đó
là những nguồn đề tài để báo chí có thể khai thác và truyền tải đến công chúng Tuy nhiên, trong khoảng thời gian hạn chế của một chương trình thời sự (thông thường từ 20-25 phút một chương trình thời sự tổng hợp) thật khó có thể đi sâu vào phân tích, phản ánh từng góc cạnh của một vấn đề Mà phần việc đó sẽ được dành thời gian cho các chương trình chuyên đề Với thời lượng từ 10 phút đến
20 phút, mỗi chương trình chuyên đề sẽ đi sâu vào một nội dung nhất định để tìm hiểu phản ánh, tìm câu trả lời chi tiết cho các câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Như thế nào? Và tại sao? Điều đó sẽ giúp cho công chúng có góc nhìn đầy đủ, chân thực về bản chất của sự việc diễn ra trong đời sống xã hội
Trong những năm qua Đài PT&TH Phú Thọ đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng công chúng xem truyền hình thông qua các chương trình chuyên đề
truyền hình, tiêu biểu trong số đó có thể kể đến các chương trình, như Hộp thư
truyền hình; Pháp luật và Đời sống; Muôn cách làm giàu; PTV Kết nối yêu thương; Đại biểu dân cử và cử tri… Tuy nhiên, với sự phát triển của các nền
tảng số và mạng xã hội như hiện nay thì tính cạnh tranh thông tin là vô cùng to
Trang 10lớn Bài toán đặt ra đối với đội ngũ lãnh đạo, quản lý các Đài địa phương nói chung và Đài PT&TH Phú Thọ nói riêng là làm sao để các chương trình chuyên
đề truyền hình càng ngày càng hấp dẫn và thu hút được khán giả?
Quản lý nội dung là hoạt động quan trọng và cần thiết trong việc sản xuất và phát sóng các chương trình truyền hình, trong đó có các chuyên đề truyền hình Do đó, việc hiểu được nội dung quản lý là vô cùng cần thiết Từ yêu cầu đó, đòi hỏi phải có những nghiên cứu kịp thời về tầm quan trọng của việc quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH Phú Thọ Những phản hồi từ công chúng đối với các chương trình chuyên đề truyền hình sẽ là cơ sở, là động lực thôi thúc các nhà lãnh đạo, quản lý Đài phải có những việc làm cụ thể để nâng cao hiệu quả, chất lượng quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình
Với đề tài: “Quản lý nội dung chương trình chuyên đề trên sóng
truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Thọ”, bằng lý luận
quản lý báo chí truyền thông và thực tiễn công tác, tác giả muốn nghiên cứu việc quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH Phú Thọ, sự tác động của nó đối với công chúng và truyền thông chính sách của công tác quản lý Nhà nước trên địa bàn, chỉ ra thực trạng công tác quản lý nội dung chương trình chuyên đề trên kênh truyền hình Phú Thọ, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý các chương trình chuyên đề truyền hình, nhằm giúp kênh truyền hình Phú Thọ ngày càng khẳng định được vị thế trong lòng công chúng xem truyền hình, trở thành kênh truyền hình hàng đầu trong khu vực miền núi phía Bắc và Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận văn nghiên cứu về tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình nói chung và các chương trình chuyên đề truyền hình nói riêng
Trang 11Thứ nhất: Những công trình nghiên cứu liên quan đến chương trình chuyên đề truyền hình:
Cuốn Sản xuất chương trình truyền hình của Trần Bảo Khánh do NXB
Văn hóa - Thông tấn ấn hành năm 2002, đề cập những vấn đề cơ bản của báo chí truyền hình và đặc điểm chính của các chương trình truyền hình hiện đại
Giáo trình Báo chí truyền hình của Dương Xuân Sơn do Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2009 Giáo trình tập trung trình bày các vấn đề của báo chí truyền hình như vị trí, vai trò, lịch sử ra đời và phát triển của truyền hình; các khái niệm, đặc trưng, nguyên lý của truyền hình; chức năng xã hội của truyền hình; kịch bản truyền hình; quy trình sản xuất chương trình truyền hình, các thể loại báo chí truyền hình
Luận văn Thạc sĩ Báo chí học của tác giả Tạ Văn Dương thực hiện năm
2012 “Tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề ở Đài Phát thanh - Truyền
hình địa phương” Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề chung về truyền
hình và chương trình chuyên đề trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương; thực trạng tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề trên sóng truyền hình ở Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Giang và Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Ninh; một số giải pháp trong việc tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề truyền hình ở các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương
Luận văn “Tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề truyền hình
của Đài Phát thanh - Truyền hình Yên Bái” của tác giả Đỗ Thị Phương Lan
thực hiện năm 2013 Luận văn hệ thống hóa những vấn đề cơ bản liên quan đến chuyên đề Truyền hình Khảo sát phân tích hiệu quả cũng như hạn chế của các chuyên đề truyền hình của Đài Phát thanh - Truyền hình Yên Bái Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề truyền hình của Đài Phát thanh - Truyền hình Yên Bái
Sách Chính luận Truyền hình, lý thuyết và kỹ năng sáng tạo tác phẩm
Trang 12của tác giả Nguyễn Ngọc Oanh, Nxb Thông tấn năm 2014 giúp người xem nhận thức về loại tác phẩm chính luận nói chung; về thể loại bình luận, đàm luận trên truyền hình, những đặc trưng sáng tạo tác phẩm, tổ chức sản xuất chương trình; về vai trò của bình luận viên, cách thức tổ chức sáng tạo tác phẩm, tổ chức sản xuất chương trình; về quy trình sáng tạo tác phẩm bình luận truyền hình; về việc sử dụng hình ảnh và viết lời bình cho tác phẩm… Cuốn sách còn đi sâu phân tích kỹ năng tác nghiệp của nhà báo, phóng viên, biên tập viên truyền hình
Hệ thống bài giảng Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề của
TS Bùi Chí Trung, đề cập về khái niệm cơ bản về chương trình chuyên đề truyền hình, nội dung, hình thức của các chương trình chuyên đề truyền hình,
tổ chức sản xuất nội dung các chương trình chuyên đề truyền hình
Luận văn thạc sỹ báo chí học “Vấn đề tổ chức sản xuất chương trình
chuyên đề truyền hình của các đài Phát thanh - Truyền hình miền núi phía Bắc” của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang thực hiện năm 2016, về tổ chức sản
xuất chương trình chuyên đề truyền hình của các Đài Phát thanh – Truyền hình miền núi phía Bắc, đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng chương trình chuyên đề truyền hình của các Đài PT-TH địa phương nói chung và miền núi phía Bắc nói riêng
Luận văn Thạc sĩ Báo chí học của tác giả Nguyễn Thu Ngân, thực hiện
năm 2018 “Tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề ở một số Đài phát
thanh - truyền hình địa phương hiện nay” Luận văn tập trung làm rõ lý thuyết
chung về tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề; Thực trạng hoạt động
Tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề ở một số Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương; Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề ở một số Đài phát thanh - Truyền hình địa phương
Trang 13Thứ hai: Những công trình nghiên cứu về quản lý báo chí và quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình:
Sách Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay
(Sách tham khảo), do Hoàng Quốc Bảo (chủ biên), Nxb Chính trị - Hành
báo chí mà còn góp phần quan trọng vào việc hình thành năng lực tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và năng lực tham gia vào việc tổ chức thực hiện
sự quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí của người cán bộ văn hóa - tư tưởng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
chương, cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý; Thực trạng thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra; Quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy vai trò của thông tin báo chí đối với công tác lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong thời kỳ mới
hiện năm 2018 “ Quản lý nội dung các chương trình phát thanh xã hội hóa của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội” Luận văn hệ thống hóa các vấn
đề lý luận như khái niệm, vai trò, cơ sở chính trị- pháp lý và yêu cầu đối với quản lý nội dung chương trình phát thanh xã hội hóa; Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý nội dung xã hội hóa ở các chương trình phát thanh ở Đài PT&TH Hà Nội, chỉ ra những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và những vấn
đề đặt ra
Trang 14dung các chương trình chuyên biệt trên kênh Truyền hình Công an nhân dân như: quản lý nội dung; vai trò của quản lý nội dung chương trình; chủ thể quản lý nội dung chương trình; cơ sở pháp lý, khảo sát thực trạng hoạt động quản lý nội dung chương trình chuyên biệt trên kênh Truyền hình Công an nhân dân, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá những thành công và hạn chế trong công tác quản lý; Đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực quản lý nội dung chương trình chuyên biệt trên kênh Truyền hình công an nhân dân
chương trình quốc tế trên truyền hình Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một
số giải pháp tăng cường quản lý nội dung các chương trình quốc tế trên truyền hình Việt Nam trong thời gian tới
Các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan về lĩnh vực truyền hình nói chung, và chương trình chuyên đề truyền hình nói riêng khá phong phú và
đa dạng Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một tài liệu hay công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu trực tiếp về quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH địa phương
Trên cơ sở kế thừa những thành quả khoa học của các nhà nghiên cứu, luận văn đã tiếp cận và nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc tăng cường quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Thọ
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận chung, khảo sát, phân tích thực trạng, tác giả luận văn đưa ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của
Đài PT&TH Phú Thọ trong thời gian tới
Trang 153.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, trong phạm vi đề tài này, tác giả xác định những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản liên quan đến quản lý nội dung chuyên đề truyền hình
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng việc quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH Phú Thọ
- Đưa ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý nội dung các chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH Phú Thọ trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH Phú Thọ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Theo phân công chức năng, nhiệm vụ, Đài PT&TH Phú Thọ có 4 phòng nội dung liên quan đến sản xuất các chương trình chuyên đề, gồm: Phòng Thời sự, phòng Chuyên đề và Dân tộc – Miền núi, phòng Thư ký Biên tập và Thông tin điện tử, và phòng Văn nghệ - Giải trí Trong đó, phòng Thời
sự tập trung vào sản xuất chương trình thời sự, 3 phòng còn lại đều sản xuất chương trình theo format chuyên đề truyền hình Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu việc quản lý nội dung chương trình chuyên
đề tập trung vào 03 nhóm nội dung sau:
(1) Nhóm các chương trình thời sự, chính trị: Đảng trong cuộc sống; Học Bác mỗi ngày; Nhận diện; Đại đoàn kết
(2) Nhóm các chương trình kinh tế: Kinh tế và Phát triển; Nông thôn mới Phú Thọ; Giảm nghèo bền vững; Cải cách hành chính
Trang 16(3) Nhóm các chương trình văn hóa – xã hội: Dân tộc – Miền núi và Phát triển; Sắc màu Tây Bắc; Các vấn đề xã hội; Chuyên đề
xã hội báo chí
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả lựa chọn một số phương pháp như sau:
- Phương pháp luận: Là lý luận về phương pháp, bao gồm hệ thống lý
thuyết về phương pháp nhận thức khoa học, các lý thuyết về cơ chế sáng tạo, những quan điểm tiếp cận tương đối khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và lôgíc để nghiên cứu quá trình quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của đài PT&TH địa phương
- Phương pháp liên ngành Báo chí học và Khoa học quản lý: Kết hợp
giữ lý luận báo chí và kiến thức về khoa học quản lý, từ đó tìm hiểu, khảo sát
về quản lý báo chí và các nội dung liên quan
- Phương pháp phân tích tài liệu: Được thể hiện trong việc khảo sát
các công trình nghiên cứu, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết…có liên quan đến
đề tài Phương pháp này cũng được sử dụng để nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến truyền hình, chuyên đề truyền hình, quản lý nội dung các
Trang 17chương trình chuyên đề truyền hình, quy trình sáng tạo ra các tác phẩm trong chuyên đề truyền hình tạo cơ sở cho đề tài nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê: để lượng hóa một số thông tin cần
thiết cho quá trình nghiên cứu như số lượng chuyên đề, thời lượng, dung lượng thông tin trong mỗi chương trình chuyên đề truyền hình
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để đánh giá hiệu
quả cũng như hạn chế của việc quản lý nội dung các chương trình chuyên đề truyền hình, đồng thời đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH Phú Thọ
- Phương pháp phỏng vấn sâu: được sử dụng để thu thập ý kiến, quan
điểm của các nhóm chủ thể quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH Phú Thọ Trong luận văn này, tác giả phỏng vấn 4 người, gồm đại diện của: lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông, lãnh đạo đài PT&TH Phú Thọ, lãnh đạo phòng CĐ&DT-MN, và 1 BTV trực tiếp quản
lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình
6 Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở kế thừa những lý luận về quản lý báo chí truyền thông nói chung và quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình nói riêng, luận văn hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề liên quan đến quản lý nội dung chương trình chuyên đề trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Thọ
Qua khảo sát , tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý nội dung chương trình chuyên đề; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, những giải pháp tăng cường quản lý nội dung chương trình chuyên đề trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Thọ
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Trang 18Luận văn góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận về nghiệp vụ truyền hình; Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và những phương hướng, giải pháp tăng cường công tác quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH Phú Thọ
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trước hết, luận văn có ý nghĩa thực tiễn với hoạt động quản lý nội dung các chương trình chuyên đề truyền hình tại Đài PT&TH Phú Thọ Các chủ thể quản lý trực tiếp của các chương trình chuyên đề truyền hình có thể tham khảo
đề tài, từ đó có những thay đổi phù hợp với tình hình thực tế Đồng thời, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích, tin cậy cho các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh khi nghiên cứu vấn đề về truyền hình chuyên đề nói chung và quản lý nội dung các chương trình chuyên đề truyền hình nói riêng
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về quản lý nội dung chương trình chuyên
đề truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình địa phương
Chương 2: Thực trạng quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH Phú Thọ
Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình ở Đài PT&TH Phú Thọ trong thời gian tới
Trang 19Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm truyền hình, chương trình chuyên đề truyền hình
1.1.1.1 Truyền hình
Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh nhờ các phương tiện kĩ thuật Sự xuất hiện của truyền hình như một điều kì diệu trong sáng tạo của con người.Truyền hình đem lại cho con người cảm giác về một cuộc sống rất thật đang diễn ra trước mắt Ngày nay, truyền hình là một phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh
Trong cuốn Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội
2001, tác giả Tạ Ngọc Tấn đưa ra quan niệm: “Truyền hình là một loại hình
phương tiện truyền thông đại chúng, chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động
và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình ( television ) bắt nguồn từ hai từ tele có nghĩa là: “ở xa” và vision là “thấy được”, tức là
“thấy được ở xa” [33, tr.127 ]
Dương Xuân Sơn khi viết Giáo trình Báo chí truyền hình, có đề cập
“Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng La-tinh và tiếng
Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ „Tele‟ có nghĩa là „ở xa‟ còn „videre‟ là „thấy được‟, còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại –
Trang 20„Televidere‟ có nghĩa là „xem được ở xa‟ Truyền hình trong Tiếng Anh là
“Television”; [29, tr.8]
Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, khi đề cập về các loại hình báo chí
PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng:
“Truyền hình là kênh truyền thông đại chúng ra đời sau, kế thừa được các thế mạnh của các kênh trước đó, như điện ảnh, báo in, phát thanh,… và ngay nay đang “tận hưởng” tối đa môi trường truyền thông số trên mạng internet Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều sắc màu vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ Đó là bức tranh về cuộc sống thật nhưng được thu nhỏ, được “rút gọn”, được “làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức”, được chắt lọc hơn về ý tưởng và làm phong phú hơn về giá trị tinh thần giúp người xem nhận thức rõ hơn, đúng hơn, trúng hơn, gần gũi và sinh động hơn về những sự kiện và vấn đề của cuộc sống” [12, tr.118].
Theo tác giả Trần Văn Toản, trong Luận văn “Quản lý hoạt động sản
xuất các chương trình truyền hình trên kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam” có nêu:
“Về phương diện kỹ thuật, truyền hình hoạt động theo nguyên lý
cơ bản: Hình ảnh về sự vật được máy ghi hình biến đổi thành tín hiệu điện, trong đó mang thông tin về độ sáng tối, màu sắc Đó
là tín hiệu hình Sau khi được xử lý, khuyếch đại tín hiệu hình được truyền trên sóng truyền hình nhờ máy phát hoặc hệ thống dây dẫn Tại nơi nhận, máy thu tiếp nhận tín hiệu rồi đưa đến
Trang 21đèn hình để biến đổi ngược từ tín hiệu thành hình ảnh Phần âm thanh cũng được thực hiện theo nguyên lý tương tự như vậy để đưa ra loa” [38, tr.18 ]
Kế thừa những quan điểm chung về truyền hình của các nhà nghiên
cứu, tác giả đưa ra quan niệm: Truyền hình là một loại hình truyền thông đại
chúng chuyển tải thông tin qua sóng truyền hình đến công chúng thông qua
sự kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh
1.1.1.2 Chương trình truyền hình
Có nhiều quan điểm về thuật ngữ này
Trong Sản xuất chương trình truyền hình, Trần Bảo Khánh cho rằng chương trình truyền hình “là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với
công chúng” [20, tr 30]
Theo Dương Xuân Sơn, “chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp
xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu bằng hình ảnh và âm thanh được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả” [29, tr.113]
Như vậy, có thể hiểu theo cách chung nhất, chương trình truyền hình là
sự liên kết các tin bài, tư liệu bằng hình ảnh và âm thanh, có mở đầu và kết thúc, là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng
1.1.1.3 Chương trình chuyên đề truyền hình
Chuyên đề có thể được hiểu là vấn đề chuyên môn, chuyên sâu, chuyên biệt về một chủ đề, đề tài nào đó, được biểu hiện thông qua nhiều góc
độ nhằm làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng đã được nêu ra
Thế mạnh của chương trình chuyên đề truyền hình so với các thể lại báo chí khác là thể hiện được tính bao quát trên diện rộng về chủ đề đề cập, đồng thời có thời gian để đi sâu phân tích những khía cạnh, những vấn đề
Trang 22được nhiều người quan tâm trong đời sống xã hội, qua đó cung cấp cho công chúng những thông tin phong phú về một vấn đề cụ thể Từ những vấn đề, sự kiện vừa mới xảy ra còn nóng hổi của cuộc sống đến những sự kiện, vấn đề đã xảy ra nhưng vẫn còn giá trị trong thực tiễn cuộc sống, những vấn đề tưởng như đã cũ, nhưng được làm mới bởi góc độ tiếp cận và tính nhân văn của đề tài, nội dung được phản ánh và cách thức thể hiện
Trong mỗi chương trình chuyên đề có sự sắp xếp hợp lý các thành phần tin, phóng sự hoặc các Vox-pop, clip ngắn phản ánh nội dung cần truyền đạt nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của cơ quan báo chí, đồng thời mang lại hiệu quả tác động cao nhất đối với người xem Việc sắp xếp đó càng khoa học, hợp lý sẽ giúp khán giả tiếp nhận thông tin càng dễ dàng, đầy đủ và hệ thống Chương trình chuyên đề truyền hình thể hiện tính chất lao động tập thể Trên thực tế, tùy theo tiêu chí phân loại, mỗi chương trình chuyên đề có đối tượng tác động riêng
Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm về truyền hình, chương trình
truyền hình và chuyên đề báo chí, có thể khái quát: Chương trình chuyên đề
truyền hình là các chương trình chuyên sâu về từng lĩnh vực, được phát sóng định kỳ trên sóng truyền hình
1.1.2 Khái niệm quản lý, quản lý báo chí
1.1.2.1 Quản lý
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, khái niệm quản lý có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Về nghĩa hẹp, quản lý là hành vi của người này tác động đến người khác Theo nghĩa rộng, quản lý là quá trình điều khiển và hướng dẫn tất cả các bộ phận của một tổ chức, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn lực
Trang 23Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, đặc biệt là kể từ khi khoa học công nghệ phát triển tác động đến nhận thức, hành vi của con người, tác động đến phương thức hoạt động, trong đó có phương thức quản lý thì quan niệm về quản lý lại càng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Bên cạnh đó, sự khác biệt về thời đại, xã hội, thể chế chính trị, lĩnh vực nghiên cứu cũng khiến quản lý có những định nghĩa, khái niệm khác nhau Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu theo hướng quản lý là hoạt động thực hiện kế hoạch, tổ chức và kiểm soát
Theo Hanold Koontz, tác giả của cuốn Những vấn đề cốt yếu của quản
lý, thì “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là một khoa học [21, tr.13]
Tác giả Hoàng Quốc Bảo đưa ra khái niệm: “Quản lý là một quá trình
tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [5, Tr.176]
Từ những phân tích và tham khảo khái niệm của các tác giả đi trước, tác giả luận văn đưa ra khái niệm “quản lý” trong luận văn này được hiểu là
sự điều khiển, chỉ đạo bằng quyền lực của một cá nhân hay tổ chức được giao quyền nhằm định hướng hành động thống nhất của cá nhân khác hay tập thể
để đạt được mục đích đã đề ra Nói cách khác: Quản lý là sự tác động có mục
đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý thông qua các phương thức quản lý để đạt được hiệu quả cao nhất của mục tiêu quản lý
Chủ thể quản lý là cá nhân hoặc tổ chức, còn đối tượng quản lý là trật
tự quản lý Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển và kiểm soát này phải
Trang 24trên cơ sở pháp luật; là thể chế hóa và thực hiện hóa cương lĩnh, đường lối, nghị quyết của Đảng thành pháp luật, chính sách, cơ chế của Nhà nước
1.1.2.2 Quản lý báo chí
* Quản lý Nhà nước về báo chí
Quản lý Nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và dối ngoại của Nhà nước; là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội đối ngoại của nhà nước
Chủ thể quản lý bao gồm: Nhà nước; Cơ quan nhà nước; Tổ chức nhà nước; Xã hội và cá nhân được Nhà nước ủy quyền thực hiện quyền quản lý Nhà nước
Cho đến nay, vẫn chưa có khái niệm nào về quản lý nhà nước về báo chí được coi là chính thức Ngay cả Luật báo chí 2016 cũng chưa đề cập đến khái niệm quản lý nhà nước về báo chí mà chỉ nêu chính sách của Nhà nước
về phát triển báo chí (Điều 5), nội dung quản lý Nhà nước về báo chí (Điều 6), cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí (Điều 7)
Ở góc độ nào đó, quản lý nhà nước về báo chí cũng mang tính quyền lực chính trị, do một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý nhằm ban hành và duy trì các quy định đã đề ra Bởi quản lý nhà nước về báo chí là một bộ phận trong quản lý công vụ của bộ máy nhà nước, hoạt động quản lý đó được điều chỉnh bằng pháp luật, lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu, đảm bảo cho hoạt động của báo chí được ổn định và phù hợp với xu thế phát triển chung
Theo TS Nguyễn Thế Kỷ: “Quản lý nhà nước về báo chí bao gồm các
hoạt động lập pháp, lập quy của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đề ra
Trang 25các chính sách pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân liên quan đến báo chí và hoạt động báo chí [20, tr.16]
thông trên địa bàn tỉnh Bình Phước”, tác giả Trương Thị Ngọc Tú có nêu:
“Quản lý nhà nước về báo chí là hoạt động của bộ máy nhà nước được giao trách nhiệm, quyền hạn quản lý nhà nước về báo chí;
là hoạt động thể chế hóa và hiện thực hóa các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; thông qua đó, các chủ thể quản lý tổ chức, điều khiển, kiểm tra, giám sát có tổ chức các hoạt động của tổ chức, cá nhân liên quan đến báo chí theo những yêu cầu nhất định, trong khuôn khổ pháp luật, nhằm phù hợp với thực tiễn hoạt động báo chí trong nước cũng như xu thế hội nhập với báo chí thế giới” [40, tr.14]
Ở Việt Nam, trong những năm qua, Đảng đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết để định hướng phát triển báo chí, đặc biệt trong những thời điểm báo chí có những xu hướng biểu hiện đi chệch hướng thì Đảng đều kịp thời ban hành những Chỉ thị, Nghị quyết để chấn chỉnh và định hướng lại
Nhà nước thực hiện quản lý báo chí thông qua hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động báo chí, từ Luật Báo chí đến các văn bản quy phạm pháp luật khác, về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động quản lý, thúc đẩy báo chí phát triển, hội nhập với báo chí thế giới Đường lối đối ngoại của Nhà nước ta được khẳng định rất rõ trong Hiến pháp năm 2013, tại Điều 12 là “Độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển… vì
đúng đường lối đối ngoại đã được vạch ra, hoạt động quản lý phải tuân thủ các nguyên tắc, điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia, phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc
Trước năm 2007, chức năng quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản thuộc thẩm quyền của Bộ văn hóa và Thông tin Tuy nhiên từ năm 2007, thực
Trang 26theo Nghị quyết của Quốc hội về việc sắp xếp lại các Bộ, thì chức năng này
đã được chuyển sang Bộ Thông tin và Truyền thông Từ đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí dần được hoàn thiện, tạo điều kiện cho báo chí phát triển theo đúng định hướng
1.1.3 Khái niệm quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình
Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm nội dung như sau: “Nội dung là
mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện”
[47, tr 766]
Vậy ta có thể hiểu, quản lý nội dung là hoạt động có mục đích, có tổ
chức của chủ thể tác động vào nội dung bằng các phương thức, các biện pháp nhất định nhằm điều khiển, dẫn dắt nội dung, duy trì ổn định và phát triển để đạt được hiệu quả cao nhất mục tiêu quản lý
Từ những khái niệm nêu ở trên, cùng với việc khảo sát, phân tích thực
tế, tác giả đưa ra khái niệm chung “quản lý nội dung chương trình chuyên đề
truyền hình” để phục vụ cho quá trình nghiên cứu tiếp theo như sau: Quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình là sự chỉ đạo, điều hành có tổ chức, có mục đích của tổ chức, hoặc người đứng đầu tổ chức đối với các chương trình chuyên đề truyền hình, từ đó tạo ra những chương trình chuyên sâu về từng lĩnh vực cụ thể, được phát sóng định kỳ trên sóng truyền hình nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin sâu, đa chiều của khán giả”
Khái niệm này chỉ ra những yếu tố cấu thành quá trình quản lý, đó là chủ thể, đối tượng, nội dung và phương thức quản lý
1.2 Đặc điểm của chương trình chuyên đề truyền hình và các yếu tố quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình địa phương
1.2.1 Đặc điểm của chương trình chuyên đề truyền hình
Căn cứ một số quan điểm trong bài giảng “Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề” của Bùi Chí Trung, đồng thời qua thực tiễn tìm hiểu
Trang 27nội dung chương trình chuyên đề, tác giả tổng kết một số đặc điểm chung của chương trình chuyên đề truyền hình cụ thể như sau:
- Tính định hướng và chuyên sâu: Chương trình chuyên đề có khả năng hướng đến sự phân tích, bình luận, lý giải sâu rộng và đầy đủ các vấn đề, sự kiện Có thể coi năng lực thông tin lý lẽ, chiều sâu là tính trội của chương trình chuyên đề Thông qua việc phân tích, đánh giá những sự việc, tác giả nêu ra những kết luận mang đậm chất lý lẽ, thể hiện rõ ràng chính kiến, thái
độ của nhóm tác giả và của cả cơ quan truyền hình
- Tính định kỳ: Các chương trình truyền hình phải tuân thủ nguyên tắc định kỳ, phát sóng theo thời điểm cụ thể (hàng ngày, hàng tuần, thời điểm phát mới, thời điểm phát lại) trong khung giờ phát sóng của một kênh, một đài truyền hình và mỗi chương trình đều có thể bị khống chế bởi khung thời
lượng xác định (ví dụ: khung thời lượng 10p, 15p, 20p)
Tính định kỳ của báo chí là “quy ước” của chương trình chuyên đề và của cả cơ quan truyền hình đối với công chúng, tạo thành thói quen theo dõi vào những thời điểm nhất định và góp phần tạo nên sức mạnh tiềm ẩn của báo chí truyền hình Tính định kỳ còn có ý nghĩa trong việc quyết định kế hoạch sản xuất tác phẩm Mỗi một phút phát lên trên sóng đều mang một ý nghĩa riêng Mỗi thời điểm trong ngày chương trình truyền hình đều phải dành cho một đối tượng khán giả nhất định và mỗi phút trên truyền hình cũng là lúc truyền hình phải đối mặt với cuộc cạnh tranh thông tin khốc liệt
hình người ta thường phải dựa vào việc hình thành các nhóm khán giả đặc thù chuyên theo dõi một chương trình truyền hình cụ thể; Tùy theo độ tuổi, nhu cầu, trình độ, nghề nghiệp mà mỗi nhóm khán giả có những nhu cầu, sở thích theo dõi các chương trình truyền hình khác nhau
Trang 28- Sử dụng các thể loại đa dạng: Trong một chương trình chuyên đề truyền hình, tác giả có thể sử dụng một thể loại như phóng sự, hoặc ký sự nhưng cũng có thể là sự phối kết hợp nhiều tác phẩm độc lập từ nhiều thể loại khác nhau để trả lời những câu hỏi mà nội dung của chương trình đã đặt ra Việc làm này góp phần tạo nên một một hình thức thể hiện rất đặc
trưng trên sóng, thường gọi là “Tạp chí truyền hình” – Một mô thức là xuất
bản định kỳ, có một kết cấu ổn định, đăng tải những thông tin tập trung về một lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội
Với các đặc điểm cơ bản trên, chuyên đề truyền hình có năng lực thể hiện tư tưởng chủ đề rõ ràng, ổn định về thời lượng, đa dạng về hình thức chuyển tải thông tin, thời điểm phát sóng thích hợp nên cuốn hút được khán giả và tạo hiệu quả tốt trong công tác truyền thông
1.2.2 Chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý là cơ quan, tổ chức, cá nhân được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền uỷ quyền để nhân danh chủ thể uỷ quyền sử dụng quyền lực được giao nhằm điều hành, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình vận động theo ý chí của mình nhằm đạt được mục đích đã được định trước
Chủ thể quản lý có quyền hạn và trách nhiệm thực hiện hành vi quản lý được giao tác động lên đối tượng quản lý nhằm phối hợp hoạt động riêng rẽ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất trong tập thể hướng theo một mục tiêu nhất định, thông qua việc sử dụng tổ chức và quyền uy tác động lên đối tượng quản lý Chủ thể quản lý có thể là một số cơ quan, tổ chức hay một cá nhân, sử dụng phương tiện là pháp luật, điều lệ hoặc nội quy, quy chế để thực hiện nhiệm vụ quản lý
Đối với các Đài PT&TH địa phương là đơn vị sự nghiệp thực hiện chức năng là cơ quan báo chí, chịu sự quản lý nhà nước về báo chí, truyền dẫn và phát sóng của bộ Thông tin và Truyền thông; Chịu sự hướng dẫn về chuyên
Trang 29môn nghiệp vụ của Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam Đối với các hoạt động chuyên môn, cụ thể là hoạt động quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài có hai nhóm chủ thể quản, đó là nhóm chủ thể quản lý trực tiếp, bao gồm: các BTV, lãnh đạo phòng và lãnh đạo Đài; Nhóm chủ thể quản lý gián tiếp bao gồm: Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Thông tin – Truyền thông, và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
1.2.2.1 Nhóm chủ thể quản lý gián tiếp
Nhóm chủ thể quản lý gián tiếp bao gồm: Tỉnh ủy, UBND tỉnh; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Sở Thông tin và Truyền thông Nhóm chủ thể này không trực tiếp tham gia quản lý nội dung các chương trình chuyên đề, nhưng có tác động quan trọng đến nội dung của các chương trình chuyên đề
Tỉnh ủy, UBND tỉnh: lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với Đài PT&TH
địa phương
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy: Là cơ quan tham mưu giúp Tỉnh ủy ban hành
và trực tiếp ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của đất nước, của tỉnh; Thực hiện nhiệm vụ phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo tỉnh tổ chức họp giao ban báo chí hàng tháng
Sở Thông tin và Truyền thông: là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, trực tiếp quản lý Nhà nước về báo chí ở địa phương, có chức năng tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh về quy hoạch báo chí, xuất bản, bưu chính viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, điện tử, phát thanh, truyền hình, quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng và nhiều nội dung quan trọng khác Trên cơ sở nội dung của Luật Báo chí và Nghị định số 51/2002/NĐ-CP cụ thể hóa, hướng dẫn việc thực hiện các văn bản pháp quy
về báo chí: Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động báo chí trên địa bàn; Tổ chức kiểm tra báo chí lưu chiểu và quản lý
Trang 30báo chí lưu chiểu của địa phương; Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp phát thanh, truyền hình của địa phương
là người giúp việc Giám đốc, được Giám đốc phân công phụ trách một số lĩnh vực công tác, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước Pháp luật về việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ được phân công, đảm bảo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của Giám đốc
Lãnh đạo phòng: Bao gồm trưởng phòng và các phó phòng Trong đó trưởng phòng có trách nhiệm giúp Giám đốc quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện mọi nhiệm vụ, quyền hạn của phòng, đảm bảo tham mưu, đề xuất những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị được giao kịp thời, chính xác, chất lượng, hiệu quả, theo đúng quy định Quản lý, điều hành đội ngũ cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền; quản lý tài chính, vật tư, phương tiện, tài sản của cơ quan giao cho đơn vị quản lý, sử dụng, đảm bảo đúng quy định của pháp luật; Các phó trưởng phòng có trách nhiệm giúp việc cho trưởng phòng và chịu trách nhiệm trước trưởng phòng, trước Giám đốc và trước Pháp luật về các mặt công tác được phân công phụ trách Thay trưởng phòng điều hành đơn vị giải quyết công việc khi trưởng phòng đi vắng, sau đó báo cáo lại và chịu trách nhiệm trước trưởng phòng, trước Giám đốc và trước Pháp luật về những công việc mà mình đã giải quyết
Trang 31Đội ngũ phóng viên, BTV: Chịu sự quản lý trực tiếp của lãnh đạo phòng, có trách nhiệm sản xuất nội dung tin, bài cụ thể theo kế hoạch sản xuất
và lĩnh vực được phân công phụ trách
1.2.3 Nội dung quản lý
Nội dung quản lý bao gồm: Kế hoạch sản xuất; Quy trình sản xuất; Chất lượng nội dung chương trình; Phản hồi của công chúng
1.2.3.1 Kế hoạch sản xuất nội dung chương trình
Xây dựng kế hoạch sản xuất là việc làm bắt buộc đối với các cơ quan
báo chí nói chung và Đài Truyền hình nói riêng Tùy thuộc vào tính chất thì
sẽ có kế hoạch ngắn hạn hay dài hạn Nếu như các chương trình Thời sự chỉ xây dựng kế hoạch ngắn hạn theo từng tuần, thì các chương trình chuyên đề thường xây dựng kế hoạch theo tháng
Việc chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền sẽ tạo sự chủ động cho các bộ phận thực hiện nhiệm vụ được giao một cách có định hướng Đồng thời sẽ giúp các bộ phận phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp, làm việc hiệu quả hơn
để tạo ra một sản phẩm chung của tập thể Và việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền thường dựa vào nhiều yếu tố như các mốc lịch sử, những ngày lễ lớn,
kỷ niệm trong năm; chương trình công tác của lãnh đạo trung ương, địa phương, hay kế hoạch công tác, các đề tài, đề án của ban chủ quản… Sự vận động, biến đổi của tình hình trong nước và của địa phương Bên cạnh đó, nhu cầu của công chúng và dư luận xã hội cũng là điều được lưu ý để có một kế hoạch tuyên truyền phù hợp, mang lại hiệu quả cao
Quá trình xây dựng kế hoạch, các chủ thể quản lý sẽ căn cứ vào những
sự kiện quan trọng trong tháng như dấu mốc lịch sử, những ngày lễ lớn, chương trình, kế hoạch công tác của các cấp lãnh đạo, quá trình vận động, biến đổi của tình hình trong nước, trong tỉnh và xuất phát từ nhu cầu của công chúng và của dư luận xã hội
Trang 32Kế hoạch sản xuất là căn cứ, cơ sở quan trọng để lãnh đạo các phòng và lãnh đạo Đài quản lý nội dung chương trình Để cho ra được kế hoạch sản xuất chung của cả cơ quan Đài trong một tháng, thì các phòng chuyên môn phải chủ động đăng ký kế hoạch của phòng mình Đối với phòng CĐ&DT-
MN, ngay từ đầu tháng trước BTV phải đăng ký kế hoạch cho tháng sau, nội dung đăng ký trên cơ sở bám sát vào các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh và những đề tài mà BTV phát hiện trong quá trình tác nghiệp tại thực tế
cơ sở
1.2.3.2 Quy trình sản xuất nội dung chương trình
Chương trình chuyên đề truyền hình phản ánh đa dạng về mọi mặt của đời sống xã hội (từ thông tin thời sự, chính trị, xã hội, kinh tế, đến văn hoá, văn nghệ, thể thao, khoa học kỹ thuật ) Vì vậy để có được một chương trình truyền hình chuyên đề đảm bảo đầy đủ yêu cầu về thông tin cũng như chất lượng hình ảnh âm thanh thỏa mãn nhu cầu thưởng thức của công chúng đòi hỏi cần phải có một quy trình sản xuất chuyên nghiệp, ở đó có sự tham gia của cả một tập thể phối hợp với nhau, trải qua các bước thực hiện một cách bài bản
Quy trình sản xuất tác phẩm báo chí nói chung và tác phẩm chuyên đề truyền hình nói riêng là trình tự các bước sáng tạo tác phẩm báo chí, từ khi bắt đầu sản xuất cho đến khi đến được với công chúng Đối với Đài PT&TH Phú Thọ việc quản lý quy trình sản xuất các chương trình chuyên đề truyền hình được thực hiện như sau:
Sau khi kế hoạch sản xuất được Ban Giám đốc duyệt và ban hành, các BTV sẽ phải xây dựng đề cương chi tiết cho những việc cần phải làm, những câu hỏi nào sẽ được đặt ra, những bối cảnh nào sẽ phải thực hiện, những nhân vật liên quan nào sẽ được liên kết đều được liệt kê chi tiết nội dung, sau đó sẽ tiếp tục thảo luận trong nhóm và lãnh đạo phòng phụ trách sẽ trực tiếp duyệt,
Trang 33ký đề cương Sau duyệt cấp phòng, đề cương sẽ được Văn phòng sao thành 4 bản gửi cho Ban Giám đốc để góp ý, bổ sung, góp ý và phê duyệt Sau thời hạn quy định, các góp ý được văn phòng tổng hợp và gửi lại phòng chuyên môn để tổ chức sản xuất chương trình
1.2.3.3 Chất lượng nội dung chương trình
Nội dung của các chương trình chuyên đề cần được thể hiện làm sao để cuốn hút công chúng, và khi theo dõi thì công chúng có thể dễ hiểu nhất Để làm được việc này đòi hỏi trình độ và cách kể chuyện của mỗi BTV Từ lựa chọn đề tài đến cách thức tổ chức sản xuất, công tác biên tập đều phải được đặt trong một sự chỉnh thể hợp lý của chương trình Trong bối cảnh hiện nay, khi báo mạng điện tử hay mạng xã hội đã và đang phát triển mạnh mẽ, công chúng có thể xem và tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng trên các thiết bị thông minh như máy tính bảng hay điện thoại thông minh ở bất cứ mọi nơi, mọi lúc Do đó, nội dung của chương trình chuyên đề truyền hình cần ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, đi thẳng vào nội dung, chủ đề của thông tin cần phản ánh, tránh dài dòng, khó hiểu
Thực tế cho thấy, bên cạnh các yếu tố như nội dung, đề tài, tư tưởng chủ đề, thì cách thức thể hiện, kết cấu và bố cục chặt chẽ cũng góp phần quan trọng trong việc quyết định một chương trình chuyên đề có chất lượng, có hay hay không Nghĩa là việc sắp xếp, trình bày sao cho cân đối, hài hòa giữa các đoạn, phân đoạn hoặc trường đoạn của đề tài, vấn đề và tư tưởng chủ đề chung của chương trình Một chương trình chuyên đề truyền hình hay cần hướng tới năm yếu tố, gồm mở đầu, thắt nút, phát triển, cao trào và mở nút Nhưng việc sắp xếp, trình bày của chương trình lại không nhất thiết phải tuân theo trình tự này, mà nó phụ thuộc hoàn toàn vào ý đồ sáng tạo của những người sản xuất Tuy nhiên, với đặc thù của chương trình truyền hình có quy
Trang 34định nghiêm ngặt về thời lượng nên mỗi chương trình chuyên đề cũng không bắt buộc phải hội đủ năm trường đoạn mà vẫn có thể ít hơn hay nhiều hơn
1.2.3.4 Phản hồi của công chúng
Việc theo dõi ý kiến phản hồi của công chúng, của dư luận xã hội sau mỗi chuyên đề được phát sóng đóng vai trò quan trọng để từng bước hoàn thiện và nâng cao chất lượng các chương trình Đây chính là kênh thông tin phản ánh ý kiến của công chúng, của cơ quan quản lý nhà nước đối với tác phẩm báo chí, cơ quan truyền hình cũng như tác giả, nhóm tác giả, ê-kíp sản xuất chương trình…
Mặt khác, những thông tin phản hồi góp ý, phê bình những hạn chế của chương trình truyền hình chuyên đề sẽ là nguồn đề tài mở giúp những chủ thể quản lý trực tiếp nội dung chương trình chuyên đề truyền hình cũng như cơ quan truyền hình tiếp tục có những điều chỉnh kế hoạch sản xuất để tìm ra giải pháp khắc phục, hoàn thiện nội dung để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công chúng và mục đích tuyên truyền
Việc quản lý những phản hồi của công chúng thường được giao cho Ban biêp tập chương trình, sẽ tổng hợp và trình Ban giám đốc để có cơ sở điều chỉnh trực tiếp và cụ thể đối với phòng chuyên môn và thậm chí là trực tiếp ê-kíp sản xuất chương trình
1.2.4 Nguyên tắc quản lý
1.2.4.1 Bảo đảm độ tin cậy, tính chính xác của thông tin
Để đảm bảo độ tin cậy, tính chính xác của thông tin, báo chí nói chung
và truyền hình nói riêng phải thông tin cho công chúng những tin tức kịp thời, nhanh chóng các sự việc nổi bật xảy ra trong ngày, trong tuần, trong tháng trên địa bàn tỉnh cũng như trong nước và thế giới
Nội dung chương trình chuyên đề truyền hình phải đảm bảo chính xác,
sự tin cậy Bởi khi chương trình phát sóng sẽ tác động rất lớn tới đông đảo
Trang 35công chúng xem truyền hình Công chúng thường xem nội dung của nhà đài
là chính thống, do đó nội dung của sự việc, vấn đề được phản ánh phải là từ thực tiễn cuộc sống, người thật, việc thật, không được bịa đặt, không được phản ánh sai sự thật Một sai sót trong quá trình sản xuất nội dung rất dễ dẫn đến sự mất lòng tin, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, chống phá, gây mất uy tín của cơ quan, đơn vị, xâu xa hơn là uy tín của chế độ, của đất nước Do đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các chủ thể quản lý phải bám sát vào những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội, định hướng người dân tham gia xây dựng, bảo vệ và giữ gìn sự ổn định và phát triển của địa phương và của đất nước
1.2.4.2 Bảo đảm tính thời sự của thông tin
Nội dung thông tin mang tính thời sự luôn dễ được công chúng đón nhận Vì có nhiều nội dung công chúng đã xem, đã biết nhưng chưa hiểu rõ, chưa biết nguyên nhân, bản chất của vấn đề, trong khi những chương trình chuyên đề truyền hình thì cho họ có được câu trả lời thỏa đáng nhất Do đó, thông tin vừa mang tính thời sự vừa cho công chúng có được câu trả lời đầy
đủ về ai? Ở đâu? Tại Sao? Như thế nào? luôn hấp dẫn được công chúng xem truyền hình, bởi thị hiếu của người xem là muốn biết nhanh và chính xác ngọn nguồn của thông tin Với các thông tin trên các chuyên đề không chỉ phản ánh sâu rộng mà cần tính nóng hổi của thông tin, nghĩa là thông tin kịp thời, thông tin có ý nghĩa lớn được cập nhật tức thì Thông tin trên báo chí và truyền hình cần hội đủ ba yếu tố: sự kiện mới, sự kiện được nhiều người quan tâm và thông tin đó khi được truyền đạt, phân tích sẽ có ý nghĩa thúc đẩy cuộc sống
1.2.4.3 Bảo đảm giá trị thực tiễn của thông tin
Giá trị thực tiễn của nội dung thông tin phản ánh chất lượng chương trình được phát sóng Nội dung thông tin càng gần gũi với thực tế cuộc sống,
Trang 36được trình bày ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và dễ nhớ thì giá trị thực tiễn càng cao Ví dụ như thông tin tuyên truyền phổ biến pháp luật phản ánh về nạn trộm cắp sẽ giúp người xem nắm bắt được tệ nạn trộm cắp là do đâu, đối tượng của loại tội phạm này như thế nào, thường dùng phương thức và thủ đoạn như thế nào? Ở đây giá trị thực tiễn của nội dung thông tin là cảnh báo
1.2.5 Phương thức quản lý
Để quản lý hiệu quả nội dung chương trình chuyên đề truyền hình thì cần phải thực hiện kết hợp một cách linh hoạt, sáng tạo và đồng bộ các phương thức, đó là:
1.2.5.1 Quản lý theo khung kế hoạch chương trình
Với phương thức này, chủ thể quản lý sẽ căn cứ vào kế hoạch tuyên truyền, vào khung của chương trình đã được ban hành và dùng chung Mỗi phóng viên, BTV khi thực hiện chương trình phải bám sát và tuẩn thủ theo những quy tắc chung ấy, nếu không tuân thủ thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo phòng, Bam Giám đốc, và xa hơn có thể bị hủy chương trình
1.2.5.2 Quản lý theo giao chỉ tiêu, định mức
Với phương thức này, mỗi cá nhân sẽ phải nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao Bởi trong chỉ tiêu, hạn mức mà làm không tốt, nội dung không đảm bảo chất lượng, chương trình không được phát sóng thì sẽ không được thanh toán thù lao, nhuận bút, không hoàn thành nhiệm vụ, sẽ ảnh hưởng đến công việc của chính bản thân Mặt khác, trong chỉ tiêu định mức mà không đáp ứng được sẽ phải cắt giảm chỉ tiêu để phân
bổ cho người khác thực hiện
1.2.5.3 Quản lý theo kết quả, chất lượng sản phẩm
Kết quả, chất lượng sản phẩm là thành quả của quá trình lao động sáng tạo của cả ê-kip, khi nhìn vào đó chủ thể quản lý cấp trên có thể đánh giá được trình độ và năng lực quản lý của cấp dưới để từ đó có sự điều chỉnh cho
Trang 37phù hợp với năng lực công tác Phương thức này thường chỉ diễn ra sau khi BTV đã hoàn thiện tác phẩm
Chất lượng sản phẩm là vấn đề mang tính chất quyết định, vì nó trực tiếp tác động đến công chúng Công chúng có yêu thích hay không là từ những ấn tượng tốt hay xấu đối với mỗi chương trình được phát sóng Nếu chương trình có chất lượng, công chúng sẽ tự biết đánh giá và người lại, nếu không đáp ứng được thị hiếu của công chúng thì uy tín của kênh sóng sẽ khó được nâng cao Nhất là trong bối cảnh, các nhà đài đang dần tiến tới tự chủ, thì chất lượng sản phẩm càng phải không ngừng được nâng lên Nếu chất lượng đảm bảo đủ tốt và đáp ứng được các tiêu chí quảng bá và được công chúng đón nhận thì mới có thể có và có thể duy trì được số lượng đơn vị đặt hàng hoặc các đơn vị tài trợ quảng cáo, từ đó mới có thể tạo doanh thu để quay lại duy trì bộ máy và tái cấu trúc hệ thống trang thiết bị
1.2.5.4 Quản lý thông qua việc kiểm tra, giám sát tiến độ và nội dung chương trình
Phương thức này giúp chủ thể quản lý theo dõi, đánh giá thực tế việc tổ chức sản xuất, phát sóng các chương trình chuyên đề đảm bảo không có sai phạm xảy ra và phát hiện kịp thời những mặt hạn chế trong nội dung và hình thức truyền tải các thông điệp tới công chúng
Trang 38Tiểu kết chương 1
Nội dung chương trình chuyên đề truyền hình có vai trò rất quan trọng trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và truyền hình nói riêng Việc quản lý tốt nội dung các chương trình chuyên đề truyền hình sẽ góp phần không nhỏ trong việc hình thành dư luận và hành vi xã hội của công chúng
Trong thực tiễn hoạt động báo chí hiện nay, chương trình chuyên đề truyền hình là chương trình chuyển tải thông tin một cách hữu hiệu thường được các Đài PT&TH địa phương lựa chọn sử dụng, nhờ ưu thế có thể tác động tới chiều sâu nhận thức của công chúng Chính vì vậy, vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng, hiệu quả việc quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình luôn được các đài PT&TH địa phương quan tâm
Trong chương 1, tác giả luận văn đã khái quát các khái niệm liên quan đến quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình Đồng thời chỉ ra chủ thể, nội dung, nguyên tắc và phương thức quản lý
Những nội dung thiết yếu đó sẽ là cơ sở để tác giả tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực trạng quản lý nội dung chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT&TH Phú Thọ trong chương 2 của luận văn này
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH PHÚ THỌ
2.1 Giới thiệu đối tượng khảo sát
2.1.1 Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Thọ
Đài PT&TH Phú Thọ được thành lập ngày 19/9/1956, với tên gọi ban đầu là Đài Truyền thanh Phú Thọ, trụ sở được đặt tại sân vận động thị xã Phú Thọ Ngày 1-9-1975 , Đài chính thức phát sóng FM (sóng ngắn) thay thế công nghệ truyền thanh cổ điển bằng dây Tháng 10-1978, Đài đã chuyển sang phát sóng trung thay thế sóng ngắn.Từ đây cánh sóng phát thanh được mở rộng cả
về diện tích và dân số Qua sóng phát thanh, những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đã đến được với đông đảo các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, góp phần cổ vũ, động viên các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới
Ngày 26/01/1968, tỉnh Phú Thọ hợp nhất với tỉnh Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú Đài truyền thanh Vĩnh Phú được thành lập và được tách khỏi Ty Bưu điện, trực thuộc Ty Thông tin
Tháng 2/1979, chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc xảy ra Đài nhanh chóng đáp ứng nhu cầu tuyên truyền động viên tuổi trẻ trong tỉnh tình nguyện lên đường nhập ngũ và xung phong đi xây dựng phòng tuyến bảo vệ biên giới phía bắc Đài đã cử tổ phóng viên đi theo sát các đoàn của tỉnh, động viên và tặng quà của tỉnh cho đồng bào chiến sĩ cả nước, trong đó có hơn hai vạn con
em Vĩnh Phú đang chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên tuyến biên giới
Tháng 7 năm 1993, UBND tỉnh quyết định đổi tên Đài Phát thanh Vĩnh Phú thành Đài PT&TH Vĩnh Phú
Trang 40Ngày 7-9-1993, chương trình truyền hình đầu tiên của Đài chính thức được phát sóng, ghi dấu một chặng đường phát triển mới
Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Vĩnh Phú chia tách thành 2 tỉnh: Phú Thọ và Vĩnh Phúc, Đài PT&TH Vĩnh Phú được đổi tên thành Đài PT&TH Phú Thọ cho đến ngày nay Tháng 3 năm 1997, Đài tách phòng Thông tấn thành phòng Thời sự và phòng Chuyên đề, Phòng Chuyên đề chính thức được thành lập, nay là Phòng Chuyên đề và Dân tộc – Miền núi
Năm 2010, đúng vào dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, website phuthotv.vn chính thức hòa mạng internet, là cánh tay nối dài của Phát thanh - truyền hình Phú Thọ Qua đó, khán giả và công chúng có thể xem lại các chương trình phát trên sóng PTV do Đài sản xuất mọi lúc, mọi nơi, trên máy tính hoặc điện thoại thông minh
Ngày 29/3/2014 công bố phát sóng kênh truyền hình Phú Thọ - PTV trên vệ tinh VINASAT 1 mở ra một chương mới trong lịch sử xây dựng và phát triển của Đài PT&TH Phú Thọ, dấu ấn của truyền hình đất Tổ trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế và hội tụ thông tin Thực hiện tăng tổng thời lượng phát sóng từ 15h/ngày lên 18h/ngày, đặc biệt tăng năng lực tự sản xuất
từ 3h/ngày lên 8h/ngày (tăng 2,6 lần) Với sự kiện này, truyền hình Phú Thọ
đã hoàn thiện các phương thức truyền dẫn phát sóng hiện đại: Truyền hình số
vệ tinh, truyền hình cáp, truyền hình Internet, MyTv, NexTV
Đến thời điểm hiện tại, Đài có 4 loại hình báo chí, gồm: Phát thanh (báo nói), Truyền hình (báo hình), Website (báo điện tử), và Ấn phẩm PTV Trong đó, Phát thanh và Truyền hình được sản xuất và phát sóng hàng ngày; Website cập nhật các chương trình truyền hình hàng ngày và phát sóng truyền hình trực tuyến; Ấn phẩm PTV là báo viết, xuất bản mỗi quý 1 kỳ Từ tháng 3/2020 kênh truyền hình Phú Thọ được đăng tải trên mạng xã hội Youtube, đến nay số lượt người đăng ký đạt hơn 9 nghìn người Trang fanpage Đài Phát