Tình hình nuôi tôm trên thế giới
Nuôi tôm luôn chiếm ưu thế trong ngành nuôi trồng thủy sản, với sản lượng năm 2000 đạt 1.087.111 tấn trị giá 6,88 tỷ USD, chiếm 73,4% giá trị của nuôi giáp xác Trong năm này, sản lượng tổng cộng đạt 1.270.875 tấn, trị giá 8,432 tỷ USD, chủ yếu đến từ các loại tôm như tôm Sú (P monodon), tôm Nương (P chinensis) và tôm Thẻ chân trắng (P vannamei), chiếm khoảng 86% sản lượng tôm toàn cầu Đến năm 2004, ngành thủy sản thế giới đạt sản lượng hơn 59 triệu tấn với giá trị thương mại khoảng 70 tỷ USD, trong đó ngành nuôi tôm đóng góp rất lớn, Trung Quốc dẫn đầu về sản lượng và giá trị thương mại, chiếm hơn 50% thị phần toàn cầu, tiếp theo là Ấn Độ, Philippines và các quốc gia khác Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia phát triển nghề nuôi trồng thủy sản hàng đầu thế giới Các quốc gia dẫn đầu về sản lượng giáp xác gồm Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, Bangladesh và Ấn Độ.
Năm 2004, trên thế giới có 336 loài, nuôi thủy sản thuộc hàng trăm họ khác nhau Trong đó có 20 họ đối tƣợng nuôi đạt sản lƣợng trên 250.000 tấn
Họ Cyprinidae đứng đầu về sản lượng thủy sản, với hơn 18 triệu tấn Tiếp theo là họ Ostreidae, sản lượng đạt khoảng 4,3 triệu tấn, thể hiện vai trò quan trọng trong ngành khai thác hải sản Họ tôm He (Pennaeidae) xếp thứ 6 với sản lượng khoảng 2,5 triệu tấn, góp phần vào nguồn cung thủy sản toàn cầu Tuy nhiên, khi xem xét về giá trị, các họ thủy sản này vẫn giữ vị trí quan trọng trong ngành công nghiệp chế biến và thương mại.
Penaeidae đứng kế sau họ Cyprinidae [11]
Trên thế giới, ngành nuôi tôm chủ yếu tập trung tại hai khu vực chính: Tây Bán Cầu, bao gồm các nước Mỹ Latin, và Đông Bán Cầu (Châu Á) với các quốc gia như Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ và Indonesia Đây là những khu vực có điều kiện khí hậu phù hợp và tiềm năng lớn để phát triển ngành công nghiệp nuôi tôm quy mô toàn cầu Các nước trong khu vực Đông Bán Cầu chiếm thị phần lớn trong sản lượng tôm toàn cầu nhờ vào quy trình sản xuất hiện đại và nguồn nhân lực dồi dào Trong khi đó, các nước Mỹ Latin cũng ngày càng mở rộng quy mô nuôi tôm để đáp ứng nhu cầu thị trường quốc tế.
Nam Á và Đông Nam Á chiếm phần lớn sản lượng tôm nuôi toàn cầu, với 80% đến từ các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Philippines, Indonesia và Việt Nam Nghề nuôi tôm ở khu vực Đông Nam Á đã phát triển mạnh mẽ, nhiều nước đạt được thành tựu trong nuôi thâm canh với năng suất từ 5-7 tấn/ha/vụ và nuôi siêu thâm canh đạt từ 10-30 tấn/ha/vụ, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp thủy sản bền vững.
Trong những năm gần đây, thị trường tiêu thụ tôm lớn nhất thế giới đã tập trung vào khu vực nuôi trồng Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam Năm 2007, các thị trường nhập khẩu tôm chính như Nhật Bản tăng 40,7% về lượng và 10,3% về kim ngạch, chiếm tỷ lệ đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Hoa Kỳ tăng 7,1% về lượng nhưng giảm 12,2% về kim ngạch, chiếm 18,45% về lượng và 26% về kim ngạch Trong khi đó, EU ghi nhận mức tăng đột biến với 80% về lượng và 77,8% về kim ngạch, chiếm lần lượt 18,5% và 16,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu Canada cũng tăng 26% về lượng và 17% về kim ngạch, chiếm 4,7% và 6,2% Ngược lại, các thị trường châu Á như Australia, ASEAN, Hong Kong và Trung Quốc ghi nhận giảm về lượng và kim ngạch tiêu thụ tôm của Việt Nam.
Theo Tổ chức Nông – Lương Liên hợp Quốc, mậu dịch thủy sản toàn cầu đang tăng trưởng mạnh mẽ, với 38% sản lượng thủy sản được giao dịch quốc tế Kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn cầu đã tăng 9,5% vào năm 2006 và tiếp tục phát triển với mức tăng trưởng 7% trong các năm tiếp theo, cho thấy ngành thủy sản đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thương mại quốc tế.
Năm 2007, giá trị thương mại thủy sản toàn cầu đạt kỷ lục 92 tỷ USD Các nước đang phát triển tiếp tục khẳng định vị trí của mình trong ngành thủy sản, chiếm giữ 50% sản lượng thương mại và 27% giá trị, tương đương 25 tỷ USD Trong khi đó, các nước phát triển chiếm đến 80% tổng nhập khẩu thủy sản toàn cầu, thể hiện tầm quan trọng của thị trường này trên quy mô toàn cầu.
Tình hình nuôi tôm tại Việt Nam
đặc biệt là các loài giáp xác
Miền Trung là vùng cung cấp giống tôm chủ yếu cho cả nước, nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi như mức nước ven bờ sâu, nền đáy cát, ít sông lớn và nước biển trong sạch Những đặc điểm này tạo điều kiện lý tưởng cho phát triển và sản xuất giống tôm chất lượng cao Với lợi thế về môi trường tự nhiên trong lành, khu vực miền Trung góp phần nâng cao hiệu quả và năng suất trong ngành giống tôm của Việt Nam.
Năm 1998, toàn quốc sản xuất được 2.200 triệu tôm giống, trong đó Khánh Hòa chiếm hơn 1.660 triệu con, thể hiện vai trò chính trong ngành nuôi tôm của Việt Nam Khu vực miền Trung là trung tâm tiên phong trong phát triển công nghệ nuôi tôm, với mô hình nuôi công nghiệp tại Ninh Hòa, Nha Trang và Cam Ranh theo công nghệ của C.P (Thái Lan) đạt năng suất 5 tấn/ha/vụ vào năm 1991 Tuy nhiên, đến năm 1995, năng suất trung bình chỉ đạt từ 4,15 đến 11,44 tấn/ha, cho thấy sự phát triển chưa ổn định và còn nhiều thách thức trong ngành nuôi tôm vùng miền Trung.
Năm 1999, tổng diện tích nuôi tôm sú ở miền Bắc đạt 39.429 ha, gồm các tỉnh từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh Miền Trung có diện tích nuôi tôm sú là 12.530 ha, trong khi miền Nam chiếm lĩnh khoảng 238.279 ha Miền Nam tiếp tục mở rộng diện tích nuôi thủy sản theo năm, phản ánh sự phát triển không ngừng của ngành công nghiệp nuôi tôm Cùng với sự tăng trưởng này, các nghiên cứu về giống, thức ăn và bệnh trên động vật thủy sản cũng ngày càng đa dạng và phong phú để hỗ trợ ngành nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững.
Năm 2002, Công ty cổ phần C.P Thái Lan đầu tư 100% vốn nước ngoài để nâng cao chất lượng con giống tôm Công ty đã phát triển con giống kháng bệnh Taura, vi khuẩn Vibrio SPR (Specijic Pathogen Resisfacie) và sạch bệnh SPE (Specific Pathogen Free) nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao Để đảm bảo giống tôm đạt tiêu chuẩn, C.P thực hiện chọn giống theo kiểu dòng từ nguồn bố mẹ, kết hợp công nghệ tiên tiến Công ty đã mời các chuyên gia quốc tế về tôm Thẻ (P vannamei) và đầu tư nhiều trang trại giống tôm bố mẹ đạt tiêu chuẩn quốc tế để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Tôm luôn chiếm tỷ trọng cao trong các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu tôm trước năm 1970 chiếm trên 70% tổng giá trị thủy sản hàng năm Tuy nhiên, theo thời gian, hoạt động xuất khẩu đã tăng trưởng mạnh mẽ, kéo theo tỷ trọng của các mặt hàng khác như cá, nhuyễn thể cũng dần tăng lên Từ những năm 2000 trở lại đây, tôm chiếm khoảng trên dưới 50% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, trong khi giá trị tuyệt đối vẫn tiếp tục tăng trưởng, đến năm 2003 lần đầu tiên vượt mốc 1 tỷ USD, chiếm khoảng 49% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước và đóng góp 10% vào giá trị xuất khẩu tôm toàn cầu Nhờ những lợi thế này, Việt Nam đã nằm trong số 5 nước xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới.
Bảng 1.1 Sản lƣợng tôm nuôi theo vùng (tấn) [29]
Vùng Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Đồng bằng Sông Hồng 3596 5050 7275 8698 8793 8283 8774 Đông Bắc 915 952 1807 3032 4328 5294 5596
Bắc Trung Bộ 2080 3890 5982 10002 10895 12505 13036 Duyên hải Nam
Tây nguyên 18 52 54 62 55 64 62 Đông Nam Bộ 4256 10585 13181 17366 18950 18917 21283 Đồng bằng sông
Nguồn: Tổng cục thống kê
Một số đặc điểm sinh học của tôm Thẻ chân trắng
Nguồn gốc và Phân bố
Tôm Thẻ chân trắng phân bố tự nhiên tại vùng Duyên hải Thái Bình Dương, từ phía Bắc Mêxico đến phía Nam Chile, đặc biệt tập trung nhiều tại vùng Duyên hải Ecuador Ngày nay, tôm Thẻ chân trắng đã xuất hiện rộng rãi ở hầu hết các khu vực ôn đới và nhiệt đới như Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản và các quốc gia ven biển Đông Nam Á Đây là loài phù hợp cho việc nuôi trồng thủy sản tại nhiều quốc gia trong khu vực.
Đặc điểm hình thái và cấu tạo
Tôm chân trắng có vỏ mỏng, màu trắng đục và chân bò màu trắng ngà, giúp dễ dàng nhận biết loại tôm này Vỏ đầu ngực của chúng có các gân gai rõ rệt, gai sâu nhưng không có gai mắt hay gai đuôi, tạo đặc điểm nhận dạng nổi bật Tôm chân trắng có tổng cộng 6 đốt bụng, trong đó đốt mang trứng có rãnh bụng rất hẹp hoặc không có, góp phần phân biệt với các loài tôm khác.
Hình 1.1 Hình dạng ngoài tôm Thẻ chân trắng
Đặc điểm sinh thái và vòng đời
Tôm Thẻ chân trắng phân bố tự nhiên từ Đông Thái Bình Dương, từ Bắc Mêxico đến Peru Loài tôm này thích sống ở độ sâu từ 0-72 mét trên nền đáy cát, cát bùn Trong các giai đoạn phát triển khác nhau, tôm Thẻ chân trắng phân bố ở các khu vực khác nhau phù hợp với điều kiện môi trường của từng giai đoạn.
Trong giai đoạn ấu trùng và Post larvae (P5), tôm sống trôi nổi ở tầng mặt và tầng giữa, sau đó chuyển dần xuống đáy khi đến giai đoạn Post larvae Đến giai đoạn tiền trưởng thành, tôm Thẻ sống ở vùng cửa sông, còn khi trưởng thành, chúng di cư ra biển để sinh sống Nhu cầu dinh dưỡng của tôm Thẻ thay đổi theo các giai đoạn phát triển, với các loại thức ăn đặc trưng phù hợp từng giai đoạn sinh trưởng Trong tự nhiên, tôm trưởng thành, giao phối và sinh sản chủ yếu diễn ra ở những vùng biển có độ sâu khoảng 70 mét, nhiệt độ từ 20 đến 26°C và độ mặn khá cao (35‰).
Tôm Thẻ thuộc giống tôm He có nhiều ưu điểm nổi bật như khả năng thích ứng rộng với độ mặn từ 0,5 đến 45 ‰, tỷ lệ sống cao, tăng trưởng nhanh trong điều kiện ao nuôi, phù hợp với mật độ nuôi cao và hình thức nuôi quảng canh Ngoài ra, tôm Thẻ dễ nuôi trong trại giống và hiện nay đã được sinh sản nhân tạo thành công, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả trong ngành nuôi tôm.
Vòng đời tôm Thẻ trải qua 6 giai đoạn chính: phôi, ấu trùng, ấu niên, thiếu niên, sắp trưởng thành và trưởng thành Tôm bố mẹ thành thục sinh sống ở vùng biển có độ mặn cao, nơi ấu trùng phát triển và biến đổi qua nhiều lần lột xác thành hậu ấu trùng Tôm Thẻ chân trắng là loài thuộc nhóm thelycum hở, cho phép quá trình giao hợp diễn ra giữa các kì thay vỏ sau khi trứng đã chín Quá trình giao hợp có thể diễn ra sau vài giờ kể từ khi tôm cái đẻ trứng, với khả năng sinh sản từ 200.000 đến 500.000 trứng mỗi con.
Sơ đồ vòng đời tôm Thẻ [17]
Tôm thành thục Tôm bố mẹ Trứng và tinh trùng
Tiền trưởng thành Trứng thụ tinh Sau 12- 18h
Post larvae Mysis Zoea Nauplius
Đặc điểm sinh trưởng và phát triển
Trong hai tháng đầu, tôm thẻ có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, đặc biệt ở giai đoạn còn nhỏ dưới 20g, khi tôm phát triển với tốc độ khoảng 3g mỗi tuần Tuy nhiên, sau khi đạt trên 20g, tốc độ tăng trưởng của tôm giảm còn khoảng 1g mỗi tuần, cho thấy sự chậm lại rõ rệt Ngoài ra, tôm cái lớn hơn và phát triển nhanh hơn so với tôm đực, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng tổng thể của cả đàn tôm.
Tôm Thẻ, giống như các loài tôm nuôi khác, chịu tác động mạnh từ các yếu tố môi trường, giống, thức ăn và công tác chăm sóc quản lý Quá trình lớn lên của tôm, đặc biệt là sau mỗi lần lột xác, giúp tôm tăng kích thước và khối lượng, với thời gian lột xác kéo dài từ vài giờ đối với tôm nhỏ đến 1-2 ngày đối với tôm trưởng thành Các yếu tố như độ mặn thấp, nhiệt độ cao, môi trường biến động, cùng với việc sử dụng thuốc, hóa chất và cung cấp dưỡng chất phù hợp ảnh hưởng đáng kể đến quá trình lột xác của tôm Điều kiện môi trường lý tưởng là cần thiết để tôm sinh trưởng và phát triển hiệu quả, đảm bảo năng suất nuôi trồng bền vững.
- Màu nước: Xanh lục, xanh vỏ đậu hoặc màu mận chín
- Muối hòa tan: PO4 – P: 0,1 – 0,3mg/l; SiO4 – S: 2mg/l; NH4 – N: 0,4mg/l trở lên; NH 3 < 0,1mg/l Tỷ lệ N/p cao thì tảo khuê nhiều; H 2 S < 0,03mg/l [17 ]
1.2.6 Đặc điểm dinh dưỡng và nhu cầu về thức ăn
Tôm Thẻ chân trắng là loài ăn tạp, phù hợp với nhiều loại thức ăn có nguồn gốc từ động vật và thực vật Chúng không yêu cầu hàm lượng protein cao trong khẩu phần ăn hàng ngày, giúp người nuôi dễ dàng lựa chọn thức ăn phù hợp để đảm bảo sự phát triển tối ưu của tôm Với khả năng tiêu thụ đa dạng thức ăn, tôm Thẻ chân trắng là lựa chọn phổ biến trong ngành nuôi trồng thủy sản, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Đặc điểm dinh dƣỡng và nhu cầu về thức ăn
Vì khả năng hấp thụ protein của tôm Thẻ giới hạn, khi hàm lượng protein vượt quá mức tối ưu, sẽ gây tác động tiêu cực đến sức khỏe của tôm Tôm không thể hấp thụ hết lượng protein thừa, điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến hệ tiêu hóa và phát triển của chúng Ngoài ra, lượng protein dư thừa còn gây ô nhiễm môi trường ao nuôi, dẫn đến các vấn đề về chất lượng nước và hệ sinh thái thủy sản Chính vì vậy, việc kiểm soát hàm lượng protein phù hợp là yếu tố quan trọng để duy trì sức khỏe tôm và bảo vệ môi trường nuôi trồng.
Theo Vũ Thế Trụ, hàm lượng protein thích hợp cho sự phát triển của tôm Thẻ là 35% Ngoài ra, tôm còn ưa thích các loại thức ăn tươi như giun quế và mực Khả năng hoạt động của các enzim tiêu hóa protein khác nhau tùy từng loài, với nghiên cứu của Lee và cộng sự (1984) cho thấy enzyme tiêu hóa protein ở P vannamei tăng khi hàm lượng và chất lượng protein trong thức ăn tăng, trong khi ở P Setiferus lại có xu hướng ngược lại Le Moullae và cộng sự (1994) đã chứng minh rằng trong giai đoạn ấu trùng tôm, hoạt động của các enzyme tiêu hóa protein cũng phụ thuộc vào thành phần dinh dưỡng của thức ăn.
P.vannamei hoạt động của trypsin tăng nhƣng hoạt động của chymotrypsin giảm khi tăng hàm lƣợng prôtêin trong thức ăn [12]
Tôm Thẻ chân trắng có nhu cầu dinh dưỡng thấp hơn tôm Sú, giúp giảm đáng kể chi phí thức ăn trong quá trình nuôi Tại Thái Lan, thức ăn cho tôm Thẻ chứa khoảng 35% protein, có chi phí thấp hơn 10-15% so với thức ăn tôm Sú (40-42% protein) Ngoài ra, hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm Thẻ cao hơn tôm Sú, với hệ số chuyển đổi trung bình là 1,2 so với 1,6 của tôm Sú Nhờ khả năng tăng trưởng nhanh và tỷ lệ sống cao, nuôi tôm Thẻ giúp giảm chi phí sản xuất từ 23-30% so với tôm Sú, tối ưu hóa lợi ích kinh tế cho người nuôi.
Tình hình nuôi tôm Thẻ chân trắng trên thế giới và Việt Nam
Tình hình nuôi tôm Thẻ chân trắng trên thế giới
Tôm Thẻ chân trắng đƣợc nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm từ đầu những năm 1970 ở châu Mỹ la tinh
Vào cuối 1970 chúng đƣợc đƣa đến nuôi tại Hawail và bờ biển đông Thái Bình Dương Từ bang South Carolina và Texas ở miền Bắc đến vùng
Trong hơn 20-25 năm, tôm Thẻ chân trắng đã trở thành đối tượng nuôi chính tại Trung Mỹ và Baraxin (Nam Mỹ) Tại châu Á, ngành nuôi tôm bắt đầu phát triển từ cuối những năm 1970, với Trung Quốc và Đài Loan là những quốc gia tiên phong Đến năm 1996, nuôi tôm đã mở rộng sang Thái Lan, Indonesia và Việt Nam Năm 2002, sản lượng tôm Thẻ chân trắng của Trung Quốc đạt 270.000 tấn, và tăng lên 300.000 tấn vào năm 2003, chiếm 71% tổng sản lượng nuôi tôm của đất nước, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của ngành nuôi tôm Trung Quốc.
Tôm Thẻ chân trắng có sản lƣợng đáng kể chỉ đứng thứ 2 sau tôm Sú
Tôm Thẻ chân trắng có tốc độ tăng trưởng sản lượng nhanh nhờ mật độ nuôi cao lên đến 240 con/m², giúp tối ưu hóa diện tích thả nuôi Năng suất tôm tại Viện Hải Dương học Hawaii đạt tới 44 tấn trên hecta mỗi năm, thể hiện hiệu quả vượt trội trong kỹ thuật nuôi Đây là những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất và phát triển bền vững ngành nuôi tôm.
Tôm Thẻ chân trắng hiện là đối tượng nuôi chính trên toàn thế giới trong điều kiện vùng mặn lợ, chiếm khoảng 80% tổng sản lượng tôm nuôi năm 2007 theo số liệu của FAO Trong đó, 85% sản lượng tập trung tại các quốc gia Đông Nam Á, như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, và các quốc gia Mỹ Latinh như Ecuador, Mexico, Panama, Colombia, Honduras, Brazil, cùng với Mỹ Năm 2006, Thái Lan đạt sản lượng tôm Thẻ chân trắng khoảng 500.000 tấn, chiếm tới 95% tổng sản lượng tôm nuôi của quốc gia này, trong khi Trung Quốc sản xuất khoảng 400.000 tấn, còn Việt Nam đạt khoảng 10.000 tấn.
Bảng 1.2 Sản lượng tôm Thẻ chân trắng một số nước châu Á(tấn/năm)[ 22] Quốc gia
Tình hình nuôi tôm Thẻ chân trắng tại Việt Nam
Tôm Thẻ chân trắng được đưa vào nuôi tại Việt Nam từ năm 2001 và bắt đầu thử nghiệm thành công tại Công ty TNHH Duyên Hải, Bạc Liêu Mặc dù ban đầu nuôi không hiệu quả trên diện tích của công ty, nhưng sau đó, tôm Thẻ chân trắng đã được mở rộng ra khắp các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận, trở thành loài tôm phổ biến trong ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam.
Trong nuôi thương phẩm tôm Thẻ, giống tôm giống đóng vai trò then chốt quyết định năng suất của ao nuôi Tại Việt Nam, ngành nuôi tôm Thẻ bắt đầu phát triển mạnh mẽ hơn, tập trung vào việc tạo ra con giống có tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng đề kháng tốt với các bệnh như Taura và vi khuẩn Vibrio Năm 2002, tập đoàn Charoen Pokphand (C.P) đã nghiên cứu và áp dụng chương trình cải tiến giống tôm Thẻ, đem lại những kết quả vượt trội về tăng trưởng trong ao nuôi, tỷ lệ sống cao và khả năng đề kháng bệnh tốt hơn.
Tôm Thẻ đầu tiên được nhập khẩu từ Thái Lan năm 2002 với quy trình nuôi từ cỡ 4g đến kích cỡ 45 con/kg (22g/con), đạt tỷ lệ tăng trưởng (ADG) 0,189g/con/ngày Đến năm 2006, cũng trong điều kiện nuôi tương tự, tỷ lệ tăng trưởng đã tăng lên 0,242g/con/ngày, tăng 28% nhờ vào những cải tiến về kỹ thuật nuôi trồng Ngoài ra, thời gian nuôi cũng đã được rút ngắn đáng kể, giúp nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất Năm 2002, thời gian nuôi từ post 1 đến đạt kích cỡ 45 con/kg mất khoảng 190 ngày.
2006 thời gian nuôi chỉ còn 140 ngày, nhiều nơi còn 110 ngày [15]
Năm 2005, Bộ Thủy sản đã chính thức cho phép nuôi tôm Thẻ chân trắng trong khoảng từ Quảng Ninh đến Bình Thuận, với tổng diện tích nuôi nước lợ lên đến khoảng 65.000 ha, trong đó Hà Tĩnh và Bình Thuận chiếm khoảng 20.000 ha Đến năm 2006, khu vực từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận đã hình thành diện tích nuôi đạt khoảng 1.758 ha, sản lượng đạt 10.050 tấn, trong đó Quảng Ngãi và Khánh Hòa là những tỉnh có diện tích và sản lượng nuôi trồng lớn nhất Dự kiến, diện tích vùng nuôi tôm có thể đạt khoảng 2.500 ha vào năm 2006, tăng 14,2% so với năm 2000, với tiềm năng thích hợp nuôi hơn 10.000 ha chủ yếu tập trung tại Hà Tĩnh, Quảng Trị và các khu vực lân cận.
Bảng1.3 Diện tích và sản lượng nuôi tôm Thẻ chân trắng năm 2006 [28]
Tôm Thẻ chân trắng đang phát triển mạnh mẽ trên các vùng đất thịt và đất cát từ Quảng Ninh đến Bình Thuận, đóng góp khoảng 5-7% vào tổng sản lượng tôm nuôi của Việt Nam Nhiều cơ sở nuôi tôm đạt năng suất từ 12-14 tấn/ha, cho thấy ngành nuôi tôm Thẻ chân trắng có tiềm năng và hiệu quả kinh tế cao Ninh Thuận, năm 2007, là một trong những tỉnh có hoạt động nuôi tôm phát triển đáng kể, góp phần thúc đẩy ngành thủy sản địa phương.
Quảng Ngãi là tỉnh có hiệu quả nuôi tôm Thẻ đạt cao, với năng suất trung bình 8,44 tấn/ha/vụ và có hộ đạt tới 22 tấn/ha Năm 2006, sản lượng tôm nuôi tại tỉnh này đã đạt khoảng 5.000 tấn, thể hiện tiềm năng phát triển lớn trong ngành nuôi trồng thủy sản.
Hà Tĩnh có diện tích mặn lợ rộng 32.000 ha, tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô lớn Năm 2007, diện tích nuôi tôm Thẻ tăng lên hơn 2.000 ha với năng suất trung bình từ 4,5 đến 7 tấn/ha, góp phần thúc đẩy ngành thủy sản địa phương Năm 2008, theo chỉ thị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, diện tích nuôi tôm Thẻ chân trắng tại Hà Tĩnh đã mở rộng lên 470 ha, chiếm 17% tổng diện tích nuôi tôm của tỉnh, tăng cường vị thế của ngành nuôi trồng thủy sản Trong cùng năm, Quảng Nam cũng đã chuyển đổi toàn tỉnh sang mô hình nuôi tôm Thẻ chân trắng với 650 ha, chiếm một phần ba diện tích nuôi mặn lợ của toàn tỉnh, góp phần đẩy mạnh phát triển ngành tôm tại khu vực miền Trung.
Năm 2008, Bến Tre đã phát triển hơn 1.000 ha diện tích nuôi tôm Thẻ chân trắng, trong khi Cà Mau đã có hơn 10.800 ha ao nuôi tôm Các địa phương có nghề nuôi tôm Thẻ chân trắng cũng đã xây dựng và áp dụng các quy trình nuôi riêng biệt phù hợp với điều kiện đặc thù của từng vùng để nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm.
Tại Phú Yên, quy trình nuôi tôm đạt hiệu quả cao bắt đầu từ khâu chuẩn bị ao nuôi kỹ lưỡng đến việc thả giống đúng quy trình Giống tôm được thả với mật độ 120 con/m², kích cỡ giống Postlavae từ 10-15, đảm bảo đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng Trước khi thả, tôm giống phải được kiểm tra kỹ lưỡng và xét nghiệm PCR để đảm bảo sức khỏe và khả năng kháng bệnh, góp phần nâng cao tỷ lệ thành công trong nuôi trồng thủy sản.
Quản lý môi trường ao nuôi có độ trong giới hạn 30-50cm, đặc biệt trong giai đoạn đầu khi màu nước trong, nên sử dụng vôi Dolomite để cải thiện chất lượng nước Sử dụng phân giun vào buổi sáng với liều lượng từ 20-50kg/1000m3 giúp ổn định hệ sinh thái tảo và duy trì sự phát triển bền vững của môi trường nuôi Kinh nghiệm nuôi trồng cho thấy phân giun có khả năng giữ cho tảo phát triển ổn định trong thời gian dài, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.
Sử dụng thức ăn công nghiệp trộn chế phẩm sinh học giúp tôm phát triển khỏe mạnh và tăng cường khả năng đề kháng Bên cạnh đó, việc bổ sung protein, men tiêu hóa, NFE và gan cá nhám từ phế phẩm khai thác ngư trường mang lại hiệu quả cao trong quá trình nuôi tôm Việc trộn dầu gan cá vào thức ăn đã giúp tôm tăng cường sức đề kháng và đạt năng suất thu hoạch từ 14 đến 14,8 tấn/ha.
Trong khi đó tại Đồng Hới, Quảng Bình quy trình áp dụng lại nuôi tôm theo kiểu ƣơng san ao :
Phương pháp nuôi tôm mật độ cao 300 con/m² trong vòng 30-40 ngày tuổi giúp tối ưu hóa tốc độ tăng trưởng Khi tôm đạt kích cỡ 3,5-4,5cm, trọng lượng 1,7-1,2 nghìn con/kg, việc chuyển sang ao có mật độ thấp hơn đảm bảo an toàn cho sự phát triển của tôm Trước khi chuyển ao, cần kiểm tra các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH và chênh lệch độ mặn không vượt quá 5‰ để duy trì môi trường sống lý tưởng cho tôm Trong giai đoạn chuyển đổi, mật độ thả trong ao mới chỉ khoảng 80 con/m² để giảm thiểu căng thẳng và đảm bảo sự phát triển ổn định của tôm Sử dụng thức ăn loại Win có độ đạm thấp giúp kiểm soát ô nhiễm môi trường ao nuôi, đồng thời việc lựa chọn thức ăn phù hợp về hàm lượng dinh dưỡng là yếu tố quan trọng trong việc duy trì hệ sinh thái trong ao nuôi tôm.
Thời gian cho ăn trong ngày: 6h(30%), 10h(10%), 17h(35%), 22h(25%)
Trong quản lý môi trường ao nuôi để duy trì ổn định màu nước, việc bón phân định kỳ nhằm cung cấp dưỡng chất thiết yếu cho thủy sản Cách làm này sử dụng 15kg phân gà và 10kg vôi sống trên diện tích 10,5 ha, giúp duy trì cân bằng sinh thái nước Kết quả sau khi áp dụng phương pháp này cho thấy, sản lượng thu hoạch đạt từ 6 đến 6,7 tấn trên mỗi hecta, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả nuôi trồng thủy sản.
Trong nuôi tôm thương phẩm, việc sử dụng các loại thức ăn gặp phải nhiều khó khăn như chất lượng chưa đảm bảo, thành phần protein và axit béo không phù hợp, cùng với nhu cầu dinh dưỡng chưa được cân đối Để khắc phục những hạn chế này, người nuôi thường sử dụng thức ăn tươi sống như hầu, vẹm, giun quế, giáp xác và cá, vì đây là những loại thức ăn ưa thích của tôm Tuy nhiên, sử dụng khối lượng lớn thức ăn tươi sống thường gây ô nhiễm nước, ảnh hưởng đến môi trường nuôi trồng.
ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỀM, THỜI GIAN, NỘI
Đối t ƣợng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu : tôm Thẻ chân trắng ( Penaeus vannamei )
- Vật liệu nghiên cứu: Giun quế (Perionyx ecavatus)
Địa điểm, thời gian
Công ty Việt Anh (Hà Tĩnh) cơ sở 2 tại xã Phước Thể huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận
2.1.2 Thời gian nghiên cứu: Đề tài đƣợc thực hiện từ ngày 5/5/2008 đến 5/10/2008
Nội dung nghiên cứu
-Tìm hiểu các biện pháp quản lí môi trường ao nuôi có sử dụng giun quế
- Tìm hiểu các biện pháp quản lí thức ăn dùng giun quế làm thức ăn bổ sung
- Theo dõi và đánh giá tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống tôm nuôi
- Đánh giá hiệu quả quy trình nuôi.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Sơ đồ khối bố trí thí nghiệm
- CT1: sử dụng thức ăn công nghiệp + Giun quế
- CT2: ao đối chứng không sử dụng thức ăn Giun quế
- Các ao thí nghiệm đƣợc bố trí ngẫu nhiên với diên tích mỗi ao 4500m 2 Mật độ thả 130con/m 2
2.4.2 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Bảng 2.1 Theo dõi các yếu tố môi trường Yếu tố Dụng cụ sử dụng Thời gian đo
Nhiệt độ Nhiệt kế 2 lần/ ngày: 6, 14-16h Độ trong Đĩa secchi Hàng ngày
Màu nước Cảm quan Hàng ngày pH Test so màu 6h & 14h
- Theo dõi các yếu tố môi trường
- Theo dõi tốc độ tăng trưởng
- Hệ số chuyển đổi thức ăn
- Hiệu quả quy trình nuôi
Kết luận và đề xuất
DO Test Hàng ngày Độ mặn Tỷ trọng kế/khúc xạ kế 8h
NH 3 test thử Tuần/ lần
2.4.3 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của tôm
* Xác định tốc độ tăng trưởng:
Quăng chài thu mẫu ngẫu nhiên ở các vị trí trong ao, số lƣợng 30 con,
10 ngày thu mẫu một lần
- Tốc độ tăng trưởng tương đối theo khối lượng
W 1 : Khối lượng trung bình tôm lấy lần thu mẫu trước
W 2 : Khối lƣợng trung bình tôm lấy mẫu lần sau
T 2 – T 1 : Khoảng thời gian giữa hai lần thu
- Tốc độ tăng trưởng tương đối theo chiều dài
L 2 : Chiều dài tôm tại thời điểm T 2
L 1 : Chiều dài tôm tại thời điểm T 1
T 2 – T 1 : Khoảng thời gian giữa 2 lần đo
* Xác định tỷ lệ sống (%)
Tỉ lệ sống (%) = Số tôm thu đƣợc (con)
Số tôm thả ban đầu (con)
2.4.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế
* Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR)
FCR khối lƣợng thức ăn toàn vụ (kg) khối lượng tôm (tươi) thu hoạch (kg)
Năng suất Tổng sản lƣợng thu đƣợc (kg) Diện tích ao (ha)
HQ (triệu đồng / ha) Tổng thu – tổng chi phí sản xuất Tổng diện tích nuôi
2.4.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
- Phương pháp thu số liệu: qua phỏng vấn cán bộ công nhân trại, quá trình lao động học tập của bản thân, sở Thuỷ sản tỉnh…
- Phương pháp xử lý số liệu: dùng phương pháp thống kê sinh học, thực hiện trên phần mềm Excel 2003
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Quản lý môi trường ao nuôi
Quản lý môi trường nước trong ao nuôi đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo thành công của vụ nuôi thủy sản Môi trường ao nuôi được duy trì tốt sẽ giúp tôm phát triển khỏe mạnh, tăng năng suất và giảm thiểu rủi ro dịch bệnh Việc theo dõi các yếu tố môi trường hàng ngày như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan và chất lượng nước là rất cần thiết để đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp, duy trì điều kiện tố nhất cho tôm nuôi.
Bảng 3.1 Theo dõi các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi
Thông số A1 A2 B1 B2 t o Sáng TB ± sd 27,01±0,96 26,58±1,12 27,33±0,98 26,85±0,94 Chiều TB ± sd 29,27±0,95 29,28±0,88 29,34±0,79 29,06±0,78
DO Sáng TB ± sd 5,87±0,59 5,79±0,68 5,57±0,58 5,65±0,59 Chiều TB ± sd 7,05±0,74 7,04±0,84 6,78±0,89 6,81±0,73 pH
Sáng TB ± sd 7,99±0,31 7,92±0,27 7,92±0,26 7,95±0,24 Chiều TB ± sd 8,25±0,24 8,23±0,24 8,22±0,24 8,19±0,24 Độ kiềm TB ± sd 106,3±14,83 111,5±13,46 112,8±13,88 113,4±10,75 S‰ TB ± sd 16,23±6,54 16,58±6,38 16,45±6,75 15,45±6,23
3.1.1 Quản lý nhiệt độ nước
Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự phát triển của động vật thủy sản, đặc biệt là tôm Nhiệt độ cao hoặc thấp đều gây rối loạn quá trình hô hấp, tiêu thụ thức ăn và đồng hóa, từ đó ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và miễn dịch của tôm Thay đổi nhiệt độ là nguyên nhân chính gây biến đổi tốc độ tiêu hóa thức ăn, mất cân bằng pH máu, đồng thời ảnh hưởng đến chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu và gây tổn thương bóng hơi Do đó, việc duy trì nhiệt độ phù hợp là yếu tố then chốt để đảm bảo sức khỏe và năng suất nuôi thủy sản.
Nhiệt độ thích hợp từ 23 đến 30 độ C là điều kiện tối ưu giúp tôm Thẻ phát triển nhanh và khỏe mạnh, đồng thời nâng cao khả năng kháng bệnh Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của tôm cá mà còn tác động đến khả năng gây bệnh của các mầm bệnh, làm tăng hoặc giảm nguy cơ mắc bệnh trong quá trình nuôi Vì vậy, việc duy trì nhiệt độ phù hợp là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững và an toàn của tôm trong vòng nuôi.
Trong quá trình thực tập, nhận thấy nhiệt độ có xu hướng tăng dần vào cuối vụ nuôi, với nhiệt độ biến động từ 25-29,5°C vào buổi sáng và 28-31,5°C vào buổi chiều, nhưng vẫn nằm trong ngưỡng chịu đựng của tôm nuôi Đến gần cuối vụ, khí hậu mùa khô nắng nóng, nhiệt độ cao và ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm.
3.1.2 Quản lý oxy hòa tan (DO)
Hình 3.1 Biến động hàm lƣợng Oxy
Sự biến động hàm lượng oxy trong ao nuôi chủ yếu do hoạt động quang hợp và hô hấp của thủy sinh vật, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường nuôi trồng Quá trình phân hủy chất hữu cơ trong ao cũng góp phần làm thay đổi nồng độ oxy, gây ra các vấn đề về thiếu oxy cho thủy sản Hoạt động của tảo trong ao nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái, nhưng cũng có thể gây ra hiện tượng thiếu oxy khi số lượng tảo phát triển quá mức Việc kiểm soát lượng oxy trong ao nuôi là yếu tố then chốt để đảm bảo môi trường sống ổn định và tăng năng suất thủy sản hiệu quả.
Theo Vũ Thế Trụ, hàm lƣợng oxy thích hợp cho tôm He sinh trƣỏng là
Trong các ao nuôi tôm thâm canh, hàm lượng oxy hòa tan (DO) lý tưởng dao động từ 4-7 mg/l, với mức trên 5 mg/l được xem là tối ưu [16] Khi hàm lượng oxy giảm xuống dưới 4 mg/l, tôm vẫn có khả năng bắt mồi nhưng tiêu hóa kém hiệu quả, dẫn đến tỷ lệ chuyển hóa thức ăn giảm và nguy cơ mắc bệnh tăng cao Nếu oxy giảm xuống mức 2 – 3 mg/l, tôm sẽ ngừng bắt mồi và trở nên yếu hơn nhiều [8] Tôm Thẻ chân trắng có khả năng chịu đựng oxy thấp hơn, thậm chí ở mức dưới 0,8 ppm, tôm vẫn có thể sống được nhiều giờ; tuy nhiên, sức tăng trưởng của tôm đạt tốt nhất khi hàm lượng oxy vượt trên 4 ppm [17].
Biểu đồ biến động hàm lượng oxy cho thấy trong thời gian nuôi, hàm lượng oxy giảm dần vào cuối vụ nuôi do môi trường nước chứa nhiều chất hữu cơ, tảo phát triển mạnh và mật độ cao Trong tháng đầu, hàm lượng oxy dao động lớn giữa buổi sáng và chiều, đặc biệt từ 1-1,5 mg/l, với hai trại nuôi (CT1 và CT2) đạt mức 6-9 mg/l trong hai tuần đầu Trong tháng đầu, hàm lượng oxy vào buổi sáng và chiều ở hai trại nuôi ổn định, nhưng từ tháng thứ hai trở đi, lượng oxy bắt đầu dao động mạnh hơn, buổi sáng từ 5,5-6,5 mg/l và buổi chiều từ 6,5-7,5 mg/l, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển của sinh vật thủy sản.
Từ ngày thứ 70, mức độ dao động oxy trong ao nuôi giảm mạnh, chỉ còn từ 0,5 đến 1 mg/l, gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của cá Việc quản lý oxy trong ao chủ yếu tập trung vào duy trì màu nước ổn định và tăng cường chạy quạt nước để đảm bảo lượng oxy phù hợp Quản lý oxy hợp lý giúp giữ môi trường ao nuôi ổn định và giảm thiểu rủi ro về dịch bệnh cho thủy sản.
Hàm lượng oxy cao đột ngột trong ao gây ra hiện tượng nổi đầu tôm, thường xuất hiện do thay đổi thời tiết bất thường Sự phát triển mạnh của tảo cũng góp phần làm giảm pH đột ngột, gây sốc cho tôm và dẫn đến hiện tượng nổi đầu Tình trạng tôm bị xốc và nổi đầu phản ánh môi trường nước không ổn định, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của tôm nuôi.
Hình 3.2 thể hiện sự biến động của pH trong quá trình nuôi tôm, ảnh hưởng lớn đến đời sống của sinh vật Mỗi loài sinh vật chỉ tồn tại trong một khoảng pH nhất định, và khi pH vượt quá giới hạn cho phép, sẽ gây tác động tiêu cực đến quá trình trao đổi chất, làm tổn thương các mô và cơ quan, thậm chí gây chết cho sinh vật (Swingle, 1969) Khi pH giảm xuống mức thấp, khả năng vận chuyển oxy qua hemoglobin giảm, khiến tôm tiết nhiều chất nhầy, da và bên ngoài cơ thể tiết ra nhiều nhớt, làm giảm khả năng kháng bệnh do vi khuẩn gây ra Theo Nguyễn Trọng Nho (1994), pH từ 7,5 đến 8,5 được coi là mức lý tưởng cho hệ thống ao nuôi tôm công nghiệp, giúp duy trì sức khỏe và năng suất tối ưu.
Trong quá trình theo dõi môi trường, pH của vùng nuôi có xu hướng giảm dần theo thời gian, bắt đầu từ mức cao từ 7,9-8,6 vào buổi sáng và 8,2-8,7 vào buổi chiều trong tháng đầu Từ ngày thứ 40, pH các ao có sự biến động do quá trình cấp nước ngọt bổ sung và hiện tượng tảo tàn xảy ra, trong đó ao CT2 cho thấy sự biến động mạnh hơn ao CT1, thấp nhất đạt 7,6 vào buổi sáng và 7,9 vào buổi chiều Đến ngày thứ 60, độ pH trong ao giảm dần, dao động từ 7,6-7,9 vào buổi sáng và 7,9-8,3 vào buổi chiều, phù hợp cho sự phát triển của tôm khi pH duy trì trên 7,6 trong suốt thời gian nuôi.
3.1.4 Quản lý độ trong, màu nước
Quản lý ao nuôi thức ăn là quản lý sự phát triển của tảo trong ao Tảo đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ sinh thái ổn định, giúp giảm cường độ ánh sáng, tạo ra oxy hòa tan và ảnh hưởng tích cực đến pH cũng như nhiệt độ của nước Ngoài ra, tảo còn là nguồn thức ăn tự nhiên bổ sung cho tôm, góp phần nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản.
Sự phát triển của tảo yêu cầu ánh sáng và các chất dinh dưỡng cần thiết Khi tảo phát triển mạnh, chúng sử dụng đạm và lân để giảm tính độc của hợp chất ammonia (NH₃), giúp duy trì sự cân bằng sinh thái trong hệ sinh thái nước.
NO 2 , hạn chế tảo đáy phát triển ổn định độ trong tôm không bị sốc [8] Trong nuôi tôm để duy trì màu nước ổn định tạo điều kiện cho tôm sinh trưởng tốt là rất khó Màu nước trong ao nuôi tôm thường thay đổi theo sự phát triển của tảo trong ao nuôi Khi tảo trong ao phát triển quá mạnh nước có màu của tảo đặc trưng của loài Hiện tượng tảo tàn gây ra mất màu nước, nước trong, thành phần nước keo nhớt, ô nhiễm môi trường nước Vào giai đoạn cuối vụ nuôi tảo phát triển mạnh và tàn lụi thường xuyên Quá trình tàn lụi của tảo trong ao nuôi tôm xẩy ra đồng loạt hay kéo dài rải rác Tôm sẽ sử dụng thức ăn kém, ao nuôi sẽ giảm làm lƣợng oxy vào khi tao tàn đồng loạt Để quản lý màu nước được ổn định cần có các biện pháp quản lý về thức ăn, độ kiềm, pH
Trong các ao nuôi tôm, việc sử dụng phân giun để gây màu nước là phương pháp hiệu quả để duy trì màu nước ổn định và nhanh chóng, đặc biệt khi ao bị nghèo dinh dưỡng Phân giun có khả năng gây màu nước nhanh hơn so với các loại phân khác, giúp duy trì chất lượng nước tốt cho quá trình nuôi tôm Để đạt hiệu quả tối ưu, nên sử dụng từ 10 đến 20kg phân giun cho mỗi 1000m² ao nuôi Ngoài ra, có thể kết hợp với việc bón vôi với liều lượng từ 10 đến 15kg/1000m² để tăng cường hệ đệm bảo vệ môi trường ao nuôi.
Quản lý thức ăn
Trong ao nuôi tôm công nghiệp, chi phí thức ăn chiếm 50-60% tổng chi phí sản xuất, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hiệu quả kinh tế Việc lựa chọn thức ăn phù hợp dựa trên khả năng hấp thụ các thành phần dinh dưỡng, nhu cầu về loại thức ăn, cũng như hàm lượng protein, lipid và carbohydrate là yếu tố then chốt Ngoài ra, các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của tôm đòi hỏi chế độ dinh dưỡng phù hợp để đảm bảo sự phát triển tối ưu, góp phần nâng cao năng suất và giảm chi phí sản xuất.
Nhu cầu về thành phần protein và amino acid của tôm thay đổi theo từng loài, nhưng thông thường cần khoảng 27 – 35% đạm thô để phù hợp với sự phát triển của chúng Trong giai đoạn ấu trùng nhỏ (P10), tôm cần đến 40% đạm thô để hỗ trợ sự growth ban đầu, trong khi các giai đoạn trưởng thành sau đó chỉ yêu cầu khoảng 30% đạm thô để duy trì sức khỏe và phát triển.
Trong nuôi tôm công nghiệp, thức ăn đóng vai trò quan trọng và chiếm phần lớn chi phí trong vụ nuôi, ảnh hưởng lớn đến năng suất và hiệu quả kinh tế Việc lựa chọn các loại thức ăn phù hợp và phối hợp hợp lý theo từng giai đoạn phát triển giúp tôm nuôi lớn nhanh, tiết kiệm chi phí, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm công nghiệp.
Bảng 3.3 Thành phần dinh dƣỡng thức ăn công nghiệp Hi – Po
Mã số Thành phần TA
Chất xơ tối đa % 4 4 4 4 4 4 Độ ẩm tối đa % 11 11 11 11 11 11
Hình dạng Dạng bột Dạng mảnh
Qua bảng cho thấy thức ăn công nghiệp với thành phần dinh dƣỡng là phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của tôm nuôi
Trong tháng nuôi đầu cho tôm ăn theo công thức của nhà phân phối thức ăn C.P đƣa ra (áp dụng cho 100.000con), cụ thể:
Ngày đầu tiên mới thả tôm cho ăn 2kg/ngày
Từ 10 ngày đầu cho ăn mỗi ngày tăng 0,3kg/lần/ngày
Từ 10 ngày trở lên cho ăn mỗi ngày tăng 0,4kg/lần/ngày
Từ ngày 20 trở lên cho ăn mỗi ngày tăng 0,5kg/lần/ngày
Từ ngày 30 bắt đầu tính lƣợng thức ăn theo nhá
Bảng 3.4 Quy trình cho tôm ăn toàn vụ
Sau 30 ngày tuổi, tôm bắt đầu ăn quen, việc quản lý ao nuôi cần theo dõi khả năng ăn của tôm để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp Quản lý chặt chẽ quá trình cho ăn giúp đảm bảo tôm phát triển tốt và hạn chế lãng phí thức ăn Việc xác định định lượng thức ăn dựa trên khả năng tiêu thụ của tôm sẽ tối ưu hóa năng suất nuôi trồng Theo dõi phản ứng của tôm sau mỗi lần cho ăn là yếu tố quan trọng để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp trong giai đoạn này.
Trong quá trình nuôi toàn vụ, mật độ cao 130 con/m² khiến tôm rất nhạy cảm với các yếu tố môi trường như hàm lượng oxy, khí độc và sự biến động của độ pH vào ban đêm Để đảm bảo sức khỏe tôm, cần giảm số lần cho ăn còn 3 lần mỗi ngày, đặc biệt là hạn chế việc cho tôm ăn vào ban đêm trong giai đoạn này nhằm giảm thiểu stress và nâng cao hiệu quả nuôi trồng.
50 ngày đến lúc thu hoạch
Thời gian thăm nhá rất quan trọng để đánh giá lượng thức ăn chưa thừa trong ao nuôi Dựa vào lượng thức ăn còn dư thừa hoặc tôm đã tiêu thụ hết để xác định tình trạng sức khỏe của tôm trong ao Qua sàng ăn, kỹ thuật viên có thể nhận biết các bệnh, chu kỳ lột xác, mức độ yếu hoặc khỏe của tôm, cũng như tình trạng no đói qua đường ruột Thời gian thăm nhá giảm dần theo kích thước và khả năng ăn của tôm ở các giai đoạn khác nhau.
Phương pháp cho tôm ăn:
Tôm đƣợc cho ăn 4 lần/ ngày từ ngày thả đến ngày 50 thời điểm cho ăn 6h30 (30% thức ăn), 11h (30% thức ăn), 16h (30% thức ăn), 9h (10% thức ăn)
Tôm từ ngày 50 trở đi thì cho ăn ngày 3 lần 6h30 (30% thức ăn), 11h (30% thức ăn), 16h (40% thức ăn)
Bảng 3.5 Tính lƣợng thức ăn trong nhá Lƣợng thức ăn còn trong nhá (%) Điều chỉnh lƣợng thức ăn
10% Giữ nguyên thức ăn lần sau
11-25% Giảm thức ăn 10% lần sau
30 – 50% Giảm thức ăn 30% lần sau
50% Giảm thức ăn 50% lần sau
Hiện nay, giá thành thức ăn công nghiệp ngày càng tăng cao, khiến chi phí đầu tư cho thức ăn khi nuôi ở mức độ thâm canh cao trở nên rất lớn Để giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả, cơ sở đã thử nghiệm bổ sung giun quế vào thức ăn tươi sống, nhằm cải thiện thành phần dinh dưỡng cho tôm nuôi, đồng thời giảm áp lực về chi phí thức ăn công nghiệp.
Nghiên cứu thử nghiệm đã chứng minh rằng sử dụng giun quế làm thức ăn trong nuôi tôm là giải pháp thay thế hiệu quả các loại thức ăn tươi như cá tạp, nhuyễn thể và phụ phẩm giết mổ Thức ăn từ giun quế cung cấp đầy đủ dưỡng chất cần thiết, giúp kích thích sự tăng trưởng của tôm, nâng cao sức đề kháng và thúc đẩy tôm ăn nhiều hơn nhờ mùi tanh hấp dẫn của giun.
Giun quế có giá trị dinh dưỡng cao, dễ nuôi và phù hợp để tận dụng các sản phẩm thải, như phân để cải tạo ao và làm thiêu màu nước, giúp duy trì môi trường nuôi tốt Trong nuôi tôm, việc kết hợp nuôi giun quế mang lại hiệu quả cao khi sử dụng thịt và phân giun để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Bảng 3.6 Sử dụng giun quế và các phụ da Thông số
Trước lúc cho ăn (phút)
65-th 1 20g/ 1kg 20-30 Hòa tan trộn TA
Sử dụng giun quế từ ngày 20 trở đi với tỷ lệ phối trộn khoảng 1% vào thức ăn công nghiệp giúp nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản Giun quế được làm sạch, xay nhỏ bằng máy xay sinh tố rồi hòa tan vào nước để tạo thành dung dịch giun, sau đó trộn vào thức ăn với tỷ lệ 1kg giun xay nhỏ/100kg thức ăn và pha thêm 1 lít nước giun/10kg thức ăn, cho ăn 3-4 lần mỗi ngày Việc kết hợp thức ăn công nghiệp với giun quế có thể tăng tỷ lệ phối trộn trong khẩu phần ăn của tôm, phụ thuộc vào điều kiện nuôi, kích cỡ tôm và khả năng hấp thụ thức ăn của đàn tôm Trong các trại, giun quế thường được sử dụng từ 20 ngày tuổi đến 70 ngày trước thu hoạch để tối ưu hiệu quả nuôi Tuy nhiên, cần hạn chế tỷ lệ phối trộn giun quế quá cao, từ 1-5%, vì nếu vượt mức sẽ gây ô nhiễm nguồn nước do thành phần đạm cao trong giun.
Để kích thích sự bắt mồi và tăng quá trình lột xác nhằm thúc đẩy sự phát triển của tôm, chúng tôi đã bổ sung một số khoáng chất thiết yếu cần thiết cho tôm Việc cung cấp các khoáng chất này giúp tôm phát triển khỏe mạnh, tăng trưởng vượt trội và nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản Bổ sung khoáng chất đúng cách còn hỗ trợ quá trình lột xác diễn ra thuận lợi, giảm tỷ lệ tôm chết do thiếu hụt dinh dưỡng, từ đó tối ưu hóa năng suất nuôi tôm đạt hiệu quả cao.
Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng tôm nuôi
Gava Caphos là sản phẩm giúp kích thích tôm lột vỏ hiệu quả, đồng thời chống hiện tượng mềm vỏ ở tôm Để sử dụng, pha trộn theo tỉ lệ 3ml Gava Caphos/kg thức ăn, sau đó pha loãng vào nước với tỉ lệ 1 lít nước cho mỗi 10kg thức ăn hoặc tôm Sử dụng đúng liều lượng sẽ giúp tôm phát triển khỏe mạnh và đạt năng suất cao.
3.3 Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống 3.3.1 Tăng trưởng về chỉ số chiều dài
Bảng 3.7 Tăng trưởng chiều dài tôm
Bảng 3.8 So sánh chiều dài trung bình CT1 và CT2
(Các giá trị cùng hàng giống nhau chỉ sự sai khác không có ý nghĩa thông kê
Hình 3.5 Tăng trưởng về chiều dài
Tốc độ tăng trưởng chiều dài ALG (cm/ngày) trong các ao nuôi giảm dần về cuối vụ Trong tháng đầu, tốc độ tăng trưởng của CT1 cao hơn CT2, đạt 0,16cm/ngày so với 0,14cm/ngày vào ngày nuôi thứ 35 Vào cuối vụ, tốc độ tăng trưởng ALG chỉ còn 0,06cm/ngày ở CT1 và 0,07cm/ngày ở CT2, cho thấy sự giảm sút đáng kể theo thời gian.
Kết quả phân tích LSD (0,05) từ ngày 35 đến ngày 55 cho thấy chiều dài tôm ở hai công thức thử nghiệm có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, vào ngày 65, chiều dài trung bình của tôm ở công thức 1 đạt 11,75cm/con, trong khi công thức 2 là 11,53cm/con Sự khác biệt này xuất phát từ việc từ ngày thứ 35, tôm ở công thức 1 bắt đầu sử dụng thức ăn nhiều hơn do kích thước lớn hơn, giúp khả năng tiêu thụ hiệu quả hơn; ngoài ra, thức ăn giun quế có mùi hấp dẫn giúp tôm bắt mồi nhanh hơn, đồng thời môi trường ao nuôi trong giai đoạn này thuận lợi, ít biến động, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tôm.
Kết quả tăng trưởng phù hợp với đặc điểm sinh trưởng tôm Thẻ trong 2 tháng đầu [10] Ở tháng thứ ba tôm hầu như tăng trưởng chậm
3.3.2 Tăng trưởng về khối lượng
Bảng 3.9 Tăng trưởng về khối lượng
Bảng 3.10 So sánh khối lƣợng trung bình 2 công thức nuôi
(Các giá trị cùng hàng giống nhau chỉ sự sai khác không có ý nghĩa thông kê P