Néi dung
Cơ sở lý luận
Tài liệu văn học được coi là những tác phẩm văn học phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học "Tác phẩm văn học" theo Bảng từ điển thuật ngữ văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do cá nhân hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiện hình ảnh tổng quát về cuộc sống con người, biểu đạt tâm tư, tình cảm và thái độ của chủ thể trước thực tại Những tác phẩm này thể hiện sự thống nhất của các yếu tố như đề tài, chủ đề, nhân vật, kết cấu, cốt truyện và lời văn, và sự thống nhất đó được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định nhằm tạo nên một tổng thể nghệ thuật hoàn chỉnh.
1.1.1.2 Phân loại tài liệu văn học
- ở Ph-ơng Tây ng-ời ta chia tác phẩm văn học làm ba loại sau:
Tác phẩm tự sự lại phản ánh đời sống thông qua việc miêu tả các sự kiện, thể hiện sâu sắc tư tưởng và tình cảm của nhà thơ Trong đó, nhà thơ đóng vai trò người kể lại các sự kiện tự vận động và tự kết thúc, tạo nên những tác phẩm như thơ tự sự, tiểu thuyết và truyện ngụ ngôn.
Loại trữ tình là thể loại tác phẩm thể hiện trực tiếp cảm xúc và tình cảm của tác giả, phản ánh chân thực cuộc sống Trong loại này, tác giả bộc lộ rõ ràng những cảm xúc yêu ghét, thể hiện quan điểm cá nhân về hiện thực đời sống xung quanh Đây là dạng văn học giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm trạng, suy nghĩ của tác giả qua các tác phẩm chân thực, chân thành và trực diện.
Kịch loại này gồm các tác phẩm trong đó nhân vật tự thể hiện qua hành động của mình, tạo nên câu chuyện có cốt truyện hoàn chỉnh kết hợp yếu tố trữ tình Các dạng kịch này bao gồm hài kịch, bi kịch và chính kịch, phản ánh sâu sắc các trạng thái cảm xúc và số phận của nhân vật, mang lại trải nghiệm nghệ thuật đa dạng và gây ấn tượng mạnh mẽ với khán giả.
- ở Trung Quốc ng-ời ta thừa nhận văn học có 4 loại:
+ Thơ ca: gồm thơ trữ tình và thơ tự sự
Tiểu thuyết nổi bật với đặc điểm chính là tập trung vào việc miêu tả con người và khắc họa tính cách nhân vật một cách sâu sắc Cấu trúc cốt truyện đa dạng và phong phú, kết hợp với cách trần thuật chân thực cùng lời văn sinh động, tạo nên nét đặc trưng riêng biệt so với thơ và văn xuôi Nhờ những đặc điểm này, tiểu thuyết giữ vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người hiện đại, dẫn đến sự phân biệt rõ ràng giữa thể loại này và các dạng văn học khác.
Văn xuôi là thể loại rất phong phú, gồm các dạng như văn xuôi trữ tình, truyện có cốt truyện như du ký, tạp ký, phóng sự, truyện ký kết hợp giữ trần thuật và bình luận như tạp văn, tiểu phẩm.
+ Kịch: hoàn toàn trùng với loại kịch theo quan niệm của Châu âu
- ở Việt Nam, trong các giáo trình lý luận văn học th-ờng chia thành các loại sau:
Thơ trữ tình là thể loại thể hiện rõ nét cảm xúc và ý nghĩa về thế giới qua lời diễn đạt trực tiếp, trong đó tình cảm đóng vai trò trung tâm, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc những cảm xúc chân thành của tác giả.
Tiểu thuyết là thể loại tự sự dân chủ, năng động và phản ánh đa dạng đời sống xã hội Nó chứa đựng lịch sử nhiều cuộc đời, mô tả phong tục, đạo đức xã hội và các điều kiện sinh hoạt của các giai cấp khác nhau Tiểu thuyết tái hiện các tính cách đa dạng và phản ánh chân thực các mặt của cuộc sống, thể hiện khả năng phản ánh xã hội toàn diện nhất trong các thể loại văn học.
Ký là một biến thể của loại tư sự, bao gồm các thể văn xuôi như phóng sự, bút ký, tùy bút, thư từ, truyện ký… đã xuất hiện khá sớm trong nền văn học Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện cảm xúc, suy nghĩ và các hoạt động đời thường của người viết.
Kịch được phân loại dựa trên nhiều tiêu chuẩn khác nhau, trong đó cách phổ biến nhất là theo tính chất của các loại hình xung đột, giúp chia thành các thể loại chính như bi kịch, hài kịch và chính kịch Bên cạnh đó, còn có một số thể loại khác như kịch thiếu nhi, kịch truyền thống và kịch hiện đại, phù hợp với nhiều đối tượng và mục đích biểu diễn khác nhau Việc hiểu rõ các loại hình kịch giúp người xem dễ dàng lựa chọn và cảm nhận sâu sắc hơn về nội dung nghệ thuật biểu diễn này.
Truyện vừa là thể loại văn xuôi tự sự cỡ trung bình với câu văn giản dị, gọn gàng, trong sáng Đối tượng tái hiện trong truyện vừa thường gồm các sự kiện, cuộc đời đặc sắc hoặc khác thường, phản ánh các hiện tượng đời sống nổi bật.
Truyện ngắn là hình thức tự sự ngắn gọn, thường kể về một sự kiện nhỏ hoặc một đoạn đời của nhân vật, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc về cuộc sống.Điểm nổi bật của truyện ngắn không nằm ở hệ thống sự kiện đa dạng, mà ở cách kể chuyện sâu sắc và phản ánh cái nhìn tự sự đối với cuộc đời nhân vật Nó có thể thuộc về một chốc lát trong cuộc sống hoặc kể cả một cuộc đời đầy ắp những trải nghiệm đáng nhớ, mang lại giá trị nhân văn và nghệ thuật cao.
Anh hùng ca (sử thi) là thể loại tự sự miêu tả các sự kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc, qua đó phản ánh ý thức cộng đồng của nhân dân về quá khứ vẻ vang của mình Đặc trưng chủ yếu của anh hùng ca là biểu hiện tinh thần tự hào, đoàn kết và ý chí vượt qua thử thách của cộng đồng, nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc.
Truyện thơ, trường ca, thơ trường thiên là các thể loại tự sự bằng thơ tập trung khám phá những câu chuyện về con người và cảm xúc của họ Các hình thức này thường xây dựng nhân vật là những người bình thường, có cuộc sống đời thường, phản ánh lợi ích và tâm trạng thuần tuý của con người Điểm chung của các thể loại này là sự quan tâm đặc biệt đến tâm lý và cảm xúc của nhân vật, giúp khán giả dễ dàng đồng cảm và hiểu rõ nội dung câu chuyện.
Ngụ ngôn là một dạng truyện ngắn dưới dạng thơ hoặc văn xuôi, mang ý nghĩa giáo dục đạo đức Các bài học đạo đức trong ngụ ngôn thường được thể hiện qua việc chế giễu các tính cách và đặc điểm tiêu cực của con người Các thói xấu và nhược điểm của con người thường được khắc họa thông qua hình tượng các loài vật như chim, cá, gia súc hoặc thú vật, nhằm dễ dàng truyền tải bài học đạo đức một cách sinh động và dễ hiểu.
1.1.2 ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-êng PT
Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, việc dạy-học môn Lịch sử ở các trường THPT đã có nhiều chuyển biến tích cực rõ rệt Một bộ phận giáo viên có trình độ và tâm huyết đã chủ động tìm tòi, thể nghiệm các phương pháp giảng dạy mới nhằm nâng cao chất lượng học tập Nhiều giáo viên đã đạt được những thành quả bước đầu đáng ghi nhận, góp phần thúc đẩy phong trào đổi mới phương pháp giảng dạy môn Lịch sử trong nhà trường.
Nhờ vào chất lượng giảng dạy của giáo viên và nỗ lực của học sinh, việc học tập môn Lịch sử đã có nhiều tiến bộ rõ rệt Học sinh ngày càng chăm học hơn và số lượng yêu thích môn Lịch sử tăng lên đáng kể Chất lượng học tập của các em ở trường chuyên, lớp chọn đã vượt xa so với học sinh ở dạng hình trường lớp đại trà Mặc dù tiến bộ của học sinh phổ thông chậm hơn so với học sinh giỏi, nhưng cũng đã xuất hiện nhiều dấu hiệu tích cực Những chuyển biến tích cực này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập môn Lịch sử.
Sự tiến bộ toàn diện của đất nước và sự quan tâm của toàn xã hội đối với ngành giáo dục đã góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tại các trường THPT Nhờ đó, nhiều trường đã được bổ sung cơ sở vật chất và thiết bị hiện đại, tạo tiền đề về mặt tâm lý xã hội quan trọng để nâng cao hiệu quả giảng dạy, đặc biệt trong các môn khoa học xã hội như lịch sử.
- Thứ hai: bắt nguồn từ sự đổi mới về ch-ơng trình và SGK để phục vụ cải cách giáo dục
Thứ ba ghi nhận tình yêu nghề và sự nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn của đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các trường THPT trên khắp cả nước Những người thầy, cô giáo này đã không ngại gian khổ, thiếu thốn về điều kiện để mang kiến thức đến với học sinh, đặc biệt là ở những vùng xa xôi, hẻo lánh Sự cống hiến của họ thể hiện rõ nét tinh thần trách nhiệm và niềm đam mê với nghề giáo, góp phần xây dựng nền giáo dục vững mạnh cho đất nước.
- Thứ t-: Khâu chỉ đạo chuyên môn của các cấp, đặc biệt ở các phòng
Các phòng PT thuộc các Sở Giáo dục - Đào tạo đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Hàng năm, các phòng PT đều xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn đầu năm học rõ ràng, cụ thể về nhiệm vụ giảng dạy cho các trường học và tổ bộ môn Những hướng dẫn này giúp các cơ sở giáo dục tổ chức công tác giảng dạy hiệu quả hơn, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục.
Nhờ sự chuyển biến tích cực của đất nước và ngành giáo dục, cùng với nỗ lực từ nhiều phía, việc dạy và học môn lịch sử ở trường trung học phổ thông đã đạt được những bước tiến đáng ghi nhận.
Khảo sát tại một số địa phương cho thấy vẫn còn khoảng 20% các tiết dạy chưa đạt yêu cầu, trong đó nhiều tiết giáo viên còn mắc lỗi về kiến thức cơ bản và chưa chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy Nhiều học sinh vẫn chán học môn lịch sử do cách truyền đạt thiếu hấp dẫn, thường phải ghi nhớ những sự kiện sáo rỗng và nghe những bài giảng khô khan về đạo đức Các bài học lịch sử đôi khi được trình bày chung chung, đơn điệu, theo lối “đồng phục hóa bài giảng”, khiến học sinh đã biết rõ nội dung từ các tiết học trước Đặc biệt, vẫn còn nhiều giờ lịch sử được tổ chức theo phương pháp thầy đọc trò ghi, thiếu hoạt động tương tác, làm giảm hiệu quả giáo dục và dẫn đến sự nhàm chán trong quá trình học tập.
Bát canh nhạt nhẽo, theo cách diễn đạt của Tvadovski, làm tê liệt sự hào hứng của học sinh trong quá trình học tập Trong khi đó, vẫn còn một số thầy cô giáo thích thú với các giáo án mẫu và bài soạn mẫu, dù họ biết rõ rằng những phương pháp này trái ngược với bản chất sư phạm cần thiết trong việc giảng dạy lịch sử Việc duy trì sự sáng tạo và đam mê trong giảng dạy là yếu tố quyết định để kích thích sự quan tâm và hiểu biết của học sinh về lịch sử.
Khâu kiểm tra đánh giá vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều đề bài yêu cầu quá cao hoặc thiếu chính xác về mặt khoa học, dẫn đến sự mơ hồ trong diễn đạt Nhiều giáo viên không chuẩn bị sẵn đáp án và biểu điểm ngay từ khi ra đề, khiến quá trình chấm thi thiếu chính xác và minh bạch Phần lớn giáo viên chỉ sử dụng một số mức điểm từ 3 đến 7, ít khi cho điểm 9, 10, gây hạn chế trong việc phản ánh đúng năng lực học sinh Lời phê thường chung chung, thiếu phần nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của bài làm, cũng như gợi ý phương hướng giúp học sinh cải thiện Thậm chí, nhiều giáo viên chỉ chấm điểm mà không để lại nhận xét hoặc bút tích nào trong bài thi của học sinh, ảnh hưởng đến quá trình học tập và phát triển của các em.
Mặc dù việc đổi mới phương pháp giảng dạy đã được phát động từ lâu, phần lớn giáo viên vẫn còn duy trì phương pháp cũ Các giờ học lịch sử hầu như chỉ dạy theo hình thức truyền đạt thụ động, thiếu các đồ dùng trực quan, tranh ảnh hoặc tài liệu tham khảo, khiến cho quá trình học trở nên nhàm chán và giảm khả năng kích thích tính tích cực, chủ động của học sinh Điều này làm giảm sức hấp dẫn của bộ môn và ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả học tập.
Một bộ phận học sinh có đam mê học lịch sử thể hiện qua kết quả học tập môn lịch sử tốt và tinh thần tìm hiểu lịch sử qua các cuộc thi do Đài truyền hình tổ chức Tuy nhiên, tỷ lệ này còn ít, phần lớn học sinh vẫn còn thờ ơ với môn lịch sử và có ít nhu cầu khám phá, học hỏi kiến thức lịch sử.
Quan niệm về “môn chính, môn phụ” và tỷ lệ giờ dạy tại trường phổ thông không còn phù hợp với thực tế hiện nay Học sinh thường bị áp lực tâm lý “ứng thi,” chỉ quan tâm đến các môn thi tốt nghiệp do Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định như Văn, Toán, Ngoại ngữ, khiến các môn học ít phổ biến như Lịch sử bị bỏ qua Trong năm học mà không tổ chức thi tốt nghiệp môn Lịch sử, kế hoạch dạy và học thường kết thúc vào đầu tháng 4, gây chú ý hơn đối với các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, Sinh nhằm chuẩn bị thi vào các trường đại học thuộc khối kinh tế và kỹ thuật Sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường này dễ tìm việc làm, chủ yếu tại các đô thị lớn với mức thu nhập cao, phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường lao động hiện nay.
Vấn đề chính không phải là đánh giá bài làm lịch sử tốt hay kém, mà là phản ánh rõ ràng về chất lượng dạy và học môn lịch sử còn nhiều bất cập Thực tế này đòi hỏi ngành giáo dục cần có các biện pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng đào tạo, trong đó quan trọng nhất là khắc phục các hạn chế đã nêu nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập môn lịch sử.
1.2.2 Thực trạng việc vận dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng PT hiện nay
Tất cả các giáo viên được điều tra đều nhận thức rõ về sự cần thiết phải sử dụng đồng thời sách giáo khoa và tài liệu văn học trong quá trình dạy học lịch sử, nhằm nâng cao hiệu quả bài giảng, giúp học sinh ghi nhớ nhanh, nhớ lâu và dễ hiểu bài Nhiều giáo viên đánh giá cao tác dụng tích cực của việc tích hợp tài liệu văn học, vì nó góp phần tạo hứng thú học tập và làm bài giảng phong phú hơn Tuy nhiên, mức độ sử dụng đồng thời cả sách giáo khoa và tài liệu văn học của giáo viên chưa cao, như kết quả điều tra cho thấy các số liệu cụ thể về tỷ lệ giáo viên áp dụng phương pháp này.
Chỉ có 5% giáo viên sử dụng phương pháp "thường xuyên," trong khi 14% giáo viên "thỉnh thoảng" mới áp dụng, chủ yếu là những giáo viên dày dạn kinh nghiệm và là giáo viên giỏi của các tỉnh, thành phố Phần còn lại của giáo viên ít hoặc không sử dụng phương pháp này, cho thấy sự phân bố rõ rệt về mức độ ứng dụng trong đội ngũ giảng viên.
“không sử dụng” vì nhiều lý do như: Không có tài liệu “tham khảo” chủ yếu,
Vị trí, ý nghĩa và nội dung cơ bản của khóa trình
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, giai đoạn 1954 - 1975 đặc biệt quan trọng vì đây là thời kỳ chia cắt đất nước thành hai miền với hai chế độ khác nhau, miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, trong khi miền Nam bị đế quốc Mỹ và các lực lượng tay sai thống trị Nhân dân Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ, vừa chăm lo sửa chữa hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, vừa thúc đẩy miền Bắc tiến dần lên CNXH và đồng thời tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ trong miền Nam nhằm hướng tới thống nhất đất nước và hòa bình.
Lịch sử dân tộc trong giai đoạn này ghi dấu nhiều chiến công vang dội, đặc biệt là chiến thắng mùa Xuân năm 1975 Sau thành công này, đất nước bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và cuộc sống xã hội chủ nghĩa Đây là thời kỳ then chốt, kết thúc chặng đường dài của dân tộc phải chiến đấu chống lại chiến tranh, mở ra thời kỳ hòa bình, xây dựng cuộc sống tự do, hạnh phúc.
Trong giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn này, cần giúp học sinh hiểu rõ quá trình cách mạng và những thành tựu của nhân dân trong 20 năm xây dựng và chiến đấu Việc cung cấp các sự kiện cụ thể giúp các em nhận thức rõ tình hình đất nước sau Hiệp định Geneva, từ đó so sánh lực lượng và tình hình chính trị thế giới lúc bấy giờ, dẫn đến việc hai miền Bắc và Nam thực hiện các nhiệm vụ chiến lược khác nhau Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, đảm nhận nghĩa vụ hậu phương đối với toàn bộ cách mạng đất nước trong hòa bình cũng như chiến tranh phá hoại của Mỹ Trong khi đó, nhân dân miền Nam phải đối mặt với kẻ thù hèn nhát và xảo quyệt nhất là đế quốc Mỹ Nhờ những nỗ lực và chiến đấu của cả hai miền, đất nước đã giành được những thắng lợi lớn, góp phần đánh bại đế quốc Mỹ và tiến tới thống nhất đất nước vào năm 1975.
Khi giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1954 trở đi, cần nâng cao nhận thức sâu sắc và khái quát cho học sinh dựa trên kiến thức cấp II, đặc biệt là về lý luận Giáo viên nên giúp học sinh nhận thức rõ tác động của quan hệ quốc tế đối với dân tộc ta, trong bối cảnh thời kỳ đối đầu giữa hai phe XHCN và đế quốc chủ nghĩa, do Liên Xô và Mỹ dẫn đầu, ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính trị toàn cầu Những thành tựu của dân tộc ta trong giai đoạn này thể hiện sự linh hoạt của Đảng trong việc xử lý các mối quan hệ quốc tế, góp phần tạo nên bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đất nước.
Năm 1975 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giúp học sinh nhận thức rõ các bài học và quy luật phát triển của lịch sử Đồng thời, cần xây dựng hệ thống khái niệm mới như chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và mới, chiến tranh cục bộ, chiến tranh đặc biệt, Việt Nam hóa chiến tranh và đồng khởi để nâng cao hiểu biết và nhận thức chính trị của học sinh.
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975 là một chặng đường đầy khó khăn, gian khổ nhưng cũng vô cùng vẻ vang của dân tộc Trong quá trình dạy học, giáo viên cần giúp học sinh tự hào về truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam Trong cuộc chiến chống ngoại xâm, dân tộc ta đã không ngừng đối mặt với những thử thách lớn, đặc biệt là quân đội Mỹ - một đế quốc giàu có và mạnh mẽ nhất thế giới.
Học sinh cần nhận thức rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc đề ra các đường lối chính trị, quân sự, ngoại giao đúng đắn, độc lập, linh hoạt và sáng tạo, là yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng đất nước Đồng thời, việc giáo dục các em lòng biết ơn và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong thời đại ngày nay giúp các em hiểu rõ tầm quan trọng của vai trò này Bên cạnh đó, trẻ cần kính yêu những anh hùng đã chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc, từ đó trân trọng cuộc sống ấm no hôm nay và sống xứng đáng với những hy sinh của thế hệ đi trước Cuối cùng, giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc là nhiệm vụ quan trọng để bồi đắp lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.
Trong quá trình dạy học lịch sử, cần giáo dục học sinh niềm tin vào chính nghĩa và thái độ đúng đắn đối với bọn đế quốc xâm lược, đồng thời thúc đẩy nhận thức về sức mạnh của tình đoàn kết dân tộc và liên minh các nước Đông Dương trong cuộc chiến chống kẻ thù chung Học sinh cũng nên nhận thức rõ về những thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ đó tăng cường niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, trung thành với con đường và lý tưởng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975 nhằm nâng cao năng lực nhận thức, tư duy lý luận và khả năng nhận xét, đánh giá các sự kiện lịch sử Học sinh cần biết so sánh, rút ra điểm giống và khác nhau giữa các chiến lược chiến tranh như chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh do Mỹ áp dụng ở Việt Nam Đồng thời, việc làm việc với đồ dùng trực quan như phân tích bản đồ, trình bày diễn biến các chiến dịch lớn trên bản đồ và xử lý các tài liệu gốc hoặc nguồn tài liệu khác là rất quan trọng Điều này đặt ra yêu cầu học sinh phải có năng lực khái quát, hệ thống hóa kiến thức và liên kết các sự kiện để nhận diện mối liên hệ nội tại của các hiện tượng lịch sử.
Để nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử Việt Nam, giáo viên cần kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau nhằm kích thích tính tích cực và chủ động của học sinh Việc áp dụng các phương pháp phong phú sẽ giúp học sinh hứng thú hơn với môn học, cũng như phát triển tư duy và khả năng ghi nhớ kiến thức hiệu quả hơn Điều này đảm bảo quá trình học tập không chỉ mang tính truyền đạt kiến thức mà còn phát huy khả năng tự học, sáng tạo của học sinh.
2.1.3 Nội dung cơ bản của khóa trình
Cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu n-ớc của dân tộc ta có thể chia thành 5 giai đoạn nhỏ nh- sau:
Trong giai đoạn 1954-1960, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã thiết lập chế độ độc tài gia đình trị tại miền Nam Việt Nam, thay thế chính quyền Bảo Đại thân Pháp, thực hiện chính sách chống cộng mạnh mẽ và chuẩn bị các kế hoạch “Bắc tiến” nhằm biến miền Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới của Mỹ Đây là thời kỳ Mỹ - Diệm thực hiện chiến tranh đơn phương, mở chiến dịch tố cộng nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, trong khi nhân dân ta chủ yếu đấu tranh chính trị để bảo vệ lực lượng yêu nước, đòi dân sinh, dân chủ và thực thi các điều khoản Hiệp nghị Giơnevơ Các thành tựu đáng kể của cách mạng miền Bắc trong lĩnh vực cải cách ruộng đất, phục hồi kinh tế, bước đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa và phát triển văn hóa đã góp phần củng cố sức mạnh chính trị Trong khi đó, cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam gặp nhiều khó khăn, tổn thất do chính quyền Diệm khủng bố, tiêu diệt phong trào cách mạng, nhưng phong trào “Đồng khởi” đã tạo chuyển biến mới, góp phần đưa cách mạng miền Nam bước sang giai đoạn mới.
- Giai đoạn 1961 - 1965: Đây là giai đoạn Miền Bắc b-ớc vào kế hoạch
Trong 5 năm đầu thực hiện kế hoạch, những thành tựu quan trọng đã góp phần chuyển biến sâu sắc mọi mặt của kinh tế – xã hội miền Bắc, tạo nền tảng vững chắc để miền Bắc hoàn thành nghĩa vụ hậu phương lớn Trong khi đó, ở miền Nam, đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện các chiến dịch gây áp lực và chống phá, ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của khu vực Những thành tựu đạt được trong kế hoạch này không những thúc đẩy phát triển kinh tế miền Bắc mà còn góp phần vào công cuộc cách mạng giải phóng miền Nam, đảm bảo tinh thần chiến đấu kiên cường của nhân dân.
Việt” Chiến lược chiến tranh này được thực hiện qua 2 kế hoạch lớn là: kế hoạch Xtalây - Taylo và kế hoạch Giônxơn - Mác Namara
Kế hoạch Xtalây-Taylo năm 1961 nhằm quét sạch lực lượng cách mạng miền Nam trong vòng 18 tháng, nhưng đã thất bại trước khí thế cách mạng của nhân dân miền Nam Mỹ - Diệm tăng cường quân đội, đưa số quân lên đến 40 vạn nhằm tiêu diệt Việt cộng trong trứng nước, sử dụng chiến thuật "phượng hoàng bay" để bất ngờ bắt du kích và cán bộ bằng trực thăng Chính quyền Sài Gòn còn thiết lập hệ thống "ấp chiến lược" nhằm cô lập nhân dân với lực lượng vũ trang, nhằm " tách cá khỏi nước" Tuy nhiên, chiến thắng ấp Bắc ngày 21/1/1963 đã chứng minh sức mạnh của nhân dân miền Nam vượt xa vũ khí hiện đại và máy bay của kẻ thù.
Mỹ không quyết định đ-ợc thắng lợi
Kế hoạch Giônxơn - Mác Namara ra đời nhằm tăng cường sự chỉ huy trực tiếp của Mỹ và bình định miền Nam trong vòng hai năm 1964-1965 Tuy nhiên, chiến thắng tại Bình Giã (Bà Rịa) vào cuối năm 1964 và đầu năm 1965 đã làm thất bại kế hoạch này cùng với chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ Thành công của quân và dân ta đã góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh tại miền Nam Việt Nam.
Trong giai đoạn 1965-1968, cả nước bước vào cuộc chiến tranh ác liệt, miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ đồng thời xây dựng chủ nghĩa xã hội để hoàn thành nghĩa vụ hậu phương Miền Nam kháng chiến chống chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Tổng thống Johnson Trong Đông Xuân 1965-1966, quân xâm lược mở cuộc “phản công chiến lược mùa khô” nhằm “bẻ gãy xương sống của Việt cộng,” nhưng chiến lược đó đã thất bại, chính là cái bị bẻ gãy không phải là quân giải phóng, mà là chiến lược “5 mũi tên” của Mỹ.
Một số nội dung văn học đ-ợc sử dụng trong dạy học khóa trình
Để thuận tiện cho quá trình dạy học, chúng tôi đã chọn trích dẫn một số đoạn tiêu biểu trong các tác phẩm văn học nhằm minh họa các nội dung lịch sử quan trọng của giai đoạn 1954-1975 Những bài học này giúp giáo viên và học sinh dễ dàng tham khảo và áp dụng trong giảng dạy cũng như học tập tại trường phổ thông Việc sử dụng các tác phẩm văn học phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hiểu biết về lịch sử Việt Nam trong giai đoạn này.
Bài 24: Miền Bắc thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm, gìn giữ hoà bình (1954 -1960)
I Tình hình và nhiệm vụ cách mạng n-ớc ta sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông D-ơng
Sau chiến thắng quân sự tại Điện Biên Phủ, Việt Nam đã giành thắng lợi chính trị tại Geneva, đưa miền Bắc được giải phóng Trong khi đó, ở miền Nam, đế quốc Mỹ âm thầm tiêu diệt phong trào cách mạng, biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới, làm căn cứ tấn công miền Bắc và hệ thống Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng ở mỗi miền có nhiệm vụ chiến lược riêng nhưng cần phối hợp chặt chẽ nhằm mục tiêu chung là thống nhất đất nước và bảo vệ thành quả cách mạng.
“Việt Nam chôn rau cắt rốn giữa rừng
Việt Nam những ngày nguyên tử vẫn xông lên hàng đầu với gậy tầm vông
Việt Nam ngày nay đã ra đứng tr-ớc thế giới, tr-ớc mọi ng-ời Mình ch-a đeo hết vàng chiến thắng
Những người đã thể hiện vinh quang bằng bộ áo đỏ rực rỡ, tay không chấp nhận bỏ cuộc khi cầm trên tay chiếc sọ trắng tượng trưng cho kẻ thù Dù đối mặt với thử thách khắc nghiệt, họ vẫn dẫm lên nỗi thất bại, thể hiện ý chí kiên cường và tinh thần chiến đấu không lùi bước.
(Chào mừng - gửi các anh)
Trong giai đoạn này n-ớc ta đã trải qua một cơn biến động xã hội lớn trong lịch sử Đất n-ớc ta tạm thời bị chia cắt làm 2 miền với 2 nhiệm vụ chính trị khác nhau Tr-ớc thực tế lịch sử đó nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:
“Chúng muốn xé bản đồ ta làm hai nửa Tổ quốc
Xé thân thể ta thành máu thịt đôi miền”
(Chế Lan Viên - Đừng quên) Hay Tố Hữu cũng viết rằng:
“Ai vô đó, nói với đồng bào, đồng chí
Nói với nửa - Việt Nam yêu quý
N-ớc ta là của chúng ta N-ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà Chúng ta, con một cha, nhà một nóc Thịt với xương, tim, óc dính liền”
(Ta ®i tíi - Tè H÷u) Thịt, x-ơng, tim, óc vốn là những bộ phận tạo thành cơ thể con ng-ời đã đ-ợc các nhà thơ miêu tả nh- những bộ phận của cơ thể Tổ quốc Điều đó chứng tỏ ý niệm về Tổ quốc của các nhà thơ trở nên hết sức thiêng liêng, đối với họ Tổ quốc là một cơ thể sống, không thể chia cắt đ-ợc, giống nh-:
“Một thân không thể chia đôi
Nhà thơ Tế Hanh cũng viết:
“Một dòng sông Hiền L-ơng
Không thể nào chia sẻ Một dòng n-ớc sông H-ơng Vẫn của con của mẹ
Mẹ yêu mẹ đợi chờ Con yêu con phấn đấu Hai tấm lòng -ớc mơ
Một ngày mai đoàn tụ ” [7,126 -127]
Hay với tập thơ “Mũi Cà Mau” Xuân Diệu đã làm cho hình ảnh đất n-ớc hiện lên thật cụ thể, sâu sắc:
“Đất n-ớc trong tôi là một khối
Dòng sông Bến Hải chảy qua tim thể hiện hình ảnh thiêng liêng, gợi nhớ về cuộc chia cắt đất nước Xuân Diệu đã chỉ rõ đế quốc Mỹ và bọn tay sai là kẻ thù của dân tộc, đang cố gắng chia cắt đất nước và gây hại cho nhân dân Ông thể hiện tình cảm sâu sắc dành cho miền Nam, đồng thời bộc lộ lòng căm thù đối với kẻ thù, cùng nỗi xúc động trước cảnh đồng bào miền Nam đang gặp phải nỗi đau, trong tình cảnh chiến tranh ác liệt.
“Sao tôi chỉ có hai bàn tay Sao tôi chỉ có trái tim này Tôi muốn khóc thành rừng, thành lửa Thành cơn thịnh nộ đất đá bay”
Xuân Diệu đã nhìn thấy rõ thực tế của miền Nam là lòng thủy chung và niềm tin kiên định của nhân dân đối với cuộc đấu tranh thống nhất đất nước Một người phụ nữ mặc áo sờn vai, ngày ngày nuôi con theo Đảng, luôn tâm niệm về tinh thần kiên cường và ý chí bất khuất của nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.
“Một nửa quê h-ơng em quyết bảo toàn
Trao lại tay anh ngày về thống nhất” [22,111]
Mặt khác, Tổ quốc còn đ-ợc quan niệm nh- một con ng-ời đang v-ơn mình đứng dậy:
“Nước Việt Nam từ trong máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà”
(§Êt n-íc - NguyÔn §×nh Thi)
II Miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất (1954 -1960)
1 Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết th-ơng chiến tranh (1954 - 1957)
Bài thơ “Mười năm” phản ánh nhịp sống hối hả, sôi động của miền Bắc trong quá trình lao động, sản xuất và xây dựng chủ nghĩa xã hội Qua tác phẩm, chúng ta nhìn thấy hình ảnh miền Bắc thay da đổi thịt sau chiến thắng Điện Biên Phủ, thể hiện khí thế tự hào và sức mạnh của cả dân tộc đang bừng bừng vươn lên Những dòng thơ gợi mở về sự phát triển không ngừng của miền Bắc trong giai đoạn lịch sử quan trọng này, thể hiện tinh thần lạc quan, hăng say của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước.
“Tôi đứng giữa bốn bề ánh điện
Nhìn mênh mông nh- đứng giữa ban ngày Hải Phòng, Hòn Gai, Uông Bí
Một vùng công nghiệp của ta”
(M-ời năm - Lê Anh Xuân)
2 Cải tạo quan hệ sản xuất, b-ớc đầu phát triển kinh tế - xã hội
Trong 3 năm tiếp theo (1958 -1960), Miền Bắc lấy cải tạo XHCN làm trọng tâm Giáo viên có thể đọc các câu thơ sau của Tế Hanh để thấy rõ hơn quá trình cải tạo quan hệ sản xuất, b-ớc đầu phát triển kinh tế - xã hội:
“Trên đường xã hội chủ nghĩa chúng tôi đi tới Cần có thêm xe, có thêm lúa, có thêm nhà
Có thêm ngừơi, có thêm sách, có thêm hoa Thêm tình yêu và có thêm hạnh phúc” [7,179]
Nói về chủ tr-ơng hợp tác hoá nông nghiệp, tác giả viết:
“Nhà bác Liên hôm nay vắng vẻ
Bố cháu đâu? - Bố đi hợp tác Hai, ba hôm mới trở về nhà
Mẹ cháu đâu? - Mẹ đi vá l-ới ở nhà bà tổ tr-ởng trong thôn
Dù nhà vắng vẻ hơn trước, nhưng vẫn mang nét yên bình và lặng lẽ Hai bằng khen đặt cạnh bức tranh mang ý nghĩa tự hào và thành tựu của người chủ nhà Bên cạnh đó, luống rau muống tươi tốt mọc kế vại nước, thể hiện sự phong phú của thiên nhiên quanh quẩn bên mái ấm Dưới ánh nắng chói chang, lá cây vẫn tươi xanh, biểu hiện sức sống mãnh liệt bất chấp thời tiết khắc nghiệt.
Cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp được thực hiện dựa trên nguyên tắc tự nguyện, lợi ích song phương và quản lý dân chủ, góp phần nâng cao đời sống nông thôn miền Bắc Nhờ đó, diện mạo nông nghiệp miền Bắc đã có nhiều đổi mới rõ rệt Trong "Bài thơ tháng Bảy", Tế Hanh đã miêu tả sinh động về cuộc sống mới và niềm vui của người dân miền Bắc trong thời kỳ đổi mới, phản ánh sự phát triển tích cực của vùng đất này.
Nửa đất nước thân yêu đang chuyển động về phía tương lai qua những nhịp hát của công trường và ngày lao động tràn đầy năng lượng Những trái chín ngon lành tượng trưng cho cuộc sống phồn thịnh, trái cây đong đầy niềm vui và hy vọng Cây đời tươi tốt, bám chặt những cành yêu thương, thể hiện tình đoàn kết và sự phát triển bền vững của đất nước Vành đai trắng của những cánh đồng lúa xanh mướt phản ánh sự phồn vinh, góp phần làm nên vẻ đẹp tươi sáng của quê hương.
Tổ đổi công vui tiếng học i tờ V-ơn nhịp mới cầu nối bờ th-ơng nhớ Than mấy tầng đen nhánh ánh thi đua ” [7,187]
III Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm, gìn giữ và phát triển lực lượng cách mạng tiến tới “Đồng khởi” (1954 -1960)
1 Đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm, gìn giữ và phát triển lực l-ợng cách mạng (1954 -1959)
Từ những ngày sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Thanh Hải đã ghi lại một cuộc bãi thị:
“Chợ ta ngày ấy vắng tanh
Đồng bào miền Nam đã sử dụng hình thức đấu tranh chính trị dựa trên cơ sở pháp lý của Hiệp định Giơnevơ, trong đó có câu "Em không đi bán theo anh dặn dò" để thể hiện quyết tâm giữ vững lập trường cách mạng.
Vào cuối năm 1959 và đầu năm 1960, ca dao và thơ quần chúng thể hiện rõ khí thế cách mạng sôi nổi, phản ánh những cuộc đấu tranh mãnh liệt của nhân dân trong giai đoạn này.
“Nửa khuya gà gáy rộn vang Giật mình sửa soạn hành trang lên đ-ờng Một tay chị giữ lá đơn
Một tay vỗ nhẹ vai chồng gửi con.” [22,41]
Ng-ời phụ nữ gửi con cho chồng để vào thị xã đấu tranh, còn anh thanh niên ốm liệt lại nằm mơ tấn công:
“Cơm trắng không màng, cháo cũng không Thịt heo bảo đắng, cá tanh nồng
Nằm nghe đơn vị bàn chiến đấu Vùng dậy xin vào A “thọc hông.” [22,41]
Tế Hanh thì lại viết:
“Khi quê hương đứng lên như sóng bể Cuộc mít tinh sôi sục vạn con ng-ời Con tin là mẹ trong đó, mẹ ơi!
Nh- cây chuối nhiều tàu, lá lành che lá rách” [7,225]
- Khi chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật 10/59, đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, cho phép thẳng tay giết hại bất cứ ng-ời yêu n-ớc nào, bất cứ ai có biểu hiện chống lại chúng, làm cho hàng vạn cán bộ, đảng viên bị giết hại, hàng chục vạn đồng bào yêu n-ớc bị tù đày Sự có mặt của đế quốc Mỹ và tay sai đã làm nên những trang đau th-ơng của dân tộc Việt Nam Bất cứ nơi đâu cũng hằn sâu dấu chân quỷ dữ Chúng ta thấy không ngày nào mà không có những thân thể bị tra tấn bắn giết, xác phơi đầy đồng, thây đầy lạch sông:
“Năm năm qua Trời năm năm khủng khiếp!
Quê ta trong lửa bỏng dầu sôi Bọn Mỹ - Nguỵ thẳng tay bắn giết Không ngày nào không máu chảy x-ơng rơi” [7,297]
Ph-ơng pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975
3.3.1 Sử dụng tài liệu văn học trong bài nội khoá
Việc sử dụng tài liệu văn học trong bài nội khóa là rất cần thiết và phù hợp với nguyên tắc liên môn trong quá trình dạy học tại trường phổ thông Tuy nhiên, do điều kiện thực tế hạn chế, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào việc ứng dụng tài liệu văn học trong bài giảng các kiến thức mới Bởi vì, nghiên cứu kiến thức mới đóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, góp phần nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức của học sinh.
Vận dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử giúp giáo viên minh họa các sự kiện lịch sử, tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử hoặc làm rõ các khái niệm một cách sinh động và dễ hiểu Việc sử dụng khéo léo các tài liệu văn học tham khảo không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả mà còn tăng thêm hứng thú và sự hứng khởi trong quá trình học tập Điều này góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, đồng thời phát triển kỹ năng liên môn và lòng yêu thích môn học cho học sinh.
3.3.1.1 Minh họa về một sự kiện lịch sử
Sự kiện lịch sử là nền tảng quan trọng để hình thành nhận thức lịch sử, với đặc điểm diễn ra trong một không gian, thời gian nhất định, có nguyên nhân, diễn biến rõ ràng và kết quả cụ thể Tuy nhiên, do các sự kiện này xảy ra trong quá khứ và được phản ánh gián tiếp qua các nguồn tư liệu, học sinh thường cảm thấy xa lạ, khó ghi nhớ nếu không áp dụng các phương pháp dạy và học chủ động, tích cực Việc sử dụng linh hoạt các tài liệu văn học để bổ sung, minh họa các sự kiện lịch sử giúp làm dịu đi tính khô khan của nội dung, đồng thời hình thành những hình ảnh, biểu tượng gắn liền với các sự kiện quan trọng Chẳng hạn, trong bài giảng về phong trào “Đồng khởi” (1959-1960), giáo viên có thể tận dụng các tài liệu văn học để tái hiện sinh động các sự kiện lịch sử, giúp học sinh dễ nhớ và hiểu sâu hơn về quá trình này.
- Nói về những khó khăn của cách mạng Miền Nam khi Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật 10/59, đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, cho phép thẳng tay giết hại bất cứ ng-ời yêu n-ớc nào, bất cứ ai có biểu hiện chống lại chúng làm cho hàng vạn cán bộ đảng viên bị giết hại, hàng chục vạn đồng bào yêu n-ớc bị tù đày Đồng bào Miền Nam đã nói không ngoa rằng “chế độ Mỹ
- Diệm là một lò sát sinh man rợ nhất trên trái đất ngày nay” [22,217] Giáo viên có thể nêu dẫn chứng: “Anh Ty ở Hiệp H-ng bị chúng bắt đè ra mổ bụng, cắt gan Anh chạy hoảng, la thất thanh, máu ở ruột tuôn xối ra Anh ngã ra chết giữa tiếng reo hò thú vật của bọn giặc ở Long Mỹ, bọn Mỹ - Diệm cắt cổ
26 thanh niên, máu đỏ ngầu cả một khúc m-ơng v-ờn (…) Một chị phụ nữ có thai gần ngày sanh, chống cự lại khi chúng hãm hiếp, chúng bắn chị ấy chết Thai trong bụng ngột hơi đạp, chúng liền lấy chày vồ đập xuống bụng chị làm thai vọt ra, chúng đứng chống nạnh c-ời thích thú !” [22,127]
Chính sách “tố cộng, diệt cộng” dựa trên phương châm “bắn nhầm còn hơn bỏ sót,” phản ánh sự sát sao và quyết liệt trong việc loại bỏ các đối tượng bị cho là nguy hiểm Tuy nhiên, điều này đã khiến mạng sống của người dân trở nên mong manh như lá mỏng, dễ bị tổn thương bất cứ lúc nào Chính sách này gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với cộng đồng, thể hiện sự cực đoan trong cách xử lý sự thật và an ninh quốc gia.
Đợt tố cộng như một cơn gió chướng, phản ánh những biến động dữ dội trong xã hội Mạng con người như những chiếc lá rụng cành khô, tượng trưng cho cuộc sống bị dao động và bấp bênh Đợt dinh điền tiếp theo giống như dòng nước cuốn trôi tất cả, làm tan biến mọi cố gắng và thành quả đã đạt được Những người sống không nơi, kẻ chết không mồ thể hiện sự bấp bênh và vô thường của cuộc đời, khiến xã hội thêm phần bất định và đầy thử thách.
3.3.1.2 Tạo biểu t-ợng về một nhân vật lịch sử
Biểu tượng nhân vật lịch sử là hình ảnh tổng quát về nhân vật đó, phản ánh nét chính về ngoại hình, tính cách, hoạt động, đóng góp và dấu ấn lịch sử của họ Để tạo biểu tượng nhân vật trong dạy học, giáo viên chủ yếu dựa vào các tài liệu lịch sử, đồng thời có thể khai thác các tác phẩm văn học như hồi ký, tiểu thuyết lịch sử để làm rõ đặc điểm và cuộc đời của nhân vật Việc chọn lọc các tình tiết phù hợp giúp xây dựng hình tượng nhân vật rõ nét, sinh động hơn Ví dụ, giáo viên có thể giúp học sinh hình dung về nhân vật Nguyễn Văn Trỗi qua bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” của Tố Hữu, thể hiện ý nghĩa và khí phách của nhân vật trong lịch sử.
“Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hoá thành bất tử
Có những lời hơn mọi lời ca
Có con người như chân lý sinh ra” Đặc biệt là thái độ khảng khái hiên ngang của anh tr-ớc kẻ thù Đấu khẩu với bọn địch, anh nói: “Tao muốn gì à? Tao muốn giết hết bọn Mỹ, tao muốn Miền Nam được giải phóng” [22,140] “Đi tìm giết bọn xâm lược Mỹ chỉ có công thôi chứ không có tội” [22,140] Khi bọn địch m-u làm mềm lòng bằng cách gợi chuyện hạnh phúc gia đình anh khẳng khái nói: “Không thể cúi đầu sống yên thân trong khi bọn Mỹ mang bom đạn giết hại nhân dân” Một nhà báo hỏi anh Trỗi:
- Anh có tiếc gì không tr-ớc khi anh chết?
- Tôi chỉ tiếc không giết đ-ợc thằng Mắc Namara
Lời nói đanh thép vang vọng thể hiện chiều sâu của lòng căm thù giặc và ý chí phục thù của nhân dân miền Nam Đây là bằng chứng rõ nét về quyết tâm chiến đấu và quyết thắng giặc Mỹ của nhân dân miền Nam, thể hiện tinh thần kiên cường và ý chí không khuất phục trước kẻ thù.
Giáo viên có thể tạo biểu t-ợng về Nguyễn Văn Thiệu cho học sinh thông qua những câu thơ sau của Tế Hanh:
Những câu thơ của Tế Hanh không chỉ thể hiện cảm xúc bình thường mà còn chứa đựng sự khinh bỉ và căm phẫn sâu sắc đối với kẻ thù Ông đã kịch liệt phê phán, không ngần ngại thể hiện cảm xúc mạnh mẽ, trực diện phản ánh bộ mặt ghê tởm của đối phương Những lời thơ này thể hiện rõ niềm căm phẫn và sự lên án mạnh mẽ của tác giả trước những hành động xấu xa của kẻ thù.
3.3.1.3 Làm rõ một khái niệm lịch sử
Khái niệm lịch sử là hình thức của tư duy trừu tượng phản ánh các đặc điểm và bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử, giúp học sinh hiểu sâu sắc nội dung lịch sử Để hình thành khái niệm lịch sử, học sinh cần dựa vào nguồn tài liệu chứa đựng các sự kiện thực tế, dựa trên quá trình tái hiện và biểu tượng hóa các sự kiện đó, bước đầu mang tính nhận thức cảm tính Việc sử dụng các tài liệu văn học giàu hình ảnh, biểu tượng giúp quá trình xây dựng khái niệm trở nên dễ dàng hơn Ví dụ, giáo viên có thể làm rõ khái niệm “Việt Nam hóa chiến tranh” qua các dẫn chứng cụ thể như câu chuyện của đại uý Bùi Văn Năm, người mang mề đay đầy ngực và nói: “Mề đay giết cộng sản đó!”, nhằm minh họa ý nghĩa và thực tiễn của khái niệm này trong lịch sử.
Cảnh sát chỉ vào cột cờ nhà lao và nói: "Cột cờ này cao bao nhiêu thì tội ác của thằng Năm này cũng cao bấy nhiêu." Anh ta nhấn mạnh rằng tội ác của Năm quá nhiều, đến nỗi dù đã có chức vụ đại uý, hắn vẫn muốn lên nữa bằng cách giết thêm nhiều cộng sản hơn.
[22,159] Thằng Vận, trung uý cũng với giọng điệu trâng tráo ấy, vỗ ngực:
Thực nghiệm s- phạm
Dựa trên thực tiễn sử dụng tài liệu văn học trong giảng dạy lịch sử ở các trường phổ thông hiện nay, chúng tôi đã nghiên cứu việc ứng dụng các tài liệu văn học cụ thể để nâng cao hiệu quả học tập Trong khuôn khổ này, bài viết tập trung vào việc sử dụng tài liệu văn học Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 trong giảng dạy lịch sử lớp 12 nâng cao Việc khai thác các tác phẩm văn học phù hợp giúp học sinh hiểu rõ hơn về hoàn cảnh lịch sử, truyền thống đấu tranh của dân tộc và góp phần nâng cao kỹ năng phân tích, nhận thức lịch sử qua góc nhìn văn học Đây là phương pháp giảng dạy mang tính thực tiễn cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử cho học sinh phổ thông hiện nay.
Thực hiện thử nghiệm S-P phạm nhằm đánh giá tính khả thi của việc sử dụng tài liệu văn học trong giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1975 Nghiên cứu này nhằm xác định hiệu quả của phương pháp kết hợp tài liệu văn học để nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức lịch sử của học sinh Kết quả cho thấy việc tích hợp các tác phẩm văn học vào giảng dạy lịch sử không chỉ giúp thể hiện chân thực các chiến أحداث, mà còn kích thích sự hứng thú và tư duy phản biện của học sinh Nhờ đó, phương pháp này góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử Việt Nam, phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay.
Trong giai đoạn từ 1954 đến 1975, các kết quả thực nghiệm đã chứng minh rõ ràng tầm quan trọng của việc sử dụng tài liệu văn học trong giảng dạy lịch sử lớp 12 nâng cao Những bằng chứng này cho thấy việc tích hợp tài liệu văn học vào chương trình học không chỉ giúp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử mà còn làm phong phú thêm kiến thức và kỹ năng tư duy của học sinh trong trường phổ thông Việc áp dụng phương pháp này là cần thiết để cải thiện chất lượng giáo dục lịch sử, góp phần đào tạo học sinh có tư duy phản biện và hiểu biết toàn diện về quá khứ.
Trong bài 25 (tiết 2), nội dung thực nghiệm tập trung vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa và chính trị Đồng thời, bài học còn nhấn mạnh chiến đấu chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở Miền Nam từ năm 1961 đến 1965, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và đảm bảo an ninh quốc gia.
3.4.4 Ph-ơng pháp thực nghiệm
Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi chọn hai lớp học có sự đồng đều về chất lượng và ý thức học tập cao nhằm đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của nghiên cứu Mỗi lớp sử dụng một giáo án khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập Sự phân chia này giúp chúng tôi so sánh và đánh giá tác động của từng phương pháp dạy học một cách khách quan và chính xác hơn.
“Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, chiến đấu chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở Miền Nam” (tiết 2) ở lớp thực nghiệm
Trong quá trình giảng dạy, lớp 12 A1 áp dụng các hình thức dạy học kết hợp với tài liệu văn học tham khảo để nâng cao hiệu quả học tập, trong khi đó, lớp 12 A4 sử dụng phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình và thông báo nhằm đánh giá và so sánh hiệu quả của các phương pháp giảng dạy khác nhau.
1 Kiến thức: Yêu cầu học sinh nắm đ-ợc các nội dung cơ bản sau: Âm mưu, thủ đoạn của Mỹ trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” Quân dân Miền Nam chiến đấu chống “chiến tranh đặc biệt” 1961 - 1965, những thắng lợi của quân dân Miền Nam trên các mặt trận: quân sự, chính trị, chống bình định
Tiếp tục bồi đắp tinh thần yêu nước, lòng yêu thương và chia sẻ sâu sắc với đồng bào miền Nam đã phải chiến đấu hy sinh để giành tự do, độc lập, hướng tới thống nhất đất nước Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và hy vọng vào tương lai tươi sáng của cách mạng luôn là giá trị cốt lõi thúc đẩy tinh thần đoàn kết, kiên cường trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
- Bồi d-ỡng lòng căm thù với những tội ác của chính quyền Mỹ - Diệm Thấm thía nổi đau của nhân dân ta khi đất n-ớc bị chia cắt
- Rèn luyện kỹ năng phân tích, đánh giá các sự kiện, nhân vật lịch sử
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng sơ đồ, biểu đồ, bản dồ lịch sử
II T- liệu và đồ dùng dạy học
- L-ợc đồ về chiến thắng ấp Bắc
- Giáo trình: Lịch sử Việt Nam 1945 - 1975 - NXB Giáo dục
III Tiến trình tổ chức dạy học
- Tình hình n-ớc ta sau hiệp định Giơnevơ 1954? Nhiệm vụ cách mạng của 2 miền trong thời kỳ mới?
* Chuẩn bị nghiên cứu kiến thức mới
Trong bài 25 trước, chúng ta đã học về những thành tựu của nhân dân miền Bắc trong kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất Điều này cho thấy bước đầu quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của miền Bắc sau cách mạng Các thành tựu này góp phần khẳng định vai trò của kế hoạch phát triển dài hạn trong việc xây dựng đất nước.
Sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, tình hình miền Bắc đã có nhiều chuyển biến tích cực về đất nước, xã hội và con người Trong khi đó, miền Nam phải đối mặt với chiến lược chiến tranh mới của đế quốc Mỹ gọi là “chiến tranh đặc biệt”, với nhiều âm mưu và thủ đoạn tinh vi nhằm chống phá miền Nam Nhân dân miền Nam đã nỗ lực đối phó hiệu quả với chiến lược chiến tranh mới này của địch, thể hiện tinh thần kiên cường và sức mạnh đoàn kết.
Mỹ nh- thế nào? Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu ở tiết 2 của bài
* Dạy và học bài mới
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NỘI DUNG HỌC SINH CẦN NẮM
* Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân
- Giáo viên nêu câu hỏi:
? Chiến l-ợc chiến tranh đặc biệt ra đời trong hoàn cảnh nào?
- Học sinh dựa vào SGK trả lời
- Giáo viên nhấn mạnh 3 điểm chính của
“Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ là:
+ ấp chiến l-ợc (x-ơng sống) + Đô thị (hậu cứ)
- Giáo viên cho học sinh tham khảo bảng số liệu về:
Số lượng cố vấn Mỹ và nguỵ quân từ đầu
1961 đến cuối 1964, theo bảng số liệu
Năm Quân Mỹ Quân nguỵ
- giáo viên nêu câu hỏi thảo luận:
+ Nhóm 1: Trình bày những thắng lợi của
II Miền Nam chiến dấu chống chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ (1961 -
1/ Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của
Sau khi phong trào “Đồng khởi” và chiến tranh đơn phương bị phá sản, Mü đề ra chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” để thích nghi với tình hình mới Chiến lược này được thực hiện thí điểm tại miền Nam dưới hình thức “Chiến tranh đặc biệt”, nhằm nhằm mục tiêu chống lại phong trào cách mạng và bảo vệ lợi ích của Mỹ tại khu vực Âm mưu của Mỹ trong việc xây dựng chiến lược này là kiểm soát miền Nam Việt Nam và ngăn chặn sự lan rộng của phong trào cách mạng, thông qua các phương pháp chiến tranh đặc biệt và chiến lược tinh vi.
“Chiến tranh đặc biệt” = quõn đội tay sai (quân đội Sài Gòn) + cố vấn Mỹ + vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh của Mỹ
=> mục đích “dựng người Việt đỏnh người Việt” c/ Thủ đoạn và biện pháp:
* Từ 1961 - 1963: đề ra kế hoạch Xtalây - Taylo, nhằm bình định Miền Nam trong vòng 18 tháng
* Từ 1964 -1965: đề ra kế hoạch Giônxơn
- Macnamara, bình định MiÒn Nam có bình định?
+ Nhóm 2: Những thắng lợi của quân dân Miền Nam trên mặt trận quân sự?
+ Nhóm 3: Những thắng lợi của quân dân Miền Nam trên mặt trận chính trị?
- Học sinh làm việc sau đó cử đại diện lên trình bày, giáo viên nhận xét và tổng kết thảo luận
=> Tăng cường lực lượng nguỵ quân, tiến hành dồn dân lập “Êp chiến lược”…
2/ Miền Nam chiến đấu chống” Chiến tranh đặc biệt” a - Trên mặt trận chống “Bình định”: -Diễn ra cuộc đấu tranh giằng co quyết liệt giữa ta và địch giữa việc lập và phá ấp chiến lược giữa ta và địch
Trận Êp Bắc do GV tường thuật đã chứng minh khả năng chiến thắng của quân và dân ta dù bị đối phương gấp 10 lần về lực lượng Chúng ta đã đánh tan cuộc hành quân càn quét của quân nguỵ do cố Mỹ chỉ huy, đánh bại chiến thuật mới của địch Chiến thắng tại ấp Bắc góp phần khẳng định rằng quân và dân ta hoàn toàn có khả năng đánh bại các chiến dịch đặc biệt của kẻ thù Sau trận thắng này, phong trào thi đua “Êp Bắc giết giặc lập công” lan rộng khắp miền Bắc, thúc đẩy thêm tinh thần chiến đấu và lòng quyết tâm của nhân dân.
Vào ngày 8/5/1963, hơn 20.000 tăng ni và Phật tử tại Huế đã tổ chức biểu tình phản đối chính quyền Tiếp đó, ngày 11/6/1963, hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn để phản đối chiến tranh và đàn áp Phật giáo Vào ngày 16/6/1963, khoảng 70 quần chúng ở Sài Gòn xuống đường biểu tình, thể hiện sự đồng lòng và kêu gọi hòa bình.
- 22/11/1963 tổng thống Mỹ G Kennơdy bị ám sát -> đầu 1964 Giôn xơn lên thay và cho ra đời kế hoạch Giônxơn - Macnamara
1965) từ sau cuộc đảo chính nội các nguỵ quyền đã có đến 10 cuộc đảo chính b -Trên mặt trận quân sự:
+ Những năm 1961 -1962 quân ta đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét lớn của địch ở chiến khu D, căn cứ U Minh, Tây Ninh…