1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu văn hoá của một số dòng họ tiêu biểu ở đông sơn, đô lương, nghệ an

77 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu văn hoá của một số dòng họ tiêu biểu ở Đông Sơn, Đô Lương, Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Hằng
Người hướng dẫn Thạc sỹ Nguyễn Thị Duyên
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử và Văn hóa Việt Nam
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Điều kiện tự nhiên, con người (8)
    • 1.1.1 Điều kiện tự nhiên (8)
    • 1.1.2 Con người (10)
  • 1.2 Truyền thống lịch sử văn hoá (13)
    • 1.2.1 Truyền thống lịch sử (13)
    • 1.2.2 Truyền thống văn hoá (15)
  • 2.1 Khái quát chung (19)
  • 2.2 Một số dòng họ ở Đô Lương (21)
  • 2.3 Một số dòng họ tiêu biểu ở Đông Sơn, Đô L-ơng, Nghệ An (0)
    • 2.3.1 Truyền thống văn hoá dòng họ Nguyễn Nguyên (23)
    • 2.3.2 Truyền thống văn hoá dòng họ Nguyễn Cảnh (32)
  • 3.1 Kiến trúc điêu khắc nhà thờ họ Nguyễn Nguyên (43)
  • 3.2 Kiến trúc điêu khắc nhà thờ họ Nguyễn Cảnh (53)

Nội dung

Điều kiện tự nhiên, con người

Điều kiện tự nhiên

Đô Lương là huyện trung tâm của xứ Nghệ, đã trải qua nhiều biến động và thăng trầm trong lịch sử Trong quá trình phát triển, địa phương này còn có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo từng thời kỳ, như đất Giao Đô của thời Ngô thuộc Lư Đức, Hàm Hoan trong đời Đường, đất Hoan Đường thời Tiền Lê, và Đệ Giang thuộc thời Hồ Đến thời Lê, do lệ thuộc vào Thạch Đường và sau này là huyện Nam Đường, Đô Lương vẫn giữ vị trí quan trọng Năm 1840, Vua Minh Mạng thành lập huyện Lương Sơn gồm các huyện Anh Sơn, Kiêm Lương, và Đô Lương khi đó thuộc huyện Lương Sơn Trong thời vua Thành Thái, từ năm 1890 đến 1907, huyện này đổi tên thành phủ Anh Sơn Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam đầu thế kỷ XX, Đô Lương đã trải qua nhiều biến đổi theo dòng chảy của lịch sử đất nước.

1946 phủ Anh Sơn là một trong 6 phủ, 5 huyện của tỉnh Nghệ An Đến

Đông Sơn là một xã nằm ở phía Bắc của huyện Đô Lơng, có vị trí địa lý giáp các xã Yên Sơn, Tràng Sơn, Bắc Sơn và thị trấn Đô Lơng; đây là khu vực bán sơn địa với tổng diện tích tự nhiên khoảng 1013,26 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm hơn 85% Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa mang đặc điểm của miền Trung, Đông Sơn đối mặt với cả thuận lợi và khó khăn từ thiên nhiên; điều kiện nắng nhiều, mưa nhiều, độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp và chăn nuôi, nhưng cũng gây ra những đợt nắng nóng dữ dội và giông bão mùa mưa có thể gây lũ lụt Người dân nơi đây đã luôn đoàn kết, chung sức chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để xây dựng cuộc sống.

Đất đai, tài nguyên và khí hậu đa dạng, phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cây trồng, vật nuôi tại Đông Sơn Ngoài trồng lúa, người dân còn canh tác ngô, khoai, sắn, phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương Hệ thống giao thông thuận tiện với các tuyến đường bê tông hóa, kết nối xã với quốc lộ 7, giúp di chuyển dễ dàng đến các huyện lân cận Nhờ vậy, Đông Sơn thúc đẩy phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa, góp phần xóa đói, giảm nghèo và thúc đẩy sự phát triển bền vững của địa phương.

Lịch sử Đông Sơn gắn liền với truyền thống anh hùng của Đô Lương và xứ Nghệ, nơi diễn ra nhiều cuộc đấu tranh quan trọng để bảo vệ độc lập tự do của đất nước Xã Đông Sơn luôn được xem là địa bàn chiến lược, là “đất đứng chân” của các anh hùng hào kiệt trong các cuộc giữ nước lịch sử Vùng đất này phong cảnh nên thơ, có đồng ruộng, sông sâu, núi đồi xen kẽ tạo nên một vùng quê đa dạng, phù hợp về địa lý, hiểm trở về quân sự nhưng thuận lợi về giao thông và giàu có về kinh tế Tuy nhiên, chính trên mảnh đất này người dân đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ, đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên khắc nghiệt và các thế lực đè nén, áp bức, từ đó đã tôi luyện nên những phẩm chất tốt đẹp của con người nơi đây.

Con người

“Về Đô Lương đi dọc sông Lường

Câu hát “Mà nghe câu hò hết giận rồi thương” trong bài “Mời bạn về Đô Lương” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý thể hiện rõ nét tính cách chân thành và đằm thắm của người dân nơi đây trong cuộc sống thường nhật Những câu hát dân ca này phản ánh lòng thành, tình cảm gắn bó, nhưng cũng thể hiện sự táo bạo, thẳng thắn và gan dạ trong đấu tranh để tồn tại và phát triển Tính cách này góp phần tạo nên nét đẹp văn hóa đặc trưng của vùng đất Đô Lương, làm nổi bật phong cách sống chất phác, chân thành và kiên cường của người dân nơi đây.

Người Nghệ An, đặc biệt là người Đô Lương, nổi bật với tính cách sống lý tưởng, kiên trung và khắc khổ trong sinh hoạt Họ mang trong mình nét đặc trưng của sự thẳng thắn, táo bạo và nghị lực vượt qua khó khăn để tồn tại Người con gái Đô Lương, dù được ví von là “trai Cát Ngạn, gái Đô Lương”, lại không chỉ đơn thuần là những người xinh đẹp mà còn thể hiện sự dũng cảm và quyết đoán trong cuộc sống Với vị trí trung tâm của Nghệ An, họ luôn phải đối mặt và vượt lên mọi thử thách của cuộc sống, phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, và kinh doanh buôn bán sầm uất Trong cuộc sống hàng ngày, các cô gái Đô Lương không yếu mềm như chân yếu tay mềm, mà ngược lại, rất chân thành, đôn hậu nhưng không kém phần táo bạo, thể hiện rõ đặc trưng của người phụ nữ mạnh mẽ và đầy nghị lực vùng đất Nghệ An.

Người Đô Lương nổi bật với phẩm chất hiếu học và lòng kính trọng đối với việc học hành Truyền thống này xuất phát từ lòng yêu nước và kính trọng các tên đất, tên làng, tên núi như Văn Khuê, Văn Sâm, Văn Trường, tượng trưng cho việc trân trọng học vấn và khoa cử Nhân dân Đô Lương coi học là để hiểu đạo lý làm người, nhiều gia đình tuy nghèo vẫn cố gắng cho con em học tập, thể hiện tinh thần hiếu học và ý thức xây dựng đất nước Truyền thống hiếu học của người dân nơi đây đã được giữ gìn qua các thế hệ, trở thành động lực để các thế hệ sau nỗ lực học hành, thi đỗ đạt, góp phần xây dựng và phát triển quê hương đất nước.

Trong xây dựng kinh tế, con người Đô Lơ-ơng thể hiện sự kiên cường và sôi động, không chỉ phát triển hoạt động buôn bán tại trung tâm thị trấn sầm uất mà còn đẩy mạnh nghề trồng trọt, góp phần thúc đẩy sự đa dạng hóa kinh tế địa phương và nâng cao đời sống cộng đồng.

“Muốn ăn khoai sọ chấm đ-ờng

Xuống đây mà ng-ợc Đò L-ờng cùng anh Đò L-ờng bến n-ớc trong xanh Gạo ngon, lúa tốt bến thành ng-ợc xuôi”

Người dân khắp vùng quê Đô Lương vẫn giữ gìn nghề thủ công truyền thống như nuôi tằm, làm gốm, bánh đa, bánh tráng, mộc rèn, đan lát, mây tre, làm đá, góp phần bảo tồn nét đẹp văn hóa địa phương Từ thời Lý, Đô Lương đã nổi tiếng với sự phát triển thương mại, trấn trị của Nghệ An là trung tâm đô hội và phồn thịnh Nghề dệt lụa ở Đô Lương được đánh giá cao về độ bền đẹp, trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây Các nghề thủ công truyền thống đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng và thúc đẩy sự tiến bộ của vùng đất này Tâm lý vượt lên mọi khó khăn để sinh tồn giúp người Đô Lương xây dựng nền kinh tế ổn định, bền vững qua nhiều thế hệ.

Người dân Đông Sơn hội tụ những nét đẹp đáng quý, thể hiện sự đoàn kết và gắn bó trong cộng đồng Hiện nay, Đông Sơn có 156 hộ với tổng cộng 5.636 nhân khẩu, tất cả đều sống trong hòa thuận và đùm bọc lẫn nhau từ nhiều đời nay.

Dân cư Đông Sơn sinh sống chủ yếu bằng nghề nông ngoài bán sơn địa, trong lúc rảnh rỗi họ còn làm các nghề phụ, đặc biệt là buôn bán, nhằm tìm kiếm nguồn thu nhập ổn định Cuộc sống khắc nghiệt đã tôi luyện họ trở nên cần cù, chịu thương chịu khó, thể hiện rõ qua nét mặt và tác phong sống Những lợi thế tự nhiên của vùng ven thị trấn được người dân tận dụng triệt để để phát triển kinh tế dịch vụ buôn bán, góp phần làm tăng thu nhập cho cộng đồng Người địa phương nổi tiếng với tính cách cởi mở, vui vẻ, hiếu khách, xây dựng nét đẹp văn hóa cộng đồng Đông Sơn từ lâu đã là vùng đất hiếu học, nơi người dân đề cao việc học để hiểu biết và làm người có đạo đức, không phân biệt giàu nghèo Những nhà nho, người có học vấn ở đây đều thích thơ văn, sống hào hiệp, trọng khí tiết, và khi đất nước gặp nạn ngoại xâm, họ sẵn sàng tham gia chống giặc, dù làm quan hay giữ chức vụ cao, cũng đều đề cao đạo đức và nghĩa khí, như trường hợp ông Nguyễn Nguyên Thành—mỗi người đều thể hiện tinh thần yêu nước và nhân nghĩa của đất phát tích truyền thống.

Những phẩm chất đáng quý của các bậc tiền nhân ảnh h-ớng rất lớn đến ng-ời dân ở Đông Sơn cho đến bây giờ

Người dân Đông Sơn sinh sống trên vùng đất đa dạng địa hình gồm đồng ruộng và đồi núi, đối mặt với nhiều khó khăn về giao thông và tự nhiên khắc nghiệt Trong quá trình đấu tranh chống lại áp lực và thế lực đè nén, họ đã rèn luyện phẩm chất cần cù, sáng tạo trong lao động, dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu và sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn Những truyền thống quý báu này góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước ngày càng vững mạnh.

Truyền thống lịch sử văn hoá

Truyền thống lịch sử

Lịch sử Đô Lương gắn liền với truyền thống anh hùng của xứ Nghệ, nơi ghi dấu những chiến công vang dội của nhân dân qua nhiều thời kỳ Đô Lương, Nghệ An được xem là mảnh đất “phên dậu”, “lá chắn” vững chắc của miền Bắc, góp phần bảo vệ tổ quốc khỏi các cuộc xâm lược trong lịch sử Vùng đất này không chỉ nổi bật với truyền thống anh dũng mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn nền độc lập, tự do của đất nước.

Nghệ An bắt đầu xuất hiện từ thời vua Lý triều nhà Lý (khoảng năm 1030), khi nơi đây được xem là điểm nóng, khu vực hiểm yếu thường xuyên phải chống trả các cuộc nổi dậy và xung đột với giặc Lão Qua, Chiêm Thành Vua Lý đã cử con thứ 8 của mình, Lý Nhật Quang, vào quản lý vùng đất này, chọn vùng Bạch Ngọc (nay là xóm 3 xã Nam Sơn, Lam Sơn, Bồi Sơn) làm thủ phủ Việc Lý Nhật Quang lựa chọn Đô Lương làm thủ phủ thể hiện tầm quan trọng của vùng đất này, có vị trí chiến lược ảnh hưởng lớn đến khu vực xung quanh.

D-ới sự cai quản, lãnh đạo của Lý Nhật Quang, Đô L-ơng đã hoàn thành tốt vai trò là đại bản doanh Nhân dân Đô L-ơng ngày đêm luyện võ cùng quan ra trận Đây còn là một địa bàn quan trọng cung cấp quân l-ơng cho các cuộc hành quân chinh phạt v-ơng triều Nam chăm để mở mang bờ cõi Trong các cuộc kháng chiến chống xâm l-ợc, nhân dân Đô L-ơng đều hăng hái tham gia.Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân Đô L-ơng đã đóng góp hết sức mình viết nên khúc khải hoàn toàn thắng trong đại thắng mùa xuân năm 1975, đánh đuổi quân thù ra khỏi đất n-ớc, bảo vệ non sông gấm vóc Đông Sơn là mảnh đất văn hiến có vị trí chiến l-ợc quan trọng, có bề dày lịch sử vẻ vang Nhân dân Đông Sơn thông minh hiếu học, giàu truyền thống yêu n-ớc và cácg mạng Con ng-ời Đông Sơn mang đầy đủ cốt cách của con ng-ời Việt Nam : cần cù, chịu khó trong lao động, kiên c-ờng bất khuất trong chiến đấu, nghĩa tình thuỷ chung trong cuộc sống Từ trong đêm tr-ờng của lịch sử cho đến hôm nay lớp lớp các thế hệ con ng-ời Đông Sơn đã kế tiếp nhau cùng vai sát cánh cùng đấu tranh chống lại thiên tai khắc nghiệt chống mọi kẻ thù xâm l-ợc viết nên những trang sáng ngời trong kho lịch sử bằng vàng của dân tộc Lịch sử Đông Sơn nằm trong dòng chảy của lịch sử Đô L-ơng Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, Thanh những ng-ời Đông Sơn lại hăng hái gia nhập Có thể nói trong suốt chiều dài của lịch sử thế kỷ XI đến nay, không có một cuộc nổi dậy nào của nhân dân Nghệ

Những thắng lợi của Bồ Đằng và Trà Lân không thể thiếu vai trò đóng góp to lớn của nhân dân Đông Sơn trong các mặt trận Sự đóng góp về quân và lương thực của nhân dân Đông Sơn, Đô Lương đã góp phần quan trọng vào thành công của các chiến công này Các dấu tích và giai thoại đẹp về sự hy sinh và tinh thần đoàn kết của nhân dân Đông Sơn vẫn còn lưu truyền đến ngày nay, thể hiện giá trị lịch sử và truyền thống kiên cường của địa phương.

Kể từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược đất nước ta, trong khi triều đình phong kiến ngày càng đầu hàng nhượng bộ, nhiều người Việt Nam yêu nước không chịu khuất phục trước quân xâm lược Họ đã tổ chức các cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau, nổi bật là phong trào khởi nghĩa do tiến sĩ Nguyễn Nguyên Thành khởi xướng, nhanh chóng thu hút đông đảo lực lượng tham gia Phong trào này phát triển mạnh mẽ không chỉ trên toàn xã Đông Sơn, mà còn liên kết với các cuộc khởi nghĩa của Nguyên Xuân Ôn (Diễn Châu) và Lê Doãn Nhã (Yên Thành), tạo thành một vùng căn cứ rộng lớn, gây nhiều tổn thất cho địch và khiến chúng nhiều phen kinh hoàng Các phong trào khởi nghĩa chống Pháp diễn ra dữ dội, làm cho quân thù nhiều lần khiếp sợ và tổn thất nặng nề Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhân dân Đông Sơn một lòng theo Đảng, đoàn kết đấu tranh để giành lại độc lập và tự do cho đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân Đông Sơn đã phát huy truyền thống bất khuất của cha ông, góp phần quan trọng vào các phong trào cách mạng như Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930-1931, nơi đã để lại nhiều máu xương của người Đông Sơn Những cuộc khởi nghĩa như Đô Lơ 13.1.1941, Bắc Sơn 22.9.1940 và Nam Kỳ 23.11.1941 đã báo hiệu bước chuyển quan trọng trong phong trào đấu tranh, mở ra một giai đoạn mới đầy gian khổ và thử thách Thành công vang dội của Cách mạng tháng Tám 1945 và chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc gần 100 năm ách thống trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc Việt Nam.

Cuộc kháng chiến chống Pháp đã qua đi, nhưng chiến tranh lại tiếp tục cuộc đấu tranh chống Mỹ, gây tổn thất lớn cho mảnh đất Đông Sơn, Đô Lương Nơi đây từng là chiến trường ác liệt, nơi lớp lớp người dân ra trận để bảo vệ tổ quốc, và mồ liệt sĩ Đô Lương là nơi an nghỉ của những anh hùng đã ngã xuống trong hai cuộc kháng chiến Những người đến thăm nơi này không khỏi cảm động và xót xa trước hy sinh của các chiến sĩ, qua đó ghi nhận truyền thống anh dũng và lịch sử hào hùng của vùng đất Đô Lương.

Khi lịch sử dân tộc bước sang trang mới, nhân dân Đông Sơn cùng cả nước tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo Những nỗ lực này đã đem lại nhiều thành tựu lớn, góp phần thúc đẩy quê hương Đông Sơn ngày càng đổi mới, phát triển giàu mạnh, văn minh Nhờ đó, cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, và địa phương đã được công nhận là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 2003.

Truyền thống văn hoá

Đông Sơn không chỉ nổi bật với bề dày lịch sử, mà còn nổi bật với truyền thống văn hóa đặc sắc Nơi đây, các nét đẹp văn hóa truyền thống đặc trưng của Việt Nam được thể hiện rõ qua sinh hoạt hàng ngày và đời sống tâm linh của người dân địa phương Những giá trị văn hóa sâu đậm này góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc riêng của Đông Sơn trong cộng đồng.

“Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý gắn liền lâu đời của người Việt Nam, thể hiện lòng kính trọng và biết ơn đối với ông bà tổ tiên Trong mỗi gia đình, bàn thờ tổ tiên và các ngày lễ như giỗ, rằm được tổ chức trang nghiêm, nơi con cháu thắp nhang tưởng nhớ người đã khuất Những món quà nhỏ bé như nén nhang và ít thịt cúng thể hiện sự biết ơn sâu sắc, giúp gìn giữ và củng cố mối quan hệ gia tộc Văn hóa kính trên nhường dưới của người Việt phản ánh truyền thống tôn trọng ông bà, cha mẹ, góp phần xây dựng nét đẹp tâm linh đặc trưng của dân tộc.

Tín ngưởng sùng bái con người là một nét đẹp văn hóa lâu đời vẫn được giữ gìn đến ngày nay Ở Đông Sơn, các anh hùng như Nguyễn Nguyên Thành, Nguyễn Cảnh Lĩnh, Nguyễn Cảnh Quy được tôn thờ, thể hiện lòng biết ơn và kính trọng tổ tiên trong các dòng họ Mỗi dịp lễ Tết, người dân đều tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân qua các bài vụ và hoạt động tín ngưỡng Đặc biệt, nhà thờ họ Nguyễn Cảnh còn thờ bà Tú Lường, người con dâu hiếu thảo có công lao đóng góp to lớn cho dòng họ và cộng đồng Đông Sơn.

Thời Lý-Trần có hiện t-ợng “tam giáo đồng nguyên” (Phật giáo,

Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ hơn so với Nho giáo và Đạo giáo, trở thành quốc giáo Lý Nhật Quang đã đến đóng bản doanh tại Đô Lương cùng các tăng ni, tạo điều kiện cho sự phát triển của Phật giáo ở địa phương Các ngôi chùa như chùa Bà Bụt (Đà Sơn), chùa Nhân Trung, chùa Nhân Bồi vẫn còn tồn tại đến ngày nay, là những bằng chứng sống động cho sự phát triển này Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều người dân ở Đông Sơn vẫn giữ tục ăn chay hoặc đi chùa trong các ngày lễ Tết, thể hiện truyền thống đạo Phật bền vững trong cộng đồng.

Thiên chúa giáo ngày càng phát triển mạnh mẽ tại khu vực này, với số lượng tín đồ liên tục tăng, giúp đạo Thiên chúa khẳng định vị thế vững chắc trong cộng đồng Sự mở rộng của đạo đã góp phần củng cố niềm tin và tạo dựng một chỗ đứng ổn định, góp phần vào sự phát triển của xã hội địa phương.

Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Đông Sơn, chính sách bình đẳng tôn giáo và tự do tín ngưỡng đang được phát huy, tạo điều kiện cho mọi người tự do lựa chọn tín ngưỡng và tìm nơi nương tựa tâm linh Văn hóa huyện Đông Sơn ngày càng đa dạng và phong phú, mọi người hướng tới mục tiêu “sống tốt đời đẹp đạo” Được biết đến như một vùng đất giàu truyền thống, Đông Sơn có 65 dòng họ, trong đó có 10 dòng họ văn hóa, nổi bật với họ Nguyễn Cảnh và Nguyễn Nguyên đã được công nhận là di tích cấp tỉnh, góp phần ghi danh lịch sử địa phương Mỗi dòng họ đều có những truyền thống và nét đẹp riêng, là niềm tự hào của người dân địa phương Phong trào xây dựng làng và gia đình văn hóa đã trở thành mục tiêu thi đua của cộng đồng, trong đó các gia đình coi trọng nề nếp, gia phong để giáo dục con cái, giữ gìn trật tự và an ninh thôn xóm theo các quy định truyền thống và pháp luật Hiện nay, phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa ở Đông Sơn đang phát triển mạnh, góp phần nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng văn minh và tốt đẹp hơn.

Các làng nghề thủ công truyền thống góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa Đồng Sơn, giữ gìn nét đẹp văn hóa lâu đời của địa phương Nghề trồng dâu nuôi tằm ở Đông Sơn vẫn giữ vững vị trí quan trọng trong cộng đồng từ nhiều thế kỷ qua, thể hiện sự bền vững và phát triển của làng nghề truyền thống.

Bánh đa Đông Sơn là đặc sản nổi tiếng của vùng đất Đô Lương, đã trở thành nghề phụ truyền thống của người dân địa phương Sản phẩm này có hương vị đặc trưng, thơm, bùi và mặn mà, phản ánh rõ nét tính cách chân chất, mộc mạc của người quê Đông Sơn Bánh đa không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong vùng mà còn được người dân mang đi trao đổi, kết nối thương mại với nhiều nơi khác, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Đông Sơn là vùng đất có truyền thống độc đáo, gắn liền với lịch sử anh hùng và nhân hậu của người dân địa phương Lịch sử huyện Đô Lương thể hiện rõ nét tinh thần chiến đấu anh dũng của những người anh hùng, luôn gan dạ chống lại kẻ thù để bảo vệ quê hương Người dân Đông Sơn không chỉ vượt qua khó khăn để tồn tại mà còn luôn trân trọng và giữ gìn các giá trị nhân hậu, tình nghĩa trong cuộc sống hàng ngày.

Ch-ơng 2 truyền thống Văn hoá của một số dòng họ tiêu biểu ở Đông Sơn, Đô L-ơng, nghệ an

Khái quát chung

Nghệ An được coi là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, nơi đã sinh ra nhiều bậc hiền tài góp phần xây dựng đất nước và được ghi nhận trong lịch sử Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá, anh hùng giải phóng dân tộc, người vĩ đại được thế giới tôn vinh, còn Phan Bội Châu là nhà nho sớm có tinh thần yêu nước và chí khí kiên cường.

Trong xã hội đương thời, đã xuất hiện những biểu hiện của “bạo động” và sự bất ổn Nhiều ông đồ, nghệ sĩ, và những người làm nghề “cá gỗ” cùng với các lều chõng đã quyết tâm ra quan trường để thi cử, mang trong lòng hoài bão được trở về vinh quy bái tổ Họ đều là những người con của các dòng họ lớn, tiêu biểu cho nhiều dòng họ khác đang tồn tại và phát triển trên đất Nghệ An, góp phần giữ gìn truyền thống và văn hóa quê hương.

Nghệ An là vùng đất giao thoa văn hóa, nơi hội tụ của nhiều dân tộc như Việt, Mường, Thổ và các thành phần dân tộc thiểu số khác, phân bố rải rác khắp địa bàn Mỗi cộng đồng dân tộc có nhiều gia đình riêng lẻ, tập trung thành các làng bản truyền thống Phía sau “lũy tre làng” thường là những “giếng nước” biểu tượng cho cuộc sống cộng đồng gắn bó và giữ gìn nét văn hóa đặc trưng của người dân Nghệ An.

"Sân đình là nơi các dòng họ cùng chung lòng đấu cật, chia sẻ ngọt bùi, đắng cay, giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng dòng họ và quê hương ngày càng giàu đẹp." "Nền văn hoá xứ Nghệ rạng rỡ qua các hoạt động tại sân đình, góp phần làm tỏa sáng nét đẹp truyền thống của Việt Nam." "Nghệ An nổi bật không chỉ bởi cảnh đẹp thiên nhiên mà còn bởi truyền thống văn hoá dòng họ lâu đời, được vun đắp qua hàng thế kỷ."

“Con người có tổ có tông Như cây có cội như sông có nguồn”

Dòng họ là cầu nối thiêng liêng giữa tổ tiên và hậu thế, giữ vai trò liên kết các thế hệ qua sợi dây huyết thống Ngay trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, có hàng trăm dòng họ với những truyền thống và nét văn hoá đặc sắc riêng, thể hiện bản sắc riêng của mỗi cộng đồng Văn hoá dòng họ là phần không thể thiếu của di sản văn hóa Việt Nam, góp phần xây dựng nền tảng văn hóa dân tộc Qua hàng ngàn đời, dòng họ còn là nơi giáo dục con người về lòng kính trọng tổ tiên, hướng về cội nguồn và truyền thống dân tộc.

Mỗi dòng họ đều có người sáng lập đầu tiên, trở thành ông tổ, xác lập các chi, tiểu chi, và xây dựng gia phả ghi lại lịch sử, gốc tích, thế hệ của họ Trong dòng họ luôn có nhà thờ tổ được gọi là từ đương, nhằm ghi nhớ nguồn cội và củng cố truyền thống gia đình Theo thống kê của các nhà xã hội học Việt Nam, hiện có khoảng 964 dòng họ với hệ thống nhà thờ tổ và tên gọi thực tế, số lượng này đang ngày càng tăng nhờ vào sự phát triển dân số và di cư tới các miền đất khác nhau của người dân.

Gia phả của dòng họ là một bản ghi chép truyền thống quý giá, lưu giữ lịch sử và các thế hệ của dòng họ qua các đời, là vật báu vô giá của gia đình Qua gia phả, con cháu hiểu rõ thứ tự thế hệ và vai trò của dòng họ trong cộng đồng Ngoài ra, gia phả còn ghi nhận những đóng góp của dòng họ đối với quê hương, đất nước, là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu các dòng họ ở Đông Sơn Chúng tôi đã sử dụng kết hợp thông tin từ các gia phả, lời kể của bậc tiền bối, câu chuyện dân gian, sử liệu dòng họ và các tài liệu khác để tìm hiểu quá trình phát triển và truyền thống của dòng họ.

Văn hóa dòng họ ở Đông Sơn phản ánh sự phát triển của truyền thống dòng họ tại Đô Lương, Nghệ An Khu vực này nổi bật với những dòng họ địa phương cũng như các dòng họ từ nơi khác đến, góp phần xây dựng nền văn hóa dòng họ phong phú, uy nghi Hiện nay, Đông Sơn có nhiều dòng họ tiêu biểu như họ Nguyễn Nguyên, họ Nguyễn Cảnh, đang chung tay xây dựng một nét văn hóa độc đáo, đặc sắc và giàu bản sắc truyền thống.

Văn hoá dòng họ ở Đông Sơn kết hợp với văn hoá dòng họ của xứ Nghệ tạo nên nét đặc sắc riêng biệt của Việt Nam Nét đặc trưng nổi bật là văn hoá thờ cúng tổ tiên độc đáo, trong đó cả nước thờ chung một ông tổ là vua Hùng Mỗi làng thờ thần Thành Hoàng chung, còn mỗi dòng họ thờ ông tổ của chính dòng họ mình Những giá trị này làm nên nét riêng chỉ có trong văn hoá Việt Nam, góp phần xây đắp bản sắc văn hoá dân tộc đặc trưng.

Một số dòng họ ở Đô Lương

* Họ Hoàng Trần: Dòng họ này sinh sống trên đất làng L-ơng

Sơn, Tổng Đặng Lâm (nay là xã Bắc Sơn, Đô L-ơng) Làng L-ơng Sơn đối diện với Bạch Ngọc cũng soi bóng xuống dòng Lam Giang

Họ Hoàng Trần đã lập nghiệp và sinh sống hơn 450 năm, trải qua 15 đời Có nguồn gốc từ họ Mạc, bắt nguồn tại làng L-ơng Đông, Chí Linh, Hải Dương Đời thứ 6 của dòng họ có hai vị Trạng nguyên là Mạc Hiển Tích (1086) và Mạc Hiển Quang (1094), đều làm quan thợng trong triều Lý Nhân Tông Sau đó, năm đời tiếp theo, viên tổ Mạc Đính Chi đỗ trạng nguyên năm 1304 dưới triều Trần Anh Tông Trong tháng 6 năm Đinh Hợi 1527, Mạc Đăng Dung nổi dậy, chiếm đoạt ngai vàng nhà Lê và thiết lập triều Mạc tồn tại 150 năm Năm 1592, các vị họ Mạc phải thay tên đổi họ và phân tán khắp nơi do biến cố lịch sử, như trong văn tế nhà thờ họ Hoàng Trần tại Đặng Sơn ghi rõ: "thời thay thế đổi, đất lật trời nghiêng, ngôi Lê khôi phục, vận Mạc đổi dời, là Hoàng, là Phạm, là Thái, là tổ hoặc đổi họ thay tên hoặc ẩn mình theo mẹ".

Năm 1575, dưới triều Mạc Mậu Hợp, Mạc Đăng Lương, cháu 11 đời của Mạc Đính Chi, đã đậu tiến sỹ khi mới 17 tuổi và trở thành quan triều Lê, được phong làm Quận Công Ông là người mở rộng dân lập ấp, lập ra tổng Đặng Lâm (nay là Nam Sơn, Bắc Sơn, Đặng Sơn), và được nhân dân lập đền thờ tại Đặng Sơn để ghi nhớ công đức, sau này được truy phong làm "Thợng Đẳng Thần Tổ Chi Họ" Tổ chi họ Hoàng Trần tại Nam Sơn là Hoàng Đăng Kỳ, còn tại Bắc Sơn là Hoàng Đăng Đạo Con thứ của Hoàng Đăng Lương là Quận Công sắc Thơng Đô, người kiêm Lộc Hầu triều Lê, đã góp công lao vào sự nghiệp xây dựng đất nước Đến năm 2000, dòng họ đã được công nhận là dòng họ văn hóa, thể hiện sự đóng góp lâu dài và ý nghĩa của họ đối với lịch sử và phát triển của địa phương.

* Họ Thái Đắc: Họ Thái Đắc nằm trên vùng quê sớm có tinh thần yêu n-ớc Đó là xã Bài Sơn,huyện Đô L-ơng, họ Thái Đắc vào đây lập nghiệp ở thế kỷ XII vị tiên tổ là cụ Thái Đắc Duyên Cụ thái Đắc Duyên vào thung lũng này đầu tiên, khai cơ chiêu dân lập ấp mở mang bờ cõi Nhà thờ Thái Đắc là nơi thờ vị Thành Hoàng đã có công chiêu dân lập ấp, khai hoang mở rộng bờ cõ Trải qua các đời kế tiếp từ thần tổ của cụ Thái Đắc Duyên đến cuối cụ Thái Đắc Phúc (tức cháu 7 đời của cụ Duyên) cơ nghiệp của dòng họ Thái Đắc đã đ-ợc các vị tiên tổ đặt nền nóng và ngày nay tiếp tục phát triển trong các cuộc kháng chiến Dòng họ luôn có đóng góp rất lớn về sức ng-ời, sức của trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ Nhà thờ dòng họ là nơi hoạt động bí mật của các đồng chí lãnh đạo Đây còn là địa điểm in ấn, cất dấu tài liệu của phủ uỷ Anh Sơn và Tổng Yên Lăng Nhà thờ Thái Đắc còn là một công trình kiến trúc mang đậm bản sắc xứ Nghệ

* Họ Đặng Xuân: Là dòng họ di c- từ các tỉnh Miền Bắc đến

Bạch Ngọc từ 1354 Ông tổ lập nghiệp là Đặng Ngọc Quang từng đ-ợc vua Trần Dụ Tông (1341-1369) phong t-ớc hầu Đời thứ 3 ông Đặng Minh Bích đậu Tam khoa tiến sỹ vào những năm 1478, 1481, 1484, đ-ợc bổ nhiệm làm th-ợng th- bộ hộ Sau đó ông xin nghỉ quan về dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho dân Đến nay, họ Đặng Xuân ở Bạch Ngọc đã đến đời thứ 24 Trong sự nghiệp dựng n-ớc và giữ n-ớc của các

Một số dòng họ tiêu biểu ở Đông Sơn, Đô L-ơng, Nghệ An

Truyền thống văn hoá dòng họ Nguyễn Nguyên

Theo gia phả của dòng họ nh- sau: “Họ Nguyễn Nguyên ta chính ở thông Nghiêm Thắng (nay thuộc xã Đông Sơn), con cháu phâ n tán nhiều xã trong huyện Đô L-ơng, Thanh ch-ơng, Yên Thành, Nghi Lộc Tr-ớc là họ Nguyễn Hữu, sau này can tiến sỹ H-ờng Lô lúc đi thi đổi chữ lót là Nguyên” [4;2]

Tổ đời thứ nhất của dòng họ theo gia phả có ghi: “Tiên tổ khảo

Nghiêm phủ thị trực nghị phủ quân, Tiên tổ tỷ nghiêm phi chính thất Nguyễn Thị, Thị Đoan Nhữ phu nhân”

Mả song táng của ông bà tại Lòi Nậy, Nghiêm Thắng vẫn còn nguyên sơ, không bị đắp phủ, nằm giữa vùng cây cối um tùm Điều này cho thấy, tổ tiên của họ Nguyễn Nguyên không phải di cư từ nơi khác đến mà thực sự sinh sống tại địa bàn này từ lâu đời Mộ cổ tại Lòi Nậy là bằng chứng rõ ràng về nguồn gốc ổn định của cộng đồng người Nguyễn Nguyên trong vùng Đây là minh chứng lịch sử quan trọng giúp khẳng định đất đai và tổ tiên của họ gắn bó mật thiết với khu vực này qua nhiều thế hệ.

Nhị thế tổ khảo phu trai thị cung phác th- quân Nhị thế tổ tỷ phu trai chính thất thị thuận đậu phu nhân

Mả song táng tại cồn phù đồ, ruộng gần hói cầu vực Từ tổ đời thứ

2 đến tổ đời thứ 3, thứ 4 đều xây dựng và sinh s ống trên mảnh đất Đông Sơn

Tổ đời thứ 5 của họ có tên huý Can là Hộ, mộ song táng tại cồn Cây Thị (Tràng Sơn) do thầy địa lý Nguyễn Ân S xác định đất, không đắp mồ nổi mà bao phủ bởi rừng núi tự nhiên Qua nhiều đời, khu vực này vẫn có giấy lăng nhượng để họ làm mộ địa, và các nhà khoa học đã tu lý phần mộ, xây dựng mộ chí rõ ràng Tên huý Can của bà là Ngọc, mộ nằm ở xứ Ao cồn Phương Liên (Liên Sơn), trên ruộng 1 sào rưỡi, không đắp mồ xây mộ, mà trồng cây bao quanh để bảo vệ.

Tổ đời thứ 6 tên huý là Chiêu, giỗ 17-10 âm lịch, mả ở Đại Sơn, không có mồ nổi, bao vùng núi để bảo thủ cây cối um tùm Sau khi ngài qua đời tại quân cơ, thi hài đã được đem về táng tạm một nơi trên vùng núi này Nhà của Ngài là Phạm Thị Đinh mong muốn cải táng phần mộ nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn, chưa thành công Nhờ sự giúp đỡ của nhà địa lý Nguyễn Ân S, đất đai được chọn trong vùng núi Đại Sơn để an táng ngài Vợ của ngài tên huý là Đại, người họ Phạm Đình, sinh được hai con trai là Hữu H-ng và Hữu Kính Sau khi chồng qua đời, nhờ vào sự an sưng, gia đình ban đầu nghèo khổ đã phát triển giàu có, thái bình, con cháu sống lâu và thành đạt.

Hữu H-ng hiệu Đô Linh là con trai trưởng của bà Chánh thất, sinh trưởng tại làng Kim Khê, huyện Nghi Lộc, và là người có nhiều con cháu đông đúc, phát triển thịnh vượng Bà Chánh thất sinh được một con trai tên Hữu Nho, cùng với hai con trai khác là Hữu Chân và Hữu Thể, cũng như ba cô con gái tên Tri, Trang và Hào, góp phần tạo nên dòng họ truyền thống, vững mạnh.

Con trai thứ hai của gia đình là Hữu Kính, sinh ra chi Nguyễn Nguyên tại Đông Sơn, Đô Lương Ông trở thành tộc trưởng đại tôn và trung chi của họ Nguyễn Hữu, đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn truyền thống và sự đoàn kết của dòng họ tại chánh quán.

Tổ đời thứ 7 tên huý là Kính, nhà giàu có và có nhiều con cháu thi đậu làm quan Vợ ông tên huý Bích, họ Đặng, sinh tại Phúc Yên (Ngọc Sơn), và họ có tổng cộng 11 người con gồm 7 trai và 4 gái Trong số đó, con trai thứ 6 tên huý Đơn, 26 tuổi, thi đậu giám sinh, thường gọi là Can giám sinh, là người đã sinh hạ chi họ Nguyễn Nguyên tại Đông Sơn và được xem là tổ đời thứ 8 Ông Đơn có 7 con trai và 4 con gái, trong đó con trai thứ 5 sinh ra chi Nguyễn Nguyên tại Đông Sơn (Can thị độc).

Ngài là con thứ 5 can thị độc thuộc gia phả trung chi tổ đời thứ

Hữu Tố, còn gọi là Hy Đán, sinh năm Đinh Sửu (1787), nổi bật với học vấn xuất sắc, tài cao và nhiều lần được triều đình bổ nhiệm làm quan Ông có một vợ chính tên Yên, sinh năm 1792 tại làng Phú Thọ, là con của quan binh Nguyễn Cảnh Nguyên thuộc đội Hùng Tứ Vợ chính của ông kết hôn khi mới 16 tuổi và sinh được 6 con trai, 3 con gái, trong đó con trai thứ 4 tên Thành, đỗ Tiến sĩ Hường Lô ở tiểu chi thứ, góp phần làm nổi bật truyền thống hiếu học và phấn đấu của gia đình.

3 hiện đang đ-ợc thờ phụng trong di tích nhà thờ họ Nguyễn Nguyên

Nhà thờ họ Nguyễn Nguyên ở Đông Sơn thờ chính hai vị ông Nguyễn Hữu Tố và Nguyễn Nguyên Thành, đại diện cho tổ đời thứ 11 thuộc tiểu chi thứ 3 của dòng họ Tiến sĩ Nguyễn Nguyên Thành có 9 người con trai và 7 người con gái, phản ánh sự phát triển và đông đúc của dòng họ qua các thế hệ.

Con cháu họ Nguyễn Nguyên dù đi xa khắp mọi miền đất nước, vẫn không thể quên được nơi sinh ra tổ tiên của mình Thôn Nghiêm Thắng, nay thuộc xã Đông Sơn, là nơi ghi dấu truyền thống và cội nguồn thiêng liêng của dòng họ Nguyễn Nguyên Đây là địa danh quan trọng tượng trưng cho lòng tự hào và nét đẹp văn hóa của cộng đồng, nơi lưu giữ những giá trị lịch sử quý báu và gắn bó tình cảm thiêng liêng giữa các thế hệ.

2.3.1.2 Truyền thống văn hoá của dòng họ

Dòng họ Nguyễn Nguyên ở Đông Sơn nổi bật với truyền thống hiếu học lâu đời, đã có nhiều bậc tiền nhân đỗ đạt xuất sắc, góp phần làm rạng danh dòng họ Ngày nay, con cháu dòng họ không ngừng nỗ lực học tập và phấn đấu để giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp đó.

Nguyễn Hữu Tố sinh năm Đinh Tỵ (1787), lớn lên trong một xã hội mới ổn định, nơi giáo dục được tổ chức và tự học tại nhà ngày càng phát triển Ông theo học vụ Hoàng Giáp Bùi Lịch ở Việt Yên, học rất giỏi và tiến bộ nhanh, đậu cử nhân khoa Kỷ Mão (1819) dưới triều Gia Long khi nhà Nguyễn mới bắt đầu tổ chức kỳ thi hội Trong quá trình sự nghiệp, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng như Tri huyện Lôi Dương (Thanh Hóa), làm việc giỏi và được thăng chức tại phủ Thọ Xuân; sau đó trở về kinh giữ chức Hàn lâm viện tu soạn Năm 1831, ông được bổ làm Đốc học tỉnh Quảng Nam, và mùa xuân năm Nhâm Thìn (1832), sau khi mẹ già yếu, ông xin về làng để phụng dưỡng, nhưng sau đó được bổ nhiệm trở lại làm Đốc học tỉnh Quảng Nam Năm 1837, ông được triệu về kinh nhận chức Viên ngoại Bộ Lễ, thể hiện sự nghiệp thăng tiến trong triều đình nhà Nguyễn.

(1841) ông đ-ợc thăng Lang Trung Do có công lao lớn triều đại phong kiến nhà Nguyễn gia tặng sắc phong

Hoàng đế nhấn mạnh tầm quan trọng của các quan trong việc duy trì trật tự đất nước và khuyến khích họ nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Nguyễn Hữu Tố, Lang Trung bộ lễ, là một quan thanh liêm, cẩn trọng, có năng lực xét duyệt công việc, vừa có kế hoạch vừa thực hiện hiệu quả, được biết đến với khả năng giữ gìn chính thuật và thường xuyên khuyên ngăn tại triều đình Để ghi nhận những đóng góp này, nhà nước đặc cách phong tặng danh hiệu “Khẩu Thuận đại phu, Lễ Bộ lang trung ngõ hầu”.

Vào mùa đông năm Giáp Thìn (1844), ông làm án sát tỉnh Hưng Yên và sau đó, vào mùa xuân năm Bính Ngọ (1846), ông về kinh chúc thọ vua rồi tổ chức tiệc mừng thọ 60 tuổi tại quê nhà Năm Đinh Mùi (1848), ông được điều chuyển sang vị trí mới, thể hiện sự nghiệp thăng tiến và uy tín trong giới quan lại.

Bố Chánh tỉnh H-ng Yên Hộ lý Tuần vụ quan phòng ông đ-ợc triều đại phong kiến nhà Nguyễn gia tặng sắc phong

Người được thăng chức vào ngày 26/6 năm Tự Đức 1 (1848) là Nguyễn Hữu Tố, người đã thể hiện xứng đáng và quen thuộc với công việc Chính sách của triều đình đã chuẩn bị cho ông thăng chức làm Bố chánh sứ thừa tuyên, đồng thời ông còn đảm nhận các vai trò như Ủy viên Hội đồng án sát, hộ lý cai tỉnh, tuần phủ quan phòng tại Hưng Yên.

Truyền thống văn hoá dòng họ Nguyễn Cảnh

Dòng họ Nguyễn Cảnh là một trong những dòng họ lớn ở Đô Lương, nổi bật với truyền thống văn hóa lâu đời được xây dựng và phát triển từ thời lập họ đến nay Nhánh họ Nguyễn Cảnh tại Đông Sơn là một phần quan trọng, có nguồn gốc từ dòng họ Nguyễn Cảnh ở Tràng Sơn, Đô Lương.

Cụ tổ của dòng họ Nguyễn Cảnh Lữ quê ở làng Thiên Lý, huyện Đông Triều, và đã chạy loạn đến huyện Gia Viễn, Thanh Hóa trước khi lánh vào làng Tuân Lý, huyện Hương Sơn, thuộc Nam Châu Người con trai duy nhất của cụ tổ là Nguyễn Cảnh Luật, đời thứ hai của dòng họ, đã theo các xã Trương Cát, Hòa Lâm, Đông Liệt để sinh sống tại xóm Ngọc Sơn sau khi cha mất Trong thời kỳ ly loạn, Nguyễn Cảnh Lữ đã trở thành thầy thuốc, sử dụng bầu giác và kim chích để cứu người Sau này, Nguyễn Cảnh Lữ sinh hạ được một người con trai tên là Cảnh, tiếp nối dòng họ.

Nguyễn Cảnh Cảnh là tổ đời thứ hai của dòng họ Nguyễn Cảnh, và ông lấy vợ họ Nguyễn, người xã Trung Lâm, huyện Thanh Chương Ông bà có bảy người con gồm hai con gái và năm con trai, trong đó con trai lớn là Đạo, con thứ là Địch, con thứ ba là Tống Liệt, con thứ tư là Bá Cầm, con thứ năm là Huy, con thứ sáu là Huyên và con thứ bảy là Lạc Con trai thứ năm, Nguyễn Cảnh Huy, lớn lên nổi bật với tài trí và dũng cảm, góp phần quan trọng vào dòng họ Nguyễn Cảnh.

Nguyễn Cảnh Huy là tổ đời thứ t- của dòng họ, nổi bật với tài năng và cuộc sống ý nghĩa Cuối đời, ông trở về Mùng Quán để cày cấy, phát triển kinh tế gia đình Ông lấy vợ là con gái họ Hiến Lãng, sinh ra người con tên là Noãn Sau đó, ông lấy thêm vợ là người con gái nhà họ Thái tên Tế, khi mới ba tuổi Năm Tân Tỵ (1521), bà họ Thái sinh ra người con trai đặt tên là Hoan, tức Tấn quận công, là một nhân vật có ý nghĩa trong dòng họ.

Dòng họ Nguyễn Cảnh tại Nghệ An đã phát triển qua nhiều thế hệ, bắt đầu từ tổ đời thứ 5 với Nguyễn Cảnh Hoan, tiếp theo là Nguyễn Cảnh Kiên thuộc tổ đời thứ 6 và Nguyễn Cảnh Hà thuộc tổ đời thứ 7, thể hiện sự truyền đời và phát triển bền vững của dòng họ qua các thế hệ.

Dòng họ Nguyễn Cảnh có lịch sử truyền đời lâu dài, bắt đầu từ tổ đời thứ 8 Nguyễn Cảnh Quy thuộc tổ đời thứ 9, tiếp theo là Nguyễn Cảnh Lĩnh ở tổ đời thứ 10 Sau đó, Nguyễn Cảnh Việt thuộc tổ đời thứ 11 và Nguyễn Cảnh Quy được xem là tổ đời thứ 12 của dòng họ.

Họ Nguyễn Cảnh ở Đông Sơn, Đô Lương được thành lập bởi Nguyễn Cảnh Quy, hay còn gọi là Lơn, con thứ tư của Nguyễn Cảnh Việt Ông được phong hiệu "Tằng Tổ Khảo Lê Trung Hưng Dực Tán Công Thần" và tước phong Vệ Đô Yển Đức Hầu Nguyễn Cảnh Quy bắt đầu lập gia đình từ năm 16 tuổi, góp phần giữ gìn và phát triển dòng họ Nguyễn Cảnh qua nhiều thế hệ ở Đông Sơn, Đô Lương.

Có hai ng-ời vợ: Chính thất là bà Nguyễn Thị Tần, á thất là bà Nguyễn Thị Hiền

Dòng họ Nguyễn Cảnh ở Đông Sơn thuộc chi thứ 12, dòng họ đang phát triển và trải qua 20 đời, với con cháu ngày càng đông đúc Truyền thống lâu đời của dòng họ Nguyễn Cảnh ngày càng được bồi đắp, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa gia đình.

Nhà thờ dòng họ Nguyễn Cảnh tại Đông Sơn, Đô Lương được xây dựng để thờ các vị tổ tiên của dòng họ Nguyễn Cảnh và bà Tú Lường, người con dâu của dòng họ Đây là nơi thờ cúng trang trọng, thể hiện lòng kính trọng của toàn thể dòng họ đối với các tiền nhân Ngôi nhà thờ nằm ở vị trí trang nghiêm trong hậu cung của từ đường, là biểu tượng của truyền thống uống nước nhớ nguồn và tình cảm gia đình gắn bó qua nhiều thế hệ.

2.3.2.2 Truyền thống văn hóa của dòng họ

Dòng họ Nguyễn Cảnh chi nhánh tại Đông Sơn - Đô Lương nổi bật với truyền thống khoa bảng, đặc biệt là bốn anh em ruột đều là những nhà khoa học xuất sắc Các ông đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ ở nhiều ngành khác nhau, bao gồm Nguyễn Cảnh Toàn (sinh năm 1926), là Nhà giáo và Thứ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo; Nguyễn Cảnh Cầu (sinh năm 1928), Nhà giáo ưu tú và Tiến sĩ y khoa; Nguyễn Cảnh Hồ (sinh năm 1930), Tiến sĩ triết học và Nhà giáo ưu tú; và Nguyễn Cảnh Cầm (sinh năm 1937), Nhà giáo và Tiến sĩ ngành thủy lợi Họ là hậu duệ của tứ hầu Nguyễn Cảnh Cái, quê ở xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, thể hiện truyền thống hiếu học và cống hiến của dòng họ.

Nguyễn Cảnh Toàn là một trong bốn người con của gia đình đại khoa nổi bật, đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền khoa học nước nhà Ông đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ với nghị lực vươn lên, vượt qua mọi khó khăn, tự nghiên cứu, tự học và sáng tạo Từ một giáo viên vùng quê xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, ông trở thành Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà Giáo nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển giáo dục và khoa học Việt Nam Các cống hiến của ông chủ yếu tập trung vào lĩnh vực khoa học, giáo dục và quản lý, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đất nước.

- Trên lĩnh vực khoa học

Nguyễn Cảnh Toàn đã nỗ lực sáng tạo và đóng góp nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực toán học, cung cấp tài liệu quý giá cho học sinh và sinh viên Ông là tác giả của các sách xuất bản như "Hình học xạ ảnh" (1961-1962), "Cơ sở hình học" (1961), "Đại số và Giải tích Tenxơ" (1965), và "Hình học cao cấp" (1976-1979) Từ năm 1964 đến 1995, ông giữ vai trò Tổng biên tập tạp chí "Toán học và Tuổi trẻ", góp phần quan trọng vào việc phổ biến kiến thức toán học trong cộng đồng.

Nguyễn Cảnh Toàn là nhà khoa học toán lý thuyết hàng đầu của Việt Nam và thế giới, nổi bật với các phát minh toán học được quốc tế đánh giá cao Các đóng góp của ông đã góp phần nâng cao uy tín của nền toán học Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện sự xuất sắc trong lĩnh vực toán lý thuyết.

Nguyễn Cảnh Toàn là người tiên phong trong lĩnh vực giáo dục, đi đầu trong việc đề xuất các nguồn tư tưởng chiến lược nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước Ông chú trọng nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật và khoa học cho đội ngũ giáo viên, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của ngành giáo dục Việt Nam.

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là người đã thành công trong việc thử nghiệm đề tài nghiên cứu sinh trong nước, mở ra bước đột phá cho nền giáo dục Việt Nam Thành công này đã tạo nền móng để chính thức mở lớp đào tạo nghiên cứu sinh trong nước vào năm 1976 Nhờ đó, hàng nghìn phó giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ được đào tạo trong nước mà không cần phải ra nước ngoài, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học của đất nước. -Nâng tầm bài viết chuẩn SEO của bạn với dịch vụ tóm tắt và viết lại chuyên nghiệp, giúp bài viết rõ ý như trường hợp Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn! [Tìm hiểu thêm](https://pollinations.ai/redirect/2699274)

Ngày đăng: 22/08/2023, 00:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đại Việt sứ ký toàn th-, Tập II (1972), NXB Khoa học xã hội, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sứ ký toàn th-, Tập II
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1972
[2]. Đại Việt sử kí toàn th-, Tập III (1972), NXB Khoa học xã hội, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn th-, Tập III
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1972
[3]. Gia phả họ Nguyễn Nguyên (1964), bản viết tay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Nguyễn Nguyên
Năm: 1964
[5] Hoàng Thanh Đạm, Phan Hữu Thịnh (1996), Đời nối đời vì n-ớc, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời nối đời vì n-ớc
Tác giả: Hoàng Thanh Đạm, Phan Hữu Thịnh
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1996
[16]. Ninh Viêt Giao, Tục thờ thần và thần tích Nghệ An (2000), NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An
Tác giả: Ninh Viêt Giao
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2000
[18]. Nguyễn Minh San (1994), Tiếp cận tín ng-ỡng dân dã Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận tín ng-ưởng dân dã Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh San
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1994
[21]. Tạp chí nghiên cứu Lịch sử (tháng 5/1976), Viện sử học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Lịch sử
Nhà XB: Viện sử học Việt Nam
Năm: 1976
[22]. Tạp chí nghiên cứu Lịch sử (tháng 5/1992), Viện sử học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Lịch sử
Nhà XB: Viện sử học Việt Nam
Năm: 1992
[23]. Tân Kỳ truyền thống làng xã (1992), NXB KH-XH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân Kỳ truyền thống làng xã
Nhà XB: NXB KH-XH Hà Nội
Năm: 1992
[6]. Danh ngôn Nghệ Tĩnh, Tập III (1947), NXB Nghệ Tĩnh Khác
[7]. Học chế quan chế (1991), NXB Văn hoá thông tin Khác
[8]. Khoa bảng Nghệ An (2000), Sở VHTT Nghệ An Khác
[9]. Lịch sử Việt Nam Tập I (1971), NXB Khoa học xã hội Hà Nội Khác
[10]. Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, Tập I, (1998), NXB Nghệ An Khác
[11]. Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, Tập II, (1999), NXB Nghệ An Khác
[12]. Lịch sử Đảng bộ Đô L-ơng, Tập I (2005), NXB Nghệ An Khác
[13]. Lịch sử Đảng bộ xã Đông Sơn, bản viết tay Khác
[14]. Lý lịch di tích nhà thờ Nguyễn Cảnh (2007), Sở VHTT Khác
[15]. Lý lịch di tích nhà thờ họ Nguyễn Nguyên (2007), Sở VHTT Khác
[17]. Nghệ An di tích danh thắng, Tập I (2001), Sở VHTT Nghệ An Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w