1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ nôm đạo lý của nguyễn trãi và nguyễn bỉnh khiêm

91 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ Nôm Đạo Lý Của Nguyễn Trãi Và Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 799,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy mà vấn đề nghiên cứu thơ Nôm đạo lý cũng đã được nhiều tác giả quan tâm, trong đó có những tác giả được đặc biệt chú ý là Nguyễn Trãi thế kỷ XV; Nguyễn Bỉnh Khiêm thế kỷ XVI; Nguy

Trang 1

thơ nôm đạo lý của nguyễn trãI và nguyễn bỉnh khiêm

khoá luận tốt nghiệp

ngành s- phạm ngữ văn

Trang 2

không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà xảy ra ở nhiều nước cùng chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa như Nhật Bản, Triều Tiên, các nước Đông Nam Á….Ở

tư cách là ý thức hệ chính thống, Nho giáo ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống

xã hội, trong đó có văn học Sự chi phối của Nho giáo sâu sắc, nhiều mặt và qua nhiều nhân tố khác nhau Tất cả làm hình thành trong cả vùng một loại hình văn nghệ sĩ, một loại hình văn học nghệ thuật, viết cùng một thể loại, theo cùng một

quan niệm văn học cùng những tiêu chuẩn về cái đẹp nghệ thuật

Nho giáo xác định cho văn học nghệ thuật vai trò chức năng nhất định Trong các vai trò đó, Nho giáo đặc biệt coi trọng chức năng giáo huấn của văn chương Theo Nho giáo, văn học phải có chức năng truyền đạt đạo đức của thánh hiền, thể hiện Đạo, có tác dụng cải tạo con người Nho giáo xác định văn học nghệ thuật là phương tiện giáo hóa, là công cụ chính trị để tổ chức xã hội Nho giáo chỉ chấp nhận một thứ văn học chí thiện, hoàn toàn hợp đạo đức

Với quan niệm như trên, Nho giáo đã đưa đến một hệ quả tất yếu là nội dung đạo lý rất phổ biến trong văn chương đặc biệt là trong thơ của các nhà Nho Các nhà Nho trực tiếp phát ngôn cho những tư tưởng chính thống của phong kiến Họ là những người thấm nhuần nhất tinh thần của Nho giáo, vì thế, sáng tác văn chương với họ, cốt lõi là để nói đến đạo lý, giáo dục mọi người 1.2 Trong nền văn học Việt Nam, chúng ta biết đến Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ với tư cách là hai nhà thơ lớn mà đồng thời còn là hai vị đại Nho Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều được đào tạo theo Nho học, trưởng thành khi Nho giáo chiếm địa vị độc tôn Hai ông sáng tác khá nhiều thơ văn, cả chữ Hán và chữ Nôm, đặc biệt là với bộ phận văn học viết bằng chữ

Nôm, nội dung đạo lý khá phổ biến Nguyễn Trãi với tập thơ Quốc âm thi tập gồm 254 bài, Nguyễn Bỉnh Khiêm có tập Bạch Vân quốc ngữ thi hiện còn 177

bài Về mặt số lượng thì thơ chữ Hán của hai tác giả đều chiếm số lượng nhiều hơn Nhưng trong bộ phận thơ chữ Nôm, nội dung đạo lý lại được thể hiện khá

Trang 3

Nho chân chính, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phát ngôn cho tư tưởng Nho gia, phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức bấy giờ Vì vậy qua thơ,

ta thấy Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ hiện lên ở tư cách là một nhà thơ mà còn ở tư cách là một nhà tư tưởng, một nhà đạo đức Thơ ca đã thấm nhuần và hòa quyện cùng với các vấn đề đạo đức của xã hội

1.4 Giải quyết đề tài này góp phần dạy học tốt những tác phẩm của Nguyễn Trãi

và Nguyễn Bỉnh Khiêm

2 Mục đích yêu cầu của việc giải quyết đề tài

2.1 Nhận thức được chủ đề đạo lý trong thơ quốc âm của Nguyễn Trãi và

Nguyễn Bỉnh Khiêm

2.2 Khái quát và lý giải sự tương đồng và khác biệt ở chủ đề đạo lý trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm

2.3 Làm rõ ảnh hưởng của văn học Trung Quốc và văn học dân gian đối với chủ

đề này ở thơ hai tác giả

3 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu ngữ văn phổ biến, trong đó chú trọng phương pháp so sánh

4 Lịch sử vấn đề

4.1 Vấn đề thơ Nôm đạo lý

Đạo lý là một nội dung quan trọng trong sáng tác của nhiều tác giả thời trung đại Do vậy mà vấn đề nghiên cứu thơ Nôm đạo lý cũng đã được nhiều tác giả quan tâm, trong đó có những tác giả được đặc biệt chú ý là Nguyễn Trãi (thế kỷ XV); Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỷ XVI); Nguyễn Đình Chiểu (thế kỷ XIX) … là những tác giả có số lượng thơ Nôm lớn đề cập đến vấn đề đạo lý Có thể kể đến một số tác giả có nhiều bài nghiên cứu về thơ Nôm đạo lý như Trần Đình Hượu,Vũ Thị Băng Thanh, Vũ Thanh, Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ,… với nhiều bài viết bàn về vấn đề

này như Nguyễn Trãi và Nho giáo [8, 84]; Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền

Trang 4

4.2 Thơ Nôm đạo lý Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi là một tác giả lớn của văn học trung đại, là người để lại tập thơ

Nôm đầu tiên (Quốc âm thi tập) Đây được coi là tập đại thành của thơ Nôm trung

đại, là vốn quý của văn học dân tộc Đã có nhiều tác giả đi sâu vào tìm hiểu giá trị tập thơ với nhiều khía cạnh từ ngôn ngữ, thể thơ, đề tài, chủ đề, tư tưởng,… Riêng

về vấn đề đạo lý, là một vấn đề khá nổi bật trong tác phẩm đã có một số công trình:

Trong công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, tác giả viết:

“Trong thơ chữ Hán ta không thấy loại thơ giáo huấn và thơ vịnh cảnh vật… Trực tiếp nói về cách cư xử, đạo làm người là những bài thơ Bảo kính cảnh giới… Đây không phải là loại viết cho mình mà cũng không phải viết cho mọi người Với cách xưng hô “hoạn nạn phù trì huynh đệ” (bài 18) ta có thể đoán đây là một thứ gia huấn viết cho con cái trong nhà Thế nhưng không phải tác giả có dụng ý viết thành một tập thơ có đầu có đuôi như các sách gia huấn khác mà là những bài riêng rẽ

giải thích từng việc trong cách xử thế …” [4, 99]

Trong bài Quốc âm thi tập, tác giả nhận định: “những bài trong Quốc âm

thi tập có tính chất giáo huấn rất rõ rệt Tất nhiên đây là nền luân lý Nho giáo trong xã hội phong kiến xưa với khung cảnh sinh hoạt gia đình, thôn dã, hương

đảng Tác giả đã đưa ra những bài học ăn ở cho người ta…” [8, 640]

Trong bài Thơ Nôm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả cho rằng: “Ở đây,

Nguyễn Trãi đã đi vào nhiều đề tài phong phú: đề vịnh (bao gồm vịnh phong cảnh, tứ thời, nhân vật lịch sử, ngôn ngữ, trữ tình, giáo huấn,… Trong tác phẩm Ngôn chí, ngoài những ý tưởng cao siêu, những nguyên tắc đạo lý lớn, có phần trình bày cụ thể các mối quan hệ bình thường giữa mọi người ở phạm vi hẹp: xóm làng, thầy trò, bạn bè,… Chính từ những mối quan hệ này Nguyễn Trãi khuyên nhủ, bảo ban, phê phán… tạo thành một bộ phận mới trong thơ Thơ là thơ

giáo huấn nhưng rất chân tình và đôi lúc đậm sắc thái hiện thực…” [10, 560]

Trang 5

lớn của tập thơ Có nhiều tác giả lớn đã đi vào tìm hiểu vấn đề này:

Trong bài Luận về Nguyễn Bỉnh Khiêm (qua thơ Nôm), tác giả viết: “Thi

văn cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm gồm những bài vịnh nhân tình thế thái có tính cách khuyên răn người đời…” [10, 646] và tác giả đã đi vào phân tích những bài vịnh nhân tình thế thái đó

Trong bài Nguyễn Bỉnh Khiêm và Bạch Vân quốc ngữ thi, nhà nghiên cứu nhận

định: “Tính cách chung của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là giáo huấn Ngay cả lúc đề cập đến tình cảm, những lúc tác giả bước qua loại trữ tình mà tính cách giáo huấn vẫn rõ

rệt: Nguyễn Bỉnh Khiêm nói đến tình không phải vì tình mà để xương minh đạo đức

Với tính cách giáo huấn ấy, văn Nguyễn Bỉnh Khiêm giản dị, mộc mạc như là lời nói: nhiều bài thơ đọc xong ta không có cảm tưởng đó là thơ nữa, nghĩa là một công trình nghệ thuật hoa mỹ mà là bài giải thích về luân lý: sáng

sủa, dễ hiểu, thiết thực” [10, 487]

Trong bài Nguyễn Bỉnh Khiêm với Bạch Vân quốc ngữ thi, nhà nghiên

cứu cho rằng: “Trong thơ Bạch Vân quốc ngữ thi đều không có nhan đề hoặc chia ra tiết mục gì hết, mà nối nhau thành một chuỗi bài vô đề trong đó có nhiều

bài đại ý là khuyên răn giáo huấn người đời về phương diện luân lý” [10, 490]

Những ý kiến trên đây là những gợi ý quý báu cho chúng tôi Kế thừa những thành tựu đã đạt được, ở khóa luận này chúng tôi sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về phương diện nội dung và hình thức của thơ Nôm đạo lý của hai nhà thơ Từ đó thấy được những điểm tương đồng và khác biệt trong thơ Nôm đạo lý của hai tác giả, đồng thời qua đó thấy được đóng góp to lớn của hai tác giả cho nền văn học nước nhà

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến việc giải quyết đề tài

Chương 2: Sự tương đồng của thơ Nôm đạo lý Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Chương 3: Sự khác biệt của thơ Nôm đạo lý Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 6

1 Quan niệm của Nho giáo về chức năng giáo hóa của văn chương

Nho giáo là một học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài ở Đông Nam Á kể từ khi ra đời ở Trung Quốc cho đến thế kỷ XIX Ở Việt Nam đến thế

kỷ XIX, Nho giáo vẫn được coi là học thuyết chính thống của nhà nước phong kiến Nho giáo tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có văn học Tác động của Nho giáo đến văn học lâu dài, sâu sắc và nhiều mặt Nho giáo hình thành một loại văn sĩ, một loại hình văn học nghệ thuật, hệ thống thể loại, quan niệm văn học theo những tiêu chuẩn về cái đẹp nghệ thuật Nho giáo đã xác định cho văn học một vai trò xã hội nhất định, quy định những phát triển của

nó và vận mệnh của của văn học trong lịch sử

Nho giáo ảnh hưởng đến văn học trung đại Việt Nam với tư cách một quan niệm về xã hội, về con người, về tự nhiên và về văn học Về cơ bản, Nho giáo không phải là một tôn giáo, nhưng nhiều khi người ta hiểu nó như một tôn giáo vì những tư tưởng của ý thức hệ này chủ yếu thể hiện dưới hình thức đạo đức và tính chất kinh viện của Nho giáo hết sức nổi bật Khổng Tử - người sáng lập Nho giáo có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của văn học đời sau Sự ảnh hưởng của Khổng Tử đến văn học không chỉ là do tấm gương sáng của cuộc đời, thái độ trân trọng văn hóa mà chủ yếu là do một quan niệm về văn học được Khổng Tử vạch ra và các nhà Nho đời sau củng cố dần Quan tâm hàng đầu trong mục tiêu đào tạo con người của Khổng Tử là có đạo đức, trước hết là trung, tín, hiếu, đễ và cao hơn là yêu thương mọi người, hướng đến điều nhân Nho giáo đề cao chức năng giáo hóa của văn chương, tập trung ở mệnh đề

“văn dĩ tải đạo” Đạo hay đạo lý là quan niệm làm người Đạo lý là phép tắc đối xử trong xã hội, ai cũng biết và tuân thủ, giữ gìn Đạo là phép tắc, quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với số đông, với xã hội Đạo đức phong kiến là đạo đức phù hợp với bản chất của chế độ phong kiến, dựa trên nguyên tắc phục tùng thứ bậc Như vậy sáng tác thơ văn là phải chuyển tải những chuẩn mực này

Trang 7

Xét qua tứ thư (Luận ngữ, Trung dung, Đại học, Mạnh Tử) và ngũ kinh

(Thi, Thƣ, Lễ, Dịch, Xuân Thu) ta thấy trung tâm sự chú ý của Nho giáo là Đạo

và Đức Đạo của trời là Âm - Dương, đạo của đất là Cương - Nhu, đạo của người là Nhân- Nghĩa Đức được biểu hiện qua các chuẩn mực tam cương (vua tôi, thầy trò, cha con) và ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) trong đó trung với vua được xem là nội dung cơ bản nhất của học thuyết này

Nho giáo quan niệm nhà thơ sáng tác văn chương là để bộc lộ tâm chí của mình Vì thế thơ trở thành bộ phận lớn nhất, trữ tình thành nét chủ đạo trong văn học Nhưng trữ tình không phải là để bộc bạch cái tôi cảm xúc mà bộc bạch cái

ta đạo lý Vì nhằm mục đích giáo hóa nên văn học có chức năng truyền đạt chứ không có chức năng phát hiện, phản ánh Văn học hướng về bắt chước thể hiện Đạo chứ không thiên về việc đi sâu tìm tòi, cố gắng sáng tạo để có được những hình thức mới phản ánh hiện thực hiệu quả

Nho giáo ảnh hưởng đến văn học trung đại Việt Nam với tư cách là một học thuyết tức là một hệ thống các quan điểm về thế giới, về xã hội, về con người, về lý tưởng cho nên cũng có một quan niệm về văn học riêng Theo quan niệm của Nho giáo, văn học có một nguồn gốc linh thiêng, một chức năng xã hội cao cả Nho giáo đã nhìn thấy ở văn chương khả năng to lớn làm xúc động, cải tạo con người Nho giáo đã trao cho văn học chức năng vinh dự và một vị trí cao quý, xác định văn học nghệ thuật là một công cụ giáo hóa chính tâm, chế dục, là công cụ để tổ chức xã hội

Nho giáo ảnh hưởng trực tiếp đến con người qua thế giới quan của người viết Cách Nho giáo hiểu về thế giới, xã hội, con người đặc biệt là việc đề cao cương thường, đòi hỏi con người có trách nhiệm, có tình nghĩa… Nho giáo chi phối cảm xúc, cách suy nghĩ của người cầm bút làm cho họ quan tâm hàng đầu đến đạo đức, lo lắng cho thế đạo nhân tâm, băn khoăn nhiều về xuất xử Đứng trước những sự vật bình thường, họ đều tìm kiếm những ý nghĩa đạo lý Nói tâm tình cũng là nói đạo lý Họ đánh giá tác phẩm cũng theo cách tác phẩm ấy có nói được nội dung đạo lý hay không, có tác dụng giáo huấn hay không Bởi vậy đạo

lý trở thành một nội dung nổi bật, thành tiêu chí để đánh giá văn học

Trang 8

Quan niệm về cái hay cái đẹp cũng chi phối đến ngòi bút của các nhà thơ, nhà văn Văn chương là phải để giáo hóa, có quan hệ đến thế đạo nhân tâm, có tác dụng di dưỡng tính tình nên phải có nội dung đạo lý Không những về nội dung không được nói cái vô đạo thiếu trang nhã mà về hình thức biểu đạt cũng phải thấm nhuần tinh thần khoan thứ nhân nghĩa Nho giáo hướng văn học vào truyền đạt đạo lý, “chở đạo” như nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã viết:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

chứ không phải phản ánh cái thực

Tóm lại, có thể thấy dưới sự ảnh hưởng của Nho giáo, xã hội phong kiến

đề cao tuyệt đối đạo đức luân lý Đạo đức là giá trị tối cao chi phối mọi giá trị thuộc các lĩnh vực chính trị, pháp luật, thẩm mỹ,… Quan niệm “văn dĩ tải đạo”

đề cao chức năng giáo huấn của văn chương là quan điểm chính thống, chi phối đến sự vận động và phát triển của văn học

2 Thơ đạo lý

2.1 Cơ sở hình thành

Quan niệm của Nho giáo về chức năng giáo hóa của văn chương chính là

cơ sở tư tưởng hình thành dòng thơ đạo lý Mệnh đề “văn dĩ tải đạo” trở thành quan niệm chi phối sự phát triển của toàn bộ nền văn học trung đại

Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều sinh ra trong gia đình giàu truyền thống Nho học, lại được đào tạo trong nhà trường Nho giáo, vì vậy trong sáng tác văn chương hai tác giả chịu ảnh hưởng của quan niệm văn chương Nho giáo là đương nhiên Bên cạnh đó, nội dung đạo lý trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm còn bắt nguồn từ truyền thống đạo lý dân tộc Dân tộc Việt Nam đã xây dựng được một nền đạo lý tốt đẹp và rất đề cao, coi trọng, giữ gìn truyền thống ấy Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều là những người hết lòng lo lắng vì dân vì nước, suốt đời trăn trở day dứt với đạo lý dân tộc Những lời khuyên răn của hai tác giả, dù cho mình hay cho mọi người đều là những sự trải nghiệm qua đời sống thực tế của chính bản thân Bởi vậy nó không phải là những lời nói công thức, sách vở khô khan mà gần gũi, thiết thực với mọi người Người đọc nhận thấy những lời khuyên ấy rất dễ tiếp thu chứ không gò bó, câu

Trang 9

nệ Có được điều đó chính là ở tấm lòng luôn trăn trở day dứt suốt đời ôm mối tiên ưu lo cho dân cho nước đến già chưa nguôi của hai tác giả

2.2 Một số đặc điểm của thơ đạo lý

2.2.1 Về nội dung

Thơ đạo lý thường đề cập đến hai nội dung chính là tu thân và giữ gìn đạo

lý dân tộc Nho giáo rất coi trọng việc tu thân Quan tâm hàng đầu trong mục tiêu đào tạo con người là có đạo đức, trước hết là trung, tín, hiếu, đễ và cao hơn

là yêu thương mọi người Khổng Tử cho rằng trong xã hội bấy giờ chia ra hai hạng người là quân tử và tiểu nhân và chỉ có đức nhân ở người quân tử chứ không có ở kẻ tiểu nhân Tu thân được xem là là bước đầu của người quân tử Người quân tử là người có học, mà sự học của mọi người cốt là ở sự sửa mình, cho nên học thuyết Nho giáo chủ trương con người “từ thiên tử cho đến thứ nhân ai ai cũng phải lấy tu thân làm gốc (“Tự thiên tử dĩ chi ư thứ nhân, nhất thị

giao dĩ tu thân vi bản”– Đại học) Muốn sự sửa mình cho thành người có đức

hạnh hoàn toàn thì trước hết phải lo giữ cái tâm của mình cho chính, cái ý của mình cho thành rồi mới cách vật trí tri được Tâm đã chính, ý đã thành thì cái minh đức của mình thành ra mẫn tuệ, xem xét điều gì cũng hợp với đạo lý Trong việc tu thân, Khổng giáo lấy sự thành ý làm trọng yếu Giàu thì hiển hiện

ra ở nhà, có đức tốt thì hiển hiện ra ở người, trong bụng quang đãng thì thân thể

có vẻ ung dung, thư thái Bởi thế cho nên người quân tử phải cần giữ ý của mình cho thành thực

Khổng giáo cũng hướng đến dạy cho con người trở thành người trung chính (người quân tử) Để trở thành người quân tử thì phải lấy sự học làm trọng

yếu Sách Lễ ký viết rằng “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo”

(Ngọc không dũa không thành, người không học không thành đạo) Khổng giáo rất coi trọng việc học tập noi gương những tấm gương sáng Và chính người cai trị cũng phải nêu gương tốt cho đời sau học tập Do đó người quân tử cần phải biết coi trọng sự tu thân

Tiếp thu quan niệm của Nho giáo, người Việt Nam đề cao phương châm sống cần phải tu thân sau mới đến “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Tu thân đã trở thành phương thức ứng xử trong cuộc đời, trở thành nhân cách của nhà Nho

Trang 10

Nhân cách ấy được biểu hiện ở chỗ sự ý thức về bổn phận: bổn phận làm bề tôi, làm con, làm vợ… Cá nhân chỉ là cá nhân khi làm tròn bổn phận với người khác Sự tu thân của kẻ sĩ không chỉ được biểu hiện ở việc hoàn thành nhiệm vụ với vua chúa, đất nước mà còn ở chỗ làm tròn bổn phận với làng xã

Bên cạnh nội dung tu thân thì nội dung giữ gìn đạo lý dân tộc cũng là một chủ đề lớn của thơ đạo lý Học thuyết Nho giáo là học thuyết chú trọng đạo đức

và tình cảm, lấy đạo đức và tình cảm làm đầu Khổng Tử cho rằng xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa người với người trong đó quan hệ chính trị đạo đức là mối quan hệ cơ bản, và ông đã thâu tóm thành ba mối quan hệ rường cột gọi là tam cương: quân - thần (vua tôi); phụ - tử (cha con), phu - phụ (chồng vợ) Nho giáo căn cứ vào năm mối quan hệ cơ bản đưa ra năm luân thường: quan hệ cha - con; vua - tôi; chồng - vợ; anh - em và bạn- bè Để giáo dục tất cả các quan hệ

xã hội, đưa xã hội loạn trở nên trị, Khổng Tử nêu ra thuyết chính danh Danh và thực (còn gọi là phận) phải thống nhất với nhau Danh là khái niệm dùng để chỉ

vị trí, vai trò, chức vụ, địa vị trong nấc thang trật tự trên dưới trong quan hệ xã hội Khái niệm “phận” chỉ phận sự của người đó bao gồm nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người ứng với danh của họ Chính danh là mỗi người làm đúng với danh của mình, không lấn sang việc của người khác Thực hiện tốt được điều này là thực hiện tốt được mục đích chính trị Thực hiện được mục đích chính trị thì thì thực hiện được chính danh: vua sáng, tôi hiền, xã hội có kỷ cương, dân được an cư lạc nghiệp

Thấm nhuần tư tưởng Nho giáo, cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều rất đề cao việc tu thân và coi trọng việc giữ gìn đạo lý dân tộc Những điều hai ông tiếp thu đều dựa trên cơ sở truyền thống đạo lý dân tộc chứ không phải

là sự tiếp thu máy móc, rập khuôn Dân tộc ta tự hào có một truyền thống văn hóa lâu đời với bản sắc độc đáo Truyền thống ấy được kết tinh trong biểu tượng làng xã, tính cộng đồng, tính tự trị là những đặc trưng cơ bản Con người Việt Nam vừa trọng nghĩa vừa trọng tình đã tạo nên những nét độc đáo trong cách ứng xử, vừa có sự bắt buộc lại vừa phóng khoáng

Ý thức tu dưỡng bản thân và ý thức dân tộc đã góp phần hình thành ở Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm nhân cách cao đẹp, xứng đáng được người

Trang 11

đời sau ngưỡng mộ và trọng vọng Hai ông đã trở thành những cây đại thụ rợp bóng suốt thời trung đại

Chữ Nôm là chữ cấu tạo trên cơ sở chữ Hán để ghi âm tiếng Việt Sự ra đời của chữ Nôm là một thành tựu có ý nghĩa văn hóa xã hội hết sức to lớn, thể hiện sự trưởng thành của dân tộc Tuy còn một số hạn chế nhất định, nhưng với chữ Nôm, ông cha ta đã sáng tạo được bộ phận văn học có giá trị, tồn tại song song bên cạnh bộ phận văn học chữ Hán là bộ phận văn học chữ Nôm

Văn học chữ Nôm xuất hiện sau và không phong phú bằng văn học chữ Hán nhưng do sử dụng ngôn ngữ dân tộc nên rất gần gũi, quen thuộc và dễ được tiếp thu đối với người dân Việt Nam Ngoài quan niệm văn học Nho giáo chính thống, văn học chữ Nôm còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quan niệm văn học dân gian và các quan niệm văn học phi Nho giáo nên rất dễ truyền đạt các quan niệm đạo đức của con người Việt Nam Văn học Nôm, bên cạnh việc sử dụng các thể loại văn học Trung Quốc, còn sáng tạo được những thể loại văn học dân tộc như thơ Nôm Hàn luật, lục bát, hát nói, song thất lục bát,… mang đậm tính dân tộc Cảm hứng thẩm mỹ trong thơ Nôm cũng phong phú hơn so với thơ chữ Hán Đặc biệt là văn học chữ Nôm sử dụng nhiều chất liệu của văn học dân gian, nhất là các thành ngữ, tục ngữ, ca dao Bởi vậy văn học Nôm rất dễ để thể hiện các triết lý dân gian, các kinh nghiệm ứng xử, các chuẩn mực đạo đức đã được đúc kết từ bao đời

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời và giàu truyền thống đạo lý Truyền thống đạo lý tốt đẹp ấy được lưu giữ trong kho tàng tục ngữ, ca dao mà âm vang của nó còn ngân mãi đến ngày nay Những nhà thơ ưu tú của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,… đều tìm thấy trong kho tàng ấy nguồn cảm hứng sáng tạo dồi dào Họ đã đưa tiếng nói của tổ tiên ta trong tục ngữ, ca dao vào dòng thơ quốc âm của mình,

Trang 12

coi đó là dòng sữa mẹ Như vậy có thể nói giữa hai bộ phận thành ngữ, tục ngữ,

ca dao và thơ quốc âm đều có nội dung là chuyển tải nội dung đạo lý

Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là hai nhà thơ lớn của dân tộc Thơ Nôm của họ đã tiếp thu nhiều thành tựu của văn hóa dân gian, văn học dân gian Tục ngữ, thành ngữ, ca dao, những đặc điểm của thanh điệu tiếng Việt, tất cả những khả năng phong phú ấy của ngôn ngữ dân gian đã được Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm khai thác một cách tài tình, để cho hình tượng thơ có nhiều màu sắc dân tộc và âm điệu phong phú Bởi thế, những vần thơ chữ Nôm mặc

dù nói về đạo lý, là vấn đề có vẻ khô khan nhưng trong thơ hai tác giả hầu như rất ít bài rơi vào nhạt nhẽo, sáo mòn Trái lại nó tạo nên sự tinh tế khi miêu tả những diễn biến tâm tư, tạo nên độ sâu sắc, thâm trầm trong suy tư và thế sự Trong thơ hai ông ta gặp khá nhiều thành ngữ, tục ngữ dân gian quen thuộc:

sừng mọc quá tai; gần mực thì đen gần đèn thì sáng; ở bầu thì tròn ở ống thì dài;… Đặc biệt là chúng đã đi vào thơ một cách nhuần nhuyễn, không thua gì

những điển cố văn học Trung Quốc được đưa vào văn học chữ Hán

Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm còn tìm mọi cách dịch

từ ngữ, thành ngữ Hán ra tiếng Việt, ngay cả một số từ ngữ các nhà Nho cho là chứa đựng những nội dung đạo lý phức tạp, thâm thúy, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn dịch ra tiếng Việt với một cung cách rất mạnh dạn Chẳng hạn:

“hành chỉ” dịch thành “đi nghỉ”, “đại dụng” dịch thành “dùng lớn”, “đại ẩn” dịch thành “ẩn cả”,… Trong thơ quốc âm, người đọc dễ dàng bắt gặp những điển cố, hiện tượng văn học Trung Hoa đã được Việt hóa bên cạnh những ý tưởng văn liệu rút từ kho tàng tục ngữ ca dao của quần chúng Đó là một nỗ lực lớn rất đáng quý trọng của hai tác giả nhằm xây dựng một nền văn học viết bằng tiếng nói của dân tộc trên cơ sở phát huy những đặc sắc của văn học dân gian Việt Nam và học tập một cách sáng tạo những tinh hoa văn hóa của các nước láng giềng mà trước hết là Trung Quốc

Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bắt nhịp được hơi thở của lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân, đã đưa vào trong thơ Nôm của mình nội dung triết lý, răn dạy đạo đức một cách nhuần nhị Có được điều đó là do hai ông đã có một quãng đời sống ở nông thôn, có sự am hiểu văn hóa, văn học dân

Trang 13

gian Đồng thời đó còn nhờ tài năng bản lĩnh và tinh thần ý thức dân tộc cao độ Làm thơ tiếng Việt khi ngôn ngữ tiếng Việt chưa chiếm lĩnh vị trí đáng kể trong văn học dân tộc, hai tác giả đã có vai trò to lớn trong việc khẳng định vai trò quan trọng của văn học chữ Nôm

Sự tiếp thu ảnh hưởng của văn học dân gian tuy là nằm trong quy luật chung của sự tác động, ảnh hưởng qua lại giữa nền văn học dân gian và văn học viết, trong đó có văn học trung đại, nhưng với sự mở đầu của Nguyễn Trãi và sự tiếp bước của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì sự đóng góp của họ rất đáng được coi trọng

Trang 14

CHƯƠNG 2: SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA THƠ NÔM ĐẠO LÝ

NGUYỄN TRÃI VÀ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

1 Sự tương đồng về nội dung

Qua việc khảo sát thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi thấy chủ đề về đạo lý được nói đến nhiều Cụ thể khảo sát 254

bài thơ Nôm trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi [6; 31], chúng tôi đã tìm

được 119 bài thơ nói về đạo lý, chiếm 46,8% thơ Nôm Nguyễn Trãi Số bài này

nằm rải rác ở các phần Ngôn chí, Mạn thuật , Trần tình, Thuật hứng, Tự thán, Tức

sự và tập trung nhiều nhất ở Bảo kính cảnh giới Sau đây là danh sách thống kê cụ

giận, Huấn nam tử

Khảo sát 117 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tập Bạch Vân

quốc ngữ thi tập [7; 18], chúng tôi thấy có 110 bài nói về đạo lý chiếm 62,1%,

cụ thể gồm những bài sau: Bài 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 13, 14, 15, 18, 19, 20,

21, 24, 27, 29, 30, 31, 34, 35, 39, 42, 43, 44, 46, 47, 49, 52, 53, 56, 57, 58, 62,

63, 64, 65, 67, 69, 70, 71, 72, 74, 75, 77, 78, 80, 81, 82 , 83, 86, 94, 95, 98, 99,

100, 101,102, 103, 104, 107, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 119, 120,

Trang 15

Ở mục Mạn thuật có 8 trên tổng số 14 bài: Bài 1, 3, 5, 7, 8, 9, 14

Ở mục Trần tình có 4 trên tổng số 9 bài: Bài 1, 5, 6, 7

Ở mục Thuật hứng có 13 trên tổng số 25 bài: Bài 1, 2, 5, 7, 8, 9, 10, 13

1.1.2 Nội dung tu thân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trong quá trình xâm nhập và phát triển, Nho giáo đã chiếm địa vị độc tôn

và được đưa lên làm quốc giáo Song, bên cạnh đó người Việt Nam còn tiếp thu các tư tưởng khác như tư tưởng Phật giáo, tư tưởng Lão - Trang Ba tư tưởng

Trang 16

này cùng tồn tại và ảnh hưởng đến người Việt Nam tuy mức độ có khác nhau Nho giáo trong nhiều thế kỉ là ý thức hệ chính thống rất hữu hiệu cho công việc trị nước nhưng khô khan, phiến diện, do đó phải được bổ sung bằng tư tưởng Phật giáo và tư tưởng Lão - Trang Trong quá trình tiếp thu, các ý thức hệ này đã được khúc xạ vì thực tiễn xã hội việt Nam và vì ý thức hệ bản địa

Việc xâm nhập của ba hệ tư tưởng đã dẫn đến hệ quả tất yếu là tư tưởng của các nhà Nho thường không thuần nhất Bên cạnh tư tưởng Nho giáo họ còn tiếp thu các yếu tố của Phật giáo và Lão- Trang Ta rất dễ tìm thấy các yếu tố này trong tư tưởng của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhưng về cơ bản Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn là người phát ngôn cho tư tưởng của

và hành động của đạo Nho Đã nhiều lần trong thơ mình, hai tác giả đã nhận mình là nhà Nho và đề cập đến trách nhiệm của “kẻ tư văn”, “người quân tử” Chính điều ấy đã khiến cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn chú trọng đến việc tu thân Và nội dung tu thân ở hai tác giả cũng có những điểm tương đồng 1.1.2.1 Một tấm lòng luôn hướng về nghĩa quân thân

Đọc thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm ta luôn bắt gặp tâm sự canh cánh hướng về nghĩa quân thân Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm có khá nhiều bài nói về tấm lòng thủy chung của mình đối với vua, với chúa Đó là tấm lòng luôn mong muốn được báo đáp công ơn thiên tử Song, tấm lòng đó của hai ông không phải là ngu trung Họ luôn mơ ước một xã hội vua sáng tôi hiền, có thể đem hết tài năng ra giúp đời Mục đích cuối cùng cũng là vì dân vì nước Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều ra làm quan rồi cáo quan về ở ẩn,

ca ngợi lối sống nhàn dật của các bậc ẩn sĩ Thế nhưng với cả Nguyễn Trãi và Nguyền Bỉnh Khiêm, “thân” nhàn nhưng “tâm” đâu có nhàn khi mà lúc nào cũng canh cánh khuôn nguôi một tấm lòng luôn hướng về nghĩa quân thân Đằng sau cuộc sống nhàn dật tưởng như một vị tiên khách ấy là một tấm lòng lo lắng về đạo vua tôi, luôn day dứt về nghĩa vụ của kẻ bề tôi chưa báo đáp được ơn chúa

Đọc Quốc âm thi tập, ta thấy hiện lên một tấm lòng trung quân ái quốc đầy

nhiệt huyết, luôn mong muốn báo đáp nghĩa quân thân:

Bui có một niềm chăng nữa trễ

Đạo làm con lẫn đạo làm tôi

Trang 17

( Ngôn chí, bài 1)

Quân thân chưa báo lòng canh cánh

Tình phụ cơm trời áo cha

( Ngôn chí, bài 7) Với Nguyễn Trãi điều làm ông day dứt là mình chưa báo đáp được ơn chúa, công cha Ông coi đó là một món nợ “nợ quân thân”, một món nợ mà ông đeo đẳng đến già chưa nguôi:

Cơm áo chưa đền Nghiêu Thuấn trị Tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh

( Thuật hứng, bài 20)

Nợ cũ , chước nào báo bổ

Ơn thầy, ơn chúa, lẫn ơn cha

(Tự thán, bài 24) Nguyễn Trãi quay về Côn Sơn ở ẩn nhưng không phải là quay lưng lại với cuộc đời Ở ẩn là bất đắc dĩ, còn tấm lòng ông luôn hướng về vua với một tấm lòng trung quân ái quốc, mong muốn được đem hết tài năng để phụng sự Tấm lòng

(Thuật hứng, bài 23) Tiếng “sơ chung” là tiếng chuông báo hiệu trời đã về sáng Thế là suốt một đêm thao thức, rồi suốt một đời thao thức Nhưng không phải về số phận mình, mà trước sau vẫn là sự lo lắng cho vận mệnh của đất nước, điều mà suốt cuộc đời Nguyễn Trãi đeo đuổi

Cũng giống Nguyễn Trãi, gần một thế kỉ sau ta lại bắt gặp cùng một tấm

lòng lo việc nước đến già chưa nguôi Nguyễn Bỉnh Khiêm khi lui về ở ẩn đã

viết những câu thơ đầy đắc chí :

Cửa trúc vỗ tay cười khúc khích

Trang 18

Hiên mai vắt cẳng hát nghêu ngao

Song đằng sau thú vui cảnh nhàn dật đó ẩn chứa một tấm lòng cảm hoài luôn hướng đến nghĩa quân thân:

Quân thân thề hết lòng thờ một Xuất xử cầu chưa đạo được hai

(Bài 14) Chủ trương ở ẩn cầu nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là để trốn trong hành lạc, rượu chè như Lưu Linh, Nguyễn Tịch trong Trúc Lâm thất hiền mà chỉ

là sự lánh đời trong bó củi, cần câu, nhà thông ngõ trúc với cơm chiều muối biển, đồ thư một quyển và ngư tiều mấy gã Tấm lòng Trạng Trình vẫn không quên ơn chúa, công cha, không phụ tình nước non:

Giầu có phận là ơn chúa Được làm người bởi đức cha

Song điều dễ nhận thấy là cả ở Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm tấm lòng trung với vua không phải là sự “ngu trung”, mà đó là một tấm lòng với vị chúa anh minh Đã nhiều lần Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc tới vua Nghiêu vua Thuấn với mong ước có được một vị vua sáng như thế để có thể đem hết tài năng ra phò giúp, làm một bề tôi hiền:

Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền

(Tự thán, bài 14)

Đã ngoài mọi sự chăng còn ước Ước một tôi hiền chúa thánh minh

(Bạch Vân quốc ngữ thi, Bài 29)

Xã hội thời Nghiêu Thuấn là một xã hội lý tưởng, là ước mơ của các bậc nho sĩ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gặp nhau ở hoài bão xây dựng một đất

nước thịnh vượng Dân giầu đủ khắp đòi phương để cho mọi người có thể là Đời

thái bình ca khúc thái bình Xã hội lý tưởng theo mong ước của Nguyễn Trãi và

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một xã hội phong kiến có “vua sáng tôi hiền”, “tể tướng hiền tài chúa thánh minh” và nhân dân được an cư lạc nghiệp, trong khắp thôn

Trang 19

cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận, oán sầu Như vậy ta thấy hai nhân cách,hai tư tưởng đã gặp nhau ở một lí tưởng cao đẹp, rất đáng được trân trọng

Có thể nói, tuy lui về ở ẩn nhưng tấm lòng của hai tác giả vẫn cánh cánh khôn nguôi một mối nợ với dân với nước Rút lui khỏi chốn quan trường, tìm về với cảnh điền viên nhưng hai nhà thơ vẫn hướng về vua với một tấm lòng son sắt Đó là cái đạo của người quân tử, đạo của kẻ bề tôi

1.1.2.2 Xa lánh vòng danh lợi, giữ mình trong sạch

Để tu thân, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều rút lui khỏi chốn quan trường, tìm về với cảnh điền viên, xa lánh vòng danh lợi, sống cuộc đời trong sạch của một bậc ẩn sĩ Cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều ôm ấp lý tưởng phò vua giúp nước làm nên nghiệp lớn Song, lý tưởng ấy không phải nhằm mục đích bon chen đến chốn cửa quyền, tham lấy chút danh lợi cho bản thân, mà là để thực hiện giấc mộng “kinh bang tế thế” của bậc quân tử Khi được thời thì ra làm quan (xuất), đem cái tài của mình để phò vua bình trị thiên hạ, khi lý tưởng không thực hiện được thì thôi làm quan, lui về ở ẩn (xử), Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm

đã thực thi đúng đạo lý nhà nho Ngay cả khi làm quan hay lui về ở ẩn thì vòng danh lợi không bao giờ làm cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm bận tâm

Trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi nói khá rõ điều đó:

Phú quý, treo sương, ngọn cỏ Công danh, gửi kiến, cành hòe

(Tự thán, bài 3)

Phú quý chẳng tham, thanh tựa nước Lòng nào, vạy vọ, hơi hơi

(Ngôn chí, bài 2) Phú quý công danh chỉ là cái thoáng qua trong đời, ông nào đâu có màng đến Ông ra làm quan là để giúp dân, giúp nước chứ đâu phải vì chút chức tước, bổng lộc Dù ở đâu Nguyễn Trãi vẫn luôn giữ được cho mình cái cốt cách thanh cao cuả bậc chính nhân quân tử Mặt khác, bằng sự trải nghiệm của bản thân, ông đã nhận ra “cửa quyền ” là chốn nhiều hiểm hóc, còn con đường danh lợi thì “cực quanh co” Nguyễn Trãi nào có ham muốn chen chân vào chốn ấy Ông học theo

Trang 20

những bậc ẩn sĩ xưa kia như Đào Tiềm, Hứa Do, Sào Phủ, Bá Di, Thúc Tề… tìm

về nơi ẩn dật để giữ mình được trong sạch:

Ở chớ nề hay học cổ nhân Lánh mình cho khỏi áng phong trần

Ông chỉ muốn về quê cũ tìm cây trúc, cây thông hơn là ở chỗ cây đào, cây mận :

Tường đào ngõ mận ngại thung thăng

(Mạn thuật, bài 1)

Những màng lẩn quất vườn hoa cúc

Ắt ngại lanh chanh áng mận đào

(Thuật hứng, bài 7) Cái ý muốn ấy, một thế kỉ sau ta lại tìm thấy ở Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng rút lui khỏi vòng danh lợi, đi vào cuộc đời ẩn dật giữa thiên nhiên Công danh phú quý chỉ còn là một giấc mơ, những ám ảnh vật chất

đã gạt bỏ sang một bên, những tiếng xôn xao không đủ làm bận tâm trí khách nhàn:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 79)

Áng công danh xem trễ nải

(Bạch Vân quốc Ngữ thi, bài 20) Con đường công danh đầy bon chen, xô bồ đâu có phải là nơi để di dưỡng tinh thần Chỉ có xa lánh chốn ấy, tìm về với cây cỏ chim muông, sống giữa thiên nhiên thì con người mới thấy “nhàn”, mới được yên tĩnh, tự tại Bởi vậy mà ông đã không ngần ngại đánh đổi công danh phú quý để có được cuộc sống “nhàn” đó :

Để rẻ công danh đổi lấy nhàn

Am Bạch Vân rỗi nhàn hứng Dặm hồng trần biếng ngại chen

(Thơ nôm, bài 13) Cũng như Nguyễn Trãi, cái mà Nguyễn Bỉnh Khiên “tham” là tham nhàn “với những ngõ thông đường trúc” chứ không tham công danh với “tường đào ngõ mận”:

Trang 21

Nhà thông đường trúc lòng hằng mến Cửa mận tường đào bước ngại chen

(Thơ nôm, bài 44) Như vậy với Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm lánh xa vòng danh lợi chính

là để tu thân, để giữ mình được trong sạch Đó không chỉ là lối sống đã được Nho giáo vạch ra mà còn bắt nguồn chính từ sự trải nghiệm của bản thân với sự tiếp thu những yếu tố của Lão –Trang Cái cốt cách thanh cao của bậc quân tử chính là điều mà ta đều nhận thấy ở hai nhân cách cao đẹp Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm

1.1.2.3 Giữ trọn đạo của người quân tử Trong thơ Nôm của mình, đã nhiều lần Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc đến đạo trung dung, nhắc nhở mình nhớ cho bền đạo trung dung “Trung” là chính giữa không lệch về bên nào, “Dung” là bình thường, không thái quá mà cũng không bất cập Giữ được đạo trung dung là giữ được sự điều hòa Theo Khổng Tử, người giữ được đạo trung dung rất khó, chỉ có người quân tử mới giữ được đạo trung dung, còn kẻ tiểu nhân thì không có Đạo trung dung chính là cái đạo của người quân tử

Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc nhiều đến đạo quân tử ấy, có khi còn gọi là đạo thường, đạo thường thường :

Làm người thì giữ đạo trung dung Khăn khắn dặn dò thửa lòng

Biết đạo thời trung, chăng có tây

(Thơ nôm, bài 10)

Đạo ở mình ta lấy đạo trung

(Thơ nôm, bài 112 Như vậy theo Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đạo trung dung đem lại cho

ta sự an nhàn về tinh thần, đem lại cho con người hạnh phúc vì ta không căm giận, thù ghét ai quá đáng, ta không chỉ trích, tranh đua với người quá độ để

Trang 22

người thù ghét ta, hãm hại ta Giầu không tự đắc, phú quý không khoe khoang, thất bại không sầu thảm, tất cả đều ở nhịp độ vừa phải Đó chính là bí quyết của hạnh phúc, bí quyết của cuộc sống Con người không nên cố chấp mà phải sáng suốt trước hoàn cảnh, tránh mọi hành động quá khích cũng như thái độ nhút nhát, e dè, sợ hãi Có như vậy mới giữ được sự quân bình trong cuộc sống

Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thấm nhuần triết lí của Khổng giáo về đạo trung dung Giữ cho mình có được đạo trung dung chính là cách để trở thành người quân tử, khác xa những kẻ tiểu nhân Đó là cách mà hai tác giả lựa chọn để tu thân, để giữ mình luôn được trong sạch

1.1.2.4 Sống giản dị hòa hợp với thiên nhiên

Cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều yêu thích cuộc sống thanh cao, ghét thói đời ô trọc và đều tìm thấy sự hòa đồng với thiên nhiên, tìm thấy niềm vui bầu bạn với cỏ hoa, mây núi Xa lánh vòng đời danh lợi, tìm về với thiên nhiên cũng là cách để di dưỡng tinh thần của những bậc nho sĩ Từ bao đời nay thiên nhiên đã trở thành người bạn tri kỉ, người bạn tâm giao của con người Với Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vậy Tìm về với cuộc sống thôn dã, vui với thiên nhiên không chỉ là vì lý tưởng chính trị không thực hiện được mà hơn hết

là vì tấm lòng yêu mến thiên nhiên, yêu cuộc sống trong sạch, thanh cao Chúng ta đều biết Nho học đã vạch ra cho các sĩ tử cả thái độ nhập thế tích cực và rút lui cao đạo Song, ở Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm tư tưởng sống cuộc đời nhàn dật, ẩn sĩ còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo và triết học Lão – Trang Rất

dễ tìm thấy trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm bên cạnh nỗi canh cánh

lo đời còn có sự ngợi ca cuộc sống gần gũi với tự nhiên tạc tỉnh canh điền tự tại

nhân (đào giếng lấy nước uống, cày ruộng lấy cơm ăn, làm người tự tại)

Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm từng giữ những trọng trách trong triều đình Nhưng khi về ở ẩn, ít ai có thể ngờ tới cuộc sống của những vị quan đầu triều lại giản dị như thế Đây là cuộc sống của bậc “khai quốc công thần” Nguyễn Trãi:

Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh

Áo bô quen cật vận xênh xang

( Tức sự, bài 4)

Cơm ăn chẳng quản dƣa muối

Trang 23

Áo mặc nài chi gấm thêu

( Thuật hứng) Cuộc sống của vị Trạng Trình, từng là đại quan triều đình cũng giản dị không kém:

Nhàn được thú vui hay nấn ná Bữa nhiều muối bể chứa tươi ngon

(Thơ nôm, bài 32)

Khát uống chè mai hơi ngột ngột Sốt kề hiên nguyệt gió hiu hiu

(Thơ nôm, bài 3) Nếu nơi ở của Nguyễn Trãi là “con lều”, “am trúc”, “hiên mai” mang dáng dấp của một ẩn sĩ giản dị và thanh tịnh:

Con lều mòn mọn đẹp sao Trần thế chăng cho bén mỗ hào

( Thuật hứng, bài 7)

Cây rợp tán che am mát

( Ngôn chí, bài 20) Thì nơi ở của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là nơi ở của bậc ẩn sĩ, với am quán, con lều Nguyễn Bình Khiêm đã mở am Bạch Vân, sống cuộc đời tự tại Bạch Vân

am chỉ là cảnh ruộng đồng bình thường, không phải là nơi bồng lai tiên cảnh, thế

mà tâm hồn phóng khoáng của cụ đã biến cảnh ấy thành một thế giới riêng biệt, thanh khiết, bình yên, khác hẳn cảnh phồn hoa, náo nhiệt:

Ba gian am quán lòng hằng mến Đòi chốn sơn hà mặt đã quen

( Thơ nôm, bài 8)

Bóng hoa lệ động am chưa quét

(Thơ nôm, bài 11) Không chỉ sống gần gũi hòa nhập với thiên nhiên, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm còn hướng đến những thú vui rất tao nhã thể hiện cốt cách thanh tao của những bậc nho sĩ Đó là niềm say mê đọc sách thánh hiền:

Thiêu hương đọc sách quét con am Chẳng bụt chẳng tiên ắt chẳng phàm

Trang 24

( Tự thán, bài 27)

Đêm thanh làm bạn sách hai biên

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 7)

Đó còn là thú uống chè, thưởng trăng đầy tao nhã:

Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng

và Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm đến lao động vì sinh kế Hai ông từng là đại quan triều đình, vả lại nhu cầu vật chất của người ẩn dật chẳng đáng là bao Với người

ẩn sĩ, lao động là để gần gũi với tự nhiên, để tìm lại bản nhiên của mình đã bị mai một ít nhiều trong chốn thanh vân, là để di dưỡng tinh thần Ta có thể bắt gặp niềm vui lao động trong rất nhiều câu thơ của Nguyễn Trãi:

Tả lòng thanh vị núc nác Vun đất ải lảnh mùng tơi

( Ngôn chí, bài 9)

Một cày một cuốc thú nhà quê Áng cúc lan xen vãi đậu kê

( Thuật hứng, bài 3) Nguyễn Bình Khiêm cũng nói đến niềm vui lao động không kém phần sôi nổi:

Một mai, một cuốc, một cần câu

( Bạch Vân quốc ngữ thi )

Cày mây, cuốc nguyệt, gánh yên hà

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 19) Lánh xa chốn phồn hoa tìm về nơi vắng vẻ, đời sống của người ẩn dật thanh nhàn giữa tự nhiên Tìm về với thiên nhiên, hai nhà thơ đã tìm thấy sự trong sạch, hồn nhiên, không vướng bận chút danh lợi nào Hòa nhập với thiên nhiên, con người tìm lại được cảm giác thanh thản, được là chính mình:

Trang 25

Láng giềng một áng mây bạc Khách khứa hai ngàn núi xanh

(Bảo kính cảnh giới, bài 60)

Thấy dặm thanh vân bước ngại chen Thanh nhàn ta sẽ dưỡng thân nhàn

(Bạch Vân quốc ngữ thi , bài 8) Thiên nhiên cho ẩn sĩ thức ăn để sống, giúp họ thanh sạch cả về vật chất và tinh thần Bên gốc cây ẩn sĩ nghiền ngẫm sự đời, “ngộ” ra cái thoáng qua và sự vĩnh cửu, thấy sự giàu sang mà người đời theo đuổi thật vô nghĩa:

Phú quý treo sương ngọn cỏ Công danh gửi kiến cành hòe

( Quốc âm thi tập)

Rượu đến cội cây ta sẽ nhấp Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

( Bạch Vân quốc ngữ thi) Chỉ có cuộc sống của bậc ẩn sĩ mới thật cao quý

Trở về với thiên nhiên, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhìn thấy niềm vui của cuộc sống Đó là niềm vui trong lao động, niềm vui trong những thú vui tao nhã, thanh cao Điều đấy làm sao có được trong chốn quan trường đầy bon chen, vụ lợi Trái tim hai nhà thi sĩ đã hòa nhịp cùng thiên nhiên, đã tìm được nơi để di dưỡng tinh thần Những điều mà hai tác giả nhận ra sau này vẫn được các lớp nho sĩ tiếp bước

1.1.2.5 Học tập tấm gương các vị tiền bối Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều lớn lên từ “cửa Khổng sân Trình” nên tất yếu thông hiểu những tấm gương sáng của các bậc đại Nho Việc nhắc nhiều đến những tấm gương ấy không đơn giản là do quan niệm văn học chi phối (sính dùng điển tích, điển cố) mà quan trọng hơn là do ý thức học tập các bậc tiền bối, coi họ là biểu tượng sáng ngời cho sự tu thân Trong thơ Nguyễn Trãi, các tấm gương của các vị tiền bối xuất hiện khá nhiều Đó là các tấm gương trung nghĩa như Trương Lương, Tiêu Hà đời Hán, Ngụy Trưng đời Đường, Phạm Trọng Yêm đời Tống:

Trang 26

Nghiệp Tiêu Hà làm khá kịp Xưa nay cùng một sử xanh truyền

( Bảo kính cảnh giới, bài 56)

Kham hạ Trương Lương chăng khứng ở Tìm tiên để nộp ấn phong hầu

(Bảo kính cảnh giới, bài 35) Nguyễn Trãi còn khâm phục những bậc tài cao đức trọng như Chu Công, Y Doãn, Nhan Uyên:

Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng Chu

Hứa Do quản ở nước non Nghiêu

( Tự thuật , bài 5)

Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ Tay còn lọ hái cúc Uyên Minh

( Mạn thuật, bài 9) Nguyễn Trãi đã tìm thấy ở các bậc tiền bối kinh nghiệm ứng xử trong cuộc đời Khi làm quan thì luôn giữ tấm lòng trong sạch, ngay thẳng, hết lòng phò vua giúp nước Khi thất thế, không được tin dùng thì về quê vui với thiên nhiên, bầu bạn với chim muông, cây cỏ Dù ở hoàn cảnh nào ông cũng giữ được cho mình tấm lòng trung trinh, liêm khiết, sáng ngời như những vị tiền bối mà ông coi họ là tấm gương để học tập

Giống như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng hay nói đến các vị tiền bối trong thơ Nôm của mình:

Kham hạ Lưu hầu từ Hán tước Cốc thành ẩn náu Xích Tùng chơi

(Bạch Vân quốc ngữ thi , bài 24)

Trang 27

Gẫm lấy ai phù vạc Hán Đồng giang rủ một tơ câu

(Bạch Vân quốc ngữ thi , bài 31) Nguyễn Bỉnh Khiêm từng ôm ấp một sự nghiệp “kinh bang tế thế”, “phò nghiêng đỡ lệch” Bởi vậy hơn 40 tuổi ông vẫn quyết chí thi đỗ, ra làm quan với triều nhà Mạc Thế nhưng chỉ ra làm quan 8 năm, ông đã cáo lui xin về Chốn quan trường vụ lợi ấy không hợp với ông Với lại triều đình nhà Mạc thực sự chưa phải là một triều đình lí tưởng, có “vua sáng tôi hiền” như ông hằng mong mỏi Bởi thế dù đang ở đỉnh cao của danh vọng , được cả triều đình ngưỡng mộ

và trọng vọng, ông vẫn treo ấn từ quan, tìm về với cuộc sống của bậc ẩn sĩ Đó

là ông đã học tập các tấm gương như Hứa Do, Sào Phủ, Lâm Bô, Đào Tiềm… Với họ danh lợi nào có ý nghĩa gì đâu, chẳng qua chỉ là áng mây nổi Chỉ có cuộc sống thanh nhàn của ẩn sĩ mới có ý nghĩa mà thôi

Viết về các tấm gương sáng, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm như muốn dặn lòng mình học theo các bậc cổ nhân, thoát ra vòng danh lợi, sống cuộc đời nhàn dật, thanh cao, giữ trọn khí tiết của người quân tử chứ không chịu cong lưng vì năm đấu gạo Học tập theo các tấm gương sáng, nhưng chính Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là những tấm gương sáng của cốt cách thanh cao, nhân cách cứng cỏi, mãi mãi được người đời sau khâm phục, ca ngợi

Từ những sự phân tích trên, ta thấy nội dung tu thân- một biểu hiện của thơ đạo lý đã được thể hiện qua những khía cạnh đa dạng và phong phú trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Tâm hồn của hai tác giả đã có sự gặp gỡ trong trong ý thức tu thân, rèn luyện mình, góp phần làm nên những nhân cách lớn, rợp bóng suốt thế kỉ XV và XVI của hai tác giả

1.2 Chủ đề giữ gìn đạo lý dân tộc

1.2.1 Thống kê những bài có nội dung giữ gìn đạo lý dân tộc trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm

Khảo sát 254 bài thơ Nôm trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, chúng

tôi thấy có 45 bài thơ có nội dung giữ gìn đạo lý dân tộc, chiếm 17,7% gồm những bài sau:

Mục Trần tình: bài 9

Trang 28

Mục Tự thán: bài 21, 22, 23 Mục Bảo kính cảnh giới: bài số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14,

15, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 44, 45 47, 48, 49, 50, 51, 52, 54, 55, 58,

59, 60, 61, Răn sắc, Răn giận, Huấn nam tử

Trong 177 bài thơ Bạch Vân quốc âm ngữ thi tập, có 76 bài, chiếm 42,9%

từ tấm lòng nhiệt huyết, trân trọng với truyền thống đạo đức mà cha ông ta đã xây dựng được, những vần thơ đạo lý của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là lời giáo huấn khô khan, ép buộc, gò bó mà rất thiết thực, gần gũi,

dễ được mọi người tiếp thu

1.2.2.1 Khuyên con người sống có tình nghĩa

Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều sống trong xã hội thời loạn, lòng dạ con người tham lam, thói đời xảo trá, đen bạc Con người vì điều lợi mà

bỏ quên nhân nghĩa, liêm sỉ Tình vua tôi, cha con, anh em, bè bạn tan vỡ vì người đời tham lợi, xã hội nát tan vì con người tham dục Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đau xót trước cảnh ấy và mong muốn con người sống có tình nghĩa, biết yêu thương đùm bọc nhau Đó là niềm mong ước của hai thi gia

về thế đạo nhân tâm, mong ước con người biết giữ gìn đạo lý dân tộc

Trang 29

Trước hết Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên con người không nên tham lợi, tham giàu Thế gian ham giàu chạy theo lợi, xu phụ người giàu sang nhưng của cải có nhiều rồi cũng hết, không ai giữ mãi được Cho nên đừng hám giàu, đừng chạy theo của cải, lo bòn chài, lo tích trữ đến mức riết róng với người khác:

Có của bo bo hằng chực của Oán người nơm nớp những âu người

( Bảo kính cảnh giới, bài 11) Con người không nên tham lợi, tham giàu, nhưng khi giàu có rồi thì chớ cậy sang, cậy quyền thế mà chèn ép người khác Giàu sang phú quý chỉ là hư ảo, không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời Cho nên đừng cậy giàu sang mà bắt nạt kẻ hèn yếu:

Chớ cậy sang mà ép nề

( Trần tình, bài 8 )

Chớ cậy sang mà ép nề Lời chẳng phải thốt không nghe

( Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 119) Làm người chớ cậy khi quyền thế, bởi kẻ quyền thế rồi cũng có lúc tay không:

Làm người chớ cậy khi quyền thế

Có lúc bàn cờ tốt đuổi xe

Cũng đừng cậy tài mà khinh thường người khác, cũng đừng khinh thường lớp hậu thế bởi:

Sừng kia chẳng mọc, mọc hơn tai

( Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 43) Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng khuyên con người không nên ganh ghét, đố kị, đua tranh nhau, cũng không nên so đo, tính toán Con người sống ở đời giàu sang phú quý đều do thiên mệnh cho nên đừng cạnh tranh nhau làm gì Lời giáo huấn này đã nhiều lần vang lên trong thơ Nguyễn Trãi:

Ở thế nhịn nhau muôn sự đẹp Cương nhu cùng biết hết hai bên

( Bảo kính cảnh giới, bài 15 )

Ở thế an nhàn chăng có sự

Trang 30

Nghìn muôn tốn nhượng chớ đua tranh

( Bảo kính cảnh giới, bài 9 ) Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng khuyên con người sống nhường nhịn, chớ đôi co:

Người dữ thời ta miễn có lành Làm chi đo đắn nhọc đua tranh

( Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 29 )

Kẻ khó nhờ ơn có kẻ giàu Làm chi đua cãi mất lòng nhau

( Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 64 ) Con người sống nên lấy chữ “hòa” , chữ “nhẫn” làm trọng, không đua đòi, ganh ghét nhau Có như thế mới an nhàn, vô sự, không phải lo lắng phiền hà

Trong quan hệ với mọi người thì nên xử sự đạm bạc, khoan thứ Ra đến làng mạc, đối xử với đồng bào hãy lấy chữ “hòa”, chữ “nhẫn” làm tôn chỉ:

Việc ngoài hương đảng chớ đôi co Thấy kẻ anh hùng hãy nhẫn cho

(Bảo kính cảnh giới, bài 49 ) Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có hẳn bài thơ khuyên việc đối xử với họ hàng, với làng xóm:

Cậy thế chớ hề hiếp chóc

Ra ơn sá miễn yêu thương Vắt tay xin gẫm về sau với Lành dữ muôn đời tiếng để làng

( Bạch Vân quốc ngữ thi , bài 164 )

Đó là lời khuyên chân thành trong việc đối xử với anh em, họ hàng, làng xóm Con người sống ở trên đời họa phúc đến bất ngờ không thể lường trước được cho nên phải tìm bạn bè tốt, láng giềng tốt làm giao du, trong gia tộc phải lấy nghĩa yêu thương đùm bọc làm trọng Lời khuyên không trình bày như những bổn phận, không có ý nghĩa thiên lý, nhân luân mà là lời tâm sự của những người từng trải Đây là lời khuyên, kinh nghiệm xử thế hơn là những lời giáo huấn về đạo lý

Trang 31

Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm còn khuyên con người làm điều thiện, sống có đạo đức Có thể ở đời sẽ gặp phải kẻ gian tham, điều bạc ác, song đừng nên đem sự bạc ác mà sự trả sự gian tham:

Lòng thế bạc đen dầu nó biến

Ta thìn nhân nghĩa chớ loàn đơn

(Bảo kính cảnh giới, bài 12 ) Nên yêu điều thiện bởi điều thiện tự nó có một hương thơm, có khả năng hấp dẫn cải hối:

Lành người đến giữ người ruồng Yêu xạ vì nhân có mùi hương

( Bảo kính cảnh giới, bài 20 )

Chợ họp thì người đến dự, duồng Yêu xạ vì có mùi hương

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 83) Con người sống nên lấy đức làm gốc vì “tài thì kém đức một hai phân”, nên tích đức làm điều thiện để cho con cho cháu:

Tích đức cho con hơn tích của

( Tự thán, bài 44 )

Thấy câu “khuyến thiện” nhà hằng chứa

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 13 )

Dù có nghèo khó cũng không tham lam, làm điều bạc ác, bởi của cải bất nhân không phải của chầy, việc làm thất đức sẽ không giấu được mãi Dù có phải ăn xin cũng còn hơn làm điều thất nhân:

Đói khó thì làm việc ngửa tay Chớ làm sự lỗi quỷ thần hay

( Bảo kính cảnh giới, bài 44 )

Chớ có hại người mà ích kỉ Giấu người khôn giấu được tinh thần

( Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 86 ) Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều khuyên con người phải coi trọng đạo đức Có đức mà không có tài thì kém cỏi, không làm được việc gì Nhưng có tài

Trang 32

mà không có đức thì như là con hổ dữ, cái tài đó thực là đáng sợ Điều này mãi

về sau vẫn còn được Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Nguyễn Trãi

đã đề cập đến tài đức trong thơ ông:

Tài đức thì cho lại có nhân Tài thì kém đức một hai phân

( Bảo kính cảnh giới, bài 57 ) Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đề cao đạo đức như Nguyễn Trãi, coi đức cao hơn tài

Vì thế con người phải tu nhân tích đức, cố gắng làm điều thiện Quan niệm ấy bắt nguồn từ lời dạy của Khổng Tử “Vi thiện giả, thiên báo chi dĩ phúc; vi bất thiện giả, thiên báo chi dĩ họa” nghĩa là người làm điều lành thì trời lấy phúc mà báo cho, người làm điều chẳng lành thì trời lấy vạ mà báo cho Quan niệm ấy còn bắt nguồn từ “từ bi” của đạo Phật Thuyết nhân quả của đạo Phật cũng là một phương cách khuyên con người làm lành lánh dữ, vì “gieo nhân nào thì gặp quả nấy” Những lời khuyên của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay vẫn còn nguyên giá trị

1.2.2.2 Tránh xa những thói xấu Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhìn thấy cuộc đời rất dễ lôi kéo con người vào những thói xấu, vì thế cần phải biết giữ mình Đạo Phật cho rằng con người sinh ra ở đời là bị trầm luân vào bể khổ Chính lòng tham dục đã làm cho con người đau khổ Muốn sống hạnh phúc con người không chỉ lo tu hành

mà còn phải lo diệt dục, tránh xa những thói xấu Trước hết, không nên ham mê tửu sắc, đặc biệt là người là người quân tử:

Tửu sắc là nơi nghiệp há chừa Chẳng say chẳng đắm là quân tử

( Bảo kính cảnh giới, bài 52 )

“Sắc” chính là giặc, có thể làm hại người Vì thế Nguyễn Trãi đã khuyên con người tránh xa “ sắc ”:

Sắc là giặc đam làm chi Thuở trọng còn phòng có thuở suy Trụ mất quốc gia vì Đát Kỉ

Trang 33

Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi Bại tan gia thất đời từng thấy Tổn hại tinh thần sự ích chi Phu phụ đạo thường chăng được chớ Nối tông họa phải một đôi khi

(Giới sắc ) Nhà thơ đã nhìn thấu hậu quả do sắc đưa lại Những bài học mất nước do đam mê sắc dục vẫn còn đó: Vua Trụ nhà Ân- Thương vì quá mê Đát Kỉ nên bị

Vũ Vương nhà Chu lật đổ; Ngô Phù Sai vì quá mê đắm Tây Thi nên bị mất ngôi

về tay Câu Tiễn Sắc không chỉ làm tiêu vong nghiệp lớn, khuynh đảo kinh thành mà còn làm tổn hại tinh thần, bại tan gia thất

Cũng giống Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng răn lòng ham mê của con người:

Cẩn cho hay chẳng phải chơi Sắc xem dường sóng dễ xiêu người

( Bạch Vân quốc ngữ thi , bài 167 ) Bên cạnh sắc dục con người cần tránh xa rượu chè, cờ bạc vì những thói hư này chỉ làm hại người Hãy nghe Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên:

Hễ thấy ma men lánh chớ chơi Đừng theo thói tục vốn quen hơi

( Bài 168 ) Bằng những vần thơ giản dị chân thành, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện ý thức giữ gìn đạo lý dân tộc Mong ước của hai tác giả là con người sống có tình, có nghĩa, sống đúng đạo lý Có như vậy cuộc sống mới được an nhàn, xã hội mới thái bình thịnh trị Rõ ràng quan niệm đó chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo song cả hai tác giả đều có sự tiếp thu trên tinh thần dân tộc cho phù hợp với truyền thống đạo đức của người Việt Nam

Với tất cả tấm lòng của người “lo đến già chưa nguôi”, những vần thơ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm vang lên đầy sức nặng có sức mạnh giáo hóa con người, rất đáng được trân trọng và giữ gìn Có thể nói dù viết về chủ đề

tu thân hay giữ gìn đạo lý dân tộc, cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bình Khiêm đều

Trang 34

thể hiện tấm lòng nhiệt huyết, lo lắng cho thế đạo nhân tâm, luôn mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp, mọi người được sống yên vui no đủ Bởi thế tuy đã

đi ẩn song tấm lòng lo lắng cho đạo lý ở đời vẫn còn canh cánh trong thơ hai tác giả Chính điều này đã tạo nên nhân cách cao đẹp của hai nhà thơ

2 Sự tương đồng về hình thức

2 1 Thể thơ

Trong Quốc âm thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập Nguyễn Trãi và

Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự tương đồng trong việc lựa chọn thể loại Được đào tạo bài bản trong nhà trường phong kiến vì thế quy cách làm thơ hai ông đều nắm khá rõ Trong phần thơ chữ Hán, hai tác giả đều thể hiện tài năng của mình trong việc sử dụng thể thơ Đường luật Nhưng trong thơ Nôm, cả hai ông đều muốn tìm đến một thể thơ mới, phù hợp với nếp cảm nếp nghĩ và lối diễn đạt của người Việt Nam Vì thế cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều tìm đến

và sử dụng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn để nhằm diễn đạt nội dung đạo lý một cách thích hợp nhất

Cho đến nay chúng ta chưa có đủ tài liệu để trở về nguồn gốc của thể thơ thất ngôn xen lục ngôn Thể thơ này được sử dụng phổ biến suốt từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII Thể thơ 6 lời xen 7 lời có thể do các nhà thơ ta sáng tạo ra

Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm gọi thể này là loại lục ngôn

và ông định nghĩa: “thể thơ lục ngôn là thể thơ có các câu lục ngôn xen lẫn câu thất ngôn” Thật ra đây là loại thơ 6 lời xen 7 lời chứ lục ngôn thể như đúng

nghĩa của nó chỉ tìm thấy vài bài ở trong Hồng Đức quốc âm thi tập Vậy ở thời

kì này thơ Nôm có những thể sau cùng song song tồn tại: thơ sáu lời, thơ sáu lời xen bảy lời, thơ bảy lời, thơ song thất lục bát Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm thấy ở thể thơ sáu lời xen lẫn bảy lời sự thích hợp cho việc thể hiện nội dung đạo lý Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng được xem là những người sử dụng thành công nhất thể thơ này

Như vậy, việc sử dụng thể thơ này là dụng ý nghệ thuật của hai tác giả Thể thơ này được sử dụng nhiều tạo nên một âm hưởng riêng, rắn rỏi, mạnh mẽ

Ưu điểm của các câu 6 chữ xen lẫn trong bài thơ luật là đã phá vỡ được trạng thái đều đều, sự gò bó quá chặt chẽ, tạo nên những biến đổi của nhịp thơ, chỗ

Trang 35

ngắt nhịp, đáp ứng diễn biến nhanh gọn của tình huống được diễn đạt trong thơ Bài thơ luật xen sáu chữ đã tạo nên một sức tác động khác so với bài thơ luật bình thường Điều này rất thuận lợi cho việc thể hiện nội dung đạo lý, một nội dung khó nếu không biết cách diễn đạt thì rất dễ rơi vào giáo huấn khô khan Ở đây Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng tài năng và ý thức dân tộc đã khéo léo thể hiện bằng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, khiến cho ngụ ý của tác giả được bộc lộ trọn vẹn

Trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, các bài thơ thất ngôn xen

lục ngôn chiếm số lượng khá lớn Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có

186 bài, chiếm 73,2 % Trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập có 109 bài, chiếm 61,5

% Một điểm tương đồng khá thú vị nữa là cách sử dụng câu lục ngôn trong thể thơ hai tác giả sử dụng khá linh hoạt, với số lượng câu lục ngôn trong một bài

thơ từ 1 đến 7 Thống kê trong Quốc âm thi tập:

Số lƣợng câu lục ngôn

Tên bài

1 câu

Ngôn chí: bài 6, 7, 11, 14, 18, 19 Mạn thuật: 11, 12

Tự thán: 14, 19, 20, 26, 27, 29 , 37

Tự thuật : 1, 2, 10 Tức sự: bài 1 Bảo kính cảnh giới: 2, 5, 7, 10, 11, 12, 17, 19, 20,

2 câu

Ngôn chí: bài số 3, 4, 5, 8, 9, 10, 15, 17, 21 Mạn thuật: 1, 9, 13

Trần tình: 2, 3 Thuật hứng: 5, 7, 10, 11, 15, 16, 20, 21

Tự thán: 3, 9, 15, 22, 31, 38

Tự thuật: 5

Tức sự : 3, 4 Bảo kính cảnh giới: 3, 9, 16, 21, 23, 34, 36, 43, 47, 49, 50, 52,

Trang 36

56, 58, 59,60, Giới nộ

3 câu

Ngôn chí: bài số 12 Mạn thuật: 6, 14 Trần tình: 4, 5, 6, 8 Thuật hứng: 6, 13, 17, 24

Tự thán: 7, 10, 16, 17, 18, 21, 25, 30, 32

Tự thuật: 3 Bảo kính cảnh giới: 27, 28, 37, 39, 40, 41, 42, 48

4 câu

Ngôn chí: bài số 12 Mạn thuật: 5

Trần tình: 1, 41 Thuật hứng: 9, 18

Tự thán: 9, 18

Tự thuật: 4 Bảo kính cảnh giới: 32

5 câu

Ngôn chí: bài số 13 Trần tình: 9

Tự thán: 24, 28, 34

7 câu

Thuật hứng: 19, 22

Tự thán: 40

Trang 37

Trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập:

Số lượng câu lục ngôn

7 câu Bài 73 7 câu Bài 76 Bài 73

Như vậy cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều khá linh động trong việc sử dụng số lượng câu lục ngôn, trong đó các bài có 1 câu, 2 câu, 3 câu chiếm ưu thế

Bên cạnh sự tương đồng về số lượng các câu lục ngôn còn thấy có sự giống nhau trong vị trí bài thơ Các câu lục ngôn không phải được sử dụng một cách cố định, bất biến mà rất linh hoạt ở nhiều vị trí: đầu, giữa, kết Sử dụng câu lục ngôn ở đầu bài thơ nhằm đưa ra một triết lý hoặc đưa ra lời khuyên đối với mọi người:

Giàu người họp, khó người tan

( Bảo kính cảnh giới, bài 12 )

Chớ cậy sang mà ép nề

( Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 119 ) Khi sử dụng câu lục ngôn ở giữa bài thơ, hai tác giả đưa đến cho người đọc sự hiểu biết tỉ mỉ, rõ ràng, cân đối Còn sử dụng câu lục ngôn ở cuối bài thơ

Trang 38

Như vậy, có thể thấy Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã rất chú ý đến việc sử dụng câu thơ lục ngôn Cách dùng sáng tạo, linh hoạt ấy đã có tác dụng hữu hiệu trong việc truyền tải những nội dung đạo lý

Đưa câu thơ lục ngôn vào trong thơ, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm còn đưa luôn vào câu thơ ấy sự cải biến nhịp thơ Nhịp cố hữu của thơ thất ngôn

Đường thi là nhịp chẵn lẻ 4/3 hoặc 2/2/3 Quốc âm thi tập vẫn lấy nhịp chẵn lẻ

làm nền nhưng trong các câu lục ngôn lại khác Theo thống kê của tác giả Hoàng

Thị Thúy, tạp chí Sông Hương, số 152, thì trong số 432 câu lục ngôn ở Quốc âm

thi tập có những nhịp cơ bản sau: Nhịp 2/2/2, 156 câu, chiếm 36,1% ; nhịp2/4 có

19 câu chiếm tỉ lệ 4,4%, nhịp 3/3 có 246 câu chiếm tỉ lệ 59,3%, nhịp 4/2 có 6

câu chiếm 1,4%; nhịp 1/5 có 5 câu chiếm 1,2% Trong Bạch Vân quốc ngữ thi,

chúng tôi thấy có các nhịp cơ bản sau: Trong 235 câu lục ngôn có 72 câu có nhịp 2/2/2, chiếm 30,6%, 148 câu có nhịp 3/3 chiếm 62,9% Nhịp 3/3 có cơ sở từ tục ngữ dân gian Nó làm cho câu thơ chậm lại, cân đối hài hòa, có tính khái quát cao, tính triết lí sâu sắc Tính chất hoàn chỉnh, cân đối của câu thơ lục đưa đến cho các nhịp đôi của câu thơ cái vẻ trọn vẹn của một tư tưởng gãy gọn, rất thích hợp để khẳng định một sự thực của lí trí, hay của tâm trạng, rất thuận lợi cho việc thể hiện nội dung đạo lý Vì thế không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều lựa chọn nhịp 3/3 làm nhịp chủ yếu trong các câu lục ngôn

Tóm lại, với việc vận dụng linh hoạt thể thơ 6 chữ xen 7 chữ, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã diễn đạt tinh tế và thành công nội dung đạo lý trong thơ của mình Đồng thời cũng thể hiện ý thức dân tộc rất đáng quý, một sự

cố gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam ngày càng hoàn thiện.Với sự mở đầu của Nguyễn Trãi và sự tiếp tục của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ tiếng Việt đã đi được một chặng đường, có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của nền thơ dân tộc

2.2 Chất liệu

2.2.1 Chất liệu văn chương bác học

Từ ngữ Hán Việt là một bộ phận quan trọng trong kho từ vựng Việt Nam

Sử dụng chúng trong câu văn, câu thơ là một việc làm bình thường, thậm chí cần thiết Song khác với bộ phận văn học chữ Hán, bộ phận văn học chữ Nôm có

Trang 39

quan hệ khá gần gũi và mật thiết với văn học dân gian Do đó địa vị của ngôn ngữ Hán Việt trong thơ Nôm có giảm đi, vì vậy việc sử dụng ngôn ngữ Hán Việt trong thơ Nôm đòi hỏi phải có tài năng ở người cầm bút Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện trình độ bậc thầy qua việc sử dụng thành công

từ ngữ Hán Việt trong thơ Nôm của mình Hầu như ở bài thơ nào của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có từ ngữ Hán Việt, nhưng chúng ít khi làm cho bài thơ khó hiểu mà lại tạo ra sự trang trọng hài hoà cho toàn bài thơ Chẳng

hạn bài thơ sau trong Quốc âm thi tập:

Chén chăng lọ thuốc rượu La phù Khách đến ngâm chơi miễn có câu Lòng một tấc son còn nhớ chúa Tóc hai phần bạc bởi thương thu Khó bền mới phải người quân tử Nghèo hiểm thì nên kẻ trượng phu Cày ruộng cuốc vườn dầu hết khỏe Tôi Đường Ngu ở đất Đường Ngu

Một điểm tương đồng nữa ở Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là ý thức cố gắng Việt hóa những yếu tố vay mượn Chẳng hạn từ câu “Thiên hạ chi

ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” ( nghĩa là lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau nỗi vui của thiên hạ) của Phạm Văn Chính, Nguyễn Trãi viết:

Trang 40

Ta ắt lòng bằng Văn Chính nữa Vui xưa chẳng quản đeo âu

( Ngôn chí, bài 18)

Từ cầu “Nho quan đa ngộ thân” (cái mũ của nhà Nho khiến cho tấm thân bị làm

tố nhiều) của Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi đã chuyển thành:

Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ Tay còn lọ hái cúc Uyên Minh

Cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng cố gắng Việt hóa những yếu tố vay mượn Chẳng hạn từ câu: “Hậu sinh khả úy” (kẻ sinh sau là đáng sợ) ông đã viết:

Dẫu thấy hậu sinh là đáng sợ Sừng kia chẳng mọc, mọc hơn tai

Cái ý thì đi vay mượn nhưng lối nói lại rất Việt

Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm còn dịch nhiều thành ngữ Hán học

ra tiếng Việt một cách độc đáo, cho dù đó là khái niệm chứa nội dung đạo lý khó diễn đạt: “hành, chỉ”: đi, đỗ; “nam nhi chí”: chí con trai; “đại ẩn”: ẩn cả; “đắc đạo”: được đạo; „hữu dụng”: có dùng;… Điều này có tác dụng làm cho các nội dung đạo lý được chuyển tải một cách dễ hiểu, gần gũi với mọi người

Trong việc tiếp thu chất liệu văn chương bác học, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm còn rất chú ý sử dụng những điển cố để truyền đạt những nội dung đạo lý Việc dùng điển cố làm cho văn chương cô đọng, súc tích vì chỉ cần một câu thậm chí một chữ mà làm sống dậy cả một câu chuyện và khiến cho

nó tham gia vào tác phẩm Mặt khác, bản chất của việc dùng điển cố là nói về việc xưa nhưng là để ám chỉ việc đang diễn ra, từ đó làm nảy sinh những ý nghĩa mới một cách kín đáo Đồng thời sử dụng điển cố còn làm cho văn chương tế nhị, kín đáo tạo sắc thái cổ xưa Trong thơ Nôm của mình, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm thường nhắc nhiều đến các điển cố như vua Nghiêu, vua Thuấn, Nhan Hồi, Trương Lương, Sào Phủ,… qua đó bộc lộ một mong muốn học tập các tấm gương sáng của các vị tiền bối để tu thân:

Kham hạ Khương Lương chăng khứng ở Tìm tiên để nộp ấn phong hầu

(Bảo kính cảnh giới, bài 35)

Ngày đăng: 22/08/2023, 00:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
2. Hà Thị Hạnh (2008), So sánh cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Khoá luận tốt nghiệp đại học, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Hà Thị Hạnh
Năm: 2008
3. Trần Đình Hượu (2002), Các bài giảng về tư tưởng phương đông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về tư tưởng phương đông
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
4. Trần Đình Hượu (1990), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1990
5. Bùi Văn Nguyên (1980), Âm vang ca dao tục ngữ trong thơ quốc âm Nguyễn Trãi, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm vang ca dao tục ngữ trong thơ quốc âm Nguyễn Trãi
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Năm: 1980
6. Bùi Văn Nguyên (1994), Thơ Quốc âm Nguyễn Trãi, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Quốc âm Nguyễn Trãi
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
7. Bùi Văn Nguyên (1989), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bạch Vân quốc ngữ thi, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bạch Vân quốc ngữ thi
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1989
8. Nguyễn Hữu Sơn (2001), Nguyễn Trãi, Tác gia, tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi, Tác gia, tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Hữu Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
9. Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
10. Trần Thị Băng Thanh, Vũ Thanh (2001), Nguyễn Bỉnh Khiêm tác gia, tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm tác gia, tác phẩm
Tác giả: Trần Thị Băng Thanh, Vũ Thanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
11. Phạm Tuấn Vũ (2007), Văn học trung đại Việt Nam trong nhà trường, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Tuấn Vũ (2007), "Văn học trung đại Việt Nam trong nhà trường
Tác giả: Phạm Tuấn Vũ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
13. Trần Ngọc Vương (1998), Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung
Tác giả: Trần Ngọc Vương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Viện KHXH VH, Viện ngôn ngữ học (1992), Từ điển Tiếng Việt Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w