1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn lịch sử và địa lý lớp 4

111 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn lịch sử và địa lý lớp 4
Tác giả Hoàng Xuân Khánh
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Minh Hùng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn thạc sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các giờ Lịch sử và Địa lý ở tiểu học, nếu các giáo viên sử dụng được các trò chơi gắn liền với các bản đồ, lược đồ, bảng biểu, mô hình, kiến thức thực tế địa phương thì sẽ giúp học

Trang 2

Với sự trăn trở trước thực trạng chất lượng dạy và học môn Lịch sử và Địa lý trong các trường tiểu học chưa được cao

Đề tài “Sử dụng trò chơi trong dạy học môn Lịch sử và Địa lý lớp 4”

đã được nghiên cứu và hoàn thành trong một thời gian ngắn Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, quý báu của PGS.TS Phạm Minh Hùng, người hướng dẫn trực tiếp; của các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục tiểu học – Trường Đại học Vinh; các thầy cô giáo, học sinh trường tiểu học Minh Khai 1, Điện Biên 1, Điện Biên 2 thuộc Thành phố Thanh Hoá, của gia đình và bạn bè, đồng nghiệp

Luận văn có thể còn những hạn chế nhất định, song đây chính là bước đầu nâng đỡ cho tôi trên con đường nghiên cứu khoa học, phục vụ thiết thực cho việc nâng cao chất lượng dạy học môn học Chính vì vậy, tôi mong được các thầy cô giáo và đồng nghiệp quan tâm, đóng góp ý kiến chỉ bảo để đề tài từ

lí luận đi vào thực tiễn được thành công hơn

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, gia đình, đơn vị công tác và bạn bè, đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn

Thanh Hóa, tháng 8 năm 2009

Người viết:

Hoàng Xuân Khánh

MỤC LỤC

Trang 3

1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu 4

1.3 Vai trò của việc tổ chức trò chơi học tập trong việc dạy học 11

1.5 Đặc điểm tâm sinh lí của HS tiểu học và đối tượng HS lớp 4,5 18

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN

CỨU

22

2.2 Thực trạng dạy học môn LS&ĐL lớp 4 ở … tp Thanh Hóa 22

2.3 Thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học LS&ĐL ở tp Thanh

Trang 4

CHƯƠNG III: CÁC TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC MÔN

Phân tích kết quả thực nghiệm

Kết quả học tập của học sinh

Hứng thú của học sinh trong giờ học

86

86

89

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết đƣa trò chơi vào

dạy học môn Lịch sử và Địa lý ……… 27

Bảng 2: Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc tổ chức

trò chơi trong dạy học môn LS&ĐL:……… 28

Bảng 3: Mức độ sử dụng trò chơi cho học sinh của giáo viên

tiểu học trong quá trình dạy học môn LS&ĐL: ……… 29

Bảng 4: Kết quả học tập của học sinh qua một số bài dạy: ……… 33 Bảng 5: Kết quả thực nghiệm: ……… 87 Bảng 6: Kết quả học tập của HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng…… 88 Bảng 7: Mức độ hứng thú của học sinh lớp thực nghiệm và lớp

đối chứng……… 89

Trang 7

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ – BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1: Cấu trúc của trò chơi ……… 6

Sơ đồ 2: Quy trình tổ chức trò chơi dạy học……… 58

Sơ đồ 3: Cách thức tổ chức trò chơi trong quá trình dạy học

Dạy học bằng Trò chơi có vị trí quan trọng bởi nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và bộ môn Đây chính là hình thức Học vui – Vui học thích hợp

với tuổi trẻ nhƣ Bác Hồ đã từng huấn thị khi nói về cách dạy ở Tiểu học: “ Tiểu

Trang 8

học thì … Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ…Phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm chúng hoá ra già cả… Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học”[21]

Thực tế đổi mới chương trình và phương pháp ở tiểu học cho thấy: Thông qua các trò chơi được tổ chức một cách hợp lý mà giáo viên có thể chuyển tải các tri thức mới, củng cố những kiến thức đã học và hình thành những kỹ năng cho học sinh một cách nhẹ nhàng, sinh động, có hiệu quả

Môn học nào cũng sử dụng được phương pháp trò chơi Trong các giờ Lịch

sử và Địa lý ở tiểu học, nếu các giáo viên sử dụng được các trò chơi gắn liền với các bản đồ, lược đồ, bảng biểu, mô hình, kiến thức thực tế địa phương thì sẽ giúp học sinh lĩnh hội được tri thức một cách bền vững

Thực tiễn dạy học môn Lịch sử và Địa lí ở bậc tiểu học hiện nay là: Giáo viên lên lớp chủ yếu là thuyết trình giảng giải, học sinh nghe và chép vở Giáo viên hỏi, một vài học sinh trả lời Vì vậy học sinh ít hứng thú trong việc học tập, giờ học chưa phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh Mặt khác, việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí chưa thường xuyên, quá trình tổ chức còn đơn điệu, chưa thực sự lôi cuốn học sinh, ít giáo viên biết cách sáng tạo ra trò chơi

Vì vậy, việc xây dựng quy trình và thiết kế các loại trò chơi trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí không những có ý nghĩa về mặt lí luận mà còn có ý nghĩa

về thực tiễn, giúp cho giáo viên có thể vận dụng vào quá trình dạy học, góp phần nâng cao chất lượng môn học này ở bậc tiểu học Để tổ chức được tốt, có bài bản phương pháp trò chơi trong dạy học Lịch sử và Địa lý ở tiểu học, điều quan trọng là phải hiểu và xây dựng được quy trình tổ chức trò chơi

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “ Sử dụng trò chơi trong dạy

học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4” để nghiên cứu

2) Mục đích nghiên cứu:

Trang 9

Nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4 ở trường tiểu học

3) Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Quá trình dạy học Lịch sử và Địa lí ở lớp 4

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Các loại trò chơi trong dạy học Lịch sử, Địa lí ở lớp 4 và quy trình tổ chức

4) Giả thuyết khoa học

Chất lượng dạy học Lịch sử và Điạ lý sẽ được nâng cao, nếu trong quá trình dạy học giáo viên sử dụng trò chơi một cách hợp lý, phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học

5) Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

5.2 Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

5.2 Thiết kế các trò chơi trong dạy học môn Lịch sử, Địa lý lớp 4 và đề xuất quy trình tổ chức

6) Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Việc sử dụng trò chơi trong dạy học Lịch sử và Địa lý ở lớp 4

- Nghiên cứu thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm ở một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Thanh Hoá

7) Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Phân tích và tổng hợp các tài liệu, khái quát các nhận định độc lập, các cơ sở

lí thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

* Phương pháp quan sát

* Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

* Phương pháp anket

Trang 10

* Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn giáo viên

9) Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, kết luận, kiến nghị, luận văn có 3 chương:

Chương I: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

Chương II: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương III: Sử dụng trò chơi trong dạy học môn Lịch sử, Địa lí lớp 4

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu:

Tổ chức trò chơi trong dạy học nói chung là một hình thức dạy học mới, mang tính thời sự đang được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu

Chúng tôi nhận thấy có nhiều công trình coi trò chơi học tập là một phương pháp để dạy – học có hiệu quả Cụ thể là:

Trang 11

Trên thế giới xu thế sử dụng trò chơi trong dạy học đã trở thành phổ biến đối với bậc học tiểu học như ở Nhật, Mỹ, Anh, Pháp Ở trong nước, việc tổ chức trò chơi trong dạy học ở tiểu học đã được quan tõm Đối với môn Tiếng Việt ở tiểu học, có công trình “Trò chơi học tập Tiếng Việt 2”, “Trò chơi học tập Tiếng Việt 3” của tác giả Trần Mạnh Hưởng (chủ biên) đã khẳng định thông qua trò chơi học tập, học sinh được phát triển cả về trí tuệ, thể lực, nhân cách, giúp cho việc học Tiếng Việt thêm nhẹ nhàng và hiệu quả

Trong dạy học môn Toán có “112 trò chơi toán lớp 1 và 2” của nhà giáo Phạm Đình Thực[25] Tác giả đưa ra quan niệm giúp trẻ học toán qua các trò chơi là một trong những hướng đổi mới phương pháp dạy học toán ở tiểu học Trong dạy học môn Đạo đức có “Trò chơi học tập môn Đạo đức ở tiểu học” của tác giả Lưu Thu Thủy[23]

Các công trình khác như: “100 trò chơi vận động cho học sinh tiểu học” của Trần Đồng Lâm[14], “ Tổ chức hoạt động vui chơi cho học sinh tiểu học” của

Hà Nhật Thăng[22]; “Tổ chức cho học sinh tiểu học vui chơi giữa buổi học” của Trần Đồng Lâm (chủ biên)…

Đối với môn Tự nhiên và Xã hội có “Trò chơi học tập môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1,2,3” do tác giả Bùi Phương Nga chủ biên Cuốn “Học mà vui, vui mà học” của tác giả Vũ Xuân Đĩnh cũng giới thiệu một số trò chơi dùng trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội

Đối với môn Lịch sử và Địa lí có “Sử dụng trò chơi trong dạy học lịch sử ở trường tiểu học của tác giả Nguyễn Thị Hường” [11] Nhóm tác giả Nguyễn Tuyết Nga (chủ biên), Đào Thị Hồng, Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thị Thấn đã biên soạn và giới thiệu cuốn “Trò chơi học tập môn Lịch sử và Địa lí lớp 4,5” [18]…

Từ năm học 2005-2006, các trường tiểu học trên toàn quốc bắt đầu triển khai thực hiện thay sách lớp 4 theo chương trình tiểu học mới Công cuộc thay sách lần này kéo theo một chủ trương hết sức đúng đắn, đó là: Đổi mới chương trình gắn với việc đổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên, các công trình

Trang 12

nghiên cứu về sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học môn Lịch sử và Địa lý nhìn chung còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu của dạy học hiện đại Việc sử dụng trò chơi trong dạy học phần mềm “Lịch sử và Địa lý địa phương” và dạy học thông qua các hoạt động tập thể vẫn là vấn đề đang còn ít được quan tâm

Để khắc phục những hạn chế trên, trong đề tài này, hướng nghiên cứu của chúng tôi là thiết kế một số trò chơi và sử dụng quy trình để tổ chức trò chơi trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4

1.2 Một số khái niệm cơ bản:

1.2.1 Trò chơi

Hiện nay có một số định nghĩa về khái niệm trò chơi như sau:

- Trò chơi là một loại hình văn hoá dân gian rất quen thuộc, gần gũi với mọi người và mang tính chất truyền thống

- Trò chơi là một loại hình sinh hoạt, giao lưu văn hoá của con người, thường được tổ chức vào các dịp lễ, hội, tết

- Trò chơi đem lại cho con người sự vui vẻ, đoàn kết, giúp con người bộc lộ những tình cảm, thể hiện ước mơ, sự phấn đấu

- Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí thông qua đó giáo dục con người những kinh nghiệm sản xuất, phẩm chất đạo đức, tri thức khoa học Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa đầy đủ, trọn vẹn, chính xác về trò chơi

Vậy, Trò chơi là gì? Theo Từ điển Tiếng Việt thì trò chơi là "Hoạt động bày

ra để vui chơi, giải trí" [29]

Chúng tôi cho rằng, trò chơi là hoạt động vui chơi mang một chủ đề, một nội dung nhất định, có tổ chức của nhiều người tham gia (từ 2 người trở lên) và

có những quy định, những luật lệ buộc người tham gia phải tuân theo

Trß ch¬i ®-îc cÊu tróc tõ nh÷ng yÕu tè: Cốt trò, Đề trò, Luật trò, phạt

Có thể minh hoạ bằng sơ đồ 1: Cấu trúc của trò chơi

Trang 13

Là những quy định, quy tắc mà bất cứ ng-ời chơi nào cũng phải tuân thủ

Luật trò phải đ-ợc phổ biến tr-ớc khi chơi để những ng-ời chơi nắm đ-ợc

mà thực hiện đúng luật, tránh vi phạm trong khi chơi

d Th-ởng, phạt:

Trò chơi bao giờ cũng có kẻ thắng, ng-ời thua và đi kèm có th-ởng cho ng-ời (hoặc nhóm) thắng cuộc và có phạt cho ng-ời (hoặc nhóm) nào thua cuộc Tuy nhiên, th-ởng và phạt ở đây chỉ mang tính t-ợng tr-ng đơn giản, vui vẻ,

khích lệ

1.2.2 Trũ chơi học tập

Trò chơi học tập là loại trò chơi có chứa nội dung dạy học, đ-ợc bày ra để thông qua việc chơi mà học

A.I Xụrụkina đó đƣa ra một luận điểm vụ cựng quan trọng về đặc thự của trũ

chơi học tập: “Trũ chơi học tập là một quỏ trỡnh phức tạp, nú là hỡnh thức dạy học và đồng thời nú vẫn là trũ chơi…Khi cỏc mối quan hệ chơi bị xúa bỏ, ngay lập tức trũ chơi biến mất và khi ấy, trũ chơi biến thành tiết học, đụi khi biến thành sự luyện tập.”[28]

Trũ chơi

Đề trũ Cốt trũ

Trang 14

Đối với học sinh tiểu học, trò chơi học tập th-ờng có nội dung đơn giản, có yêu cầu thấp, vừa sức

Tác giả Đỗ Tiến Đạt núi trò chơi học tập là hoạt động đ-ợc tổ chức có tính

chất vui chơi, giải trí, thông qua đó học sinh có điều kiện "Học mà vui, vui mà học" Cũn SGV mụn Khoa học viết: Là Trũ chơi cú nội dung gắn với hoạt động học tập của HS [1]

Nhƣ vậy, các nội dung học tập của trẻ (Khoa học, Lịch sử; Địa lớ; Tự nhiên

và xã hội; Tiếng Việt; Đạo đức; Toán ) đ-ợc thể hiện vào trong trò chơi và thông qua trò chơi học sinh nắm đ-ợc nội dung mà giáo viên cần truyền đạt

Tỏc giả Trần Thị Ngọc Trâm [26] cho rằng: " Trò chơi học tập là một trong những ph-ơng tiện có hiệu quả để phát triển các năng lực trí tuệ, trong đó có khả năng khái quát hoá là một năng lực đặc thù của khả năng con ng-ời”

Trò chơi, khi đ-a vào giờ học thì nhất thiết phải là một bộ phận của nội dung bài học, phải góp phần vào việc hình thành các kiến thức cơ bản hoặc rèn luyện kỹ năng cơ bản của tiết học Việc thiết kế các trò chơi trong quá trình dạy học là một nghệ thuật s- phạm trong dạy học và việc tổ chức trò chơi lúc này

đ-ợc xem nh- là một ph-ơng pháp dạy học thực sự – một ph-ơng pháp s- phạm tích cực

Phõn loại trũ chơi học tập ở tiểu học:

Trò chơi học tập có thể phân loại theo số ng-ời tham gia: Trò chơi tập thể, Trò chơi cá nhân; hoặc tớnh chất: Trũ chơi với đồ vật, Trò chơi vận động, Trò chơi trí tuệ, trũ chơi kết hợp (vận động và trí tuệ); hoặc phân loại theo các môn học: Trũ chơi toỏn học, Trũ chơi tiếng Việt, Trũ chơi tỡm hiểu lịch sử Trong các môn học lại đ-ợc phân ra theo các mạch kiến thức, phân loại theo chủ đề học tập

- Trũ chơi vận động:

Trũ chơi vận động là loại hỡnh trũ chơi vận động cơ bắp của cơ thể, hầu hết trẻ em đều thớch loại trũ chơi này

- Trũ chơi với đồ vật:

Trang 15

Trong trò chơi với đồ vật, trẻ em sử dụng đồ vật để minh hoạ, tưởng tượng nhân hoá cho những vấn đề, sự vật mà chúng đã biết và muốn hướng tới

- Trò chơi theo chủ đề:

Loại trò chơi này rất đa dạng, cũng như cuộc sống muôn hình muôn vẻ của trẻ Bởi vì học sinh tiểu học học tập theo chủ đề, mỗi một chủ đề có những trò chơi học tập khác nhau Ví dụ: Chủ đề "Măng non"(Tiếng Việt), "Bầu trời và trái đất" (Tự nhiên và xã hội), “Vật chất và năng lượng” (Khoa học)

- Trò chơi trí tuệ:

Đây là trò chơi hoàn toàn dựa trên cơ sở hoạt động sáng tạo của trẻ em Nội dung của trò chơi này là sự thi đấu về một hoạt động trí tuệ nào đó: sự nhanh trí, trí nhớ, sức tưởng tượng sáng tạo, các hoạt động phát minh, đố vui, khám phá

1.2.3 Trò chơi học tập trong môn Lịch sử và Địa lí:

Theo chúng tôi: Trò chơi học tập trong môn Lịch sử và Địa lí là các trò

chơi trong đó có chứa các nội dung kiến thức của phân môn Lịch sử hoặc Địa

lí Nó được thể hiện ở một khâu nào đó trong việc dạy học (đầu tiết, giữa tiết,

cuối tiết hoặc trong giờ luyện tập, ngoại khoá ) nhằm mục đích: dẫn dắt, hình thành kiến thức mới, hay củng cố, ôn luyện nội dung kiến thức đã học cho học sinh

Nói cách khác tức là chuyển nội dung kiến thức của bài học Lịch sử hay Địa

lí thành các nhiệm vụ học tập thông qua trò chơi và cách thức chơi để lĩnh hội tri thức của bài học

* Các loại trò chơi trong dạy học phân môn Lịch sử hoặc Địa lí và cách sử dụng:

Trong dạy học phân môn Lịch sử hoặc Địa lí có thể sử dụng một số loại trò chơi chủ yếu như : Đóng vai, Tiểu phẩm, Hái hoa dân chủ, Đố vui, Tiếp sức, Kết đôi, Gạch nối, Phóng viên; Ai nhanh, ai đúng, Điền chỗ trống

Kết hợp với hoạt động Đội hoặc “bắt chước” các phương tiện truyền thông đại chúng, ta có các trò chơi: “ Nhà sử học nhỏ tuổi”; “ Ô chữ”; “Đến thăm Văn

Trang 16

Miếu - Quốc Tử giám”; “Rung chuông vàng”; “Hành trình văn hoá”, “Đối mặt”

Về tên gọi trò chơi có thể có một số cách gọi khác nhau Giáo viên hay học sinh cũng có thể sáng tạo ra trò chơi và tên gọi mới, miễn sao phù hợp với tiến trình dạy học và nội dung kiến thức cần lĩnh hội Ví dụ: Ca-rô đoán bão, Hoạ thơ, Nhìn tranh kể chuyện, Hướng dẫn viên du lịch

Ví dụ:

- Trò chơi thường tổ chức: Trò chơi đóng vai:

Nhờ trò chơi đóng vai, trẻ em được nhập vai các nhân vật khác nhau với các mối quan hệ khác nhau, tích cực nghiên cứu nội dung học tập để cùng diễn xuất kiến thức bài học

- Trò chơi học truyền hình: Trò chơi ô chữ:

Trò chơi ô chữ là loại hình trò chơi biến tấu từ trò chơi trong các chương trình “Đường lên đỉnh Ôlimpia” hay trong chương trình “Chiếc nón kỳ diệu” Trò chơi này phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh Học sinh buộc phải huy động vốn kiến thức, sự hiểu biết và sự nhanh trí để điền đúng từng ô chữ gắn với một thông tin về kiến thức nhất định để tham gia vào trò chơi

- Trò chơi sáng tạo:

+ Ví dụ: Thi Hoạ thơ:

Khi học bài 8 “Dân số nước ta”( Địa lí 5), tổ chức cho học sinh tập hoạ lại

bài thơ của Bác Hồ rồi so sánh dân số hồi 1946 với 2003 thì sẽ thấy ngay tốc độ

tăng dân số và dễ nhớ vị trí, đặc điểm và diện tích nước ta:

“Nước ta hình chữ S Một bán đảo rất xinh Trên bờ biển Thái Bình Tại Đông nam châu Á Tính bình phương cây số

Có 30 vạn hơn

“Nước ta hình chữ S Một bán đảo rất xinh Trên bờ biển Thái Bình Tại Đông nam châu Á

Tính bình phương cây số

Có 33 vạn hơn

Hình dáng nước ta

Địa hình địa lí nằm sát biển Thái Bình Dương

Vị trí khu vực

Diện tích nước ta

Trang 17

Với 20 triệu dõn Sống trong miền nhiệt đới…”

Với 82 triệu dõn Sống trong miền nhiệt đới…”

Dõn số tăng nhanh quỏ

(Gấp hơn 4 lần sau 57

năm)

Đặc điểm khớ hậu

+ Hay trũ Biờn tập lại:

Vớ dụ: Để trỏnh cho học sinh khỏi nhầm lẫn giữa hai vua Lờ, cho cỏc em đọc,

phỏt hiện và sửa lại cõu sau cho đỳng: “ Vua Lờ Hoàn trả gươm cho Rựa thần”

Rừ ràng, Lờ Lợi mới gắn với sự tớch Hồ Gươm, nờn cõu trờn viết đỳng là:

“ Vua Lờ hoàn trả gươm cho Rựa thần”

Trong thực tế dạy học ở nhà tr-ờng tiểu học, trò chơi đ-ợc xem nh- một thủ thuật, biện pháp củng cố kiến thức, hình thành kiến thức mới, kiểm tra đánh giá chất l-ợng học sinh sau một tiết học hoặc sau một nội dung học tập

Xét về mục đích phục vụ dạy học nói chung, trò chơi có thể phân ra thành:

- Trò chơi dẫn dắt, hình thành tri thức mới

- Trò chơi củng cố khái niệm, kiến thức

- Trò chơi ôn tập, luyện tập, rèn luyện t- duy (Đây là dạng trò chơi th-ờng

đ-ợc tổ chức vào các giờ luyện tập, ngoại khoá)

- Trò chơi về tính toán, trớ nhớ

-Trò chơi về luyện trí thông minh

1.2.4 Quy trỡnh và quy trỡnh tổ chức trũ chơi học tập:

b) Quy trỡnh tổ chức trũ chơi học tập

Trang 18

Theo chỳng tụi “ Quy trỡnh tổ chức trũ chơi trong dạy học là cỏc bước, trỡnh tự phải tuõn theo khi tiến hành tổ chức trũ chơi học tập cho học sinh”

Đú là thứ tự thực hiện cỏc bước đó vạch ra Khi giỏo viờn muốn tổ chức trũ chơi trong dạy học thỡ bắt buộc phải tuõn theo

1.3 Vai trũ của việc tổ chức trũ chơi học tập trong việc dạy học

A.X.Makarenkô cho rằng: “Trẻ em trong trò chơi như thế nào thì phần lớn

nó sẽ nh- vậy trong công việc khi nó lớn lên Trò chơi trở thành một hoạt động sống không thể thiếu đ-ợc đối với đứa trẻ”.[22]

1.3.1 Vai trũ tớch cực của trũ chơi học tập:

Trũ chơi là một hoạt động trực tiếp với tớnh hấp dẫn tự thõn của mỡnh, cú một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệu quả, kớch thớch sự hứng thỳ nhận thức và niềm say mờ học tập của người học Học tập thụng qua trũ chơi sẽ giỳp học sinh ghi nhớ dễ dàng và bền vững hơn

Trũ chơi học tập khỏc với trũ chơi khỏc là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức và luật chơi trong trũ chơi đũi hỏi người chơi phải huy động trớ úc làm việc thực sự nhưng chỳng lại được thực hiện dưới hỡnh thức chơi vui vẻ, thỳ vị (chơi là phương tiện, học là mục đớch) Học trong quỏ trỡnh chơi là quỏ trỡnh lĩnh hội tri thức nhẹ nhàng, tự nhiờn khụng gũ bú, khơi dậy hứng thỳ tự nguyện và giảm thiểu sự căng thẳng cho học sinh

Rất nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu đó cho rằng, nếu được tổ chức đỳng đắn, hợp lý thỡ trũ chơi sẽ là phương tiện rất tốt để giỏo dục toàn diện trẻ em

Trũ chơi học tập giỳp trẻ em nắm chắc, nhanh, sõu nội dung bài học Thụng qua trũ chơi học tập giỳp trẻ phỏt triển thể chất, trớ tuệ, hoàn thiện tri giỏc, chỳ

ý, ghi nhớ, tưởng tượng và sỏng tạo

Như vậy, cựng với học, chơi là nhu cầu khụng thể thiếu được của học sinh tiểu học Dự khụng cũn là hoạt động chủ đạo, song vui chơi vẫn giữ một vai trũ rất quan trọng trong hoạt động sống của trẻ, vẫn cú một ý nghĩa lớn lao đối với trẻ

Trang 19

Sử dụng trò chơi trong dạy học Lịch sử và Địa lý có ý nghĩa rất quan trọng giúp học sinh hình thành một cách đầy đủ, chính xác, sinh động nội dung kiến thức bài học, có tác dụng hình thành, rèn luyện các kỹ năng học tập Lịch sử và Địa lý cho các em như: kỹ năng sử dụng bản đồ, lược đồ, biểu đồ, bảng thống

kê, kỹ năng xác lập mối quan hệ địa lý và thời đại lịch sử đơn giản

Trò chơi còn gây hứng thú học tập cho học sinh, phát huy được trí thông minh, sáng tạo, tinh thần tập thể cho các em, khơi dậy ở học sinh trí tò mò, lòng ham hiểu biết, lòng yêu thiên nhiên, đất nước con người

1.3.2 Một số hạn chế khi sử dụng trò chơi học tập:

Để vận dụng được một cách thích hợp các trò chơi học tập, đòi hỏi người giáo viên phải có sự chuẩn bị và đầu tư cho từng trò chơi Đây là điều hạn chế bởi hàng loạt những yếu tố như năng lực của giáo viên, thời gian giành cho sự soạn bài, các phương tiện đồ dùng dạy học, sự đầu tư về kinh phí… cho giờ học

vô tình như những vật cản sự nhiệt tình của giáo viên

Tổ chức các trò chơi học tập dễ làm mất thời gian và lớp học thường ồn ào dẫn đến học sinh mất trật tự, làm ảnh hưởng ít nhiều đến các lớp khác

Diện tích phòng học, cách sắp xếp bàn ghế trong lớp theo một khuôn mẫu truyền thống cũng gây khó khăn cho việc tổ chức trò chơi Để tổ chức trò chơi còn đòi hỏi người giáo viên phải có óc tổ chức, biết kích thích sự tham gia của học sinh Đây là điều không phải giáo viên nào cũng làm được

1.4 Khái quát về môn Lịch sử và Địa lí lớp 4

1.4.1 Mục tiêu của môn học:

Mục tiêu của môn Lịch sử và Địa lí lớp 4,5 là:

a Cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản, thiết thực về:

- Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu tương đối có hệ thống theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tới nửa đầu thế kỉ XIX

- Các sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ địa lí đơn giản ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới

Trang 20

b Bước đầu hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng:

- Quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử, địa lý từ các nguồn thông tin khác nhau

- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp

- Nhận biết đúng các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử và địa lý

- Trình bày kết quả nhận thức của mình bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…

- Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống

c, Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở HS những thái độ và thói quen:

- Ham học hỏi, tìm hiểu để biết về lịch sử dân tộc

- Yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước

- Tôn trọng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và các di tích lịch sử văn hóa

1.4.2 Nội dung chương trình môn Lịch sử và Địa lý lớp 4:

a, Phần Lịch sử:

- Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng 700 năm TCN đến năm 179 TCN): Nước Văn Lang, nước Âu Lạc (Sự ra đời của nền văn minh Văn Lang-

Âu Lạc và những thành tựu chính của văn minh Văn Lang- Âu Lạc)

- Hơn một nghìn năm đấu tranh dành lại độc lập (Từ năm 179 TCN đến TK X): Những chính sách thống trị và đồng hoá của các triều đại phong kiến Trung Quốc và phong trào đấu tranh của nhân dân ta để dành lại quyền độc lập, tự chủ ( tiêu biểu là khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 và chiến thắng Bạch Đằng năm 938)

- Buổi đầu độc lập ( Từ năm 938 đến năm 1009): Nhà Ngô; Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước; Lê Hoàn lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất (năm 981)

+ Nước Đại Việt: Thời Đại Việt bắt đầu từ năm 1009 ( với sự thành lập của triều đại nhà Lý) đến năm 1858 ( với sự kiện thực dân Pháp xâm lược nước ta) Thời Đại Việt là thời kì độc lập lâu dài của nước ta Đây là thời kì tồn tại của các vương triều: nhà Lý ( 1009 – 1225), nhà Trần (1226 – 1400), nhà Hồ

Trang 21

(1400 – 1406), nhà Lê Sơ (1428 – 1527), nhà Mạc (1527), nhà Tây Sơn (thế kỷ XVIII), nhà Nguyễn (1802 – 1945),…

Thời Đại Việt, có nhiều sự kiện, hiện tượng và nhân vật lịch sử đáng ghi nhớ SGK chọn lựa và trình bày một số sự kiện, hiện tượng và nhân vật lịch sử tiêu biểu nhằm tạo nên những biểu tượng về quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trong thời kì này: Nhà Lý (dời đô ra Thăng Long; sự phát triển của đạo Phật; cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai) Nhà trần (xây dựng đất nước; kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên; sự suy tàn của nhà Trần) Nhà Lê (chiến thắng Chi Lăng; việc tổ chức quản lý đất nước; sự phát triển văn hoá và khoa học dưới thời Lê Sơ) Trịnh – Nguyễn phân tranh Cuộc khẩn hoang ở Đàng trong Thành thị ở thế kỉ XVI – XVII Quang Trung (nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long; đại phá quân Thanh; Quang Trung với sự nghiệp xây dựng đất nước) Nhà Nguyễn thành lập Kinh thành Huế

Trang 22

quen với các phương pháp học tập môn Địa lý Trong mỗi trường hợp mẫu chương trình còn lưu ý đến mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố tự nhiên với nhau và giữa những yếu tố tự nhiên với hoạt động của con người Điều đó giúp học sinh nắm vững kiến thức địa lý hơn và giúp các em dễ dàng hơn trong việc giải thích các hiện tượng xung quanh

Cụ thể là:

- Làm quen với bản đồ

- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi và trung du (dãy Hoàng Liên Sơn, Tây Nguyên, trung du Bắc Bộ)

+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, sông, rừng)

+ Cư dân (mật độ dân số không lớn, ba dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng

về trang phục, lễ hội) + Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên rừng, sức nước, đất, khoáng sản (thuỷ điện; khai thác chế biến gỗ, quặng; trồng trọt; chăn nuôi gia súc…); hoạt động dịch vụ (giao thông miền núi và chợ phiên)

+ Thành phố vùng cao ( Đà Lạt)

- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền đồng bằng (đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ)

+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, sông ngòi)

+ Cư dân (mật độ dân số rất lớn, ba dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về trang phục, lễ hội) + Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên đất, nước (sông), khí hậu và sinh vật (trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông, thuỷ sản); hoạt động dịch vụ ( giao thông đồng bằng, thương mại)

+ Thủ đô Hà Nội, các thành phố lớn : Tp Hồ Chí Minh, Cần Thơ

- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền duyên hải (dải đồng bằng duyên hải miền Trung)

+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, đất nước, sinh vật)

Trang 23

+ Cư dân (dân cư khá đông đúc, hai dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về trang phục, lễ hội)

+ Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên ( trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt

tư duy độc lập, sáng tạo trong hoạt động nhận thức của HS

Như vậy, cốt lõi của vấn đề đổi mới là chuyển từ truyền thụ một chiều, học tập thụ động, ghi nhớ kiến thức máy móc để đối phó thi cử sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chú trọng hình thành năng lực tự học dưới sự giúp

đỡ, hướng dẫn, tổ chức của GV

Muốn vậy, GV không phải là người cung cấp, truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là người tổ chức hướng dẫn, điều khiển giúp HS tiếp nhận và xử lý các nguồn sử liệu trong SGK để tự các em thấy được những hình ảnh cụ thể về lịch

sử, rút được những kết luận cần thiết về sự kiện, hiện tượng lịch sử

b Phần Địa lý

Dạy học Địa lý ở lớp 4 là hình thành cho HS một số biểu tượng, khái niệm, mối quan hệ địa lý đơn giản và bước đầu hình thành, rèn luyện một số kĩ năng địa lý Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, bản đồ và bảng số liệu được sử dụng như một nguồn cung cấp kiến thức giúp học sinh tự tìm tòi, phát

Trang 24

hiện những kiến thức và hình thành, rèn luyện kĩ năng bộ môn chứ không chỉ để minh hoạ cho lời giảng của GV Như vậy bản đồ, bảng số liệu là đối tượng để

HS chủ động, tự lực (đến mức tối đa) khai thác kiến thức dưới sự hướng dẫn của GV

c Những yêu cầu chung về phương pháp:

Do đặc điểm nhận thức của HS tiểu học còn hạn chế, chưa đầy đủ, sâu sắc

và đạt đến trình độ tư duy khái quát cao nên việc trình bày và giảng dạy kiến thức phải hết sức đơn giản, nhẹ nhàng, cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ Đặc biệt, tư duy của các em luôn dựa trên những các hình ảnh lịch sử cụ thể nên khi trình bày phải hết sức coi trọng việc tạo biểu tượng cụ thể

Tuy nhiên, dù ở cấp tiểu học vẫn phải đảm bảo các yêu cầu chung về phương pháp Đó là: tính chính xác, khoa học; tính tư tưởng chính trị; tính vừa sức; tính thực tiễn – đi đôi với hành Đặc biệt, cần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS trong học tập, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

d Yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy – học Lịch sử, Địa lí:

Trong dạy học không có phương pháp nào là vạn năng Phương pháp dạy học nào cũng có ưu điểm và hạn chế Vấn đề là ở chỗ, GV sử dụng chúng như thế nào để phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS để đem lại hiệu quả bài học cao

Trước thay sách, môn Lịch sử và Địa lí cùng với môn Khoa học được gộp chung trong môn Tự nhiên và Xã hội Khi thay sách, môn Khoa học rất chú trọng phương pháp dạy học bằng trò chơi Thống kê bằng phép đếm, ta thấy:

- Số lượng các trò chơi được thiết kế trong SGK và SGV môn Khoa học đã nói lên vai trò quan trọng của phương pháp:

+ SGK Khoa học líp 4 cã 25 / 70 bµi cã trß ch¬i

+ Trong SGV có 29 bài có trò chơi Trong thùc tÕ, GV cã thÓ tù thiÕt kÕ vµ

tæ chøc ®ưîc nhiÒu trß ch¬i h¬n

Trang 25

- Ngược lại, số lượng các trò chơi được thiết kế trong SGK và SGV môn Lịch sử và Địa lí quá ít, dự báo sự khó khăn và hạn chế khi sử dụng phương pháp:

+ SGK Lịch sử và Địa lí lớp 4 không có bài nào thiết kế trò chơi

+ Trong SGV có duy nhất 01 bài được thiết kế trò chơi, đó là bài 24 của phân môn Lịch sử, có trò chơi “Đóng vai”: Cuộc tiến quân của Tây Sơn ra Thăng Long ở Hoạt động 2

1.5 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học và đối tượng học sinh lớp 4, 5

1.5.1 Nhu cầu, động cơ, hứng thú của học sinh Tiểu học

Bước vào nhà trường Tiểu học, các em được tham gia vào môi trường mới với hoạt động chủ đạo là học tập Do đó, nhu cầu học tập có ý nghĩa quan trọng hơn đối với sự phát triển trí tuệ Nhu cầu này đã trở thành động cơ thúc đẩy các

em tự giác, tích cực học tập và tạo nên hứng thú học tập

Về hứng thú học tập của học sinh Tiểu học, theo các nhà Tâm lý học “ở Tiểu học phần lớn các em chưa hứng thú chuyên biệt với từng môn học, các em cũng chưa chú ý đi sâu vào ý nghĩa mỗi môn học Việc các em Tiểu học thích môn nào, bài nào phụ thuộc vào khả năng sư phạm của giáo viên” [7] Các nhà nghiên cứu còn cho thấy “động cơ học tập không sẵn có, cũng không thể áp đặt

từ ngoài vào mà phải hình thành dần trong quá trình học sinh ngày càng đi sâu vào chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên Nếu trong tiết học giáo viên biết tổ chức cho học sinh phát hiện ra những điều mới lạ (cả nội dung lẫn Phương pháp dạy học, học sinh chiếm lĩnh tri thức đó) thì dần dần quan hệ thân thiết giữa các em với tri thức khoa học sẽ được hình thành, học tập dần dần trở thành một khu cầu không thể thiếu được của các em và sẽ thúc đẩy các em vươn tới giành lấy tri thức” [30]

Như vậy muốn đạt kết quả học tập cao thì việc gây hứng thú tạo động cơ cho các em trong từng tiết học là hết sức cần thiết Tổ chức trò chơi một cách

Trang 26

phù hợp sẽ góp phần khêu gợi nhu cầu, hình thành động cơ đúng đắn, hứng thú học tập cho các em

1.5.2 Đặc điểm tư duy

Tư duy của trẻ mới đến trường chủ yếu là tư duy mang tính hình tượng, chỉ dựa vào những bề ngoài của sự vật và hiện tượng Theo Piagie “Tư duy của trẻ đến 10 tuổi về cơ bản còn ở giai đoạn những thao tác cụ thể, dựa trên cơ sở có thể diễn ra quá trình hệ thống hóa các thuộc tính, tài liệu trong kinh nghiệm trực quan”.[22]

Trong hoạt động phân tích tổng hợp: Hoạt động phân tích của học sinh đầu bậc tiểu học (lớp 1,2,3) về hình thức cũng như nội dung rất đơn giản nên khi tiến hành phân tích tổng hợp các em thường căn cứ vào những đặc điểm bên ngoài mang tính cụ thể Lên lớp 4,5 phân tích tổng hợp trong óc phát triển mạnh, với khái niệm dễ hiểu các em phân tích trong óc một cách tương đối tốt Trong hoạt động trừu tượng khái quát hóa: Học sinh lớp 1,2,3 chủ yếu dựa trên dấu hiệu bên ngoài dễ nhận thấy, dễ xúc động Lên lớp 4,5 mới có thể dựa vào dấu hiệu bên trong (bản chất) Đây chính là cơ sở để chúng ta xác định mức

độ hình thành khái niệm cho học sinh ở giai đoạn đầu cấp (lớp 1,2,3) còn hết sức sơ đẳng

Trong phán đoán suy luận: học sinh ở những lớp đầu bậc Tiểu học thường phán đoán vào dấu hiệu duy nhất, nên hay phán đoán, khẳng định mà chưa suy nghĩ xem khả năng nào là hiện thực, nguyên nhân nào là đúng hơn cả Còn học sinh lớp 4, 5 đã có thể chứng minh lập luận, phán đoán cho mình về trình độ suy nghĩ có thể dựa trên các tài liệu trừu tượng hơn Song đề học sinh suy luận

có thể dựa trên các tài liệu trừu tượng hơn và vẫn cần tài liệu trực quan

Trang 27

Từ những đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học, trong quá trình dạy học giáo viên tổ chức trò chơi cần chú ý đến việc gắn điều trông thấy với hoạt động thực tiễn và nội dung của bài học

1.5.3 Đặc điểm trí nhớ:

Học sinh Tiểu học nói chung có trí nhớ tốt Các em có khả năng nhớ được nhiều, thậm chí cả những điều mà các em không hiểu Các em nhớ các sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng

Càng lên lớp trên, trí nhớ có chủ định càng phát triển, năng lực ghi nhớ tăng dần Tuy vậy, cũng như các lớp đầu cấp, các lớp cuối cấp vẫn thường có khuynh hướng học thuộc một cách máy móc - kiểu học vẹt Chính vì vậy các

em cảm thấy khó khăn khi phải vận dụng những điều mình nhớ vào trong học tập cũng như trong cuộc sống Để khắc phục được nhược điểm này, trong quá trình dạy học giáo viên phải tổ chức cho các em trò chơi học tập, dẫn dắt các em tìm đến các tri thức mới cũng như biết vận dụng các kiến thức của bài học

1.5.4 Đặc điểm tưởng tượng:

Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng, tưởng tượng của học sinh Tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học

và các hoạt động khác của các em Theo các công trình nghiên cứu về tâm lý học, ở các lớp đầu bậc Tiểu học hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản chưa bền vững Nhưng càng về cuối cấp, hình ảnh tưởng tượng của các em đã bắt đầu có khả năng tưởng tượng dựa trên những tri giác có từ trước và dựa trên ngôn ngữ

Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt quan trọng vì nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của các em Đối tượng gây cảm xúc cho học sinh Tiểu học thường là những sự vật, hiện tượng cụ thể,

Trang 28

những câu chuyện sinh động Do đó những bài giảng khô khan, khó hiểu, nặng

về lý luận không gây cho học sinh những cảm xúc tích cực thậm chí làm cho các em mệt mỏi, chán chường Nói chung hoạt động trí tuệ của các em đượm màu xúc cảm, các em suy nghĩ bằng “hình thức”, “xúc cảm”, “âm thanh” các quá trình nhận thức, hoạt động của các em đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảm xúc và đều đượm màu cảm xúc [7] Từ những đặc điểm về tưởng tượng của học sinh Tiểu học, có thể khơi dậy ở trẻ xúc cảm học tập qua việc tổ chức trò chơi học tập cho các em

Tóm lại, qua việc phân tích những đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học,

đặc biệt là học sinh lớp 4, 5 cho thấy hoạt động vui chơi không còn là hoạt động chủ đạo ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tâm lí của HS Các em đã có khả năng tìm tòi phát hiện tri thức ở mức độ nhất định Điều đó chứng tỏ việc tổ chức trò chơi cho học sinh Tiểu học là một biện pháp quan trọng nhằm tích cực hoạt động nhận thức của học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử và Địa lý ở trường Tiểu học

Chương 2

CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực tiễn

2.1.1 Mục đích nghiên cứu thực tiễn

Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài

Trang 29

2.1.2 Nội dung nghiên cứu thực tiễn

Đánh giá được thực trạng dạy học môn Lịch sử và Địa lí ở các trường tiểu học Đánh giá được thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí ở trường tiểu học

Rút ra những nguyên nhân trong việc sử dụng trò chơi trong dạy học Lịch

sử và Địa lí ở trường tiểu học

2.1.3 Địa bàn nghiên cứu thực tiễn

Các trường tiểu học Minh Khai 1, Điện Biên 1, Điện Biên 2 thuộc thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

2.1.4 Đối tượng khảo sát

Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh các trường tiểu học Minh Khai 1,

Điện Biên 1, Điện Biên 2 ở Thành phố Thanh Hoá, thuộc tỉnh Thanh Hóa

Số lượng CBGV: 97 người

Số lượng HS lớp 4: 213 em

2.1.5 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Điều tra bằng ankét

+ Quan sát việc dạy học môn LS&ĐL lớp 4 ở các trường tiểu học

Các kiến thức lịch sử và địa lí là khô khan, khó hiểu, khó nhớ đối với học sinh Chất lượng học tập không cao, tỉ lệ đạt khá và giỏi thấp hơn các bộ môn

Trang 30

văn hoá khác Đáng buồn là các sự kiện, số liệu, nhân vật, vùng địa danh lịch sử

và địa lí thường bị nhớ lẫn lộn hoặc không nhớ

Giáo viên chưa biết vận dụng phương pháp dạy học lịch sử một cách sinh động, chưa biết sử dụng phương tiện trực quan để phát huy tính tích cực của học sinh vì thế mà giờ học Lịch sử diễn ra rất nặng nề, thụ động Hiện tượng giáo viên dạy bài Lịch sử như một bài tập đọc, chưa sử dụng các sự kiện một cách sinh động linh hoạt là phổ biến Đồng thời khi tiến hành một bài dạy Lịch

sử đa số giáo viên tiểu học chưa khai thác sâu kiến thức lịch sử để dạy cho học sinh, sử dụng ngôn ngữ chưa uyển chuyển, truyền cảm để gây được hứng thú cho học sinh Do đó học sinh học môn Lịch sử một cách thụ động nên hiệu quả giờ học chưa cao

Thế hệ trẻ ngày nay, các em học sinh lớp 4, 5 tuy ra đời trong hoàn cảnh hoà bình, nhưng không bao giờ làm cho các em quên quá khứ huy hoàng, đau thương của dân tộc, ông cha ta đã trải qua Một trong những hiệu quả lớn đối với việc dạy học Lịch sử là phải đổi mới phương pháp dạy học Trong hướng đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử, một điều cần chú trọng là bằng mọi cách khắc phục lối dạy học nhồi nhét, do quan niệm sai lầm cho rằng học Lịch sử chỉ cần nhớ chứ không đòi hỏi trí thông minh Vì vậy việc sử dụng phương pháp trò chơi trong quá trình dạy học Lịch sử là một trong những hướng đổi mới phương pháp dạy học theo quan niệm hiện đại nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh

Về phân môn Địa lí cũng vậy, mặc dù đội ngũ giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc cải tiến phương pháp và hình thức dạy học, song nhìn chung phần lớn giáo viên vẫn dạy Địa lý bằng hệ thống phương pháp cũ, giáo viên cố gắng chủ động truyền đạt một cách rõ ràng, mạch lạc nội dung của bài Địa lý đã được soạn sẵn, học sinh thụ động tiếp thu và ghi nhớ nội dung mà giáo viên truyền đạt đồng thời kết hợp trả lời câu hỏi giáo viên nêu ra Về nhà học sinh học thuộc lòng những ý chính của bài tóm tắt mà giáo viên đã ghi trên bảng

Trang 31

Nhiều giáo viên tiểu học trong khi dạy Địa lý, chỉ sử dụng các thiết bị dạy học địa lý để chuẩn bị cho bài giảng, mà ít chú ý đến chức năng nguồn tri thức của chúng, tức là không chú ý đến việc cho học sinh khai thác kiến thức từ các nguồn này Ở một số trường, thiết bị dạy học Địa lý còn thiếu thốn, do vậy nhiều học sinh không được thường xuyên làm việc với các thiết bị nên còn rất yếu về các kỹ năng địa lý cần thiết, nhất là kỹ năng sử dụng bản đồ

Cũng có một số giáo viên đã cố gắng phát huy tính tích cực tự giác của học sinh trong lớp học và làm cho giờ học sôi nổi bằng cách như tổ chức cho học sinh thảo luận, tổ chức một số trò chơi có liên quan đến nội dung địa lý Song phần lớn các câu hỏi chỉ là hình thức, chưa thực sự tác động, kích thích tư duy của học sinh

Trong khi đó, SGV [16] yêu cầu :

- Tập trung vào dạy cách học, đặc biệt là giúp HS có nhu cầu và biết cách

tự học

- Coi trọng và khuyến khích dạy học trên cơ sở hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo của HS

- Khuyến khích GV sử dụng đúng mức, đúng chỗ, đúng lúc các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học truyền thống cũng như hiện đại để phát huy tối đa các mặt mạnh của từng phương pháp và của sự phối hợp giữa các phương pháp

Trong thực tế, đa số GV tiểu học thường sử dụng các phương pháp truyền thống như thuyết trình, vấn đáp, kể chuyện Các phương pháp thảo luận nhóm, sắm vai, chỉ bản đồ, lược đồ, hướng dẫn viên du lịch, trắc nghiệm, điền chỗ trống … thỉnh thoảng cũng được GV sử dụng

Đối chiếu giữa yêu cầu và thực tế như trên, chúng ta thấy còn có khoảng cách Đó là thực trạng của đội ngũ GV hiện nay nói chung và GV thành phố Thanh Hóa nói riêng

2.2.2 Về sử dụng hình thức dạy học

Phần lớn các giáo viên vẫn sử dụng hình thức lớp - bài trong dạy học

Trang 32

Mặc dù song song với việc thay sách, Bộ GD& ĐT đã chủ trương đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học

GV có thể dạy học theo quy trình sau :

- GV hoặc HS đặt ra vấn đề cần giải quyết trong bài thông qua các tình huống có vấn đề hoặc tìm hiểu kinh nghiệm của HS có liên quan đến nội dung của bài

- Tổ chức cho HS khai thác các kiến thức trong SGK, tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ… Qua đó, các em được biết sự kiện, hiện tượng, … lịch sử, địa lí diễn ra như thế nào

- Từ những hiểu biết trên, GV tổ chức cho HS trình bày dưới các hình thức khác nhau (nói, viết, vẽ…) về một sự kiện, hiện tượng địa lí sinh động và chính xác ; đồng thời các em cũng biết vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống trong việc bảo vệ thiên nhiên, môi trường và di sản văn hóa

GV cần vận dụng tối đa những điều kiện cụ thể ở địa phương để tổ chức các giờ học ngoài lớp, cho HS đi tham quan các cảnh đẹp, các di tích lịch sử -văn hóa, gặp gỡ các cá nhân và tập thể đã trực tiếp tham gia vào các sự kiện lịch

Mặt khác, về cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu, không gian lớp học chưa thuận lợi cho việc tiến hành trò chơi học tập, giáo viên ngại áp dụng vì sợ lớp ồn, ảnh hưởng đến các lớp khác Kinh phí dành cho chuyên môn rất hạn chế, tài liệu tham khảo ít hoặc không có Nhiều giáo viên chưa nắm vững kiến thức lịch sử và địa lý, thiếu kỹ năng đặc trưng để dạy bộ môn cũng là trở ngại đáng kể khi sử dụng hình thức và phương pháp trò chơi

2.2.3 Về việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học

Trang 33

Theo quy định tại Quyết định 30/QĐ-BGD&ĐT năm 2005 của Bộ GD&ĐT thì môn LS&ĐL lớp 4 là một trong bốn môn học bắt buộc được đánh giá, xếp loại bằng điểm số Việc này tạo tính tường minh và định lượng rõ ràng cho kết quả dạy học Ở các trường tiểu học tại thành phố Thanh Hóa, đại đa số GV sử dụng các hình thức kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, kiểm tra định kì để đánh giá HS Cách kiểm tra, đánh giá được lưu ý là :

- HS không phải học thuộc lòng mà cần trình bày các sự kiện, nhân vật lịch

sử, hiện tượng địa lí bằng chính ngôn ngữ của mình một cách chính xác và sinh động dưới nhiều hình thức : nói, viết, vẽ…

- Bài làm của HS cần có sự phân tích, tổng hợp, khái quát, … nhưng chỉ ở mức độ đơn giản Ví dụ, HS có thể tìm ra một, hai đặc điểm tiêu biểu nhất của một sự kiện, hiện tượng địa lí, nhân vật lịch sử

- Bên cạnh việc GV đánh giá kết quả học tập của HS, nên khuyến khích hình thức HS đánh giá lẫn nhau và HS tự đánh giá bản thân

Trong thực tế, ít GV dám cho điểm qua theo dõi hoạt động học tập của HS Khi tổ chức trò chơi học tập, các GV cũng thường chỉ dám cho điểm mang tính động viên theo kiểu tính điểm trong cuộc chơi Điều này kéo theo sự hạn chế trong cách thức tổ chức lớp học và cũng chưa thực sự hiểu thấu đáo tính nhân văn của việc đánh giá xếp loại HS theo định hướng của Bộ GD&ĐT

Mặt khác, trong thi đua khen thưởng, cũng ít thấy giấy khen HS học tốt một mặt Ví dụ : “Là học sinh giỏi môn Lịch sử và Địa lí” Sự chưa quan tâm đầy đủ này đã làm cho người dạy và người học có một phần xem nhẹ môn học, dẫn đến chất lượng đào tạo môn học chưa cao

2.3 Thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học Lịch sử và Địa lí lớp 4 ở các trường tiểu học thành phố Thanh Hóa

Trang 34

Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra kết hợp với trò chuyện, phỏng vấn các CBGV một số trường tiểu học ở thành phố Thanh Hóa và thu được kết quả như sau :

2.3.1 Nhận thức của giáo viên về trò chơi và sử dụng trò chơi trong dạy học

Trò chơi học tập giúp học sinh lĩnh hội những tri thức và kỹ năng khác nhau mà không có chủ định từ trước Đồng thời, giúp người học cảm nhận được một cách trực tiếp kết quả hành động của mình, từ đó thúc đẩy tính tích cực, mở rộng, củng cố và phát triển vốn hiểu biết của người học

Từ ý kiến của các giáo viên ta khẳng định mức độ cần thiết của việc sử dụng trò chơi cho học sinh trong dạy học môn LS&ĐL ở trường tiểu học

Trang 35

Bảng 2: Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc tổ chức trò chơi trong dạy học môn LS&ĐL:

4 Phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh 92 92,8

8 Kìm hãm sự phát triển tư duy trừu tượng của học sinh 12 12,4

Theo đánh giá của các giáo viên tiểu học, 100% ý kiến cho rằng việc sử dụng trò chơi cho học sinh cho phép nâng cao hiệu quả giờ dạy; 89,6% ý kiến đánh giá sử dụng trò chơi kích thích hứng thú học tập của học sinh Giờ học sinh động hơn sôi nổi hơn chiếm 90% ý kiến, phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh chiếm 92,8 % ý kiến

Mặt hạn chế của việc sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học LS&ĐL được các GV lí giải là: Giờ học ồn ào, lộn xộn, kém hiệu quả; Chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian

Về ý kiến cho rằng có sự kìm hãm phát triển tư duy trừu tượng của học sinh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong các ý kiến của giáo viên

Qua ý kiến đánh giá của cán bộ quản lí và giáo viên tiểu học cho phép khẳng định mức độ cần thiết và vai trò của việc sử dụng trò chơi cho học sinh đối với việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả dạy học môn LS&ĐL

ở trường tiểu học

Trang 36

2.3.2 Tình hình sử dụng trò chơi trong dạy học môn Lịch sử và Địa lý ở các

trường tiểu học của thành phố Thanh Hóa:

- Mức độ sử dụng

Qua khảo sát, ta thấy mức độ không thường xuyên sử dụng trò chơi trong dạy học LS&ĐL là phổ biến

Bảng 3: Mức độ sử dụng trò chơi cho học sinh của giáo viên tiểu học trong

quá trình dạy học môn LS&ĐL:

Như vậy, giữa việc nhận thức và việc sử dụng trò chơi của giáo viên tiểu học chưa nhất quán trong nhận thức và hành động Đa số giáo viên nhận thức được vai trò quan trọng của việc tổ chức trò chơi trong dạy học môn LS&ĐL nhưng do năng lực hạn chế, thiếu kiến thức về lịch sử và địa lý nên việc tổ chức trò chơi cho học sinh còn gặp nhiều khó khăn

Cá biệt có GV còn chưa biết cách tổ chức trò chơi cho học sinh trong quá trình dạy học Một số giáo viên chưa nắm vững cách thức, quy trình nên tuy có

tổ chức nhưng hiệu quả chưa cao, giờ học ồn ào, ảnh hưởng đến tiến trình các bước lên lớp tiếp theo nên ngại sử dụng phương pháp trò chơi vào dạy học

- Các loại trò chơi:

Qua khảo sát, chúng tôi thấy GV trên địa bàn thành phố Thanh Hóa thường

sử dụng các loại trò chơi đã được nhiều người sử dụng và tương đối quen thuộc,

Trang 37

dễ tổ chức như: Đóng vai, Tiểu phẩm, Hái hoa dân chủ, Tiếp sức, Kết đôi, Gạch nối, Phóng viên; Hướng dẫn viên du lịch, Ai nhanh, ai đúng, Điền chỗ trống, Gắn chữ vào lược đồ, Giải ô chữ

Về hình thức và không gian chơi, phần lớn GV chỉ mới dừng lại ở mức tổ chức trong lớp học, chơi theo tổ nhóm cử đại diện Ít GV đưa HS ra ngoài không gian lớp học hoặc gắn hiện trường Các trường chúng tôi tiến hành khảo sát và thực nghiệm đều rất gần Bảo tàng, trung tâm triển lãm (cách dưới 0,5 km), các đình chùa mang đậm dấu tích lịch sử trong chương trình học nhưng không được GV khai thác

Rất ít GV dám sáng tạo trò chơi mới hoặc những trò chơi đối đáp nhanh Đặc biệt ít trò chơi tổ chức cho 100% HS trong lớp cùng được chơi Điều này phần lớn do năng lực của GV và cách thức bồi dưỡng nghiệp vụ phương pháp dạy học của các cấp quản lí chuyên môn

Các trò chơi có kiến thức lịch sử hoặc địa lí liên quan đến thực tế gần gũi ở địa phương hoặc phải qua khâu tổ chức sưu tầm, biên soạn lại cũng ít được GV quan tâm tổ chức

- Cách thức tổ chức trò chơi cho học sinh của giáo viên trong quá trình dạy học môn Lịch sử và Địa lý:

* Theo chúng tôi, cấu trúc của trò chơi học tập gồm:

+ Nhiệm vụ nhận thức: đây chính là nội dung chơi có tính chất như một bài toán mà học sinh phải giải dựa trên các điều kiện đã cho Mỗi một trò chơi học tập có nhiệm vụ nhận thức của mình, chính điều đó làm cho trò chơi này khác trò chơi khác

+ Các hành động chơi là thành phần chính của trò chơi học tập, thiếu chúng thì không còn là trò chơi nữa Các hành động chơi như là họa tiết của chủ

đề chơi Những hành động ấy càng nhiều bao nhiêu thì bản thân trò chơi càng lí thú bấy nhiêu

Trang 38

+ Luật chơi: là những quy định sẵn có mà nhất thiết người chơi phải tuân thủ trong khi chơi Luật chơi quyết định trò chơi và nếu phá vỡ chúng thì trò chơi học tập cũng bị phá vỡ theo

+ Kết quả: trò chơi học tập bao giờ cũng có một kết quả nhất định, đó là lúc kết thúc trò chơi, người học giải quyết thành công một nhiệm vụ nhận thức nào đó mà trò chơi yêu cầu

Qua việc nghiên cứu điều tra, khảo sát thực tế dạy học LS&ĐL ở trường tiểu học chúng tôi nhận thấy rằng : Mặc dù giáo viên tiểu học đã nhận thức đúng vai trò của trò chơi nhưng nhìn chung đa số giáo viên còn lúng túng trong việc hiểu cấu trúc của trò chơi Từ đó, việc tổ chức trò chơi cho học sinh thường bắt đầu từ việc lựa chọn trò chơi cho thích hợp với nội dung kiến thức của bài học, xác định mục đích chơi, rút ra kết luận Tuy nhiên phần lớn giáo viên chưa nắm vững được quy trình này Giáo viên thường chọn trò chơi và “hướng dẫn trước” cho một số học sinh nên khi chơi cứ như diễn lại Điều này cho thấy cách thức tổ chức chưa khoa học, ít HS được làm việc thực sự Vì vậy giờ học

ồn ào, lộn xộn dẫn đến các tiết học kém hiệu quả, mất thời gian Qua điều tra,

đa số giáo viên tiểu học thường tổ chức trò chơi cho học sinh theo các bước sau:

- Bước 1: Nêu tên trò chơi

- Bước 2: Giáo viên phát lệnh chơi

- Bước 3: Học sinh tiến hành chơi

- Bước 4: Rút ra kết luận Như vậy phần lớn giáo viên tiểu học chưa nắm vững, nắm đúng cách thức

tổ chức trò chơi cho học sinh trong quá trình dạy học môn LS&ĐL Đặc biệt khi tổ chức trò chơi thi đua giữa các nhóm các tổ giáo viên còn lúng túng gặp nhiều khó khăn Vì vậy khi trả lời câu hỏi : theo đồng chí muốn tổ chức trò chơi cho học sinh có hiệu quả cần phải có những điều kiện gì? Phần lớn các giáo viên đều trả lời: Phải nắm được cách thức chơi, phải có sự chuẩn bị trò chơi một cách công phu, có kế hoạch cụ thể để hướng dẫn chơi có hiệu quả

Trang 39

- Hiệu quả của việc sử dụng trò chơi đối với việc nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử và Địa lí

Theo chúng tôi, trò chơi học tập có những vai trò và đặc trưng sau:

+ Trò chơi, bản thân nó là một hoạt động trực tiếp với tính hấp dẫn tự thân của mình có một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệu quả, kích thích sự hứng thú nhận thức và niềm say mê học tập của người học Học tập thông qua trò chơi sẽ giúp học sinh ghi nhớ dễ dàng và bền vững hơn

+ Trò chơi học tập khác với trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức và luật chơi trong trò chơi đòi hỏi người chơi phải huy động trí óc làm việc thực sự nhưng chúng lại được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, thú vị (chơi là phương tiện, học là mục đích) Học trong quá trình chơi là quá trình lĩnh hội tri thức nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó, khơi dậy hứng thú tự nguyện và giảm thiểu sự căng thẳng cho học viên

+ Trong quá trình chơi, giải quyết nhiệm vụ chơi, người học phải dùng các giác quan để tiếp nhận thông tin ngôn ngữ, phải tự phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại và khái quát hóa, tùy theo nhiệm vụ nhận thức của mỗi trò chơi làm cho tư duy ngôn ngữ mạch lạc hơn, tư duy trực quan hình tượng phát triển hơn, các thao tác trí tuệ được hình thành Qua trò chơi học tập, người học tiếp thu, lĩnh hội và khắc sâu nhiều tri thức, nhiều khái niệm và hình thành những biểu tượng rõ rệt về các sự việc, hiện tượng xung quanh, luyện tập, củng cố và mở rộng vốn kiến thức của mình

Thực tế hiện nay là nhiều GV chưa thực hiện tốt và đầy đủ các yêu cầu như: Các trò chơi phải thú vị để HS thích được tham gia Phải thu hút được đa

số hay tất cả HS tham gia Các trò chơi phải đơn giản, dễ thực hiện Trò chơi phải có mục đích học tập, không đơn thuần là trò chơi giải trí nên đã có những hạn chế xảy ra là: tổ chức không tốt, khó kiểm soát dẫn đến bị “cháy giáo án” Hay do HS quá hưng phấn, GV không có biện pháp điều chỉnh nên làm ảnh hưởng đến việc học những phần tiếp theo hoặc học môn học khác Tất cả những

Trang 40

điều trên đã làm giảm hiệu quả tích cực của phương pháp dạy học bằng trò chơi học tập trong môn LS&ĐL lớp 4 ở thành phố Thanh Hóa

2.4 Chất lượng học tập môn Lịch sử và Địa lý của học sinh:

Để khảo sát về chất lượng học tập, chúng tôi đã cho học sinh làm một số bài kiểm tra sau khi học Sau đây là thống kê kết quả qua 2 bài Lịch sử và 2 bài Địa lí được kiểm tra

Bảng 4: Kết quả học tập của học sinh qua một số bài dạy:

Kết quả kiểm tra %

1 Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân 9,5 32,5 47,3 10,7

Qua dự giờ chúng tôi nhận thấy giờ học chỉ sinh động hơn, học sinh học tập tích cực hơn khi giáo viên sử dụng trò chơi để các em tiến hành hoạt động Những giờ mà giáo viên không tổ chức cho học sinh tiến hành trò chơi thường rất nặng nề uể oải, học sinh mệt mỏi, kém hào hứng dẫn đến hay nói chuyện riêng, làm việc riêng trong lớp

2.5 Đánh giá chung về thực trạng

Từ sự phân tích trên, chúng tôi rút ra những nhận xét sau:

Trước tiên về thực trạng dạy học LS&ĐL hiện nay Mặc dù phần lớn giáo viên tiểu học được điều tra đánh giá rất cao vai trò của việc tổ chức trò chơi cho học sinh trong giờ học môn LS&ĐL là góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy

Ngày đăng: 22/08/2023, 00:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD&ĐT (2005). Tài liệu bồi dƣỡng GV dạy các môn học lớp 4, tập 1. NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dƣỡng GV dạy các môn học lớp 4, tập 1
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2005
2. Lê Thu Dinh, Bùi Phương Nga, Trịnh Quốc Thái (2000) . Đổi mới việc dạy học môn Tự nhiên- Xã hội ở trường tiểu học. NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới việc dạy học môn Tự nhiên- Xã hội ở trường tiểu học
Tác giả: Lê Thu Dinh, Bùi Phương Nga, Trịnh Quốc Thái
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2000
3. Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Hữu Dũng (1999). Đổi mối nội dung phương pháp ở bậc tiểu học. Vụ giáo viên. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mối nội dung phương pháp ở bậc tiểu học
Tác giả: Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Vụ giáo viên
Năm: 1999
4. Đỗ Đình Hoan (1997). Hỏi đáp về đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học. NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học
Tác giả: Đỗ Đình Hoan
Nhà XB: NXBGD, Hà Nội
Năm: 1997
5. Đặng Vũ Hoạt: Các phương pháp dạy học trong nhà trường hiện nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp dạy học trong nhà trường hiện nay
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt
7. Bùi Văn Huệ (1997). Tâm lý tiểu học, NXBGD. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1997
8. Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành (1996). Lý luận dạy tiểu học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy tiểu học
Tác giả: Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành
Năm: 1996
9. Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành (2005). Đánh giá trong giáo dục tiểu học .Tài liệu giảng dạy sau đại học. ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục tiểu học
Tác giả: Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành
Nhà XB: Tài liệu giảng dạy sau đại học
Năm: 2005
10. Lê Thị Hương (2005). Sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học Địa lí ở trường tiểu học. Luận văn tốt nghiệp Đại học. ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học Địa lí ở trường tiểu học
Tác giả: Lê Thị Hương
Nhà XB: ĐH Vinh
Năm: 2005
11. Nguyễn Thị Hường (2003). Sử dụng trò chơi trong dạy học Lịch sử ở trường tiểu học. Tạp chí Giáo dục số 61, tháng 6 - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng trò chơi trong dạy học Lịch sử ở trường tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2003
12. Hoàng Xuân Khánh (1997). Trò chơi học tập góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện. Tạp chí Giáo dục tiểu học, số 2/ 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện
Tác giả: Hoàng Xuân Khánh
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục tiểu học
Năm: 1997
13. Hoàng Xuân Khánh (2009). Sử dụng Trò chơi trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4,5. Tạp chí Giáo dục, số 219, tháng 8/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng Trò chơi trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4,5
Tác giả: Hoàng Xuân Khánh
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2009
14. Trần Đồng Lâm: 100 trò chơi vận động cho học sinh tiểu học. NXBGD. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 trò chơi vận động cho học sinh tiểu học
Tác giả: Trần Đồng Lâm
Nhà XB: NXBGD
15. Lịch sử và Địa lí 4 (2005). Sách giáo khoa. NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và Địa lí 4
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2005
16. Lịch sử và Địa lí 4 (2005). Sách giáo viên. NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và Địa lí 4
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2005
17. Nguyễn Bá Minh (2007).Dạy học hình thành khái niệm “Dạy học lấy người học làm trung tâm”. Tài liệu giảng dạy sau đại học. ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hình thành khái niệm “Dạy học lấy người học làm trung tâm”
Tác giả: Nguyễn Bá Minh
Nhà XB: Tài liệu giảng dạy sau đại học
Năm: 2007
18.Nguyễn Tuyết Nga (chủ biên) 2007. Trò chơi học tập môn lịch sử và địa lí lớp 4,5.NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập môn lịch sử và địa lí lớp 4,5
Tác giả: Nguyễn Tuyết Nga
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2007
19. Võ Tá Ngọc (2002). Sử dụng phương pháp trò chơi trong quá trình dạy học phân môn Lịch sử ở trường tiểu học. Luận văn tốt nghiệp Đại học. ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phương pháp trò chơi trong quá trình dạy học phân môn Lịch sử ở trường tiểu học
Tác giả: Võ Tá Ngọc
Nhà XB: ĐH Vinh
Năm: 2002
20. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987). Giáo dục học. NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1987
21. Nguyễn Minh San (2006). Bách khoa thƣ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. NXB VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa thƣ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh San
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w