Nghiên cứu về lịch sử văn hóa dòng họ vừa có ý nghĩa trong việc giữ gìn, tồn vinh, phát huy và giáo dục các truyền thống lịch sử địa phương, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của d
Trang 1từ ánh nguyệt
lịch sử - văn hóa dòng họ hà huy ở cẩm h-ng, cẩm xuyên, hà tĩnh từ thế kỷ XVI
đến nay (2009)
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Trang 2
tõ ¸nh nguyÖt
lÞch sö - v¨n hãa dßng hä hµ huy ë cÈm h-ng, cÈm xuyªn, hµ tÜnh tõ thÕ kû XVI
Trang 3thầy cô giáo khoa Sau Đại học, Khoa Lịch sử - Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tác giả trong qúa trình học tập và hỗ trợ khi tiến hành đề tài
Qua đây cũng cho tác giả gửi lời tri ân, cảm tạ đến Hội đồng gia tộc Hà Huy, ông Hà Huy Sửu, ông Hà Huy Quỳ, Hà Huy Tửu; Thư viện Nghệ An, Thư viện Hà Tĩnh, Thư viện trường Đại học Vinh, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Bảo tàng Hà Tĩnh, Huyện ủy Cẩm Xuyên, UBND xã Cẩm Hưng đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng đặc biệt cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn luôn giúp đỡ, ủng hộ tác giả trong suốt những năm qua
Xin tỏ lòng thành kính !
Vinh, tháng 12 năm 2009
Tác giả
Từ Ánh Nguyệt
Trang 4Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh từ thế kỷ XVI đến nay (2009) 11
Chương 2 Những đóng góp của dòng họ Hà Huy trong lịch sử dân tộc 34
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 6quá khứ, nhưng những gì là giá trị đích thực thì vẫn mãi mãi tồn tại và thách thức cùng tháng năm Lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua bao thăng trầm biến động với những cuộc thiên di đắp đổi vẫn sáng ngời những chiến tích âm vang và đáng tự hào Trong bản hùng ca chung ấy có cội nguồn của mỗi tên đất, tên làng, có truyền thống của mỗi phong tục tập quán và đặc biệt có cả lịch sử đi về của mỗi dòng họ, giống nòi
Văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam tồn đọng lâu dài và cơ bản là
ở văn hóa làng xã và văn hóa dòng họ Dòng họ là một môi trường văn hóa gìn giữ những phong tục, cúng tế, lễ hội mang đậm những dấu ấn riêng của người Việt Nam Nó tạo nên bộ mặt riêng cho từng địa phương, tạo nên những di sản văn hóa vô giá cho văn hóa dân tộc Văn hóa Việt Nam tạo nên tính cách Việt, tâm hồn Việt Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn xem văn hóa
là một mặt trận quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong
đó có văn hóa dòng họ
Ở nước ta từng tồn tại các dòng họ văn hiến với những nhân vật kiệt xuất đã làm vinh quang cho cả dòng họ và cả quốc gia Do vậy, dòng họ và văn hóa dòng họ còn đồng nghĩa với sự đa dạng văn hóa, bản sắc văn hóa một nhân tố động lực thúc đẩy sự phát triển của văn hóa Việt Nam Nghiên cứu về lịch sử văn hóa dòng họ vừa có ý nghĩa trong việc giữ gìn, tồn vinh, phát huy
và giáo dục các truyền thống lịch sử địa phương, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, trở thành nguồn tài liệu để tìm hiểu lịch sử văn hóa dân tộc, vừa giúp chúng ta hiểu thên về thân thế, sự nghiệp và những đóng góp của những nhân vật lịch sử
Từ xưa nhân dân ta đã có những câu “Chim có tổ, người có tông”,
“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Đó là truyền thống đạo
Trang 7lý của người Việt Nam Do vậy, nghiên cứu tìm hiểu dòng họ là góp phần củng cố, nuôi dưỡng ý thức về cội nguồn, tình yêu quê hương, đất nước, ý thức cộng đồng của người Việt Nam Đó là bản sắc văn hóa, đó là sức mạnh của truyền thống Việt Nam đã giúp con người Việt Nam vượt qua những thử thách trong lịch sử và vững bước đi vào tương lai
Trong thời kỳ mới, khi đất nước đang có những chuyển biến tốt đẹp trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì xu hướng tìm về cội nguồn, khơi dậy truyền thống dòng họ, truyền thống quê hương trở thành nhu cầu ngày càng lớn để giữ gìn bản sắc văn hóa dòng họ, văn hóa dân tộc Trong các dòng họ, người ta chắp nối gia phả, trùng tu lại từ đường, lăng mộ, bia ký và một số nghề truyền thống.v.v Từ đó đã khơi dậy truyền thống dân tộc, gia phong dòng họ, thể hiện lòng thành kính, biết ơn tổ tiên Do đó, nghiên cứu một cách nghiêm túc, khoa học lịch sử - văn hóa dòng họ góp phần gợn đục khơi trong củng cố khối đại đoàn kết dân tộc
Hà Tĩnh - mảnh đất địa linh nhân kiệt với truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, anh hùng bất khuất trong chiến đấu Nhân dân Hà Tĩnh đã cùng nhân dân cả nước viết nên những trang sử vẻ vang, để lại một gia tài văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng mang rõ sắc thái điạ phương trong bản sắc văn hóa Việt Nam, trong đó tiêu biểu là văn hóa dòng họ Hà Tĩnh là nơi sinh cơ lập nghiệp của biết bao dòng họ Người ta từng biết đến những cái tên rất dễ khắc sâu như dòng họ Nguyễn ở Trường Lưu, họ Lê ở Trung Lễ, họ Nguyễn ở Tiên Điền, họ Ngụy ở Xuân Viên, họ Dương ở Mỹ Duệ, họ Lê ở Hà Trung, họ Đặng ở Tùng Lộc, họ Phan Huy ở Thạch Châu.v.v Đặc biệt, người ta từng biết đến dòng họ có bề dày lịch sử và truyền thống, có những cống hiến về mọi lĩnh vực cho đất nước qua các thời kỳ: có nhiều bậc tài cao, học rộng, có lòng yêu nước thương dân, là những
Trang 8danh nhân, nhà giáo, nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị lỗi lạc.v.v Đó là dòng
họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
Dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh có nguồn gốc tổ tiên là từ cụ thủy tổ Hà Công Mại (1306 - 1405) ở xã Tĩnh Thạch, huyện Thiên Lộc, nay là Tùng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh Vào đời thứ 7, có một chi chuyển về làng Kim Nặc nay là xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh và đời thứ 8 dòng họ Hà ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên đổi thành Hà Huy Đến nay đã hơn 400 năm với 17 thế hệ, con cháu của dòng họ Hà Huy đã có mặt ở trong nhiều tỉnh thành trong cả nước như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tây Ngoài ra, còn có nhiều người sinh sống ở nước ngoài như ở Ô-xtrây-lia, Canađa Dòng họ Hà Huy đã có những đóng góp đáng ghi nhận cho lịch sử dân tộc
Nghiên cứu về dòng họ Hà Huy giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về gia tộc, cộng đồng, về mối quan hệ giữa các dòng họ Từ đó duy trì, phát huy khối đoàn kết tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn để đóng góp xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp Cũng từ đó mà giữ vững gia phong, phát huy truyền thống tốt đẹp, đồng thời làm sáng ngời văn hóa gia tộc trong di sản văn hóa dân tộc, góp phần hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta hiên ngang sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốn
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Lịch sử -
văn hóa dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh từ thế kỷ XVI đến nay (2009)” để làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
Trang 9tích dòng họ, lịch sử làng xã vừa nhằm mục đích bảo tồn phát huy truyền thống văn hóa dòng họ vừa để giao lưu văn hóa phục vụ sự nghiệp cách mạng xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Do đó, hiện nay nghiên cứu về dòng họ là một đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu
Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, hiện nay một số địa phương đã
tổ chức các cuộc hội thảo về lịch sử dòng họ Năm 2006, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Hà Huy Tập, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức một cuộc hội thảo mang tựa đề “Đồng chí Hà Huy Tập với cách mạng Việt Nam” tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
Đối với dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh nói chung
và vùng đất Cẩm Xuyên nói riêng cũng đã có một số tác giả, tài liệu đề cập đến nhưng chủ yếu là viết về địa lý tự nhiên, con người vùng đất Cẩm Xuyên hoặc là những tài liệu nói về cá nhân người chiến sĩ cộng sản Hà Huy Tập chứ chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu cụ thể về lịch sử - văn hóa dòng họ Hà Huy Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi đã tiếp cận được một
số tài liệu như sau:
Trong “An Tĩnh cổ lục” (Levieux An - Tinh) tác giả Hippolyte Le Breton cũng đã nói đến vùng đất Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh nơi mà dòng họ Hà Huy chọn làm nơi sinh cơ lập nghiệp
Tác giả Thái Kim Đỉnh trong “Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh” do Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh ấn hành cũng có nói đến các nhà khoa bảng của dòng
họ Hà Huy như Hà Huy Sào, Hà Huy Phúc, Hà Huy Đán, Hà Huy Phẩm
Trong “Lịch sử Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên” tập 1 (1930 - 1945) của Ban thường vụ huyện đảng bộ Cẩm Xuyên đã giới thiệu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và con người Cẩm Xuyên
Trang 10Trong cuốn “Họ Hà - các nhà khoa bảng, các nhân vật lịch sử, các văn bia” của nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội do Hà Văn Sỹ chủ biên đã đề cập đến dòng họ Hà ở Hà Tĩnh cũng như nhánh Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh Ngoài ra, tác phẩm còn trình bày về Tổng Bí thư Hà Huy Tập với quá trình hình thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương
Tác phẩm “Hà Huy Tập Tổng Bí thư của Đảng (1936 - 1938)” của tác giả Đức Vượng, Hội đồng lý luận Trung ương - Ban thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh xuất bản năm 2002 đã nói về đóng góp của Hà Huy Tập đối với cách mạng Việt Nam
Tác phẩm “Quê hương, gia đình, những nhân tố hình thành nhân cách
và bản lĩnh chính trị của Hà Huy Tập” của tác giả Nguyễn Thiện, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã trình bày về truyền thống khoa bảng, những người đậu đạt của dòng
họ Hà Huy
Bản gia phả của dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
do cụ Tư Doãn Hà Huy Đán (1772 - 1837) và cụ đốc học Hà Huy Phẩm biên soạn đã trình bày về nguồn gốc của dòng họ Hà Huy, quá trình phát triển qua các đời thứ, những nhân vật tiêu biểu của dòng họ
Bản gia phả họ Hà trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gia phả họ
Hà Tông ở Tùng Lộc, Can Lộc, gia phả họ Hà Huy ở Sơn Thịnh, Hương Sơn
Trong cuốn “Hà Huy Tập một số tác phẩm” của NXB Chính trị Quốc gia đã đề cập đến các tác phẩm chính trị của Tổng Bí thư Hà Huy Tập
“Thêm một số hiện vật, tư liệu góp phần phác họa chân dung cách mạng của đồng chí Hà Huy Tập” của Ths Triệu Văn Hiển - Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã đề cập đến chuyện gia đình giữa Hà Huy Tập với vợ là bà Nguyễn Thị Giáo
Bản dịch từ bút tích viết tay bằng tiếng Pháp của Hà Huy Tập do NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội dịch năm 2006 đã trình bày về tiểu sử tự thuật của
Hà Huy Tập
Trang 11Trong tập “Hà Huy Tập với cách mạng Việt Nam và quê hương Hà Tĩnh” của NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội 2006 có bài viết “Lê Hồng Phong
và Hà Huy Tập trong quá trình khôi phục ban lãnh đạo Đảng và phong trào cách mạng Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX” của TS Trần Hải
Trong “Những người cộng sản trên quê hương Nghệ Tĩnh” do Ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh xuất bản năm 1978 đã nói về tiểu sử và sự nghiệp cách mạng của Hà Huy Tập
Ngoài những tác phẩm đã xuất bản, liên quan đến đề tài chúng tôi nghiên cứu còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như bài “Hà Huy Tập tiểu sử tự thuật”, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử Đảng số 1 - 2002 Đặc biệt là các bài tham luận tham gia Hội thảo khoa học nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tổng Bí thư Hà Huy Tập như:
- Bài “Đồng chí Hà Huy Tập với cách mạng Việt Nam” của TS Nguyễn Văn Sáu - Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Bài “Hà Huy Tập - người tổ chức, chỉ đạo xuất bản sách, báo, tạp chí của Đảng trong thời kỳ mặt trận dân chủ (1936 - 1939)” của ThS Ngô Vương Anh, Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Bài “Tổng Bí thư Hà Huy Tập - nhà hoạt động lý luận xuất sắc của Đảng ta” của GS Nguyễn Đức Bình, Nguyên ủy viên Bộ Chính trị - Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Bài “Đồng chí Hà Huy Tập - người cộng sản kiên trung, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam” của ThS Nguyễn Thị Giang, Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Bài “Đồng chí Hà Huy Tập với báo chí cách mạng Việt Nam” của ThS Nguyễn Thị Bích Hạnh, Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh
Trang 12- Bài “Một số tư liệu của mật thám Pháp liên quan đến hoạt động của đ/c Tổng Bí thư Hà Huy Tập” của TS Phan Xuân Thành, Giám đốc Bảo tàng
Xô viết Nghệ Tĩnh
Về cơ bản, trong các tài liệu mà chúng tôi tiếp cận trên ít nhiều đã nói đến một số vấn đề về truyền thống dòng họ Hà Huy, một số đóng góp của dòng họ Hà Huy cho lịch sử dân tộc, cũng như đóng góp của các nhân vật và
di tích dòng họ Hà Huy Nhìn chung, các bài viết đó còn mang tính khái quát
lẻ tẻ hoặc chỉ tập trung vào một cá nhân như Hà Huy Tập chứ chưa đi sâu nghiên cứu tổng thể quá trình phát triển của dòng họ và những đóng góp của dòng họ Hà Huy đối với tiến trình phát triển của lịch sử nước nhà
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hà Tĩnh, từ lâu tôi mong muốn được đóng góp sức mình cho sự nghiệp phát triển của quê hương và từ thực tế trên cùng với mong muốn đóng góp cho quê hương đã thôi thúc tôi đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện hơn về dòng họ Hà Huy để góp phần giữ gìn và phát triển văn hóa địa phương cũng như văn hóa dân tộc
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài
Trang 13- Phần quan trọng của đề tài là truyền thống của dòng họ Hà Huy và những đóng góp của dòng họ này cho lịch sử dân tộc qua các thời kỳ Chúng tôi đi trình tự qua các thế hệ để có một cái nhìn tổng quan về sự phát triển của dòng họ Qua đó chúng ta có thể nhận thấy được sự tiếp nối truyền thống của dòng họ, sự phát huy cũng như những hạn chế của thế hệ sau Đặc biệt là đánh giá đúng những đóng góp lớn lao của dòng họ Hà Huy với quê hương Cẩm Xuyên, đối với lịch sử dân tộc
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
4.1.2 Tài liệu nghiên cứu
Các loại tài liệu nghiên cứu mà chúng tôi tham khảo được đó là các tài liệu nghiên cứu lịch sử, văn hóa, cụ thể như: An Tĩnh cổ lục của Hippolyte Le Breton, Lịch sử Việt Nam của Đào Duy Anh, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Việt sử ký toàn thư, Dư địa chí Hà Tĩnh trong Dư địa chí các tỉnh, Cẩm Xuyên đất và người, Lịch sử Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên.v.v
4.1.3 Các tài liệu khác
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tài liệu khác như: Từ điển các nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Bá Thế, Danh nhân Hà Tĩnh, Các nhà khoa bảng Việt Nam của Ngô Đức Thọ (CB), Danh nhân đất Việt của Quỳnh Cư, Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh của Thái Kim Đỉnh, Lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Sĩ ở Thanh Lương, Thanh
Trang 14Chương, Nghệ An từ thế kỷ XVI đến nay (Luận văn Thạc sĩ của Văn Nam Thắng năm 2005)
Chúng tôi còn khai thác các tài liệu kỷ yếu hội thảo khoa học, một số tài liệu chép tay, một số bài báo, tạp chí liên quan như các tham luận trong Hội thảo khoa học “Đồng chí Hà Huy Tập với cách mạng Việt Nam” nhân kỷ niệm
100 năm ngày sinh của Tổng Bí thư Hà Huy Tập Đặc biệt chúng tôi tiếp cận được bản chép tay bằng tiếng Pháp tự thuật về tiểu sử của chính Hà Huy Tập
4.1.4 Tài liệu điền dã
Để bổ sung tư liệu cho đề tài chúng tôi còn tìm hiểu, khảo cứu, đi thực
tế tại nhà thờ họ Hà Huy và nhà tưởng niệm Tổng Bí thư Hà Huy Tập ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh Đồng thời chúng tôi đã gặp gỡ trao đổi với các
cụ bô lão của dòng họ Hà Huy, tộc trưởng Hà Huy Sửu, cụ Hà Huy Tửu, cụ
Hà Huy Quỳ.v.v
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Sưu tầm tư liệu
Để phục vụ cho việc thực hiện đề tài chúng tôi đã sưu tầm, tích lũy, sao chép tư liệu ở Thư viện Quốc gia, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng
Hà Tĩnh, Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh, Thư viện Hà Tĩnh, thư viện Nghệ An Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu thực địa tại nhà thờ của dòng họ
Hà Huy, nhà tưởng niệm Tổng Bí thư Hà Huy Tập, chụp ảnh các di tích, sử dụng phương pháp phỏng vấn.v.v
4.2.2 Xử lý tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh và phương pháp logic để trình bày quá trình hình thành, phát triển của dòng họ theo thời gian diễn biến của lịch sử So sánh, đối chiếu gia phả với chính sử từ đó phân tích đánh giá nêu lên mối quan hệ chặt chẽ, tác động hai chiều của dòng họ Hà Huy với quê hương đất nước
Trang 155 Đóng góp của đề tài
- Với sự cố gắng cao nhất của tác giả, luận văn sẽ góp phần cung cấp
cho độc giả bức tranh toàn cảnh về quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Hà Huy ở Cẩm Xuyên với lịch sử hơn 400 năm với 17 thế hệ con cháu Qua đó giáo dục tư tưởng hướng về cội nguồn, phát huy những truyền thống quý báu của dòng họ
- Tìm hiểu một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ và làm rõ những đóng góp của các nhân vật đối với quê hương, đất nước
- Hoàn thành đề tài nghiên cứu sẽ góp phần làm giàu thêm nguồn tư liệu, phong phú hơn bộ sử địa phương
- Đồng thời luận văn cũng góp phần vào việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dòng họ, văn hóa làng xã, góp phần xây dựng nước Việt Nam ngày càng phồn vinh thịnh vượng
Trang 16NỘI DUNG Chương 1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ HÀ HUY Ở CẨM HƯNG, CẨM XUYÊN, HÀ TĨNH TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN NAY (2009)
1.1 Cẩm Xuyên - đất và người
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
Xét về mặt địa lý hành chính, so với các đơn vị huyện, thị xã của tỉnh
Hà Tĩnh, thì Cẩm Xuyên nằm về phía Đông tỉnh, có tọa độ địa lý như sau:
- Điểm cực Nam là 18002‟18” vĩ Bắc, mốc là núi Cù Han, đỉnh cao 400m, thuộc xã Cẩm Thịnh, giáp với xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh và 2 xã Hương Hóa và Kim Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
- Điểm cực Bắc là 18020‟51” vĩ Bắc, mốc giới là nơi tiếp giáp giữa xóm Bắc Hà xã Cẩm Hòa với biển Đông và xóm Đông Bàn xã Thạch Văn, huyện Thạch Hà
- Điểm cực Tây là 105051‟17” kinh Đông, mốc giới là núi My Ôn, đỉnh cao 238m, thuộc xã Cẩm Mỹ, giáp với xã Hương Trạch và Lộc Yên, huyện Hương Khê
- Điểm cực Đông trên đất liền là 106009‟13” kinh Đông mốc giới là núi Ba Cội, đỉnh cao 400m, ở thôn Bắc Lĩnh, xã Cẩm Lĩnh, giáp với biển Đông và thôn Trung Kiên, xã Kỳ Xuân, huyện Kỳ Anh
Phía Bắc giáp biển Đông, thành phố Hà Tĩnh và huyện Thạch Hà; phía Đông và Đông Nam giáp huyện Kỳ Anh; phía Tây và Tây Nam giáp
2 huyện Thạch Hà và Hương Khê; phía Nam giáp huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Trang 17Tổng diện tích tự nhiên Cẩm Xuyên là 628,9 km2, là huyện có diện tích rộng thứ tư so với 12 thành phố, huyên, thị xã trong tỉnh, sau các huyện: Hương Khê (1241 km2), Kỳ Anh (1052 km2), và Hương Sơn (950 km2
)
Dân số toàn huyện tính đến 2005 là 156.583 người, mật độ dân số 246 người/km2
(trong đó xã Cẩm Mỹ 4 người/km2, xã Cẩm Nhượng 8.3 người/
km2, tỷ lệ tăng dân số hằng năm 8,4%)
Địa hình, khí hậu:
Từ Kỳ La hàng ngàn năm trước, đến huyện Kỳ La, rồi huyện Hà Hoa rồi huyên Hoa Xuyên và huyện Cẩm Xuyên đương đại, dương như gắn chặt với vị trí địa lý tương đối ổn định; ngoại trừ mấy thế kỷ có chung tên huyện
Kỳ Hoa với huyện Kỳ Anh ngày nay, thì Kỳ La - Cẩm Xuyên, được quy định bởi một không gian địa lý đặc thù
Nhìn trên bản đồ địa hình, đất Cẩm Xuyên có hình lục lăng tương tự một hình chữ nhật mà hai cạnh dài chạy song song hai phía Tây - Đông; phía Bắc là biển Đông và phía Nam là dãy Trương Sơn Bắc, ngăn cách với huyện Thạch Hà Ở phía Tây là hệ thống sông Ngàn Mọ (Rào Cái), còn ngăn cách với Kỳ Anh ở phía Đông là hệ thống sông Rác (Lạc Giang) Hai hệ thống sông này cùng phát nguyên từ rừng núi cao phía cực Nam tựa như hai cánh tay bên lồng ngực hẹp vung ra vươn về phía Bắc đổ nước ra biển, ôm vào vòng tay rộng của mình cả núi đồi - trung du - đồng bằng ven biển và cồn cát ven bờ của Cẩm Xuyên - đất của những con sông tuyệt diệu
Từ địa danh thôn Bắc Mỹ (xã Cẩm Mỹ) chạy về phía đông qua xã Cẩm Quan, xã Cẩm Hưng, xã Cẩm Lộc đến phía Nam xã Cẩm Lĩnh, tương đương với từng vĩ độ 18015 Bắc, trở ra phía bắc chia Cẩm Xuyên thành 1/3 diện tích
là đồng bằng ven biển và hệ thống các cồn cát trắng do biển rút mà thành Tuy vậy thuộc 1/3 diện tích phía Bắc huyện nổi lên một số núi đồi, như Cụp Mộ
Trang 18Độ, núi Thành, núi Nhược Thạch, núi Trốc, núi Hội, núi Trộn, núi Thiên Cầm, như là những rơi vãi của dãy Trường Sơn Bắc ở giữa đồng bằng
Đất Cẩm Xuyên có một dải trung du hẹp, nằm trước thềm núi cao trùng điệp ở phía Nam
Hơn 2/3 diện tích là núi đồi chằng chịt khe suối và những thung lũng hẹp, vốn là những rừng già nhiệt đới đầy những chủng loại thực vật, động vật quý hiếm, hơn thế nữa dưới lòng đất chứa đựng nhiều khoáng sản - kim loại
có giá trị Với hai hồ nước lớn Kẻ Gỗ và sông Rác, cùng với khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ; vùng núi rừng Cẩm Xuyên bao chứa một tiềm năng kinh tế vô hạn, đang chờ được khai thác một cách có hiệu quả
Cùng với đồng bằng ven biển, núi rừng đại ngàn, Cẩm Xuyên có một lợi thế khác là biển Đông, với chừng 20 km, bờ biển tạo cho Cẩm Xuyên những lợi thế biển có giá trị như đánh bắt nuôi trồng thủy - hải sản và du lịch sinh thái biển hấp dẫn, biển Cẩm Xuyên mà tiêu biểu là biển Thiên Cầm nếu được phát huy tích cực sẽ trở thành một lợi thế lớn của huyện
Về khí hậu, Cẩm Xuyên nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng
ẩm quanh năm, phần nào có lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp
1.1.2 Truyền thống văn hóa, lịch sử
Theo dư địa chí Cẩm Xuyên, từ thời viễn cổ, cách ngày nay khoảng
3000 năm, khoảng thời gian xuất hiện nhà nước cổ đại, vùng Cẩm Xuyên và Nghệ Tĩnh nói chung là đất đai của Việt Thường Thị - một nhà nước của họ Việt Thường; Việt Thường Thị có trước nhà nước Văn Lang của Hùng Vương hơn 500 năm Việt Thường Thị là nhà nước cổ sơ của người Việt cổ, được sử sách cổ của Trung Hoa ghi chép và được dẫn lại trong các bộ sử biên niên của Việt Nam thời trung đại Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Sai sứ sang nhà Chu dâng chim trĩ trắng”
Sử ký Trung Quốc chép: “năm Tân Mão thứ 6 (1110 TCN) đời Thành Vương
Trang 19nhà Chu, phía nam bộ Giao Chỉ có Việt Thường Thị, qua ba lần sứ dịch, sang dâng chim trĩ trắng” [11 4] Điều đó xác định vị trí của Việt Thường Thị thời
đó ở vùng Nghệ Tĩnh là có căn cứ, vì sau này có huyện Việt Thường, một địa danh có nguồn gốc từ Việt Thường Thị xa xưa, ở đó có suối Việt Thường, con suối đổ ra biển Đông ở vùng núi Nam Giới (Thạch Hà, Hà Tĩnh) Thêm nữa, chim trĩ trắng là một đặc sản của Việt Thường Thị nay vẫn còn ở vùng núi Nghệ Tĩnh như ở các khu bảo tồn thiên nhiên: Kẻ Gỗ (Cẩm Xuyên), Vũ Quang, Pù Mát (Nghệ An)
Hơn 2000 năm lịch sử, từ thiên niên kỷ II trước Công nguyên đến thế
kỷ X sau Công nguyên, địa danh Việt Thường từ nhà nước Việt Thường Thị lặp đi lặp lại trong lịch sử hành chính như là một khẳng định đầy ấn tượng của vùng đất địa linh Hà Tĩnh nói chung và các huyện phía đông nam như Cẩm Xuyên nói riêng
Từ họ Khúc (905 - 917), nhà Ngô (939 - 967), nhà Đinh (968 - 980), nhà Tiền Lê (980 - 1009), hơn một thế kỷ chuyển giao lịch sử từ bị đô hộ xâm lược sang độc lập tự chủ và với nhiều biến động nội bộ về chính trị và quân
sự cho nên những sắp đặt về tổ chức hành chính như quận, huyện là chưa rõ ràng Nhưng vào thời Tiền Lê đã có sắp đặt hành chính mới trong cả nước Riêng vùng Hà Tĩnh lúc đó đã có châu Thạch Hà; sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Ất Tỵ (1005) mùa đông tháng mười, Đông Thành Vương thua chạy vào đất Cửu Long Vua đuổi bắt lại chạy sang Chiêm Thành, chưa đến thì bị người châu Thạch Hà giết ở cửa biển Cơ La (nay là Thiên Cầm, Cẩm Xuyên)” [11, 8] Đất châu Thạch Hà bao gồm các xã phía Đông Nam huyện Can Lộc vào đến hết đất Kỳ Anh ngày nay
Dưới vương triều Lý (1010 - 1225), Trần (1225 - 1400) thừa hưởng thành tựu của sắp đặt hành chính trong một thế kỷ độc lập từ các vương triều
Lý, Trần đã ổn định vững chắc tổ chức hành chính Đại Việt Những năm đầu,
Trang 20nhà Lý đổi tổ chức hành chính cấp quận thuộc triều đình làm Lộ, chia cả nước làm 24 lộ Năm 1036, đổi châu Hoan làm châu Nghệ An; sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa hạ, tháng tư đặt hành dinh ở châu Hoan, đổi châu ấy làm châu Nghệ An” [12, 213] Năm 1025, nhà Lý lập trại Định Phiên ở vùng Nam Giới của châu Hoan, theo đó có người hiểu rằng trại Định Phiên là để chỉ đất Nghệ An - vốn được mệnh danh là đất trại thời Lý - Trần
Năm 1242, nhà Trần đổi châu lộ làm phủ lộ trong cả nước, theo đó châu lộ Nghệ An làm phủ lộ Nghệ An, dưới phủ lộ có năm châu trực thuộc vùng Đông Nam Hà Tĩnh thời đó thuộc châu Nam Tĩnh Dưới có 4 huyện là
Hà Hoàng, Bàn Thạch, Kỳ La, Hà Hoa trong đó Kỳ La tương đương với huyện Cẩm Xuyên hiện tại Năm 1397, nhà Trần đổi phủ lộ làm trấn theo đó phủ lộ Nghệ An đổi làm trấn Lâm An, nhân đây nhập 2 huyện Kỳ La và Hà Hoa thành huyện Kỳ Hoa
Nhà Minh xâm chiếm nước ta (1407 - 1428) hành chính Đại Việt đã có một số thay đổi liên quan đến Hà Tĩnh, đó là việc năm 1419 đặt phủ Hà Hoa gồm 2 huyện Thạch Hà và Kỳ Hoa Nhưng phải đến thời Lê các địa danh hành chính này mới có tác dụng
Những năm đầu dưới vương triều Lê, Lê Thái Tổ vẫn theo sắp đặt hành chính thời Trần - Hồ mà trong 20 năm đô hộ nhà Minh chưa thể làm thay đổi
hành chính Đại Việt Năm 1434, Nguyễn Trãi biên soạn sách Dư địa chí
thống kê danh sách các đơn vị hành chính của Đại Việt đến tận cấp cơ sở Năm 1469 và năm 1490, nhà Lê đã 2 lần cho vẽ bản đồ Đại Việt thống kê rõ danh sách các đơn vị hành chính từ trấn đến cấp cơ sở Năm 1723 nhà Lê - Trịnh cho vẽ lại bản đồ Đại Việt Như vậy có thể khẳng định rằng, đất huyện Cẩm Xuyên các thế kỷ XV - XVII là nửa phía Tây Bắc của huyện Kỳ Hoa, phủ Hà Hoa, trấn Nghệ An
Trang 21Dưới vương triều Nguyễn đã kế thừa sắp đặt hành chính cũ của Đại Việt nhưng đến 1831 nhà Nguyễn đã đổi trấn làm tỉnh, vẫn là cấp hành chính trực thuộc triều đình; ở giữa cấp huyện và cơ sở đặt thêm cấp tổng Theo đó, năm 1831 trấn Nghệ An cũ chia thành tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, năm 1851 đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo Hà Tĩnh Năm 1875, bỏ đạo nâng Hà Tĩnh lên cấp tỉnh nhưng vẫn do Tổng đốc An Tĩnh quản lý Từ 1837 huyện Kỳ Hoa được chia làm 2 huyện là Kỳ Hoa và Hoa Xuyên; năm 1841 đổi Kỳ Hoa thành Kỳ Anh và Hoa Xuyên thành Cẩm Xuyên
Huyện Cẩm Xuyên cho đến năm 1945 thuộc phủ Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Riêng phủ Thạch Hà cũng có thay đổi, vốn là phủ Hà Hoa từ cuối thế
kỷ XIV đầu thế kỷ XV đến năm 1841 đổi làm phủ Hà Thanh; đến 1853 bỏ huyện Thạch Hà và đổi phủ Hà Thanh làm phủ Thạch Hà và phủ Thạch Hà cho đến năm 1945 có 3 huyện là Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh Từ sau năm 1945 đến nay vẫn giữ nguyên tên gọi hành chính và diện tích địa lý hành chính của huyện Cẩm Xuyên cũ
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc ta, vùng đất và con người Cẩm Xuyên nói riêng và con người xứ Nghệ nói chung
đã có những đóng góp xứng đáng Nhìn lên bản đồ địa hình đất nước và đặt trong quan hệ giao lưu giữa 3 vùng lớn Bắc - Trung - Nam thì Cẩm Xuyên có
vị trí chiến lược quan trọng Nếu Hà Tĩnh được coi là cuống phểu đặt về phía Bắc thì Cẩm Xuyên là phần nhỏ và cuối của cuống phểu đó cho nên mọi sự thông hay tắc đều nằm ở chỗ đó Nhận thấy vị trí chiến lược của mình đối với dân tôc, đất và người Cẩm Xuyên luôn dũng cảm, kiên cương đối phó với các thế lực xâm lược từ bên ngoài để giành độc lập và bảo vệ nền độc lập dân tộc
Nói đến đất và người Cẩm Xuyên, không thể không nói đến các giá trị văn hóa mà các thế hệ cư dân đã tạo ra, tiếp thu, lưu truyền và phát huy, tạo nên cảnh quan và tính cách cho văn hóa Cẩm Xuyên
Trang 22Văn hóa nói chung được cấu thành từ văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa ứng xử, hiểu văn hóa Cẩm Xuyên cũng nên hiểu trên các khía cạnh đó
Về văn hóa vật chất của vùng Cẩm Xuyên, là thứ tương đồng với Nghệ
An và Hà Tĩnh, đó là toàn bộ giá trị vật chất do con người làm ra trong suốt lịch sử của mình.Từ công cụ lao động nông nghiệp và các ngành nghề khác, đến nhà cửa nơi sinh sống, cho đến cái ăn, cái mặc của vùng Cẩm Xuyên dường như giống với các vùng lân cận, nhưng nhìn thật kỹ có thể có khác biệt, chẳng hạn những ngôi nhà gỗ vùng Cẩm Xuyên tuy có cùng loại hình nhưng đơn giản hơn ở cấu trúc và nhỏ hơn ở hình dáng, bởi vì vùng Cẩm Xuyên có khí hậu khác hơn các nơi khác: mùa nắng gió Lào mạnh, mùa mưa bão cũng dữ dội hơn Về văn hóa ăn, mặc, nghề thủ công truyền thống, các di sản văn hóa của Cẩm Xuyên đều có sự khác biệt Toàn bộ những giá trị văn hóa vật chất được sáng tạo bởi cư dân Cẩm Xuyên và được người Cẩm Xuyên chấp nhận, nhìn chung là đầy đủ, song chưa đạt đến trình độ cao, hay chưa phải là thương hiệu, tạo nên phong cách Cẩm Xuyên
Về văn hóa tinh thần của Cẩm Xuyên có phần vượt trội hơn và phong phú hơn Trước hết đó là việc hình thành ba vùng văn hóa: văn hóa sông biển
ở các xã ven biển mà tiêu biểu là Cẩm Nhượng với nghề đánh cá biển và một
số làng chài ở cửa sông và ven sông Ngàn Mọ - sông Rác - sông Họ được coi
là Giang phái; văn hóa nông nghiệp thuộc các xã nữa phía Bắc huyện, lấy nông nghiệp độc canh làm cơ sở; văn hóa lâm nghiệp, thuộc các xã vùng Nam huyện, lấy nghề rừng làm nền tảng Tuy vậy, không có sự khác biệt giữa ba tiểu vùng Văn hóa tinh thần vùng Cẩm Xuyên được thể hiện rất rõ nét dưới dạng văn hóa dân gian - diển xướng dân gian - truyện kể dân gian Hát ví dặm
và hò vè đặc trưng của diển xướng dân gian Hà Tĩnh đều thịnh hành khắp các làng quê Cẩm Xuyên, nhất là các làng hai bên sông Ngàn Mọ từ Kẻ Gỗ đổ về
Trang 23cửa Sót hay đổ vào cửa Nhượng Nơi biểu diển của ví dặm - hò vè chủ yếu là hiện trường lao động, bởi những tốp người lao động cùng một loại công việc,
mà xưa nay quen gọi là phường, như phường cấy, phường gặt hái, phường cắt
rạ, phường đi củi, phường đi cỏ Đó là những con người vừa lao động vừa hát là nét độc đáo của diển xướng vùng Cẩm Xuyên và Đông Nam Hà Tĩnh Cho đến nay, dân chúng vẫn lưu truyền lại nhiều làng quê ở Cẩm Xuyên đã từng là những làng ví dặm nổi tiếng như: Vịnh Lại, Phương Cần, Quy Vinh nằm bên bờ sông Ngàn Mọ Hệ thống truyện kể - truyền thuyết dân gian vùng Cẩm Xuyên có nét riêng rất đỗi bi hùng, đó là sự tích các vết dấu chân lớn hằn trên các ngọn núi như ở núi Voi, ở núi Thiên Cầm và một vài dấu nữa ở Cẩm Quan mà tương truyền đó là dấu chân ông Đùng gánh núi; rồi các sự tích ở núi Thiên Cầm từ thời Hùng Vương đến đời Hồ; lại có truyền thuyết về một vị thần, vốn là một vị tướng xông trận, bị giặc chém đứt đầu (còn lại một
ít da cổ) thế mà một tay cương ngựa, một tay gở lấy đầu, vừa đi vừa nhỏ máu, nơi nào có giọt máu nơi đó có mối xông ở đó lập đền thờ, và nơi ngài nằm xuống là phần mộ, dân lập đền thờ chính, tương truyền đó là vị thần được thờ tại lăng Tăng Phúc (nay là Cẩm Vịnh), di tích được xếp hạng cấp tỉnh quản lý Một trong những nét văn hóa tinh thần vùng Cẩm Xuyên, ngoài cố kết làng
xã, cố kết họ tộc còn có sự cố kết phường bạn, đó là mối liên hệ mật thiết của những người hợp thành phường lao động theo thời vụ
Về văn hóa ứng xử của vùng Cẩm Xuyên, cũng có những biểu hiện vừa chung lại vừa riêng phù hợp với điều kiện sống của vùng Văn hóa ứng xử phản ánh sự đối xử giữa con người với con người, giữa xã hội con người với thế giới xung quanh Chẳng hạn sự ứng xử giữa con người với khí hậu khắc nghiệt trong vùng có nét độc đáo, cũng là cái để che mưa che nắng nhưng cái
áo tơi truyền thống là sáng tạo của Nghệ Tĩnh, áo tơi là một di sản của văn hóa vật chất thật đơn sơ, nhưng đó cũng là một di sản của văn hóa ứng xử, áo
Trang 24tơi không chỉ che mưa, cả việc gió chiều nào che chiều ấy, mà còn là cái che nắng, tạo mát mẻ cho người làm đồng giữa lúc nắng nóng như thiêu như đốt Ngoài ra nó còn làm nơi nghỉ lưng chốc lát hay là cho một giấc ngủ say, cũng
có thể bày làm cổ bàn với khoai, cà, nước trám cả nhóm cùng ăn Với cộng đồng làng xóm, văn hóa ứng xử có nét đậm đà, chẳng hạn các nhà liền nhau,
có nhau khi tối lửa tắt đèn, là lòng tin cậy vào nhau, hàng xóm không có gì phải đề phòng, cảnh giác, dường như rất khác câu: “thương nhau rào dậu cho nhau” rất phổ biến ở nhiều nơi Làng xóm với nhau có củ khoai, bát nước chè luôn luôn mời chào nhau
Những biểu hiện của văn hóa vùng Cẩm Xuyên, từ vật chất - tinh thần đến ứng xử dương như có nét gì đó thật riêng, thật độc đáo, thật gây ấn tượng,
nó không cao sang, không khoe mẽ cũng không hoành tráng, mà sâu lắng và
ấm cúng như củ khoai, bát nước, như bữa cơm cà, như chiếc áo tơi vừa che mưa vừa che nắng vậy
Từ truyền thống văn hóa và lịch sử của vùng đất Cẩm Xuyên đã sinh ra, nuôi dưỡng và rèn luyện nên chí khí con người Cẩm Xuyên trong suốt thời kỳ lịch sử của mình
Đó là những những người yêu nước nhiệt thành, dám xả thân và hy sinh
vì Tổ quốc Nói đến lòng yêu nước, thì không phân biệt vùng hay miền, mọi người dân Việt Nam hết thảy đều yêu nước, nhưng những biểu hiện yêu nước
có khác nhau, không ai giống ai, không nơi nào giống nơi nào, và mỗi thời đại
có cách biểu hiện tương ứng Lòng yêu nước tựu trung lại được biểu hiện trước họa ngoại xâm, và trong hoàn cảnh đó sự hy sinh xả thân cho Tổ quốc là biểu hiện cao cả nhất Cư dân Cẩm Xuyên từng đóng góp công sức cho sự nghiệp giữ nước suốt mấy ngàn năm lịch sử Hơn một thế kỷ qua nhiều tấm gương xả thân vì nước thật cảm động, phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX có đóng góp nhiều xương máu của con em Cẩm Xuyên;
Trang 25trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) anh hùng liệt sỹ Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai để đồng đội tiến lên chiến thắng ở Điện Biên Phủ, như là biểu trưng cao đẹp nhất cho lòng quả cảm của con người Cẩm Xuyên
Đó là những người gắn bó thiết tha với quê hương, luôn giữ trọn tình làng nghĩa xóm Dân cư Cẩm Xuyên đương đại có nguồn gốc bản địa, nhưng đại bộ phận là từ nơi khác đến đây an cư lạc nghiệp; do đó sự cố kết cộng đồng với tình làng nghĩa xóm, “bán anh em xa mua láng giềng gần” là nét trội trong truyền thống của người Cẩm Xuyên Với một điều kiện tự nhiên cực kỳ
hà khắc, không hiểu vì sao hàng ngàn năm qua Cẩm Xuyên là chỗ dừng chân của nhiều nhóm dân cư, chủ yếu là từ ngoài Bắc vào Trước hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt, sự đoàn kết chung lưng đấu cật của người dân Cẩm Xuyên
đã góp phần hạn chế tối đa những tai họa do thiên nhiên gây ra Cũng vì vậy
mà tính cộng đồng làng xóm vùng Đông Nam Hà Tĩnh không bị ràng buộc bởi những quy định của luật tục được phản ánh trong các hương ước ở những nơi khác, song lại có sự gắn bó chặt chẽ bởi sự tự nguyện của các thành viên trong công đồng bởi sự đồng tâm, đồng cảm của mọi người Một biểu hiện nữa trong tính cộng đồng đó là sự giảm nhẹ các hình phạt đối với các thành viên, chẳng hạn những người vi phạm thuần phong mỹ tục như trộm cắp, trai gái, có những hành vi vô đạo đức thường được uốn nắn qua dư luận, ít có những đấu tố hay trừng trị kiểu “cạo đầu bôi vôi” đối với gái chửa hoang như những nơi khác
Đó là những con người cương trực, không chịu khuất phục trước bất cứ thế lực và bạo lực cường quyền, nhưng lại là những con người có sức chịu đựng gian khổ rất cao và tạo ra khả năng giám đương đầu với mọi khó khăn, gian khổ Tìm trong lịch sử di dân vào Nghệ Tĩnh nói chung, thấy có nhiều dòng họ từ Bắc vào, có nhiều lý do của những cuộc di dân trong đó có lý do
Trang 26để trốn tránh sự truy nã của cường quyền mà bỏ quê hương, bản quán vào đây
dù biết rằng đây là vùng đất khắc nghiệt Từ đó họ biết chung sống và thích ứng với nó để may ra cải tạo được nó để an cư lạc nghiệp
Đó là những con người yêu lao động, cân cù lao động, lấy lao động là
lẽ sống trọn đời Tuy là nét phổ biến, song đối với vùng đất như Cẩm Xuyên thì đó là một đòi hỏi bắt buộc, ở đây mọi sự nhàn rỗi, lười biếng hết thảy đều
bị trả giá, những gia đình giàu có trong các làng quê là những gia đình cần cù lao động và tiết kiệm nhất Ở đây không có việc làm chơi ăn thật như nhiều nơi khác, mà làm thật cũng chưa ăn ai nữa là chiểng mảng!
Đó là những con người có tâm hồn phong phú, đa cảm, ham học hỏi và yêu đời Sống trong điều kiện thiên nhiên như vậy, nếu không có được tâm hồn phóng khoáng, yêu đời, quên đi những vất vã của đời thường thì khó có động lực để vượt qua khó khăn Cư dân Cẩm Xuyên sống trong hoàn cảnh như vậy mà tất cả đều như không có gì phải lo lắng, để mà sống cho ra sống, điều đó thật kỳ diệu Những giá trị văn hóa tinh thần và văn hóa ứng xử của người Cẩm Xuyên như đã giới thiệu cho phép ta khẳng định về một tâm hồn cao thượng của cộng đồng Đồng đất Cẩm Xuyên nghèo thật, nhưng qua các làn điệu ví dặm - hò vè đã nói lên tất cả, những bài vè - hát ru “Ai về Mỹ Duệ” tục truyền là của Nho Diệu ở Phương Phong (nay là Cẩm Duệ) sáng tác
từ giữa thế kỷ XIX, và bài “Huyện nghèo” của Trần Hữu Thưởng, quê ở Cẩm Nhượng sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), và hàng chục bài vè khuyết danh khác mới thấy được sự phong phú trong tâm hồn của người Cẩm Xuyên Người dân Cẩm Xuyên còn có truyền thống hiếu học, ham học hỏi Nếu so với các huyện khác trong tỉnh thì số người khoa bảng nho học có thể không bằng nhưng sự học của vùng quê nghèo này có truyền thống và có những địa chỉ gây ấn tượng, đền thờ Khổng Tử của phủ Hà Hoa từ thời Lê được tọa lạc tại thôn An Việt (làng Vịt) nay thuộc xã Cẩm
Trang 27Thành là một sự thừa nhận đạo học ở vùng đất này Cũng tại đây, trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp là cơ sở sơ tàn của trường Trung học Phan Đình Phùng, rồi trường Trung học Đại Thành, rồi trường cấp II - III Cẩm Xuyên, thu hút học sinh 3 huyện Đông Nam Hà Tĩnh Học sinh Đại Thành cũ nhiều người đã trở thành các nhà khoa học thuộc các thế hệ đầu đàn của nước nhà Nhân đây cũng cần nhắc đến sự kiện gây ấn tượng, đó là năm 1948, Cẩm Xuyên là huyện đầu tiên trong cả nước thanh toán xong nạn mù chữ cho toàn dân Truyền thống ham học được tiếp nối và phát huy cao hơn mà điển hình là làng học Cẩm Bình, đơn vị 2 lần được phong Anh hùng Lao động vì thành tích học tập Cẩm Xuyên cũng là nơi sinh cơ lập nghiệp của nhiều dòng họ có truyền thống khoa bảng như dòng họ Hà Huy, dòng Họ Đậu đời nào trong dòng họ cũng có người đỗ đạt
Với truyền thống văn hóa và lịch sử từ xa xưa đó đã tạo nên cho vùng đất và con người Cẩm Xuyên những nét đặc trưng khác với những vùng đất khác Chính điều đó sẽ tạo nên sức mạnh giúp Cẩm Xuyên vượt qua mọi thử thách trong quá trình phát triển để trở thành một huyện giàu có - văn minh - lịch sự
1.1.3 Một số dòng họ lớn ở Cẩm Xuyên
Ở Việt Nam theo công bố của P.Gouron năm 1930 chỉ riêng đồng bằng Bắc Bộ có 202 họ Dã Lam Nguyễn Đức Dụ trong cuốn “Gia phả - khảo luận
và thực hành” của ông ước tính nước ta có khoảng 300 họ Gần đây, Giáo sư
Vũ Mạnh Hà cung cấp con số 191 họ, chắc chắn còn phải nghiên cứu thêm
Các dòng họ ở Cẩm Xuyên nói riêng và ở Hà Tĩnh nói chung, có họ bản địa, ngoài Bắc vào Dù dòng họ ấy ở đâu, vốn ở Cẩm Xuyên hay chuyển
cư đến Cẩm Xuyên vào thời gian nào với lý do gì, giờ đây họ đều là người cộng đồng trên đất Hà Tĩnh Họ đã định cư trên đất Hà Tĩnh và trong quá
Trang 28trình lịch sử các dòng họ ấy đã chung lưng đấu cật với người bản địa, cùng cải tạo tự nhiên, chống thú dữ, khai thác đất đai lập nên những xóm làng trù mật
Trên mảnh đất Cẩm Xuyên ngoài dòng họ Hà Huy mà chúng tôi chọn làm đề tài nghiên cứu còn nhiều dòng họ lớn nhất nổi tiếng, song trong khuôn khổ hạn hẹp của luận văn này chúng tôi xin chỉ giới thiệu khái quát về một số dòng họ sau: họ Đậu (Cẩm Hưng), họ Nguyễn Đình (Cẩm Thành), họ Lê (Mỹ Duệ), họ Bùi (Mỹ Duệ)
Họ Đậu
Vốn là họ Đỗ nhưng từ Nghệ An vào lại gọi là họ Đậu, có lẽ là vì lý do húy kị nào đó chưa có lời lý giải hoặc vì thói quen mà Đỗ và Đậu trong thuật ngữ của học hành - khoa bảng thì đỗ hay đậu là hoàn toàn giống nhau Họ Đậu phân bố trên 6 xã với 9 chi họ
Họ Đậu ở làng Khả Luật, xã Cẩm Hưng theo gia phả vốn là họ Đỗ ở tỉnh Bắc Ninh, khoảng thế kỷ XVI - XVII vào sinh cơ lập nghiệp tại xã Phù Việt, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh Đầu thế kỷ XVII họ Đậu ở đây có 8 anh em, tản mác đi các nơi và người con thứ 8 vào Cẩm Xuyên, lấy vùng Động Choác làm nơi lập thân Thủy tổ họ Đậu ở Cẩm Xuyên là Đậu Bá Út, truyền đến nay
đã 14 đời, có đến 120 hộ Trải hơn 3 thế kỷ họ Đậu Khả Luật có nghiều người
đỗ đạt Hương cống - Tú tài, Cử nhân và thành đạt trên quan trường Trước năm 1945 cụ Đậu Văn Bính (Đậu Đình Cung) Cử nhân khoa Nhâm Tý (1912) được bầu vào dân biểu trung kỳ, có nhiều người là đảng viên Đảng Cộng sản
từ những năm 1930 - 1931
Họ Nguyễn Đình
Họ Nguyễn Đình ở làng Hưng Mỹ, xã Cẩm Thành là một chi nhánh của
họ Nguyễn Xí (ở Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh), đến đời thứ 7 Nguyễn Hoành Từ (1536 - 1599) vào Phạt Nạo (nay là xã Thạch Bình, thành phố Hà Tĩnh) sinh sống Đến đời thứ 9 là Nguyễn Đình Nhiếp đến sinh sống tại đất
Trang 29Hưng Mỹ Tục truyền đây là một trong những dòng họ đầu tiên khai canh làng Hưng Mỹ cách đây chừng 400 năm Từ đời thứ 9 đến nay họ Nguyễn Đình Hưng Mỹ trải qua 17 đời và từ Hưng Mỹ có 12 chi họ Nguyễn Đình sinh sống rải rác ở các nơi Trong thời Lê - Nguyễn, dòng họ Nguyễn Đình có nhiều người đỗ đạt và có công trung với các vương triều, được phong tước cao chức trọng cùng biểu ngạch phụng thờ Tiêu biểu như Nguyễn Đình Thạch xã Cẩm Thành đỗ Đồng tạo sĩ khoa Quý Sửu năm Vĩnh Khánh thứ 5 (1733), Nguyễn Đình Chử người xã Hương Duệ, đỗ Đồng tạo sĩ khoa Ất Mùi năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739), Nguyễn Đình Quyền đỗ Đồng tạo sĩ khoa Quý Hợi năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743), Nguyễn Đình Khanh đỗ Đồng tạo sĩ khoa Đinh Sửu năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757), Nguyễn Đình Cẩn đỗ Đồng tạo sĩ khoa Kỷ Hợi năm Cảnh Hưng thứ 40 (1779)
Họ Lê
Có mặt trên 23 xã với 63 chi họ, xếp vào hàng thứ 3 của các họ đông và phân bố trên đất Cẩm Xuyên Họ Lê là 1 trong 3 dòng họ đông người ở xã có truyền thống học hành thi cử và làm quan Đầu thế kỷ XX có cụ Lê Thuyên
đỗ Tú tài (quen gọi là Tú Ba), ông Lê Văn Dụ làm đến Tham biện lục bộ Lê trọng Nhã làm quan trong triều, sau khi mất được dân làng lập đền thờ gọi là đền Hậu Thiêm, hiện vẫn còn ở thôn Yên Khánh
Họ Bùi
Hiện có 37 chi họ, phân bố tại 17 xã, thị trấn giữa 37 chi họ ít có quan
hệ huyết thống với nhau, chỉ có một chi họ Bùi Quang ở Cẩm Duệ tục truyền
có nguồn gốc từ họ Bùi ở vùng xã Thạch Khê cũ (tức vùng Cẩm Huy, Cẩm Quang ngày nay) Họ Bùi ở Cẩm Xuyên có nguồn gốc xa xưa nhất chưa quá
400 năm trước tức là khoảng 16 đời trở lại, nhiều chi họ có thể có từ 100 -
150 năm mà thôi Đa số các chi họ Bùi ở Cẩm Xuyên là từ phía Bắc vào
Trang 30Họ Bùi Quang ở Gia Hội nay thuộc thị trấn Cẩm Xuyên Theo gia phả truyền lại thì thủy tổ họ Bùi Quang là Bùi Quang Nghị từ Thiệu Châu, Thiệu Hoá, Thanh Hóa vào định cư ở Gia Hội lấy bà Trương Thị Biệt ở Kẻ Xá Ông có trong tay nghề đúc đồng tạc tượng, đã tạo cho chùa Gia Hội 3 pho tượng Phật và đúc cho chùa một chuông đồng cao 1,5m đường kính 0,45m Tính đến nay họ Bùi Quang truyền được 16 đời, hiện có khoảng 3000 nhân khẩu Thời nào họ Bùi Quang cũng có người đỗ đạt và thành đạt trong sự nghiệp và quan trường
Trong họ Bùi ở Mỹ Duệ có Bùi Suyền đỗ Cử nhân khoa Mậu Thìn năm Tự Đức thứ 21 (1868), Bùi Đạt đỗ Cử nhân khoa Kỷ Mão năm Tự Đức thứ 22 (1879)
1.2 Sự phát triển của dòng họ Hà Huy từ thế kỷ XVI đến nay (2009)
Ở Trung Quốc họ Lý là một dòng họ lâu đời với viễn tổ là Lý Nhị (tức Lão Tử) đã có trên 2500 năm - Một dòng họ đã lập nên triều đại nhà Đường nổi tiếng (Lý Uyên) và ngày nay hậu duệ họ Lý với các danh nhân như Lý Bằng (Trung Quốc), Lý Quang Diệu (Singapore), Lý Đăng Huy (Đài Loan)
Ở Việt Nam họ Nguyễn cũng là một dòng họ lâu đời cũng đã có trên
2500 năm, có nguồn gốc từ họ Hồng Bàng từ đời các vua Hùng Cũng như nhiều dòng họ khác, họ Nguyễn có nguồn gốc từ bản địa Việt Nam từ lâu đời
mà ngành khảo cổ Việt Nam đã dày công nghiên cứu chứng minh và thành công to lớn để khẳng định đồng thời đã phủ định lập luận của một số người cho rằng họ Nguyễn có nguồn gốc từ Phương Bắc Cuộc hội thảo ngày 20 tháng 8 năm 1998 tại Hà Nội, 52 dòng họ Nguyễn một lần nữa khẳng định điều đó
1.2.1 Nguồn gốc dòng họ
Theo các gia phả họ Hà ở Hà Tĩnh thì họ Hà ở Hà Tĩnh có nguồn gốc chung Căn cứ vào các gia phả thì họ Hà ở Hà Tĩnh có từ thời Trần, cư trú tại
Trang 31huyện Cẩm Xuyên, sang thời thuộc Minh thì dời về xã Tĩnh Thạch, Thiên Lộc (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc) Thủy tổ tên húy là Hà Công Mại (1306
- 1405), vì có công trong việc xây dựng và bảo vệ nhà Trần, nên được vua Trần sắc phong “khai quốc công thần đời đời thừa ấm” [18, 406] Thủy tổ chi nhánh Hào Mại ở xã Cẩm Tiết, tổng Thạch Hà nay là thôn Phủ Hào, xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà Húy là Hà Tôn Hiếu, thụ tước Phụ Trần quốc, kiêm đi bắc sứ Trung quốc Húy là Hà Công Huy Đỗ, nhà giàu có nhưng sau gặp cơn binh lửa về ở chùa An Lạc, núi Hồng Lĩnh, xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc sinh con trưởng là Hà Công Nho Về đời nhà Lê, con thứ là Hà Công Tôn Trình lúc thiếu thời có tiếng là hiếu học, đức hạnh là người có chí lớn trong thiên
hạ Đời Quang Thuận thứ 7 (1467) đậu Nhị giáp Tiến sĩ khoa Bính Tuất lúc
đó 37 tuổi Bổ làm Tri huyện huyện Tứ Kỳ, rồi thăng chức Tri phủ phủ Triệu Phong, rồi lại được cân nhắc lên làm tham chánh việc dân Sau đó được thăng Quốc tử giám tế tửu, làm Thái thượng tự khanh Trong triều thấy ông phu thê song toàn nên khiến phò vua khi lên điện, sau đó được cất lên làm Thượng thư Bộ Hình, Bộ Binh
Đời thứ 7, dòng họ Hà ở Tỉnh Thạch đã xảy ra một sự cố đáng ghi nhớ,
đó là “nhân một ngày trong nhà có kỵ giỗ, mời dân xã đến uống rượu, chè chén, trong bếp khi ấy có nấu một nồi cháo lớn đã vô ý dùng gạo có lẫn hạt
“đại phong tử” do chim nhả vào, lại có người cho rằng do người nấu bếp bỏ thuốc độc, không biết việc nào đúng hơn chỉ biết rằng sau khi ăn cháo thì dân làng bị ngộ độc và chết 2 người” [14, 5] Quan huyện sai người đến bắt, vì vậy
có 3 người con trai bỏ trốn
- Một người chạy ra Thanh Hóa, sau đó có người dời về Cát Đông, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông làm thành dòng họ Hà Tông Quyền đỗ Tiến
sĩ năm Minh Mạng thứ 3
Trang 32- Một người chạy về xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân tức là nhánh của Giám sinh Hà Tôn Doanh, nay là ông Hà Văn Gia
- Người con thứ ba chạy về Kim Nặc, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh làm thành dòng họ Hà Huy Cẩm Xuyên
Như vậy vào đời thứ 7 của dòng họ Hà ở Tỉnh Thạch huyện Thiên Lộc (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc) có một chi chuyển về làng Kim Nặc, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh Đối chiếu với phả cũ ghi là Hà Văn, đến đời cụ Hầu húy là Sào tức đời thứ 8 của dòng họ Hà ở Kim Nặc, Cẩm Xuyên là Hà Tôn Như vậy, họ Hà có lúc lấy chữ lót là Tông, lúc là Tôn, lúc là Văn Nhưng thời
đó Chúa Trịnh tên là Tông cho nên dòng họ mới đổi thành Hà Huy để tránh nạn trùng húy nhà Chúa Trịnh Như vậy bắt đầu từ đời thứ 8 họ Hà ở Cẩm Hưng mới chính thức là Hà Huy
1.2.2 Sự phát triển của dòng họ Hà Huy từ thế kỷ XVI đến nay (2009)
Từ khi chuyển đến làng Kim Nặc, xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên đến nay, dòng họ Hà Huy đã trải qua 400 năm tồn tại và phát triển không ngừng, ngày càng phồn vinh thịnh vượng Dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh đã lan tỏa đến nhiều huyện trên đất Hà Tĩnh trong đó lớn nhất là ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh Dòng họ Hà Huy ở đây có nhiều người học giỏi, đỗ đạt cao, chức vụ lớn, tiêu biểu như Hà Huy Giáp nguyên là nhà giáo, tham gia hoạt động cách mạng sớm, được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Giáo sư Hà Huy Khôi là Viện trưởng Viện dinh dưỡng, Đại tá Hà Huy Tính và nhiều Giáo sư, bác sĩ khác
Đến đời thứ 15 dòng họ Hà Huy có sự lan tỏa đi nhiều tỉnh khác và có
cả ở nước ngoài Một chi ở phía Nam nước ta là chi của Hà Huy Quảng, một chi ở Hà Nội là chi Hà Huy Tiến và một chi ở Canađa, một chi ở Ôxtrâylia
Theo cuốn gia phả của dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh từ thế kỷ XVI đến nay (2009) dòng họ trải qua 15 đời như sau:
Trang 33Đời 1: Tổ khảo và Tổ tỷ (Phả cũ gọi là Cao tổ) tên húy là gì, làm gì, ở
đâu, ngày kị không biết rõ
Đời 2: Tổ khảo và Tổ tỷ cũng không cho biết tên húy là gì, làm gì, ở
đâu và cũng không biết ngày kị
Đời 3: Tổ khảo tên là Hà Văn Nhất
Đời 4: Tổ khảo là Minh, Tổ tỷ là Đặng thị Tổ khảo kị ngày 5/11, Tổ tỉ
Đời 7: Húy là Mưu, con thứ của tổ đời thứ 6, bản tính hào hung, giỏi
văn chương, đậu Hiệu sinh, làm xã chính xã nhà Sức khỏe dồi dào, hàng tổng không ai không sợ Tổ tỷ là Vũ Thị Duyên Sinh được 4 trai, 2 gái
Đời 8:
Đời cụ Hầu, Hiển tổ khảo húy là Sào, từ đời thứ 8 này dòng họ Hà ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh mới chính thức sang Hà Huy Cụ Hà Huy Sào là cương dũng, khỏe mạnh, tính tình cứng cỏi, cương nghị, thẳng thắn, đứng ngồi nghiêm nghị, lấy công minh giữ mình, lấy thẳng thắn đãi người, lời nói ấm mà đanh thép, hay giúp người, ai cũng kính nể 20 tuổi thì đậu Tam trường, được bổ làm Hiệu sinh tại phủ nhà, sau làm Tri huyện huyện Bình Dương sau đổi thành phủ Trường Khánh Làm Tri phủ xứ Lương Sơn, Thừa chính sứ ty, tước phong là Hòa phương hầu Ông lấy vợ người làng Khả Luật, gần quê nhà tên là Đỗ Thị Nghiêm, con trai ông học giỏi và thành danh
Anh của Hà Huy Sào là Hà Huy Quán có học, tính tình cương nghị, làm quan chức Phó Sở, nhà giàu, lấy vợ là Lê Thị Đỗ, sinh được một con gái là Hà Thị Thắm
Trang 34Đời 9: Thường gọi là đời Cụ Lang
Hiển khảo húy là Phúc (Hà Huy Phúc) Tính tình cương nghị, phúc hậu, thật thà, biết lẽ tới lui, luôn giữ mình làm cung, đãi người lấy thành Thiếu thời làm Huyện thừa huyện Trung Sơn Năm 30 tuổi trúng Tam trường Lấy vợ là Nguyễn Thị Tình, người thôn Vân Đồn Có hai người con
là Lộc và Đắc
Anh của Hà Huy Phúc là Hà Huy Đôn Tính tình thẳng thắn, rắn rỏi, hoạt bát, cần mẫn, thuở thiếu thời giữ chức Huyện thừa, lấy vợ là Nguyễn Thị Hiệp sinh được 2 con trai là Hà Huy Khuê và Hà Huy Kỳ
Em trai là Hà Huy Chu, tư chất thông minh, biết mình biết người Tuổi trẻ làm Huyện thừa, nhà giàu có, về sau làm Cai tổng có tiếng là cần mẫn, giỏi giang Vợ là Đặng Thị Hoảng sinh được 5 con trai
Chị gái của Hà Huy Phúc là Hà Thị Bạng, Hà Thị Vinh Em gái là Hà Thị Lục
Đời 10:
Là cụ Hà Huy Đán, sinh năm Nhâm Thìn (1772) đời vua Lê Cảnh Hưng năm thứ 33, hiệu là Ngọa Đình Là người thông minh, ham học 18 tuổi học với thầy Nguyễn Quý Công - nguyên là Tri phủ Uông Độ và là rể của Cao
tổ Ông học hành ngày càng tiến bộ và rất kính trọng thầy học của mình Gặp thời loạn lạc (khởi nghĩa Tây Sơn) cho nên ông không đi làm quan mà ở nhà nằm đọc sách ngày đêm dùi mài kinh sử và cho rằng đó là thượng sách Năm
33 tuổi (Gia Long năm thứ 2) Quý Hợi sinh con trai trưởng tên là Hà Huy Trực Năm 40 (Tân Vị 1811) sinh con thứ hai là Hà Huy Phẩm (Ông nội của
Hà Huy Tập) Năm 43 tuổi sinh con thứ 3 là Hà Huy Phi
Em của Hà Huy Đán là Hà Huy Lục lấy vợ người tổng nhà, thôn Thuận
Lễ, người họ Cao Làm chức Cựu thiên sự, thuở nhỏ đi học với Hà Huy Đán,
Trang 35tuổi già dạy học trò và làm thuốc cứu người Ông thọ 60 tuổi Ông có 3 con: Con trưởng là Hà Huy Sỹ, thứ là Hà Huy Giám, con út là Hà Thị Thang
Hà Huy Đán còn có em là Hà Huy Đắc, lấy vợ người xã, họ Nguyễn Thuở nhỏ theo Hà Huy Đán đi học, tuổi già đi dạy học trò Ông thọ 60 tuổi
Em gái út là Hà Thị Sự lấy chồng cùng thôn là Hà Đăng Tĩnh, không có con và thọ 50 tuổi
Đời 11: Thường gọi là đời Cụ Hương
Hiển tăng tổ khảo húy là Trực (Hà Huy Trực) lấy vợ là Nguyễn Thị Huân Sinh 3 con trai là Hà Huy Bằng, Hà Huy Hách và Hà Huy Đốc và hai con gái là Hà Thị Phú lấy chồng là giám sinh Nguyễn Trinh sinh được 6 con trai và 3 con gái Con gái thứ hai là Huệ lấy chồng thôn Lai Trung làm Chánh tổng là Phan Xuân Hiệu
Em của Hà Huy Trực là Hà Huy Phẩm đỗ Cử nhân làm Đốc học ở Quảng Bình
Em khác mẹ là Hà Huy Nhiếp, đỗ Cử nhân làm Tri phủ Nghĩa Hưng
Đời 12:
Gọi là đời cụ Huyện Cả là Hà Huy Bằng Sinh năm Minh Mạng thứ 12 (1834) Giáp Ngọ Từ nhỏ đi theo Hà Huy Phẩm là Đốc học đại nhân để học hành Năm Ất Mão (1855) thi khoa mùa thu không đỗ Lấy vợ chính là Phan Thị Hoan, vợ lẽ là Nguyễn Thị Thịnh Đến năm Quý Dậu (1872) thi đỗ Tú tài lúc 40 tuổi Sinh con trưởng là Hà Huy Song tức là cụ Hòe Năm 42 tuổi (1875) sinh con gái lớn là Bạt, gả chồng về Hậu Cồn Năm 43 tuổi dự khoa thi mùa thu, có trình văn kêu oan nên có thi Đình một khóa Năm 44 tuổi sinh con gái thứ là Tương Năm 50 tuổi sinh con là Quất, lấy chồng xã Án Đỗ, Kỳ Anh là Tú tài Nguyễn Trinh Dung Năm 51 tuổi, có ân khoa, thi đỗ Tú tài
Trang 36Em của Hà Huy Bằng là Hà Huy Hách, thường gọi là Cố Bang ở nhánh
cố Sinh năm Tự Đức thứ 20 Đinh Mão đậu Tú tài, được bổ làm Mục huyện Hàng Liêu Sinh được 4 con trai và 4 con gái
Hà Huy Bằng còn có em là Hà Huy Đốc (tức quan Cử) sau đổi là Ban Sinh năm Tân Sửu (1841) Năm Tự Đức thứ 23 ngài đỗ Tư tài, sung chức Bang tá huyện nhà Về kinh được bổ dụng Dực thân phủ kiếm phong Năm Giáp Ngọ (1894) và Bính Dần (1817) thi tại trường Thừa Thiên Huế lại đỗ Tú tài Năm Quý Mão (1908) đỗ Cử nhân Sinh con trai đầu lòng là Hà Huy Phan, con trai thứ là Hà Huy Dư làm giáo thụ, hàm cửu phẩm, thường được gọi là Cố Cửu giáo
Đời 13:
Là đời cụ Hà Huy Song (Cụ Hòe) Cụ sinh năm 1873, mất 11/1920, thọ
47 tuổi Vợ là bà Hoàng Thị Dung, con gái nhà bá hộ Hoàng Loan ở Hậu Côn
Bà là người hiền lành, đức độ Ông có 5 người con: 3 trai là Hà Huy Liêm, Hà Huy Đạm, Hà Huy Trạm, 2 con gái là Hà Thị Hưu và Hà Thị Tửu
Đời 14:
Là đời Hà Huy Liêm, sinh năm 1899 Cha mất lúc ông 20 tuổi, được
mẹ tần tảo nuôi ăn học, ông đỗ bằng Thành chung sau đó được bổ làm trợ giáo dạy học tại trường huyện Thanh Chương, Nghệ An Về cuối đời bị bệnh cao huyết áp và nhũn não rồi mất vào năm 1963 Ông lấy vợ là Nguyễn Thị Chức, con út một nhà phú hộ, là một gia đình được nhân dân trong vùng trọng vọng Bà Chức sinh 15 lần nhưng nuôi được 9 là: Hà Huy Quảng, Hà Huy Tiến, Hà Huy Thao, Hà Thị Nhung, Hà Huy Khiết, Hà Huy Phiến, Hà Thị Nga, Hà Huy Vĩnh và Hà Huy Kinh
Em Hà Huy Liêm là Hà Thị Cựu, thường gọi là O Thừa Ngạc vì lấy chồng là Nguyễn Cao Ngạc ở Phật Não, Thạch Hà, Hà Tĩnh Thời Pháp thuộc làm Thừa phái ở Hà Tĩnh, sau đổi vào Quảng Ngãi, có con gái là Nguyễn Thị
Trang 37Đường Con trai thứ là Nguyễn Cao Thân là bác sĩ Chánh văn phòng Bộ Y
Tế Sau sinh thêm 3 người con nữa là: Nguyễn Thị Nghĩa, Nguyễn Cao Điềm
và Nguyễn Cao Phùng
Hà Huy Đạm, thường gọi là chú Phán Đạm, trước cách mạng làm Thông phán ở tòa Thống sứ Bắc kỳ, bị bệnh mất năm 1940 Lấy vợ là Nguyễn Thị Khuê quê quán ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh bị bệnh mất năm 1944 Có 4 con đã thành đạt: con trưởng là Hà Huy Tâm, công tác ở Bộ Ngoại giao; Hà Thị Tuyết; Hà Thị Hồng; Hà Huy Nguyên
Ngoài ra, Hà Huy Liêm còn có 2 em là Hà Thị Tửu và Hà Huy Trạm, thời Pháp thuộc làm thừa phái lục sư, sau cách mạng về công tác tại huyện nhà và thàm thư ký văn phòng
Đời 15:
Đời thứ 15 gồm có Hà Huy Quảng, Hà Huy Tiến, Hà Huy Thao, Hà Thị Huy Nhung, Hà Huy Khiết, Hà Huy Phiến, Hà Thị Huy Nga, Hà Huy Vĩnh, Hà Huy Kinh, Hà Huy Lăng
Hà Huy Quảng sinh năm 1920, học hết bậc thành chung rồi ở quê lập gia đình Trước cách mạng tháng 8 có tham gia phong trào Việt Minh và sau
đó làm công tác Mặt trận Liên Việt ở Tỉnh Hà Tĩnh Ông có 2 người con trai
là Hà Huy Kỳ, Hà Huy Việt và 3 người con gái là Hà Thị Vân, Hà Thị Cẩm,
Hà Thị Xuyên
Hà Huy Tiến sinh năm 1923, học trung học ở Quy Nhơn, sau đó học ở
Hà Nội đỗ Tú tài toàn phần Trong kháng chiến chống Pháp đi bộ đội Năm
1952 chuyển sang học Đại học y khoa, năm 1958 tốt nghiệp bác sỹ và sau đó ông đi tu nghiệp ở Tiệp Khắc Sau khi về ông làm chủ nhiệm khoa ở bệnh viện mắt Trung ương, kiêm giảng dạy sau Đại học Năm 1983 được phong Phó Giáo sư, năm 1990 được phong Giáo sư và thầy thuốc ưu tú Ông có 3 người con: Con gái đầu là Hà Minh Thuyết làm bác sĩ, con gái thứ 2 là Hà
Trang 38Phương Trinh làm biên tập ở Thông tấn xã Việt Nam, con trai út là Hà Huy Tài làm bác sĩ
Hà Huy Thao (1924 1953), đỗ Tú tài, có đầu óc kinh doanh, năng nổ, thông minh nhưng cuộc đời không thành đạt do mất năm 30 tuổi
Hà Huy Phiến sinh năm 1932, học trường trung học Quy Nhơn, đỗ sư phạm đệ nhất cập của Việt Nam dân chủ cộng hòa, đỗ Tú tài I, II, Cử nhân Học viện hành chính, Cử nhân văn chương, Thạc sĩ kinh tế tài chính, làm công chức cộng hòa Việt Nam và giảng sư tại Viện Tu nghiệp quốc gia và Học viện hành chính, năm 1984 được cử sang Canađa và giảng dạy Đại học tại đây Ông có 5 người con là: Hà Huy Bội Trà, Hà Huy Thái Dũng, Hà Huy Bội Tiên, Hà Huy Thái Tuấn, Hà Huy Thái Nhận
Hà Huy Vĩnh sinh năm 1945 ở Quy Nhơn Đỗ Tú tài ở Sài Gòn, sau đó xuất ngoại sang Canađa (1965), học tiếp và đỗ kỹ sư hóa học (1970) tại trường Đại học Ottawa Hiện đang làm quản lý tại trường Đại học Me gill Vợ
là Trịnh Thị Tường Vi làm việc tại Bộ công chánh Hai vợ chồng ông có 3 người trai là: Hà Huy Brian Bách (1977), Hà Huy Michel Đan (1978), Hà Huy Philippe Bình (1986) Cả gia đình hiện đang cư trú tại Canađa
Hà Huy Kinh sinh năm 1946, đỗ Tú tài ở Sài Gòn, được học bổng du học tại Canađa từ năm 1964 Học cao học, rồi nghiên cứu sinh ngành kiến trúc, thiết kế Hiện nay là Giáo sư giảng dạy Đại học kiêm Phó Viện trưởng phân khoa Kiến trúc xây dựng trường Đại học Concordia ở Montreal Vợ là Đào Tuyết Trinh là Thạc sĩ thương mại tài chính Vợ chồng ông có con gái đầu lòng là Hà Huy Y Băng và con trai là Hà Huy Luân David Cả gia đình ông hiện đang sống tại Montreal, Canađa
Trang 39Chương 2 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA DÒNG HỌ HÀ HUY
TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC
2.1 Thời trung đại
Lịch sử phát triển của dòng họ Hà Huy từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế
kỷ XIX gắn liền với các triều đại phong kiến từ thời kỳ Lê Trung Hưng đến đầu thời Nguyễn Trải qua quá trình hơn 400 năm, dòng họ Hà Huy đã có những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, trong đó có nhiều người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân và cuộc đời cho dân tộc
Tiêu biểu cho thời kỳ này của dòng họ là Hà Huy Sào (tục gọi là cụ Hầu) là một người tính tình cứng cõi, thẳng thắn, đứng ngồi nghiêm nghị, lấy công minh giữ mình, lấy thẳng thắn đãi người, lời nói ấm mà đanh thép, hay giúp người cho nên trong làng xóm ai cũng kiêng nể Ông đọc sách rộng, thạo văn chương, năm 20 tuổi thi đậu Tam trường được bổ làm hiệu sinh ở quê nhà, sau làm Tri huyện huyện Bình Dương, sau đổi thành phủ Trường Khánh làm tri phủ xứ Lương Sơn, Thừa chính sứ ty, tước phong Hoa Phương Hầu Ngoài ra ông còn là một người thông hiểu sách thuốc, chữa bệnh rất giỏi cho nên hể ai trong làng đau ốm là đến nhờ ông chữa bệnh Nếu thuốc của ông uống 3 - 5 thang mà không khỏi thì ông đi nhờ danh sư chữa cho Ông chữa bệnh cứu người là chính còn không lấy tiền công, vì vậy ông được nhiều người biết đến
Thời vua Lê Cảnh Hưng, chúa Trịnh thân chinh từ cửa bể đến nhà Hà Huy Sào để vay lương thực gồm 5000 phường gạo và về sau có sắc vua khen Đời vua Cảnh Hưng dân tình đói kém, có chiếu chỉ của vua là “người giàu giúp người nghèo”, Hà Huy Sào đã cho xây cất nhiều nhà để người nghèo đến
Trang 40ở tạm Ông còn cấp gạo cứu đói cho dân làng, xã trưởng đến nhà ông để lĩnh gạo cứu đói từ tháng 1 đến tháng 5 khi mùa lúa chín thì thôi
2.2 Thời cận đại và hiện đại
Đây là thời kỳ con cháu dòng họ Hà Huy đã cống hiến rất nhiều cho quê hương và giải phóng đất nước Dù trong nhiều hoàn cảnh khó khăn nhưng con cháu của dòng tộc vẫn luôn phát huy được truyền thống yêu nước và dám
Phong trào chống thực dân Pháp bùng phát lên ở Cẩm Xuyên ngay từ sau khi nhà Nguyễn ký hòa ước Giáp Tuất (1874) với Pháp Người châm ngòi cho phong trào đánh cả Pháp lẫn triều đình là Trần Tấn, Đặng Như Mai, khi nêu khẩu hiệu Bình Tây sát tả, đánh Tây là đích đáng, nhưng sát tả - đánh cả triều đình và thế lực Thiên chúa giáo làm tay sai cho Pháp, làm cho tình hình rối ren
Nhưng phong trào chống Pháp xâm lược ở trong vùng thực sự lên đến cao trào, bắt đầu sau sự biến 1885 ở Huế, vua Hàm Nghi kêu gọi Cần vương
và khi Phan Đình Phùng trở thành thủ lĩnh của phong trào chống Pháp ở Nghệ Tĩnh Ở Cẩm Xuyên, các lực lượng hiếu chiến dưới sự chỉ huy của Hoàng Bá Xuyên, Nguyễn Chuyên và Dương Xuân Dư, cùng với Hà Huy Bằng, Hà Huy Đốc đã chiêu tập nghĩa binh ngày đêm tập luyện võ nghệ, phối hợp với nghĩa quân Phan Đình Phùng đánh Pháp ở Đá Bạc (nay thuộc xã Cẩm Mỹ) - là một căn cứ có vị trí chiến lược nên Phan Đình Phùng đã về đây tìm hiểu, định đặt