1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về phương pháp dạy học thơ đường ở nhà trường phổ thông luận văn tốt nghiệp đại học

54 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về phương pháp dạy học thơ Đường ở nhà trường phổ thông luận văn tốt nghiệp đại học
Trường học Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục & Ngôn ngữ Văn học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 398,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở giáo trình Văn học Trung Quốc Tập 1 các tác giả đã giới thiệu về văn học Trung Quốc từ khởi thuỷ cho đến hết triều đại phong kiến đời Đường, giúp cho người học, người đọc có một cái n

Trang 1

Như chúng ta đã biết, đời Đường (618-907) là thời kỳ toàn thịnh của xã hội phong kiến ở Trung Quốc Vào đời Đường, lãnh thổ Trung Quốc được mở rộng chưa từng có, tình hình chính trị tương đối ổn định, kinh tế phát triển, văn hóa nghệ thuật phồn vinh Trên cơ sở phồn vinh xương thịnh ấy, văn học đời Đường đã phát triển hơn bất kỳ thời đại nào trước đó Thơ Đường như một vườn hoa trăm sắc nở rộ, nhiều nhà văn nhà thơ xuất hiện, nhiều thể loại văn học phát triển, đã để lại những thành tựu rực rỡ, ghi dấu ấn một thời hoàng kim của thơ ca Giai đoạn này có nhiều tác giả đã đi vào lịch sử thơ ca như Lý Bạch,

Đỗ Phủ, Vương Duy, Bạch Cư Dị

Thơ Đường du nhập sang nước ta từ rất sớm, nó được người Việt Nam tiếp nhận như một loại thơ nội sinh Cho đến hôm nay, thơ Đường vẫn rất gần gũi với người Việt Nam, vì vậy, không có gì khó hiểu khi ta thấy trong chương trình môn Văn ở trường phổ thông thuộc cả hai cấp học là THCS và THPT, thơ Đường có một vị trí đặc biệt (Chương trình THCS có 10 bài, học ở lớp 9; chương trình THPT có 6 bài, học ở lớp10) Một khối lượng thơ Đường lớn như vậy trong chương trình dạy học quả đã đặt người GV văn trước một thử thách lớn, đòi hỏi họ phải tìm cách vượt qua

Hiện nay, ở trường phổ thông, tình hình dạy thơ nhìn chung chưa đạt hiệu quả cao Riêng đối với thơ Đường, chưa có nhiều GV giúp cho học sinh cảm nhận được cái hay cái đẹp của nó Phần lớn GV mới chỉ phân tích được nội dung tác phẩm mà chưa làm nổi bật các thủ pháp nghệ thuật cùng đặc trưng thi pháp của thơ Đường Khi dạy thơ Đường, nhiều GV chỉ biết thuyết giảng, ít đàm thoại với HS vì sợ thiếu thời gian Cách làm ấy vô hình trung đã đi ngược lại cái “phép” của thơ Đường là nói ít gợi nhiều Mặt khác, việc dạy học thơ

Trang 2

HS tiếp nhận còn nghèo nàn), vậy nên, khi học thơ Đường, HS có ấn tượng thơ Đường "khó” tiếp nhận Xuất phát từ thực tế này, chúng tôi thấy vấn đề nghiên cứu cách dạy học thơ Đường ở trường phổ thông là một vấn đề quan trọng Thực hiện đề tài này, chúng tôi hy vọng đưa ra được cách nhìn, cách hiểu khoa học về thơ Đường nhằm góp phần bé nhỏ vào việc cải tiến chất lượng dạy học

nó, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn nước ngoài trong nhà trường phổ thông nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Đường, bởi thơ Đường là một thành tựu nổi bật của văn học Trung Quốc nói riêng và của nhân loại nói chung Hơn nữa thơ Đường có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học Việt Nam, vậy nên việc nghiên cứu về thơ Đường thu húếcự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Kết quả của các công trình nghiên cứu về thơ Đường xoay quanh một số vấn đề như sau

Ở giáo trình Văn học Trung Quốc (Tập 1) các tác giả đã giới thiệu về văn

học Trung Quốc từ khởi thuỷ cho đến hết triều đại phong kiến đời Đường, giúp cho người học, người đọc có một cái nhìn tổng quát về một nền văn học hết sức phong phú của một đất nước vĩ đại ở Châu Á, trong đó phần văn học đời Đường được chú tâm nghiên cứu, vì đây là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc

Ở đây, nguyên nhân phát sinh, phát triển cuat thơ Đường đã được lý giải một cách thấu đáo Bên cạnh việc tóm lược lịch sử phát triển của các thể thơ, các tác giả biên soạn đã khái quát đặc điểm nội dung của thơ Đường, sau đó đi vào từng tác giả tiêu biểu, mà không nêu ra đặc điểm về thi pháp của thơ Đường

Trang 3

chân dung tương đối rõ nét của một thể loại thơ Đường đã góp phần làm nên thành tựu rực rỡ của văn học Trung Quốc Qua những nét phác thảo khái quát

về văn học đời Đường và sự đóng góp của các gương mặt tiêu biểu như Lí Bạch, Đổ Phủ, Bạch Cư Dị cùng ảnh hưởng của họ đối với nền thơ ca cổ điển Trung Quốc và đối với văn học Việt Nam Tài liệu này cũng chỉ rõ tính chất hàm súc ước lệ cổ kính trang nghiêm, tính chặt chẽ của niêm luật thơ thất ngôn bát cú đời Đường

Ở sách Thi pháp thơ Đường, tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải đã nghiên cứu

sâu về thi pháp thơ Đường, trình bày những quan niệm về con người, thời gian, không gian trong thơ Đường Tác giả đã cho thấy thi pháp ở đây là thi pháp của một thời đại, một giai đoạn thơ trong tiến trình lịch sử của thơ Trung Quốc Song do định hướng riêng của mình, chuyên luận này mới chỉ dừng lại ở bước khái quát chung chứ không đi vào phân tích những tác phẩm cụ thể, nhất là những tác phẩm được chọn đưa vào chương trình văn học phổ thông

Cũng tác giả Nguyễn Thị Bích Hải, trong cuốn Văn học Châu Á trong nhà trường phổ thông, đã chú trọng tìm hiểu những tác phẩm văn học của Châu

Á ở chương trình phổ thông Tác giả dành nhiều thời gian và tâm huyết viết về mảng văn học Trung Quốc, đặc biệt là thơ Đường Ngoài ra, trong phần thứ hai,

tức là phần Tài liệu tham khảo, tác giả đã dành mấy bài nghiên cứu về thơ

Đường, chú ý khai thác “chữ tâm” trong thơ Đường và đề xuất hướng tiếp cận thơ Đường luật Bên cạnh đó, tác giả còn giới thiệu một số vấn đề về thi pháp thơ Đường

Một tài liệu nữa cũng có giá trị tham khảo quan trọng đối với chúng tôi là

cuốn Thơ Đường bình giải của tác giả Nguyễn Quốc Siêu Cuốn sách này đã

Trang 4

vậy cuốn chuyên khảo đã có được những đóng góp nhất định đối với công tác giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông Mặc dù vậy, theo chúng tôi, công trình mang tính ứng dụng nhiều hơn là xây dựng lý thuyết về phương pháp giảng dạy thơ Đường

Trong hai cuốn sách Về thi pháp thơ Đường và cuốn Thơ văn cổ Trung Hoa mảnh đất quen mà lạ, Nguyễn Khắc Phi có bài viết về trình tự phân tích

bài thơ thất ngôn bát cú đường luật theo bố cục của bài thơ Ở đây tác giả đưa ra một số ý kiến, quan niệm về kết cấu của bài thơ và nêu cách áp dụng hiểu biết

đó vào việc phân tích các tác phẩm thơ cụ thể Như vậy, tác giả mới chỉ đề cập đến phương pháp khai thác tác phẩm thơ, xuất phát từ một đặc trưng thi pháp của thể loại này

Ngoài các tài liệu vừa kể, có thể nói đến các sách tham khảo về văn học nước ngoài trong chương trình phổ thông, hoặc tài liệu phân tích tác phẩm lớp

9, lớp 10 có liên quan đến việc tìm hiểu tác phẩm thơ Đường Có thể nói rằng các tài liệu này mới chỉ khảo sát tác phẩm của từng tác giả, chứ chưa nêu được những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận đối với việc dạy các tác phẩm thơ Đường trong nhà trường phổ thông

Tóm lại, dù đã có rất nhiều người quan tâm nghiên cứu thơ Đường nhưng việc tìm hiểu phương pháp giảng dạy thơ Đường mới chỉ được dừng lại ở những khái quát bước đầu

Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các tài liệu nêu trên, chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra những định hướng khai thác tác phẩm Đường thi một cách tương đối cụ thể và toàn diện

Trang 5

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng tới việc chỉ ra được cách thức tổ chức dạy học thơ Đường ở trường phổ thông một cách có hiệu quả Tất nhiên, trước đó, chúng tôi phải đưa ra cách nhìn toàn diện về thi pháp thơ Đường, cách tiếp cận thơ Đường, nhận diện đúng những khó khăn và thuận lợi của việc dạy học thơ Đường

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài Một số vấn đề về phương pháp dạy học thơ Đường trong nhà trường phổ thông, chúng tôi đã tìm hiểu nhiều công trình nghiên cứu

về phương pháp dạy học và về thơ Đường từ trước đến nay, tổng hợp lại làm chỗ dựa lý thuyết cho luận văn.Đồng thời chúng tôi tổ hợp, bổ sung các ý kiến

đã có thành một hệ thống nhất quán, toàn diện Tiếp theo, trên cơ sở tìm hiểu những khó khăn, và thuận lợi trong việc dạy học thơ Đường ở trường phổ thông, chúng tôi đưa ra những phương pháp tiếp cận, khai thác giá trị các bài thơ Đường một cách phù hợp, khoa học

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn

được triển khai qua 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề về thi pháp thơ Đường và vị trí của thơ Đường

trong chương trình văn học phổ thông

Chương 2: Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học thơ Đường ở

trường phổ thông

Chương 3: Về phương pháp tiếp cận, phân tích thơ Đường ở trường phổ

thông

Trang 6

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG VÀ VỊ TRÍ CỦA THƠ ĐƯỜNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Một số vấn đề thi pháp thơ Đường

Trong gần 300 năm tồn tại của triều đại Đường, người Trung Quốc đã

tạo nên một nền thơ ca vĩ đại Bộ Toàn Đường thi (biên soạn đời Thanh) thu

thập được 489000 bài thơ của hơn 2300 nhà thơ Con số khổng lồ này chưa hẳn

đã là toàn bộ thơ thực có ở đời Đường, vì việc sưu tập được tiến hành sau 1000 năm Nhưng đó mới chỉ nói về số lượng, cái quan trọng hơn là chất lượng nội dung và nghệ thuật của thơ Đường

Thơ Đường phản ánh một cách toàn diện xã hội đời Đường, thể hiện quan điểm, nhận thức, tâm tư của con người một cách sâu sắc với một hình thức hoàn mỹ

Một số vấn đề thi pháp thơ Đường chúng tôi tổng hợp ở đây thuộc về thi pháp thơ của của một thời đại, một giai đoạn trong tiến trình thơ Trung Quốc Thi pháp là hệ thống hình thức, hệ thống phương tiện nghệ thuật của thơ, hệ thống hình thức này bản thân nó là một mắt khâu trên tiến trình thi pháp thơ Trung Quốc, chịu ảnh hưởng của thời đại, của quan điểm triết học Trong hệ thống thi pháp này chúng ta sẽ lần lượt đề cập đến các phương diện: quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thể loại

và ngôn ngữ

Trang 7

1.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người

Con người là đối tượng đồng thời cũng là mục đích, cứu cánh của văn học Khi Gorky nói rằng: "Văn học là khoa học về con người” tức là ông quan niệm văn học không phản ánh, thể hiện gì khác ngoài phản ánh thể hiện con người

Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng của thi pháp học Thơ Đường quan niệm về con người theo hai “kiểu” đó là “con người vũ trụ” và “ con người đời thường"

1.1.1.1.Con người vũ trụ

Ở thời cổ con người luôn đặt mình trong mối quan hệ tương thông, tương hợp với thiên nhiên, quan niệm “ thiên nhân hợp nhất “, “ thiên nhân tương dữ” (trời và người có quan hệ mật thiết với nhau), "nhân thân tiểu thiên địa “ (con người là một trời đất thế giới nhỏ)

Thiên địa dư ngã định sinh Vạn vật di ngã vi nhất

(Trang Tử) (Trời đất cùng sinh ra với ta Vạn vật với ta là một ) Quan niệm "con người vũ trụ“ chi phối những hoạt động ý thức tinh thần, khoa học nghệ thuật thời cổ

Quan niệm “con người vũ trụ“ cho rằng con người là một “tiểu vũ trụ“ trong lòng “đại vũ trụ“ Quan niệm này tồn tại suốt thời kỳ phong kiến, kéo dài đến tận thời cận đại

Con người vũ trụ được nhìn bằng kích thước vũ trụ, nó liên quan đến trời đất với vũ trụ, đó chính là một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ Con người vũ trụ trong thơ Đường không phải là người trần mắt thịt mà là một con ngưòi phi

Trang 8

thường có một cái nhìn đặc biệt Thử đọc bài Đăng U Châu đài ca của Trần Tử

Ngang:

Tiền bất kiến cố nhân Hậu bất kiến lai giả Niệm thiên địa chi du du Độc thương nhiên nhi thế hạ (Người trước chẳng thấy ai Người sau thì chưa thấy Ngẫm trời đất thật vô cùng Riêng lòng đau mà lệ chảy) Điểm nhìn nghệ thuật được đặt giữa trung tâm của vũ trụ, trung tâm của không gian thiên địa (vũ) trung tâm của thời gian tiền - hậu (trụ), con người đứng ở giao điểm của thời gian mà lên tiếng, đó là tiếng nói của một tiểu thiên địa giữa lòng đại thiên địa và giữa thời gian vô thủy vô chung Cái nhìn tiểu thiên địa ấy chỉ biết “ Độc thương nhiên nhi thế hạ “ khi dối diện với cái vô hạn, vô cùng của vũ trụ

Mặt khác con người vũ trụ trong thơ Đường mang khí phách, hoài bão,

lý tưởng lớn lao, cao cả, do đó con ngưòi có uy phong rung động đất trời, con người khí phách khi thất vọng cũng không chịu quẩn quanh, mà khát vọng vượt không gian để có mặt ở bốn phương

1.1.1.2 Con người đời thường

Nếu con người vũ trụ thể hiện quan hệ thống nhất tương giao hòa hợp với

vũ trụ thì con người đòi thường được phản ảnh trong các mối quan hệ xã hội đầy mâu thuẫn, đối lập, tương phản và chủ yếu xuất hiện trong bộ phận sáng tác theo khuynh hướng hiện thực, theo nguyên tắc khách quan

Trang 9

Con người đời thường trong thơ Đường là con người được xem xét trong những mối quan hệ xã hội của nó, “con người là tổng hòa của những mối quan

hệ xã hội“ Khi xã hội phồn vinh ổn định, đặc biệt là thời thịnh trị 100 năm đầu đời Đường, con người vũ trụ ngự trị trong tác phẩm của các thi nhân; tâm hồn

họ khát khao hòa nhập với thiên nhiên Khi xã hội có những biến động lớn lao, các giá trị bị đảo lộn, cái tưởng như vĩnh hằng bị xóa bỏ trong chốc lát, những cuộc biến động kêu gọi nhà thơ chú ý vào sự thực xã hội Nổi bật là nhà thơ Đỗ Phủ - một nhịp cầu vĩ đại nối hai giai đoạn thi ca đòi Đường “Thi thánh” Đỗ Phủ có bước đi trước mọi người, lịch sử đã chuẩn bị cho ông môt cuộc đời cơ

cực, thể hiện rõ trong bài Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Bài hát nhà tranh bị

gió thu phá nát) Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh mùa thu năm thứ ba của niên hiệu Càn Nguyên (760) Đỗ Phủ nhờ bạn bè giúp đỡ dựng được một mái nhà nhưng đến tháng 8 bị gió lớn phá hỏng Nhà thơ cảm xúc viết nên bài thơ này Như vậy ta thấy con người đời thường chịu nhiều vất vả Không phải ngẫu nhiên mà Tiêu Điều Phi nói: “Máu và nước mắt của nhân dân đã tưới cho vườn thơ Đỗ Phủ“ Những tác phẩm đó đã chứng minh tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ đối với người dân nghèo Phải nói rằng Đỗ Phủ là người đầu tiên đưa hình ảnh con người đời thường vào trong tác phẩm, là một sự cống hiến mới mẻ cho văn học Trung Quốc

Tuy nhiên cần lưu ý rằng do chịu sự chi phối của quan niệm truyền thống nên thơ Đường tuy có hai “kiểu” con người cơ bản nhưng con người vũ trụ vẫn chiếm ưu thế, nó có mặt trong cả bốn giai đoạn lịch sử: sơ, thịnh, trung, vãn Đường “Con người vũ trụ“ là nhân vật trung tâm của dòng thơ lãng mạn, “con người đời thường” là nhân vật trung tâm của dòng thơ hiện thực, sáng tác theo khuynh hướng khách quan “Con người vũ trụ” hay “con người dân đen” đều là cống hiến của thơ Đường vào di sản văn học Trung Quốc và nhân loại

Trang 10

1.1.2 Không gian nghệ thuật

Không gian cùng với thời gian làm nên hình thức tồn tại của thế giới vật chất; không gian và thời gian là hình thức tồn tại của con người, con người cũng như các hiện tượng vật chất không thể tồn tại ngoài không, thời gian

Trong các tác phẩm nghệ thuật, con người xuất hiện với tư cách là hình tượng con người và không gian được tạo dựng cũng là hình tượng không gian Giáo sư Trần Đình Sử phân biệt: “không gian nghệ thuật là hình tượng không gian trong tác phẩm”

Mỗi loại hình văn học có cái “mã” không gian riêng của nó, như trong thơ ca dân gian Việt Nam thì không gian là sân đình, giếng nước Nhưng trong thơ bác học Trung Quốc thì là không gian rộng lớn, bao la giữa càn khôn Thơ Đường có cái "mã" riêng của nó, nếu nói rằng con người trong thơ

Đường có hai kiểu vũ trụ và đời thường, thì tương ứng với hai kiểu con người

đó cũng có hai kiểu không gian: không gian vũ trụ và không gian đời thường

1.1.2.1 Không gian vũ trụ

Trong bài Tìm hiểu tứ thơ của thơ Đường, tác giả Nhữ Thành lý giải

rằng: "bầu trời và thiên nhiên là cái nền của thơ Đường vì thơ Đường cốt yếu

là nêu lên tính thống nhất, mà tính thống nhất chủ yếu là thống nhất giữa con người và thiên nhiên cho nên tất yếu nó hướng về thiên nhiên“

Tác giả Bích Hải viết: “Sở dỉ thơ Đường thể hiện sự thống nhất giữa con người với thiên nhiên vì quan niệm nghệ thuật về con người của thơ Đường là con người vũ trụ“

Trong thơ Đường không gian vũ trụ bao bọc con người, đại vũ trụ bao bọc tiểu vũ trụ Trong văn học cổ ta thấy con người ở giữa vòng “thiên phú địa tái“ (trời đất che chở) và tư thế con người là “đầu đội trời chân đạp đất“

Trang 11

Con người với vũ trụ có sự hỗ trợ tương thông, tương cảm với đất trời thiên nhiên, vạn vật, con người được bao bọc giữa sơn thủy hữu tình

Con người ở vị trí trung tâm nên không gian mang tính đối ứng, con người là “tâm đối xứng của không gian ấy“:

Bạch nhật y sơn tận Hoàng Hà nhập hải lưu Dục cùng thiên lý mục Cánh thướng nhất tằng lâu

(Đăng Quán Tước lâu - Vương Chi Hoán)

Ta thấy xuất hiện chiều cao chót vót của lầu Quán Tước mà đứng trên

có thể thấy mọi phía Không phải ngẫu nhiên trong thơ Đường có nhiều bài thơ

có "đăng” đến thế: Đăng cao, Đăng U Châu đài ca, Đăng Quán Tước lâu Lên

cao để chiếm lỉnh không gian bao la rộng lớn, càng lên cao lại càng thấy xa, xa gắn chặt với cao Không gian được đặt trong sự tương xứng bắc - nam, đông - tây, trên cao - dưới thấp, trái - phải Nó được đo bằng các đại lượng lớn

Bên cạnh không gian cao, xa, trong thơ Đường, không gian tĩnh cũng là một đề tài rất quen thuộc và thu được những thành tựu đáng kể, tác giả miêu

tả cái động cốt làm rõ cái tĩnh :

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền (Phong Kiều dạ bạc - Trương Kế)

Nguyệt, sương, đốm lửa chài là những từ ngữ diễn tả không gian yên tĩnh, những tiếng động “ ô đề “, “ chung thanh” chìm ngay vào cái yên tĩnh, vắng lặng đó của không gian; tiếng chuông vang lên có sức tác động mạnh mẽ đến tâm tư con người

Trang 12

Nói tóm lại không gian vũ trụ trong thơ Đường là không gian tương giao hòa hợp giữa vũ trụ và con người

1.1.2.2 Không gian đời thường

Không gian đời thường trong thơ Đường là không gian sinh hoạt, là nơi

cư trú của con người, xã hội với xu hướng bị thu hẹp Ở đó, người dân đen, kẻ

sĩ bị dồn vào những dư địa bé nhỏ để vượt lên trong cuộc tồn sinh đầy gian lao nguy hiểm, trên một đất nước loạn ly và kiệt quệ; không gian đời thường là không gian đầy ưu hoạn

Nếu không gian vũ trụ tương thông với con người vũ trụ là một tất yếu, thì bao quanh con người xã hội là không gian đời thường lại cũng là một tất yếu Con người dân đen bị vây bủa, bị trói buộc bởi không gian đời thường

Mộ đầu Thạch Hào thôn Hữu lại dạ tróc nhân Lão ông du tường tẩu Lão phụ xuất môn khan

(Thạch Hào lại - Đỗ Phủ)

Không gian ở đây bị thu hẹp, dồn nén vào những dư địa chật hẹp, những

xó xỉnh của sinh hoạt con người, không còn được bay lượn trong khoảng trời mênh mông mà "rớt” xuống đất cùng với đời thường khổ cực Không gian đời thường gắn với địa danh cụ thể, ví dụ: thôn Thạch Hào, huyện Tân An Không gian vũ trụ được đo bằng cấp độ vĩ mô, hoặc thể hiện những hình tượng có tính tượng trưng, còn không gian đời thường thì rất thực, gần gũi với những số đo bình thường Trong mảng thơ viết về đời thường, Đỗ Phủ đã có những câu thơ xót xa trước những điều trông thấy cụ thể:

Chu môn tửu nhục xú

Lộ hữu đống tử cốt

Trang 13

Phải nói rằng Lý Bạch đi đâu thì cả vũ trụ chuyển dời theo, Đỗ Phủ đi đâu thì tai họa đuổi theo đến đó Trước Đỗ Phủ chưa có một nhà thơ nào (đây không nói đến văn học dân gian) lấy người dân đen (lê nguyên) làm đối tượng phản ánh chứ đừng nói là nhân vật trung tâm Còn với Đỗ Phủ thì dân đen không chỉ là nỗi lo quanh năm mà suốt cuộc đời ông

Tóm lại: dù có hai loại không gian tiêu biểu, nhưng trong thơ Đường, không gian vũ trụ vẫn chiếm ưu thế, người tiếp nhận mỗi khi nghĩ đến thơ Đường vẫn hình dung một thế giới cao viễn xa xăm của một sự hòa điệu Cả hai loại không gian nghệ thuật này đã đạt đến trình độ “cổ điển” tiêu biểu cho không gian nghệ thuật

1.1.3 Thời gian nghệ thuật

Khái niệm thời gian là một phạm trù của triết học Không gian cùng với thời gian là hình thức tồn tại của vật chất Không gì tồn tại ngoài thời gian và không gian Thời gian và không gian có quan hệ biện chứng với nhau, thời gian

là một đại lượng để xác định quá trình tồn tại, vận động, phát triển của thế giới Trong tác phẩm nghệ thuật, thời gian đươc tái tạo mang tính chất chủ quan của tác giả, thời gian trong tác phẩm không hoàn toàn giống thời gian tự nhiên khách quan, ngay cả khi tác phẩm được kể theo thời gian một chiều, nhưng quy mô, vận tốc của nó không trùng với thời gian khách quan Đặc điểm của thời gian nghệ thuật là luôn luôn mang tính cảm xúc (tâm lý) và tính quan niệm, do đó nó đầy chủ quan Thời gian nghệ thuật là hình tượng thời gian được

sáng tạo nên trong tác phẩm (Giáo trình thi pháp học - Trần Đình Sử)

Tương ứng với hai “kiểu” con người, hai “kiểu” không gian nghệ thuật, trong thơ Đường cũng có hai “kiểu” thời gian, đó là thời gian vũ trụ và thời gian đời thường

Trang 14

1.1.3.1 Thời gian vũ trụ

Thời gian vũ trụ là nơi tâm hồn con người rong ruỗi từ quá khứ đến tương lai, nó mang tính chất tuần hoàn và thiên về quá khứ, nó có nhịp đi chậm rãi, khoan thai, có xu hướng vươn tới sự trường tồn, giúp nối khoảnh khắc ngắn ngủi của cuộc đời với “thiên niên”, “vạn cổ” của dòng thời gian vô thủy vô chung Nó thể hiện khát vọng trường tồn của con người; với nó, con người luôn cảm thấy điểm hiện tại mình đang sống là tiếp điểm giữa quá khứ và tương lai Thời gian vũ trụ trong thơ Đường chủ yếu là thời gian trong quá khứ Một đề tài

lớn trong thơ Đường là đề tài “ hoài cổ”: Bạch Đế hoài cổ, Việt trung lãm cổ, Xích Bích hoài cổ Trong ý niệm, thậm chí trong tiềm thức thi nhân, cái gì của

ngày xưa cũng đẹp Người ta ngưỡng vọng thời xưa như vậy là vì mọi cái của

cổ nhân đã được kiểm nghiệm rồi, còn tương lai thi biết lấy gì mà nói đến Thời cổ xưa với chiều dài lịch sử, với bao tên tuổi, sự kiện đủ độ tin cậy,

đủ để ngưỡng vọng Lấy quá khứ làm điểm tựa để vọng về tương lai là cái lý của thời gian hoài cổ Người ta nghĩ rằng càng hồi tưởng quá khứ xa xăm thì càng gửi mình được vào hậu thế, vào tương lai Bạn thì "bạn cũ" (cố nhân) mới quý:

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu

(Hướng về phía tây bạn cũ từ giã lầu Hoàng Hạc) (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên - Lý Bạch) Quê hương cũng phải là "quê cũ" (cố hương, cố quốc, cố viên):

Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ

Cô chu nhất hệ cố viên tâm (Khóm cúc nở hoa hai lần làm tuôn rơi nước mắt ngày trước Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vườn cũ)

(Thu hứng - Đỗ Phủ)

Trang 15

Không gian, cảnh vật, con người, trình tự được đóng “con dấu cổ “ hay ít

ra cũng là cũ mới có giá trị, dù cái mới có hấp dẫn nhưng cũng chưa có đủ độ tin cậy vì nó chưa qua sự kiểm nghiệm của thời gian Mặt khác “hoài cổ” cũng chính là vì thương kim, hoài cổ là phương tiện biểu hiên lòng xót thương, lo âu cho thực tại của thi nhân Đời Đường dù ở giai đoạn cực thịnh cũng có biết bao nhiêu bất công ngang trái, bao nỗi đau lòng mà nhà thơ phải thể hiện, phải nói

ra Ngoài chiến trận máu đổ vậy mà dưới trướng gái đẹp vẫn múa hát

Mỗi lần gặp thời gian hoài cổ, người ta lại cảm thấy tác giả đang không bằng lòng với thực trạng đau khổ và xót xa cho hiện tại:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu (Người xưa đã cưỡi chim hạc vàng bay đi Nơi đây chỉ trơ trơ lầu Hoàng Hạc )

(Hoàng Hạc lâu - Thôi Hiệu) Hiện tại quá bi đát, các nhà thơ muốn giữ quá khứ để nguôi nỗi đau lòng trước “những điều trông thấy“

Trong thơ Đường, thời gian vũ trụ là một cống hiến lớn lao của các thi nhân cho văn học Trung Quốc nói riêng và văn học nhân loại nói chung

1.1.3.2 Thời gian đời thường

Trong thơ Đường, thời gian đời thường gắn với cuộc sống bấp bênh vất

vả, cực nhọc của con người trong xã hội, chủ yếu là người dân đen, thời gian đời thường có xu hướng thu ngắn lại, và thường bó hẹp trong thời hiện tại, nó

có độ vội vàng gấp gáp trong những bước đi tất bật của đời thường

Thời gian đời thường đó là thời gian sự kiện, có tính cụ thể, trực cảm, cảnh sinh hoạt diễn ra trước mắt chứ không xa vời trong vạn cổ hay lung linh trong kỷ niệm, thời gian đời thường hầu như không có hoài niệm, hoài cổ mà kể

Trang 16

về sự việc diễn ra trước mắt Thi nhân tiêu biểu viết về thời gian đời thường là

Đỗ Phủ Thời gian trong thơ ông được đo rất cụ thể:

Bát nguyệt thu cao phong nộ hào Quyển ngã ốc thượng tam trùng mao (Tháng tám, đang giữa mùa thu, gió gào dữ dội Cuốn cả mấy lớp tranh trên mái nhà ta )

(Mao ốc vị thu phong sở phá ca - Đỗ Phủ)

Hay bài Thạch Hào lại, thời gian chỉ trong một đêm từ khi tác giả vào

thôn Thạch Hào đến sáng ngày mai chia tay ông lão, những cảnh trong bài

Thạch Hào lại chỉ có kỹ thuật điện ảnh mới quay được vì nó diễn ra cực nhanh

gần như tức thời

Con người đời thường không còn nhàn rỗi để mà hoài niệm hay mộng

mơ, mà bận rộn rất nhiều vậy nên thời gian đời thường cũng chính là thời gian sinh hoạt, là thời gian hiện tại

1.1.4 Thể loại và kết cấu

Thể loại là một phạm trù thuộc hình thức của tác phẩm văn học Trong thơ Đường các thi nhân đã sử dụng các thể thơ thuộc hai nhóm là cổ thể và kim thể Cổ thể gồm: cổ phong và nhạc phủ Kim thể (hay cận thể) gồm luật thi và

tứ tuyệt Cách gọi này thông báo cho ta biết một cách đại lược thời điểm ra đời của chúng So với đời Đường, cổ thể ra đời sớm hơn, từ thời Lục triều Khi phân loại người ta chia làm sáu thể: ngũ ngôn cổ thể, thất ngôn cổ thể, ngũ ngôn luật thi, thất ngôn luật thi, ngũ ngôn tuyệt cú, thất ngôn tuyệt cú Trong đó, ngũ ngôn cổ thể và thất ngôn cổ thể gọi là thơ cổ thể còn bốn thể sau gọi là kim thể

1.1.4.1 Thơ cổ thể

Trang 17

Thơ cổ thể theo các nhà nghiên cứu đã xuất hiện ở đời Hán Thơ cổ thể

có hai dạng: cổ phong và nhạc phủ

1.1.4.1.1 Cổ phong

Thể thơ này không có luật nhất định, không hạn định số câu trong bài, và

số chữ trong câu, tuy rằng thường có năm chữ hoặc bảy chữ, nhưng cũng có khi

co giãn câu, gieo vần rất hoạt, có thể độc vận (cả một bài chỉ một vần) có thể liên vận (nhiều vần nối tiếp nhau)

Luật thi buộc nhà thơ phải tuân thủ những quy tắc nhất định về âm thanh

bố cục và tình ý Luật ở đây gồm sáu luật: bài thơ phải đảm bảo sáu yêu cầu về niêm, luật, vận, đối, tiết tấu, bố cục

+ Niêm (nghĩa đen là dính ) là nguyên tắc phối thanh theo chiều dọc, làm các liên thơ dính với nhau, bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc Các câu thơ gắn với nhau từng đôi một: 2 + 3; 4 + 5; 6 + 7: 8 +1

+ Luật: là sự điều tiết âm thanh theo chiều ngang (trong nội bộ một dòng thơ) sao cho bằng, trắc hòa hợp, hệ thống này được tính từ chữ thứ hai của câu thứ nhất Nếu chữ này là bằng thì bài thơ là bằng khởi cách, nếu chữ này là trắc thì bài thơ là trắc khởi cách Để cho câu thơ được cân đối thì phải đảm bảo

Trang 18

được “đòn cân thanh điệu“ theo quy luật: nhất, tam, ngũ bất luận; nhị , tứ , lục phân minh

Trong luật thi cả bốn quy tắc này phải được tuân thủ một cách nghiêm ngặt

Mô hình một bài luật thi như sau :

Mô hình một: thất ngôn bát cú bằng khởi cách

Trang 20

Nhận xét: thơ ngũ ngôn có hiện tượng lặp lại về thanh điêu các nhóm câu: 1,4,8 giống nhau; 2,6 giống nhau; 3,7 giống nhau

+ Tiết tấu: nhìn chung cách ngắt nhịp ở câu 7 chữ và 5 chữ đều chẵn trước lẻ sau: 4/3; hoặc 2/2/3, ngắt nhịp chẵn /lẻ (âm dương) là cố định, hầu như không có ngoại lệ, khiến âm dương xen kẽ, luân chuyển nhịp nhàng và hài hòa

c) Chia làm hai phần 4/4: Kim Thánh Thán gọi 4 câu đầu là tiền giải,

4 câu sau là hậu giải

Trang 21

+ Cắt 4 câu đầu bài thơ sẽ có 4 câu 3 vần (ở cuối câu 1,2,3) và hai câu sau và hai câu sau là “đối liên“ câu 3 và câu 4 đối nhau

+ Cắt lấy 4 câu sau: bài thơ có hai vần (ở câu 2 và câu 4) và hai câu trước

1.2 Vị trí của thơ Đường trong nhà trường phổ thông

Từ trước đến nay văn học là một bộ môn có vị trí quan trọng trong chương trình dạy học ở trường phổ thông Văn học có tác dụng to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách, trí tuệ ở học sinh Bộ môn văn học trong chương trình phổ thông chiếm lượng thời gian rất lớn, trong đó có hai phần văn học: văn học dân tộc và văn học nước ngoài Những tác phẩm văn học nước ngoài đưa vào chương trình phổ thông là những tác phẩm có giá trị cao về nội dung và nghệ thuật, đã được các soạn giả SGK cân nhắc kỹ lưỡng

Trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông, thơ Đường được dạy học hai lần ở lớp 9 và 10 (Phần văn học nước ngoài) trong đó thơ Lý Bạch và

Đỗ Phủ là trọng tâm Như vậy việc dạy học thơ Đường được dành nhiều thời gian hơn so với thành tựu văn học của các nước khác Đó là một điều hợp lý bởi

lẽ thơ Đường là một trong những đỉnh cao của văn học thế giới, hơn nữa đây là một thành tựu văn học có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Việt Nam suốt 10 thế

Trang 22

kỷ từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIX Cha ông đã tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Trung Quốc trong quá trình xây dựng nền văn học nước nhà Riêng về thi

ca, thơ Đường, đặc biệt là thơ Đường luật có ảnh hưởng quan trọng đến thơ các tác giả Việt Nam thời trung cận đại Người đầu tiên phải kể đến là tác giả bài thơ "Thần" Tác giả này đã mượn hình thức thơ ngoại nhập để khẳng định quyền độc lập của dân tộc, thể hiện niềm tự hào đối với non sông và quan niệm

"Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách" Cha ông ta với ý thức dân tộc cao đã từng tạo ra nền văn học chữ nôm với nhiều cố gắng đổi mới thể thơ đường luật, làm nó trở thành thể thơ mang đậm tính dân tộc Nói cách khác thơ Đường luật

ở Việt Nam vẫn giữ vần, điệu, niêm, luật nhưng đã được dân tộc hoá Qua thời

gian, các tác giả sáng tạo thêm, tiêu biểu là nhà thơ Hồ Chí Minh với Nhật ký trong tù Mãi đến thời hiện đại, âm hưởng của thơ Đường trong thơ Việt Nam

còn rõ nét Trong chương trình ngữ văn ở trường phổ thông, các bài thơ được sáng tác theo thể Đường luật chiếm tỷ lệ rất cao (khoảng 3/4 được sáng tác thể thơ Đường kể cả chữ Hán và chữ Nôm)

Có 4 tác giả đời Đường có tác phẩm được tuyển vào sách giáo khoa (Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị) ở cả hai cấp học THCS và THPT Trong đó tác giả Bạch Cư Dị ở thời Trung Đường còn 3 tác giả Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu ở thời Thịnh Đường Riêng hai tác giả Lý Bạch và Đỗ Phủ được học ở cả hai cấp học Điều này hợp với thực tế bởi Thịnh Đường là thời kỳ hoàng kim của thơ cổ điển Trung Quốc, Lý Bạch và Đỗ Phủ là hai nhà thơ vĩ đại trong lịch sử văn học Trung Quốc và thế giới, có hai phong cách sáng tác khác nhau

Những bài thơ Đường được đưa vào sách giáo khoa đều là những kiệt tác, tiêu biểu cho đặc trưng thi pháp thơ Đường Trong số 15 bài đưa vào sách giáo khoa chỉ có ba bài thuộc về thơ cổ thể, 12 bài là thơ cận thể gồm luật thi và tuyệt cú Như vậy tỷ lệ này tương ứng với tỷ lệ thực tế, vì trong thơ Trung Quốc

Trang 23

đời Đường hay trong thơ Việt Nam trung - cận đại, thơ cận thể cũng nhiều gấp

ba lần thơ cổ thể Có một điều rất đáng lưu tâm là trong số 15 bài đưa vào sách giáo khoa thì thơ tuyệt cú nhiều hơn Điều này vừa hợp với hứng thú tiếp nhận của con người hiện đạii vừa cho thấy sức sống của thơ tuyệt cú - thể thơ ngắn nhất của Trung Quốc Thời hiện đại ở Trung Quốc và Việt Nam, thể thơ 4 câu vẫn thường được sử dụng Đây là một hiện tượng thú vị đáng tìm hiểu, nghiên cứu Trong nhịp sống hiện đại, đa số công chúng thích truyện ngắn, truyện mi

ni, thơ tuyệt cú và chúng tôi thấy HS phổ thông cũng thích những bài thơ ngắn hơn, tuy bài thơ ngắn nhưng khi phân tích lại có nhiều ý, đó là đặc trưng của thơ Đường luật "lời ít, ý nhiều"

Mặt khác thơ Đường có vị trí quan trọng trong trường phổ thông còn bởi

lẽ thơ Đường đã cung cấp cho các nhà thơ Việt Nam những chất liệu sống động, những gợi ý quý báu; truyền thống hiện thực, nhân đạo trong thơ Đường đã tác động tích cực đến nhiều nhà thơ Việt Nam Có thể tìm thấy dấu vết nhiều bài thơ Đường phản đối chiến tranh của Vương Xương Linh và Lý Bạch trong

Chinh Phụ Ngâm (Đặng Trần Côn); có thể thấy âm vang của Tỳ bà hành không

chỉ trong thơ cổ điển Việt Nam mà cả trong thơ mới Rõ ràng, thơ Đường hết sức gần gũi với văn chương, tâm hồn con người Việt Nam

Chương 2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA VIỆC DẠY HỌC THƠ

ĐƯỜNG TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Trang 24

2.1 Những thuận lợi của việc dạy học thơ Đường trong nhà trường phổ thông

Như chúng ta đã biết thơ Đường có ở cả hai cấp học THCS và THPT với những tác giả tiêu biểu như: Lý Bạch và Đỗ Phủ Bởi vì có ở cả hai cấp học cho nên HS có điều kiện tiếp xúc với thơ Đường một cách kỹ càng

Ở THCS, phần văn học lớp 9 có 6 bài giảng văn và 3 bài đọc thêm (thống

kê theo sách Văn học lớp 9 tập 2 - NXBGD, 2002) Ở THPT, phần văn học lớp

10 có 4 bài giảng văn và 2 bài đọc thêm (thống kê theo sách Văn học lớp 10 tập

2 - NXBGD, 2002)

Như vậy thơ Đường không còn quá mới mẻ và xa lạ đối với HS, đó là một điều kiện rất thuận lợi cho việc dạy học thơ Đường ở trường phổ thông Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của hai tác giả quan trọng là Lý Bạch và Đỗ Phủ

đã được giới thiệu ở cả hai cấp học, điều đó giúp HS có được một nền tri thức vững chắc về cá tính sáng tạo của họ Bên cạch đó, ở chương trình lớp 10, soạn giả sách giáo khoa đã đưa vào một bài khái quát về thơ Đường Bài khái quát đã nêu lên được thành tựu, nguyên nhân hưng thịnh và một số đặc điểm hình thức nghệ thuật của thơ Đường, đã tạo điều kiện cho HS nắm được những thể thơ của đời Đường, đặc trưng về ngôn ngữ và tứ thơ của nó, từ đó nêu lên những ảnh hưởng của thơ Đường đối với văn học Việt Nam Như vậy, bài khái quát đã trang bị cho cả GV lẫn HS những kiến thức hết sức "tinh giản, vững chắc" về thơ Đường giúp cho việc dạy học nó đạt được kết quả tốt

Trong trường hợp cả hai cấp học đều giới thiệu về một tác giả, sách giáo khoa vẫn không viết trùng lặp nhau Chính điều đó đã làm cho việc dạy học không trở nên nhàm chán

Như đã khảo sát và thống kê, thơ Đường được đưa vào chương trình văn học phổ thông hầu hết là thơ cận thể (tứ tuyệt và thất ngôn bát cú) Đó là những thể thơ mà HS đã được tiếp xúc nhiều khi học đến văn học trung đại Hơn nữa,

Trang 25

thơ cận thể rất tiêu biểu cho đặc trưng thi pháp thơ Đường cho nên việc tìm hiểu

các bài thơ không quá khó khăn Những tác phẩm ngắn như bài Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng có 4 câu 28 chữ cũng giống hình thức của những bài thơ khác trong văn học trung đại Việt Nam như bài Mời trầu của

Hồ Xuân Hương Bài Thu hứng của Đỗ Phủ về hình thức cũng giống như bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan với cấu trúc thơ cân đối hài hoà

Hơn nữa, tâm lý HS thích học những bài thơ ngắn, bởi những bài ngắn dễ phân tích, việc đọc hiểu cũng gọn gàng (những tiểu thuyết trường, thiên dù nội dung hay đến mấy, HS vẫn cảm thấy ngại tìm hiểu bởi nó dài quá, "đồ sộ" quá) Văn học nước ngoài nói chung và thơ Đường nói riêng đã được GV nghiên cứu khá kỹ càng ở giảng đường đại học qua các chuyên đề Với thơ Đường, người GV đã có dịp tiếp xúc và tìm hiểu qua các chuyên đề: Lịch sử văn học Trung Quốc, Thi pháp thơ Đường Bởi lẽ đó, người GV đã có kiến thức về chiều sâu của thơ Đường; trong những giờ lên lớp, họ có thể cung cấp thêm những kiến thức ngoài sách giáo khoa mà vẫn đảm bảo đi đúng trọng tâm bài giảng

Muốn tìm hiểu sâu về thơ Đường, cả thầy và trò có thể tìm thấy dễ dàng các tài liệu khá cơ bản, thiết thực sau đây:

- Lê Đức Niệm - Diện mạo thơ Đường, NXBVHTT Hà Nội,1995

- Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử - Về thi pháp thơ Đường, NXB Đà Nẵng, 1997

- Nguyễn Khắc Phi - Thơ văn cổ Trung Hoa mảnh đất quen mà lạ, NXB

Trang 26

- Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) - Phân tích bình giảng tác phẩm văn học

10, NXB GD, 1999

- Lê Huy Tiêu, Lương Duy Thứ - Lịch sử văn học Trung Quốc (tập 1), NXB GD, 1997

Trên đây là một số tài liệu có thể giúp ích cho việc dạy học thơ Đường

Đó là một con số rất ít ỏi trong những tài liệu nghiên cứu về thơ Đường Như vậy tài liệu để giúp ích cho việc dạy học thơ Đường rất nhiều, đó chính là điều kiện thuận lợi để cho GV và HS ngày càng nâng cao chất lượng dạy học thơ Đường

Điều đáng nói khác là thơ Đường thường viết về những đề tài rất quen thuộc như thiên nhiên, tình bạn, chiến tranh Đây là những đề tài rất quen

thuộc, dễ đi sâu vào lòng người Viết về thiên nhiên có các bài: Vọng Lư Sơn bộc bố, Đăng cao Viết về tình bạn có: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Viết về chiến tranh có: Thạch Hào Lại

Thơ Đường là thơ của nước ngoài nên khi đưa vào chương trình văn học

ở trường phổ thông phải được phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ cẩn thận Đọc bản phiên âm chữ Hán, HS đã phần nào lĩnh hội được sắc thái biểu cảm của từ ngữ, nhờ 2/3 từ gốc chữ Hán có trong kho từ vựng tiếng Việt Còn với GV, điều kiện thuận lợi đã được tạo sẵn từ khi còn ở giảng đường đại học, do họ có học ít nhiều về Hán Nôm Đã có rất nhiều bản dịch khác nhau về các bài thơ Đường được dạy học ở phổ thông, tuy vậy, khi soạn sách, các tác giả sách giáo khoa đã thực sự chọn được những bản dịch tiêu biểu nhất, gây mỹ cảm đậm đà cho cả người dạy lẫn người học

Hầu hết những bài thơ Đường có trong chương trình Văn học phổ thông đều được sáng tác theo thể bát cú Đường luật (thất ngôn, ngũ ngôn) và tứ tuyệt (thất ngôn, ngũ ngôn) Hai thể thơ này khá quen thuộc với HS Thơ Đường có

Trang 27

đặc trưng “lời it, ý nhiều” và bút pháp “họa vân xuất nguyệt” , càng phân tích

kỹ càng thấy lý thú bởi nó như một khối càng bóc tách càng thấy rõ cốt lõi Thơ Đường chủ yếu làm theo luật nên có quy định của nó HS khi thấy những ý tưởng bí ẩn xuất lộ theo quy luật chắc hẳn sẽ rất hứng thú

Trong thơ Đường, các tác giả hay sử dụng những điển cố, điển tích nên khi dạy học, GV có điều kiện mở rộng hiểu biết về văn hóa, văn học cho HS, làm cho nội dung của bài giảng có thêm chiều sâu Đỗ Phủ nói “dùng điển như dùng muối” Như vậy, điển tích, điển cố trong thơ Đường đều là những điển tích, điển cố hay, tạo nhiều rung cảm thẩm mỹ cho HS

Một điểm nữa là trong thơ Đường, tần số xuất hiện các địa danh rất cao

Do đặc điểm này, khi giảng dạy, GV có thể dùng tranh ảnh để minh họa và cung cấp những thông tin liên quan đến các địa danh cho HS, làm tăng thêm sức thuyết phục của bài giảng Phương pháp trực quan sinh động là một trong những phương pháp tạo được nhiều hứng thú trong học tập

2.2 Những khó khăn của việc dạy học thơ Đường trong nhà trường phổ thông

Bên cạnh những thuận lợi, trong việc dạy học thơ Đường ở trường phổ thông, cả GV và HS gặp một số khó khăn sau:

Thơ Đường là một mảng thơ quen thuộc nhưng chúng lại ra đời vào một thời điểm cách xa chúng ta ngày nay Thi pháp thơ Đường thuộc thi pháp trung đại, vịnh cảnh để tả tình, nói đến cảnh vật nhằm gởi gắm nỗi niềm tâm sự Ví

dụ, bài thơ Đăng cao không phải đơn thuần nói chuyện lên núi mà nói chuyện

khí phách của con người lên cao để chiếm lĩnh trời đất Ở thơ hiện đại, cảm xúc của thi nhân nhiều khi được biểu lộ trực tiếp thì trong thơ cổ, cảm xúc lại xuyên

thấm trong những lớp cảnh và hình ảnh ẩn dụ Ví dụ khi tiếp cận bài thơ Đây mùa thu tới (Xuân Diệu), qua hàng liễu buồn nhỏ lệ đứng chịu tang, qua hình

Ngày đăng: 22/08/2023, 00:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w