27] được thể hiện qua phương thức trần thuật hay việc sử dụng kĩ thuật dòng ý thức trong xây dựng nhân vật đã làm nên nét khác biệt và do đó, có sự đóng góp nhất định vào thành tựu chung
Trang 22 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 Tổng quan về đề tài nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam trước 1975 10
1.1 Vài nét về thể loại tiểu thuyết 10
1.2 Cơ sở lịch sử xã hội của đề tài nông thôn trong văn học và trong tiểu thuyết Việt Nam 16
1.3 Hiện thực nông thôn và số phận người nông dân trong tiểu thuyết Việt Nam 19
Chương 2 Cái nhìn mới về hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 44
2.1 Tiền đề xã hội - văn hoá và thẩm mỹ của văn học Việt Nam sau 1975 44
2.2 Cái nhìn mới về hiện thực nông thôn 52
Chương 3 Một số nhận xét bước đầu về phương thức trần thuật trong tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam sau 1975 78
3.1 Khai thác sâu các tầng, vỉa mới của hiện thực 78
3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người 84
3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu 102
KẾT LUẬN 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 3dân luôn là vấn đề được đặt ra dù ở bất cứ thời đại nào Điều này hoàn toàn hợp lý, dễ hiểu bởi đa số người Việt Nam là nông dân hoặc có gốc gác từ nông thôn
Tuy mỗi thời vấn đề này được đặt dưới mỗi góc độ khác nhau, trong từng cấp độ khác nhau và cách giải quyết cũng không giống nhau, nhưng nói chung chưa có thời đại nào không đặt ra như một yêu cầu cấp thiết và được tất
cả mọi người quan tâm
1.2 Văn học Việt Nam nói chung, tiểu thuyết nói riêng, đã có số lượng rất lớn tác phẩm viết về vấn đề này và có khá nhiều tác phẩm thành công, gây được sự chú ý của công luận do đã có hướng tiếp cận sát thực, đúng đắn, phát hiện, lý giải được nhiều mặt hiện thực chính xác và bổ ích Hơn thế, các tác phẩm viết về đề tài này cũng thường được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh để cho quảng đại quần chúng được thụ hưởng Trong luận văn này cũng
có 2/4 tiểu thuyết mà chúng tôi lấy làm ngữ liệu khảo sát đã được dựng thành
phim truyện truyền hình Đó là phim truyện Đất và người (chuyển thể từ tiểu
thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường), Chuyện
làng Nhô (chuyển thể từ tiểu thuyết Kẻ ám sát cánh đồng của Nguyễn Quang
Thiều) và bộ phim truyện truyền hình Gió làng Kình của đạo diễn Nguyễn Hữu Phần cũng dường như là sự tiếp nối tiểu thuyết Ma làng của Trịnh Thanh Phong, Gió làng của Phùng Kim Trọng
1.3 Bản thân chúng tôi vốn cũng sinh ra từ nông thôn, nay lại cũng đang công tác ở nông thôn Hàng ngày tiếp xúc, chứng kiến nhiều sự kiện, cảnh đời ở nông thôn và con người nông dân (trong đó có đối tượng chúng tôi đang trực tiếp quan hệ) với đủ các cung bậc tình cảm Vì thế, chúng tôi cũng mong muốn qua nghiên cứu đề tài này sẽ cho chúng tôi hiểu rõ thêm
Trang 4Sau khúc khải hoàn ca 1975, đất nước chúng ta trở lại cuộc sống thanh bình Đây cũng là mốc lịch sử đánh dấu chặng đường mới của văn học dân tộc Sau một thời gian trượt theo quán tính, văn học bắt đầu có dấu hiệu chuyển mình đổi mới đánh dấu vai trò của đường lối “cởi trói” văn nghệ của Đảng nói chung và vai trò của những cây bút văn xuôi nhiều thế hệ nói riêng trong cách tìm tòi và thể nghiệm sự sáng tạo của mình Sự sôi động của đời sống văn học đã tạo ra bằng chính những tác phẩm, nó đã lôi kéo giới nghiên cứu phê bình, tạo nên không khí học thuật sôi nổi “Nông thôn Việt Nam” không phải là đề tài mới, nó đã và đang lôi cuốn được nhiều người quan tâm, nên đã có nhiều công trình, bài viết đề cập đến Chúng tôi tạm chia các công trình này thành hai loại:
2.1 Loại đề cập đến Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 và Tiểu thuyết viết về nông thôn nói chung
GS Lê Ngọc Trà trong cuốn sách Thách thức của sáng tạo thách thức
của văn hóa (Nxb Thanh niên, 2002) đã nêu lên 4 đặc điểm của văn học Việt
Nam sau 1975 như sau:
- Đặc điểm tiêu biểu, nổi bật là tính chất phê phán Nếu trước đây trong các tác phẩm, nhân vật chính thường là nhân vật chính diện, là người tốt thì sau 1975, nhân vật chính lại thường là “những nhân vật tiêu cực, giả dối, làm
ăn phi pháp, thấp kém về đạo đức” [tr.18] Do vậy cảm hứng chủ đạo cũng thay đổi từ nhiệt tình ngợi ca, khẳng định sang sự phê phán, châm biếm Điều này phù hợp với những nhân vật chính được miêu tả trong các tác phẩm mà
luận văn chọn làm ngữ liệu: những Thủ, Phúc trong Mảnh đất lắm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Phạm Tòng trong Ma làng của Trịnh
Thanh Phong, Khả trong Kẻ ám sát cánh đồng của Nguyễn Quang Thiều, Vũ Đình Cơ trong Đồng sau bão của Hoàng Minh Tường,…
Trang 5sự nghiền ngẫm lịch sử, nhờ đó nó không chỉ ghi chép mà còn “soi sáng
chúng dưới nhiều góc độ khác nhau” Đọc Bến không chồng (Dương Hướng),
Chuyện làng Cuội (Lê Lựu) hay Mảnh đất lắm người nhiều ma, Kẻ ám sát cánh đồng,… ta đều thấy những đặc điếm ấy nổi lên tương đối rõ nét
- Đặc điểm thứ ba là xu hướng văn học sau 1975 “trở lại với đời
thường, với số phận riêng” [tr.25] mà những số phận của lão Khúng (Khách ở
quê ra, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu) hay lão Quềnh, bà Son trong Mảnh đất lắm người nhiều ma; chị Ló, anh Dỏ trong Ma làng,… là những ví
dụ tiêu biểu
- Đặc điểm cuối cùng là sự đổi mới “phong cách và ý thức nghệ thuật” [tr 27] được thể hiện qua phương thức trần thuật hay việc sử dụng kĩ thuật dòng ý thức trong xây dựng nhân vật đã làm nên nét khác biệt và do đó, có sự đóng góp nhất định vào thành tựu chung của văn học sau 1975, được bộc lộ qua các cây bút tiêu biểu như Bảo Ninh, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Dương Hướng,…
Nhìn vào bức tranh văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng của Việt Nam sau 1975, chúng tôi thấy những đặc điểm nêu trên thể hiện khá đậm nét, trong đó tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn cũng không là ngoại lệ
Tác giả Nguyễn Văn Long trong công trình Văn học Việt Nam trong
thời đại mới khi phân tích tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng
cũng đã đánh giá: “Cùng trong một hướng chung của nhiều tác phẩm văn xuôi gần đây hướng vào những vấn đề thế sự và đời tư, cuốn tiểu thuyết của Dương Hướng đưa ra nhiều số phận mang tính bi kịch của các nhân vật thuộc
mấy thế hệ” [tr 404], và “Trong Bến không chồng, Dương Hướng muốn lưu ý
người đọc đến một phương diện của xã hội nông thôn, nó chi phối đời sống
Trang 6[tr.404] Nhận định này, theo chúng tôi, không chỉ đúng với tiểu thuyết Bến
không chồng mà còn phù hợp với những tác phẩm viết về đề tài nông thôn
Việt Nam nói chung Đọc các tiểu thuyết Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Đồng sau bão (Hoàng Minh Tường), Ma làng (Trịnh Thanh Phong), Bão trong làng (Đỗ Văn phúc), Gió làng (Phùng Kim Trọng),… người đọc mới thấy thấm thía
tính hai mặt của ý thức về tập quán và về tộc họ đang diễn ra hàng ngày hàng giờ ở nông thôn những năm cuối thập kỉ XX đầu thập kỉ XXI Điều này làm nên nỗi ám ảnh, day dứt khôn nguôi về bi kịch số phận con người khi ở trong một môi trường sống quẩn quanh, trì trệ, bế tắc
Nguyễn Thị Bình trong Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn Những đổi mới của
văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (khảo sát trên những nét lớn) đã nêu
lên hai xu hướng của văn học sau 1975 là “xu hướng tán thành, lạc quan, khẳng định văn xuôi thời đổi mới và xu hướng hoài nghi, bi quan, muốn phủ nhận những tìm tòi mới lạ của các cây bút được xem là “mới” ở thời kỳ này Hai xu hướng này có lúc đối lập rạch ròi, quyết liệt, có lúc dung hòa và diễn biến thực tế vô cùng phức tạp” [tr.11] nhưng “Vài năm trở lại đây, nhiệt tình khẳng định của giới nghiên cứu phê bình có vẻ trầm xuống trong khi đó xu hướng hoài nghi, bi quan, phê phán lúc trước lẻ tẻ hơn, dè dặt hơn, giờ đây nhiều thêm” [tr.11] Nhận định này cũng có điểm gần gũi với ý kiến của GS
Lê Ngọc Trà ở đặc điểm một và hai trong công trình đã dẫn trên đây
Ngoài ra, có thể lưu ý đến những ý kiến đề cập đến tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 và tiểu thuyết viết về nông thôn nói chung trong các công trình
đã xuất bản như: Nguyễn Văn Long Tiếp cận và đánh giá văn học Việt Nam
sau Cách mạng tháng Tám (Nxb Giáo dục, 2001); Nhiều tác giả 50 năm văn
Trang 7Văn xuôi viết về nông thôn - Tiến trình và đổi mới (2001),… Những công
trình này, tùy theo mục đích mà có cách tiếp cận khác nhau, quy mô và mức
độ khác nhau, sự đánh giá cũng không phải đã thống nhất với nhau,… nhưng nói chung, đã có sự quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bộ mặt văn xuôi Việt Nam sau 1975 và thể loại tiểu thuyết viết về đề tại nông thôn trong hành trình
chung của tiểu thuyết
2.2 Loại đề cập đến các tác giả đƣợc luận văn lấy làm ngữ liệu
Trước hết là các ý kiến quan tâm đến thời sự văn học nói chung, trong
đó ít nhiều đề cập đến các tiểu thuyết viết về nông thôn Nhìn chung, các tác giả đều thừa nhận văn học về nông thôn nằm trong trào lưu đổi mới Mảng hiện thực này đã góp phần đắc lực làm điểm tựa “nhìn lại” về tình hình văn xuôi hiện nay Đó là thời kì văn học “hướng nội”, “thế sự”, mạnh dạn cày xới hiện thực xã hội ngổn ngang, phức tạp, thẩm định lại một số giá trị quá khứ và biểu hiện cuộc đấu tranh gay gắt giữa thiện và ác, mới và cũ, đồng thời phát hiện những nhân tố tích cực Trên con đường “áp sát hiện thực” các nhà văn nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng đã đòi quyền dân chủ cho con người “Hành trình văn học ta mấy năm qua, từ cố gắng rứt
ra khỏi số phận cộng đồng chung của cả khối đồng nhất đi đến hiện thực Xã hội ngổn ngang với những tính chất tả thực vội vã, rồi tiềp tục đi sâu vào thế giới bên trong từng con người Cuộc hành hương vô tận, cuộc kiếm tìm khó nhọc bên trong thế giới riêng từng con người Hành trình ấy không phải là một hành trình thu hẹp dần phạm vi quan tâm của văn học,… Văn học đang tiếp cận dần trở lại với những giá trị nhân văn chung của từng thời đại” (Nguyên Ngọc) [55]
Trang 8GS Phong Lê trong Nghiên cứu văn học đã có bài viết Tiểu thuyết mở
đầu thế kỉ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng 8 - 1945 Ở đây tác giả đã có một cái nhìn khái quát về tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến những năm sau đổi mới và đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết mở đầu thế kỉ XXI Một loạt tiểu thuyết được kể ra trên tất cả các đề tài: nông thôn, thành thị, chiến tranh, trong đó tiểu thuyết về đề tài nông thôn được đề cập khá nhiều Trong khi trình bày tiểu thuyết nông thôn của văn học thế kỉ XX tác giả có điểm qua tiến trình phát triển của tiểu thuyết viết về nông thôn từ quá khứ đến hiện tại và cho thấy đề tài nông thôn thế kỉ XX nằm trong mạch chảy của văn học dân tộc, trong đó có những tác phẩm nổi bật Chúng ta có thể kể
đến một số những tác phẩm trong phạm vi nghiên cứu như: Mảnh đất lắm
người nhiều ma, Ma làng, Kẻ ám sát cánh đồng, Đồng sau bão,
Đối với những bài nghiên cứu, phê bình trực diện mảng sáng tác về nông thôn mà chúng tôi đề cập ở trên, đặc biệt có những bài viết đã khẳng định được vai trò cũng như giá trị to lớn của những tiểu thuyết viết về nông thôn trong hướng tiếp cận hiện thực mới Những bài nghiên cứu đó được lược
trích trên nhiều loại báo khác nhau: Lao động, Giáo dục và thời đại, Quân đội
nhân dân thứ bảy, các loại tạp chí văn học khác,… với những tác giả tên tuổi:
Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Ngọc Hiến, Hà Minh Đức, Phong Lê,… Tuy nhiên, do đây là những ý kiến, nhận xét được lược trích nên khá sơ lược, mặt khác lại nằm rải rác, phân tán nên chưa mang lại cho chúng ta cái nhìn toàn diện về tác phẩm Dù vậy, khi đọc kĩ những bài viết được tập hợp,
ta cũng có thể cảm nhận được những vấn đề cơ bản trong tác phẩm về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật Chúng ta nhận thấy một điều là vấn đề nông thôn đang trở thành đề tài nóng bỏng trên văn đàn, nó nhận được sự quan tâm không chỉ của nhiều cây bút mà ở đây có cả vai trò của nhà văn và
nhà phê bình, nghiên cứu văn học Ví dụ, chỉ riêng tác phẩm Mảnh đất lắm
người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường cũng đã có tới mấy chục bài
Trang 9nghiên cứu về nó được lược trích ngay sau cuốn sách Có thể dẫn ra đây một
số ý kiến thảo luận về cuốn tiểu thuyết này do báo Văn nghệ tổ chức ngày 25.1.1991 GS Trần Đình Sử viết: “Tôi đã đọc tiểu thuyết Mảnh đất lắm
người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường một cách hào hứng Cuốn sách có
sức lôi cuốn từ đầu đến cuối, nhà văn đã đề xuất một hiện tượng xã hội nghiêm trọng đáng quan tâm trong cuộc sống hiện nay là ý thức dòng họ, gia tộc đang trở ngại cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới, xã hội công dân ở nông thôn” Đồng cảm hứng này là ý kiến của GS Hà Minh Đức: “Đã nhiều năm tôi mới được đọc một cuốn sách thú vị, hấp dẫn về nông thôn (…) Nông thôn
trong Mảnh đất lắm người nhiều ma không cuộn lên trong các phong trào đấu
tranh yêu nước, cải cách, hợp tác mà sôi lên từ những nguyên nhân bên trong, những chuyện làng xóm Tác giả đã chụp được khuôn mặt đích thực” GS Phong Lê thì cho rằng: “Cuốn sách đặt lại cho tôi nhiều điều suy nghĩ Nông thôn và người nông dân trong cách mạng dân tộc - dân chủ, đó là đối tượng nhận thức và miêu tả trong cả một giai đoạn văn học không ngắn và vẫn còn tiếp diễn (…) Cuốn sách mới của anh Nguyễn Khắc Trường đặt ra và gây được ấn tượng ở các vấn đề chìm và nổi, ở bề mặt và bề sâu trong sự đan xen
đó Không chỉ là chất thơ mà còn là bi kịch, và là những bi kịch gọi nhau”
GS Nguyễn Đăng Mạnh sung sướng vì “Đã lâu lắm mới xuất hiện một tác
phẩm viết về nông thôn Việt Nam theo đúng cái mạch của “Tắt đèn”, “Chí
Phèo” Có thể nói cái làng Giếng Chùa trong “Mảnh đất lắm người nhiều ma”
là sự cộng lại của cả hai cái làng Đông Xá của Ngô Tất Tố và Vũ Đại của Nam Cao” Và còn rất nhiều ý kiến khác của các tác giả Hoàng Ngọc Hiến, Trung Trung Đỉnh, Ngô Thảo, Thiếu Mai, Nguyên Ngọc, Phạm Hoa,… cho thấy dư luận hết sức quan tâm và đánh giá cao tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Trường nói riêng và các tiểu thuyết viết về nông thôn nói chung Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến các ý kiến đánh giá về Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn Quang Thiều của các tác giả Lê Ngọc Trà, Lê Văn Long, Trần Đình Sử, Nguyễn Thị Bình,…
Trang 10Nhưng lại có một thực trạng khác nữa là gần đây trên văn đàn đang có
xu hướng vắng bóng dần những tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi nói chung viết về đề tài nông thôn Bởi vậy, trên những cơ sở gợi dẫn của những người
đi trước chúng tôi mong muốn được góp phần nhỏ vào nghiên cứu một số tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn trong văn học đương đại như một sự khẳng định giá trị của văn học viết về nông thôn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về nông thôn Việt Nam được phản ánh trong các tiểu thuyết Ngữ liệu văn học được sử dụng trong luận văn là các tác phẩm:
1 Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nxb Hội
Nhà văn, 2006
2 Ma làng của Trịnh Thanh Phong, Nxb Văn học, Hà Nội, 2007
3 Kẻ ám sát cánh đồng của Nguyễn Quang Thiều, Nxb Hội Nhà văn, 2004
4 Đồng sau bão của Hoàng Minh Tường, Nxb Hội Nhà văn Hà Nội, 2005 Ngoài ra, luận văn còn tham khảo thêm các tiểu thuyết: Chuyện làng
Cuội (Lê Lựu), Bóng đêm và mặt trời (Dương Hướng), Bão trong làng (Đỗ
Văn Phúc), Bến không chồng (Dương Hướng) và một số cuốn tiểu thuyết
khác để có thêm cơ sở về diện
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu:
- Phương pháp khảo tả,
- Phương pháp phân tích, tổng hợp,
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn cố gắng khảo sát một cách kỹ lưỡng, có hệ thống để có thể chỉ ra các phương diện, phương thức phản ánh về đề tài nông thôn trong một
số tiểu thuyết Việt Nam đương đại Qua đó, bước đầu rút ra nhận xét, đánh giá về những đóng góp cũng như hạn chế của các tác phẩm viết về đề tài này
Trang 116 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có
ba chương:
Chương 1 Tổng quan về đề tài nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam
trước 1975 Chương 2 Cái nhìn mới về hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết
sau 1975 Chương 3 Một số nhận xét bước đầu về phương thức trần thuật
trong tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1975
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT
từ buổi đầu xuất hiện, tiểu thuyết đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình Song nó không phải là thể loại đã hoàn bị, với nòng cốt hay nền móng đã “đông cứng” Trái lại tiểu thuyết có một “trí nhớ” thể loại siêu việt và luôn tìm cách thoát ra khỏi các dạng thức, cái khuôn mẫu do chính nó tạo ra bằng một tính “tự phê phán tuyệt vời” không mệt mỏi “Con đường của tiểu thuyết viết ra như một lịch sử song hành của thời hiện đại” [54, 15] Vì vậy việc đưa ra một khái niệm chung nhất về tiểu thuyết là việc làm hết sức khó khăn vì tiểu thuyết là thể loại “đang sinh thành, đang biến đổi hết sức mạnh mẽ ngay trước mặt trước mặt con người hiện đại” [26, 39] Những định nghĩa, những quan niệm đưa ra xét một mặt nào đó là phù hợp, là đúng tuỳ thuộc vào góc độ, điểm nhìn của người nghiên cứu và nó phát huy trong từng thể, từng loại nhất định
Ở Việt Nam, khái niệm tiểu thuyết cũng được bàn đến rất nhiều Tác giả Phạm Quỳnh là một trong những người rất quan tâm đến tiểu thuyết Ông cho rằng: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình người, tả phong tục xã hội hay là những sự tích lạ kì đủ làm cho người đọc
Trang 13hứng thú hay nói cách khác, nó là một “truyện bịa đặt có thú vị” [73, 10]
Thanh Lãng trong “Bảng lược đồ văn học Việt Nam” (1967), cho rằng: “Tiểu
thuyết (roman) là một truyện tương đối dài, bịa đặt ra do óc tưởng tượng nhưng được xây dựng theo những tài liệu lấy ngay từ trong thực tế hàng ngày Tiểu thuyết bởi vậy thường là những bức tranh phong tục là vì tác giả chủ trương về một trạng thái có thực hay tưởng như có thực của cuộc sống loài người, đặt câu chuyện vào một khung cảnh xã hội có những đường nét, những màu sắc quen thuộc Nhưng ngoài ý nghĩa trên chữ roman của Pháp còn có thể dùng để chỉ chung cho cả tiếng “nouvelle” và “conte” mà tiếng Việt chưa
có từ chỉ định” Tiểu thuyết có một khả năng kì diệu trong việc tả chân cuộc đời, tả chân tư tưởng người đời Nó rất khó định nghĩa vì đôi khi người ta còn xem tiểu thuyết như một “sự tổng hợp tinh thần tối cao” [54, 22], nhưng có thể huy động cốt truyện trên cơ sở tất cả các phương tiện lí tính và phi lí; tự
sự và nghiền ngẫm và nó còn soi sáng bản thể con người Mỗi nhà tiểu thuyết khi nhìn nhận về tiểu thuyết chắc chắn sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào môi trường
và thời đại mình sống
Tác giả Nguyễn Xuân Nam trong Từ điển văn học đã định nghĩa: “Tiểu
thuyết là một loại hình tự sự có ít nhiều hư cấu, thông qua nhân vật, sự việc và hoàn cảnh, thường dùng văn xuôi để phản ánh bức tranh xã hội”
Nếu truyện ngắn là một hình thức tự sự cỡ nhỏ, chỉ thể hiện một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng nhân vật và thường chỉ tập trung xoáy vào một điểm (lấy ít nói nhiều) thì tiểu thuyết là loại hình tự sự cỡ lớn, miêu tả cuộc sống trong quá trình phát triển với một cấu trúc đa diện phức tạp
mà ở đó hiện thực được mở ra cả chiều rộng lẫn bề sâu Trong Từ điển thuật
ngữ văn học, các tác giả đã định nghĩa tiểu thuyết là: “Tác phẩm tự sự cỡ lớn
có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái
Trang 14hiện nhiều tính cách đa dạng” [21, 328] Trong quá trình vận động và phát triển, diện mạo của tiểu thuyết không ngừng thay đổi Trên cơ sở rút ra từ nội hàm của những định nghĩa trên ta sẽ xác định những đặc trưng cơ bản của thể loại chưa hoàn bị này
Đặc trưng nổi bật nhất của tiểu thuyết là “chất văn xuôi” Nếu như ở
thơ chủ yếu thể hiện cái “chất thơ” của đời sống, phản ánh cái nhìn ở một trạng thái thăng hoa của cảm xúc thì tiểu thuyết ưu tiên phản ánh chất “văn xuôi” của đời sống và đời sống hiện ra ở trạng thái “văn xuôi” Nó cho phép nhà tiểu thuyết đưa vào tác phẩm của mình mọi sự hỗn tạp của cuộc sống từ những cái nhỏ nhặt, thậm chí là vụn vặt nhất Đời sống được hiện ra nguyên dạng với đầy những sắc thái thẩm mĩ Chúng ta có thể bắt gặp mọi cung bậc của cuộc sống như nó vốn có “Cuộc sống hiện ra như ô hợp với tất cả sự trần truồng, xấu xí, ghê tởm của nó đồng thời với tất cả vẻ đẹp trang nghiêm của
nó, trong đó người ta mổ xẻ cuộc sống bằng con giao giải phẫu” (Biêlinxki)
Ta có thể nhận thấy sự phức tạp đó trong tiểu thuyết của trào lưu hiện thực phê phán 1932 - 1945 mà điển hình là Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,… Trong trào lưu văn học này, con người và
xã hội hiện lên với đầy đủ bản chất của đời sống thực tại như nó vốn có nhưng vẫn là “người lạ quen biết” (Biêlinxki) “Tiểu thuyết đã hấp thụ vào bản thân mọi yếu tố bề bộn của cuộc đời, đủ khả năng phơi bày đến tận cùng sự
Trang 15phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống” [12, 196] Do vậy tính đa dạng
về màu sắc thẩm mĩ là đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại
Không phải ngẫu nhiên mà thể loại tiểu thuyết lại chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống thể loại văn học cận đại và hiện đại Điều đó phản ánh rõ “sức chứa”, “sức chở” của nó Một trong những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết cổ điển là dung lượng lớn, thường có kết cấu nhiều chương, nhiều hồi, số lượng nhân vật thường rất đông Cốt truyện thường tập trung vào các vấn đề mang tính lịch sử trọng đại của cả dân tộc, có tầm bao quát hiện thực trong một khoảng không gian rộng lớn Chúng ta có thể nhận thấy rất rõ điều ấy trong
tác phẩm Chiến tranh và hòa bình của L.Tônxtôi, Tấn trò đời của Banzắc,
Dòng họ Ru Macca của Dôla Nếu như tiểu thuyết cổ điển nhìn cuộc sống ở
góc độ khái quát lịch sử thì tiểu thuyết hiện đại nhìn cuộc sống ở góc nhìn đời
tư Bêlinxki khi phân tích nguồn gốc của tiểu thuyết cho rằng “Vận mệnh của
con người, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân được ý thức Vì vậy đời sống cá nhân cũng không thể là nội dung của anh hùng ca Hi Lạp, nhưng
có thể là nội dung của tiểu thuyết” Như vậy chúng ta có thể thấy rằng vấn đề con người là yếu tố trung tâm của tiểu thuyết ở bất cứ giai đoạn nào, cái làm nên sự khác biệt của mỗi giai đoạn chính là ở góc nhìn Ở thể loại tiểu thuyết anh hùng ca nói chung của thời kì cổ đại, vấn đề của con người cá nhân cũng được đề cập rất rõ, các nhân vật có cuộc sống riêng, có yêu ghét giận hờn, nhưng cái nổi bật ở họ lại là con người mang trong mình sức mạnh phi thường của lực lượng siêu nhiên và họ đại diện cho cộng đồng, cho lý tưởng, cho lẽ phải kiểu như Đam Săn “… đầu đội khăn xếp vai mang túi da” Trong tiểu thuyết sử thi hiện đại con người được đề cập đến là con người của cộng đồng,
họ hội tụ sức mạnh của cả cộng đồng Sức mạnh ở họ không phải là siêu nhiên mà nó kết tinh từ vận mệnh, từ sức mạnh của cả dân tộc tạo nên vẻ đẹp
thẩm mĩ mang tính khách quan tuyệt đối kiểu như Núp trong Đất nước đứng
lên của Nguyên Ngọc Tiểu thuyết Việt Nam nói riêng có khuynh hướng phát
Trang 16triển gắn liền với lịch sử dân tộc, điều đó cũng không nằm ngoài xu hướng chung của văn học Việt Nam hay nói cụ thể là tiểu thuyết luôn mang trong mình hơi thở của thời đại Khuynh hướng của tiểu thuyết hôm nay là hết sức gần với cuộc sống, đời sống riêng tư hơn và hiện lên với đầy đủ sự bộn bề như nó vốn có Cái thế sự và đời tư đó “không lặp lại, chưa từng có đang tươi rói trong quá trình nghiệm sinh của chính nó” [26, 45]
Tiểu thuyết xoá bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và đối tượng trần thuật Nếu như trong tiểu thuyết sử thi nói riêng nhà văn luôn đặt nhân
vật trong tọa độ nhìn ngắm không nhỏ hẹp mà đặt nhân vật bao giờ cũng ở trên cao để nhà văn có thể quan sát, chiêm ngưỡng thì trong tiểu thuyết hiện đại nói chung khoảng cách đó bị rút ngắn, thậm chí xoá bỏ Nhà văn có thể thâm nhập vào đời sống bên trong với những khoảng tối, sáng, cả cái phần sâu kín nhất của mỗi con người Vì vậy việc nhìn nhận đối tượng sẽ bao quát hơn, đa diện hơn Nhà tiểu thuyết cũng có thể kể bằng nhiều giọng: suy tư sâu lắng, chiêm nghiệm triết lý, cảm thông chia sẻ, hài hước châm biếm,… tuỳ vào tư duy nghệ thuật và tư tưởng sáng tạo của nhà văn Nhân vật có thể ngồi ngang hàng với tác giả, “đối thoại” với tác giả Không những thế, thông qua ngôn ngữ của người trần thuật, người viết có thể bình phẩm, đánh giá với nhân vật “trên một trường giá trị đồng đẳng” Thông qua đó đã phát huy được loại ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết, đây là tính “đa thanh, phức điệu” mà Bakhtin gọi là “cái tinh thần của thể loại”
Miêu tả về suy tư của nhân vật trước thế giới và đời người cũng là một
thành tố quan trọng của tiểu thuyết bên cạnh cốt truyện và tính cách nhân vật Tiểu thuyết có khả năng đi sâu khai thác từng mảnh đời, từng góc khuất sâu thẳm trong tâm hồn con người Suy tư của nhân vật được thể hiện một cách phong phú: độc thoại nội tâm, đối thoại với người vắng mặt, tâm sự qua nhật ký,…
Trang 17Nhân vật là nơi tập trung nhất quan niệm của nhà văn, thể hiện rõ tư tưởng, cách nhìn của nhà văn về thế giới Bởi thế nhân vật trong tiểu thuyết thường là những “con người nếm trải” và “con người hoặc cao lớn hơn thân phận, hoặc nhỏ bé hơn tính người của mình” [26, 45] Đó là những con người luôn suy nghĩ, day dứt, đấu tranh nội tâm trước những thử thách của cuộc đời Con người luôn suy tư trăn trở về bản thân mình, họ biết vượt lên trên hoàn cảnh để hoàn thiện, khẳng định cái phẩm giá, thiên lương Ta sẽ thấy rõ điều
đó trong các sáng tác của Nam Cao, Nguyên Hồng, Thạch Lam Do đặc trưng thể loại, các nhà tiểu thuyết thường xây dựng thế giới nghệ thuật của mình ở một toạ độ mới, mô tả thế giới như là hiện tại đương thời đang dang
dở, chưa hoàn thành “Người viết tiểu thuyết thiên về tất cả những gì chưa xong xuôi”
Tiểu thuyết là một thể loại có cấu trúc linh hoạt Trong tiểu thuyết có
thể có rất nhiều nhân vật như Chiến tranh và hoà bình (L.Tônxtôi), nhưng cũng có tác phẩm chỉ có vài nhân vật như Ông già và biển cả (Hêminguây)
Sự linh hoạt của cấu trúc không chỉ dừng lại ở số lượng nhân vật trong một tác phẩm hay không gian, thời gian, sự kiện mà “còn có khả năng dồn nhân vật, sự kiện vào một khoảng thời gian hẹp hay khả năng đi sâu khai thác những cảnh ngộ riêng của nhân vật” [12, 191] Điều này ta có thể thấy trong
Sống mòn của Nam Cao, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng,… hay Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Thời xa vắng của Lê Lựu, Kẻ ám sát cánh đồng của Nguyễn Quang Thiều, Ma làng của Trịnh Thanh Phong
Sự linh hoạt đó còn thể hiện ở độ dài của tiểu thuyết cũng muôn hình vạn trạng Chính điều đó giúp tiểu thuyết có thể tái hiện đời sống trong mọi kích thước, quy mô về cả chiều rộng lẫn chiều sâu Nhà văn Tô Hoài đã nhận ra được sức mạnh này của tiểu thuyết khi cho rằng: “Không thể cho tiểu thuyết một định nghĩa cố định, tiểu thuyết lúc nào cũng phát triển và biến đổi” [84, 72]
Trang 18Tiểu thuyết tổng hợp vào mình những đặc trưng, thủ pháp nghệ thuật của các loại hình khác Nó có khả năng dung nạp các hình thái nhận thức của
các lĩnh vực khoa học khác Ứng với mỗi một giai đoạn lịch sử, tiểu thuyết luôn có một kiểu tổ chức nghệ thuật phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và thị hiếu thẩm mĩ của thời đại Tiểu thuyết luôn có xu hướng thoát ra khỏi “bộ khung chật hẹp” để tìm cho mình những nét mới và hình thức mới Vì vậy, đổi mới là một tất yếu cho thể loại này Trong thời đại hiện nay, giữa muôn vàn sự phức tạp của của cuộc sống mà bản thân con người không dễ lý giải thì tiểu thuyết lại đang làm được nhiều hơn đó là đào sâu và tiếp cận hiện thực và
lý giải nó một cách trơn tru dễ tiếp nhận Việc tìm hiểu khái niệm tiểu thuyết
và những đặc trưng của nó sẽ là cơ sở lý luận để tiếp cận đề tài hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - một trong những khu vực văn học
ưa thích của đa số nhà văn đương đại Việt Nam
1.2 Cơ sở lịch sử xã hội của đề tài nông thôn trong văn học và trong tiểu thuyết Việt Nam
1.2.1 Chiến tranh là đề tài ưu tiên
Điều này xuất phát từ thực tiễn chống ngoại xâm của đất nước trong suốt mấy nghìn năm lịch sử Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường nói rằng lịch sử của dân tộc ta gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm Chúng
ta nhìn vào văn học dân tộc sẽ thấy rất rõ Khi chữ viết chưa ra đời thì bộ phận văn học dân gian cũng thể hiện rõ quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Những tượng đài sừng sững về những người anh hùng Thánh Gióng, Bà Trưng, bà Triệu,… được nhân dân dựng lên như những biểu tượng cho sức mạnh và khí thế quật cường của dân tộc Không dừng lại ở đó
mà “một nghìn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày,…” (Trịnh Công Sơn) đã biến văn học Việt Nam thành nền văn học cách mạng, đặc biệt có thể kể đến giai đoạn 1945 - 1975,
kéo dài đến 1979 Xét riêng về thể loại tiểu thuyết: Trùng quang tâm sử (Phan
Trang 19Bội Châu), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Cao điểm cuối cùng, Vùng trời (Hữu Mai), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh) Sống trong một dân
tộc như thế thì văn học sẽ là phương tiện hữu hiệu nhất thể hiện rõ đề tài này,
nó còn trở thành vũ khí có sức mạnh phi thường
Với những thi sĩ có tấm lòng yêu nước thì nó còn là sự trăn trở trước nỗi đau mất nước, trước thời cuộc đã “vật đổi sao dời” mà tấm lòng “ưu thời mẫn thế” chưa làm được Nhà thơ Tố Hữu đã nhận ra điều đó ở người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi mặc dù họ sống cách xa nhau năm thế kỉ: “Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu, Tiếng gươm khua tiếng thơ kêu xé lòng”
1.2.2 .Nhưng nông thôn là đề tài phổ biến
Nông thôn là một trong hai khu vực cơ bản của đời sống kinh tế - xã hội, đặt trong tương quan với khu vực thành thị Ở hai khu vực này có sự phân biệt
với nhau rất rõ rệt Từ điển tiếng Việt định nghĩa nông thôn là: “Khu vực dân
cư tập trung chủ yếu làm nghề nông, phân biệt với thành thị” [84, 374] Việt
Nam là quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, đó là khu vực mà điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Ngay từ buổi đầu tiên, cư dân người Việt đã sống tập trung ở các vùng ven sông Hồng, sông Cửu Long và lấy lúa nước làm nghề cơ bản để nuôi sống mình Một nền nông nghiệp xuất phát từ đó và dần dần phát triển hơn về sau, kéo theo nó là quần cư nông thôn xuất hiện và làng xã được hình thành Một làng xã với quá trình liên hiệp tự nguyện giữa những người nông dân lao động trên con đường chinh phục thiên nhiên để có được những vùng đất gieo trồng và chống thiên tai, lũ lụt và đặc biệt chống giặc ngoại xâm Để làm được những kì tích đó, làng xã Việt Nam
có một truyền thống đoàn kết và có một tinh thần tự quản rất cao Nơi đó là mảnh đất giữ gìn vẻ đẹp truyền thống của cả dân tộc Làng xã nói riêng và nông thôn Việt Nam nói chung luôn giữ một vị trí quan trọng trong kết cấu xã hội Việt Nam và từ xa xưa thì đây luôn là mảnh đất màu mỡ cho nhiều loại
Trang 20hình nghệ thuật Nông thôn không chỉ là mối quan tâm của những người làm kinh tế trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước mà còn là sự quan tâm của các nhà dân tộc học, lịch sử, xã hội học Không những thế, nông thôn là đối tượng mà văn học quan tâm, bởi nó là hiện thực cuộc sống, một mảng hiện thực lớn gắn bó máu thịt với mỗi người dân Việt Nam
Một đất nước với tuyệt đại đa số là nông dân, sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp, cho nên mọi nếp sống, sinh hoạt cho đến cách nghĩ, cách ứng xử của con người ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền kinh tế và tư duy nông nghiệp cổ truyền Đặc điểm này sẽ in đậm trong các sáng tác văn học kể cả văn học dân gian và văn học viết (ảnh hưởng cả hai chiều ưu điểm và hạn chế) Cho đến nay đề tài nông thôn vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền văn học dân tộc, đề tài này phản ánh rất rõ trong văn học dân gian, đó là sản phẩm của người dân lao động “chân lấm tay bùn” nhưng rất đỗi gần gũi quen thuộc Cho đến nay, bộ mặt nông thôn được phản ánh trong văn học đã trở nên đầy
đủ hơn, rõ nét hơn và trở thành đề tài quen thuộc gắn bó máu thịt mỗi nhà văn Việt Nam nói riêng và với mỗi người dân Việt Nam nói chung Nhà văn Nguyễn Tuân đã có lý khi cho rằng “trong mỗi nhà văn chúng ta đều có một anh chàng nhà quê”, Hoàng Minh Tường cũng cho rằng: “Nhà quê chính là chiếc nôi của văn hoá, khởi thủy của văn chương” Kể đến những thành tựu của văn học Việt Nam nói chung, của tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn nói riêng có khối lượng tác phẩm khá đồ sộ Chẳng hạn:
Trước Cách mạng tháng Tám có Hồ Biểu Chánh (Ngọn cỏ gió đùa,
Con nhà nghèo), Ngô Tất Tố (Tắt đèn), Nguyễn Công Hoan (Bước đường cùng), Vũ Trọng Phụng (Giông tố, Vỡ đê), Hoàng Đạo (Con đường sáng)
Sau cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ có
Nguyễn Văn Bổng (Con trâu), Đào Vũ (Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm), Chu Văn (Bão biển, Đất mặn), Nguyễn Thị Ngọc Tú (Đất làng, Buổi sáng), Ngô Ngọc Bội (Ao làng), Nguyễn Thi (Ở xã Trung Nghĩa)
Trang 21Những tác phẩm viết về chủ đề khác nhưng lấy bối cảnh ở nông thôn:
Trên mảnh đất này (Hoàng Văn Bổn), Mẫn và tôi, Gia đình má Bảy (Phan
Tứ), Rừng U Minh (Trần Hiếu Minh), Hòn Đất (Anh Đức),…
Từ 1975 đến nay đề tài này vẫn được tiếp tục với các tác giả mới:
Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Lê Lựu (Chuyện làng
Cuội), Trịnh Thanh Phong (Ma làng), Hoàng Minh Tường (Đồng sau bão),
Nguyễn Quang Thiều (Kẻ ám sát cánh đồng), Dương Hướng (Bóng đêm và
mặt trời), Phùng Kim Trọng (Gió làng),…
Giai đoạn này cũng có những tác phẩm tuy viết về chủ đề khác nhưng lại lấy bối cảnh ở nông thôn, đề cập đến số phận con người nông thôn, chẳng
hạn: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng), Đại gia tỉnh
lẻ (Trần Văn Tuấn), Người đẹp tỉnh lẻ (Lê Quốc Minh),…
1.3 Hiện thực nông thôn và số phận người nông dân trong tiểu thuyết
1.3.1 Thời kì 1932 - 1945
Đầu thế kỉ XX, sau hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cơ cấu xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi lớn Sự thay đổi này kéo theo những biến đổi sâu sắc trong ý thức và tâm lý con người Cái nền tảng vững chắc của
tư tưởng phong kiến đã được xây dựng non mười thế kỉ nay đã bị lung lay, dường như nó không còn phù hợp với thời đại mới Sự xuất hiện của một lớp công chúng văn học mang nhu cầu văn hoá thẩm mỹ mới xuất hiện, đòi hỏi một thứ văn chương mới; một lớp nhà văn mới mang hơi thở mới vào văn học tạo điều kiện cho công cuộc hiện đại hoá trở nên mau lẹ Đến đây, văn học thời kì này đang từng bước thoát ra khỏi hệ thống thi pháp của văn học trung đại Quá trình đó bắt nguồn từ đầu thế kỉ XX đến những năm 30 đã diễn ra trên nhiều mặt của văn học về hệ thống thể loại, thi pháp, ngôn ngữ, các khuynh hướng mới,…
Trong những thay đổi lớn lao đó thì cuộc cách tân về mặt thể loại đáng được chú ý nhất: thơ, kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn Văn xuôi nói chung và
Trang 22tiểu thuyết nói riêng được nâng lên địa vị quan trọng bậc nhất trong đời sống văn học và nó phát triển rất mạnh Tiểu thuyết đã có những đổi mới theo hướng hiện đại hoá từ nội dung đến hình thức một cách rõ rệt Mỗi một giai đoạn văn học là một bước tiến mới của thể loại Riêng về lĩnh vực nông thôn, tiểu thuyết đã kịp thời ghi lại bộ mặt xã hội trong từng thời kì Mỗi một giai đoạn, bức tranh nông thôn hiện lên có nét riêng không giống nhau bởi một lí
do rất đơn giản là ứng với mỗi giai đoạn đó là một hoàn cảnh lịch sử - xã hội hoàn toàn khác nhau, quan điểm sáng tác của nhà văn và thị hiếu thẩm mỹ của bạn đọc cũng tương ứng với mỗi một thời kì Một nhà tiểu thuyết đích thực là người sáng tạo ra cho mình một vùng đất riêng biệt, độc đáo Từ những năm hai mươi của thế kỉ XX đã xuất hiện những cuốn tiểu thuyết hiện đại viết về nông thôn Nhà văn Hoàng Minh Tường cho rằng: “Nếu chỉ bàn về văn học Việt Nam từ khi có chữ quốc ngữ thì đoản thiên tiểu thuyết - thành tựu đầu
tiên có lẽ không ngoài Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn viết về cảnh
khốn cùng của nông thôn, ở những năm đầu tiên thế kỉ XX [87, 62] Tác phẩm này mở đầu cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Sau Phạm Duy Tốn có thể kể đến Hồ Biểu Chánh, nhà tiểu thuyết đáng chú ý của thời kì này Tiểu thuyết của ông ghi lại được một số nét khá điển hình của người dân Nam Bộ Tác phẩm của ông có sự kết hợp giữa cổ điển với hiện đại, có sự ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây nhưng vẫn đậm không khí và cảnh sắc phương Nam Đó là những tác giả mở đầu cho nền tiểu thuyết hiện đại, trong thực tế thì phải đến những năm ba mươi của thế kỉ XX mới thực sự là giai đoạn sung sức của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Từ những năm ba mươi, xã hội Việt Nam bắt đầu xuất hiện một tầng lớp trí thức tiểu tư sản Đến đây thì thành thị và nông thôn bắt đầu phân hoá
rõ Đời sống xã hội có nhiều biến cố, một sự cách tân văn học diễn ra mạnh
và tiểu thuyết trở thành dòng chủ lưu trong phản ánh đời sống xã hội nhiều phức tạp Thời kì này văn học ý thức cao hơn về trách nhiệm của người cầm
Trang 23bút, các nhà văn đã dần xác lập quan điểm nghệ thuật, khuynh hướng thẩm mĩ của mình Nhà văn Vũ Trọng Phụng từng nói: “Các anh muốn tiểu thuyết hãy
cứ là tiểu thuyết còn với tôi tiểu thuyết là sự thực ở đời” Nhà văn Nam Cao là người có những quan điểm sáng tác và tuyên ngôn nghệ thuật có thể nói là mới mẻ và giàu tính nhân văn nhất Sự khác nhau trong tư tưởng và quan điểm sáng tác dẫn đến sự phân hoá thành nhiều hướng trong nội bộ nền văn học Văn học 1932 - 1945 phân ra ba dòng văn học: Văn học lãng mạn, văn học hiện thực phê phán, văn học cách mạng Riêng tiểu thuyết viết về nông thôn được phản ánh trong văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán là chủ yếu Tuy có sự tách bạch của lãng mạn và hiện thực vì đó là hai khuynh hướng thẩm mĩ khác nhau nhưng đó không phải là sự đối lập dứt khoát mà nhiều lúc chúng chỉ là hai phương diện khác nhau của một tâm hồn nghệ sĩ Trong thực tế văn học 1932 - 1945, hai dòng văn học này đan xen nhau và khi cùng viết về đề tài nông thôn thì đều phát hiện ra và thể hiện cuộc sống cơ cực, ngột ngạt của làng quê dưới ách thống trị của chế độ thuộc địa nửa phong kiến và số phận của người nông dân trong chế độ đó
1.3.1.1 Tiểu thuyết lãng mạn giai đoạn này là mảnh đất gần như chỉ
dành riêng cho nhóm Tự lực văn đoàn Đây là những nhà văn mà PGS.TS Đinh Trí Dũng gọi là: “Những kẻ ngây thơ và đầy tham vọng” [10, 13] Nông thôn trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng khá phong phú, trong những trang viết của họ thành thị với lối sống mới vẫn được xem là đề tài trung tâm Cái văn minh Âu hoá cặn bã mà thực dân Pháp muốn xâm thực Việt Nam đã không đạt được như ý muốn nhưng phần nào đã ảnh hưởng tới tầng lớp trí thức tiểu tư sản Mặt làm được của Tự lực văn đoàn là về mặt văn hoá, họ đã
có tham vọng chính đáng là phát triển văn hoá dân tộc theo hướng hiện đại, lấy phương Tây làm nguyên mẫu Trước thời kì Mặt trận dân chủ, các nhà Tự lực văn đoàn rất ít viết về nông thôn, nếu có thì họ cũng như các nhà văn lãng mạn khác, coi thường hoặc khinh khi, giễu cợt những người dân nhà quê Đến
Trang 24thời kì Mặt trận dân chủ với vấn đề cải thiện đời sống nhân dân trở thành vấn
đề thời sự cấp bách thì Tự lực văn đoàn đã đưa những trang viết về nông thôn
vào tác phẩm của mình Trong tuần báo Ngày nay có thêm mục “Bùn lầy
nước đọng” ra sức cổ động tuyên truyền cho “Hội ánh sáng”, viết những bài
xã luận về nông thôn và nông dân Họ viết những cuốn tiểu thuyết bộc lộ khá
rõ quan điểm của mình đối với vấn đề nông dân và hiện thực nông thôn Ở
những tác phẩm này, chủ nghĩa cải lương tư sản bộc lộ rõ nét: Hai vẻ đẹp (Nhất Linh), Gia đình (Khái Hưng), Con đường sáng (Hoàng Đạo) Có nhà
văn về nông thôn, viết về nông thôn, sống với nông dân không phải là sự chạy trốn như nhân vật Duy đi tìm một sự bình tĩnh cho tâm hồn mình hay nhân vật
Doãn trong Hai vẻ đẹp đi tìm chỗ dựa vững chắc cho nghệ thuật của mình mà
xuất phát từ sự yêu thương người nông dân, đơn thuần đó là tinh thần nhập cuộc Tinh thần nhập cuộc đó chúng ta sẽ tìm thấy rất nhiều trong lớp nhà văn thế hệ sau này Những cuốn tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn nhằm vạch ra
“con đường sáng” cho người trí thức giàu có đi về nông thôn kinh doanh đồn điền theo lối “văn minh” để một mặt hưởng cái cảnh sắc thi vị của thôn quê, mặt khác thi hành những biện pháp “làm giảm bớt đau khổ” cho tá điền: giảm thuế, mở chợ, mở trường học, bỏ hủ tục Như vậy họ muốn đưa một giải pháp cho vấn đề xã hội cơ bản được đặt ra lúc bấy giờ là cải thiện đời sống cho nhân dân Dường như các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đang băn khoăn về cuộc sông tối tăm cực khổ của nông dân Họ thấy nông dân bị bóc lột, bị hà hiếp, đói rách, thất học và “đem những người sống trong thảm kịch
kia đến những cuộc đời êm đẹp” (Con đường sáng) Trong Mái nhà tranh,
Thu cảm thấy “họ cơ cực mới có tiền để xa xỉ”, đó là một sự bất công Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, trước cảnh nông dân bị đè nặng bởi hai tầng áp bức đến tàn tệ thì những tư tưởng của Tự lực văn đoàn về người nông dân là tiến bộ Họ đã đặt vấn đề cải cách mong đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho nông dân Đưa nông thôn vào văn học và đề ra những giải pháp
Trang 25để cải thiện cuộc sống, chính là tư tưởng tiến bộ của những nhà văn mang trong mình dòng máu của giai cấp tư sản Trong những trí thức văn nghệ sĩ Tây học của Tự lực văn đoàn nổi lên sự độc đáo của nhà văn Trần Tiêu vì ông sống gắn bó với nhà quê và tự đảm nhận việc miêu tả trực tiếp và tỉ mỉ đời sống nông thôn Tiêu biểu cho những tác phẩm của ông về nông thôn là tiểu
thuyết Con trâu (đăng trên báo Ngày nay từ số 140 ra ngày 10/12/1938, sau
đó in thành sách của Nxb Đời nay năm 1940) Tác phẩm kể về cuộc đời vất
vả của người nông dân (bác Chính) với mơ ước khá đơn giản nhưng khó thực hiện được: đủ ăn đủ mặc Trần Tiêu đã đi thẳng vào thực tế đời sống với tất cả các góc cạnh của nó, với tâm thế của người con nơi làng quê, những hủ tục và
lề thói bảo thủ, gò bó chân tay của người dân quê được phản ánh sắc nét Không những thế, tác phẩm còn thể hiện những truyền thống tốt đẹp của làng quê Cổ Am nói riêng cũng như của xã hội Việt Nam nói chung bao đời nay đó là: trai thì học hành và đánh giặc; gái thì canh cửi và đảm đương việc gia đình, tất cả tạo nên môi trường sống màu nhiệm và tròn trịa Trần Tiêu với
tiểu thuyết Con trâu đã làm nên sự khác biệt với chất lý tưởng của Hoàng Đạo trong Con đường sáng, chất thơ mộng của Thạch Lam trong các truyện
ngắn Nhà văn Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Nếu muốn tìm những việc oái oăm,
những cơ mưu lắt léo trong Con trâu người ta sẽ không bao giờ thấy cả Ở
tập truyện này chỉ diễn ra rặt những việc bất thường trong luỹ tre xanh, những việc hàng ngày của dân quê Việt Nam” Còn nhà văn Kim Lân cho rằng: “Tác giả này khai thác những nét bình dị, chân thật của nông thôn,
không thi vị hoá, cũng không nặng về trần tục Tôi rất thích tác phẩm Con
trâu của Trần Tiêu Con trâu là đầu cơ nghiệp Xoay quanh chuyện con trâu
thực chất là chuyện con người”
Tuy nhiên chủ trương “cải cách xã hội trong phạm vi pháp luật” của nhóm Tự lực văn đoàn là ảo tưởng Bởi vấn đề nông dân trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam những năm 1932 - 1945 gắn liền với vấn đề dân
Trang 26tộc Dân tộc có độc lập thì dân cày mới có ruộng Tư tưởng “Con đường
sáng” của Tự lực văn đoàn phải cần cả một quá trình lâu dài, chứ không phải
là lối cải lương ngày một ngày hai Chẳng qua là tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chỉ thay thế những tên địa chủ phong kiến bằng những tên địa chủ tư sản hoá Tính chất cải lương của Tự lực văn đoàn thời kì này ở khía cạnh nào đó là phản động vì họ đề cao địa chủ, khuyên nông dân an phận, biến địa chủ - kẻ thù của nông dân thành ân nhân, thủ tiêu đấu tranh giai cấp, mặc dù chúng ta
không khước từ tư tưởng dân tộc kín đáo thể hiện trong tiểu thuyết Người
quay tơ (Nhất Linh) Trong khi Đảng ra sức kêu gọi thức tỉnh tinh thần giai
cấp công - nông để đưa họ vào cuộc đấu tranh dành tự do cơm áo thì thông qua việc tưởng tượng của các cô, cậu điền chủ vừa đẹp người vừa tốt bụng hiện lên như những nàng tiên, ông bụt cứu vớt dân cày, những tác phẩm ấy
lại kêu gọi nông dân đoàn kết với địa chủ và dựa vào địa chủ để “giải phóng”
mình ra khỏi “bùn lầy nước đọng”
Không những thế ở nhiều trang viết, nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực
văn đoàn còn miệt thị nông dân Trong Đoạn tuyệt, Dũng cho rằng nông dân
chỉ quen với cảnh khổ, cuộc sống tối tăm “không hề khao khát một cuộc đời sáng sủa hơn, mong ước một ngày mai tươi đẹp hơn ngày hôm qua”, đã có lúc Dũng nghĩ “dân là nước Yêu nước chính là yêu chung đám thường dân, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân” Tất nhiên là với thái độ của kẻ đứng trên nghiêng mình xuống để “hoà với đám dân không tên không tuổi”! Doãn
trong Hai vẻ đẹp cho rằng “xã hội dân quê bao giờ cũng nghèo xơ xác như
bây giờ…không có chút hi vọng gì về một sự thay đổi hoàn toàn và kịch liệt như một trận gió nổi lên thổi sạch hết bụi cát, rơm rác, Đó là một thái độ coi thường lẫn khinh khi, giễu cợt Ngoài ra các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn tỏ thái độ ban ơn, cái ơn của kẻ bề trên đối với kẻ dưới, thấp cổ bé họng Lòng thương hại đó không đi xa hơn chủ nghĩa cá nhân và nó cứ luẩn quẩn trong vòng cái “tôi” nhỏ bé Có thể nói rằng, vấn đề nông thôn và người nông
Trang 27dân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cần phải nhìn nhận lại và đặt nó ở nhiều góc độ trong nghiên cứu, nhưng ở đây ta chỉ thấy rằng đó là cái nhìn phiến diện và lệch lạc nghiêm trọng Do họ đứng trên lập trường của giai cấp tư sản nên còn nhiều hạn chế khi khai thác đề tài nông thôn Sự ảnh hưởng của văn học vô sản thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng trong nước sẽ dẫn tới sự ra đời của những trào lưu văn học mới tiến bộ hơn
1.3.1.2 Nông thôn trong tiểu thuyết hiện thực phê phán có thể nói là
sâu sắc hơn, phản ánh được bản chất của cuộc sống thôn quê với bao biến động dữ dội Mặc dù cũng thuộc ý thức hệ tư sản nhưng dòng văn học hiện thực phê phán có nhiều điểm tiến bộ Nó đã thoát ra khỏi quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” và đặt ra quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” Các nhà văn của dòng văn học này đã biết quan tâm đến đời sống xã hội và đặt ra những vấn đề nóng bỏng Đây là thời kì xã hội Việt Nam phân hoá mạnh mẽ,
có những mâu thuẫn gay gắt nhất và khu vực thực sự được quan tâm nhất, để lại dấu ấn đậm nhất chính là nông thôn Các nhà văn hiện thực nổi tiếng như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng đã để lại nhiều tác phẩm thực sự có giá trị về nông thôn Tập hợp lại đó là bức tranh tiêu biểu, sắc nét và hầu như bao quát được thực trạng của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đó là hình ảnh thực nhợt nhạt, ảm đạm sau luỹ tre xanh vốn dĩ đã yên bình bao thế kỉ Đây là nơi diễn ra bao thảm cảnh, nhiều “bước đường cùng” Đó là một nông thôn với nhiều hủ tục hà khắc
nhiêu khê và thật ngột ngạt Ngô Tất Tố trong Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan trong Bước đường cùng đã trình bày những mâu thuẫn đối kháng giữa nông
dân với bọn địa chủ, quan lại và miêu tả cái cuộc đấu tranh giai cấp tự phát của họ Ngòi bút Nguyễn Công Hoan tỏ ra sắc sảo khi tố cáo bọn nhà giàu ở thôn quê tham lam vô độ, những bọn hào lí kì mục sâu mọt, hống hách, ăn bẩn; những bọn quan lại coi việc đục khoét là hành động khôn ngoan “bất độc
bất anh hùng” được thể hiện sinh động trong Tranh tối tranh sáng, Hỗn canh
Trang 28hỗn cư Nhưng đến Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng thì những cuộc đấu tranh của
nông dân đã đi vào tổ chức Với trào lưu văn học hiện thực phê phán thì ba
tác phẩm tiêu biểu Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), Vỡ đê (Vũ Trọng Phụng) đã đưa nông thôn và hiện thực nông thôn vào
văn học với tư cách là vấn đề chính Sở dĩ văn học hiện thực phê phán lúc này phát triển mạnh mẽ bởi nó có những điều kiện từ trong đời sống chính trị
- xã hội Bản chất xấu xa của chủ nghĩa tư bản bị bóc trần, cuộc sống đau khổ
bi đát đẩy nhân dân lao động đến sự tự giác trong đấu tranh quyết liệt Người trí thức tiểu tư sản cảm thấy thấm thía hoàn cảnh xã hội chà đạp lên nhân phẩm, lương tri của con người Họ cảm thấy cái cách “cải lương”, cách chống đối lại xã hội của văn học lãng mạn là không thích hợp nữa mà cần có một thứ văn chương sắc lạnh hơn, hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy đấu tranh của quần chúng lao động chống lại bọn bóc lột Để làm được nhiệm vụ phản ánh thực tế phong phú của thời đại và tham gia vào cuộc đấu tranh chung, văn học hiện thực đã sử dụng một số thể loại có khả năng phản ánh cuộc sống sâu sắc
và rộng lớn, trong đó tiểu thuyết là thể loại được ưu tiên và trở thành tiêu biểu nhất cho thời kì này Tiêu biểu nhất vì nó chiếm số lượng lớn, đồng thời dung lượng phản ánh cuộc sống cũng rộng hơn so với các thể loại khác Đi sâu vào
đề tài nông thôn, các nhà văn đã bóc trần bộ mặt của xã hội thực dân nửa phong kiến Vấn đề mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ được đặt lên hàng đầu, họ thấy được bức tranh đối lập hai gam màu sáng tối, thấy được cuộc đời tủi nhục của người nông dân “bị tước mất cơm áo và sau đó bị tước mất nhân phẩm” (C.Mác) Nông dân, nông thôn là nạn nhân của xã hội đầy rẫy những bất công tàn bạo Một loạt tiểu thuyết ra đời của các nhà văn tiến bộ đã phản ánh rõ nét đời sống nông thôn và số phận người nông dân Một nông thôn oi nồng ngột ngạt, bế tắc, ở đó diễn ra cảnh sưu cao thuế nặng, phải bán con, bán
chó trong tác phẩm Tắt đèn (Ngô Tất Tố) Theo Phan Cự Đệ: “Tắt đèn là một
bản tố khổ chân thật sâu sắc, chan hoà nước mắt và lòng căm phẫn của hàng
Trang 29triệu nông dân nghèo bị bóc lột” [14, 71] Và đây là ý kiến nhân xét của nhà văn cùng thời về tác phẩm Tắt đèn: “thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội, hoàn
toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là “kiệt tác, tùng lai chưa từng
thấy” (Vũ Trọng Phụng) Thành công lớn nhất của Ngô Tất Tố trong Tắt đèn
là đã xây dựng được một điển hình nông dân đẹp đẽ, sinh động Đảm đang, chung thuỷ, giàu lòng hi sinh, giàu tinh thần lạc quan, hiền lành yêu thương mọi người nhưng lúc cần có thể sống mái, quyết liệt với kẻ thù, đó là hình ảnh chân thật của người phụ nữ nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc Cùng với
các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng, tác phẩm Tắt đèn
của Ngô Tất Tố làm thành bộ ba bức tranh về tấn bi kịch lớn của nông thôn Việt Nam dưới ách thống trị thực dân phong kiến Măc dù Vũ Trọng Phụng
hết lời ca ngợi Tắt đèn là “kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy” nhưng có lẽ ông
là người đóng góp nhiều nhất cho thể loại tiểu thuyết trong những năm trước
1945 Nếu như Ngô Tất Tố dồn nhân vật vào không gian hẹp, phong bế, một thời gian ngắn ngủi, căng thẳng nhằm tạo ra một không khí ngột ngạt khiến nhân vật phải phản kháng quyết liệt thì Vũ Trọng Phụng lại tạo ra một không gian mở, một không gian rộng lớn bao quát từ thành thị đến nông thôn: từ cảnh Âu hoá ở khách sạn Bồng Lai đến cảnh vỡ đê lụt lội ở nông thôn Các nhà tiểu thuyết lúc này đã phát huy hết sức mạnh, dốc hết tài năng sinh lực để phản ánh những mặt đen tối ở nông thôn Có thể nói đời sống nông thôn và số phận người nông dân trong văn học hiện thực phê phán đã được nhìn một cách khác, tiến bộ hơn so với cách nhìn của văn học lãng mạn và nó đi sâu vào bản chất của đời sống hiện thực
Đọc tiểu thuyết Tắt đèn chúng ta bị ám ảnh bởi tiếng thúc thuế dồn dập
của một làng quê xơ xác Làng quê vào mùa sưu thuế đã đẩy người nông dân vào cảnh cùng quẫn, chịu những sưu thuế bất công Hình ảnh chị Dậu hiện lên trong tác phẩm là nạn nhân đau khổ của bọn cường hào, bọn quan lại tham nhũng, dâm ô, những chính sách thuế khoá hà khắc của chế độ thuộc địa nửa
Trang 30phong kiến Cảnh chị Dậu chạy ra trong đêm tối đen như tiền đồ của chị có một sức tố cáo mạnh mẽ cái xã hội đã dồn ép người nông dân vào cuộc sống
bế tắc Vũ Trọng Phụng lại khác, ông chủ trương về một loại “văn học xã hội ngày nay” và ông tìm thấy ở thể loại phóng sự, tiểu thuyết “một thứ hình thể của văn chiến đấu mà lại công hiệu nhất” Trong tám tiểu thuyết mà ông để
lại, chúng ta thấy có hai cuốn nổi lên vấn đề nông thôn là Vỡ đê và Giông tố, đặc biệt là Vỡ đê Trong Vỡ đê nạn nhân của chế độ cũ không phải chỉ một vài
người lẻ tẻ mà cả hàng loạt người bị bần cùng hoá Họ phải bỏ làng ra đi kiếm
ăn với những manh chiếu rách, những khăn nải sau lưng, cảnh “người gánh hai cái thúng trong mỗi thúng có một vài đứa bé, trong mỗi đứa bé có vài ba ngày đói khát”, hay cảnh những đứa bé trần truồng chửi nhau vì một quả sung xanh, vài ngọn rau Đó là những cảnh xảy ra hàng ngày ở nông thôn, nhưng
chưa bao giờ được phản ánh đầy đủ, trung thành như trong Vỡ đê Tư tưởng
“vị nhân sinh” mà nhà văn Vũ Trọng Phụng muốn nói chính là xuất phát từ lợi ích của người nghèo khổ, của quảng đại quần chúng nhân dân Đến Nam Cao thì chủ nghĩa hiện thực phê phán đã được tư tưởng hoá trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Sáng tác của nhà văn đã có sự phân chia ranh giới giữa hai đề tài: đề tài về trí thức tiểu tư sản và đề tài về người nông dân Ông
là nhà văn rất có ý thức về nghề nghiệp và trách nhiệm của người cầm bút Nam Cao luôn tự đề ra cho mình những nguyên tắc sáng tác, những yêu cầu
về nghệ thuật “văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” Những nhà văn hiện thực phê phán: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Hồ Biểu Chánh, Nam Cao,… đã đi sâu vào mọi ngõ ngách của hiện thực, mỗi sáng tác của họ là một nét chấm phá để hoàn thiện bức tranh đời sống của người nông dân và cả những giá trị văn hoá, tinh thần của mảnh đất nông thôn Việt Nam Các nhà văn còn phản ánh được mâu thuẫn đang diễn ra gay gắt trong xã hội, lật tẩy bộ mặt thống trị, chỉ cho người nông dân thấy rõ kẻ thù
Trang 31của mình và gieo vào lòng người một tinh thần phản kháng mạnh mẽ, đồng thời phát huy được vẻ đẹp của người nông dân, yêu thương họ như những người cùng cảnh Đó là điều mà các nhóm Tự lực văn đoàn chưa làm được
Bên cạnh những đóng góp không thể phủ nhận thì ở mảng đề tài về nông thôn và người nông dân, dòng văn học hiện thực phê phán còn có những mặt hạn chế Các nhà văn mới chỉ dừng lại ở đồng cảm, thương yêu, đồng tình, bênh vực và tố cáo, phê phán chứ chưa tìm ra cách đem lại no ấm, hạnh phúc cho người nông dân Chỉ rõ hận thù nhưng không tìm được con đường đấu tranh đúng đắn để rồi nhân vật của họ vẫn rơi vào bế tắc hoặc là tìm đến cái chết, hoặc cam chịu cuộc sống nô lệ Nông thôn trong con mắt của các nhà văn hiện thực lúc bấy giờ chỉ là bức tranh xám xịt, đen tối Người nông dân chỉ là nạn nhân đau khổ, bất lực, chứ chưa phải là lực lượng có khả năng giải phóng mình, nếu có thì cũng chỉ là mờ nhạt Nông thôn đến đây hầu như bế tắc và bi quan Sự bế tắc và bi quan đó của dòng văn học này một phần nằm ở thời đại và về mặt giai cấp Vai trò của nhà văn vẫn ở vị trí là người quan sát chứ chưa thực sự nhập cuộc, lập trường tư tưởng vẫn thuộc về giai cấp tiểu tư sản, một giai cấp chưa ổn định, còn bấp bênh, giao động Văn học trước Cách mạng tháng Tám nói chung và tiểu thuyết trước cách mạng nói riêng xét ở mặt nào đó còn phiến diện Có thể do văn học chưa có ngọn đuốc chỉ đường,
sự đa dạng về phong cách và nội dung của những tác phẩm trong giai đoạn này một phần nằm ở ý thức sáng tạo biệt lập của riêng từng nhà văn và với lập trường riêng của giai cấp mình Theo chúng tôi, nhà văn không chỉ là “thư kí trung thành của thời đại” một cách máy móc mà còn phải là nhà tư tưởng cải tạo xã hội Mặc dù Đảng cộng sản Việt Nam ra đời từ năm 1930 và đã có một dòng văn học cách mạng song song tồn tại, nhưng mãi sau Cách mạng tháng Tám thì ánh sáng của Đảng mới thức tỉnh triệu triệu con người Việt Nam Văn học lúc này đã tiên phong trong việc phản ánh những đổi thay sau cách mạng mà đề tài nông thôn và người nông dân là mảnh đất màu mỡ nhất
Trang 32vị và sinh mệnh chính trị của họ khác rất nhiều so với thời kì trước Nhưng trong quá trình xây dựng nông thôn mới vẫn còn những vấn đề xã hội, những mặt tiêu cực cản trở bước phát triển và gây ra nhiều nhức nhối Trong sự nghiệp chung của cách mạng, văn học là một bộ phận, là hoạt động tinh thần phong phú và hiệu quả đối với cuộc đấu tranh và phát triển xã hội Đóng vai trò lớn lao nhất của hoạt động tinh thần ở đây không ai khác chính là những thế hệ nhà văn Việt Nam, trong đó có hai bộ phận: lớp nhà văn trưởng thành
và “lột xác” cùng với cách mạng và lớp nhà văn mới mang sự sống và hơi thở của thời đại Họ cùng “nhận đường”, tự nguyện đứng vào hàng ngũ vừa cầm bút vừa sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà kháng chiến cần đến Họ sống hoà nhập với công nông binh và sáng tác theo định hướng văn nghệ của Đảng như
lời Hồ Chủ Tịch đã khẳng định: “Văn hoá nghệ thuật là một mặt trận, anh chị
em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” Tinh thần chiến sĩ và danh hiệu nhà văn -
chiến sĩ được đề cao như phẩm chất người nghệ sĩ Nhưng chúng ta cũng tự đặt ra câu hỏi tại sao các tác giả viết tiểu thuyết nói chung viết về nông thôn nói riêng trước và sau 1945 rất thành công như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,… lại lúng túng trước thời kì quá độ (quá độ ở đây là quá độ trong văn học, trong phương pháp sáng tác) Họ “như cái cây mới đánh lên để trồng lại
ra chỗ khác, rễ chưa ăn với đất mới” Thời đại mới yêu cầu văn học phải đổi mới (trong đó có thế hệ nhà văn trước cách mạng), để kịp thời phản ánh những vấn đề mới mà cuộc sống đặt ra Lịch sử của dân tộc đặt trong bối
Trang 33cảnh với nhiều biến cố lớn: phải đương đầu với hai cuộc kháng chiến của dân tộc đó là chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Những biến cố lớn đó là “lửa thử vàng gian nan thử sức” đối với con người Việt Nam nhưng đó cũng chính là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng văn học, trong đó có thể loại tiểu thuyết Thực tế là lịch sử dân tộc từ 1945 - 1975 đã để lại những giá trị cho văn học mà ở đây thể loại tiểu thuyết phát triển nở rộ với những thành công lớn với những biểu hiện cụ thể sau
1.3.2.1 Nông thôn trong tiểu thuyết 1945 - 1954
Nhìn bao quát, ranh giới giữa văn xuôi trực tiếp viết về nông thôn với văn xuôi nói chung trong kháng chiến chống Pháp không có sự phân biệt rõ ràng lắm, nó hoà quyện vào nhau và làm thành trào lưu văn học xã hội chủ nghĩa Đề tài nông thôn nằm trong đề tài kháng chiến, đó là đề tài lớn của nền văn học trẻ tuổi Trong văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng thì cuộc sống mới, con người mới là vấn đề trung tâm mà các nhà văn hướng tới Những tấm gương yêu nước đánh giặc của tập thể hoặc của cá nhân được đề cao Bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi lớn lao Nông thôn, một hậu phương bao la với những làng quê bình dị, thân thuộc đã chứa đựng biết bao tiềm lực đảm bảo cho cuộc kháng chiến lâu dài đi đến thắng lợi Những bà mẹ hậu phương hết lòng thương yêu chăm sóc bộ đội, những chị phụ nữ hi sinh cuộc sống gia đình, vượt qua khó khăn để trọn việc nước việc dân Những lớp thanh niên nô nức lên đường cầm súng giết giặc, những đoàn dân công ngày
đêm vận chuyển lương thực ra chiến trường, tiêu biểu là Thư nhà (Hồ Phương), Làng (Kim Lân), Đánh trận giặc lúa (Bùi Hiển), Con trâu (Nguyễn
Văn Bổng) Văn học nói chung lúc này đã nhận thức rõ về nông thôn với ý nghĩa lớn lao - đó là cuộc chiến tranh nhân dân ở vùng địch hậu
Trong những sáng tác về nông thôn kháng chiến kể trên, tiểu thuyết
Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) là tác phẩm tiêu biểu cho nông thôn trong
Trang 34kháng chiến Đây là tiểu thuyết đạt Giải thưởng Văn học 1954 - 1955 Cái mới của tác phẩm không phải ở đề tài vì văn học trước cách mạng đã có Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao Sau cách mạng, đặc biệt sau 1950, sáng tác về nông thôn rất nhiều Chính hiện thực đấu tranh cách mạng là mảnh đất cho ra đời những tác phẩm văn học tiêu biểu Nhưng không phải bất
cứ hiện thực nào cũng là miếng đất thuận lợi của tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi nói chung Các thể loại văn xuôi đặc biệt phát triển trong những thời kì lịch sử mà xã hội và tính cách con người có nhiều chuyển biến dữ dội và với
tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm” Tác phẩm Con trâu của Nguyễn Văn
Bổng ra đời trong thời kì lịch sử như thế Cái mới của tác phẩm là một vấn đề
cụ thể, vấn đề con trâu để mở ra một loạt vấn đề khác có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với việc thể hiện đời sống người nông dân mà còn có ý nghĩa đối với việc thể hiện hình ảnh một cuộc kháng chiến toàn dân, trong đó nông dân là đội quân chủ lực Trong tiểu thuyết này, con trâu đã trở thành một
“chiến trường” giữa ta và địch Giặc Pháp chủ trương phá hoại sản xuất, phá hoại mùa màng để ta không có khả năng trường kì kháng chiến Chương trình của chúng gồm bốn điểm: đốt phá kho thóc, giết trâu bò, phá các đập nước và công trình thuỷ lợi, chặn các đường tiếp tế lương thực cho du kích, cho vùng
tự do Giặc Pháp ra lệnh cho lính ngụy đi càn là cứ giết một trâu bằng giết ba nông dân Riêng trong xã Hồng Phong, chúng vừa giết vừa bắt hơn ba trăm con Có trận bao vây lớn chúng vừa bắn vừa cướp mất hơn một trăm con Chúng biết rất rõ con trâu là tài sản, là vận mệnh, là một phần cuộc đời của người nông dân trong những năm kháng chiến gian khổ Vấn đề “con trâu” được đặt ra không chỉ vì “con trâu là đầu cơ nghiệp”, vì đời sống cơm áo của
một gia đình riêng lẻ mà là vì sự sống còn của cả dân tộc, của đất nước Bảo
vệ trâu là bảo vệ sản xuất, nuôi dưỡng sức dân, chiến đấu lâu dài cũng là khâu thử thách quyết tâm bám địch giữ làng của người nông dân vùng địch hậu trong cuộc kháng chiến trường kì toàn diện Chuyện con trâu đưa đến chuyện
Trang 35tổ chức du kích, xây dựng làng kháng chiến vững mạnh Những gian truân vất
vả đối mặt với kẻ thù của những con người như ông Đẩu, ông Hoạch, Hương Trà, được miêu tả trong tác phẩm đã mang lại ý nghĩa sâu sắc và tạo được không khí riêng cho tác phẩm Nguyễn Văn Bổng rất am hiểu tâm lý người nông dân, đặc biệt nhất là những đoạn miêu tả tình cảm của người nông dân đối với con trâu Người nông dân xem trâu như một người bạn lao động đã cùng mình một nắng hai sương và ngược lại, con trâu đối với người nông dân cũng đã có sự cảm thông, vui buồn có nhau “như người trong nhà” Những trang viết của nhà văn đã hoà tan, đã thẩm thấu cái cao cả, cái lý tưởng của dân tộc vào trong mỗi người nông dân Với “phong cách hiện thực tỉnh táo” [14, 610], Nguyễn Văn Bổng muốn người đọc tiếp xúc với bộ mặt thật của chiến tranh để từ đó xây dựng những nhân vật nông dân điển hình trong hoàn cảnh điển hình - một sự tiếp xúc trực tiếp với giá trị của văn học sử thi
Cách mạng tháng Tám đã làm thay đổi cách nhìn của nhà văn về nông thôn và người nông dân Những con người “chân lấm tay bùn”, “chân đất mắt toét” không phải xa lạ, “yếm thế” mà chính là những điển hình mới của lịch
sử và của văn học Tiểu thuyết trong những năm 1945 - 1954 chưa có nhiều điều kiện để phát triển do hoàn cảnh hết sức khó khăn của cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp Điều làm cho tiểu thuyết giai đoạn này thành công là đã xây dựng được những biến cố trong tác phẩm gắn liền với những sự kiện trọng đại của lịch sử Nhân vật trong tiểu thuyết nói riêng và trong văn xuôi nói chung chưa được quan tâm nhiều đến tính cách và dù chưa có nhiều nhân vật điển hình đặc sắc nhưng “con người quần chúng với những nét phẩm chất
và tính cách chung của giai cấp, của dân tộc được coi là những đóng góp của văn xuôi giai đoạn này vào quá trình phát triển” [39, 61] Yêu cầu của hiện thực mới đặt ra đối với đội ngũ nhà văn là phải đổi mới quan niệm sáng tác, đổi mới cách nhìn, cách nghĩ về người nông dân trong giai đoạn lịch sử mà lực lượng công - nông - binh đang tiên phong nắm lá cờ cách mạng Việt Nam
Trang 36Nhà văn Nam Cao đã phát biểu về quan điểm sáng tác sau Cách mạng tháng Tám, và nó trở thành định hướng chung cho sáng tác lúc bấy giờ về sự cần thiết phải đổi mới trong sáng tác nói chung và cách nhìn về người nông dân nói riêng: “… cứ giữ con mắt ấy mà nhìn đời, nhìn người thì càng đi nhiêu càng quan sát lắm chúng ta sẽ càng chua chát và chán nản” Nông dân Việt Nam ngày nay luôn “chắc tay súng vững tay cày”, trong bất cứ hoàn cảnh nào thì phẩm chất của người anh hùng áo vải lại sống dậy trong họ cho dù đó là mặt trận chiến đấu hay mặt trận sản xuất, ở đâu ta cũng thấy hiện lên duy nhất
một mục đích: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
1.3.2.2 Nông thôn trong tiểu thuyết 1954 - 1975
Nông thôn Việt Nam trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội
1955 - 1964 nổi lên hai sự kiện quan trọng: Cải cách ruộng đất và phong trào Hợp tác hoá nông nghiệp Mặc dù đây là hai nhiệm vụ của Cách mạng dân tộc đặt ra trong giai đoạn lịch sử mới nhưng cũng là hai đề tài hấp dẫn của nhiều ngành nghệ thuật như âm nhạc, hội họa,… đặc biệt là văn học Với đường lối văn nghệ của Đảng, văn nghệ luôn bám chắc hai đề tài cơ bản cần hướng đến bằng những chuyến đi thực tế của văn nghệ sĩ Sau đợt “ba cùng” này với bà con nông dân, những tác phẩm viết về nông thôn đã ra đời, kịp thời phản ánh những chuyển biến ở nông thôn trong mọi mặt của đời sống mới Vấn đề Cải cách ruộng đất, đường lối cải cách của Đảng là đúng (đánh đổ giai cấp địa chủ
và thực hiện dân cày có ruộng), trong quá trình triển khai đã có những chủ trương, biện pháp chưa chính xác, vì vậy đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng Cuối thời kì cải cách, Đảng có thực hiện chính sách sửa sai, tình hình nông thôn do vậy cũng được cải thiện thêm một bước Viết về cải cách ruộng
đất có những cuốn tiểu thuyết: Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng), Truyện anh
Lục (Nguyễn Huy Tưởng), ngoài ra trong văn xuôi còn có Nông dân địa chủ
(Nguyễn Công Hoan), Ông lão hàng xóm (Kim Lân) Những tác phẩm về
Cải cách ruộng đất và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đem lại cho
Trang 37văn xuôi một không khí sôi nổi Những chuyến thâm nhập vào quần chúng nhân dân đã mang lại cho nhà văn một cái nhìn sâu sắc về bản chất con người nông dân, những biến tướng của những giá trị mà đặc biệt là cái nhìn trực
diện vào những được, mất mà cải cách ruộng đất mang lại cho nông thôn Ở
một phương diện nào đó, tiểu thuyết viết về cải cách ruộng đất đã tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân về chủ trương chính sách cụ thể của Đảng và nhà nước Sáng tác về đề tài Cải cách ruộng đất mặc dù có số lượng lớn nhưng chưa thực sự gây cho người đọc một sự thuyết phục mạnh mẽ Điều này có lí do của nó Một phần là do sự đè nén của những tư tưởng chính trị cục bộ, phiến diện bộc lộ trong đường lối lãnh đạo của một số cán bộ lúc bấy giờ tác động trực tiếp đến sáng tạo nghệ thuật của đa số văn nghệ sĩ Thứ nữa
là quan niệm giai cấp còn máy móc và triển khai thực hiện có những biện pháp cực đoan sai lầm, nên đã xảy ra một số hậu quả nghiêm trọng nhưng người cầm bút ở khía cạnh nào đó chưa dám nói thẳng, nói thật Chính vì những tác động đó đã làm cho tác phẩm viết về đề tài này nhân vật và hoàn cảnh được mô tả sơ lược Nhà văn có sự cảm thông với người nông dân, nhưng chưa đặt họ vào những hoàn cảnh cụ thể nên phần lớn các nhân vật và cảnh ngộ được miêu tả dường như đều có chung một khuôn giống nhau Thực trạng và hậu quả của công cuộc cải cách ruộng đất sẽ còn là đề tài nóng hổi cho những giai đoạn tiếp theo của tiến trình văn học (đặc biệt được nhìn nhận lại trong văn học sau 1975) Đến cuối thời kì, với đường lối văn nghệ của Đảng, văn học đã cho ra đời một số tiểu thuyết thành công Cuộc sống ở vùng công giáo trong cải cách ruộng đất với những âm mưu và hành động phá hoại điên cuồng của bọn phản động đã được nhà văn miêu tả qua những trang viết
còn nóng hổi hơi thở của một vùng quê với sự tinh tế và sắc sảo Xung đột
(1957) của Nguyễn Khải đã chỉ ra kẻ thù chính đang giấu mặt sau bọn thanh niên sùng tín, sẵn sàng tử vì đạo và một lớp người nhẹ dạ, cả tin: những tên linh mục phản động như cha Vinh, cha Thuyết đầy mưu mẹo và hiểm độc
Trang 38Sau thời kì Cải cách ruộng đất là thời kì đưa nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp Có thể nói đây là đề tài có thành tựu khá sớm và góp phần khá
rõ vào việc khẳng định những bước đi đúng hướng của tiểu thuyết trong sự chuyển biến của cách mạng Nhà văn lúc này cố gắng đi sâu phân tích những mâu thuẫn trong cuộc sống làm cho thấy rõ công cuộc hợp tác hoá là một cuộc vận động cách mạng lớn ở nông thôn Nó góp phần thay đổi tâm lý thời đại trong con người nông dân, lúc này là “niềm vui lòng ham thích được hoà mình với cộng đồng, được đứng trong tổ chức, đoàn thể bởi chỉ có ở đó con
người mới thấy mình có sức mạnh, có ý nghĩa” [68, 137] Nó đem lại những
thay đổi cơ bản trong suy nghĩ, tình cảm, mơ ước của con người Tác phẩm
Cái sân gạch của Đào Vũ, cho ta thấy mọi đổi thay trong quan hệ sản xuất ở
nông thôn đã làm lay chuyển dữ dội những đầu óc bảo thủ của người nông dân Mọi mơ ước, tính toán của con người giờ phải được điều chỉnh cho phù hợp với xu hướng chung của cả dân tộc Người nông dân đứng trước cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai con đường: làm ăn riêng lẻ (đồng nghĩa với chủ nghĩa
cá nhân) và làm ăn tập thể (đồng nghĩa với chủ nghĩa xã hội), từ đó xuất hiện
bệnh thành tích, bệnh “phong trào” Lão Am trong Cái sân gạch chưa chịu
vào hợp tác xã không phải chỉ do tư tưởng tư hữu, lối tính toán theo kiểu
“khôn sống vống chết” mà lão còn bị ràng buộc bởi những thói quen, tập quán lâu đời, lối làm ăn cò con, tư tưởng bảo thủ, lạc hậu của người sản xuất nhỏ, thói hống hách và tâm lý sĩ diện cá nhân của đầu óc gia trưởng phong kiến cũ, cộng với những tàn dư của còn sót lại từ những sai lầm của hồi Cải cách
ruộng đất Cái sân gạch phản ánh không khí nông thôn trong những ngày đầu
xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Tuy nhiên cuốn tiểu thuyết đầu tay của tác giả vào đầu mùa của phong trào này không tránh khỏi những chỗ yếu khá rõ trong chủ đề và nhân vật Chủ đề “vào ra” hợp tác xã được miêu tả một cách đơn giản, nhân vật lão Am được xây dựng sơ lược, tính cách phát triển một chiều đơn điệu Thực ra cuộc đấu tranh giữa “hai con đường” ở nông thôn vẫn
Trang 39diễn ra phức tạp sau khi hoàn thành hợp tác hoá Ngoài Cái sân gạch, Đào Vũ còn có tiểu thuyết Vụ lúa chiêm, tác phẩm cho thấy những thay đổi đáng phấn
khởi trong quan hệ sản xuất ở nông thôn thời kì các hợp tác xã chuyển từ bậc thấp lên bậc cao,… đặc biệt là sự xuất hiện của một thế hệ thanh niên mới đầy nhiệt tình cách mạng, say xưa tiếp thu cái mới trong khoa học kĩ thuật, nhiều hoài bão ước mơ, xứng đáng là những người chủ tương lai của nông thôn xã hội chủ nghĩa, ngoài ra ta còn nhận ra rất rõ “cuộc sông mới” được mở ra khiến bộ mặt nông thôn tươi mới hơn Cùng viết về nông thôn với cảm hứng
này cũng có Hạt mùa sau của Nguyễn Thị Ngọc Tú, Ao làng của Ngô Ngọc
Bội Qua những tác phẩm đó ta thấy hiện lên bộ mặt nông thôn với những đổi mới trong sinh hoạt tinh thần của người nông dân trên con đường làm ăn tập thể Ta cũng thấy rằng những sáng tác về nông thôn giai đoạn này đều hướng tới một chủ đề chung là “hai con đường” Trên thực tế, đây cũng là sự vận động tuyên truyền người nông dân đi vào con đường làm ăn hợp tác Bên cạnh đó, văn xuôi nói chung và tiểu thuyết thời kì này nói riêng còn phản ánh
sự bất cập, non yếu khi đối diện với thực tế nông thộn Hầu như các sáng tác giai đoạn này mới nêu được các sự kiện, các phong trào thuộc bề nổi ở nông thôn nhưng chưa đi sâu khai thác thực chất của đời sống vật chất và đời sống tâm lý của người nông dân Nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này đã tham gia giải quyết một số vấn đề mang tính xã hội Văn chương đóng vai trò đội quân tiên phong của Đảng, người cầm bút dần đánh mất những tác phẩm “máu thịt” của mình nên văn học giai đoạn này bên cạnh những thành công thì còn những hạn chế
Trong kháng chiến chống Mỹ (1964 - 1975) đã có nhiều thay đổi Với
lý tưởng thẩm mỹ bao trùm nhất, tiêu biểu nhất của giai đoạn này không gì khác phải là lý tưởng vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội Trong cuộc chiến không cân sức này thì nhiệm vụ cứu nước được đặt lên hàng đầu Tiểu thuyết nói riêng, văn xuôi nói chung chủ yếu mang âm hưởng sử thi M
Trang 40Gorki từng nhấn mạnh: “Thời đại anh hùng đòi hỏi một nền nghệ thuật anh hùng” Văn học giai đoạn này đã đi vào đời sống người nông dân chủ yếu để miêu tả, khắc hoạ, ca ngợi ý chí chiến đấu chống giặc Người nông dân “Chắc tay súng vững tay cày”, họ đi vào chiến trường, họ vừa sản xuất vừa chiến đấu, sản xuất nông nghiệp cũng nhằm “năm tấn thóc để góp phần đánh Mỹ” Nếu như sự phản kháng của người nông dân trước kia trong các tác phẩm văn học là “tự phát” thì ở thời đại “ra ngõ gặp anh hùng” này họ đã trở thành những con người tự nguyện, tự giác trong chiến đấu Trên cả hai miền Nam Bắc diễn ra hoàn cảnh vừa chiến đấu vừa sản xuất, “hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn” Nông thôn trong văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng cũng phản ánh không khí kháng chiến, đây là thời kì tiểu thuyết viết về nông
thôn gặt hái được nhiều thành công, cả về số lượng và chất lượng tác phẩm
Bão biển, Đất mặn (Chu Văn), Đất làng, Buổi sáng (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Cửa sông (Nguyễn Minh Châu), Chủ tịch huyện (Nguyễn Khải), Vùng quê yên tĩnh (Nguyễn Kiên) Những tác phẩm này đều lấy bối cảnh nông thôn
đang có phong trào cải tiến quản lý hợp tác xã và xây dựng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Nổi lên trên hết là cuộc đấu tranh với các thế lực phản động đội lốt tôn giáo phá hoại công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở nông thôn
trong Bão biển của Chu Văn, hoặc cuộc chiến giành đất cách mạng chia cho của những người nông dân với bọn chủ ấp, bọn Hội đồng xã trong tác phẩm Ở
xã Trung Nghĩa của Nguyễn Thi Điều chung nhất ở đây cho ta thấy các cuốn
tiểu thuyết về nông thôn lúc này là xây dựng bức tranh hậu phương đoàn kết, lành mạnh với khí thế thi đua sôi nổi và tinh thần chiến đấu đặt lên hàng đầu
Chủ đề con người mới là chủ đề chính của tiểu thuyết viết về nông thôn
lúc bấy giờ Đó là con người chủ nghĩa xã hội, con người sống và chiến đấu vì cộng đồng dân tộc, trong con người có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện
đại: đó là những “trai anh hùng, gái đảm đang” Trong con người mới đó, cái
phẩm chất cao quý nhất chính là thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng