Tuyển tập nghiên cứu phê bình của Tr-ơng Tửu bao gồm những tiểu luận, nghiên cứu, phê bình, chân dung tác giả hiện đại, những công trình nghiên cứu, tiểu luận chuyên sâu về văn học truyề
Trang 22 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối t-ợng nghiên cứu và phạm vi t- liệu khảo sát 12
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Ph-ơng pháp nghiên cứu 13
Ch-ơng 1 Tr-ơng Tửu với văn học dân gian
và văn học trung đại việt nam
1.1 Tr-ơng Tửu với văn học dân gian 14 1.2 Tr-ơng Tửu với văn học trung đại Việt Nam 21
1.2.1 Tr-ơng Tửu với Truyện Kiều của Nguyễn Du 22 1.2.2 Tr-ơng Tửu với sáng tác của Nguyễn Công Trứ 30
Ch-ơng 2 Tr-ơng tửu với văn học hiện đại việt nam
2.1 Tr-ơng Tửu với thơ Tản Đà 45 2.2 Tr-ơng Tửu với sáng tác của Song An Hoàng Ngọc Phách,
Khái H-ng, Nhất Linh 54
2.2.1 Với tác phẩm Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách 54
2.2.2 Với tác phẩm Nửa chừng xuân của Khái H-ng 58
2.2.3 Với tác phẩm Đoạn tuyệt của Nhất Linh 62 2.3 Tr-ơng Tửu với sáng tác của Thế Lữ, Lan Khai, L-u Trọng L- 66 2.3.1 Thế Lữ - một nghệ sĩ mở đầu lối tả cảnh kỳ thú 67 2.3.2 Lan Khai – nhà nghệ sĩ rừng rú và tiểu thuyết lịch sử 71 2.3.3 L-u Trọng L- với lối tả cảnh thần bí 77 2.4 Tr-ơng Tửu với nghệ thuật tả chân và sáng tác của Tam Lang 81
Trang 3Ch-ơng 3 Một số nét tiêu biểu trong phong cách
nghiên cứu- phê bình văn học của tr-ơng tửu
3.1 Ph-ơng pháp nghiên cứu khách quan, khoa học 88 3.2 Lối văn gân guốc, sắc sảo 96 3.3 “Cá tính độc đáo và bản lĩnh cứng cỏi…” 102
Trang 41.1 Tr-ơng Tửu - Nguyễn Bách Khoa (1913 – 1999) là một trong những nhà
lý luận phê bình văn học thuộc thế hệ tiền chiến Không chỉ là một nhà phê bình, Tr-ơng Tửu còn là một nhà văn, một giáo s- trên giảng đ-ờng đại học Bên cạnh những tác phẩm phê bình, ông còn viết cả tiểu thuyết nh-ng thành công nhất và
đ-ợc mọi ng-ời chú ý nhiều nhất vẫn là nghiên cứu phê bình văn học
1.2 Phê bình văn học có vai trò rất quan trọng trong việc “phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán
đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện t-ợng của đời sống mà tác phẩm nói tới Phê bình văn học đ-ợc coi nh- một hoạt động tác động trong đời sống văn học và quá trình văn học, nh- một loại sáng tác văn học, đồng thời còn đ-ợc coi nh- một bộ môn thuộc nghiên cứu văn học”(150 thuật ngữ văn học) Như vậy, nhờ có phê bình văn học mà ng-ời đọc có thể hiểu và nắm đ-ợc các tầng lớp
ý nghĩa, làm cho ng-ời đọc đến gần với tác phẩm hơn, đồng thời nó cũng góp phần làm nên đời sống và quá trình của văn học
1.3 Tuyển tập nghiên cứu phê bình của Tr-ơng Tửu bao gồm những tiểu luận, nghiên cứu, phê bình, chân dung tác giả hiện đại, những công trình nghiên cứu, tiểu luận chuyên sâu về văn học truyền thống của dân tộc cho thấy sự đóng góp của ông trong lĩnh vực nghiên cứu – phê bình văn học Từ đó, chúng ta thấy đ-ợc
vị trí, vai trò của ông trong lịch sử văn học góp phần khẳng định vị trí, vai trò của phê bình văn học đối với tiến trình của văn học Việt Nam hiện đại
1.4 Sự nghiệp nghiên cứu- phê bình của Tr-ơng Tửu kéo dài suốt từ tr-ớc tới sau Cách mạng tháng Tám Nh-ng theo chúng tôi, đóng góp rõ nét của Tr-ơng Tửu trong lĩnh vực này vẫn là giai đoạn tr-ớc 1945
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn Đóng góp của Tr-ơng Tửu trong lĩnh
vực nghiên cứu - phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX làm đề tài nghiên
cứu của mình
Trang 5văn ch-ơng khác, số phận những tác phẩm này cũng nh- tác giả của nó đã trải qua những thăng trầm Vì thế, vị trí của Tr-ơng Tửu trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc cũng có lúc đã chịu sự thử thách, phán xét, sàng lọc có phần nghiệt ngã của thời gian và d- luận
Để đi vào nghiên cứu và đánh giá những đóng góp của Tr-ơng Tửu trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, ta có thể chia quá trình nghiên cứu về Tr-ơng Tửu làm hai giai đoạn:
2.1 Tr-ớc Cách mạng tháng Tám
Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại, Đinh Gia Trinh trong công trình
nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều đã đánh giá về ph-ơng pháp phê bình văn học của Tr-ơng Tửu
2.2 Sau Cách mạng tháng Tám
Trên tạp chí Tiên phong các số 2,3 (1945) và số 6 (1946), Đặng Thai Mai d-ới bút danh Thanh Bình có bài, Phê bình tập sách T-ơng lai văn nghệ Việt Nam của
Tr-ơng Tửu Trong bài viết này, tác giả đã đ-a ra một nhận xét mang tính khái
quát: “Đáng tiếc là ông Trương Tửu chưa hề lĩnh hội vấn đề văn nghệ một cách
đầy đủ và đến nơi đến chốn để đem lại cho chúng ta một ch-ơng trình thiết thực Tập luận án của ông Tr-ơng Tửu thực quá mông lung về phần lý luận, và khi bàn
đến chương trình hành động lại có ý kiến quá tỉ mỉ, quá “máy móc” và sao nhãng hẳn những điểm rất cần thiết cho sự xây dựng một nền văn nghệ” [4, 7] Từ nhận xét chung đó, ông phản bác quan niệm của Tr-ơng Tửu về khái niệm Văn nghệ gồm văn sĩ và nghệ sĩ Ông cho rằng, “Trương Tửu không hề chỉ rõ những vấn đề cơ bản của văn nghệ…Nếu không chỉ rõ đặc tính của văn nghệ thì làm thế nào
mà chỉ định ph-ơng h-ớng cho sự cố gắng của nhà văn nghệ trong lĩnh vực văn học, trong lĩnh vực nghệ thuật”[4, 8] Do bài luận đầy những “lời phù phiếm, những công thức trống rỗng, không thiết gì với văn nghệ…Và người ta vẫn thấy
Trang 6nghĩa hai chữ “thực tại” Đồng thời ông cũng phê bình về “quyền tự do chính trị tối thiểu” của Trương Tửu Ông cho rằng, “Tự do- tự do cá nhân, tự do nghệ sĩ, tự
do tuyệt đối, hay lắm, đẹp lắm Nh-ng n-ớc nhà ch-a tự do thì nghệ sĩ tự do thế nào? Nói cho cùng, nếu nước nhà được độc lập, được “giải phóng hoàn toàn” và
có một chỉnh thể “dân chủ chân chính” thì nhà nghệ sĩ nào không được tự do? Một điều chắc chắn là chữ tự do nếu lại hiểu lầm thì là một điều nguy, nếu để cho một lũ đĩ bút mực lợi dụng để phản cách mạng thì lại càng nguy nữa”[5, 8] Tuy nhiên, viết bài này, Thanh Bình không chỉ nhằm phê bình “ráo riết” Trương Tửu ở phần lý luận và thực hành mà ông còn thể hiện những tình cảm tốt đẹp khi cảm đ-ợc tâm hồn, lòng nhiệt tình của Tr-ơng Tửu đối với “văn nghệ”, với “dân chúng”, với “tương lai văn hoá dân tộc” Dường như, Thanh Bình cảm được những cái “boăn khoăn”, “bất mãn” nhưng “không hề thất vọng” của Trương Tửu Bởi trong tâm hồn ông luôn mang một “nguyện vọng tốt đẹp” của một nhà văn hoá, đồng thời cũng là người tích cực tham gia “gây dựng nền văn hoá mới” Cuối cùng Thanh Bình cũng thành thực nhận ra: “Trong tâm hồn nhà lý luận Tr-ơng Tửu, một thi sĩ vẫn luôn luôn nhí nhóm và lắm lúc thể hiện những câu trữ tình khá lâm ly…ngòi bút ông Tr-ơng Tửu vẫn còn nhiều hứa hẹn với t-ơng lai…”[6, 19, 20]
Năm 1958, Phan Cự Đệ có bài viết: Thái độ và ph-ơng pháp giảng dạy của
Tr-ơng Tửu trên báo Độc lập Trong bài viết này, Phan Cự Đệ cho rằng: “Tr-ơng
Tửu luôn luôn tìm cách đả kích vào lãnh đạo, gây bè phái để chia rẽ hàng ngũ giáo sư, sinh viên” Tác giả còn viết: “Tr-ơng Tửu xuyên tạc văn hóa sử theo ph-ơng pháp suy luận duy tâm chủ quan để bênh vực cho lập tr-ờng văn nghệ phản động của mình”[14] Không chỉ vậy, ông còn cho rằng: “Trương Tửu là người hay nói bừa bãi, xuyên tạc trắng trợn, sợ phải chịu trách nhiệm trước “giấy trắng mực đen” nên không dám viết giáo trình cho sinh viên “Dụng ý của
Trang 7ghét ai thì chê, hoàn toàn theo ý muốn cá nhân của mình Về thái độ chính trị thì
đó là chủ nghĩa cơ hội, phản động, lợi dụng thời cơ để phất cờ, hôm nay nói thế này, mai nói thế khác một cách giáo giở”[14] Cuối cùng ông đi đến một kết luận khá gay gắt: “ Với một lập trường chính trị phản động, thù địch với tư tưởng xã hội chủ nghĩa, với những quan điểm văn nghệ t- sản lỗi thời, với một ph-ong pháp giảng dạy hoàn toàn duy tâm chủ quan, cơ hội, chúng ta có thể kết luận rằng: trong mấy năm qua, Tr-ơng Tửu đã tỏ ra không xứng đáng một tý nào với c-ơng vị giáo s- một truờng Đại học của chế độ ta, một chế độ tốt đẹp đang tiến lên xã hội chủ nghĩa”[14]
Năm 1958, Ngô Thế Hinh thể hiện thái độ gay gắt, quyết liệt xoay quanh vấn đề “Tự do của văn nghệ sĩ” của Trương Tửu Theo ông, Trương Tửu “núp” dưới lời nói của Lê Nin “Trong sự nghiệp văn học tuyệt đối phải bảo đảm phạm
vi thật rộng rãi cho sáng kiến cá nhân, cho sở thích cá nhân, đảm bảo phạm vi rộng rãi cho sức tưởng tượng, cho hình thức và cho nội dung” để “xuyên tạc, dẫn tới những luận điểm thật là phản động và sai lầm Tr-ơng Tửu thực hiện đúng khẩu hiệu “đầu Mác- xít, đít tư bản” khẩu hiệu mà bọn Đệ nhị quốc tế thực hiện rất đúng…Trương Tửu trắng trợn chống lại đường lối văn nghệ của Đảng, đường
lối phục vụ của chính phủ dân chủ cộng hoà”[24] Ông cho rằng vì muốn “tự do”
trong sáng tác nên “Trương Tửu khùng lên, giơ tay, trợn mắt, chống lại sự giáo dục, h-ớng dẫn của Đảng, của chủ nghĩa Mác- Lê nin đối với văn nghệ… Trương Tửu thốt ra những câu sặc mùi chủ quan, phản động, vô tổ chức, tôn thờ chủ nghĩa cá nhân đến cao độ… Tiến xa hơn nữa, Trương Tửu muốn ngoe ngách, giẫy giụa, vùng vằng hô hào văn nghệ sĩ thoát ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng”[24] Với những ý kiến nêu ra ở trên, kết thúc bài viết Ngô Thế Hinh đ-a ra lời đề nghị
“Lấy tư cách là một người công tác giáo dục, một người yêu mến văn nghệ, chúng tôi cực lực phản đối những luận điểm sai lầm của Tr-ơng Tửu Chúng tôi
Trang 8đề nghị Đảng, chính phủ và Bộ giáo dục có những biện pháp thích đáng đối với những luận điểm sai lầm của Trương Tửu”[24]
Năm 2004, Trịnh Bá Đĩnh viết Các hình thái t- duy phê bình đầu thế kỷ XX
đăng trên Tạp chí Hồn Việt, số 2 Trong bài viết này, Trịnh Bá Đĩnh nói về t- duy
phê bình khoa học của Trần Thanh Mại, Lê Thanh, Đào Duy Anh, nh-ng theo
ông, “tư duy phê bình khoa học đạt tới sự triệt để nhất phải là ở Nguyễn Bách Khoa Có thể gọi phê bình của Nguyễn Bách Khoa là “phê bình khoa học”[16, 192] Từ lời nhận xét mang tính khẳng định ấy, Trịnh Bá Đĩnh đã làm sáng tỏ vấn
đề trong một loạt tác phẩm: Nguyễn Du và Truyện Kiều, Tâm lý và t- t-ởng
Nguyễn Công Trứ, Văn ch-ơng Truyện Kiều ở mỗi tác phẩm ông đều chỉ ra
những thành tựu và những cái còn thiếu sót trong lối phê bình của Tr-ơng Tửu Tuy nhiên, “ở đây không phải chỗ để đánh giá các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bách Khoa, ở đây ta đề cập đến hình thức t- duy trong các văn bản khoa học Về ph-ơng diện ấy thì có thể nói rằng các tác phẩm của Nguyễn Bách Khoa
là các văn bản khoa học thực sự: xác định về khái niệm, suy đoán theo quy luật nhận thức và hệ thống chặt chẽ… Nghiên cứu có tính hệ thống là đặc điểm chính của phong cách Nguyễn Bách Khoa”[16, 201]
Đến năm 2005, trên báo Đời sống văn nghệ Đỗ Lai Thuý có bài: Nguyễn Du
và Truyên Kiều d-ới cái nhìn của Tr-ơng Tửu ở bài viết này, tác giả đã đi vào
phân tích các yếu tố góp phần làm nên thiên tài Nguyễn Du: huyết thống, quê quán và thời đại Hai yếu tố huyết thống và quê quán, “mặc dù góp phần quan trọng vào sự hình thành cá tính Nguyễn Du nh-ng vì là những yếu tố tĩnh, nên
nó chỉ thực sự có tác động mạnh mẽ vào những thời điểm động Thời đại Nguyễn
Du chính là một thời điểm động đó”[59] Các yếu tố này “không tác động đến nhà thơ ở các phần nổi của nó, mà là phần chìm, hay đúng hơn là cái phần chìm
đó kết tinh, ng-ng kêt thành cá tính Nguyễn Du Và nh- vậy, con ng-ời đích thực của Nguyễn Du, con ng-ời Nguyễn Du trong Nguyễn Du không phải chỉ là con ng-ời xã hội đã mang nặng tâm sự hoài Lê Mà đúng hơn là kẻ mang tâm bệnh”[59] Từ đó, tác giả đi vào một số bài thơ từ chữ Hán đến chữ Nôm, đặc biệt
Trang 9ở Truyện Kiều thể hiện rõ tính “ảo giác của trí tưởng tượng của Nguyễn Du” Kết thúc bài viết, Đỗ Lai Thuý đã khẳng định: “Phải nói rằng, phê bình Truyện Kiều nói riêng và phê bình văn học nói chung, đến Tr-ơng Tửu đã đặt đ-ợc một cột mốc mới Bởi lẽ, từ tâm sự đến cá tính là hành trình từ con ng-ời xã hội, bề mặt
đến con ng-ời tâm lý, bề sâu, từ con ng-ời hữu thức đến con ng-ời tiềm thức Với khái niệm- chìa khoá cá tính Nguyễn Du, một mặt nhà phê bình Tr-ơng Tửu
đã lý giải đ-ợc những động lực sáng tác, một thứ tâm lý học sáng tạo ở nhà thơ, mặt khác, phát hiện soi sáng một cách khoa học, khách quan những đặc sắc nghệ thuật ở Truyện Kiều”[59]
Năm 2007, trong lời giới thiệu cuốn sách Tr-ơng Tửu- tuyển tập nghiên cứu
phê bình, Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh đã bộc lộ sự tiếc nuối về một cây
bút đầy tài năng – Tr-ơng Tửu nh-ng đã vội “buông bút sau vụ án văn nghệ” ấy
ở bài viết này, Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh tập trung nói về phê bình khoa học của Trương Tửu “Chữ “khoa học” được Trương Tửu dùng với hai nghĩa: thứ nhất, sự “khách quan” trong phân tích đánh giá sự kiện, hiện tượng; thứ hai, khả năng vận dụng các lý thuyết của những bộ môn khoa học nh- tâm lý học, di truyền học, xã hội học…vào phê bình văn chương”[17] Để làm sáng tỏ vấn đề này, hai tác giả đã lần l-ợt đi vào từng tác phẩm cụ thể, từ văn học trung đại đến văn học đ-ơng đại Qua những bài viết đó, cho ta thấy những tri thức mà Tr-ơng Tửu sử dụng trong tác phẩm của mình đ-ợc tiếp thu từ nhiều lĩnh vực khác nhau của các nhà khoa học Ph-ơng Tây: Thuyết chủng tộc - địa lý của Taine, thuyết phân tâm học của Freud và học thuyết của Marx về phân chia giai cấp và văn học phản ánh xã hội “Nếu sau này chúng ta có ngành phê bình phân tâm học văn học thì các tác phẩm của Trương Tửu phải được xem là những viên gạch đầu tiên” Sau khi phân tích các tác phẩm, tác giả bài viết kết luận: “Xem đó thì thấy Tr-ơng Tửu đã có công trong việc chuyển từng đốm lửa phê bình Ph-ơng Tây khoa học và hiện đại, góp phần làm mới nền phê bình văn ch-ơng tr-ớc Cách mạng Tháng Tám”[17] Sau Cách mạng Trương Tửu vẫn theo tinh thần “khách quan” và “khoa học” ấy “Tất nhiên cái khởi đầu bao giờ cũng rơi vào sự đơn
Trang 10giản, máy móc, cực đoan; những thiếu sót, sai lầm, bất cập lắm khi lớn hơn sự
đầy đủ, đúng đắn và sự khả thủ gấp nhiều lần Đôi khi ý nghĩa của nó chỉ là ở sự
mở đ-ờng Phê bình của Tr-ơng Tửu cũng không ra ngoài thông lệ ấy”[17] Song mục đích của người tuyển chọn và giới thiệu bộ sách này nhằm “cung cấp tư liệu cho những người quan tâm đến lịch sử phê bình văn học nước nhà… tránh “hiện tượng” nào bị bỏ qua, không một nhà phê bình nào bị che khuất Một trong những cây bút phê bình khoa học đầu tiên có nhiều thành tựu (và cũng nhiều thô sơ) không thể bỏ qua trong lịch sử phê bình văn học n-ớc nhà, đó là Tr-ơng Tửu”[17]
Đáng chú ý nhất, năm 2008, nhân kỉ niệm 95 năm ngày sinh của Tr-ơng Tửu, một cuộc hội thảo về ông đ-ợc tổ chức tại Đại học S- phạm Hà Nội Trong dịp
đó đã có một loạt các bài viết về con ng-ời, sự nghiệp và con đ-ờng t- t-ởng của
ông đ-ợc đăng trên các trang báo của mạng:
Mở đầu bài viết Nguyễn Thị Bình đã thể hiện sự boăn khoăn của mình cũng như của cả thế hệ về Trương Tửu, bởi họ “không hiểu ông là ai giữa những lời kết
án nặng trịch trên giấy trắng mực đen và vô số câu chuyện đồn thổi vừa đầy niềm thán phục vừa không thiếu ngậm ngùi cay đắng”[7] Từ cuộc đời hoạt động của Trương Tửu, Nguyễn Thị Bình đã hình dung ra mấy hướng nghiên cứu (…) Trong các hướng nghiên cứu đó, bà khẳng định, nghiên cứu phê bình là “mảng chính làm nên tư cách “học giả Trương Tửu”… Là người “tôn thờ khoa học”, ông coi trọng ph-ơng pháp trong phê bình văn học, mạnh dạn ứng dụng một số triết thuyết mới mẻ mà ông tiếp nhận từ ph-ơng Tây Ông chủ động, tự tin đề xuất những quan niệm có tính tiên phong trong nghiên cứu văn học sử”[7] Đồng thời,
bà cũng bộc lộ sự thán phục về những giá trị mà Tr-ơng Tửu để lại trong các tác phẩm nghiên cứu của mình “Đọc nhiều bài ông viết cách nay hơn nửa thế kỷ, chúng tôi thực sự thán phục một trí tuệ uyên bác, chủ yếu bằng con đ-ờng tự học
mà có thể tiếp cận đ-ợc những lý thuyết hiện đại và cũng rất phức tạp về văn hoá, văn học rồi từ đó đề xuất được không ít ý kiến có giá trị “dẫn đường” cho khoa học nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam trước 1945”[7]
Trang 11Để làm nổi bật lối phê bình của Tr-ơng Tửu, Thuỵ Khuê đã so sánh lối phê bình của Tr-ơng Tửu với những ng-ời cùng thời nh- Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan…Thuỵ Khuê chỉ rõ: “Vũ Ngọc Phan phê bình theo lối giáo khoa Ông khen, chê, tác phẩm một cách rạch ròi, đoạn này đ-ợc, đoạn kia hỏng, theo chủ kiến của chính ông ở Hoài Thanh là lối phê bình ấn t-ợng, nghĩa là ng-ời phê bình viết lại cái ấn t-ợng mà mình cảm nhận đ-ợc khi đọc tác phẩm Cả hai lối phê bình này đều chủ quan… Trương Tửu đưa ra một quan niệm khách quan về phê bình”[33] Mặc dù ngày nay, lối phê bình của Trương Tửu đã lỗi thời nhưng
ở thời điểm những năm 1940, “ông là ngòi bút phê bình hiện đại nhất áp dụng nguyên tắc phê bình khoa học, Tr-ơng Tửu đã đi xa hơn so với những ng-ời cùng thời: ông có một cái nhìn tổng thể về xã hội, về tính chất đấu tranh trong xã hội…Và ông đã thiết lập được mối tương quan mật thiết giữa ba yếu tố: cá nhân, xã hội và tác phẩm Trong khi phần lớn các nhà phê bình khác chỉ mới nêu lên
đ-ợc một vài khía cạnh t-ơng đối hiển nhiên của tác phẩm hoặc một số chi tiết
đặc sắc về cách cảm nhận của họ khi đọc tác phẩm, thì Tr-ơng Tửu đã nhìn thấy cái s-ờn chính của t- t-ởng, tức là sợi chỉ đỏ xuyên suốt con đ-ờng nhận thức của tác giả, xuyên qua các tác phẩm Cái phần chìm ấy, không hiển nhiên và không phải ng-ời đọc hay ng-ời viết phê bình nào cũng thấy đ-ợc, mà chỉ những nhà phê bình có kiến thức và có thực tài mới tìm ra”[33] Qua đó, Thuỵ Khuê không chỉ cho chúng ta thấy đ-ợc sự tiến bộ của Tr-ơng Tửu trong quan niệm phê bình so với những ng-ời cùng thời, mà còn khẳng định đây là một nhà phê bình thực sự có kiến thức và có tài nên mới có đ-ợc cái nhìn cũng nh- cách đánh giá trong tác phẩm tinh tế và sâu sắc
ở một bài viết khác, sau khi phân tích Nguyễn Du và Truyện Kiều, Tâm lý và
t- t-ởng Nguyễn Công Trứ rất tỉ mỉ, Thuỵ Khuê chỉ ra đ-ợc những nét mới, độc
đáo trong cách phê bình của Tr-ơng Tửu Từ đó, để khẳng định vị trí của ông trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học Kết thúc bài viết, Thuỵ Khuê đã kết luận: “Mặc dù phương pháp phê bình Mác- xít ngày nay đã lỗi thời, nh-ng Tr-ơng Tửu vẫn là nhà phê bình sáng giá nhất trong thế hệ tiền chiến Bởi ông đã
Trang 12cố gắng tìm một con đ-ờng văn nghệ mới, thoát khỏi ảnh h-ởng độc tôn của lãng mạn Ông đã cập nhật kịp thời một ph-ơng pháp phê bình khoa học, nhất là ông
đã bác bỏ quan niệm sùng bái anh hùng của ng-ời Việt mà sau này đ-ợc tôn lên hàng quốc sách Ông đã khảo sát các nhân vật lịch sử và văn học nh- một đối tượng khách quan và ông đã đấu tranh cho tự do đến dòng chữ cuối cùng”[32] Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Tr-ơng Tửu, một lần nữa Thuỵ Khuê lại khẳng định vị trí cũng nh- nhân cách của Tr-ơng Tửu trong nghiên cứu phê bình văn học: “Là một trong những nhà phê bình tiên phong của thế kỷ XX nh-ng vì dám lên tiếng, vì dám nói lên những điều phải nói của ng-ời tri thức tr-ớc thời cuộc, Tr-ơng Tửu đã phải im lặng trong 40 năm Sự trừng phạt đau đớn cho một giáo s-, một nhà phê bình, một nhà t- t-ởng Nh-ng
sự im lặng ấy, cũng là thái độ đẹp nhất của một nhà văn: không viết vì không thể viết những điều trái với sự thật”[31] Thông qua đó, cho chúng ta thấy đ-ợc bản lĩnh và cá tính mạnh mẽ của Tr-ơng Tửu Với bản lĩnh này, theo Hoài Nam, Trương Tửu đã “trung thực với quan điểm của mình, dám chấp nhận sự va chạm với những quan điểm trái chiều, thậm chí dám chấp nhận bị mất lòng”[40] Khi
viết Nửa chừng xuân của Khái H-ng, ông đã không ngần ngại nói Khái H-ng
“không thể là một nhà tiểu thuyết tả thực…có tài nhưng không có khiếu Bởi vậy nên khi tôi thấy ông vác bút vào cái rừng phong tục hay cái hang lịch sử Việt Nam, tôi e ông chỉ ra không, hoặc giả đem theo được vài …cục đất” Khi tranh luận với Thạch Lam ông cũng không “kiêng nể” nói Thạch Lam “không phải là một nhà văn, không phải là một nhà hài h-ớc Ông Thạch Lam chỉ là một anh chàng nói lỡm”[40] Như thế, ngay từ những trang viết đầu tay, Trương Tửu đã thể hiện bản lĩnh và cá tính cứng cỏi của mình, không riêng gì những tác phẩm sau này Không chỉ vậy, trong suốt cả cuộc đời của mình, vẫn với một bản lĩnh và cá tính ấy đã giúp ông v-ợt qua bao biến cố thăng trầm, để ngày nay lớp con cháu có nhiều điều đáng để khâm phục và học tập
Phan Ngọc trong bài viết: Một vài điều ít đ-ợc nhắc lại về nhà phê bình
Tr-ơng Tửu cũng nói về đ-ờng lối nghiên cứu phê bình của Tr-ơng Tửu Nếu các
Trang 13nhà phê bình chủ quan dựa vào những ấn t-ợng của mình để xem xét và bình phẩm tác phẩm mà “không cần bằng chứng” thì Trương Tửu “đòi hỏi tác phẩm phải có ích cho công việc hiện nay Với một dân tộc yêu n-ớc nh- Việt Nam thì
điều cần thiết là cách cứu nước”[42] Đồng thời ở bài viết này, Phan Ngọc cũng nói đến con đ-ờng tự học chủ nghĩa Mác của Tr-ơng Tửu và cách lập luận của
ông trong nghiên cứu phê bình văn học cũng dựa vào cách hiểu của ông về chủ nghĩa Mác Vì thế trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi sự cực đoan nh-ng với mục đích và động cơ hoàn toàn trong sáng, không vì t- lợi cá nhân
“Anh đúng là nhà phê bình văn học đầu tiên của Việt Nam mà tôi biết được không đi con đ-ờng văn ch-ơng mà đi con đ-ờng phục vụ, tuy chữ này phải hiểu ngầm và dễ vấp váp, nh- chính anh đã vấp váp Vì đi con đ-ờng tự mình xoay xở nên anh không đi theo con đ-ờng có sẵn do lý luận của Stalin đ-a ra, hay do các
Đảng cộng sản nêu lên và bị ngờ là theo Trotsky”[42] Không chỉ vậy, cách dạy học của Trương Tửu cũng khác so với các giáo sư lúc bấy giờ, thường các “giáo s- không nêu ngay các kết luận mà đ-a ra những nhận xét và chứng minh sức thuyết phục và tính đúng đắn của nhận xét” Còn Trương Tửu “khi dạy anh nêu lên một loạt tiên đề, rồi sau đó áp dụng cho từng tác giả”[42], từ đó cho phép học sinh tự rút ra những kết luận tuỳ theo sự “nhạy cảm” của từng người Chính vì thế, ông đ-ợc sinh viên rất yêu thích trong các giờ dạy của mình Nh- vậy, từ con đ-ờng tự học đến lối phê bình và cách giảng dạy của Tr-ơng Tửu, tất cả đều rất riêng, rất Tr-ơng Tửu, ở đâu ông cũng thể hiện đ-ợc cá tính của mình Có lẽ
đó cũng là một trong những lý do mà Kiều Mai Sơn cho rằng: Giáo s- Tr-ơng
Tửu: Ng-ời đào tạo số mệnh của chính mình Theo Kiều Mai Sơn, “Trương Tửu
là văn nhân nhập thế rất vất vả vì t- t-ởng dân chủ của mình Hai m-ơi lăm năm, vẫn phong cách c-ơng trực, dám đấu tranh cho lẽ phải, cho cái mới, cho chân lý, giáo s- Tr-ơng Tửu đã phải trả giá đắt đối với cuộc đời của chính mình, khi ông
viết một số bài trên các tập Giai phẩm phát biểu quan điểm về văn nghệ và chính
trị cùng giới lãnh đạo văn nghệ với một động cơ theo ông hoàn toàn trong sáng, mong muốn đất n-ớc ngày càng phát triển, xã hội ngày một dân chủ và tự do
Trang 14hơn Người đương thời gọi ông là người bị “thất sủng” bị gạt ra “ngoài lề” đời sống văn học vì nhận thức ấu trĩ của một thời…Từ nhà nghiên cứu, nhà văn, Tr-ơng Tửu một mình một thuyền chống sào ng-ợc n-ớc v-ợt dòng chuyển sang phê bình văn học Để rồi khi nhắm mắt xuôi tay, ông mang theo nguyên vẹn cả khối tình đối với chuyên ngành này xuống tuyền đài”[47] Qua đó, chúng ta thấy một t- t-ởng nhất quán và cũng đầy tự tin của Tr-ơng Tửu ở mọi ph-ơng diện để bảo vệ quan điểm của chính mình dù phải trả một giá quá đắt Lại Nguyên Ân cho rằng: “Cái đích nhằm tới cuối cùng của nghiên cứu văn học chung quanh tác gia Tr-ơng Tửu là những phân tích đánh giá về đóng góp của tác gia này vào sự phát triển của của văn học Việt Nam…Cái đích cuối cùng của nghiên cứu sử học
về nhân vật Tr-ơng Tửu cũng là những phân tích đánh giá công lao của nhân vật này, tác gia này vào khoa học, văn hoá, văn học Việt Nam và nhất là viết ra và công bố đ-ợc những cuốn sách có chất l-ợng tốt về tiểu sử, cuộc đời hoạt động mọi mặt của nhân vật Trương Tửu”[3] Để đến được cái đích đó, chúng ta phải tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện và có bài bản
Bên cạnh những bài nghiên cứu này còn rất nhiều bài thể hiện tình cảm của một ng-ời con, ng-ời bạn, ng-ời học trò đối với ng-ời cha, ng-ời thầy của mình
với bao kỷ niệm và những cảm xúc khó quên: Lời vĩnh biệt thầy Tr-ơng Tửu (Nguyễn Đình Chú), Một ng-ời ấy dã ra đi (Phạm Xuân Nguyên), Kỉ niệm về
cha tôi (Tr-ơng Quốc Tùng), Kỉ niêm về thầy Tr-ơng Tửu (Nguyễn Văn Hoàn), Với thầy Tr-ơng Tửu (Ninh Viết Giao) Qua các bài viết đó đều thể hiện Tr-ơng
Tửu là một ng-ời cha, ng-ời bạn, ng-ời thầy luôn sống đúng mực và tận tâm với mọi ng-ời, đồng thời xen lẫn niềm cảm phục về tài năng, trí tuệ và nhân cách của Tr-ơng Tửu Vì thế, sự ra đi của ông đã để lại cho gia đình, ng-ời thân, bạn bè và học trò bao niềm l-u luyến, tiếc th-ơng
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình văn học về cuộc đời và sự nghiệp của Tr-ơng Tửu Nh-ng do thời gian có hạn nên chúng tôi ch-a kịp tìm hiểu Nếu có điều kiện nghiên cứu thêm chúng tôi sẽ tìm hiểu kỹ càng hơn
Trang 15Nhìn chung, các bài nghiên cứu trên đã gần nh- khái quát đ-ợc sự nghiệp nghiên cứu phê bình văn học của Tr-ơng Tửu nh-ng ch-a có công trình nào thực
sự đi sâu nghiên cứu đóng góp của ông trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học một cách có hệ thống
3 Đối t-ợng nghiên cứu và phạm vi t- liệu khảo sát
3.1 Đối t-ợng nghiên cứu
Đóng góp của Tr-ơng Tửu trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
3.2 Phạm vi t- liệu khảo sát
Những công trình nghiên cứu văn học của Tr-ơng Tửu đ-ợc tập hợp lại và in trong:
3.2.1 Nguyễn Bách Khoa – Khoa học văn ch-ơng ( Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn
và giới thiệu), NXB Văn hoá Thông tin, 2003
3.2.2 Tr-ơng Tửu - Tuyển tập nghiên cứu phê bình ( Nguyễn Hữu Sơn và
Trịnh Bá Đĩnh s-u tầm và biên soạn), NXB Lao Động - Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2007
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những đóng góp của Tr-ơng Tửu trong phê bình nghiên cứu các sáng tác dân gian và trung đại Việt Nam
- Đóng góp của Tr-ơng Tửu trong việc nghiên cứu, phê bình các sáng tác văn học Việt Nam hiện đại
- Phong cách nghiên cứu, phê bình văn học của Tr-ơng Tửu
5 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những ph-ơng pháp sau:
5.1 Ph-ơng pháp thống kê, phân loại 5.2 Ph-ơng pháp so sánh đối chiếu 5.3 Ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp
6 Cấu trúc luận văn
Trang 16Ngoài phần Mở đầu, Kết thúc và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
văn học trung đại việt nam
Trang 171.1 Tr-ơng Tửu với văn học dân gian
Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra
đời từ thời công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong chế
độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay
Văn học dân gian ở Việt Nam còn đ-ợc gọi là văn ch-ơng bình dân (hoặc văn học bình dân, văn ch-ơng hoặc văn học đại chúng), văn ch-ơng truyền khẩu, văn ch-ơng hoặc văn học truyền miệng), văn nghệ dân gian, sáng tác dân gian,
… Văn học dân gian là một hình thái ý thức xã hội Cũng nh- mọi hình thái ý thức xã hội khác, văn học dân gian phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất
có ý thức của tập thể những con ng-ời sống thành xã hội Sự ra đời của những sáng tác truyền miệng đã đánh dấu quá trình hình thành hoàn toàn của sự nhận thức thẩm mĩ bởi nó đã tạo ra khả năng vô hạn cho sự phản ánh những cảm xúc thẩm mĩ trong t- t-ởng con ng-ời
Nếu truyện kể dân gian là những sáng tác thiên về thể hiện những nội dung khái quát mang tính chất loại hình, thể hiện một cách phổ biến sự gần gũi và ảnh hưởng lẫn nhau qua yếu tố đặc trưng là các mô típ, các nhân vật thần kì…thì thơ
ca dân gian với những nét đặc sắc trong kết cấu ngôn ngữ, cách sử dụng hình t-ợng, nhạc điệu đi kèm lời ca, lại thiên về thể hiện tính độc đáo của dân tộc Chính nhờ những yếu tố đó mà thơ ca dân gian mang đậm dấu ấn của phong cách, màu sắc đa dạng của văn hoá các dân tộc
Ngay từ phần mở đầu cho bài viết Kinh Thi Việt Nam, Tr-ơng Tửu đã nói về
sự tình cờ gặp gỡ một ông già vô danh trong lúc dạo chơi hóng mát quanh Hồ
G-ơm, đ-ợc nghe ông giải thích về câu hát Chu tri rành rành của trẻ con, đã mở
ra cho ông “một lối nghiên cứu thi ca bình dân chú trọng về sử ký” Nhưng cũng
qua đó ông đã thể hiện rõ ý kiến của mình Với ông bài hát Chu tri “chỉ là một
cách chép sử của dân gian”, “không đáng coi như một tài liệu chân xác” mà “giá trị đặc biệt của nó là về giá trị tâm lý xã hội” bởi đồng thời với việc ghi chép sự
Trang 18việc xảy ra xung quanh, dân gian đã diễn đạt trung thành thái độ của mình đối với đ-ơng thời Chính vì lẽ đó, khi nghiên cứu thi ca bình dân ở bất kì thời nào, chúng ta nên tìm đến tâm lý người tạo ra chúng Hơn nữa với ông, “thơ ca còn là một tài liệu xã hội học rất quý” bởi nó có thể vẽ lại một phong tục, hoặc đánh dấu một tình trạng kinh tế, l-u truyền một lễ nghi tôn giáo Tất cả những điều đó,
có thể giúp ta hiểu đ-ợc cuộc sống sinh hoạt của xã hội ở các thời kì đã qua cũng như những tâm lý đã mai một trong quá khứ Bởi “phong dao Việt Nam rất có thể
là linh hồn Việt Nam, xã hội Việt Nam x-a, nếu biết nghiên cứu nó một cách hợp
lý và thông minh”[20, 686] Ngoài ra, ca dao còn có một nghệ thuật chẳng kém giá trị nghệ thuật của bất kỳ một nền thơ bình dân nào trên thế giới Chắc hẳn, tất cả chúng ta từ thuở ấu thơ, ai cũng đ-ợc nghe lời ru, giọng hát véo von từ ng-ời
bà, ng-ời mẹ của mình Lời ru, tiếng hát ấy nh- dòng sữa mẹ nuôi d-ỡng tâm hồn và chấp cánh cho những -ớc mơ của chúng ta bay cao bay xa Chính những
“vần thơ mộc mạc ấy, với cái nhạc điệu Việt Nam ấy, quả đã súc tích một mối cảm mênh mang đủ hiệu lực gọi thúc đẩy tất cả những thớ tim của con người”
“Dân Việt Nam chúng ta, trong mấy nghìn năm, vẫn là một linh hồn giàu và mạnh Linh hồn ấy đã nối liền với nhau trên cái xứ sở này, hơn hai chục ng-ời biết sống, biết chiến đấu hàng 40 thế kỷ Linh hồn ấy, sức chiến đấu ấy còn để dấu vết lại trong các ca dao Việt Nam đầy âm thanh, đầy hơi nóng”[20, 687] Và theo ông, những câu phong dao ấy mới chính là Kinh Thi của ng-ời Việt Nam bởi từ x-a, phong dao tục ngữ là tình cảm và luân lý của người Việt Nam “Bổn phận của chúng ta ngày nay là ghi chép nó, san định nó, chú thích nó, nh- Chu Công đã ghi chép, Khổng Tử đã san định, Chu Hy đã chú thích Kinh Thi của Trung Hoa”[20, 688] Ông cũng nhận thấy, tr-ớc khi nghiên cứu Kinh Thi Việt Nam không gì tốt bằng nghiên cứu Kinh Thi của Trung Hoa để tạo lập tr-ờng nghiên cứu cho mình và cũng để trả lời cho câu hỏi: “ Tại sao Khổng Tử san định Kinh Thi” Để trả lời cho câu hỏi này, ông viết: “Khổng Tử san định Kinh Thi bởi Khổng Tử tìm thấy ở Kinh Thi một phương pháp trị dân” “Khổng Tử tin rằng nghệ thuật là sản phẩm của tình cảm” “Vì thế cái khởi điểm giáo hoá của Khổng
Trang 19Tử là chỉnh lại nền tình cảm của con ng-ời Muốn chỉnh lại tình cảm của con ng-ời, ngài cho học Thi vì thơ chính là tiếng nói của tình cảm … Ngài cho rằng, thơ nhạc và tình cảm có ảnh h-ởng mật thiết với nhau Tình cảm trong sạch thì thơ nhạc thiện, tình cảm vẩn đục thì thơ nhạc ác, ng-ợc lại, thơ nhạc dâm oán thì lôi cuốn tình cảm vào tội lỗi, thơ nhạc khoan hoà thì biến tình cảm theo điều kiện”[20, 691] Qua đó, chúng ta cũng thấy đ-ợc lối vận dụng học thuyết của Marx rất khéo léo của ông trong tr-ờng hợp Khổng Tử
Cũng từ lập luận đó, Trương Tửu tiến đến “đoàn thể” một ý niệm mới mẻ của triết học Marx, ông viết: “Muốn biết rõ tình cảm của một đoàn thể, không gì bằng xem những phát hiện tinh thần của đoàn thể ấy Cái phát hiện thuần khiết nhất của nó là thơ và nhạc, vì thế nên Khổng Tử đã nói trong Nhạc ký: “Thanh
âm chí đạo dữ chính thông hỹ: đạo thanh âm thông với chính trị vậy” và lại nói:
“Thẩm nhạc dĩ tri chính: xem kỹ âm nhạc thì biết cách chính trị” Đã nói: “Thơ nhạc do tình cảm con người mà sinh ra”, lại nói: “Tình cảm con người do chính trị tạo thành” thì có khác gì nói: “Thơ nhạc bắt nguồn ở xã hội”? Cái mối tương quan của nghệ thuật và nhân sinh diễn đạt đến nh- trong Khổng giáo thật cũng
đã cặn kẽ và đanh thép lắm Từ cái thuyết: “Thơ nhạc gốc ở tình cảm, tình cảm gốc ở chính trị”, Khổng Tử đã đi đến một kết luận rất hợp lý là: “Có thể dùng thơ nhạc để cải tạo tình cảm và luôn thể cải tạo xã hội”[20, 692, 693] Tất cả những dẫn chứng và biện luận trên đây của Tr-ơng Tửu để đ-a đến luận điểm then chốt:
“Chúng ta cũng có một Kinh Thi quý giá không kém gì Kinh Thi của người Tàu Bổn phận chúng ta ngày nay là phải ghi chép nó, san định nó, chú thích nó, nh- Chu Công đã ghi chép, Khổng Tử đã san định, Chu Hy đã chú thích Kinh Thi của Trung Hoa”[20, 688]
Qua đó ta thấy rằng, ở thời kỳ nào ng-ời đứng đầu một xã hội lấy văn hoá, lấy nhân nghĩa làm gốc cho việc cai trị của mình thì sẽ đạt đ-ợc kết quả tốt Văn ch-ơng bắt nguồn từ cuộc sống, là sản phẩm của xã hội, vì thế, muốn biết xã hội
đó nh- thế nào thì phải khảo sát văn ch-ơng Chính từ những luận điểm đó đã dẫn Tr-ơng Tửu đến với phê bình ca dao Để đến với ca dao, để hình thành một
Trang 20cuốn Kinh Thi cho ng-ời Việt Nam chẳng kém gì của ng-ời Tàu, ông đã vận dụng rất nhiều ph-ơng pháp: sử học, xã hội học, tâm lý học và nhất là ông dựa trên t- t-ởng nòng cốt: Lịch sử tiến hoá của nhân loại là lịch sử đấu tranh giai cấp
Có thể nói, môi tr-ờng là một yếu tố rất quan trọng trong việc xây dựng, hình thành nên tính cách của con ng-ời bởi con ng-ời là sản phẩm của môi tr-ờng Tác phẩm văn ch-ơng do con ng-ời tạo ra, vì thế, nó vừa phản ảnh môi tr-ờng sống ấy đồng thời mang dấu ấn riêng của tác giả và tâm lý của dân tộc Chính từ
lý do đó mà Tr-ơng Tửu chủ tr-ơng phải san định lại ca dao Việt Nam bởi ca dao
là tiếng nói của dân tộc qua các thời đại Qua ca dao, ng-ời ta biết đ-ợc phong tục tập quán của dân tộc Việt Ca dao chính là tiếng nói xuất phát từ quần chúng
đối kháng lại giai cấp cầm quyền Ca dao là những mũi tên bắn vào hệ thống đạo
đức cổ hũ của Nho giáo, chống lại chế độ phụ quyền, chống lại đạo đức nam nữ thụ thụ bất thân của Khổng Mạnh, đòi quyền tự do nhục dục, chống lại vấn đề trinh tiết, chống lại vấn đề lẽ mọn … ca dao là nơi thể hiện sự đấu tranh thường trực của ng-ời dân Để đ-a ra những minh chứng về sự phản ứng của dân tộc Việt Nam trong ca dao đối với Nho giáo, ông đã thống kê một cái “bảng giá trị” của Nho giáo:
- Tôn trọng quyền đàn ông và áp chế quyền đàn bà
- Tôn trọng quyền chồng và áp chế quyền vợ
- Tôn trọng quyền cha và đoạt mất quyền con
- Tôn trọng quyền vua và áp chế quyền dân
- Tôn trọng lý tính và toả chiết tình cảm cùng bản năng
Bảng giá trị này là tinh hoa Nho giáo, nó ủng hộ quyền lợi của đàn ông và sự củng cố chế độ xã hội đương thời Ông viết tiếp: “Chân tướng của Nho giáo là vậy đó Chính cái Nho giáo này đã đ-ợc quyền lấn sang xứ Việt Nam ta, hồi đầu Tây lịch kỷ nguyên, và tôi phải nói ngay là nó đã bị dân chúng Việt Nam nổi lên chống lại rất dữ dội Vì ở một hoàn cảnh kinh tế xã hội khác với Trung Quốc, dân
ta không thể đồng hoá theo cái triết lý ngoại bang ấy Suốt khoảng lịch sử mấy
Trang 21nghìn năm của xứ Việt Nam chỉ là cuộc xung đột gắt gao giữa dân chúng Việt Nam và Nho giáo, tổ tiên ta đã chứng tỏ một tinh thần độc lập hùng mạnh vô cùng Cho nên tuy đ-ợc giai cấp cầm quyền (vua, quan, sĩ) cần cù truyền bá và ủng hộ Nho giáo vẫn phải luôn lùi b-ớc tr-ớc sức phản kháng của dân chúng Việt Nam”[20, 707] Trong hoàn cảnh ấy, “dân Việt Nam đã thành một khối tinh thần riêng” Hiện nay còn có rất nhiều phong tục lễ nghi còn sót lại trong dân
gian mang tinh thần riêng ấy “Cái thuyết nam nữ hữu biệt, nam nữ thụ thụ bất
thân của Nho gia chỉ thực hành trong giai cấp quý tộc sĩ phu chứ không thể thực
hành được trong dân gian”[20, 709] bởi đất n-ớc ta là một n-ớc nông nghiệp xung quanh “là đồng ruộng, là ao chum, là rừng lúa, là mặt đê” Đây không chỉ là nơi làm việc mà còn là nơi tạo điều kiện cho những đôi trai gái gặp gỡ trò chuyện, tự tình với nhau và kết thành đôi lứa D-ờng nh- tất cả những điều kiện phản kháng lại Nho giáo ấy đều đ-ợc thể hiện rất nên thơ ở tục mời trầu
Trầu này trầu quế, trầu hầu, Trầu loan, trầu ph-ợng, trầu tôi lấy mình
Trầu này trầu tính trầu tình Trầu nhân trầu nghĩa trầu mình lấy ta Trầu này têm tối hôm qua Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng Trầu này không phải trầu hàng Không bùa không thuốc sao chàng không ăn?
Hay là chê khó chê khăn Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu
Miếng trầu tình tứ ấy của những đôi trai gái thôn quê trực tiếp mời nhau
một cách mặn mà, âu yếm đã lật nhào cái thuyết nam nữ thụ thụ bất thân của
Nho gia Chỉ với vài câu thơ thôi nhân vật trữ tình đã thể hiện đ-ợc sự duyên dáng nh-ng cũng rất thẳng thắn, chân thành về tình cảm của mình với đối t-ợng
đ-ợc mời trầu Qua lời mời, ta nhận thấy sự mộc mạc, quê mùa rất Việt Nam
Trang 22Dân Việt Nam đã phản kháng lại nh- vậy đó, không bao giờ họ chịu sự đồng hoá của ng-ời Trung Hoa, chỉ trừ một số ít ng-ời cầu lợi cho riêng mình
Nh-ng để hiểu ca dao tức Kinh Thi Việt Nam thì không những phải tìm hoàn cảnh lịch sử Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến ngày nay mà còn phải hiểu cả bản chất của Kinh Thi và xã hội Trung Hoa nữa Sự tìm kiếm này dẫn ông đến lập luận: Kinh Thi là một tài liệu xã hội học và ông đã làm rõ lập luận này của mình qua ba yếu tố sau:
- Kinh Thi đánh dấu sự xuất hiện của văn tự
- Nó là bức hoạ chân xác của những tín ng-ỡng, t- t-ởng, chính pháp, phong tục trong một xã hội
- Nó điểm chỉ cho nhà xã hội học những vết tích cho một cuộc sinh hoạt kinh tế
Bằng những dẫn chứng trong Kinh Thi, ông đã tái hiện lại bộ mặt xã hội Trung Hoa cổ với những nề nếp, phong tục của ng-ời Tàu Nghiên cứu Kinh Thi của Trung Hoa không chỉ cho ta những tài liệu quý báu mà còn giúp ta nhìn thấu
được “chân tướng” của nó đồng thời lại “hiểu được tình trạng xã hội đặc biệt của
xứ Việt Nam mới có thể hiểu đ-ợc cái xu h-ớng chống Nho giáo của nền thơ phong dao Việt Nam, Kinh Thi của nước nhà” Cũng từ những chương tiếp sau
đó, “tác giả sẽ căn cứ vào những phong dao ấy, truy cứu tới cái cơ sở hạ tầng và cái kiến thức thượng tầng của xã hội Việt Nam”[20, 706] Qua những ch-ơng sách đó Tr-ơng Tửu đã cho ta thấy cuộc sống sinh hoạt cũng nh- đời sống văn hoá tinh thần của cư dân của một đất nước nông nghiệp Ông cũng chỉ ra, “từ thời thượng cổ xứ ta là một xứ nông nghiệp” nên những kinh nghiệm về canh tác, về thiên văn ấy đ-ợc tích trữ từ đời nọ sang đời kia và dần trở nên tinh tế phù hợp với đất và thiên nhiên của xứ ta Cũng đời sống sinh hoạt đó đã tạo điều kiện cho t- t-ởng tình cảm và đời sống tâm hồn của con ng-ời đ-ợc bộc lộ rõ nét nhất là những ng-ời phụ nữ , “đôi khi sự săn sóc thành kính của đôi vợ chồng ăn học có một thi vị làm ta cảm động”[20, 717]:
Canh một dọn của dọn nhà
Trang 23Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm Canh t- b-ớc sang canh năm Trình anh dậy học chớ nằm làm chi Nữa mai chúa mở khoa thi Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh
Bỏ công cha mẹ sắm sanh Sắm nghiên sắm bút cho anh học hành
Không chỉ vậy, họ còn là những con ng-ời yêu lao động, biết bảo ban nhau làm ăn:
Rủ nhau đi cấy đi cày Bây giờ khó nhọc có ngày phong l-u Trên đồng cạn d-ới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
Và ông nhận xét: “ Cảnh “chồng cày vợ cấy” và cảnh “ chàng ngồi đọc sách, thiếp ngồi quay tơ” là tất cả cái đặc sắc, là cái thi vị của đời sống bình dân Việt Nam, một đời sống trong trẻo, đầy khí trời, đầy ánh sáng, đầy trăng sao và
đầy sức mạnh Sức mạnh này là sức mạnh của giống nòi Lạc Hồng” Chỉ bằng những câu phong dao ấy, Tr-ơng Tửu đã phân tích làm rõ hình ảnh xã hội Việt Nam ở rất nhiều ph-ơng diện: dân chúng Việt Nam và Nho giáo, xã hội Việt Nam xây dựng trên kinh tế nông nghiệp, gia tộc phụ hệ, chống nam quyền, đời sống tình cảm, đời sống bản năng và thực trạng xã hội quyết định ý thức con ng-ời Chỉ bấy nhiêu thôi nh-ng tác giả đã cho ta thấy đ-ợc đời sống t- t-ởng, tình cảm của ng-ời dân đất Việt Chính cái t- t-ởng tình cảm ấy, đã tạo nên sức mạnh và có thể nói đó chính là sức sống tiềm tàng của nhân dân ta chống lại sự
đồng hoá của Trung Hoa cho nên dù hơn một nghìn năm Bắc thuộc nhân dân ta,
đất n-ớc ta vẫn giữ đ-ợc bản sắc riêng của mình Và Tr-ơng Tửu đã khẳng định:
“ Văn hoá Việt Nam không phải ở văn hoá Trung Quốc thoát thai ra Hai cái chỉ
là hai chị em cùng dòng họ, cùng một nguồn cội Nguồn cội này là kinh tế nông nghiệp Cho nên có nhiều tín điều trong Nho giáo, ta sẵn sàng đón nhận để kết
Trang 24tinh thêm, làm sáng thêm cái ý thức tâm lý đã phôi thai trong hoàn cảnh của xã hội ta Và cũng có nhiều tín điều ta thấy chỉ thích hợp với xã hội Trung Quốc, thì
ta chiến đấu bài xích đến tận cùng, không chịu công nhận”[20, 710]
Rõ ràng phải có một vốn lý luận vững chắc, sáng suốt, một năng lực cảm thụ tinh tế ông mới lắng nghe, cảm nhận và phân tách chúng thành những vấn đề, những nội dung khác nhau Nó vừa hệ thống hoá đ-ợc những giá trị của ca dao, dân ca Việt Nam, vừa tìm ra cái giá trị nền tảng của văn hoá Việt Nam mà theo cách gọi của Trần Ngọc Vương là : “cách đặt vấn đề rất thú vị” Qua đó ta thấy rằng, nhân dân ta đất n-ớc ta chiến đấu và chiến thắng Trung Hoa không chỉ bằng sức ng-ời trên trận mạc mà còn có một sức chiến đấu bền bỉ, tạo thành một sức mạnh vô biên để chiến đấu và chiến thắng tất cả mọi kẻ thù, đó chính là sức mạnh của đời sống tinh thần, của t- t-ởng, tình cảm của ng-ời dân đất Việt Sức mạnh này đã trở thành một sức sống tiềm tàng trong tâm hồn mỗi ng-ời dân đất Việt Vì thế nó không chỉ chiến thắng Trung Hoa mà còn chiến thắng mọi kẻ thù khác làm nên những trang lịch sử vẻ vang của dân tộc, đem lại nền hoà bình độc lập cho n-ớc nhà, tự do, hạnh phúc cho nhân dân
1.3 Tr-ơng Tửu với văn học trung đại Việt Nam
Văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng đã sinh thành
và phát triển trong những hoàn cảnh đặc biệt của dân tộc đồng thời có quan hệ giao lưu, tiếp nhận mật thiết với các nền văn hoá, văn học ngoài biên giới… Tr-ơng Tửu tiếp cận với nền văn học trung đại tr-ớc hết thể hiện tình cảm yêu mến, say s-a với văn học nghệ thuật đồng thời ông muốn thực hành một ph-ơng pháp nghiên cứu khoa học để phân tích cảm nhận tác phẩm văn ch-ơng nhằm tạo ra một h-ớng nhìn mới và tạo ra những giá trị mới cho tác phẩm Chính với niềm say mê đó, Tr-ơng Tửu đã dành rất nhiều thời gian và công sức của mình đi vào tìm hiểu những giá trị, những tinh hoa và tạo nên cái nhìn mới cho ng-ời đọc đối với văn học trung đại
1.3.1 Tr-ơng Tửu với Truyện Kiều của Nguyễn Du
Trang 25Từ khi ra đời cho đến nay Truyện Kiều của Nguyễn Du đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tâm hồn Việt Nam nói chung và đời sống văn học nói riêng Có thể nói Nguyễn Du là một tài năng bậc thầy mà mỗi khi
nói đến ông ng-ời ta không thể không nhắc đến Truyện Kiều- một kiệt tác văn ch-ơng Cũng chính vì thế, từ tr-ớc đến nay Truyện Kiều luôn là “bãi thử” của
những ph-ơng tiện phê bình mới và cũng ch-a có một tác giả nào để lại một số
l-ợng công trình nghiên cứu về Truyện Kiều nh- Tr-ơng Tửu với các công trình:
Triết lý Truyện Kiều (1931); Nguyễn Du và Truyện Kiều (1940); Văn ch-ơng Truyện Kiều (1944); Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (1956) Điều đó, đã thể
hiện lòng say mê của ông đối với nghiên cứu phê bình văn học Ông cho rằng phê bình văn học phải tìm hiểu cá tính nhà văn vì “cá tính là thể cách sinh hoạt riêng của một cá nhân Nhờ có cá tính mà mỗi ng-ời chúng ta cảm xúc, suy nghĩ và hành động một cách khác, không ai giống ai” Nếu các nhà phê bình cùng thời chỉ nêu lên những ấn t-ợng chủ quan của mình về tác phẩm văn ch-ơng mà không cần đến bằng chứng thì với Tr-ơng Tửu, ông đòi hỏi tác phẩm văn học phải có ích cho công việc hiện nay Bởi ông cho rằng, văn ch-ơng không đơn thuần chỉ là một tác phẩm nghệ thuật thể hiện những rung cảm của mình tr-ớc cuộc sống mà còn phải thể hiện đ-ợc yêu cầu của thời đại Qua những công trình
nghiên cứu đó, đặc biệt với hai tác phẩm: Nguyễn Du và Truyện Kiều; Văn
ch-ơng Truyện Kiều ông đã thể hiện rất rõ quan điểm phê bình văn học của
ông, “lối phê bình tìm hiểu “tâm sự nhà văn trong tác phẩm văn chương” vừa dễ
Trang 26dãi vừa không đúng đắn Nó vẽ đ-ờng để cho ai cũng có thể bàn về Truyện Kiều
kể cả những sự tủn mủn, vụn vặt nhất, khiến cho độc giả có lúc chẳng hiểu cuốn Truyện Kiều là câu chuyện về nàng Kiều hay câu chuyện về Nguyễn Du”[16, 193] Tr-ơng Tửu cho rằng, cá tính là một kiến trúc bao gồm nhiều yếu tố kết tinh lại, trong đó có ba yếu tố nổi trội: sinh lý di truyền (huyết thống), địa lý tự nhiên (quê quán, khí hậu, thổ ngơi, vị trí địa d-, lịch sử) và quan trọng nhất là
điều kiện xã hội( bối cảnh thời đại, vị trí đẳng cấp) Kết thúc phần “khái luận” tác giả bài viết đưa ra một kết luận khá cực đoan: “Nghiên cứu một văn phẩm mà không tìm đến cá tính nhà văn và hình ảnh xã hội đ-ơng thời với nhà văn phản chiếu trong tác phẩm ấy tức là không hiểu gì về nghệ thuật phê bình hết”[20, 200] Với lối nói “chắc như đinh đóng cột” trong văn phong phê bình, Trương Tửu đã gây sự khó chịu cho rất nhiều ng-ời, nhất là trong môi tr-ờng văn hoá vốn trọng sự nhũn nhặn, khiêm cung Hoài Thanh từng nhận xét: “Với ông Nguyễn Bách Khoa cái gì cũng rõ ràng như hai lần hai là bốn” Trịnh Bá Đĩnh
trong Phê bình văn học- Tr-ờng hợp Tr-ơng Tửu nhận xét: “Lối viết của Hoài
Thanh và Nguyễn Bách Khoa hết sức khác biệt nhau, thậm chí có thể nói thuộc
về hai đối cực, nh- n-ớc với lửa, nh- âm với d-ơng, một đằng nhẹ nhõm tinh vi,
đằng kia thì gân guốc sắc sảo…”[17]
Yếu tố đầu tiên hình thành nên cá tính của Nguyễn Du theoTr-ơng Tửu đó
là huyết thống Nguyễn Du đ-ợc sinh ra trong một dòng họ nho sĩ hiển đạt, không chỉ “nổi tiếng về khoa hoạn mà còn chiếm bậc đàn anh trong văn học giới” Thêm vào đó, mẹ Nguyễn Du là một cô gái quan họ Bắc Ninh, “một tỉnh giàu có, thích văn ch-ơng và phong tình diễm lệ vào bậc nhất ở Bắc Kỳ” Như thế, chảy trong mạch máu Nguyễn Du là một huyết thống nho sĩ th- lại có tài văn chương Chính huyết thống này “đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc hình thành cá tính của nhà thơ đặc biệt khi đẳng cấp này suy tàn và thất thế vào thời mạt Lê”[32] Bên cạnh yếu tố đó, Nguyễn Du đ-ợc sinh ra ở Nghệ Tĩnh- một vùng
đất “ bị vây ba mặt bởi núi, sông và biển, nó vốn là một đất hiểm, có khí tượng anh hùng” Chính “thiên nhiên hùng vĩ và khắc nghiệt đó đã kích thích ở con
Trang 27ng-ời một sức chống cự bền bỉ, một lòng kiên nhẫn phi th-ờng tr-ớc hết để tồn tại và sau đó để tồn tại một cách xứng đáng” Bởi thế nó đã tạo nên những con ng-ời xứ Nghệ vừa bất khuất, kiên c-ờng, cứng cỏi và đầy ý chí Và đây cũng là một vùng đất biên c-ơng phân chia n-ớc ta với n-ớc Chàm từng xảy ra nhiều xung đột lại càng trau dồi ý chí cho con ng-ời nơi đây thêm vững vàng Tuy nhiên, nói đến Nguyễn Du chỉ nói đến quê Nghệ ch-a đủ mà phải nói thêm quê
mẹ Bắc Ninh- một vùng văn hoá cổ của ng-ời Việt Nơi có những làn điệu quan
họ độc đáo trữ tình làm xao xuyến bao thế hệ người nghe Nơi sản sinh ra “ những cô thôn nữ trắng trẻo, vững chắc mà không thô kệch, quê mùa mà thanh lịch, yêu kiều mà đoan trang, áo tứ thân vải nâu non, váy l-ỡi trai bảy bức, yếm thắm hoa hiên, răng đen như hạt huyền, mắt trong như dòng suối…” Nh- vậy, bản thân Nguyễn Du đã có sự kết hợp của cả hai vùng đất, tuy đối lập nhau nh-ng lại bổ sung cho nhau, tất cả những điều đó góp phần quan trọng vào sự hình thành cá tính Nguyễn Du Qua đó, cho ta thấy Tr-ơng Tửu là ng-ời rất chú
ý đến đặc điểm thời đại và phân tích nó một cách sắc sảo Bởi đây là một yếu tố rất quan trọng tạo thành những cái riêng, độc đáo trong cá tính của nhà văn Tr-ơng Tửu đọc rất nhiều các nhà khoa học Ph-ơng Tây và vận dụng nhiều
lý thuyết khoa học trong các công trình nghiên cứu phê bình tiêu biểu nh-: thuyết chủng tộc- địa lý của Taine, thuyết phân tâm học Freud và học thuyết của Marx
về phân chia giai cấp và văn học phản ánh xã hội Đối với từng tác phẩm ông có
cách vận dụng các học thuyết này theo một cách riêng Với Nguyễn Du và
Truyện Kiều ông chủ yếu vận dụng học thuyết của Taine và Freud vào để xem
xét lý giải những yếu tố làm nên cá tính Nguyễn Du
Khi bàn về cá tính Nguyễn Du, Tr-ơng Tửu đã nhận đ-ợc sự phản ứng dữ dội từ công chúng bạn đọc nói chung và trong giới nghiên cứu phê bình nói riêng nhất là luận điểm ông cho rằng: “Nguyễn Du là con bệnh thần kinh Bệnh của
ông thuộc về thứ bệnh không có sự tổn thương về khí quản” nhưng “căn tạng suy nhược” Thực ra, Trương Tửu dùng chữ “bệnh thần kinh” ở đây không phải theo cái nghĩa thông th-ờng của đời sống mà theo một khái niệm khoa học- khoa tâm
Trang 28bệnh học Ông giải thích rõ, đó là “một thứ bệnh thông thường”, “ trong năm người có một người mắc phải” “Con bệnh vẫn sống nh- mọi ng-ời nh-ng thần kinh hệ, nhất là bộ giao cảm thần kinh không khoẻ khoắn, trọn vẹn nh- ở ng-ời bình thường”, do “ căn tạng cảm xúc quá độ” [20, 237] nên tính khí hay lo sợ, hoảng hốt, trầm muộn và một trí t-ởng ảo giác Tất cả những điều đó đã làm nên cá tính Nguyễn Du, cá tính này thể hiện trong văn chương thành “sự rung động thành thực và mãnh liệt, sự t-ởng t-ợng dồi dào, sự cảm xúc uỷ mị và bi th-ơng,
sự cảm thông với đồng loại đau khổ, với thần linh”[20, 246, 247]
Để đ-a ra những kết luận trên, Tr-ơng Tửu đã dựa vào ý kiến của rất nhiều nhà “thần kinh học” trứ danh: Francois Morel, Magnan, Maurice de Fleury…Tuy nhiên, các nhà thần kinh học đưa ra những kết luận về một “con bệnh” phải dựa trên kết quả của một quá trình khám nghiệm lâm sàng nh-ng Tr-ơng Tửu lại căn
cứ vào thơ văn để khám và chẩn đoán “ bệnh” cho Nguyễn Du, như thế quả thật không khoa học
Qua đó ta thấy, dường như Trương Tửu là “người đầu tiên phê bình Truyện Kiều trên hai ph-ơng diện: Bối cảnh xã hội thời đại và nhân vật” [17] Các nhà phê bình tr-ớc đó chỉ chú ý xem xét tâm sự Nguyễn Du và tài sử dụng từ ngữ của nhà thơ, cách phê bình và phân tích này nó kéo dài trong suốt một thời kỳ dài
về sau với rất nhiều công trình nghiên cứu về Truyện Kiều Tr-ơng Tửu cũng cho rằng: “ Văn chương chỉ là phản ảnh của con người và con người chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh”[20, 340] Ông đã xem xét các nhân vật chính trong truyện: Kim Trọng, Từ Hải, Thuý Kiều và các cảnh ngộ mà nhân vật gặp phải như là “hình
ảnh toàn khối” Mỗi nhân vật, mỗi cảnh ngộ thể hiện một khía cạnh: Kim Trọng
là “đa tình, đa cảm, quả quyết” thuộc hạng “tình chủng” (thi sĩ Chu Mạnh Trinh gọi là nòi tình)[20, 269]; Từ Hải là “một nguyện vọng thầm kín”, “làm một vị anh hùng trong tưởng tượng”[20, 281]; còn Thuý Kiều là nhân vật chủ yếu thể hiện những mâu thuẩn trong tâm tính Nguyễn Du, “ luôn luôn giữ cốt cách một ng-ời đa tình đa cảm, hành động thì thuận theo bản năng và trái tim mà suy nghĩ
và lý luận lại nấp sau bản ngã Nho của tộc họ và đẳng cấp” Và “ Truyện Kiều
Trang 29cũng nh- đời Nguyễn Du tố cáo một cái gì không thành thực, một cái gì miễn cưỡng và giả dối”[20, 310] Cùng với những cái mới mà ông đ-a lại cho lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học, ta cũng thấy trong Nguyễn Du và Truyện Kiều ông
đã đ-a ra nhiều kết luận vội vã, áp đặt, vận dụng lý thuyết khoa học một cách máy móc không chú ý đặc tính nghệ thuật ngôn từ Chính vì thế, Trần Đình Sử
trong Thi pháp Truyện Kiều nhận xét: “Có thể nói công trình của Nguyễn Bách
Khoa không phải là công trình nghiên cứu văn học, mà là một công trình nghiên cứu nghiêng hẳn về bệnh lý Ông không nêu đ-ợc một chút phẩm chất thẩm mỹ của truyện, một chút giá trị nghệ thuật của nó, ngoại trừ những đặc diểm gắn liền với bệnh lý”[48, 16]
Nh- vậy, so với các nhà phê bình cùng thời nh- Thiếu Sơn, Lê Tràng Kiều, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan…thì Trương Tửu là người đầu tiên có một quan niệm mới về phê bình, dựa trên ph-ơng pháp lý luận khoa học Vào những năm 1940 hầu hết các nhà phê bình mà tiêu biểu là Hoài Thanh phê bình theo lối chủ quan, tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp quý giá mà họ đem lại cho lĩnh vực nghiên cứu phê bình của n-ớc ta Hoài Thanh đã thể hiện rất dứt
khoát quan điểm của mình ngay từ tiêu đề bài viết Văn ch-ơng là văn ch-ơng
(báo Tr-ờng An, số 48, ngày 15/8/1935) Theo ông, nghệ thuật " tìm những cái hay, cái đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh ng-ời ta, rồi m-ợn câu văn, tiếng hát, tiếng lá, bức tranh, làm cho ng-ời ta cùng nghe, cùng thấy, cùng cảm, đó là nhiệm vụ tối cao của nghệ thuật…", "nghệ thuật phải cố sức giúp ng-ời ta phản động lại với hoàn cảnh cùng bẩm thụ tự nhiên" [20, 182] Theo Hoài Thanh, nhà văn phải gạt bỏ những gì cứng nhắc để trãi lòng mình với thiên nhiên, với lòng ng-ời, để có những rung động thật sự mãnh liệt tr-ớc vạn vật muôn loài Đối với văn ch-ơng việc tìm kiếm và khám phá cái đẹp là một điều tối th-ợng Vì thế nó đòi hỏi ng-ời nghệ sĩ không chỉ có tài năng mà còn phải có những rung động thật sự để tạo nên sức quyến rũ của văn ch-ơng đối với độc giả Với quan điểm này Hoài Thanh nh- muốn bứt phá ra khỏi tính giai cấp và cuộc sống cơm áo hàng ngày bởi văn ch-ơng là một nghệ thuật Còn với Tr-ơng Tửu,
Trang 30bởi áp dụng nguyên tắc phê bình khoa học nên ông có những b-ớc tiến xa hơn so với những người cùng thời: “Ông có một cái nhìn tổng thể về xã hội, về tính chất
đấu tranh trong xã hội Nhà văn vừa đ-ợc coi là sản phẩm của xã hội vừa phản
ánh lại bản chất của xã hội, bằng tính chất đặc thù của mỗi cá nhân nhà văn Và
ông đã thiết lập đ-ợc mối t-ơng quan mật thiết giữa ba yếu tố: cá nhân, xã hội và tác phẩm Trong khi phần lớn những nhà phê bình khác chỉ mới nêu lên đ-ợc một vài khía cạnh t-ơng đối hiển nhiên của tác phẩm hoặc một số chi tiết khá đặc sắc
về cách cảm nhận của họ khi đọc tác phẩm, thì Tr-ơng Tửu đã nhìn thấy cái s-ờn chính của t- t-ởng, tức là cái sợi chỉ đỏ xuyên suốt con đ-ờng nhận thức của tác giả, xuyên qua các tác phẩm Cái phần chìm ấy, không phải hiển nhiên ng-ời đọc hay ng-ời viết phê bình nào cũng thấy đ-ợc mà chỉ những nhà phê bình có kiến thức và có thực tài mới tìm ra”[33] Có lẽ vì thế mà văn ông kém đi sự mượt mà trau chuốt, đôi khi làm cho ng-ời đọc thấy khó chịu
Năm 1944, Tr-ơng Tửu viết: Văn ch-ơng Truyện Kiều để nói về cái hay, cái
đẹp của tác phẩm Hình nh- viết ra bài viết này, Tr-ơng Tửu muốn tranh luận với Hoài Thanh và Đinh Gia Trinh Vì thế ông đã trực diện với những cái “tinh tuý” của một tác phẩm, cái mà theo Hoài Thanh không thể đem các khí cụ ra để “mổ xẻ”, phân tách, nói chung “phải đem một tấm lòng chân thành và thanh khiết mà cảm thông chứ không thể dùng phương pháp khoa học mà “mổ xẻ” được”[20,
344], đó chính vấn đề cái đẹp, cái hay và chất thơ trong Truyện Kiều mà ai cũng
có thể cảm nhận nhưng lại không “hiểu” được chúng Vì lẽ đó, Trương Tửu chủ trương “thiết lập một hệ thống nguyên tắc vững chải làm kim chỉ cho sự phê bình
văn nghệ” Từ hệ thống ấy “bạn đọc tự “hiểu” lấy “cái đẹp” của Đoạn tr-ờng tân
thanh”[20, 345] Với chủ tr-ơng này, Tr-ơng Tửu nhằm tạo ra nhiều h-ớng cảm
nhận, phân tích đánh giá tác phẩm tuỳ theo trình độ và khả năng nhạy bén của mỗi ng-ời, không mang tính áp đặt một cách hiểu nào cho bạn đọc Ông chỉ ra:
“Nghệ thuật của Truyện Kiều không phải ở sự tả tình, tả cảnh, tả người, dùng chữ, dùng điển của tác giả nó Những cái tiểu xảo kỹ thuật này không đủ ban cho Truyện Kiều cái “thi vị” chứa chan nó huyễn hoặc người đọc như một sức mạnh
Trang 31phù thuỷ Nghệ thuật Truyện Kiều là ở cái thể cách Chính cái thể cách đó đã làm
ra cái thi vị Truyện Kiều và chính cái cấu tạo đặc biệt kia đã làm ra kiến trúc nghệ thuật của Truyện Kiều” Như vậy, “Nghiên cứu văn chương Truyện Kiều
mà không tìm đến dạng thái của cấu tạo đó, không dò đến cái thể cách đã điều khiển sự sáng tác ra hệ thống này tức ch-a nghiên cứu đến gốc rễ cái hay, cái đẹp của Truyện Kiều”[20, 369] Từ những lý luận ban đầu đó, Tr-ơng Tửu tiếp tục đi vào làm sáng tỏ những vấn đề Hoài Thanh cho rằng không thể phân tách giảng giải: chất thơ của Truyện Kiều và thiên tài của Nguyễn Du Nếu Hoài Thanh với cái nhìn duy tâm nên ông tin đây là những vấn đề huyền bí, thần bí thì với con mắt của một nhà khoa học Trương Tửu nhìn nó là “một khối trạng thái ý thức bị
lệ thuộc chặt chẽ vào cơ thể cá nhân, vào hoàn cảnh xã hội”[20, 375] nên có thể phân tách giảng giải nó bằng một khí cụ tinh vi Không riêng gì cái “thiên tài” của Nguyễn Du mà cả “cái chất thơ bàng bạc”, “cái đẹp” ở Truyện Kiều ta cũng
đều có thể mổ xẻ nó ra để tìm thấy cái “thi vi” chứa đựng trong tác phẩm
Từ xưa người ta đã có câu: “Văn chương tự cổ vô bằng cứ” tức là “ văn
chương từ xưa đã chẳng có bằng cứ nào hết” Phan Ngọc trong bài: Một vài điều
ít đ-ợc nhắc lại về nhà phê bình Tr-ơng Tửu viết: “Phê bình là một bộ phận của
văn ch-ơng và nó thực sự chỉ là văn ch-ơng và nhà phê bình chỉ nêu lên những ấn t-ợng chủ quan của mình không cần bằng chứng” Từ khi Truyện Kiều xuất hiên
đến nay có hàng trăm bài viết về tác phẩm này th-ờng là thấy thú vị nh-ng ngoài một vài hiểu biết về cuộc đời của Nguyễn Du, chẳng ai biết gì hơn về phong cách, về cách viết, kinh nghiệm viết, tất cả những chuyện tôi gọi là thao tác”[42] Còn Tr-ơng Tửu thì khác, ông đòi hỏi tác phẩm phải có ích cho công việc cứu n-ớc và điều cần thiết là cách cứu n-ớc Chính vì lẽ đó, khi nhận thấy một xu h-ớng văn học bỏ quên trách nhiệm với đất n-ớc thì ông đã thể hiện rất rõ quan
điểm của minh, bất chấp mọi giá trị thực tế của tác phẩm Nếu các nhà phê bình lúc đó xem Truyện Kiều như “ thánh thư”, “kinh phúc âm”, “quốc hồn” của dân tộc thì Trương Tửu xem “Truyện Kiều là một thứ văn chương đã ở một vị trí phản tiến hoá lúc đ-ơng thời của Nguyễn Du Nó chứa chan một chất tàn héo, tiêu ma
Trang 32(chất thơ) Nó là kết tinh của một chặng đ-ờng suy đồi nhất trên tràng kì tiến hoá của cá tính Việt Nam Cái đẹp của Truyện Kiều chỉ những tâm hồn muốn thụt lùi mới có thể thưởng ngọn được”[20, 416]
Với hai công trình nghiên cứu: Nguyễn Du và Truyện Kiều và Văn ch-ơng
Truyện Kiều ngay lập tức Tr-ơng Tửu đã làm cho văn đàn nổi sóng Bởi từ khi
xuất hiện, ng-ời Việt Nam ai nấy đều say mê th-ởng thức Truyện Kiều, kính phục tài viết văn của Nguyễn Du, cảm th-ơng tr-ớc cuộc đời ba chìm bảy nổi của nàng Kiều Thậm chí người ta còn đề cao, xem nó là “thánh thư”, là “kinh phúc
âm”, là linh hồn của người Việt Nhưng với Trương Tửu, tác giả của cuốn thánh thư đó là một “con bệnh thần kinh” do “căn tạng suy nhược”, “cảm xúc quá độ” Nhân vật trung tâm của cuốn thánh thư ấy “là một con bệnh uỷ hoàng và ưu uất”
do “phủ tạng suy nhược”, “không đủ sức chịu đựng sự nảy nở mãnh liệt của cơ quan sinh dục”, do sự “đè nén của luân lý Nho giáo đối với sức phát tiết của tính dâm đãng của nàng”[20, 294] Nh- thế bản thân cuốn thánh th- chỉ là sự phản chiếu đầy đủ về “một xã hội ốm, một đẳng cấp ốm, một cá tính ốm: tất cả Truyện Kiều là ở đó”[20, 247] Ngay cả vẻ đẹp hình thức, ta t-ởng nh- chẳng có gì để bàn cải nhưng với Trương Tửu nó chỉ là một hình thức “chứa chan một chất tàn héo tiêu ma” Qua đó ta thấy rằng Trương Tửu là một người có bản lĩnh mới có thể tung ra giữa công chúng bạn đọc những luận điểm khó nghe nh- trên Chính vì lẽ đó, ông bị các cây bút cùng thời như Hoài Thanh, Đinh Gia Trinh…phản đối rất dữ dội Tuy nhiên, Tr-ơng Tửu không cố tình đi ng-ợc lại những gì thiên hạ
đã nói và làm từ bấy đến nay.Đó cũng là kết quả của ph-ơng pháp phê bình văn học được ông gọi là “phê bình khoa học” khi phê bình Truyện Kiều Nó đòi hỏi thái độ khách quan trong khi phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện t-ợng Và đó cũng là kết quả tất yếu của một quá trình tự học, tự nghiên cứu và vận dụng các học thuyết: thuyết đấu tranh giai cấp và văn học phản ánh xã hội của Karl Marx, Engels; thuyết phân tâm học của Freud; thuyết chủng tộc- địa lý của Hippolite Taine
Trang 33Nh- vậy Tr-ơng Tửu đã tạo ra cột mốc, cái nhìn mới cho nghiên cứu phê bình văn học nói chung và đối với Truyện Kiều nói riêng, tạo cho ng-ời đọc có thể cảm nhận, khám phá tác phẩm nhiều chiều hơn, làm cho nội dung tác phẩm thêm phong phú Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế trong cách phân tích và cảm nhận về tác phẩm Nh- ta đã biết để nghiên cứu về Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa đã vận dụng nhiều tri thức khoa học vào”mổ xẻ” nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm Song những học thuyết đó đ-ợc ông vận dụng một cách máy móc, cực đoan theo một cách riêng của ông nên nhiều khi dẫn đến những kết luận vội vàng, gây sốc với độc giả, nhiều khi làm cho tác phẩm trở nên khô cứng Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thấy đây là một điều khó tránh khỏi khi lần
đầu sử dụng một ph-ơng pháp phê bình văn học mới, một ph-ơng pháp khác hẳn lối thẩm bình văn ch-ơng nghiêng về chủ quan, trực giác đã có từ tr-ớc mà Hoài Thanh là ng-ời chủ trì nên đôi khi nó chỉ có ý nghĩa mở đ-ờng
Một lần nữa, ta có thể khẳng định phê bình khoa học của Tr-ơng Tửu là một b-ớc tiến về t- duy của nền phê bình văn học Việt Nam ở thời điểm đó Với Tr-ơng Tửu phê bình văn học không chỉ là một nghệ thuật mà nó còn là khoa học, văn chương không còn là cái gì thần bí, huyền bí không thể “hiểu” mà nhà phê bình làm việc đ-ợc với tác phẩm văn ch-ơng giống nh- các nhà sinh vật học làm việc đ-ợc với những mẫu cỏ cây của mình Và ông chính là một trong những nhân vật tiên phong trên con đ-ờng đ-a phê bình văn học trở thành một khoa học văn ch-ơng
1.3.2 Tr-ơng Tửu với sáng tác của Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Công Trứ (1778 - 1859) là một quan chức và cũng là một nhà thơ
Ông là một hiện t-ợng độc đáo nhất trong lịch sử và trong văn học Việt Nam giai
đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Tuy nhiên nghiên cứu về tác giả này còn quá mỏng, ch-a xứng tầm với những đóng góp của ông cho lịch sử cũng nh- cho văn học n-ớc nhà Khoảng những năm 30 của thế kỷ XX, giới nghiên cứu mới quan tâm tới tác giả này, ng-ời đầu tiên là Lê Th-ớc đến Hoàng Ngọc Phách, Tr-ơng Chính Công của họ là s-u tầm tài liệu và viết về Nguyễn Công Trứ
Trang 34Năm 1939 xuất hiện bài viết hay và rất sâu sắc của L-u Trọng L- trên tạp chí Tao đàn Đây là bài viết trúng thần của Nguyễn Công Trứ nh-ng lại ngắn gọn, d-ới dạng tài tử L-u Trọng L- nhận thấy sự kết hợp nhiều mặt thậm chí trái ng-ợc nhau trong Nguyễn Công Trứ và các mặt này không đối lập, trái ng-ợc, bài trừ nhau
Đến năm 1943, Tr-ơng Tửu- Nguyễn Bách Khoa với công trình khá dày
dặn: Tâm lý và t- t-ởng Nguyễn Công Trứ Về cơ bản, đây là một công trình
đ-ợc viết theo quan niệm mác xít và vẫn theo cách viết của ông, một nhà nghiên cứu có con mắt sắc sảo nh-ng cũng rất cực đoan Tuy nhiên đây cũng là một công trình có nhiều đóng góp trong nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ Trong lời tựa, Tr-ơng Tửu cho rằng khảo cứu văn tài của Nguyễn Công Trứ phải theo
“phương pháp duy vật biện chứng, là cái phương pháp khoa học cao nhất, hiệu nghiệm nhất trong tư tưởng giới hiện đại của loài người” [20, 579] Từ đây ông phê phán học thuyết “dung tục và cơ khí” của Taine Theo ông, để giải thích “cá nhân đặc biệt” phải bắt đầu từ nguyên tắc căn bản của Marx: “Con người là một sản vật kết tinh của những tương quan xã hội” Và “Trong lúc hành động để xử trí thế giới tự nhiên ở bên ngoài, con ng-ời cũng biến đổi luôn cả bản chất của mình nữa”[20, 577] Nhiều ý kiến của các nhà phê bình theo h-ớng mác xít: P.Lafargue; G.V.Plekhanof…được ông tán thành và lấy làm tiêu chuẩn khi nghiên cứu phê bình văn học: “Nhà văn bao cũng đóng đanh vào hoàn cảnh xã hội của mình” (P.Lafargue)[20, 578], “Khi nào nhận thức sự xung đột của đẳng cấp và khi nào đã nghiên cứu mọi hình thức tiến triển, mọi sắc thái phức tạp của cuộc xung đột ấy thì mới có thể giải thích đ-ợc gọi là chu đáo một chút sự tiến hoá tinh thần của xã hội” (P.Lafargue)[20, 579]
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam có nhiều biến động, giai cấp thống trị không còn năng lực quản lý và lãnh đạo nhà n-ớc, mà lao vào cảnh ăn chơi truỵ lạc và tranh giành quyền lợi, sinh ra đâm chém lẫn nhau Ông nhận xét: “Quý tộc thì dâm dục, bạo ngược như Trịnh Sâm, Đặng Lân; võ quan thì mê tín, tham lam và hèn nhát nh- Phạm Ngô Cầu; văn quan thì đàm điếm xu
Trang 35nịnh nh- Nguyễn Khản Sự thối nát của nền thống trị cuối đời Trịnh Sâm thật lả cùng cực vây”[20, 603] Từ đó kéo theo các ngành kinh tế: Nông nghiệp đình
đốn, kinh tế hàng hoá không có điều kiện phát triển, công th-ơng nghiệp dẫm chân tại chỗ, đời sống nhân dân đói kém Trong lịch sử, tr-ớc đây ch-a từng có các cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra gay gắt nh- giai đoạn này suốt từ Bắc chí Nam, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn “Trong tình trạng đổ nát ấy, kẻ chịu thiệt thòi nhất là bọn cựu sĩ phiệt… chỉ còn biết can tâm chịu số phận tàn tạ lấy câu
“quân tử ưu đạo bất ưu bần” của đức Khổng làm châm ngôn để tự an ủi”[20, 603]
Từ 1792 ( vua Quang Trung định lập Sùng Chính th- viện) đến 1815 ( vua Gia Long công bố luật 28 quyển), với xu hướng chính trị “Tống Nho” của các nhà cầm quyền đã đem đến cho Nguyễn Công Trứ những “triển vọng đẹp đẽ về
sự nghiệp t-ơng lai Triển vọng chính là cội rễ của tính lạc quan chứa chan trong tâm hồn Nguyễn Công Trứ buổi thiếu thời Vì thế trong cảnh nghèo cay cực Nguyễn Công Trứ vẫn thấy đời mình nhiễm một phong vị riêng, làm bằng lạc quan và hy vọng, nhất là hy vọng”[20, 604]
Với hoàn cảnh xã hội đó và số phận đẳng cấp sĩ phiệt Nho giáo mà Nguyễn Công Trứ là một thành viên, là cơ sở để nhà phê bình giải thích mọi hiện t-ợng tâm lý và t- t-ởng của Nguyễn Công Trứ về cái nghèo, sự hành lạc và chí nam nhi
Nguyễn Công Trứ là một con ng-ời của tinh thần Nho giáo tích cực, là một
ông quan thanh liêm, rất chú ý đến cuộc sống của nhân dân và của toàn xã hội Thêm vào đó, cuộc sống riêng của nhà thơ cũng chịu nhiều khổ nhục, bất công cho nên ông dễ dàng nhận thấy bộ mặt xấu xa của xã hội phong kiến Thơ văn của ông ghi lại tình cảnh nghèo khổ của bản thân cũng nh- của tầng lớp nho sĩ
đ-ơng thời Tuy sống trong cái khổ và cũng chứng kiến nhiều cái khổ trong đời sống nh-ng bao nhiêu bài thơ của ông nói về cảnh nghèo lúc ch-a ra làm quan
đều bày ra cốt tính lạc quan tràn trề sức sống
Thân bát văn tôi đã xác vờ
Trang 36Trong nhà còn biết bán chi giờ?
Của trời cũng muốn, không thang bắc Lộc thánh còn mong lục sách chờ Thiên tử nhất văn rồi chẳng thiếu Nhân sinh tam vạn hãy còn thừa Đã không nhất sách kêu chi nữa Ông lão tha cho cũng đ-ợc nhờ
Bây giờ nghèo đấy, túng thiếu đấy nh-ng đang tích cực học hành đợi ngày
đỗ đạt, lúc ra làm quan thiếu gì bổng lộc của triều đình
Đóng góp đầu tiên của Tâm lý và t- t-ởng của Nguyễn Công Trứ đã cho ta
có một cái nhìn khái quát về đẳng cấp, thời đại cũng nh- những tác động của nó trong quá trình hình thành tâm lý và t- t-ởng Nguyễn Công Trứ Tuy nhiên, điều
đầu tiên trong công trình nghiên cứu này của Tr-ơng Tửu là lòng nhiệt tình của một cây bút luôn đề cao phương pháp “phê bình khoa học” Phê bình văn học vốn
có một nhiệm vụ đặc thù, nó đ-ợc xem nh- là ng-ời đại diện ý thức của một nền văn học, là ng-ời phát ngôn t- t-ởng của một khuynh h-ớng, một trào l-u, là sự tác động trực tiếp đến ng-ời sáng tác và công chúng bạn đọc Chính vì thế, phê bình văn học là một bộ phận của quá trình văn học Ông đ-ợc xem là một trong những cây bút tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học của thế kỷ
XX, đã đem hết tâm huyết của mình vào trong các công trình nghiên cứu dù ph-ơng pháp nghiên cứu của ông còn nhiều bất cập Điều đó cho thấy, sự đi tr-ớc một b-ớc trong lĩnh vực phê bình của Tr-ơng Tửu so với các nhà phê bình
đ-ơng thời nh- Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan
Giữa cái bề bộn của cuộc sống hiện tại (1943), Tr-ơng Tửu quay về với những tác phẩm của tác giả văn học giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
để tìm hiểu về cuộc sống, về tâm lý và t- t-ởng của một nhà nho trong thời đại
đang có nhiều thay đổi để chuẩn bị b-ớc sang một giai đoan, một thời kỳ mới của lịch sử cũng nh- của văn học Với quan điểm, phê bình văn học phải tìm hiểu cá tính nhà văn bởi “cá tính là thể cách riêng của một nhà văn Nhờ có cá tính mà
Trang 37mỗi ng-ời chúng ta cảm xúc, suy nghĩ và hành động một cách khác, không ai giống ai” Cũng chính vì thế mà từ việc tìm hiểu về thời đại, về đẳng cấp và qua một số các sáng tác, Tr-ơng Tửu đã cho chúng ta thấy rất rõ tâm lý, t- t-ởng của Nguyễn Công Trứ từ thuở hàn vi đến khi làm quan
Tác giả Tâm lý và t- t-ởng của Nguyễn Công Trứ đã cho độc giả thấy một
phẩm chất đáng quý và cần phải có ở mỗi con ng-ời đó chính là sự lạc quan, là niềm tin vào bản thân và cuộc sống không chỉ riêng Nguyễn Công Trứ mà còn với cả chúng ta Dù cuộc sống nghèo khó, con đ-ờng học hành thi cử lận đận nhưng mỗi lần đi thi là mỗi lần Nguyễn Công Trứ chứa chan hy vọng được “bảng vàng bia đá, cờ quạt vinh quy” cho “rõ mặt anh hùng” Đến khi thi trượt, ông lại
tự động viên để giữ vững chí tiến thủ bằng câu nói của cổ nhân: “người nào tài ba xuất chúng thì thường gặp gian truân thử thách” Ngoài ba mươi mà vẫn “khắp
đông tây nam bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác” nh-ng ông vẫn tin ở vận mình, chí nguyện của mình “Nợ nần dan díu” mà vẫn ung dung vì
ông tin rồi sẽ có ngày ông thành danh Chính điều đó luôn kích thích ông, khơi dậy niềm tin trong ông, cho ông thêm “dũng khí” thêm lòng kiên trì, thiên hạ có chê c-ời ông nghèo và thi tr-ợt mãi thì ông triết lý:
Vận chuyển cơ giời nghĩ càng mầu Chắc rằng ai đói chắc ai giầu?
Cuối tết mới hay rằng sớm muộn Giữa vời sao đã biết nông sâu?
Trương Tửu nhận xét: “Nội một cái tinh thần cương nghị ấy cũng đủ để ông tiêu biểu cho cái khí trung hưng đang bồng bột của đẳng cấp cựu sĩ phiệt” “Là một phần tử của sĩ phiệt đảng trung h-ng đó, Nguyễn Công Trứ đã biểu hiện
đ-ợc tinh thần lạc quan của đẳng cấp mình Cho nên tuy nghèo mà vẫn vui, thi trượt mà vẫn tin rằng sẽ đỗ, bị coi khinh mà vẫn tự hào sẽ “xênh xang hội gió mây”, không lúc nào thối trí nản lòng hoặc chán đời buồn bã”[20, 608]
Tuy nhiên để thấm thía hơn với cái nghèo đó, Tr-ơng Tửu đã phân tích, bình
phẩm Hàn nho phong vị phú Nếu nh- ở những bài thơ trên ta luôn bắt gặp một
Trang 38tinh thần lạc quan, tràn đầy niềm tin vào bản thân và cuộc sống thì ở bài thơ này
ta lại bắt gặp một thái độ thù ghét, hậm hực bởi “ông biết rằng trên cõi đời này không có cái gì xấu bằng sự cơ hàn - không phải ông chỉ biết bằng kinh luận, bằng ngạn ngôn mà biết bằng kinh nghiệm”[20, 612] Đây cũng là thời kỳ xuất hiện hạng phú hộ - những kẻ giàu có, khinh miệt những kẻ nghèo hơn họ và đang chiếm đa số trong ngạch quan liêu bao cấp, trong khi đó lớp quý tộc và cựu sĩ phiệt đang tàn tạ và khánh kiệt, bản thân ch-a đỗ đạt nhà cửa bị loạn ly tàn phá hết Chính vì thế, ông lại càng thấm thía hơn, tủi nhục hơn với cảnh nghèo của mình Tuy nghèo là vậy, tủi nhục là vậy nh-ng Nguyễn Công Trứ vẫn giữ trọn khí tiết của một nhà nho: “Nghèo mà ghét sự nghèo, căm hờn bọn phú hộ vẫn phải đến vay tiền của chúng, nhục mà không dám làm bậy, hy vọng ở t-ơng lai khanh t-ớng để tạm thời lạc đạo vong bần: đó là tất cả cái phong vị hàn nho của Nguyễn Công Trứ”[20, 614]
Theo Tr-ơng Tửu, Hàn nho phong vị phú không phải là sự “thi hoạ cuộc
sống thiếu thốn”, giễu cái nghèo vốn quen thuộc với các nhà nho Để hiểu hết cái
“phong vị” của nó, cần phải thấy ở đây một “thái độ chống phú hộ” Phong vị
“chua chát, căm hận buồn thảm” ở bài phú là phản ảnh thái độ của đẳng cấp nho
sĩ đang thất thế đối với đẳng cấp phú hộ, đại biểu của kinh tế thành thị đang lên
Từ quan niệm xã hội học và đấu tranh đẳng cấp, Tr-ơng Tửu lần l-ợt đi vào phân tích làm rõ sự hình thành tâm lý và t- t-ởng của Nguyễn Công Trứ trong xã hội đầy biến động Với thái độ chống lại bọn phú hộ đương thời đã “trực tiếp đưa
ông đến với quan niệm “hành lạc” và quan niệm “tang bồng hồ thỉ” để ông có
điều kiện mà giầy đạp lên cái triết lý vụ lợi thấp hèn của bọn phú hộ đ-ơng thời”[20, 616] Sự hành lạc ấy đ-ợc thể hiện rõ nhất ở hát ả đào bởi theo Tr-ơng Tửu, với Nguyễn Công Trứ hát ả đào là “một phương tiện hành lạc lý thú nhất, gồm đủ cả cầm kỳ thi tửu, phong vân tuyết nguyệt, lưu thuỷ cao sơn”[20, 623]
Và một lần nữa Trương Tửu lại khẳng định: “Chỉ có hát ả đào là kích thích đủ các giác quan đang thèm sống Chỉ có lối chơi ấy là thoả mãn đ-ợc con ng-ời một cách cầu kỳ, quý tộc Sống bằng giác quan, bằng tình dục, bằng các thứ vật
Trang 39chất bác tạp, nh-ng vẫn giữ đ-ợc tính cách quý tộc không lẫn với các đẳng cấp xã hội khác, đó là tất cả nguyện vọng hành lạc của Nguyễn Công Trứ Và chỉ có
sự hát ả đào là giúp ông đạt được ý muốn ấy”[20, 627]
Nh- trên ta đã nói, hành lạc là một cách để Nguyễn Công Trứ chống lại phú
hộ, thế lực chỉ biết làm việc và kiếm tiền, đang chiếm đa số các vị trí lãnh đạo của xã hội Tuy nhiên ta cũng nhận ra đây là một cách đấu tranh mang h-ớng tiêu cực bởi muốn dành lại vị thế của mình trong xã hội thì tr-ớc hết phải khẳng
định đ-ợc năng lực trí tuệ và phải đấu tranh bằng con đ-ờng chính trị Chính vì lẽ
đó, Nguyễn Công Trứ muốn đỗ đạt và ra làm quan để thể hiện cái chí nam nhi của người quân tử, là một món “nợ lần” cần phải trả Quan niệm đó đ-ợc nhắc đi nhắc lại d-ới ngòi bút thi ca của Nguyễn Công Trứ và nó cũng chính là lý t-ởng sống của nhà thơ khi còn đầu xanh tuổi trẻ:
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Bằng sự phân tích của mình, Tr-ơng Tửu đã xác định nội dung của quan niệm ấy là do sự cấu tạo trực tiếp của ba yếu tố: “Sự hun đúc của thời nội loạn; Tâm lý tự cao tự đại của quý tộc; Khí thế trung hưng của sĩ phiệt” Ba yếu tố này kết hợp với nhau “để sản xuất ra cái chí nam nhi của chàng thanh niên Nguyễn Công Trứ” Cũng cần phải nói rằng: “Mệnh đề “nam nhi chí” dĩ nhiên không phải chờ đến Nguyễn Công Trứ mới xuất hiện, nh-ng trong thơ văn ông nó thực
sự trở nên nh- một tuyên ngôn, một quan niệm nhất quán, bền vững, một t- t-ởng sáng tạo với nhiều nội dung mới mẻ, độc đáo, ấn t-ợng, không khuôn sáo”[15] Cũng bởi cái chí nam nhi đó đã tạo nên “cuộc kích bác nội tại”, để đến năm 42 tuổi (1819) ông đậu giải nguyên và bắt đầu một cuộc đời làm quan Khi Nguyễn Công Trứ ra làm quan là lúc xã hội Việt Nam cũng nh- nền đế chế của triều Nguyễn bắt đầu có những thay đổi về mặt hình thái và xu h-ớng phát triển
Có thể nói, đây là một thời kỳ có nhiều biến động nên sự nghiệp chính của ông
Trang 40trên con đường “hoan lộ” là “sự nghiệp “vi thần” xứng đáng là một tay sĩ phiệt Tống Nho”[20, 654], đúng nh- lời ông nói:
Nặng nề thay hai chữ quân thân Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ!
Biện Minh Điền cho rằng: “Nói đến Nguyễn Công Trứ người ta thường nghĩ
đến con người “ngoài vòng cương toả” trong ông Nhưng thực ra đấy mới chỉ là một mặt Tr-ớc khi đề cao con ng-ời ngoài vòng c-ơng toả, con ng-ời cá nhân sống theo ý thích của mình, bao giờ Nguyễn Công Trứ cũng xác định rõ phải là
con người phận sự, “hoàn danh” đã… Phận sự là gánh càn khôn, công danh, sự
nghiệp, chí tang bồng, đ-ờng trung hiếu, chữ quân thân, trên vì n-ớc d-ới vì nhà…mà đấng nam nhi không thể trốn tránh, chối từ Ngược lại phải tính cho
xong, Nợ trần hoàn quyết trả cho xong Bao nhiêu nợ tang bồng đem trả hết
Nhân cách là ở chỗ đó Cái hơn ng-ời của Nguyễn Công Trứ là nói đ-ợc làm
được”[15]
Thiết tưởng với cái “tinh thần trung trinh” ấy, ông sẽ được vua yêu chúa mến, triều đình kính nể Ng-ợc lại ông toàn nhận lại sự “thù ghét, bạc đãi, hành hạ” từ phía đó Để giải thích vì sao Nguyễn Công Trứ phải chịu nỗi “khảm kha bất bình” ấy, Trương Tửu đã dẫn ra lời của giáo sư Lê Thước làm cơ sở cho sự phân tích của mình: “Xét ra cụ Nguyễn Công Trứ làm quan sở dĩ hay bị truất giáng nh- thế là bởi tại cụ cũng có; ng-ời có tài th-ờng hay cậy tài và hay mang oán nh-ng phần nhiều là bởi tại nhà vua không muốn trọng dụng cụ… Nhà vua thấy
cụ có tài cao đức trọng ai cũng kính phục không muốn để cái thanh thế cụ lớn lên quá, sợ khó giá ngự về sau, vì thế cho nên đã lấy ân mà cất lên lại phải dùng oai
mà cất xuống”[20, 657] Từ lời nhận xét đó, Tr-ơng Tửu đã phân tích tìm hiểu
để đ-a ra lý do mà triều đình phong kiến lúc bấy giờ đã đối xử với Công Trứ
Ông cho rằng, để dẫn đến hiện tượng “người tài hay cậy tài” và cả “độ phạm th-ợng của ng-ời có tài nữa cũng không hẳn chỉ là tính khí cá nhân mà thôi Căn nguyên ấy còn là sự tổ chức bất hợp lý của xã hội” Nếu chỉ có vậy để cắt nghĩa nguyên nhân chìm nổi của Nguyễn Công Trứ thì ch-a xác đáng nên mới dẫn đến