Đối t-ợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
Đối t-ợng Đề tài nghiên cứu về giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ năm
- Nghiên cứu các tiền đề cho sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan trong lịch sử
- Dựng lại sự giao l-u văn hoá Việt Nam – Thái Lan từ 1976 đến nay
- Nghiên cứu những đóng góp tích cực của Việt kiều Thái Lan đối với sự giao l-u văn hoá Việt - Thái từ 1976 đến nay
Nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong lĩnh vực giao lưu văn hóa từ năm 1976 đến nay, dựa trên các hoạt động trao đổi văn hóa giữa hai quốc gia Đề tài cũng phân tích vai trò của cộng đồng người Việt kiều tại Thái Lan trong quá trình thúc đẩy và duy trì mối quan hệ văn hóa Việt Nam - Thái Lan Các nội dung chính bao gồm các hoạt động văn hóa, giao lưu cộng đồng và ảnh hưởng của cộng đồng người Việt tại Thái Lan đối với quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia.
Phuơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này dựa trên phương pháp truyền thống như phương pháp lịch sử và logic, nhằm đảm bảo độ chính xác và tính khoa học của phân tích Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp sơ tầm và xử lý tài liệu liên quan để mở rộng phạm vi nghiên cứu và đảm bảo tính đa chiều của thông tin Các nguồn tài liệu được thu thập chủ yếu từ các viện nghiên cứu, đặc biệt là Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, các viện nghiên cứu của các trường đại học, Bộ Ngoại giao Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam, nhằm cung cấp dữ liệu đáng tin cậy và cập nhật.
Đóng góp của đề tài
- Đề tài đã dựng lên cái nhìn tổng quan về giao l-u văn hoá Việt Nam
- Thái Lan từ 1976 đến nay Điều đó, giúp tăng thêm tình đoàn kết và thân thiện giữa hai n-ớc
Việt kiều Thái Lan đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Thái Lan Những đóng góp tích cực của cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan đã góp phần nâng cao hiểu biết và thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước Nghiên cứu đề tài này đã làm rõ vai trò của Việt kiều trong việc lan tỏa giá trị văn hoá và chia sẻ tình cảm Việt Nam - Thái Lan Chính phủ và các cơ quan liên quan cần thúc đẩy các chính sách phát huy nhân tố Việt kiều để tăng cường sự gắn bó và hợp tác giữa hai quốc gia trong lĩnh vực văn hóa Sự đóng góp của cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan không chỉ giúp duy trì nền văn hóa Việt Nam tại đất khách mà còn góp phần vào sự phát triển và thắt chặt quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai dân tộc.
Bè côc
Điều kiện tự nhiên và kinh tế
Là hai n-ớc cùng nằm trong khu vực Đông Nam á lục địa, điều kiện tự nhiên của Việt Nam và Thái Lan có khá nhiều điểm t-ơng đồng
Việt Nam và Thái Lan có kiến tạo địa lý tương đối giống nhau với đặc điểm địa thế thấp dần từ tây sang đông, có độ dốc thoải ra biển, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao thông vận tải Địa hình của cả hai quốc gia đều đa dạng, gồm đồng bằng, cao nguyên và rừng núi, góp phần tạo nên cảnh quan phong phú và sự đa dạng sinh học phong phú Sự đa dạng về địa hình không chỉ góp phần làm phong phú cảnh quan mà còn thúc đẩy hệ sinh thái đa dạng, nâng cao giá trị sinh thái của khu vực.
Việt Nam và Thái Lan nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Cả hai nước đều có hệ thống sông ngòi phong phú, như sông Hồng và sông Cửu Long của Việt Nam, cùng sông Mêkông và sông Chao Phraya của Thái Lan, tạo thành mạng lưới sông ngòi dày đặc Những con sông lớn này là nguồn cung cấp nước ngọt lớn, mang phù sa tích tụ để bồi đắp đồng bằng và bình nguyên màu mỡ, góp phần vào sự phát triển bền vững của các khu vực nông nghiệp.
Việt Nam và Thái Lan có hệ sinh thái tự nhiên và cơ cấu cây trồng tương đồng do sự giống nhau về địa hình và khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, mang lại nhiều nét đặc trưng chung Các khu rừng nhiệt đới ở hai quốc gia này đều sở hữu nhiều loại gỗ quý hiếm, tre, nứa, lá dùng trong xây dựng và chế tác công cụ Rừng còn cung cấp đa dạng củ quả, trái cây ngon, trở thành nguồn thực phẩm phong phú cho người dân Đồng thời, khu rừng là nơi sinh sống của nhiều loài thú và chim, góp phần phát triển hoạt động khai thác thực phẩm tự nhiên Lượng mưa lớn, hệ thống sông ngòi phong phú như sông Mêkông và sông Hồng, tạo điều kiện thuận lợi cho nghề đánh cá truyền thống của cư dân Việt Nam và Thái Lan.
Sự tương đồng về điều kiện tự nhiên và khí hậu đã dẫn đến nền kinh tế đa dạng của các cộng đồng dân cư bản địa ở Việt Nam và Thái Lan, trong đó nông nghiệp lúa nước giữ vai trò trung tâm Người Thái Lan và Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong phát triển cây lúa, đặc biệt khi họ ứng dụng thủy lợi vào nghề trồng lúa trên các thung lũng hẹp dưới chân núi và đồng bằng ngập nước Họ đã sáng tạo nhiều phương thức thủy lợi phù hợp với các địa hình khác nhau, từ việc chiếm lĩnh các đồng bằng rộng lớn đến mở rộng ra biển Các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra mối liên hệ về giống lúa giữa Việt Nam và Thái Lan, như nhóm giống Indica ở miền Nam, nếp Indica ở Bắc và nhóm nếp Japonica phân bố ở Bắc Việt Nam và Bắc Thái Lan.
Sự tương đồng về điều kiện tự nhiên và cơ sở kinh tế đã giúp người Việt và người Thái có nhận thức và thái độ gần gũi với nhau hơn, thúc đẩy sự giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia Để thích nghi với môi trường và phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, hai dân tộc thể hiện thái độ khoan dung, tinh thần hòa hợp, cùng khả năng sáng tạo trong việc tiếp thu văn hóa láng giềng Người Thái có lối ứng xử mềm mại và linh hoạt, như lời của một nhà nghiên cứu ví von “giống như một dòng nước chảy cứ tìm chỗ trũng mà tràn tới”, thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan chung giữa người Việt và người Thái Những nét tương đồng này đã trở thành truyền thống trong nhận thức và hành xử của hai dân tộc, góp phần làm cho quan hệ trở nên dễ dàng hơn và các hoạt động giao lưu văn hóa thuận lợi hơn.
Sự đồng bộ về cơ sở kinh tế đã đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ và giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Thái Lan qua các giai đoạn lịch sử Khi nền sản xuất lúa nước phụ thuộc nhiều vào thời tiết và năng suất còn yếu, việc đảm bảo nhu cầu lương thực là một thách thức lớn, khiến hai quốc gia này có khả năng phối hợp chặt chẽ hơn Vị trí địa lý gần gũi cùng nền kinh tế tương đồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa và hợp tác phát triển Thực tế, yếu tố tự nhiên và kinh tế đã thúc đẩy mạnh mẽ mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan, từ đó góp phần phát triển các mối quan hệ văn hóa giữa hai quốc gia Hiện nay, nền kinh tế ngày càng trở thành động lực chính thúc đẩy quan hệ ngoại giao và hợp tác, giúp Việt Nam và Thái Lan ngày càng gắn kết và phát triển toàn diện hơn.
Cơ sở và quá trình phát triển văn hoá
Việt Nam và Thái Lan chia sẻ nhiều nét văn hóa đặc trưng bắt nguồn từ cùng một nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, tạo nên nền tảng chung trong đời sống và tư duy Hai quốc gia có điểm tương đồng trong quan điểm thế giới và nhân sinh quan, phản ánh sự đồng điệu trong cách nhìn nhận cuộc sống Quá trình giao lưu văn hóa lâu dài qua các thời kỳ lịch sử đã giúp hai nước tiếp thu và truyền tải giá trị văn hóa của nhau, làm phong phú thêm nền văn hóa chung Ngoài ra, ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài cũng góp phần thúc đẩy sự giao lưu và hòa quyện văn hóa giữa Việt Nam và Thái Lan, góp phần tăng cường mối quan hệ văn hóa xuyên suốt các giai đoạn lịch sử.
Việt Nam và Thái Lan đều nằm trong khu vực Đông Nam Á, trung tâm cổ của châu Á với nền văn hóa đa dạng, thống nhất trong sự đa dạng đó Từ thời xa xưa, hai nước đã sáng tạo ra các nền văn minh nông nghiệp lúa nước, gồm ba yếu tố chính: văn hóa đồng bằng, văn hóa núi và văn hóa biển, trong đó văn hóa đồng bằng đóng vai trò chủ đạo Trên nền tảng của nền văn minh lúa nước này, cư dân bản địa tại Việt Nam và Thái Lan đã xây dựng những nền văn hóa truyền thống đặc sắc, mang đậm nét dân tộc nhưng vẫn có nhiều điểm tương đồng Những nét văn hóa truyền thống này thể hiện rõ từ đời sống vật chất đến tinh thần, từ các yếu tố của văn hóa lúa nước đến đời sống làng bản, từ hoạt động tâm linh đến các hoạt động tôn giáo Chúng gắn bó xuyên suốt quá trình lịch sử, tồn tại từ quá khứ đến hiện tại, phản ánh sự liên kết văn hóa bền chặt giữa hai quốc gia trong vùng Đông Nam Á.
Trong không gian sinh tồn, cư dân bản địa tại Thái Lan và Việt Nam xưa sống tập trung theo cấu trúc làng xã dựa trên tinh thần cộng đồng, phản ánh sự cần thiết của hợp tác trong khai thác rừng rú, nông rẫy, đắp đê chống lũ và lấn biển, vét sông Các tổ chức làng xã đã duy trì sự bền vững dựa trên các gia đình và họ tộc, sau này được phát triển thành khái niệm quốc gia, thể hiện sự gắn kết và hợp tác cộng đồng trong lịch sử phát triển của các quốc gia này.
Vai trò của người phụ nữ trong các xã hội nông nghiệp vô cùng quan trọng, khi họ cùng nam giới lao động trong công việc canh tác, trông nom vườn tược, chăn nuôi gia súc và nuôi dạy con cái Chính nhờ những đóng góp này, dân Việt Nam và Thái Lan thời kỳ xa xưa đã duy trì chế độ mẫu hệ, ảnh hưởng sâu sắc đến các yếu tố văn hóa và cuộc sống hiện tại.
C- dân bản địa ở các nền sản xuất nông nghiệp lúa n-ớc nh- Thái Lan và Việt Nam đã sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần mang nhiều nét t-ơng đồng Các sinh hoạt văn hoá tinh thần của ng-ời Thái Lan và Việt Nam thời x-a th-ờng gắn chặt với nghề trồng lúa n-ớc Họ đều có những phong tục tập quán và các lễ nghi nông nghiệp nh- thờ cúng tổ tiên, các tín ng-ỡng đa thần, nhất là các sinh hoạt nông nghiệp và hội mùa
Người nông dân trồng lúa nước ở Việt Nam và Thái Lan thời xưa luôn coi trọng các yếu tố tự nhiên như mặt trời, nước, mưa, gió, vì họ tin rằng những hiện tượng này mang lại mùa màng bội thu Tín ngưỡng thờ tự nhiên đã trở thành phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của họ, với các hiện tượng tự nhiên được thờ cúng như các vị thần linh Những nét tín ngưỡng nguyên thủy này vẫn còn tồn tại và ảnh hưởng sâu sắc đến tín ngưỡng dân gian Việt Nam và Thái Lan ngày nay.
Lễ hội là hoạt động văn hóa tinh thần quan trọng không thể thiếu của các cộng đồng nông nghiệp trồng lúa nước, đặc biệt ở Việt Nam và Thái Lan, thường diễn ra vào đầu xuân hoặc sau mùa gặt Trong các lễ hội này, các trò diễn phản ánh cuộc sống của nông dân gắn liền với nghề trồng lúa, như rước nước hay té nước, thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống Những nét đẹp văn hoá này đóng vai trò như một "bảo tàng tâm thức," giữ gìn các giá trị văn hóa và sinh hoạt của người dân lao động trong quá khứ Đến ngày nay, những giá trị này vẫn tồn tại trong đời sống tinh thần của người Việt Nam và Thái Lan Lễ hội Songkran của người Thái, với tục tạt nước đón mừng năm mới, là biểu tượng của sự giữ gìn và truyền bá các nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Thái.
Trong quá trình phát triển của lịch sử, văn hoá Việt Nam và Thái Lan đã chịu ảnh hưởng từ các nền văn hoá bên ngoài, góp phần tạo ra những điểm tương đồng về văn hoá giữa hai quốc gia Cả Việt Nam và Thái Lan đều nằm trong khu vực giao lưu của văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ, đồng thời bị ảnh hưởng bởi các nền văn hoá này Sau đó, hai quốc gia tiếp tục chịu tác động của văn minh phương Tây, góp phần vào sự đa dạng và phong phú của nền văn hoá mỗi nước.
Từ trước Công nguyên, các đoàn thương nhân và nhà truyền giáo ấn Độ đã đến Việt Nam và Thái Lan, mở rộng ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo Vào các thế kỷ đầu Công nguyên, cả hai quốc gia đều chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Đại Hán, ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền văn hóa và xã hội của họ Đến thế kỷ XIX, làn sóng văn minh phương Tây tràn vào Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam và Thái Lan, thúc đẩy quá trình giao lưu và tiếp nhận các giá trị mới Quá trình hỗn dung văn hóa của hai nước ngày càng nhiều điểm giống nhau, góp phần làm phong phú và đa dạng nền văn hóa của Việt Nam và Thái Lan.
Trong suốt lịch sử, cả Việt Nam và Thái Lan đều chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa ngoại vi, tuy nhiên, các tôn giáo và tư tưởng bên ngoài đã thích nghi và hòa quyện vào văn hóa truyền thống của từng quốc gia Những tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo và Hồi giáo đã được Việt Nam và Thái Lan linh hoạt tiếp nhận, biến đổi thành phần nội tại hoặc chỉ là lớp vỏ ngoại thất nếu không thể hội nhập Điều này thể hiện rõ hiện tượng các yếu tố ngoại nhập sau khi hòa quyện hoặc bị làm mờ đi, tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của hai đất nước.
Trước khi Phật giáo thâm nhập vào Việt Nam và Thái Lan, người Thái và người Việt đã tồn tại các hình thức thờ thần linh và gia tiên, phản ánh thế giới quan sơ khai nhưng mang đậm tinh thần cộng đồng và hướng thiện Phật giáo đến gần gũi với các quan niệm về thế giới và đạo đức của hai dân tộc, góp phần củng cố các truyền thống tôn giáo sẵn có mà không làm mất đi bản sắc văn hoá địa phương Trong quá trình tiếp nhận, người Việt và người Thái kết hợp Phật giáo với tín ngưỡng thần linh, tạo ra hình thức Phật giáo mang đặc sắc riêng, vừa mới vừa thân thuộc, phù hợp với đời sống tâm linh và các giá trị truyền thống của họ Phật giáo không trở thành triết lý cao siêu về bản ngã hay Niết Bàn, mà chủ yếu hướng tới luân thường đạo lý, làm nền tảng cho các hoạt động xã hội và các lễ hội dân gian trong cộng đồng Ngôi chùa không chỉ là nơi tu hành mà còn là trung tâm văn hóa, nơi diễn ra các hoạt động văn nghệ, góp phần xây dựng đời sống tinh thần và truyền thống của địa phương Trong suốt lịch sử, Phật giáo đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những con người có tư duy cao thượng, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển bền vững Chung một truyền thống Phật giáo đã giúp hai dân tộc Việt Nam và Thái Lan gần gũi, hiểu nhau hơn qua thời gian, tạo nên mối liên hệ văn hóa sâu sắc.
Trong quá trình phát triển văn hoá của hai dân tộc Việt Nam và Thái Lan, có nhiều điểm tương đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ văn hoá qua các thời kỳ lịch sử Các giá trị chung góp phần duy trì sự ổn định trong giao lưu văn hoá giữa hai nước, không bị cản trở bởi mâu thuẫn văn hóa Lịch sử quan hệ ngoại giao của Việt Nam và Thái Lan ghi nhận nhiều lần đối đầu, nhưng chưa từng có xung đột về mặt văn hoá Sau những xung đột, hai nước không để lại thù hằn hay mâu thuẫn sâu sắc, giúp duy trì mối quan hệ hợp tác và giao lưu văn hoá ổn định, bền vững.
Dù văn hoá Việt Nam và Thái Lan có nhiều điểm tương đồng, nhưng mỗi dân tộc đều giữ gìn giá trị và bản sắc văn hoá riêng biệt Trong quá trình giao lưu văn hoá, hai nước có thể bổ sung và học hỏi lẫn nhau dựa trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển bền vững.
Trong lịch sử phát triển, giao lưu văn hoá là nhu cầu thiết yếu của tất cả các quốc gia để đảm bảo sự sống còn và phát triển Sự tương đồng trong nền tảng và quá trình phát triển văn hoá của Việt Nam và Thái Lan đã tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác văn hoá giữa hai nước Những giá trị chung trong văn hoá truyền thống của người Việt và người Thái góp phần xây dựng mối quan hệ thân thiết, sâu sắc hơn giữa nhân dân hai quốc gia Trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá, các điểm tương đồng văn hoá truyền thống trở thành những yếu tố hợp lý thúc đẩy giao lưu, hợp tác và hạn chế mâu thuẫn, tranh chấp giữa Việt Nam và Thái Lan.
Các liên hệ c- dân trong lịch sử và quan hệ tộc ng-ời
Quan hệ cận hệ dân trong lịch sử và mối quan hệ đồng tộc trong thành phần dân tộc đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Thái Lan Trước khi người Thái lập quốc tại khu vực hiện nay, họ đã sinh sống lâu dài ở miền Nam Trung Quốc và phía Bắc bán đảo Ấn Độ, cùng khu vực với các dân tộc Bách Việt Tổ tiên của người Thái Lan ngày nay là các nhóm tộc người Thái cổ, có quê hương xa xưa ở miền Tây Nam Trung Quốc Từ thế kỷ I, các nhóm Thái cổ đã xuất hiện rải rác khắp miền Bắc và Đông Bắc Thái Lan, hình thành nên các mối liên hệ cận hệ dân trong lịch sử với cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Người Thái đã đến Việt Nam từ rất sớm, với nhóm nhỏ di cư cư trú tại đây từ thời cổ đại Khoảng đầu công nguyên, người Thái cổ ở Nam Trung Quốc bắt đầu di chuyển về phía Đông Bắc Việt Nam Đến thế kỷ X-XII, làn sóng di cư lớn của người Thái đen vào Tây Bắc Việt Nam đã biến vùng đất này thành quê hương thứ hai của người Thái tại Việt Nam Người Thái hiện nay đều nhận thức rằng quê hương xa xưa của họ nằm ở miền Tây Nam Trung Quốc Những tài liệu cổ của người Thái Việt Nam, như "Tày pú xấc", đề cập đến vùng đất tổ của người Thái là "Hin xam xảu, Nậm cẩu que, Pá Té Tao", tức là vùng đầu nguồn, nơi phát nguyên của chín con sông, bao quanh bởi ba rặng núi và kéo dài đến vùng hợp lưu của sông Đà và sông Hồng.
Hồng, hay còn gọi là vùng Bạch Hạc - Việt Trì ngày nay, là quê hương xa xưa của người Thái đen Việt Nam Trong sử thi của người Thái, như Quắm tố mơng, mô tả rõ rằng tổ tiên của người Thái Đen trước khi di cư vào Tây Bắc Việt Nam là từ vùng “Mường Ôm, Mường Ai”, nằm trong khu vực gồm 6 châu Thái Đây chính là vùng trên biên giới giữa Việt Nam, Lào và Trung Quốc ngày nay, nằm ở vùng Tây Nam Vân Nam, Trung Quốc.
Người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Việt Nam có nguồn gốc từ vùng Tây Nam tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Nghiên cứu cho thấy hai nhóm người này chia sẻ nhiều đặc điểm văn hóa chung, đặc biệt về chế độ hôn nhân tự do dựa trên luật tục truyền thống, khác biệt hoàn toàn với quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” của lễ giáo phong kiến, đồng thời thể hiện sự tôn trọng và xem trọng giá trị của người phụ nữ trong xã hội Thái Về quy mô và tính chất gia đình, cả hai nhóm đều xây dựng các gia đình nhỏ từ 2-3 thế hệ, mang đặc điểm song hệ, nhưng quá trình phát triển lịch sử và giao lưu văn hóa đã khiến gia đình người Thái Lan chịu ảnh hưởng nặng nề của chế độ mẫu hệ, còn người Thái Việt Nam sớm xác lập hệ phụ hệ Cả hai cộng đồng đều coi trọng tinh thần cộng đồng làng xã, gọi là Bản, đồng thời đều xây nhà có số gian và số bậc cầu thang lẻ để tránh dẫn ma vào nhà, phản ánh niềm tin tâm linh và phong tục truyền thống lâu đời.
Các nét chung về văn hóa giữa người Thái Lan và người Thái tại Việt Nam cho thấy họ có nguồn gốc từ các nhóm tộc người Thái cổ ở Tây Nam Trung Quốc Điều này giải thích phần nào sự đồng nhất trong phong tục, tập quán và giá trị văn hóa của hai nhóm dân tộc này Sự giống nhau về văn hóa phản ánh mối liên hệ lịch sử lâu đời và sự phát triển song hành của người Thái theo nhiều thế hệ Nhận định này giúp làm rõ hơn về nguồn gốc và bản sắc văn hóa của người Thái, góp phần làm sáng tỏ sự đa dạng và phong phú của di sản văn hóa Việt Nam và khu vực.
Các tộc người như Lào, Lự, Dao, Khơ mú sinh sống song song trên cả hai miền đất nước, hiện nay trở thành một bộ phận của cộng đồng dân tộc mỗi quốc gia Những mối liên hệ lịch sử giữa các tộc người tại Thái Lan và Việt Nam đã tạo ra sợi dây kết nối bền chặt giữa hai cộng đồng, đóng vai trò cơ sở cho sự hình thành và phát triển các mối quan hệ trong quá trình lịch sử.
Trong suốt chiều dài lịch sử, đã có nhiều cuộc di cư của người Thái sang đất Việt và người Việt sang đất Thái, thể hiện qua sự hiện diện của các cộng đồng dân tộc trong cả hai quốc gia "Ít nhất, từ thế kỷ VIII và nhất là trong đợt thiên di thế kỷ IX-X, người Thái đã di cư đến thượng nguồn sông Đà và hình thành các điểm tụ cư ở vùng Tây Bắc nước ta," cho thấy quá trình di cư của người Thái diễn ra lâu dài, có hệ thống và bắt đầu từ xa xưa Ngược lại, người Việt di chuyển sang đất Thái khá lẻ tẻ, không theo một quy luật rõ ràng, thường xuất phát từ các lý do tình thế, phản ánh qua các dấu vết của sự hiện diện của cộng đồng Việt trong cộng đồng dân tộc Thái Lan.
Các quan hệ đồng tộc và mối liên hệ lịch sử giữa Việt Nam và Thái Lan đã tạo điều kiện thúc đẩy sự gần gũi và hiểu biết giữa hai cộng đồng Những liên hệ này góp phần xây dựng nền móng vững chắc cho mối quan hệ giữa nhân dân hai quốc gia, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các mối liên hệ văn hóa và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau.
Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử dựa trên các tiền đề vững chắc Quá trình giao lưu văn hóa giữa hai nước đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng mối quan hệ ngày càng tốt đẹp hơn, tạo điều kiện thuận lợi, giảm thiểu xung đột và tăng cường những điểm tương đồng Nhờ vào nền tảng này, mối quan hệ song phương Việt Nam – Thái Lan ngày càng phát triển mạnh mẽ và bền vững.
Giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái lan tr-ớc 1976
Năm 1858 đánh dấu mốc quan trọng, mở đầu cho quá trình củng cố và phát triển quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Thái Lan trước đó Sự giao lưu này không bị gián đoạn nhờ vào diễn biến lịch sử, mặc dù cuộc xâm lược của thực dân Pháp và các xung đột chính trị, an ninh diễn ra trong khu vực Đông Nam Á đã gây ra nhiều thử thách Quá trình giao lưu văn hóa Việt - Thái trước 1858 đóng vai trò là nền móng quan trọng, tạo tiền đề cho mối quan hệ đối tác sau này, đặc biệt khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Thái Lan và bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, thúc đẩy hợp tác và giao lưu văn hóa bền vững hơn.
Theo tác giả Trần Thị Lý trong bài "Một số chứng cứ về mối quan hệ văn hóa Việt Nam – Thái Lan", hiện nay có nhiều chứng tích lịch sử minh chứng cho mối liên hệ văn hóa sâu sắc giữa Việt Nam và Thái Lan, bắt nguồn từ thời tiền sử và sơ sử Các bằng chứng này khẳng định giả thiết về sự giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia từ xa xưa, góp phần làm rõ mối quan hệ truyền thống và phát triển lâu dài giữa hai dân tộc.
Trước sự hiện diện của người Thái trên bán đảo Đông Dương và lãnh thổ Việt Nam, các dân tộc bản địa đã phát triển những nền nghệ thuật rực rỡ như nghệ thuật Phù Nam, Champa ở Việt Nam và nghệ thuật Srivijaya, Dvaravati ở Thái Lan Các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều tượng ấn Độ giáo và Phật giáo có niên đại từ thế kỷ đầu công nguyên rải rác khắp Đông Nam Á, tập trung nhiều nhất tại vùng Nam Bộ Việt Nam và bán đảo Mã Lai, trong đó có phần miền Nam Thái Lan ngày nay Những tượng này có điểm tương đồng đáng kể, thậm chí giống nhau về mặt hình thức, khiến người ta tin rằng chúng có nguồn gốc chung.
Trong các pho tượng ấn Độ giáo cổ, rõ nét nhất là những tượng thần Visnu mặc áo dài, xuất hiện dày đặc ở Nam Thái Lan và Nam Bộ Việt Nam với nhiều điểm giống nhau về hình dạng, nét mặt, trang phục và trang sức Đặc biệt, cách cầm vật trong tay các vị thần cũng có sự trùng lặp kỳ lạ; theo truyền thống, thần Visnu có bốn cánh tay và chiếc tù và thường nằm trong bàn tay phía sau, bên trái, giơ cao ngang vai Tuy nhiên, một số tượng thần Visnu ở Nam Thái Lan và Nam Bộ Việt Nam lại phá vỡ truyền thống này bằng cách chuyển chiếc tù và xuống bàn tay phía trước, bên trái ngang hông, thể hiện sự đa dạng trong cách thể hiện biểu tượng của các vị thần Tất cả các tượng thần Visnu đã được phát hiện ở Việt Nam đều có điểm chung như hình dáng giống tượng ở Nam Thái Lan, mặc áo dài, trán dô, nét mặt thô, đeo trang sức hình lưỡi liềm, và bàn tay trái cầm tù và đặt ngang hông, phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa hai khu vực này trong nghệ thuật và tín ngưỡng cổ đại.
Các tượng thần Surya được tìm thấy rải rác ở Nam Thái Lan và Nam Bộ Việt Nam cho thấy sự gần gũi về nghệ thuật giữa Việt Nam và Nam Thái Lan, mặc dù tượng Surya không phổ biến như tượng thần Vishnu ở khu vực Đông Nam Á Điển hình là tượng thần Surya bằng đá cao 0,90m, phát hiện tại Bathê (An Giang) hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử TP Hồ Chí Minh, và tượng Surya tại Srideb Thái Lan, đều có đặc điểm khuôn mặt ngắn, hơi dẹt, lông mày gồ cao, đội mũ hình bát giác – kiểu mũ đặc trưng trong nghệ thuật Srideb Thái Lan Cả hai tượng đều đeo vòng cổ nặng, loe phía trước, phản ánh phong cách phổ biến trong các tượng cổ của Nam Bộ Việt Nam, cho thấy sự tương đồng về phong cách nghệ thuật giữa hai vùng.
Những pho tượng Phật có niên đại sớm ở Việt Nam không nhiều, nhưng vẫn thể hiện sự gần gũi với các pho tượng Phật cổ đại từ Thái Lan Đặc biệt, các nhà khảo cổ đã phát hiện ở Đông Dương tỉnh Quảng Nam một pho tượng Phật bằng đồng cao 1,08m, có niên đại khoảng thế kỷ V, là tượng Phật cổ nhất được xác định tại Việt Nam ngày nay Pho tượng này có nhiều nét tương đồng với các pho tượng Phật ở Súngai Golok, tỉnh Naradhisava, Thái Lan, trong đó nổi bật là những nếp gấp trên áo cà sa tạo thành các đường gờ tròn, thể hiện giá trị về mặt tạo hình nghệ thuật.
Phố tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cổ nhất Việt Nam đã được phát hiện tại Rạch Giá, Kiên Giang, có niên đại vào cuối thế kỷ VI hoặc đầu thế kỷ VII, mang đậm yếu tố của nghệ thuật Dvaravati (Trung Thái Lan) và nghệ thuật Srivijaya (Nam Thái Lan) Tác phẩm cao 1,68m, thể hiện vẻ đẹp lộng lẫy với kỹ thuật điêu luyện, phong cách của nghệ thuật Srivijaya qua khuôn mặt đầy đặn, hàng lông mày tách rời, mắt hình hạnh nhân, cằm thon gọn, thân hình tròn đầy, vai và cánh tay lớn, bộ ngực hẹp nhưng các cơ bắp không rõ nét Trên đầu là chiếc mũ miện trang trí cầu kỳ với hoa văn hình bầu dục xen kẽ hình vuông, thể hiện đặc trưng của nghệ thuật Dvaravati, phản ánh sự hòa quyện giữa hai nền nghệ thuật cổ điển này.
Các điểm tương đồng lí thú trong nghệ thuật tạo hình giữa Việt Nam và Thái Lan từ đầu thiên niên kỷ I cho thấy có sự tiếp xúc văn hóa sớm giữa hai quốc gia này Nghiên cứu của các nhà khoa học đã làm rõ những nét chung trong các tác phẩm nghệ thuật cổ đại, góp phần xác nhận mối liên hệ văn hóa từ thời tiền sử giữa Việt Nam và Thái Lan Những điểm tương đồng này phản ánh sự trao đổi và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật của hai nền văn hóa.
Từ thiên niên kỉ thứ hai trở đi, sự xuất hiện của người Thái ở bán đảo Đông Dương và người Việt tại phần Nam bán đảo đã làm thay đổi đáng kể diện mạo văn hóa của khu vực này, đồng thời làm biến đổi mối quan hệ văn hóa giữa các dân tộc, trong đó có Việt Nam và Thái Lan Ở miền Bắc Việt Nam, mối quan hệ với văn hóa Thái Lan thể hiện qua sự gần gũi về ngôn ngữ giữa các nhóm người Thái ở Tây Bắc và Thái Lan Trong khi đó, ở miền Nam Việt Nam, mối liên hệ văn hóa với Thái Lan thể hiện rõ qua nhóm người Khơme Nam Bộ, đặc biệt qua việc tiếp nhận Phật giáo Tiểu thừa Theravāda Những ngôi chùa và các bức tượng Phật Thích Ca tại Nam bộ Việt Nam là bằng chứng lịch sử cho thấy mối liên hệ văn hóa đặc biệt của đồng bào Khơme với văn hóa Thái Lan.
Những ngôi chùa của đồng bào Khơme ở đồng bằng sông Cửu Long có sự gần gũi đáng kinh ngạc với các ngôi chùa ở làng quê và thành phố của Thái Lan, thể hiện qua bộ mái nhiều tầng với màu sắc nâu đỏ, xanh lá cây và vàng Các ngôi chùa này xa xỉ hơn về kiến trúc so với các chùa của người Khơme, đặc biệt là với tảng Stupa nằm trung tâm và những tượng Yak canh giữ hai bên cổng, tạo nên nét đặc trưng và sự pha trộn giữa phong cách Khmer và Thái Lan.
Có thể nhận thấy sự gần gũi mật thiết giữa nghệ thuật tạo hình trên các pho tượng Phật Thích Ca của người Khmer và trường phái nghệ thuật Ayuthaya Thái Lan Đặc biệt, hai tượng Phật trang sức bằng đồng trong tư thế đứng “vô uý” thể hiện nét đặc trưng của phong cách này, với một tượng nằm ở Bảo tàng Lịch sử Kiên Giang và một tượng khác tại một ngôi chùa thuộc huyện Châu Thành, Rạch Giá, Kiên Giang.
Nhìn bên trong ngôi chùa của đồng bào Khơme hiện nay, những pho tượng Phật trưng bày trên các điện thờ mang nhiều nét tương đồng với tượng Phật của Thái Lan Các tượng Phật thường có tư thế ngồi "nhờ đất chứng giám" hoặc đứng trong tư thế "vô uý," những trạng thái phổ biến của tượng Phật Thái Lan Pho tượng Phật trong tư thế ngồi thường được đặt trên một bệ cao trang trí rực rỡ bằng các mô típ hình răng cưa, hoa lá, mạng lưới, hạt ngọc hoặc cánh hoa sen, tạo nên vẻ đẹp trang nghiêm và bắt mắt Phía trước bệ lại có tấm thảm nhỏ với hình ảnh nữ thần Prah Thorani, thể hiện sự ảnh hưởng rõ nét của trường phái nghệ thuật Bangkok Thái Lan trong các tác phẩm tượng Phật của đồng bào Khơme.
Dưới nền tảng các điều kiện đã trình bày, cùng với sự tiếp xúc văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan từ thời tiền sử và sơ sử, mối quan hệ văn hoá giữa hai quốc gia đã hình thành và ngày càng trở nên quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển các nhà nước phong kiến độc lập Ngoài ra, mối quan hệ nhân dân – nhân dân giữa hai bên đã được thiết lập từ sớm, góp phần củng cố và tăng cường sự giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan.
Ngay từ trước khi vương quốc Ayuthaya được thành lập, người Thái đã hoạt động thương mại qua lại trên biển với Đại Việt Năm 1149, các thuyền buôn của Xiêm La và Lộ Lạc (nay thuộc Thái Lan) đã đến vùng biển Hải Đông (Quảng Ninh ngày nay) để xin phép buôn bán, và Vua Lý Anh Tông đã cho họ ở lại ngoài đảo Vân Đồn cùng việc thiết lập trang Vân Đồn, trở thành thương cảng đầu tiên của Đại Việt, trung tâm giao thương hàng hóa giữa Việt Nam và Thái Lan Các mối quan hệ về kinh tế, chính trị và văn hóa giữa hai quốc gia ngày càng phát triển dựa trên nền tảng từ hoạt động thương mại và ngoại giao, điển hình là việc năm 1182, vua Xiêm La đã cử sứ thần sang Việt Nam xin thiết lập quan hệ ngoại giao dưới thời Lý Cao Tông.
Các sứ thần của Xiêm La thường sang Đại Việt nộp cống và dâng tặng phẩm của người Thái Tuy nhiên, quan hệ giữa hai nước bị gián đoạn trong thời kỳ Sukhothai ở Thái Lan và nhà Trần ở Việt Nam do phải đối mặt với đe dọa từ đế quốc Nguyên-Mông phía Bắc Dù gặp phải những thách thức này, hai quốc gia vẫn duy trì mối quan hệ ngoại giao, và đến khi nhà Minh tiến hành cuộc xâm lăng Đại Việt, quan hệ Việt – Xiêm vẫn tiếp tục được giữ vững.
Giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1989 đến nay
Năm 1989 đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn đối đầu giữa Việt Nam và Thái Lan, đặc biệt sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết Từ đó, quan hệ giữa hai nước bước vào giai đoạn mới về hợp tác và phát triển, trong đó có lĩnh vực văn hóa Sự hợp tác giữa Việt Nam và Thái Lan ngày càng mạnh mẽ hơn trên mọi lĩnh vực, với các hoạt động giao lưu văn hóa tăng về số lượng và chất lượng, góp phần thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị lâu dài giữa hai quốc gia.
2.2.1 Các nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ sự giao l-u văn hoá Việt Nam
- Thái Lan từ 1989 dến nay
Việt Nam và Thái Lan kết thúc đối đầu, b-ớc sang thời kì củng cố mối quan hệ hữu nghị trên tinh thần hợp tác cùng phát triển
Có nhiều nhân tố tác động làm thay đổi cơ bản quan hệ Việt Nam và Thái Lan trong giai đoạn này:
Sự chấm dứt chiến tranh lạnh đã xóa bỏ trật tự hai cực và các đối đầu về ý thức hệ, giúp giảm căng thẳng chính trị trên toàn cầu Điều này đã kết thúc nguồn gốc xung đột giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Thái Lan và Việt Nam Chính thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi để hai bên Việt Nam và Thái Lan giải quyết mâu thuẫn cũ, thúc đẩy quan hệ hợp tác và phát triển bình thường hóa giữa hai nước.
Việc quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia vào tháng 9/1989 chấm dứt lý do chính gây đối đầu trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan và giảm thiểu căng thẳng trong khu vực Đông Nam Á Ngày 10/11/1989, Ngoại trưởng Thái Lan Sitthi tuyên bố rằng “Việt Nam không còn là mối đe dọa đối với Thái Lan nữa,” phản ánh sự thay đổi tích cực trong mối quan hệ hai nước Thêm vào đó, vào ngày 17/1/1990, ông Sitthi khẳng định Thái Lan sẽ mở rộng hợp tác song phương với Việt Nam mà không cần chờ đợi giải pháp cho vấn đề Campuchia, đánh dấu sự chấm dứt của thời kỳ đối đầu và mở ra cơ hội tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia.
Sau khi quân đội Việt Nam rút khỏi Campuchia vào ngày thứ ba, vấn đề Campuchia đã được giải quyết triệt để, đồng thời mâu thuẫn giữa Việt Nam và Thái Lan liên quan đến vấn đề này cũng chấm dứt Việt Nam và ASEAN đã tìm được tiếng nói chung về vấn đề Campuchia, các bất đồng lâu dài giữa Việt Nam và các nước ASEAN đã được giải quyết qua thái độ thiện chí và các biện pháp thỏa thuận Ngày 22/7/1992, tại Manila (Philippines), Việt Nam ký Hiệp ước Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN, đến ngày 28/7/1995, tại thủ đô Bandar Seri Begawan của Brunây, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN Sự kiện này đã nâng cao mối quan hệ giữa Việt Nam và các thành viên ASEAN, đặc biệt là Thái Lan, trong đó hòa dịu và hợp tác ngày càng chiếm ưu thế.
Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan đang trải qua sự thay đổi về tính chất, xuất phát từ nhận thức cần điều chỉnh để thúc đẩy phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa Thái Lan thể hiện mong muốn duy trì đà tăng trưởng, coi hợp tác kinh tế với Việt Nam là lợi ích chiến lược; trong khi đó, Việt Nam tập trung củng cố môi trường an ninh, ổn định để thúc đẩy phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới Chính sách đối ngoại của Việt Nam, theo Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, nhấn mạnh việc Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trong cộng đồng quốc tế, hướng tới hòa bình, độc lập và phát triển Cùng chung mục tiêu phát triển, Việt Nam và Thái Lan ngày càng có động lực để cải thiện mối quan hệ, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, mở ra cơ hội hợp tác hiệu quả hơn trong khu vực.
Các nhân tố chính góp phần nâng cao mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan ngày càng phát triển tích cực từ năm 1989 là hướng đi dựa trên nguyên tắc hòa bình, hữu nghị và hợp tác cùng phát triển Những yếu tố này đã thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước ngày càng tốt đẹp và ổn định hơn trong những năm qua, tạo nền tảng cho sự hợp tác lâu dài và bền vững.
Mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Thái Lan được thể hiện rõ qua các hoạt động thăm hỏi cấp cao của nguyên thủ quốc gia từ năm 1989 đến nay Những chuyến thăm cấp cao này đã góp phần thúc đẩy hợp tác song phương, tăng cường hiểu biết và đoàn kết giữa hai quốc gia Chính sách ngoại giao tích cực của hai nước đã giúp củng cố mối quan hệ truyền thống, mở ra cơ hội hợp tác phát triển kinh tế và văn hóa Các hoạt động này không chỉ phản ánh tình đoàn kết mà còn thúc đẩy mối quan hệ hợp tác lâu dài, bền vững giữa Việt Nam và Thái Lan trên nhiều lĩnh vực.
Từ ngày 15 đến ngày 17/1/1992, Thủ tướng Anan Panyarachun của Thái Lan đã thăm chính thức Việt Nam, marking chuyến công du đầu tiên của ông tới đất nước sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1976 Đây là một sự kiện quan trọng thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa Thái Lan và Việt Nam trên nhiều lĩnh vực Chuyến thăm thể hiện cam kết của hai quốc gia trong việc tăng cường đối tác chiến lược và mở rộng hợp tác kinh tế, chính trị.
Kể từ ngày 25/7/1992, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có chuyến thăm Thái Lan nhằm tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa chính phủ hai nước Trong giai đoạn này, nhiều chuyến thăm hữu nghị đã để lại ấn tượng sâu sắc, như chuyến thăm Việt Nam của công chúa Maha Chakri Sirindhorn vào tháng 2/1993 và chuyến thăm Thái Lan lần đầu tiên của Tổng Bí thư Đỗ Mười từ ngày 15 đến 18/10/1993 Những chuyến thăm này đã chứng tỏ quan hệ Việt Nam - Thái Lan đang phát triển tốt đẹp và không còn gặp trở ngại nào.
Quan hệ giữa Quốc hội hai nước Việt Nam và Thái Lan được thúc đẩy mạnh mẽ bắt đầu từ chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Lê Quang Đạo tới Thái Lan từ ngày 13 đến 20/9/1990 Sự thiết lập mối quan hệ giữa hai cơ quan quyền lực này góp phần tạo nền tảng và thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan hành pháp hai quốc gia trên nhiều lĩnh vực Mối quan hệ này góp phần nâng cao khả năng xây dựng quan hệ toàn diện, ổn định và vững chắc giữa Việt Nam và Thái Lan.
Kể từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN, quan hệ song phương giữa Việt Nam và Thái Lan ngày càng trở nên hòa hợp và phát triển trong khu vực Đông Nam Á Mối quan hệ hai nước đã được xây dựng và củng cố trong giai đoạn trước đó, và sau khi trở thành thành viên chính thức của ASEAN, quá trình hợp tác Việt Nam - Thái Lan đã trở nên toàn diện và chặt chẽ hơn bao giờ hết Các chuyến thăm hỏi, giao lưu cấp lãnh đạo giữa hai quốc gia vẫn luôn duy trì ở mức độ cao, bất chấp những thay đổi chính trị trong nội bộ Thái Lan Thủ tướng Thái Lan đã thường xuyên có các chuyến thăm ngoại giao Việt Nam như chuyến thăm của Phó thủ tướng Somboun Rahong vào năm 1995, Thủ tướng Banhan Sipla Acha vào cùng năm, các chuyến thăm của Thủ tướng Chuan Lịchphai vào cuối những năm 1990, và Thủ tướng Thakssin thực hiện chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên vào năm 2001, thể hiện sự cam kết của hai quốc gia trong thúc đẩy hợp tác song phương.
Các chuyến thăm cấp cao của Việt Nam đến Thái Lan đã thể hiện sự quan tâm và coi trọng quan hệ song phương Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có chuyến thăm Bangkok vào tháng 12 năm 1995, mở đầu cho các hoạt động ngoại giao giữa hai nước Năm 1998, Chủ tịch Trần Đức Lương đã tới Thái Lan để khẳng định lòng tin và khả năng hợp tác của mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong sự nghiệp phát triển của cả hai quốc gia Những chuyến đi này phản ánh thái độ tích cực của lãnh đạo Việt Nam trong việc duy trì và thúc đẩy mối quan hệ với Thái Lan.
Cuộc họp Nội các chung tại Đà Nẵng (Việt Nam) và Nakhon Phanom (Thái Lan) ngày 20-21/2/2004 do Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng Thạc xỉn Xin na vắt dẫn đầu đã thành công rực rỡ Đây là sự kiện mang ý nghĩa mở ra một trang sử mới cho mối quan hệ giữa hai quốc gia, thúc đẩy hợp tác, bình đẳng, toàn diện và đôi bên cùng có lợi Cuộc họp góp phần thúc đẩy lợi ích phát triển và ổn định lâu dài của Việt Nam và Thái Lan.
Các hoạt động ngoại giao và chính trị giữa Việt Nam và Thái Lan thể hiện mối quan hệ ngày càng được củng cố vững chắc, góp phần xây dựng niềm tin và tăng cường tình đoàn kết giữa hai quốc gia Sự hợp tác toàn diện trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội và văn hoá đã trở thành nền tảng thúc đẩy quan hệ song phương phát triển sâu sắc hơn Các chuyến thăm hỏi cấp cao đã tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác đa lĩnh vực, thúc đẩy các chương trình hợp tác chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực văn hoá, như các hoạt động hợp tác giữa các ủy ban của quốc hội hai nước.
Dựa trên mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Thái Lan, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách cởi mở để hỗ trợ cộng đồng người Việt kiều tại Thái Lan, giúp công việc làm ăn và sinh sống của họ ngày càng thuận lợi hơn Người Việt kiều tại Thái Lan ngày càng được chính phủ hai nước quan tâm, phát huy vai trò là cầu nối quan hệ hợp tác và thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia Những chính sách này góp phần xây dựng môi trường sống hòa đồng, thân thiện và củng cố mối quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Thái Lan.
Việt Nam và Thái Lan đã cùng nhau kí kết các hiệp định về văn hoá, trực tiếp thúc đẩy sự hợp tác văn hoá giữa hai n-ớc
Nhận xét về giao l-u văn hoá Việt Nam- Thái Lan từ 1976 đến nay
Mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã trải qua nhiều thử thách và cuối cùng đã đạt được sự củng cố dựa trên nền tảng hợp tác phát triển và tình láng giềng thân thiết Việt Nam và Thái Lan ngày càng thể hiện quyết tâm và nỗ lực thúc đẩy hợp tác toàn diện nhằm nâng cao vị thế và phát triển bền vững trên trường quốc tế và khu vực Sự tôn trọng và hiểu biết về văn hóa chính là nền tảng thành công trong quan hệ song phương, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa hai nước Những tiền đề chung về văn hóa và đối thoại tiếp tục phát huy vai trò, giúp duy trì sự vững chắc của mối quan hệ trước mọi thử thách của thời đại.
Kể từ sau khi Việt Nam và Thái Lan thiết lập lại quan hệ ngoại giao, đặc biệt từ năm 1989 trở đi, mối quan hệ văn hóa giữa hai nước đã trở nên phong phú và sôi động hơn bao giờ hết Các hoạt động như đi thăm, hội nghị, hội thảo, liên hoan văn hóa diễn ra thường xuyên, thúc đẩy sự hợp tác trong nhiều lĩnh vực như ca múa nhạc, sân khấu, điện ảnh, báo chí, bảo tồn di sản, thư viện và mỹ thuật Ngoài ra, các biện pháp thực chất như trao đổi kinh nghiệm, cung cấp thông tin, chương trình quảng bá văn hóa, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cán bộ đã góp phần xây dựng một giai đoạn hợp tác mới hiệu quả và bền vững giữa hai quốc gia.
Trong giai đoạn từ năm 1976 đến nay, giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Thái Lan đã phát triển mạnh mẽ về cả số lượng lẫn chất lượng, diễn ra trên nhiều lĩnh vực như văn nghệ, bảo tồn, báo chí, truyền thanh, truyền hình, du lịch, thể thao, giáo dục và triển lãm Các hoạt động hợp tác phong phú, đa dạng cùng với bầu không khí hữu nghị đã thúc đẩy việc quảng bá văn hóa hai nước, tăng cường hỗ trợ về kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực, góp phần nâng cao sự hiểu biết và làm phong phú thêm nền văn hóa đa sắc của mỗi quốc gia Sự phát triển này đã và đang tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị ngày càng bền chặt giữa Việt Nam và Thái Lan, góp phần tích cực vào sự phát triển toàn diện của mối quan hệ song phương.
Ch-ơng 3 Đóng góp tích cực của Việt kiều Thái Lan đối với giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1976 đến nay
3.1 Khái quát về cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan tr-ớc 1976 3.1.1 Sơ l-ợc về quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng ng-ời Việt ở Thái Lan
Sự chuyển c- của cộng đồng ng-ời Việt đến Thái Lan xét trên quy mô lớn có thể chia làm ba đợt:
Trong thế kỷ XVIII - XIX, Việt Nam đối mặt với cuộc tranh chấp quyền lực giữa nhà Tây Sơn và thế lực Nguyễn Ánh, gây ra những biến động lớn trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội Năm 1784, Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh bật khỏi Sài Gòn – Gia Định và phải tìm sự trợ giúp từ triều đình Xiêm, nơi ông thành lập làng Gia Long tại ngoại ô Bangkok Nhiều binh sĩ Nguyễn Ánh sau đó chọn ở lại Xiêm, trở thành những kiều dân Việt đầu tiên sinh sống tại đất Thái Những biến động lớn cùng chính sách “sát đạo, cấm đạo” của các vua Nguyễn đã thúc đẩy làn sóng di cư của người Việt sang Thái Lan trong thế kỷ XVIII – XIX Người Thái thường gọi những người Việt Nam định cư ở Thái Lan thời kỳ này là cộng đồng kiều dân Việt.
“Duôn càu”, tức “Người Việt Nam cũ”
Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, triều đình nhà Nguyễn chính thức thừa nhận sự thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam, nhưng các tầng lớp nhân dân vẫn kiên quyết chống lại sự xâm lược của Pháp Nhiều người Việt Nam yêu nước và con cháu họ đã chuyển sang Xiêm để tránh sự đàn áp và truy lùng của thực dân Pháp Trong số những người Việt Nam sang Xiêm thời kỳ này, phần lớn là nông dân nghèo khổ, đã bỏ quê hương ra đi vì không chịu nổi sự áp bức của thực dân, thể hiện ý chí bất khuất của dân tộc trong lòng cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
Trong giai đoạn 1930-1946, sau phong trào cách mạng 1930-1931 tại Việt Nam và đỉnh cao là cuộc Xô Viết Nghệ Tĩnh bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, đã diễn ra các cuộc di cư lớn của người Việt Nam sang đất Thái Lan; trong hai năm 1930 và 1931, khoảng 100 người chủ yếu từ Nghệ An và Hà Tĩnh đã di cư để tránh nạn khủng bố.
3.1.2 Đời sống văn hoá của Việt kiều Thái Lan tr-ớc 1976
Ngày càng có nhiều người Việt di cư sang Thái Lan để sinh sống vì nhiều nguyên nhân khác nhau, từ đó hình thành cộng đồng người Việt định cư tại đất nước này Trước năm 1976, cuộc sống của người Việt kiều tại Thái Lan bị ảnh hưởng nặng nề bởi chính sách kỳ thị của chính phủ Thái Lan, phản ánh sự tồn tại của các định kiến đối với cộng đồng người Việt trong thời kỳ đó.
Cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan là những người ủng hộ miền Bắc Việt Nam chống đế quốc Mỹ, gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia Thái Lan Chính sách kỳ thị đã làm mai một nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt tại đất Thái Tuy nhiên, nhờ vậy, cộng đồng Việt kiều Thái Lan trở nên đoàn kết, gắn bó và trung thành với tổ quốc dù xa quê hương Nhiều người trong cộng đồng vẫn giữ gìn truyền thống văn hóa và giáo dục con cái hướng về cội nguồn Việt kiều tại Thái Lan còn đóng góp tích cực cho các hoạt động cách mạng và kháng chiến của đất nước Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Trước 1976, đời sống văn hoá của Việt kiều Thái Lan thể hiện hai khía cạnh chính: một mặt, họ tìm hiểu phong tục tập quán của đất nước sở tại để hòa nhập xã hội, còn mặt khác, họ vẫn giữ gìn và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của người Việt, cả về vật chất lẫn tinh thần.
L-u giữ văn hoá Việt: Sống trong cảnh bị kì thị và bị sức ép về mọi mặt, thời gian có thể làm cho đặc tr-ng văn hoá Việt trong cộng đồng Việt kiều Thái Lan bị phai nhạt, song ch-a bao giờ mất hẳn Những năm từ thập niên 40 đến cuối thập niên 50 của thế kỉ XX, phụ nữ Việt kiều khi tản c- từ Lào sang, thời gian đầu họ vẫn giữ cách ăn mặc theo kiểu phụ nữ nông thôn Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ Mặc dù thời gian này, họ bị nhìn bằng con mắt kỳ thị, nh-ng thanh niên Việt kiều vẫn mặc áo dài trong các dịp lễ tết và c-ới hỏi Hàng ngày, trong cuộc sống của họ vẫn duy trì việc nấu các món ăn truyền thống Việt Nam, hay làm món ăn Việt Nam để bán cho ng-ời Thái Những món ăn hàng ngày là những sản phẩm mà bà con làm ra, chủ yếu là lúa gạo và dùng gạo tẻ để chế biến ra nhiều loại bánh đậm đà bản sắc Việt Nam nh- bánh đúc, bánh cuốn, bún, phở…, khác hẳn với ng-ời Thái là chỉ quen ăn gạo nếp, tức là xôi Thói quen dùng bát đĩa và dùng đũa gắp thức ăn trong các bữa ăn hàng ngày của bà con ng-ời Việt vẫn đ-ợc l-u giữ mà không bị ảnh h-ởng bởi phong cách ăn của ng-ời Thái là dùng tay
Nhiều Việt kiều Thái Lan cuối thập niên 40 và những năm sau đó vẫn duy trì việc dạy và học tiếng Việt, nhằm giữ gìn truyền thống văn hóa Việt Nam cho thế hệ con cháu Trong các gia đình Việt kiều Thái Lan, việc thờ cúng tổ tiên và tôn kính ông bà, cha mẹ luôn được xem trọng Sự kính trọng đối với người đã khuất thể hiện qua các nghi lễ như đám tang, đám giỗ và việc sửa sang phần mộ theo tập tục Việt Nam Đây chính là những giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc Việt Nam mà họ luôn trân trọng duy trì.
Người Việt kiều Thái Lan vẫn giữ vững tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, đặc biệt tại các cộng đồng ở các tỉnh như Udonthani, Nakhon Phanôm, Nakhon Phanom, và Mukdahan, nơi đã xây dựng đền thờ Trần Hưng Đạo từ những ngày đầu nhập cư năm 1946 Trong tâm thức của cộng đồng, Đại vươương Trần Hưng Đạo là bậc thánh thiêng nhất, thường được cúng tế vào các dịp lễ tết, ngày mồng một, ngày rằm và đặc biệt vào rằm tháng 7 âm lịch Hàng năm, người Việt tại Thái Lan lại đến đền thờ để cầu an, cầu may cho thân nhân đã khuất cũng như các vong linh theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ xa xưa.
Nhiều người Việt sang Thái Lan là tín đồ Phật giáo, và dù đi đến đâu, họ luôn giữ trong tâm hồn tinh thần Phật giáo Các ngôi chùa Phật giáo Việt Nam, còn gọi là chùa An Nam tông, đã được xây dựng trên đất Thái Lan bởi cộng đồng người Việt phối hợp với người Hoa, trở thành phần không thể tách rời của đời sống văn hóa tinh thần của kiều bào Việt tại Thái Lan Trải qua thời gian, dù gặp nhiều khó khăn, các ngôi chùa này vẫn được bảo tồn và tu bổ như một phần quan trọng của cộng đồng Trước năm 1976, Thái Lan có 17 ngôi chùa Việt Nam, trong đó hai chùa Cam Lộ và chùa Biển Phước đã chuyển thành chùa Hoa Kiều, còn lại 15 ngôi là chùa An Nam tông, được dân chúng gọi là “chùa Việt Nam” và các sư người Hoa Kiều thường được gọi là sư “Việt Nam”.
Mối liên hệ giữa chùa An Nam tông và đất nước Việt Nam được thể hiện qua ngôn ngữ trong kinh kệ và các nghi lễ truyền thống của Việt Nam Để bảo tồn và truyền bá bản sắc văn hóa, chùa Việt tập trung chủ yếu vào việc dạy kinh kệ bằng tiếng Việt, góp phần giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống của đất nước.
Những đóng góp của ng-ời Việt kiều Thái lan đối với
3.2.1 Những điều kiện thuận lợi để Việt kiều Thái lan đóng góp tích cực vào giao l-u văn hoá Việt – Thái sau 1976
Chính sách của chính phủ Thái Lan dành cho cộng đồng Việt kiều, cùng với chính sách của Đảng ta đối với cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan, đều có tác động trực tiếp đến đời sống của bà con Việt kiều tại cả Việt Nam và Thái Lan Các chính sách này không chỉ thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia mà còn góp phần nâng cao quyền lợi và tiện ích cho cộng đồng Việt kiều sinh sống tại Thái Lan Việc thực thi các chính sách này giúp tăng cường sự gắn kết giữa Việt Nam và cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan, đồng thời đều hướng tới mục tiêu phát triển và ổn định cuộc sống của bà con Việt kiều trên toàn thế giới.
Năm 1976 tưởng chừng sẽ mở ra thời kỳ hòa bình, hợp tác và phát triển trong quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan Tuy nhiên, vấn đề Campuchia và các mâu thuẫn chính trị trong khu vực đã khiến mối quan hệ hai nước đi chệch hướng tích cực ban đầu Mâu thuẫn về an ninh chính trị giữa hai quốc gia ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống của cộng đồng người Việt theo diện diện kiều tại Thái Lan, khiến họ phải đối mặt với nhiều khó khăn kéo dài Từ sau năm 1989, đã xuất hiện nhiều yếu tố góp phần tạo nên những biến đổi tích cực trong cuộc sống của bà con Việt kiều tại Thái Lan, thúc đẩy sự ổn định và phát triển của cộng đồng này.
Sau 1989, những điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Thái Lan đã tạo ra ảnh hưởng tích cực đến cộng đồng Việt kiều sinh sống tại Thái Lan Chính sách cải thiện mối quan hệ và chính quyền Thái Lan dưới thời Thủ tướng Chatchai Chunhavan đã làm cho đời sống của Việt kiều dễ chịu hơn, với chế độ quản lý nới lỏng và các chính sách nhân đạo hơn Ngày 29/5/1990, Thái Lan quyết định cấp quốc tịch cho thế hệ con và cháu của Việt kiều, nhằm thúc đẩy việc hòa nhập và giảm thiểu khái niệm người Việt tản cư, tiến tới mục tiêu đến năm 2001 hoàn thiện quá trình này Mặc dù còn tồn tại một số khó khăn liên quan đến thủ tục giấy tờ, nhưng nguyện vọng của cộng đồng Việt kiều là được sớm trở về thăm quê hương, gặp lại bè bạn và tiếp tục duy trì mối liên kết văn hóa truyền thống.
Vào cuối năm 2002, Chính phủ Thủ t-ớng Thạcxỉn tiếp tục chủ tr-ơng
Trong năm 2002, chính phủ Thái Lan đã thực hiện chính sách hòa nhập cộng đồng người Việt, nhằm đưa người Việt vào xã hội Thái một cách thuận lợi và hợp pháp Các bước đi bao gồm cấp quốc tịch và thẻ ngoại kiều (giấy Tàng Đạo) theo thỏa thuận giữa hai Chính phủ Việt Nam và Thái Lan Nhiều quan chức địa phương và nghị sĩ Quốc hội đã tiếp xúc thường xuyên với Việt kiều để thu hút sự ủng hộ trong các kỳ bầu cử Trước cuộc họp nội các liên chính phủ tháng 2/2004, Thủ tướng Thái Lan đã hứa sẽ giải quyết các thủ tục hợp lệ cho Việt kiều thế hệ thứ nhất và tiếp tục cấp quốc tịch cho con và cháu của Việt kiều nhập quốc tịch Thái Lan Điều này thể hiện rõ chủ trương của chính phủ Thái Lan trong việc thúc đẩy quá trình hòa nhập và tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt tại Thái Lan.
Thái Lan đang có những bước tiến vượt bậc trong chính sách dành cho Việt kiều, đánh dấu sự đột phá trong đời sống xã hội của cộng đồng người Việt tại đây Việc nhập quốc tịch cho thế hệ con cháu Việt kiều mở ra cơ hội để trí thức Việt Nam tham gia vào đời sống xã hội Thái Lan và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước bạn Điều này còn giúp tăng cường mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Thái Lan, cũng như xây dựng cầu nối văn hóa giữa hai quốc gia Trước đây, do chính sách kỳ thị, Việt kiều Thái Lan gặp khó khăn trong việc thể hiện các tập quán văn hóa của mình, nhưng nay họ đã có thể tự do hơn trong việc quảng bá văn hóa Việt Nam tại Thái Lan Nhìn chung, môi trường sống mới thuận lợi này giúp cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan nhận thức rõ hơn về trách nhiệm ổn định cuộc sống, chung tay thúc đẩy hợp tác và giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia trong thời kỳ hội nhập.
Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng người Việt kiều, đặc biệt là cộng đồng Việt kiều Thái Lan, đã tạo điều kiện thuận lợi để họ đóng góp tích cực vào hoạt động trao đổi văn hóa giữa hai nước Ngay từ những năm đầu trở về Tổ quốc sau nhiều năm tha hương, Việt kiều Thái Lan đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ chính quyền các cấp, bao gồm việc tạo công ăn việc làm, nhà ở, và khuyến khích họ hòa nhập cộng đồng xã hội Các chính quyền địa phương luôn tạo cơ hội để Việt kiều Thái Lan thành lập các nhóm họp, Ban liên lạc Việt kiều, và các Hội tổ chức có tổ chức, có lãnh đạo từ những năm 1961-1962 Kể từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, các Hội Việt kiều Thái Lan ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, văn hóa và thúc đẩy truyền tải văn hóa Thái về địa phương, góp phần làm giàu bản sắc văn hóa của cộng đồng người Việt tại Thái Lan.
Kể từ khi chính phủ hai nước bình thường hóa mối quan hệ, Đảng ta đã có điều kiện triển khai các chính sách tích cực nhằm hỗ trợ kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là Việt kiều tại Thái Lan Chính sách thúc đẩy thu hút nguồn lực từ cộng đồng Việt kiều sẽ giúp họ đóng góp đáng kể cho đất nước trên nhiều lĩnh vực Với trí tuệ và lòng yêu nước sẵn có, cộng đồng Việt kiều Thái Lan được khích lệ bởi Đảng và Nhà nước, họ sẽ trở thành những cầu nối thúc đẩy quan hệ hợp tác và giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia.
Sau năm 1989, nhờ sự cho phép của chính phủ Thái Lan và Việt Nam, cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan đã thành lập các hội đoàn để thúc đẩy sự đoàn kết Chính quyền các tỉnh như Sakon Nakhon, Udonthani, Mukdahan, Nông Khai, Ubon Ratchathani và Chiang Mai đã cấp giấy phép thành lập các Hội Người Việt, qua đó củng cố mối liên kết giữa cộng đồng Việt kiều và tạo điều kiện hỗ trợ họ trong hoạt động sinh sống và kinh doanh Các hội này không chỉ giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng Việt tại Thái Lan mà còn góp phần thúc đẩy sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Thái Lan.
3.2.2 Việt kiều Thái Lan đóng góp tích cực vào sự giao l-u văn hoá
Việt Nam - Thái Lan từ sau 1976 đến nay
Trong góc độ giao lưu văn hoá Việt Nam - Thái Lan, cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan đã đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối hai nền văn hoá Họ không chỉ tiếp thu những giá trị văn hoá đặc sắc của Thái Lan mà còn tích cực gìn giữ và quảng bá văn hoá Việt Nam trên đất Thái, góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác văn hoá giữa hai quốc gia.
3.2.2.1 Ng-ời Việt ở Thái Lan tiếp thu những giá trị tích cực của văn hoá Thái Lan
Trong bối cảnh cuộc sống mới ngày càng thuận lợi, cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan đã vượt qua cảm giác mặc cảm trước đây và hòa nhập hoàn toàn vào xã hội địa phương Sự hòa nhập này khiến họ không thể né tránh ảnh hưởng của văn hóa Thái, dẫn đến mức độ “Thái hoá” trong cộng đồng phổ biến hơn, nhanh chóng hơn và sâu sắc hơn theo thời gian.
Trong thời gian qua, cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan ngày càng tiếp nhận và hòa nhập sâu sắc với nền văn hóa vật chất của người Thái, từ việc học theo kiểu kiến trúc nhà ở phù hợp với khí hậu Thái Lan đến việc thích nghi với các nét đặc trưng trong đời sống hàng ngày Đặc biệt, biểu hiện "Thái hóa" trong lĩnh vực văn hóa tinh thần của cộng đồng Việt kiều trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết Mặc dù việc tiếp thu các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đã bắt đầu từ trước năm 1976, khi họ đã sinh sống lâu dài tại Thái Lan, nhưng sau năm 1976, quá trình này diễn ra mạnh mẽ và tự nhiên hơn nhờ vào các điều kiện thuận lợi và cơ hội hòa nhập rộng mở.
Trong đời sống cộng đồng Việt kiều Thái Lan, ngôn ngữ Thái dần trở thành ngôn ngữ giao tiếp chính, đặc biệt đối với thế hệ thứ ba của họ, phản ánh sự hòa nhập văn hóa Nhiều phong tục truyền thống trong đời sống tinh thần của bà con Việt kiều cũng đã bị "Thái hóa", thể hiện qua các nghi lễ, tập quán thay đổi phù hợp với môi trường mới Gần đây, lễ cưới trong cộng đồng Việt kiều Thái Lan đã có sự kết hợp hài hòa giữa phong tục Việt Nam và truyền thống bản địa Thái Lan, như tổ chức đám cưới vào sáng sớm hoặc tối, cùng với lễ chúc phúc và rưới nước thiêng theo phong tục cổ truyền của người Thái Điều này cho thấy sự thích nghi linh hoạt trong văn hóa cưới của cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan, góp phần giữ gìn bản sắc phù hợp với hoàn cảnh mới.
Việt kiều Thái Lan tham gia nhiệt tình vào các hoạt động văn hóa truyền thống của người Thái, góp phần làm phong phú đời sống cộng đồng và thể hiện tình cảm hoà hiếu với đất nước Thái Lan Họ tích cực tham dự các lễ hội lớn như lễ hội ngày Makha Busa, lễ hội ngày vua Chakri, ngày vua Chulalongkorn, và hội tạt nước, góp phần duy trì và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
Mỗi năm, trước thềm Tết Songkran (Tết tạt nước) – lễ hội truyền thống của người Thái Lan, cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan tất bật chuẩn bị đón Tết để cầu mong mọi muộn phiền, xui xẻo của năm cũ được xóa tan, đón nhận năm mới hứa hẹn an lành Người Thái Kiều như Việt Nam sinh viên Đào Xuân Thái (sinh 1962, Mukdahan) và ông Thavorn Nguyễn Văn (60 tuổi, Giám đốc Thái - Việt Tour) đều thể hiện lòng thành kính bằng cách dọn dẹp bàn thờ tổ tiên, thể hiện lòng biết ơn tổ tiên và ước nguyện duy trì mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước Trong ngày lễ tạt nước, họ hòa cùng dòng người Thái tham gia hoạt động văn hóa đặc sắc này, thể hiện nét đẹp truyền thống giàu ý nghĩa của cộng đồng Việt trên đất Thái Lan.
3.2.2.2 Việt kiều ở Thái Lan giữ gìn và quảng bá văn hoá Việt Nam Những năm tháng sống trong cảnh bị kì thị, bị sức ép về nhiều mặt, thời gian có thể làm cho đặc tr-ng văn hoá Việt trong cộng đồng Việt kiều Thái Lan bị phai nhạt, song ch-a bao giờ bị mất B-ớc vào thập niên 90, khi hoàn cảnh và điều kiện của mối bang giao thay đổi, Việt kiều đã đ-ợc tự do bộc lộ truyền thống văn hoá của mình Mặt khác, trong cuộc sống hoà đồng xã hội với Thái Lan, việc l-u giữ văn hoá truyền thống của dân tộc và phát huy nó là việc không hề đơn giản, nhất là việc l-u giữ các giá trị văn hoá tinh thần Điều quan trọng hơn cả chính là ở sự nhận thức và ph-ơng pháp giáo dục con em của Việt kiều Thái Lan trong việc bảo l-u văn hoá truyền thống, để vừa tiếp thu văn hoá mới, nh-ng đồng thời cũng không làm mất đi nguồn gốc của mình Thế hệ Việt kiều thứ nhất là những ng-ời quan tâm tới việc này hơn cả, bởi đa số họ vẫn giữ nguyên những nét văn hoá tại nơi họ sinh ra là Việt Nam Mặc dù không đơn giản, song có thể thấy rằng Việt kiều Thái Lan đã rất nỗ lực để thực hiện nhiệm vụ này
- Việc gìn giữ ngôn ngữ mẹ đẻ
Những đóng góp của Việt kiều hồi h-ơng đối với sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan
hoá Việt Nam - Thái Lan
3.3.1 Quá trình hồi h-ơng của Việt kiều Thái Lan
Người Việt sang Thái Lan với nhiều lý do khác nhau, bao gồm tránh chiến tranh, mục đích tôn giáo và mong muốn hòa nhập cộng đồng Nhiều người xem Thái Lan chỉ là nơi tạm thời trú ẩn, hy vọng khi điều kiện thuận lợi sẽ quay trở về Việt Nam để góp phần xây dựng quê hương.
Trước 1976, những mâu thuẫn an ninh và chính trị giữa Việt Nam và Thái Lan đã ảnh hưởng lớn đến quá trình hồi hương của cộng đồng người Việt tại Thái Lan Nhờ vào sự đấu tranh kiên quyết của chính phủ Việt Nam, đã có bước tiến quan trọng, dẫn đến ký kết Hiệp định hồi hương cho cộng đồng người Việt tản cư trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương Hiệp định này được công bố tại thủ đô Ranggun, góp phần thúc đẩy việc đoàn tụ và ổn định cuộc sống cho người Việt tại Thái Lan.
Ngày 14/8/1959 đánh dấu bản Hiệp định hồi hương đầu tiên của cộng đồng người Việt ở nước ngoài, góp phần thay đổi cuộc đời của nhiều Việt kiều Thái Lan đang sinh sống tại Việt Nam Hiệp định này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình hồi hương, tạo cơ hội cho người Việt tại nước ngoài trở về quê hương an cư lạc nghiệp Đây là sự kiện lịch sử có ý nghĩa lớn trong công cuộc đoàn kết và phát triển cộng đồng người Việt ở trong và ngoài nước.
Từ đầu tháng 11 đến cuối tháng 12/1959, trong không khí khẩn tr-ơng,
Ủy ban Hồi hương đã tiếp nhận 82.693 trường hợp xin đăng ký hồi hương, phản ánh nhu cầu lớn của cộng đồng người Việt xa quê Chuyến tàu đầu tiên đưa Việt kiều về Việt Nam khởi hành từ Bangkok vào tháng 1/1960, và ngày 10/6/1960, tàu cập bến Hải Phòng, trong không khí đón chào nồng nhiệt của hàng chục nghìn người dân địa phương và lãnh tụ Hồ Chí Minh Trong giai đoạn 1960-1962, liên tục có các chuyến tàu từ Bangkok đưa gần 25.000 người Việt tản cư trở về tổ quốc, góp phần reconnect cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quê hương Tuy nhiên, sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 15/8/1964, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ tại miền Bắc đã khiến chính phủ Việt Nam đề nghị tạm hoãn các chuyến hồi hương nhằm đảm bảo an toàn cho người Việt ở nước ngoài, dẫn đến việc đình hoãn chuyến tàu thứ 76 Những người đã đăng ký hồi hương vẫn tiếp tục cuộc sống tại Thái Lan, đối mặt với những biến động chính trị và xã hội liên tục, phản ánh những thử thách trong quá trình hồi hương của cộng đồng người Việt tại quốc gia này.
B-ớc sang thiên niên kỷ mới, quan hệ Việt Nam và Thái Lan ngày càng phát triển theo chiều h-ớng tốt đẹp hơn Do đó đời sống chính trị, văn hoá và xã hội của Việt kiều Thái Lan có nhiều b-ớc phát triển mới Đặc biệt sau cuộc họp song ph-ơng cấp cao giữa đại diện hai chính phủ Việt Nam và Thái Lan tại Đà Nẵng từ ngày 19 đến 20/2/2004, Thủ t-ớng Thái Lan Thăcxin Chinnhavắt đã đề nghị Bộ Nội vụ Thái Lan tuyên bố cấp phép nhập quốc tịch Cho Việt Kiều khu vực Đông Bắc Thái Lan gồm 572 tr-ờng hợp đã nộp đơn xin nhập quốc tịch từ nhiều năm nay Nhờ đó, mong muốn trở về thăm quê cha đất tổ của Việt kiều Thái Lan sẽ trở thành hiện thực, đồng thời mối liên hệ giữa Việt kiều Thái Lan đã hồi h-ơng và Việt kiều ở Thái Lan ngày càng trở nên dễ dàng hơn
3.3.2 Đóng góp của Việt kiều Thái Lan hồi h-ơng tr-ớc 1976 trong sự giao l-u văn hoá Việt - Thái
Việt kiều Thái Lan chuẩn bị hồi hương trong niềm vui và tự hào khi có cơ hội góp sức vào sự phát triển của đất nước Việt Nam Họ vừa cảm thấy hạnh phúc vì sắp được thực hiện ước mơ của mình, vừa quyến luyến với đất Thái Lan, nơi đã trở thành quê hương thứ hai Sau thời gian sống gắn bó tại Thái Lan, họ đã phát triển một tình cảm tự nhiên và sâu sắc dành cho đất nước này, không bị tác động bởi yếu tố chính trị hay xã hội Chính vì vậy, trước khi rời khỏi đất nước Thái, họ mong muốn để lại những dấu ấn văn hoá của Việt Nam để góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn hoá đa dạng tại đất nước bạn.
Việt kiều Thái Lan tại một số tỉnh đã quyên góp công sức và tiền của để xây dựng các công trình nhỏ nhằm thể hiện lòng biết ơn đối với đất nước và nhân dân Thái Lan Những hoạt động này phản ánh truyền thống kính trọng và tri ân của cộng đồng Việt kiều đối với đất nước đã giúp đỡ họ vượt qua nhiều khó khăn trong nhiều năm qua.
Năm 1960, Việt kiều tại Nakhon Phanôm đã xây dựng tháp đồng hồ tại trung tâm thị xã nhằm gửi gắm tình cảm và lòng biết ơn đến cộng đồng địa phương Ngoài ra, Việt kiều còn góp phần vào việc xây cổng chùa tại một số nơi, trong đó có cổng chùa Phukhẩu Thoong nằm bên cạnh con đường dẫn vào làng người Việt ở bản Nachộc Những công trình này góp phần thúc đẩy hoạt động văn hóa và lòng đoàn kết cộng đồng người Việt tại Nakhon Phanôm.
Tại Mukdahan, Việt kiều đã xây dựng cổng chính tại chùa Xỉ Moôngkhôn, thể hiện lòng thành kính và tình đoàn kết Phía ngoài cổng nổi bật dòng chữ Thái Lan “Việt kiều xây l-u niệm tặng nhà chùa năm 2503 (Phật niên)”, biểu thị sự đóng góp của cộng đồng người Việt Bên trong cổng, dòng chữ Việt Nam “Việt kiều cúng” thể hiện lòng biết ơn và sự chung sức của cộng đồng Việt kiều dành cho ngôi chùa này.
Năm 1960, Việt kiều tỉnh Sakon Nakhon đã xây tặng nhân dân Việt Nam một tháp chông tại chùa trung tâm thành phố Sakon Nakhon, ghi dòng chữ “Việt kiều lưu niệm”, thể hiện tình cảm và sự đóng góp của cộng đồng Việt kiều Tại huyện Phăngkhôn, chùa Vilay cũng có cổng chùa Việt kiều lưu niệm, nay vẫn được trụ trì bảo dưỡng cẩn thận như một bảo vật của địa phương, đặc biệt vào các dịp lễ hội hoặc năm mới Ngoài ra, tại huyện Thà bò, tỉnh Nông khai, Việt kiều còn tặng một thư viện với khối lượng sách lớn, mang ý nghĩa văn hoá sâu sắc, góp phần gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hóa cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan.
Tại tỉnh Udon Thani có công trình lưu niệm văn hóa đặc sắc được xây dựng trong công viên thành phố, là một sân khấu ngoài trời được người dân yêu thích và ngưỡng mộ Tuy nhiên, hiện nay công trình này đã bị tháo dỡ để cùng với kế hoạch phát triển mới của công viên Bên cạnh đó, còn có cổng chùa lưu niệm do người Việt kiều hồi hương năm 1960 tặng chùa, trong đó bia đề tặng còn giữ nguyên dòng chữ: “Ông Cù Văn Phó xây cúng ngày 30/11/1959”.
T-ơng tự với những công trình văn hoá nh- vậy, Việt kiều tỉnh Khỏnkèn cũng xây cổng chùa l-u niệm, đ-ợc khắc bằng cả hai thứ tiếng Thái Lan và Việt Nam
Các công trình văn hóa của Việt kiều hồi hương tại Thái Lan thể hiện rõ nét tình cảm gắn bó sâu sắc với quê hương, đồng thời góp phần lưu giữ và truyền tải những nét đẹp văn hóa Việt Nam trên đất Thái Những dấu ấn văn hóa này không chỉ phản ánh mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia mà còn giúp duy trì bản sắc văn hóa Việt trong cộng đồng người Việt tại Thái Lan.
Nhiều Việt kiều truyền nghề cho bà con Thái Lan trước khi về nước, với hy vọng nghề truyền thống của mình sẽ mãi mãi lưu lại trên đất Thái Hiện nay, các nghề chế biến thức ăn do Việt kiều để lại không còn là độc quyền của người Việt mà đã mở rộng trong cộng đồng Thái Lan Điều này không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn thúc đẩy giao lưu văn hóa, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong mối quan hệ giữa hai quốc gia.
Việt kiều Thái hồi hương trong bối cảnh đất nước vừa có hòa bình vừa có chiến tranh, nhưng Đảng và chính phủ Việt Nam đã tạo mọi điều kiện để đón tiếp chu đáo, đồng thời hỗ trợ về vật chất và tinh thần giúp họ ổn định cuộc sống mới Sau khi về nước, Việt kiều Thái Lan nhanh chóng hòa nhập xã hội và mang theo những kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp từ Thái Lan để góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam Họ sử dụng dụng cụ và kiến thức chuyên môn đã tiếp thu, kết hợp với khả năng lao động sáng tạo, ví dụ như trong việc trục vớt con tàu bị gặp nạn.