Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) thực hiện
Trang 1LỜI MỞ ĐẦUKhoản phải trả nhà cung cấp là một trong những khoản mục trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính Đây là khoản mục có rủi ro tiềm tàng cao
Do đó, khi thực hiện kiểm toán khoản mục này, kiểm toán viên phải thiết kế
và vận dụng các thủ tục kiểm toán sao cho rủi ro phát hiện là thấp nhất Kiểm toán khoản mục này đòi hỏi sự chuẩn bị công phu và sự thực hiện chu đáo, cẩn thận Để thực hiện kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp, kiểm toán viên phải là người có kinh nghiệm và khả năng xét đoán nghề nghiệp cao
Là một sinh viên chuyên ngành kiểm toán, sau một thời gian thực tập tại Phòng Kiểm toán các ngành Thương mại - Dịch vụ Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC), em đã có cơ hội tiếp xúc với quy trình kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp do Công ty thực hiện Nhằm
hệ thống lại những kiến thức đã thu nhận được, em đã viết bản Chuyên đề
thực tập chuyên ngành này Chuyên đề có đề tài: “Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) thực hiện”
Chương III: Một số nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp trong kiểm toán báo cáo tài chính do AASC thực hiện
Trang 2Để hoàn thành Chuyên đề này, em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Th.S Bùi Thị Minh Hải và các anh chị nhân viên Phòng Kiểm toán các ngành Thương mại – Dịch vụ cũng như toàn thể cán bộ nhân viên Công ty AASC Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo và các anh chị trong Công ty.
Do hạn chế về thời gian cũng như trình độ, bản Chuyên đề không thể tránh khỏi thiếu sót Em rất mong sẽ nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo, các anh chị trong Công ty và các bạn để chuyên đề được hoàn thiện
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH
KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN (AASC) 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính - kế toán Cùng với Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO), AASC là một trong hai tổ chức đầu tiên và lớn nhất của Việt Nam hoạt động độc lập trong lĩnh vực dịch vụ về kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính, thuế
Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán có tên giao
dịch quốc tế là Auditing and Accounting Financial Consultancy Service Company, gọi tắt là AASC Trụ sở chính của Công ty đặt tại số 1 Lê Phụng
Hiểu, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) được thành lập ngày 13 tháng 5 năm 1991 theo Quyết định số 164 TC/QĐ/TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính với tên gọi ban đầu là Công ty Dịch vụ Kế toán (Accounting Service Company – ASC) Ngày 14 tháng 9 năm 1991, Công ty chính thức đi vào hoạt động
Tháng 3 năm 1992, Công ty thành lập chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh Tháng 4 năm 1993, các chi nhánh công ty tại Vũng Tàu, Đà Nẵng lần lượt ra đời
Khi mới ra đời, Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kế toán với vai trò giúp các doanh nghiệp lập và ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính Sau này, nhận thức rõ sự cần thiết của kiểm toán độc lập tại Việt Nam, cũng như thấy được sự lớn mạnh về năng lực nghiệp vụ, ngày 14 tháng 9 năm 1993, Bộ
Trang 4trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 639/TC/QĐ/TCCB, giao cho Công ty Dịch vụ Kế toán triển khai thêm dịch vụ kiểm toán và đổi tên Công
ty thành “Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán” – AASC
Từ đó đến nay, Công ty không chỉ cung cấp dịch vụ kế toán mà còn cung cấp các dịch vụ kiểm toán, tư vấn tài chính, tư vấn thuế, đào tạo và hỗ trợ tuyển dụng, công nghệ thông tin
Cùng với sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu đối với các dịch vụ tư vấn, kế toán, kiểm toán cũng ngày càng phát triển mạnh
mẽ Để đáp ứng nhu cầu đó, AASC cũng không ngừng mở rộng Tháng 3 năm
1995, chi nhánh Công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh tách ra thành lập Công
ty Tư vấn Tài chính và Kiểm toán Sài Gòn (AFC Sài Gòn) Cũng trong thời gian đó, chi nhánh AASC tại Đà Nẵng kết hợp với chi nhánh Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) tại Đà Nẵng thành lập Công ty Tư vấn và Kiểm toán (A&C) Bên cạnh đó, Công ty tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động của mình bằng việc thành lập thêm các chi nhánh và văn phòng đại diện ở một số tỉnh, thành phố Ngày 14 tháng 4 năm 1995, chi nhánh AASC tại Thanh Hóa được thành lập và đi vào hoạt động Và ngày 2 tháng 2 năm 1996, văn phòng đại diện của Công ty tại Hải Phòng được thành lập Ngày 13 tháng 3 năm 1997, Công ty thành lập văn phòng đại diện ở Thành phố Hồ Chí Minh thay thế cho chi nhánh cũ đã tách ra Tháng 5 năm 1998, văn phòng đại diện này được nâng cấp thành chi nhánh Công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh – chi nhánh lớn nhất của AASC Cũng trong năm 1998, Công ty mở thêm chi nhánh tại Quảng Ninh Năm 2003, văn phòng đại diện tại Hải Phòng được nâng cấp thành chi nhánh Hải Phòng Từ ngày 31 tháng 12 năm 2004, chi nhánh tại Hải Phòng không tiếp tục hoạt động nữa Hiện nay, Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) có trụ sở chính đặt tại Hà Nội và 4 chi
Trang 5nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Thanh Hóa và Quảng Ninh trong đó chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh là chi nhánh lớn nhất.
Qua 15 năm phát triển, với những nỗ lực không ngừng của lãnh đạo cũng như tập thể cán bộ công nhân viên, Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán đã gặt hái được những thành tựu đáng tự hào, chiếm được lòng tin của khách hàng bằng việc cung cấp những dịch vụ chuyên môn đảm bảo chất lượng Đồng thời, với cương vị là công ty đầu ngành, AASC đã
có những đóng góp đáng kể trong việc cộng tác với các công ty và tổ chức nước ngoài nhằm phát triển sự nghiệp kiểm toán ở Việt Nam
Tháng 4 năm 2005, AASC chính thức trở thành Hội viên Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)
Tháng 7 năm 2005, AASC chính thức gia nhập Tổ chức Kế toán và Kiểm toán quốc tế INPACT và trở thành đại diện của INPACT quốc tế tại Việt Nam
Do những thành tích đã đạt được và những đóng góp của AASC đối với ngành tài chính, kế toán và kiểm toán Việt Nam, AASC đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động Hạng Ba (năm 2001) và Huân chương lao động Hạng Nhì (năm 2005)
Hiện nay, AASC là công ty kiểm toán được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận là tổ chức kiểm toán độc lập được phép tham gia kiểm toán các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán; được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận là tổ chức kiểm toán độc lập được phép kiểm toán các tổ chức tín dụng; là một trong 4 công ty kiểm toán Việt Nam cùng với 4 công ty kiểm toán quốc tế hoạt động tại Việt Nam được phép tham gia kiểm toán các dự án tài trợ bởi các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và các tổ chức khác
Trang 6Đạt được những thành tựu đó là do AASC đã luôn chú trọng xây dựng đội ngũ nhân lực lớn mạnh Xem mục tiêu đào tạo và phát triển nhân viên là mục tiêu chiến lược và là sự đầu tư đúng hướng, Công ty đã thành lập Phòng đào tạo và hợp tác quốc tế với chức năng tổ chức đào tạo thường xuyên cho nhân viên Đội ngũ nhân viên của Công ty được đào tạo một cách có hệ thống, thường xuyên được trang bị và tiếp cận với những kỹ năng và kiến thức mới nhất qua các chương trình đào tạo và bồi dưỡng chuyên ngành nhằm đáp ứng yêu cầu của công việc Hàng năm, Công ty dành một khoản chi phí tương đối lớn cho công tác đào tạo và bồi dưỡng nhân viên Nhờ đó, đội ngũ nhân lực của AASC lớn mạnh không ngừng cả về số lượng và chất lượng Nếu tại thời điểm thành lập, Công ty chỉ có 8 cán bộ nhân viên, thì đến nay Công ty đã có hơn 300 cán bộ nhân viên và cộng tác viên, trong đó 118 kiểm toán viên được cấp chứng chỉ kiểm toán viên nhà nước, 4 thẩm định viên về giá, 26 tiến sĩ, thạc sĩ và nhiều cộng tác viên là các giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia đầu ngành về tài chính - kế toán - kiểm toán.
Hiện nay, AASC đang chuẩn bị chuyển đổi từ mô hình doanh nghiệp nhà nước sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên
1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh
Nói một cách khái quát, mục tiêu hoạt động của Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) là cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán cho các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế - xã hội Cụ thể hơn, mục tiêu hoạt động của Công ty là kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của số liệu kế toán, báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán của đơn vị được kiểm toán; tư vấn hướng dẫn khách hàng thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về tài chính, kế toán, thuế… cũng như
tư vấn điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp
Trang 7Với mục tiêu nói trên, các dịch vụ mà Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán đã và đang cung cấp bao gồm:
Kiểm toán;
Kế toán;
Công nghệ thông tin;
Tư vấn tài chính, quản trị kinh doanh;
Tư vấn thuế;
Đào tạo và hỗ trợ tuyển dụng;
Giám định tài chính, kế toán
1.2.1 Dịch vụ kiểm toán
Năm 1993, Công ty đã bổ sung thêm dịch vụ kiểm toán bên cạnh các dịch vụ tư vấn tài chính và kế toán Từ đó đến nay, kiểm toán được xem là một trong những hoạt động truyền thống của AASC Qua hơn 10 năm hoạt động, dịch vụ này đã được hoàn thiện và phát triển về phạm vi cũng như chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng Các loại hình dịch vụ kiểm toán do AASC cung cấp bao gồm:
Kiểm toán Báo cáo tài chính thường niên;
Kiểm toán hoạt động của các dự án;
Kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu tư các công trình xây dựng cơ bản;
Kiểm toán xác định vốn, giá trị doanh nghiệp;
Kiểm toán tuân thủ luật định;
Kiểm toán các doanh nghiệp tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán;
Kiểm toán tỷ lệ nội địa hoá;
Trang 8 Kiểm toán doanh nghiệp Nhà nước phục vụ công tác cổ phần và giám định các tài liệu tài chính kế toán.
Dịch vụ kiểm toán là dịch vụ đem lại doanh thu cao nhất cho Công ty Trong đó, kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản được coi
là thế mạnh hàng đầu của Công ty
1.2.2 Dịch vụ kế toán
Là tổ chức chuyên cung cấp dịch vụ kế toán từ những ngày đầu mới thành lập, AASC có một đội ngũ các chuyên gia kế toán với nhiều năm kinh nghiệm AASC đã và đang cung cấp cho các khách hàng nhiều dịch vụ kế toán như mở và ghi sổ kế toán, lập các báo cáo tài chính định kỳ; xây dựng các mô hình tổ chức bộ máy kế toán; trợ giúp chuyển đổi hệ thống kế toán và báo cáo tài chính, phù hợp với yêu cầu của khách hàng và bảo đảm tính tuân thủ các quy định của nhà nước Việt Nam hoặc các nguyên tắc kế toán quốc tế được chấp nhận Đặc biệt AASC thường xuyên hướng dẫn cho khách hàng trong việc áp dụng các chế độ kế toán tài chính và tư vấn, trợ giúp trong việc lựa chọn đăng ký chế độ kế toán phù hợp với yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
1.2.3 Dịch vụ tư vấn tài chính và quản trị kinh doanh
Dịch vụ tư vấn tài chính và quản trị kinh doanh được cung cấp nhằm mục đích giúp các nhà đầu tư và nhà quản lý các doanh nghiệp tìm ra những giải pháp hữu hiệu cho vấn đề kinh doanh hiệu quả, thu được lợi nhuận cao
mà vẫn đảm bảo tuân thủ đầy đủ những quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước Việt Nam và các nguyên tắc quốc tế được chấp nhận
Các dịch vụ này rất đa dạng, bao gồm: tư vấn soạn thảo phương án đầu
tư, đăng kí kinh doanh và thành lập doanh nghiệp mới; tư vấn kiểm kê thẩm
Trang 9định giá trị tài sản; tư vấn quyết toán vốn đầu tư; tư vấn tiến hành cổ phần hoá, niêm yết chứng khoán, sát nhập hay giải thể; tư vấn tuân thủ các quy định pháp luật, chính sách tài chính
1.2.4 Dịch vụ công nghệ thông tin
AASC đã xây dựng và cung cấp một số phần mềm kế toán cho các doanh nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp và một số phần mềm quản lý như phần mềm quản lý nhân sự, phần mềm quản lý tài sản cố định, phần mềm quản lý công văn, quản lý doanh nghiệp Các sản phẩm phần mềm của AASC hiện đang được khách hàng tín nhiệm và sử dụng nhiều
1.2.5 Dịch vụ tư vấn thuế
Bên cạnh các dịch vụ tư vấn tài chính và quản trị kinh doanh, Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán còn cung cấp dịch vụ tư vấn thuế, bao gồm: lập kế hoạch thuế; đăng kí, tính toán và kê khai thuế phải nộp với cơ quan thuế; rà soát đánh giá việc vận hành các sắc lệnh, chính sách thuế hiện hành của Việt Nam
1.2.6 Dịch vụ đào tạo và hỗ trợ tuyển dụng
Đào tạo nhân viên là một chiến lược nhằm nâng cao kỹ năng và chuyên môn cho nguồn nhân lực của doanh nghiệp AASC cung cấp các chương trình đào tạo cho khách hàng nhằm trang bị cho nhân viên của khách hàng những kiến thức, kinh nghiệm và thông tin hữu ích về kế toán, kiểm toán, thuế, quản trị kinh doanh và công nghệ thông tin kế toán, đặc biệt là các chế độ, quy định, chuẩn mực của Việt Nam hay các thông lệ quốc tế được vận hành cho từng doanh nghiệp, từng ngành và từng lĩnh vực hoạt động cụ thể
Cùng với đào tạo nhân viên, AASC còn cung cấp dịch vụ hỗ trợ tuyển dụng Dịch vụ này của AASC sẽ hỗ trợ khách hàng trong việc tìm kiếm và
Trang 10tuyển dụng các ứng viên có năng lực và thích hợp nhất, dựa trên những hiểu biết cụ thể về vị trí cần tuyển dụng, cũng như các yêu cầu về hoạt động, quản
lý của khách hàng Tuỳ theo yêu cầu của công việc, trình độ kiến thức hay kinh nghiệm cần thiết, AASC sẽ lựa chọn phương pháp tuyển dụng hợp lý với chi phí thấp nhất
1.3 Thị trường và khách hàng của Công ty
Hiện nay, có khoảng 130 công ty kiểm toán đang hoạt động ở Việt Nam, trong đó có cả các công ty kiểm toán nước ngoài danh tiếng Song, AASC được đánh giá là một trong những công ty kiểm toán hàng đầu ở Việt Nam Các đối thủ cạnh tranh chính của AASC là KPMG, Ernst & Young, Price Waterhouse & Coopers, VACO…
Với chiến lược tiếp cận và nắm bắt nhanh chóng nhu cầu của khách hàng, tư vấn và cung cấp tài liệu miễn phí, chủ động liên hệ xây dựng quan hệ với khách hàng, quy mô hoạt động của Công ty ngày càng được mở rộng, khách hàng của Công ty ngày càng đông đảo
Trải qua 15 năm hoạt động, Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán
và Kiểm toán đã có khoảng 1500 khách hàng trong đó có khoảng 500 khách hàng thường xuyên trong nhiều lĩnh vực trên khắp cả nước Các khách hàng tín nhiệm cao của AASC bao gồm: 1 Ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính;
2 Năng lượng, dầu khí; 3 Viễn thông, điện lực; 4 Công nghiệp, nông nghiệp; 5 Giao thông, thủy lợi; 6 Hàng không, hàng hải; 7 Khách sạn, du lịch, thương mại; 8 Than, thép, xi măng…
Lĩnh vực lợi thế của AASC là kiểm toán xây dựng cơ bản Doanh thu
từ kiểm toán xây dựng cơ bản luôn chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng doanh thu hàng năm của AASC Đồng thời, so với các công ty kiểm toán khác, AASC thực hiện nhiều hợp đồng kiểm toán xây dựng cơ bản hơn cả
Trang 11Ngoài ra, với sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ nhân viên trong Công ty, AASC còn được phép kiểm toán các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, các dự án tài trợ bởi các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và các tổ chức khác
Công ty có một số khách hàng lớn và thường xuyên như: Công ty xi măng Nghi Sơn, Công ty liên doanh Vietsopetro, Công ty liên doanh VINAPIPE, Tổng công ty bưu điện, Tổng công ty xi măng Việt Nam, Công ty xây lắp điện I, Công ty cổ phần thiết bị bưu điện…
Sự am hiểu sâu sắc và bề dày kinh nghiệm thực tiễn trong các lĩnh vực tài chính, kế toán, kiểm toán, thuế giúp AASC phục vụ với chất lượng tốt nhất bất kỳ dịch vụ chuyên ngành nào mà khách hàng yêu cầu
1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh
Qua 15 năm xây dựng và phát triển, Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán đã cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán, tư vấn thuế… cho các khách hàng trên cả nước với doanh thu tăng trưởng không ngừng Trong các loại hình dịch vụ, dịch vụ kiểm toán luôn là dịch vụ đem lại doanh thu cao nhất cho Công ty Lợi nhuận của Công ty cũng tăng tương đối ổn định qua các năm
Trên chặng đường phát triển của mình, AASC cũng gặp phải nhiều khó khăn, đó là sự xuất hiện của các công ty kiểm toán trong và ngoài nước trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt Để tồn tại và phát triển, AASC đã
có những nỗ lực rất lớn trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ của mình, tìm kiếm khách hàng, gây dựng uy tín cho Công ty Nhờ đó, doanh thu của Công
ty vẫn tăng dần qua các năm Công ty cũng luôn thực hiện tốt nghĩa vụ của mình với Ngân sách Nhà nước Đời sống của cán bộ công nhân viên cũng ngày càng được cải thiện
Trang 12Dưới đây là một số chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) trong giai đoạn 2001-2005:
Bảng 1.1: Kết quả kinh doanh của AASC trong giai đoạn 2001-2005
Đơn vị tính: triệu đồng
2001
Năm 2002
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Trang 13Dựa vào bảng trên ta có thể thấy doanh thu của Công ty tăng đều đặn trong các năm 2001-2005 và tăng nhanh trong hai năm 2004 và 2005 Năm
2004, doanh thu tăng thêm 6.302 triệu đồng hay tăng thêm 24,26% so với năm 2003 Năm 2005, doanh thu tăng thêm 8.731 triệu đồng hay tăng thêm 27,05% so với năm 2004 Tuy nhiên, lợi nhuận của Công ty lại không tăng
mà có xu hướng giảm trong các năm 2002 và 2003 Đến năm 2005, lợi nhuận lại tăng cao, đạt 2.756 triệu đồng, tăng thêm 779 triệu đồng, hay tăng thêm 39,4% so với năm 2004
Cùng với sự tăng lên về doanh thu, Công ty đã đóng góp một phần đáng kể vào Ngân sách Nhà nước cũng như cải thiện mức thu nhập bình quân cho cán bộ công nhân viên trong Công ty
1.5 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Về cơ bản, bộ máy quản lý của Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán bao gồm:
Ban Giám đốc: gồm Giám đốc và 5 Phó Giám đốc
Các phòng chức năng: gồm Phòng Hành chính tổng hợp và Phòng Tài chính - Kế toán
Các phòng nghiệp vụ: gồm Phòng Kiểm toán Thương mại - Dịch vụ, Phòng Kiểm toán Sản xuất vật chất, Phòng Kiểm toán Dự án, Phòng Tư vấn
và Kiểm toán, Phòng Kiểm toán Xây dựng cơ bản, Phòng Đào tạo và Hợp tác quốc tế, Phòng Công nghệ thông tin
Sơ đồ 1 là mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC)
Trang 14
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty AASC
Ban Giám đốc:
Ban giám đốc là bộ phận quản lý cao nhất trong Công ty Giám đốc do
Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính về toàn bộ hoạt động của Công ty Phó Giám đốc là người thực hiện hoạt động chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ, đưa ra ý kiến và các giải pháp hỗ trợ, tư vấn cho Giám đốc trong điều hành, quản lý 4 Phó Giám đốc phụ trách tại Hà Nội, 1 Phó Giám đốc phụ trách Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh kiêm Giám đốc Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
Trụ sở chính tại Hà Nội
Phòng Tài chính – Kế toán
Chi nhánh Thanh Hóa
Chi nhánh Quảng Ninh
Phòng Hành chính tổng hợp
Phòng Công nghệ thông tin
Phòng
Tư vấn
và Kiểm toán
Phòng Đào tạo
và Hợp tác quốc tế
Phòng Kiểm toán Xây dựng
cơ bản
Phòng Kiểm toán
Dự án
Trang 15Phòng Hành chính tổng hợp:
Phòng Hành chính tổng hợp có chức năng quản lý hành chính và nhân
sự trong Công ty, đảm nhận việc lên kế hoạch hàng tháng về lao động, bảo vệ tài sản, cung cấp hậu cần cho Công ty, quản lý công văn đến và đi, sắp xếp và
đề bạt cán bộ…
Phòng Tài chính - Kế toán:
Phòng này có nhiệm vụ theo dõi và hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, cung cấp các báo cáo kế toán, thanh toán lương, thưởng, cho cán bộ công nhân viên…
Phòng Kiểm toán Thương mại - Dịch vụ:
Đây là một trong các phòng nghiệp vụ của Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) Phòng này cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán liên quan đến các hoạt động thương mại và dịch
vụ như kiểm toán bưu điện, ngân hàng, bảo hiểm… Ngoài ra, Phòng Kiểm toán Thương mại - Dịch vụ còn cung cấp các dịch vụ khác để hỗ trợ cho các phòng khác trong Công ty
Phòng Kiểm toán Sản xuất vật chất:
Chức năng của Phòng liên quan trực tiếp tới hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vật chất, đó là kiểm toán báo cáo tài chính các doanh nghiệp sản xuất, cung cấp dịch vụ tư vấn, xác định giá trị doanh nghiệp
cổ phần hóa…
Phòng Kiểm toán Dự án:
Phòng Kiểm toán Dự án cung cấp các dịch vụ liên quan tới các dự án của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ Hiện nay, kiểm toán các dự án đang phát triển mạnh mẽ, đóng góp đáng kể vào tổng doanh thu của Công ty
Trang 16Phòng Tư vấn và Kiểm toán:
Phòng thực hiện tư vấn cho khách hàng về các vấn đề tài chính, kế toán, kiểm toán, thẩm định giá trị tài sản doanh nghiệp… Phòng Tư vấn và Kiểm toán cũng hỗ trợ các phòng khác trong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính
Phòng Kiểm toán Xây dựng cơ bản:
Đây là phòng chuyên thực hiện kiểm toán các báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản hoặc các hạng mục công trình hoàn thành, được thực hiện bởi đội ngũ kiểm toán viên và kỹ thuật viên có trình độ cao và giàu kinh nghiệm
Phòng Đào tạo và Hợp tác quốc tế:
Phòng Đào tạo và Hợp tác quốc tế thực hiện nhiệm vụ đào tạo nhân viên hàng năm, tổ chức sát hạch định kỳ để đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên, cập nhật các thông tin mới về tài chính, kế toán, kiểm toán… và hướng dẫn cho các phòng nghiệp vụ Đồng thời, Phòng còn thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chất lượng các cuộc kiểm toán hàng năm theo yêu cầu của Ban Giám đốc Một chức năng mới được bổ sung cho Phòng Đào tạo và Hợp tác quốc tế là kiểm toán các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Phòng Công nghệ thông tin:
Phòng có nhiệm vụ xây dựng và cung cấp các phần mềm về kế toán và quản lý theo nhu cầu của khách hàng Bên cạnh đó, Phòng cũng thực hiện lắp đặt, bảo trì mạng máy tính của chính Công ty, góp phần hỗ trợ hoạt động cho các phòng chức năng cũng như các phòng nghiệp vụ khác
Cơ cấu tổ chức khoa học, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban giúp cho hoạt động của Công ty được thực hiện một cách liên tục với hiệu quả
Trang 17cao, cùng hướng tới mục tiêu chung của toàn Công ty Tại các chi nhánh của AASC, việc thực hiện các chức năng cũng tương tự như ở Trụ sở chính, và cũng hết sức thuận lợi vì hoạt động ngay tại địa bàn chi nhánh, hạn chế các chi phí đi lại, ăn ở.
1.6 Tổ chức công tác kế toán tại AASC
Nhìn chung, AASC có bộ máy kế toán gọn nhẹ, công tác kế toán được
tổ chức phù hợp với tình hình, đặc điểm của Công ty Công tác kế toán của Công ty được thực hiện tốt vì nhân viên trong Công ty đều là những người am hiểu về kế toán - tài chính Việc Công ty cho phép các chi nhánh hạch toán độc lập đã phát huy được tính tự chủ trong hạch toán, và điều đó cũng giúp cho công tác kế toán của Công ty được thực hiện tốt hơn
Trang 18Đặc điểm vận dụng chế độ kế toán:
Công ty áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 20/3/2006 ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp
Niên độ kế toán: bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch
Kỳ lập báo cáo tài chính: Các báo cáo tài chính được lập khi niên độ kế toán kết thúc, tức là vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch
Hình thức sổ kế toán: Nhật ký chung
Công ty áp dụng phần mềm kế toán máy
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán: đồng Việt Nam (VND).Phương pháp khấu hao tài sản cố định: Công ty áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
Nguyên tắc ghi nhận doanh thu:
Doanh thu cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Nếu các dịch vụ cung cấp liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán của kỳ đó
Phân phối lợi nhuận:
Lợi nhuận sau thuế được phân phối theo quy định tại Nghị định số 199/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ ban hành quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác
Trang 19CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN KHOẢN PHẢI TRẢ NHÀ CUNG CẤP TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY DỊCH
VỤ
TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN (AASC)
2.1 Quy trình chung kiểm toán báo cáo tài chính do AASC thực
hiện
Tại AASC, chương trình kiểm toán được xây dựng dựa trên kinh nghiệm của các kiểm toán viên lâu năm và sự học hỏi các công ty kiểm toán, đặc biệt là các công ty kiểm toán nước ngoài Chương trình được thường xuyên cập nhật và hoàn thiện cho phù hợp với chế độ kế toán và tình hình thị trường trong từng giai đoạn
Hệ thống chương trình kiểm toán gồm có: hệ thống hồ sơ kiểm toán, hệ thống câu hỏi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, các mẫu quy định chung về lập kế hoạch kiểm toán, chương trình kiểm toán cụ thể cho từng khoản mục trên các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp
Việc kiểm toán các khách hàng cụ thể với những đặc thù về loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, quy mô hoạt động… có những nét khác nhau Song, mọi cuộc kiểm toán đều tuân theo quy trình chung gồm 3 giai đoạn: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán Sơ
đồ dưới đây mô tả quy trình chung kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC):
Trang 20Sơ đồ 2.1: Quy trình chung kiểm toán báo cáo tài chính tại AASC
- Đánh giá, kiểm soát và xử lý các rủi ro kiểm toán
- Lựa chọn nhóm kiểm toán
- Thu thập thông tin cơ sở
- Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
- Nghiên cứu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát
- Thực hiện các thủ tục phân tích tổng quát
- Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro Lập chương trình kiểm toán chi tiết
THỰC HIỆN KIỂM TOÁN
- Thử nghiệm kiểm soát
- Thử nghiệm cơ bản (thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết)
- Soát xét các sự kiện xảy ra sau ngày phát hành BCTC
- Thu thập thư giải trình của Ban Giám đốc khách hàng
- Lập bảng tổng hợp kết quả kiểm toán
- Lập báo cáo kiểm toán
- Hoàn thiện hồ sơ kiểm toán Các hoạt động
sau kiểm toán
- Đánh giá kết quả và chất lượng cuộc kiểm toán
- Giải quyết các sự kiện phát sinh sau ngày ký Báo cáo kiểm toán
Trang 212.1.1 Chuẩn bị kiểm toán
2.1.1.1 Khảo sát và chấp nhận khách hàng
Hàng năm, AASC đều gửi thư chào hàng kiểm toán cho khách hàng có nhu cầu kiểm toán bao gồm cả khách hàng thường xuyên và khách hàng mới Thư chào hàng kiểm toán cung cấp cho khách hàng thông tin về các loại hình dịch vụ mà AASC có thể cung cấp cũng như quyền lợi mà khách hàng được hưởng từ các dịch vụ đó
Sau khi gửi thư chào hàng và nhận được thư mời kiểm toán của khách hàng, đại diện Công ty AASC sẽ tiến hành khảo sát, đánh giá để chấp nhận khách hàng Đại diện AASC sẽ gặp ban lãnh đạo đơn vị khách hàng để tìm hiểu các thông tin sơ bộ về khách hàng như: nhu cầu về dịch vụ kiểm toán (mục đích mời kiểm toán, yêu cầu về dịch vụ cung cấp, báo cáo…), các thông tin chung (loại hình doanh nghiệp, địa chỉ, ngành nghề sản xuất kinh doanh chính, cơ cấu tổ chức, …) Từ đó, tiến hành đánh giá rủi ro kiểm toán để xác định mức rủi ro kiểm toán gặp phải nếu tiến hành kiểm toán cho khách hàng này Nếu mức rủi ro là chấp nhận được và thỏa thuận được giá phí kiểm toán thì AASC sẽ ký hợp đồng kiểm toán Hợp đồng kiểm toán nêu rõ quyền và nghĩa vụ của các bên, giá phí kiểm toán…
Trước khi tiến hành kiểm toán, Công ty lựa chọn nhóm kiểm toán tùy thuộc vào khối lượng công việc cần thực hiện và thời gian tiến hành kiểm toán BCTC của khách hàng
2.1.1.2 Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể
Để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể, công việc cần làm trước tiên là thu thập các thông tin về hoạt động của khách hàng như: lĩnh vực hoạt động, địa bàn hoạt động, thời gian hoạt động, đặc điểm của sản phẩm, quy trình sản
Trang 22xuất, cơ cấu nhân sự, các bên có liên quan, thông tin về Ban Giám đốc, hệ thống kế toán, tổng số vốn kinh doanh, số vốn vay… Bên cạnh đó, kiểm toán viên cũng cần tìm hiểu về các quy định và việc thực hiện các quy định của Nhà nước, của khách hàng đối với các hoạt động Từ đó xác định điểm mạnh, điểm yếu của khách hàng và những vấn đề quan trọng mà kiểm toán viên cần chú ý trong quá trình kiểm toán.
Sau đó, kiểm toán viên sử dụng Bảng câu hỏi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ để đánh giá kết cấu và sự vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua các yếu tố: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ
Từ những thông tin thu thập được về hoạt động của khách hàng và hệ thống KSNB, kiểm toán viên thực hiện đánh giá mức trọng yếu và rủi ro đối với mỗi khoản mục trên báo cáo tài chính để có kế hoạch kiểm toán phù hợp
Sau đó, trưởng nhóm kiểm toán xác định nhu cầu nhân sự và phân công công việc cho từng kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán
2.1.1.3 Lập chương trình kiểm toán chi tiết
Lập chương trình kiểm toán chi tiết đối với từng khoản mục được xem
là một bước hết sức quan trọng trong mỗi cuộc kiểm toán Đó là cơ sở để kiểm toán viên thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính của khách hàng Chương trình kiểm toán nếu được thiết kế phù hợp và hiệu quả sẽ giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng đầy đủ và thích hợp cho việc đưa ra ý kiến của mình
Thực tế Công ty AASC đã thiết kế sẵn chương trình kiểm toán chi tiết cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính Tuy nhiên, đối với mỗi khách hàng, dựa trên những thông tin, tài liệu đã thu thập được, nhóm kiểm toán sẽ lập kế hoạch kiểm toán chi tiết hơn cho từng khoản mục, công việc cụ thể
Trang 23Trong chương trình kiểm toán mỗi khoản mục đều xác định rõ các mục tiêu và nội dung tiến hành kiểm toán đối với khoản mục đó (xác định rõ các thủ tục phân tích, các thử nghiệm cơ bản, quy mô chọn mẫu,… áp dụng cho từng khoản mục) Mỗi khoản mục trên BCTC đều được đánh giá rủi ro, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để phát hiện và phòng ngừa các rủi ro còn chứa đựng trong BCTC
Chương trình kiểm toán chi tiết này được lập phù hợp với chương trình kiểm toán tiên tiến nhất đang được áp dụng thống nhất trong Công ty nhằm đảm bảo cho việc thực hiện kiểm toán có hiệu quả nhất
2.1.2 Thực hiện kiểm toán
Sau khi lập chương trình kiểm toán chi tiết, các kiểm toán viên được phân công thực hiện sẽ đến đơn vị khách hàng tiến hành thực hiện kiểm toán theo chương trình đã lập Kiểm toán viên tiến hành theo các bước đã được mô
tả cụ thể trong chương trình kiểm toán của Công ty nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán
Trước hết, kiểm toán viên sử dụng các thử nghiệm kiểm soát (trong đó chủ yếu thông qua Bảng câu hỏi tìm hiểu hệ thống KSNB) để phân tích môi trường kiểm soát chung, xem xét hệ thống kế toán và thủ tục kiểm soát hiện
có tại khách hàng Việc phân tích này giúp kiểm toán viên có những đánh giá ban đầu về mức độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ, việc tuân thủ các chế độ, chuẩn mực kế toán cũng như các quy định của Luật kế toán… để có thể xác định được các thủ tục kiểm toán cần thiết
Tiếp đến, các kiểm toán viên sẽ thực hiện các thủ tục phân tích Các thủ tục này giúp kiểm toán viên xác định nội dung, phạm vi của các thủ tục kiểm toán khác cần thực hiện Thủ tục này bổ sung cho kiểm tra chi tiết, kiểm tra tính hợp lý của số liệu và kiểm tra toàn bộ báo cáo tài chính trong khâu soát
Trang 24xét cuối cùng của kiểm toán viên Các thủ tục phân tích được sử dụng trong giai đoạn này bao gồm: phân tích sự biến động giữa năm nay với năm trước, giữa thực hiện với kế hoạch, giữa đơn vị với trung bình ngành, phân tích tỉ suất.
Để có những bằng chứng đầy đủ và đáng tin cậy, kiểm toán viên còn phải áp dụng các thủ tục kiểm tra chi tiết đối với các nghiệp vụ phát sinh và
số dư các khoản mục Việc kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ phát sinh được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp chọn mẫu Kiểm toán viên chọn mẫu phải đảm bảo rằng mẫu được chọn phải mang tính đại diện Thông thường, mẫu chọn thường bao gồm các nghiệp vụ có nội dung kinh tế bất thường và các nghiệp vụ có số tiền phát sinh lớn Việc kiểm tra chi tiết số dư được thực hiện đối với tất cả các khoản mục có số dư trên Bảng cân đối kế toán (cần thiết phải được theo dõi chi tiết theo đối tượng hoặc theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ)
Khi công việc kiểm toán ở tất cả các khoản mục được hoàn thành, trưởng nhóm kiểm toán chịu trách nhiệm tổng hợp các bằng chứng thu thập được và đánh giá tính đầy đủ và thích hợp của chúng
2.1.3 Kết thúc kiểm toán
Khi giai đoạn thực hiện kiểm toán hoàn thành, trưởng nhóm kiểm toán tóm tắt các công việc đã thực hiện và kết quả thu được Sau đó, lập tài liệu soát xét 3 cấp, tổng hợp các sai sót để đề nghị điều chỉnh, dự thảo phục vụ cho mục đích soát xét chất lượng
Sau khi kiểm soát thông qua thì trưởng nhóm kiểm toán sẽ gửi cho khách hàng bản dự thảo các bút toán điều chỉnh và tổ chức họp với Ban lãnh đạo đơn vị khách hàng để thông báo kết quả kiểm toán và thảo luận để thống nhất về kết quả cuối cùng của cuộc kiểm toán
Trang 25Sau đó, trưởng nhóm lập và ký Báo cáo dự thảo Báo cáo kiểm toán có đính kèm các BCTC đã được kiểm toán của khách hàng, trình Giám đốc ký duyệt và đóng dấu, sau đó công bố chính thức
AASC cũng ban hành thư quản lý để tư vấn cho khách hàng trong việc hoàn thiện hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ
2.2 Kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp tại khách hàng ABC và khách hàng XYZ
2.2.1 Chuẩn bị kiểm toán
Trước khi trình bày các bước công việc cụ thể do kiểm toán viên thực hiện trong giai đoạn Chuẩn bị kiểm toán, phần dưới đây giới thiệu sơ bộ về các khách hàng ABC và XYZ
* Nhà máy ABC:
Nhà máy ABC là chi nhánh của Công ty cổ phần E chuyên kinh doanh trong lĩnh vực thiết bị bưu điện Nhà máy ABC là đơn vị hạch toán phụ thuộc Bước thu thập thông tin cơ sở sẽ đem lại thông tin cụ thể hơn về mối quan hệ giữa Nhà máy ABC và Công ty E
ABC là một nhà máy chuyên sản xuất thiết bị chuyên ngành bưu chính, viễn thông; xây lắp, lắp đặt, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị bưu chính, viễn thông
Nhà máy ABC cũng như Công ty cổ phần E là khách hàng lâu năm của Công ty AASC, được AASC tiến hành kiểm toán từ năm 2000 Do vậy, tháng
1 năm 2010, AASC đã chủ động liên hệ với Công ty E và được Công ty này mời kiểm toán qua Thư mời kiểm toán cho niên độ kế toán kết thúc ngày 31/12/2009
Sau khi hợp đồng kiểm toán được ký kết, AASC cử kiểm toán viên phụ trách công việc Đối với phần hành khoản phải trả nhà cung cấp, AASC giao
Trang 26cho kiểm toán viên LTH phụ trách, thực hiện từ ngày 05/02/2010 đến ngày 10/02/2010.
Công việc kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp tại Công ty XYZ do kiểm toán viên NDT phụ trách, thực hiện từ ngày 15/03/2010 đến ngày 20/03/2010
2.2.1.1 Thu thập thông tin cơ sở
Công việc này giúp kiểm toán viên có những hiểu biết ban đầu về khách hàng và về phần hành mình phụ trách, từ đó có định hướng và thiết kế phương pháp kiểm toán phù hợp Kiểm toán viên thường thu thập các thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý, hệ thống kế toán và tổng hợp các khoản phải trả nhà cung cấp
* Nhà máy ABC:
ABC là khách hàng thường xuyên của AASC nên các thông tin chung
về Nhà máy này đã có trong hồ sơ kiểm toán của các năm trước Vì vậy, kiểm toán viên sử dụng trực tiếp tài liệu trong hồ sơ thường niên mà không đến Nhà máy để thu thập những thông tin này trước khi tiến hành kiểm toán
• Về mối quan hệ giữa Nhà máy ABC và Công ty cổ phần E:
Nhà máy ABC là chi nhánh của Công ty cổ phần E chuyên kinh doanh trong lĩnh vực thiết bị bưu điện Nhà máy được thành lập từ năm 2002 Nhà
Trang 27máy ABC là đơn vị hạch toán phụ thuộc Xét về điều kiện quản lý và sử dụng vốn, có sự ràng buộc giữa Nhà máy ABC và Công ty E Nhà máy ABC không
có quyền tự quyết trong vấn đề huy động hay sử dụng vốn Việc mua sắm, sử dụng, trích khấu hao các tài sản cố định của Nhà máy ABC phải được sự phê duyệt của cấp lãnh đạo Công ty E Nhà máy ABC chỉ là nơi sản xuất, còn việc mua sắm các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra do Công ty E quyết định
Nói một cách cụ thể hơn, Nhà máy ABC là nhà máy chuyên sản xuất, lắp ráp, sửa chữa các loại máy điện thoại cố định, máy bộ đàm, các thiết bị bưu chính, viễn thông… và khảo sát, thiết kế, lắp đặt các trạm thu phát sóng viễn thông…
• Về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Nhà máy ABC được mô tả qua sơ
đồ dưới đây:
Trang 28Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Nhà máy ABC
Bộ máy quản lý của Nhà máy được tổ chức khá gọn nhẹ Ban Giám đốc gồm 1 Giám đốc và 1 Phó Giám đốc Giám đốc và Phó Giám đốc Nhà máy do Tổng Giám đốc Công ty E bổ nhiệm và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Nhà máy trước Tổng Giám đốc Công ty
BAN GIÁM ĐỐC
Phân xưởng Sản xuất
Phòng Hành chính
Phân xưởng lắp ráp
Trang 29Là một chi nhánh của Công ty E, Nhà máy ABC phụ thuộc hoàn toàn vào Công ty E về tài sản và nguồn vốn Do đó, Nhà máy không sử dụng tài khoản 411 - Nguồn vốn kinh doanh, mọi quan hệ tiền hàng giữa Nhà máy với Công ty được theo dõi trên TK 136 - Phải thu nội bộ và TK 336 - Phải trả nội
bộ Đồng thời, Nhà máy không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (không
sử dụng tài khoản 3334 - Thuế thu nhập doanh nghiệp) mà chỉ phải thực hiện nghĩa vụ đối với các loại thuế gián thu: thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt…
* Công ty XYZ:
Qua tìm hiểu, kiểm toán viên đã thu được các thông tin về Công ty XYZ như sau:
• Về quy mô và cơ cấu vốn:
Công ty XYZ là 1 công ty cổ phần, được thành lập năm 2004 với số vốn điều lệ là 5.000.000.000VND (năm tỉ đồng) được chia thành 50.000 cổ phần (năm mươi nghìn cổ phần) mệnh giá 100.000VND/cổ phần Công ty XYZ chỉ phát hành một loại cổ phần là cổ phần phổ thông (50.000 cổ phần phổ thông) mà không phát hành bất kỳ loại cổ phần ưu đãi nào
Trang 30• Về ngành nghề kinh doanh:
XYZ là một doanh nghiệp thương mại, chuyên buôn bán, xuất nhập khẩu các loại vật tư nông nghiệp Công ty XYZ thường nhập các nông sản như: gạo, sắn lát, lạc, vừng, đỗ xanh… từ các nhà cung cấp trong nước và xuất khẩu đi các nước Trung Quốc, Thái Lan… Đồng thời, Công ty nhập khẩu phân bón từ nước ngoài về để cung cấp cho thị trường trong nước
• Về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý:
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty XYZ, bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra
Ban Giám đốc của Công ty XYZ bao gồm 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc Giám đốc Công ty do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, là người điều hành mọi hoạt động của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị
Công ty XYZ có các phòng: Phòng Tổ chức hành chính, Phòng Kế toán – Tài chính và Phòng Kinh doanh
Dưới đây là sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty XYZ:
Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty XYZ
Ban Giám đốc
Phòng Kinh doanh
Phòng
Tổ chức hành chính
Hội đồng quản trị Đại hội đồng cổ đông
Phòng
Kế toán - Tài chính
Trang 31Hình thức sổ kế toán: Nhật ký chung.
Hiện nay Công ty đang sử dụng phần mềm kế toán BRAVO
Niên độ kế toán: bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép và báo cáo: đồng Việt Nam (VNĐ)
Phương pháp hạch toán ngoại tệ: Các nghiệp vụ phát sinh bằng ngoại tệ được quy đổi ra đồng Việt Nam (VNĐ) theo tỉ giá thực tế tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ theo từng ngân hàng đơn vị có giao dịch Cuối kỳ, căn cứ vào
số dư các tài khoản tiền bằng ngoại tệ và các tài khoản phải thu, phải trả có gốc ngoại tệ để điều chỉnh theo tỉ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tại ngày lập Báo cáo tài chính
Phương pháp kế toán hàng tồn kho: Hàng tồn kho được tính theo giá gốc Nhà máy áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán hàng tồn kho, giá trị hàng tồn kho được xác định theo phương pháp giá thực tế đích danh
2.2.1.2 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Nếu các thông tin cơ sở thu thập được ở trên giúp kiểm toán viên hiểu được các hoạt động kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập các thông tin
về nghĩa vụ pháp lý giúp kiểm toán viên nắm bắt được các quy trình pháp lý
Trang 32có ảnh hưởng tới các mặt hoạt động kinh doanh này Những thông tin này được thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban Giám đốc đơn vị khách hàng, bao gồm các tài liệu sau:
- Giấy phép đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh
- Điều lệ công ty
- Danh sách thành viên Hội đồng quản trị
- Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc
- Các Báo cáo tài chính, Báo cáo kiểm toán, các Biên bản thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành hay trong các năm trước
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng
Đối với Nhà máy ABC, các tài liệu liên quan tới nghĩa vụ pháp lý đã
được thu thập và lưu trong hồ sơ kiểm toán các năm trước bao gồm: Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, Quyết định thành lập chi nhánh, Báo cáo tài chính các năm trước, các Hợp đồng dài hạn, Quy chế tiền lương…
Công ty XYZ là khách hàng mới của AASC nên kiểm toán viên phải
thu thập đầy đủ các tài liệu như: Quyết định thành lập, Điều lệ công ty, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Biên bản họp Hội đồng quản trị, Danh sách thành viên Hội đồng quản trị, Quy chế tiền lương, Quyết định hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp…
2.2.1.3 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Khi tìm hiểu sơ bộ về khách hàng, kiểm toán viên đã tiến hành đánh giá
hệ thống KSNB Tuy nhiên, khi đi sâu vào từng phần hành cụ thể, kiểm toán viên còn phải hướng trọng tâm vào các quá trình kiểm soát, các thủ tục, các
Trang 33quy định liên quan tới phần hành đó Đối với khoản phải trả người bán, để đánh giá hệ thống KSNB, kiểm toán viên sử dụng phương pháp phỏng vấn thông qua Bảng câu hỏi tìm hiểu hệ thống KSNB được xây dựng sẵn kết hợp với kinh nghiệm và hiểu biết của kiểm toán viên.
Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm
và óc xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên
* Nhà máy ABC:
Nhà máy ABC là khách hàng cũ của AASC nên các hồ sơ liên quan đến hệ thống KSNB đã được lưu trong hồ sơ kiểm toán các năm trước Khi tiến hành kiểm toán năm nay, kiểm toán viên không thực hiện phỏng vấn theo Bảng câu hỏi tìm hiểu hệ thống KSNB mà chủ yếu tìm hiểu xem trong năm
2009 Nhà máy có thay đổi gì lớn trong bộ máy quản lý hay trong chu trình mua hàng và thanh toán để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục phải trả nhà cung cấp
Qua tìm hiểu về bộ máy quản lý của Nhà máy, chính sách mua hàng và thanh toán, nhân viên mua hàng, nhà cung cấp, phương pháp hạch toán…, kiểm toán viên nhận thấy trong năm 2009 Nhà máy không có thay đổi gì lớn ảnh hưởng tới mức làm thay đổi ý kiến của kiểm toán viên về hệ thống KSNB Do đó, kiểm toán viên sử dụng kết quả kiểm toán của năm trước Theo đánh giá của kiểm toán viên năm trước, hệ thống KSNB của Nhà máy đối với khoản phải trả nhà cung cấp ở mức trung bình Kiểm toán viên xác định cần kết hợp các thử nghiệm kiểm soát và các thử nghiệm cơ bản ở mức hợp lý
* Công ty XYZ:
Tại AASC đã xây dựng sẵn 1 Bảng câu hỏi tìm hiểu hệ thống KSNB đối với chu trình mua hàng và thanh toán Khi tiến hành kiểm toán BCTC tại
Trang 34Công ty XYZ, để đánh giá hệ thống KSNB đối với khoản phải trả nhà cung cấp, kiểm toán viên sử dụng các câu hỏi trong bảng dưới đây để phỏng vấn trực tiếp nhân viên của Công ty XYZ:
Bảng 2.1: Bảng câu hỏi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộđối với khoản phải trả nhà cung cấp thực hiện tại Công ty XYZ
Không
áp dụng
1 Các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ, đề nghị thanh toán có
được kiểm tra lại về giá cả, số lượng hàng thực tế giao
nhận, các phép tính số học, tính hợp lý, hợp pháp của chứng
từ trước khi thanh toán không?
x
2 Các hóa đơn trên có dấu tích chứng tỏ chúng đã được kiểm
tra không? (VD: chữ ký của người kiểm tra, dấu ĐÃ KIỂM
TRA)
x
3 Công ty có theo dõi thời hạn thanh toán các khoản nợ để
kịp thời phát hiện các khoản nợ quá hạn không? x
4 Công ty có chủ động trả nợ cho các chủ nợ khi đến hạn hay
chờ đến khi bị đòi nợ mới thanh toán? x
5 Công ty có chủ động thanh toán nợ trong hạn để được
hưởng các khoản chiết khấu thanh toán không? x
6 Người chịu trách nhiệm theo dõi và thanh toán công nợ có
đồng thời là người chịu trách nhiệm mua và nhận hàng
không?
x
7 Công ty có quy định đối chiếu công nợ… 1 lần hoặc thực
hiện đối chiếu ít nhất 1 lần vào cuối năm không? x
8 Có báo cáo thường xuyên các khoản phải trả có gốc ngoại
9 Người chịu trách nhiệm theo dõi thanh toán nợ phải trả có
theo dõi thường xuyên biến động tỉ giá của các ngoại tệ mà
công ty đang nhận nợ không?
x
10 Công ty có quy định mức giá trị gói mua sắm cần phải đấu
thầu, chào hàng cạnh tranh không? x
Trang 35Kết luận: Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản phải trả người bán của Công ty: Khá Trung bình Yếu
Các đơn đặt hàng được Phòng kinh doanh trình Giám đốc duyệt, sau đó nhân viên Phòng kinh doanh tiến hành mua hàng, thủ kho nhập hàng, kế toán ghi sổ Điều này chứng tỏ nguyên tắc bất kiêm nhiệm được đảm bảo thực hiện tốt
Tuy nhiên, một số quy định về thu mua hàng hóa, hình thức và điều kiện thanh toán không được thực hiện đúng, việc ghi sổ không kịp thời Mặt khác, Công ty cũng không có bộ phận KSNB Do đó, kiểm toán viên đánh giá tính tin cậy và hiệu quả của hệ thống KSNB ở mức yếu Theo đó, kiểm toán viên xác định cần thu hẹp các thử nghiệm kiểm soát và mở rộng các thử nghiệm cơ bản ở mức cao nhất khi thực hiện kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp tại Công ty XYZ
2.2.1.4 Thực hiện các thủ tục phân tích tổng quát
Kỹ thuật này giúp kiểm toán viên có cái nhìn tổng quát về khách hàng,
về tình hình thanh toán cũng như tình trạng lãi lỗ, khả năng tiếp tục hoạt động của khách hàng Các kiểm toán viên của AASC thường tính toán sự biến động
về số dư tài khoản năm nay so với năm trước và tính các tỉ suất thanh toán Từ
đó, kiểm toán viên so sánh, đánh giá để xác định những biến động bất thường
Kết quả tính toán số biến động của số dư tài khoản phải trả nhà cung cấp năm nay so với năm trước tại 2 khách hàng ABC và XYZ được thể hiện trong bảng dưới đây:
x
Trang 36Bảng 2.2: Biến động số dư tài khoản 331 tại 2 khách hàng ABC và XYZ
Đơn vị tính: VND
Trả trước cho nhà cung cấp (Dư Nợ) 153.035.000 - -153.035.000 Phải trả nhà cung cấp (Dư Có) 298.645.664 84.453.288 -214.192.376
Trả trước cho nhà cung cấp (Dư Nợ) - 268.950.400 +268.950.400 Phải trả nhà cung cấp (Dư Có) 2.595.319.965 5.518.444.515 +2.923.124.550
Ngoài ra, kiểm toán viên còn thực hiện thủ tục phân tích dọc bằng cách tính toán các tỉ suất về khả năng thanh toán của 2 khách hàng ABC và XYZ
Bảng 2.3: Tỉ suất về khả năng thanh toán của 2 khách hàng ABC và XYZ
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2008 Năm 2009
Khả năng thanh toán hiện
Ở Nhà máy ABC, số dư tài khoản Trả trước cho nhà cung cấp và tài
khoản Phải trả nhà cung cấp cuối năm 2009 giảm so với thời điểm cuối năm
2008 cho thấy Nhà máy ít bị chiếm dụng vốn hơn và số nợ phải trả cũng ít hơn Các tỷ suất về khả năng thanh toán cho thấy khả năng thanh toán của Nhà máy khá tốt và không có biến động lớn, đảm bảo việc thanh toán các