1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số chỉ số sinh lý, thể lực và một số bệnh thường gặp ở người cao tuổi một số vùng thuộc tỉnh thanh hoá

90 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số chỉ số sinh lý, thể lực và một số bệnh thường gặp ở người cao tuổi một số vùng thuộc tỉnh Thanh Hóa
Người hướng dẫn PGS.TS. Nghiêm Xuân Thăng
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học Công cộng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[8] Nhằm giúp NCT thấy rõ tình hình sức khỏe của mình, các nghiên cứu về thể lực, sinh lý, bệnh thường gặp đã được triển khai ở nhiều vùng miền trong cả nước đã góp phần làm sáng tỏ một

Trang 1

nhiều người Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc tới PGS.TS Nghiêm Xuân Thăng, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương đến khi tổ chức triển khai nghiên cứu, thu thập số liệu, xử lý và trình bày báo cáo kết quả

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau Đại học, Khoa sinh học, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành mục tiêu học tập về luận văn của mình

Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới UBND phường Ba Đình, phường Trường Thi thành phố Thanh Hóa, UBND xã Hoằng Phụ, Hoằng Đông huyện Hoằng, Trung tâm điều dưỡng và phục hồi chức năng Trung ương Sầm Sơn

Cho tôi gửi lời cảm ơn tới bạn bè, gia đình đã động viên chia sẻ, giúp

đỡ, khích lệ tôi hoàn thành luận văn này

Vinh, tháng 12-2010

Trang 2

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CAO TUỔI 4

1.1.1 Quá trình lão hoá 4

1.1.1.1 Sơ lược sự phân định các thời kỳ phát triển theo tuổi 4

1.1.1.2 Khái niệm về lão hoá 6

1.1.1.3 Lão hoá một số hệ cơ quan 6

1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới lão hoá 7

1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 9

1.2.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI 9

1.2.1.1 Người cao tuổi trên thế giới 9

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu người cao tuổi trên thế giới 10

1.2.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 14

1.2.2.1 Người cao tuổi ở Việt Nam 14

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu người cao tuổi ở Việt Nam 15

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 19

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 19

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu trong nghiên cứu 20

2.2.2 Phương pháp đo chiều cao đứng và cân trọng lượng 21

2.2.3 Phương pháp đo vòng ngực bình thường 22

Trang 3

2.2.7 Phương pháp test 23

2.2.8 Xử lý kết quả nghiên cứu 23

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 25

3.1 THỰC TRẠNG NCT Ở THANH HOÁ VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU 25

3.1.1 Người cao tuổi ở Thanh Hoá 25

3.1.2 NCT ở các địa bàn nghiên cứu 25

3.2 CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI Ở NCT VÙNG NGHIÊN CỨU 26

3.2.1 Chiều cao đứng trung bình của ĐTNC 26

3.2.2 Cân nặng trung bình của ĐTNC 31

3.2.3 Vòng ngực trung bình của ĐTNC 37

3.2.4 Chỉ số Pignet trung bình của ĐTNC 39

3.2.5 Chỉ số BMI trung bình của ĐTNC 42

3.3 CÁC CHỈ SỐ SINH LÝ Ở NCT VÙNG NGHIÊN CỨU 44

3.3.1 Tần số thở TB của ĐTNC 44

3.3.2 Dung tích sống (VC) trung bình của ĐTNC 48

3.3.3 Tần số tim trung bình của ĐTNC 52

3.3.4 Huyết áp tối đa, tối thiểu trung bình của ĐTNC 56

3.3.4.1 HA tối đa TB của ĐTNC 56

3.3.4.2 Huyết áp tối thiểu trung bình của ĐTNC 60

3.4 CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP Ở ĐTNC 64

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

I KẾT LUẬN 85

II KIẾN NGHỊ 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nửa cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI già hoá dân số diễn ra một cách

nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu Trên thế giới năm 1950 chỉ có 214 triệu

đoán gần 2 tỷ NCT vào năm 2025 Các nước đang phát triển sẽ là nơi có tỷ lệ NCT tăng cao nhất và nhanh nhất Theo dự báo số NCT ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới Vấn đề này đang làm nảy sinh những khó khăn nghiêm trọng về các khía cạnh kinh tế-xã hội và y tế.Trước tình hình đó cần sự quan tâm của quốc gia, xã hội và giáo dục đến NCT [11] Theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 01/04/1999 Việt Nam có

8,2% tổng dân số Tuy nhiên, theo kết quả từ các cuộc điều tra nghiên cứu thực tế, trong mấy năm gần đây, tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh Năm 2008 thế giới có khoảng 600 triệu người cao tuổi, chiếm 10% dân số toàn cầu Năm 2005, cả nước có 7,4 triệu người cao tuổi, tương đương 9% dân số Năm 2008 Việt Nam có khoảng 8,2 triệu người cao tuổi, chiếm 9,2% dân số, đến nay tỉ lệ này là 9,45% và có xu hướng tăng lên trên 16,8% vào năm 2020 [11]

Sự lão hoá vây bọc tất cả các cơ quan và hệ thống của cơ thể cả về hình thái lẫn chức năng Lão hoá có nhiều biểu hiện ở mức phân tử, mức tế bào, mô,cơ quan và ở hệ thống cơ quan Dưới góc độ sinh lý, lão hoá là sự suy giảm dần theo năm tháng của hiệu lực, của chức năng duy trì sự sống

Con người ở giai đoạn suy thái thì hầu hết mọi chức năng đều từ từ giảm dần hiệu lực: tim bơm ít máu dần, phổi lấy oxi không bằng trước, men tiêu hoá giảm hoạt độ, lực cơ yếu dần, xung thần kinh kém dần, phản xạ kém nhạy

Trang 5

Giữa lão hoá và bệnh tật có mối quan hệ mật thiết với nhau - những căn bệnh này chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn suy thoái Già không phải là bệnh nhưng tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phat triển NCT thường mắc nhiều bệnh nhất là bệnh mãn tính và khả năng phục hồi bệnh ở NCT kém Trong độ

65.9% số người mắc trên 5 bệnh Kết quả điều tra dịch tễ tại Việt Nam cho thấy một người già trung bình mắc 2,69 loại bệnh, ở độ tuổi 60 - 74 là 2,56 bệnh, trên 75 tuổi là 3,05 bệnh Điều quan trọng là bệnh tật làm hạn chế hoạt động sống hàng ngày của NCT [56] Vì vậy, "Sống vui, sống khỏe, sống có ích" là điều mà bất cứ người cao tuổi nào và con cháu của họ mong muốn Chương trình hành động quốc tế về người cao tuổi 2002 kêu gọi mọi người thay đổi về thái độ, chính sách và tập quán ở tất cả các cấp trong mọi lĩnh cực để tiềm năng to lớn của người cao tuổi được phát huy trong thế kỷ XXI và lấy ngày 1/10 làm ngày "Quốc tế người cao tuổi" [8]

Nhằm giúp NCT thấy rõ tình hình sức khỏe của mình, các nghiên cứu về thể lực, sinh lý, bệnh thường gặp đã được triển khai ở nhiều vùng miền trong

cả nước đã góp phần làm sáng tỏ một số chỉ số của NCT ở các nhóm tuổi khác nhau, qua đó cung cấp cơ sở cho việc xây dựng chính sách chăm sóc của Đảng, Nhà nước ta ngày càng tốt hơn

Thanh Hóa là một trong những tỉnh đất rộng, người đông, dân số gần 3,9 triệu người, tỷ lệ người NCT chiếm khoảng 12,8% trở thành tỉnh già hóa dân

số [54] Trong khi điều kiện kinh tế còn rất khó khăn Số NCT được chăm sóc còn quá thấp lại chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của họ Các nghiên cứu về NCT nói chung và về sức khỏe của NCT nói riêng ở Thanh Hóa cho đến nay còn rất ít

Vì vậy, nghiên cứu các chỉ số thể lực, sinh lý và điều tra các bệnh ở NCT

để đánh giá hiệu quả, phòng và điều trị các bệnh là điều cần thiết Xuất phát

Trang 6

thuộc tỉnh Thanh Hóa"

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 Đánh giá thực trạng về một số chỉ tiêu thể lực, sinh lý và bệnh thường gặp ở người cao tuổi trên hai phường Trường Thi, Ba Đình và các xã Hoằng Phụ, Hoằng Đông - Hoằng Hóa - Thanh Hóa

2.2 Tìm hiểu nguyên nhân và bước đầu tìm ra phương pháp khắc phục tình trạng trên nhằm tăng cường sức khỏe, hạn chế bệnh do lão hóa ở người cao tuổi

3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng thống kê về số lượng và tỷ lệ người cao tuổi trên địa bàn nghiên cứu

3.2 Nghiên cứu một số chỉ số thể lực: Chiều cao, cân nặng, vòng ngực, chỉ số BMI, chỉ số Pignet ở người cao tuổi

3.3 Nghiên cứu một số chỉ số sinh lý ở người cao tuổi: Tần số tim, tần số thở, dung tích sống, huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu

3.4 Nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở người cao tuổi: Bệnh tim mạch, bệnh hô hấp, bệnh xương khớp, bệnh thần kinh, bệnh suy giảm thị lực, bệnh đường tiêu hóa và bệnh do vết thương cũ tái phát

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CAO TUỔI

Theo quy ước chung của Liên hợp quốc và theo pháp lệnh người cao tuổi

Việt Nam: Người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên và được chia

thành 3 nhóm:

- Nhóm các cụ còn năng động: là những người có độ tuổi 60 - 69

- Nhóm trung bình: là những người có độ tuổi 70 - 79

- Nhóm rất già: là những người từ 80 tuổi trở lên

Sự phân chia này không mang tính bắt buộc và chặt chẽ vì về phương diện này đánh giá tuổi sinh học chính xác hơn tuổi hành chính Tuy nhiên, cách phân chia đại cương như vậy có tính thực tiễn, dễ áp dụng [5]

1.1.1 Quá trình lão hoá

1.1.1.1 Sơ lược sự phân định các thời kỳ phát triển theo tuổi

Quá trính sống của con người cũng tuân theo quy luật chung của mọi sinh vật Quá trình này gồm nhiều giai đoạn khác nhau và là mốc lịch sử hấp dẫn của sự sống [40]

Có nhiều cách phân định thời kỳ phát triển cá thể:

Lần đầu tiên, Haeckel (1866) đưa ra thuật ngữ "phát triển cá thể" để biểu thị thời kỳ phát triển của bào thai Từ đó định luật phát sinh học được hình thành Sau này khái niệm "phát triển cá thể" được coi là toàn bộ quá trình biến đổi liên tục của cơ thể từ lúc trứng được thụ tinh cho đến khi già và chết [63] Công thức chung nhất của sự phân định các thời kỳ phát triển cá thể của động vật có vú nói chung và của con người nói riêng đã được Nagorui đưa ra trong những năm 60 của thế kỷ XX Toàn bộ chu trình phát triển cá thể được các tác giả chia ra hai thời kỳ: Trước và sau khi sinh Sự phát triển sau khi sinh lại được chia làm ba thời kỳ lớn: Thời kỳ tăng trưởng, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ lão hóa [63]

- Giai đoạn ổn định: Là thời kỳ tăng lớp mỡ, tăng cân, các chỉ số sinh lý

đi vào ổn định

Trang 8

- Giai đoạn suy thoái: Trọng lượng thân thể giảm, giảm các chỉ số chức năng, da thay đổi, thay đổi tư thế (diện mạo), tốc độ chuyển động cũng thay đổi Theo TS Đoàn Yên và nhiều nhà nghiên cứu khác, đối với các nghiên cứu về mặt hình thái, sinh lý, hướng đến tính liên tục của các giai đoạn thuộc

sự sống của con người từ lúc sinh ra cho đến lúc rất già thì sự phân định các thời kì phát triển cá thể của con người tại Hội nghị lần thứ 7 toàn Liên bang

về hình thái, sinh lý, hoá sinh theo lứa tuổi của Viện Hàn lâm Sư phạm Liên

Xô tại Mat-xcơ-va (1965) (Bảng 1) là phù hợp Sơ đồ này cho thấy khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: Nhân chủng, sinh lý học, nhi khoa, sư phạm Cách phân định thời kỳ này đã nêu lên được tính quy luật của sự hình thành cơ thể, nhân cách, các đặc điểm về chức năng của con người; ngoài ra còn đề cập đến nhân tố xã hội [63]

Bảng 1.1: Sơ đồ phân định các thời kỳ theo lứa tuổi trong quá trình phát triển cá thể con người - được thông qua tại Hội nghị lần thứ 7 toàn Liên Bang về hình thái, sinh lý, hóa sinh theo lứa tuổi của Viện Hàn lam

Sư phạm Liên Xô tại Mat-xcơ-va (1965) [63]

Trang 9

1.1.1.2 Khái niệm về lão hoá

Lão hoá là một quá trình biến đổi sinh học mang tính quy luật Những biến đổi theo tuổi đưa đến hạn chế dần khả năng thích nghi của cơ thể Già là giai đoạn cuối cùng của sự phát triển, là kết qua của sự lão hoá [67]

Lão hoá là quá trình huỷ hoại, kết quả của tác động gây tổn thương không ngừng theo tuổi bởi các yếu tố ngoại sinh và nội tại, dẫn tới suy yếu các chức năng sinh lí của cơ thể

Trên mỗi nấc của phát triển cá thể, các quá trình sống được chương trình hoá, lão hoá và kết cục của sự sống là cái chết cũng được chương trình hoá như vậy [56]

1.1.1.3 Lão hoá một số hệ cơ quan

- Lão hoá hệ xương và cơ: Lực cơ giảm từ từ sau 25-30 tuổi cho đến

già, đó là hiện tượng giảm hiệu lực chức năng đặc trưng của mọi quá trình lão hoá Các nhóm cơ khác nhau và các thông số khác nhau của một chức năng

lão hoá cũng không cùng lúc [21]

Trên người cao tuổi còn thấy sự thay đổi các mức năng lượng cơ xương Hoạt tính các enzym phân giải glucoza giảm nhiều hơn các enzym oxydaza

Sự thiếu hụt tương đối hoocmon tăng trưởng và endrogen diễn ra cùng với sự lão hoá cũng có vai trò quan trọng trong toàn bộ chức năng của cơ Tuổi tăng lên thì thành phần nước trong gân và dây chằng cũng giảm đi do đó mức độ cứng của gân cũng tăng lên Các sụn khớp bị thay đổi nhiều khi già Lực căng của sụn khớp giảm vì trong thành phần sinh hóa của là có nhiều thay đổi [6] Trong toàn bộ cuộc đời, một phụ nữ sẽ mất khoảng 35% khối xương đặc

và khoảng 50% khối xương xốp, trong khi đó ở nam giới chỉ mất 2/3 số lượng xương này [6]

- Lão hoá hệ tuần hoàn: Bình thường không có bệnh gây phì đại, thì

khối cơ tim giảm dần theo tuổi Nhịp tim giảm đôi chút và giảm thể tích tâm thu, do đó giảm lưu lượng máu bơm đi khắp cơ thể Động mạch tăng độ nhiễm mỡ và độ xơ, giảm tính đàn hồi Động mạch nhỏ ở ngoại vi hẹp dần,

Trang 10

làm tăng sức cản, khiến tim lúc 60 -70 tuổi tốn nhiều năng lượng hơn 20 - 30% so với lúc 20 tuổi mà hiệu lực cung cấp máu lại thấp hơn, lượng máu nuôi tạng giảm dần Khi tăng tuổi các loại mỡ huyết tương đều tăng, điều này liên quan chặt chẽ với huyết áp Huyết áp động mạch tăng dần suốt đời theo tuổi nhưng không vượt quá 160/95mmHg [62]

- Lão hoá hệ hô hấp: Sợi đàn hồi nhu mô phổi thoái hoá làm giảm lực

co đàn hồi, giảm tỷ số tiffeneau (FEV/VC), làm tăng thể tích cặn (RV, FRV) Tất cả các loại thể tích hữu ích và các loại lưu lượng thở đều giảm dần, đặc biệt giảm nhanh dự trữ thở ra (ERV) [62]

- Lão hoá hệ thần kinh: Sự lão hoá làm suy yếu các tế bào thần kinh

trung ương, làm ảnh hưởng đến điều hoà và dinh dưỡng của cơ thể Do những biến đổi theo tuổi, phản ứng thần kinh trở lên kém nhanh nhạy, giảm khả năng làm việc trí óc và chân tay, giảm khả năng vận động, sinh sản, điều hoà nội môi và nhiều biến đổi khác Sự biến đổi theo tuổi ở não là cơ chế chủ đạo của

lão hoá toàn cơ thể [21]

- Lão hoá cơ quan giác quan: Càng tăng tuổi càng giảm hiệu lực các

giác quan, đặc biệt giảm độ trong thể thuỷ tinh, giảm điều tiết mắt [62]

Giảm chức năng cơ quan phân tích thính giác theo tuổi là một trong số các quá trình sinh lí rõ hơn cả Trên thực tế lão hoá cơ quan thính giác bắt đầu

từ tuổi thanh niên và đến 40-50 tuổi độ nhạy cảm kém đi rõ rệt, rõ nhất là vùng tần số cao [6]

- Lão hoá và bệnh tật: Đều mang tính chất phá hủy nhằm giảm khả năng thích nghi của cơ thể, lão hoá có thể tạo ra các tiền đề cho bệnh phát triển [67]

1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới lão hoá

- Yếu tố di truyền:

Theo nhiều tác giả tuổi thọ trung bình của những người có cha mẹ tuổi thọ cao là cao hơn, so với tuổi thọ trung bình của con cháu những người có tuổi thọ trung bình thấp Ngoài ra do di truyền giới tính và đặc điểm xã hội

phụ nữ thường có tuổi thọ trung bình cao hơn nam giới từ 4 - 11 năm [21]

Trang 11

- Yếu tố môi trường: Các yêu tố môi trường có thể tác động qua lại vói

nhau nó ảnh hưởng tới sức khỏe con người đặc biệt là người già

+ Về môi trường xã hội: Người già cần duy trì lối sống từ trước tiếp tục

lao động tuỳ thuộc vào tình hình sức khoẻ cho phép tạo công việc phù hợp như tham gia vào các hoạt động nhân đạo hội người cao tuổi và các tổ chức

xã hội khác Tăng cường sự hiểu biết về tuổi già thông qua giáo dục cộng đồng và coi đó là vấn đề được toàn xã hội quan tâm

+ Về môi trường tự nhiên: Có nhiều người cho rằng các cư dân sống

trong các điều kiện khí hậu thái cực (về nhiệt độ, độ ẩm, độ cao) thường già

mau và có tuổi thọ thấp hơn người sống ở môi trường vừa phải

Tuy nhiên nếu con người sống trong điều kiện môi trường bị ô nhiễm thì

sự ảnh hưởng đến sức khoẻ và tuổi thọ là rất dễ Ở các nước công nghiệp, ô nhiễm không khí do khói các nhà máy làm tăng thêm tỷ lệ mắc bệnh viêm phế quản mãn, nhất là trên những người hút thuốc lá nhiều [40]

- Yếu tố dinh dưỡng: Đã có nhiều công trình nghiên cứu ảnh hưởng của

thức ăn, về chất lượng cũng như số lượng đối với sự trưởng thành thể chất cũng như tinh thần con người

+ Chế độ ăn calo thấp thường cũng là chế độ thiếu protein động vật, ít

nhất là trong một số mùa trong năm Sinnett đã nghiên cứu người Papous và thấy chế độ ăn của họ dựa chủ yếu vào khoai lang, chiếm 90% khẩu phần ăn

ngay từ tuổi 30 biểu hiện rõ bằng lượng creatinin niệu rất thấp Họ gầy sớm mất 23.3% trọng lượng cơ thể lúc 70 tuổi so với lúc 30 tuổi với nam, với nữ còn mất nhiều hơn 25% [46]

+ Chế độ ăn thừa calo: Hậu quả dễ thấy nhất của một chế độ ăn quá

nhiều năng lượng là sự ứ đọng ngày càng nhiều dự trữ mỡ ở người trẻ, kéo dài đến tuổi thọ Hiện tượng đó rất phổ biến và nhiều người coi đó là tự nhiên ở các nước công nghiệp châu âu, Bắc Mỹ Cùng với sự tăng tuổi, huyết áp động

Trang 12

mạch tăng dần, tăng cholesterol, máu lipoprotein Theo tuổi tỷ số vữa xơ động mạch và nhồi máu cơ tim cũng tăng [46]

Vì vậy vấn đề ăn uống điều độ, chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý, phòng ngừa béo phì là rất cần thiết cho mọi lứa tuổi Để nâng cao sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ

- Yếu tố tâm lý xã hội: Ảnh hưởng các yếu tố tâm lý xã hội bắt nguồn từ

các quan hệ giữa người và người trong cùng một gia đình, cùng một nghề nghiệp cùng một cộng đồng Mọi rối loạn kéo dài trong mối quan hệ đó đều

có thể ảnh hưởng đến sự lão hoá của từng người Tuy nhiên đứng trước một stress nhất định không phải người nào cũng phản ánh như nhau: Điều này phụ thuộc vào thể trạng di truyền, khả năng thích nghi và kinh nghiệm sống của từng người Nhiều công trình cho thấy phụ nữ khó chịu đựng các stress như vậy so với nam giới huyết áp của họ tăng rõ rệt với tuổi [46]

1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.2.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI

1.2.1.1 Người cao tuổi trên thế giới

Trước đây, người ta thường quan niệm: Già hoá dân số là vấn đề của các nước giàu có và phát triển Ngày nay, quan niệm đó đã không còn đúng nữa vì vấn đề già hoá dân số đã đụng chạm đến tất cả các quốc gia trên thế giới Thực tế cho thấy trong vòng 50 năm (1975 - 2025), người già ở các nước phát triển chỉ tăng 89%, song ở các nước nghèo lại tăng 347% Hiện nay, một nửa

số người già trên thế giới đang sống tại các nước nghèo và người ta dự đoán rằng trong vòng 29 năm nữa, 3/4 số người già trên thế giới sẽ sống ở các nước nghèo trên thế giới [5]

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, tuổi thọ của con người

đã và đang ngày càng tăng Điều đó khiến cho số người cao tuổi trên thế giới tăng 600 triệu người năm 2000 lên gần 2 tỷ người năm 2025 Tỷ lệ người cao tuổi tăng 10% năm 1998 lên l5% năm 2025 [8]

Sự phân bố người cao tuổi trên thế giới không đều Do đó, tỷ lệ người cao tuổi ở các vùng trên thế giới là khác nhau: cao nhất ở Đông Á (29,89%), Nam Á

Trang 13

(27,44%), tiếp đó là châu Âu (11,51%), châu Phi (9,09%), châu Mỹ la tinh (8,32%), Bắc Mỹ (6,82%), và ít nhất ở châu Úc (0,57%) vào năm 2025 [5] Trên toàn thế giới, năm 1975, số người cao tuổi ở nông thôn là 182 triệu người, chiếm 54%; ở thành thị là 115 triệu người, chiếm 46% Đến năm 2000,

số người cao tuổi ở thành thị là 318 triệu người, chiếm 55% còn người cao tuổi ở nông thôn chỉ chiếm có 45% [5]

Nhìn chung, tuổi thọ trung bình của nữ cao hơn của nam Chỉ tính những nước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới như: ở Nhật Bản, tuổi thọ trung bình của nữ là 80,5; nam là 70,8; ở Thuỷ Điển các con số tương ứng là 79,9 và 73,8; ở Mỹ là 78,8 và 71,8, ở Anh là 77,4 và 71,3… Do tuổi thọ trung bình của

nữ cao hơn nam nên trong số người cao tuổi, nữ giới nhiều hơn nam giới [5]

Ở các nước phát triển, năm 1975, cứ 100 nữ thì có 74 nam ở lứa tuổi 60- 69; đến năm 2025, con số đó sẽ là 100 nữ thì có 78 nam Ở lứa tuổi 70 - 79, các con số tương ứng là 62 và 75, từ 80 tuổi trở lên, các số tương ứng là 48 và

53 Đối với các nước đang phát triển, năm 1975, cứ 100 nữ có 96 nam ở lứa tuổi 60 - 69; đến năm 2025 thì cứ 100 nữ có 94 nam Ậ lứa tuổi 70- 79, các số tương ứng là 88 và 86 Lứa tuổi 80 trở lên, các số tương ứng là 78 và 73 Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, số nam thấp hơn nữ không nhiều bằng ở các nước phát triển [5]

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu người cao tuổi trên thế giới

Từ những năm trước thế kỷ XVI, những nghiên cứu về ngươi già chủ yếu

về mô tả dấu hiệu các bệnh và từ đó hướng dẫn chế độ sinh hoạt ăn uống nghỉ ngơi để kéo dài tuổi thọ [56]

- Nhà lão khoa Đức Gufeland, 1796, trong cuốn "Thuật kéo dài cuộc sống con người hoặc trường thọ" đã mở ra một thời kỳ phát triển mới của học thuyết về lão hoá và tuổi già dựa trên những thành tựu của các ngành khoa học cơ bản [56]

- Holmgren, 1930, nghiên cứu ở Thụy Điển thấy rằng: Chiều cao càng giảm khi tuổi càng tăng

Trang 14

- Kemskey ở Anh, 1943, nữ có biến động chiều cao giảm dần theo tuổi từ

18 đến 58 tuổi:

- Vlastovsky, 1959, ở người trưởng thành tuổi càng tăng thì chiều cao càng giảm, giảm trung bình theo chu kỳ 1 0 năm từ nhóm tuổi 20 - 29 (chiều cao trung bình 169,5cm) đến nhóm 50 - 59 (chiều cao trung bình 167.6cm) [21]

- M.G.Levin, 1978, cho rằng thời kỳ ổn định cân nặng của nam giới trong khoảng tuổi 25 - 40, từ 40 - 45 tuổi có tăng cân chút ít (từ 1 đến 0,5kg

cho 5 năm một) [21]

- N.S.Smimora và cộng sự, 1982, thấy rằng chiều cao nam giới nhóm tuổi 20 - 29 là l69.4cm và nhóm tuổi 80 - 90 thấp hơn 6cm; ở nữ sự khác biệt này còn lớn hơn (với nhóm tuổi tương ứng trên giảm 8.6cm) Giảm chiều cao

rõ rệt ở nam giới xảy ra sau tuổi 7, còn ở nữ sau tuổi 60 [69]

- Valastovsky, Soloviera, 1983, nghiên cứu ở người Liên Xô (trước đây) kết luận: Sau tuổi 60 ở đa số người cân nặng bắt đầu giảm từ từ, chủ yếu do những biến đổi thu teo trong các tổ chức và giảm lượng nước trong đó [69]

- Levin, 1987, thời kỳ ổn định chiều cao kéo dài đến tuổi 45 - 50 Sau 5 năm giảm trung bình là 0.5cm, từ tuổi 55 về già cứ 5 năm một giảm 0.7cm Những phát minh về khoa học và sáng chế từ thế kỷ XIX - XX đã giúp các nhà sinh lí học ngày càng có điều kiện đi sâu nghiên cứu chức năng của các cơ quan, bộ phận và làm sáng tỏ cơ chế sinh lí của chúng trong quá trình phát triển cá thể

- Một số nghiên cứu về sinh lí hô hấp ở người cao tuổi trên thế giới:

+ Một số công trình nghiên cứu về thể tích thở ra tối đa giây (VEMS) ở

người già như: Đembo (l937); K.Noblok (1960); Baldvin và cộng sự (1948)

đã góp phần đánh giá một cách chính xác về tình trạng chức năng hô hấp người già [19]

+ Chebotarev, Korkushko, 1975, cho rằng người có tuổi và người già có

Trang 15

 0.9 ở cụ bà Nhờ thở nhanh hơn nên thể tích phút ở người có tuổi và người già được duy trì mức lúc còn trẻ [l8]

+ Chebotarev và cộng sự 1975, Korkushko, Ivannov, 1980 khi già dung

tích sống giảm xuống, hàng loạt các thành phần của nó cũng giảm theo: thể tích khí lưu thông (TV), thể tích dự trữ hít vào (IRV), thể tích dự trữ thở ra

(ERV) [2 1]

+ Chebotarev, Korkushko, Ivanov, 1982 cho rằng bộ máy hô hấp khi già có những thay đổi về hình thái phức tạp, những thay đổi này gây ảnh hưởng thực sự lên khả năng của hệ thống hô hấp ngoài ở người có tuổi và người già [21]

+ Quanser Ph.H, 1983 đã chủ biên và xuất bản bộ "Tiêu chuẩn xét

nghiệm chức năng phổi" Thay cho việc đưa ra các bảng số mà các nhà khoa học trước đây đã dùng

- Một số nghiên cứu về sinh lí tuần hoàn ở người cao tuổi trên thế giới:

+ Lasser và Master 1959 nghiên cứu trên 5.757 người đã xác định ở

15mmHg [70]

+ Muravicv và cộng sự, 1965, ở những người trên 80 tuổi mức huyết áp tâm thu là 136.04 - 142.14mmHg, huyết áp tâm trương 72.54 - 6.64mmHg [70] + Frolkis, 1977, 1982, Korkushko, 1980, 1983 cho rằng tăng huyết áp động mạch cơ bản liên quan đến những thay đổi theo tuổi của hệ mạch - làm mất đi tính đàn hồi của các trục động mạch lớn, do tăng sức cản ngoại biên [70]

+ Prolkis, 1982 và cộng sự kết luận ở sau tuổi 60 nhịp co bóp của tim

chậm lại chút ít Điều đó liên quan đến giảm hoạt động chức năng của mút xoang và giảm ảnh hưởng của các dây thần kinh ngoài tim [2]

+ V.V.Prolkis, 1984, kết luận khi già huyết áp động mạch ở người tăng

Huyết áp tâm thu tăng theo tuổi thể hiện ở nữ rõ hơn nam Huyết áp tâm

Trang 16

trương thể hiện ổn định hơn huyết áp tâm thu, nhưng khi già cũng tăng lên có

ý nghĩa [2]

-Một số nghiên cứu về các bệnh thường gặp ở người cao tuổi trên thế giới

Đến già, các bệnh xuất hiện thường xuyên hơn, chúng được tích góp lại, chủ yếu khác nhau về số lượng và chất lượng, lão hóa có thể tạo nên những tiền đề cho phát triển bệnh Vì chính lão hóa là sự đan sen của sinh lý và bệnh lý [59]

Năm 1917 James Parkinson là người đầu tiên mô tả bệnh Parkinson là một rối loạn thần kinh, có tiến triển chậm do thoái hóa các neron dopaminergic [5] Năm 1921 Bét và Bantinh đã phát hiện ra insulin đưa vào điều trị bệnh đái tháo đường

Năm 1954, bác sĩ Denham thuộc đại học Berkyley, California, là người đầu tiên nhận ra sự hữu hiệu của gốc tự do trong cơ thể với nguy cơ gây ra những tổn thương cho tế bào, và gốc tự do có thể là một trong những nguyên nhân gây bệnh vữa sơ động mạch, ưng thư, Alzheiner, Parkison,đục thủy tinh thể, tiểu đường, cao huyết áp không rõ nguyên nhân, xơ gan [59]

Năm 1960 – 1971, Dordier và Meunier, nghiên cứu về hình thái, tổ chức học của xương và cho biết them về loãng xương là giảm khối lượng toàn bộ [59] Năm 1994, Avioli cũng nhấn mạnh khối lương xương thấp trong loang xương luôn đi kèm một nguy cơ gãy xương tự phát do một chấn thương rất nhẹ [59]

Năm 1998 Folkis và các cộng sự đã đưa ra phương thức mới điều trị sự điều hòa gen, dùng các chất ảnh hưởng đến kìm nén và biểu cảm các gen, để làm chậm lại nhịp độ lão hóa và hoạt động hóa các quá trình chống lão hóa [59] Ngày 14/4/2003 Viện nghiên cứu quốc gia gen người của Mỹ - NHGRI cho biết, đã giải mã hoàn chỉnh bản đồ gen người Do đó có thể tạo ra các chế phẩm tác động có định hướng đến các nhóm gen riêng biệt, lúc hoạt hóa hoặc lúc ức chế chúng Đó sẽ là biện pháp hữu hiệu hơn cả dự phòng và điều trị bệnh Điều trị bằng cách điều hòa gen sẽ trở thành nền tảng của Y học trong tương lai không xa [59]

Trang 17

1.2.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM

1.2.2.1 Người cao tuổi ở Việt Nam

Theo cuộc tổng điều tra dân số Việt Nam năm 1979, trong số 52,741 triệu dân thì có 3,73 triệu NCT, chiếm 7,08% dân số Sau 10 năm (1989), với 64,37 triệu dân thì có 4,63 triệu NCT, chiếm 7,17% Đến 1/4/1999, tổng số dân là 76,33 triệu người thì số NCT đã là 6,12 triệu, chiếm 8,12% Theo tổng cục thống kê năm 2005, dân số Việt Nam là 83,1199 triệu người, trong đó số NCT là hơn 7,44 triệu người, chiếm 8,6% Như vậy, trung bình mỗi năm số NCT đã tăng thêm từ 100.000 - 150.000 người [5], [37] Hiện nay dân số Việt Nam là 85.789.573 người, NCT là 8107114 người chiếm 9,45%

Tuổi thọ trung bình người Việt Nam trong vòng nửa thế kỷ qua đã tăng lên hơn 2 lần Năm 1945, tuổi thọ trung bình khoảng 32 tuổi; năm 1999 là

68,6 tuổi, hiện nay là 73, trong đó nữ là 75 và nam là 71 [17]

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu người cao tuổi ở Việt Nam

- Năm 1970 Đảng và Nhà nước ta đã đề ra "Chương trình nghiên cứu y học tuổi già" Từ đó cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu thực hiện tại

Viện Lão khoa và các cơ sở hợp tác với Viện

- Năm 1975, cuốn hằng số sinh học người Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng biên tập công bố một cách có hệ thống các chỉ số hình thái học

do các tác giả nghiên cứu trong vòng hơn 10 năm (l960 - l972) trong đó có các chỉ số hình thái - thể lực người lớn khá chi tiết và đầy đủ [17]

- Năm 1976, Vũ Duy San, Nguyễn Quang Quyền, nghiên cứu ở Quảng

Nam, Đà Nẵng, đối tượng từ 21 - 74 tuổi Năm 1980 Đoàn Yên, Trịnh Bình

Dy, nghiên cứu đề tài "Biến động một số thông số hình thái và sinh lí qua các lứa tuổi" kết luận: Chiều cao, cân nặng ở nữ ổn định trong khoảng 19 - 30 tuổi

và 20 - 35 tuổi ở nam và sau đó giảm dần cho đến già [65]

- Năm 1980, Hà Huy Khôi, Nguyễn Huy Đàn, Nguyễn Thị ái Châu, nghiên cứu "Một số chỉ tiêu về tình trạng dinh dưỡng các cụ già ở nội ngoại thành Hà Nội",

Trang 18

- Năm 1996, Nguyễn Văn Long - Viện Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi, nghiên cứu ở người từ 50 tuổi trở lên tại 4 vùng dân cư: Thành thị, miền biển, nông thôn, miền núi, kết luận: Tuổi càng cao thì chiều cao, cân nặng và cơ lực càng giảm Mức độ giảm về chiều cao ở nam trung bình 0.15cm/năm, ở nữ 0.17cm/năm, về cân nặng, ở nam giảm 0.22kg/năm, ở nữ 0.24kg/năm [36]

- Năm 2002, Trần Đức Thọ, báo cáo đề tài cấp Bộ, dự án "Điều tra dịch

tễ học về tình hình bệnh tật, nhu cầu chăm sóc y tế và xã hội của người già Việt Nam" đã đưa ra một số chỉ tiêu sinh học người già và kết luận: Cả nam

và nữ ở nhóm tuổi trên 75 đều có các chỉ tiêu nhân trắc giảm rõ rệt so với nhóm tuổi 60 - 74 [57]

Ở Việt Nam các chỉ tiêu chức năng thông khí phổi người bình thường được nghiên cứu từ những năm 50 của thế kỷ XX - Một số nghiên cứu về sinh lí hô hấp ở người cao tuổi Việt Nam:

+ Năm 1980, Nguyễn Huy Hiền và cộng sự nghiên cứu "Góp phần tìm hiểu

chức năng hô hấp các cụ già ở nước ta" trên đối tượng các cụ từ 50 tuổi trở lên ở

xã Duyên Thái - Hà Sơn Bình và Điệu Hoà - Quảng Nam - Đà Nẵng [18]

+ Năm 1992 - 1996, Nguyễn Văn Tường, Trình Bình Dy và cộng sự

nghiên cứu "Một số chỉ tiêu hô hấp người Việt Nam bình thường" đối tượng

từ 8 - 86 tuổi, ở khu vực Hà Nội, Hà Tây, Nam Hà và sinh viên của 4 trường đại học trên địa bàn Hà Nội

+ Năm 1997, Nguyễn Văn Trường, Trịnh Bình Dy và cộng sự nghiên cứu

giá trị bình thường các chỉ tiêu chức năng phổi nghiên cứu tại khu vực Thanh Trì

và Thượng Đình - Hà Nội, trên đối tượng 12 - 82 tuổi Kết luận: So sánh giữa nam và nữ thấy các giá trị của nam cao hơn nữ có ý nghĩa thống kê [21]

* Một số nghiên cứu về sinh lí tuần hoàn ở người cao tuổi Việt Nam:

+ Năm 1962, Đào Duy Thư, năm 1979, Lê Việt Hoa: ở tuổi 60 - 70

huyết áp tâm thu ở nữ thấp hơn ở nam từ 3 - 10mmHg, từ tuổi 20 đến già

huyết áp tâm tương ở nam và nữ không khác nhau [71]

Trang 19

+ Năm 1989 - 1992, Trần Đỗ Trinh và cộng sự, nghiên cứu "Trị số huyết

áp động mạch người Việt Nam", trên đối tượng người Việt Nam cả nước từ

15 tuổi trở lên và kết luận: Trị số huyết áp tăng dần lên theo tuổi ở cả nam và

nữ, nhưng về già thì tăng nhanh hơn Huyết áp nam giới cao hơn huyết áp nữ giới [63]

+ Năm 2002, Trần Đức Thọ, nghiên cứu đề tài "Điều tra dịch tễ học về

tình hình bệnh tật, nhu cầu chăm sóc y tế và xã hội của người già Việt Nam"

luận: Huyết áp tâm thu ở huyết áp tâm trương trung bình ở nam giới và nữ giới không có sự khác biệt và có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) Huyết áp tâm

có ý nghĩa thống kê với nữ giới Huyết áp tâm trương không có sự khác nhau giữa 2 nhóm tuổi ở cả nam và nữ [57]

* Một số nghiên cứu về các bệnh thường gặp ở người cao tuổi ở Việt Nam Năm 1980 “ Đơn vị nghiên cứu chuyên đề y học tuổi già ” được thành lập Năm 1989, Trần Minh Mẫn, Trần Thanh Hà, Nguyễn Kim Thi, nghiên cứu “ Thông khí hô hấp ở người có tuổi qua điều tra ở xã Chu Phan ”; năm

1990 nghiên cứu “ Thông khí hô hấp ở người có tuổi qua điều tra ở xã Quảng Tiến, Sầm Sơn, Thanh Hóa ” và nghiên cứu “Dung tích sống ở người có tuổi qua điều tra tại Nông Hạ, Phú Lương, Bắc [18]

Năm 1998, Trần Đức Thọ biên soạn tai liệu giảng dạy sau đại học về một

số bệnh nội tiết ở người cao tuổi, trong đó có bài viết:

+ Bệnh đái đường và chuyển hóa glucose ở người cao tuổi

+ Cường giáp trạng ở người có tuổi

Năm 1998, Phạm Khuê, Phạm Thắng, biên soạn tài liệu: “ sa sút tâm thần

ở người cao tuổi, trong đó đề cập đến:

+ Rối loạn nhận thức liên quan đến tuổi già

+ Dịch tễ học, chuẩn đoán phân biệt

+ Phương hướng nghiên cứu của bệnh Alzheimer

Trang 20

+ Các dạng sa sút tâm thần dưới vỏ người già

Năm 1999, Đỗ Nguyên Phương, nghiên cứu tình trạng sức khỏe hiện nay của người cao tuổi tại Viêt Nam “ Người cao tuôi Việt Nam thực trạng và giải pháp ” Năm 2000, Trần Đức Thọ, biên soạn tài liệu giảng dạy sau đại học: Bệnh loãng xương ở người cao tuổi

Năm 2001, Viện Lão khoa, xuất bản tài liệu: chuẩn đoán và điều trị một số bệnh mãn tinh ở người cao tuổi, trong đó có nghiên cứu của các tác giả như sau: + Trần Đức Thọ: Bệnh đái đường; loãng xương ở người có tuổi

+ Đỗ Thị Khánh Hỷ: Rối loạn chuyển hóa lipid ở người cao tuổi; u lành tuyến tiền liệt

+ Phạm Thắng: Tăng huyết áp; cơn đau thắt ngực; suy tim;huyết khối tĩnh mạch sâu; bệnh Parkison ở người cao tuổi

+ Lương Chi Thành: Tiểu tiện không tự chủ; trầm cảm; sa sút tâm thần + Hà Quốc Hùng: suy giảm thị lực và thính lực ở nguười già, tai biến mạch máu não

+ Nguyễn Trí Bình: Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính; thoái khớp

Năm 2002, Trần Đức Thọ, nghiên cứu đề tài “ Điều tra dịch tễ học về tình hình bệnh tật, nhu cầu chăm sóc y tế và xã hội của người già Việt Nam” Năm 2005, Nguyễn Quốc Anh và cộng sự, nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi và đánh giá mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang áp dụng

Trang 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 10 năm 2009

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Vùng nông thôn: Xã Hoằng Phụ, xã Hoằng Đông thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá

- Vùng thành thị: Phường Trường Thi và phường Ba Đình thuộc thành phố Thanh Hoá

Sơ đồ vùng nghiên cứu

Trang 22

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Trong quá trình nghiên cứu, do phạm vi về thời gian và muốn có kết quả tập trung nên đối tượng nghiên cứu là những người có độ tuổi từ 60- 74 chia làm 3 nhóm tuổi: 60- 64; 65- 69; 70-74, mỗi nhóm nghiên cứu cho mỗi chỉ tiêu không dưới 30 người

- Là những người không có các bệnh, tật bẩm sinh như: câm, điếc, gù, hẹp đường thở, loạn nhịp tim, tần số tim< 50 nhịp/ phút hoặc tần số tim> 90 nhịp/ phút, và một số bệnh, tật khác có ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu

- Tổng số NCT được nghiên cứu 600 người phân bố cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Phân bố ĐTNC theo vùng dân cư, giới tính và lứa tuổi

Đơnvị: người, %

S

TT

Nhóm tuổi

-Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên: Chọn địa điểm nghiên cứu: Các phường, xã được chia thành hai nhóm sau đó chọn bằng cách bốc thăm

- Chọn đối tượng nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu hệ thống

+ Phương pháp chọn cỡ mẫu

Tuỳ từng chỉ số trong nghiên cứu mà cỡ mẫu được tính theo một công thức nhất định

Trang 23

* Cỡ mẫu cho các nghiên cứu ước lượng trung bình được tính theo công thức:

n= Z2(1- α/2)x S2/ d2

Z2(1- α/2): Hệ số tin cậy

S : Độ lệch chuẩn (được xác định theo một nghiên cứu trước

đó hoặc một nghiên cứu thăm dò)

d : Sai số ước lượng (do người nghiên cứu định trước sao cho

sự biến thiên của kết quả nghiên cứu không quá lớn)

* Cỡ mẫu cho việc ước tính một tỷ lệ trong quần thể

một nghiên cứu trước đó hoặc một nghiên cứu thử) Trong trường hợp tỷ lệ này không được biết thì có thể giả sử p= 0,5, khi đó p(1-p) là lớn nhất và cỡ mẫu cũng là tối đa

mẫu (p) và tỷ lệ của quần thể (P) Khi ∆= P- p thì ∆ được coi là tuyệt đối

Z2(1- α/2) : Hệ số tin cậy [38]

Ví dụ: Tỷ lệ bệnh tăng HA (p) tính từ điều tra của Vụ các vấn đề xã hội Quốc

gia (1997), bệnh tăng HA ở Việt Nam là 44,1% Khi đó, 1- p= 55,9% Chọn

Trang 24

Cân được đặt trên bề mặt phẳng, không bị lún Điều chỉnh kim chỉ trên mặt đồng hồ về đúng vạch số 0 Đối tượng nghiên cứu khi cân, mặc quần áo mỏng, nhẹ, chân đất, không đeo đồng hồ Đối tượng được đo, cân ở tư thế đứng thẳng trên mặt bàn cân, chụm hai chân hình chữ V; chẩm đầu, hai vai, hai mông và hai gót chân ở trong một mặt phẳng thẳng đứng; mắt nhìn thẳng sao cho đường nối bờ trên tai và đuôi mắt nằm trên một mặt phẳng nằm ngang; hai tay duỗi thẳng, hướng lòng bàn tay vào trong đùi Đọc kết quả đo

2.2.4 Phương phap đo chỉ số pignet và chỉ số BMI

+ pignet= Chiều cao đứng (cm)- [cân nặng (kg)+ vòng ngực (cm) ]

2.2.6 Phương pháp đo tần số tim, huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu

* Phương tiện

Huyết áp kế điện tử do hãng Nissel của Nhật Bản sản xuất

Trang 25

* Kỹ thuật

Đo tần số tim, HA vào buổi sáng từ 8h30 phút đến 10h30 phút

Vận hành máy: Đối tượng được đo ngồi hoặc nằm, tay trái duỗi thẳng

Quấn bao cao su bọc vải vừa khít quanh cánh tay trái ở phía trên khuỷu tay

Sau khi đã cuốn bao hơi xong, ấn một lần vào nút ON/OFF, khi trên màn hình xuất hiện số 0 thì ấn tiếp một lần vào nút START, máy bắt đầu đo Lúc này, trên màn hình, các con số thay đổi liên tục và xuất hiện trái tim nhấp nháy, khi trái tim không nhấp nháy nữa sẽ xuất hiện hai con số chỉ HA tối đa

và HA tối thiểu Ngay sau đó sẽ xuất hiện con số chỉ tần số tim Sau khi xem kết quả xong thì ấn vào nút ON/OFF để tắt máy

Chú ý: Giữa 2 lần đo nên cách nhau 10- 15 phút [44]

2.2.7 Phương pháp test

Kết hợp các phương pháp:

- Quan sát, phỏng vấn, phiếu điều tra cá nhân;

- Thu thập thông tin, số liệu về tình hình bệnh tật và số người mắc bệnh

từ cơ quan Y tế của địa phương

- Nghiên cứu về hồ sơ khám chữa bệnh, sổ Y bạ của đối tượng nghiên cứu

2.2.8 Xử lý kết quả nghiên cứu

- Các số liệu thu được sẽ được xử lý theo các thuật toán xác suất thống

kê dùng trong Y học, sinh học để phân tích, đánh giá kết quả

- Việc tính toán các số liệu được thực hiện trên máy vi tính với các phần mềm Word, Excel

f i : Tần số các số đo, x i : Giá trị các số đo

Trang 26

 Độ lệch chuẩn S (SD):

S=

n

x x

n

i i

2 _

n

i i

2 _

2 1

_ 2 1 _

n

S n S

x x

+ Nếu t < 1,96: Kết luận là 2 giá trị trung bình không khác nhau về ý nghĩa thống kê Sự khác nhau đó chỉ là do ngẫu nhiên vì chọn 2 mẫu khác nhau Các kết quả nghiên cứu đƣợc so sánh với các nghiên cứu khác gần nhất [9], [26]

Trang 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 THỰC TRẠNG NCT Ở THANH HOÁ VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1.1 Người cao tuổi ở Thanh Hoá

Ở Thanh Hoá, số NCT cũng tăng dần theo thời gian Năm 1989, số NCT

là hội viên của Hội NCT tỉnh là 258.548 người, chiếm 8,6% dân số của tỉnh Năm 1999 là 319.005 người, chiếm 9,2% Hiện nay là 440.172 người, chiếm 12,2% dân số toàn tỉnh Trong số đó, nữ giới chiếm 51,87% và nam giới là 48,13% [52]

NCT Thanh Hoá chủ yếu sống ở khu vực nông thôn (miền biển, đồng bằng và miền núi) chiếm 93,3%, sống ở thành phố là 6,7% [54]

Hiện nay, ngoài điều kiện kinh tế xã hội phát triển, sự thành công của y học hiện đại, công tác chăm sóc sức khoẻ gia đình, xã hội ngày càng tốt đã góp phần nâng cao tuổi thọ trung bình của người dân Tuổi thọ trung bình của người Thanh hoá hiện nay là 67,5 tuổi [54]

3.1.2 NCT ở các địa bàn nghiên cứu 3.1.2.1 NCT xã Hoằng Phụ - huyện Hoằng Hóa

Tính đến ngày 18/7/2007, Hội NCT xã Hoằng Phụ có 834 hội viên từ 60 tuổi trở lên, chiếm 10,6% dân số xã trong đó có 270 nam, chiếm 32% và 564 nữ, chiếm 68% Số người từ 60 - 74 tuổi là 490, gồm 201 nam và 289 nữ Số người

từ 85 tuổi trở lên là 116 người Người cao tuổi nhất là 99 tuổi Đa số NCT xã Hoằng Phụ là người làm nông nghiệp (56%), thủ công nghiệp (34%) Do đó, ở

độ tuổi 60 - 74, họ vẫn còn tham gia công việc đồng ruộng và đánh cá

3.1.2.2 NCT xã Hoằng Đông - huyện Hoằng Hóa

Tính đến 18/7/2007, Hội NCT xã Hoằng Đông có 747 người từ 60 tuổi trở lên tham gia sinh hoạt, gồm 315 nam và 432 nữ, chiếm 11% dân số xã Trong đó số người từ 60 - 74 tuổi là 538 người Số người độ tuổi từ 85 trở lên

là 48 Người cao tuổi nhất là 91 Đa số NCT xã Hoằng Đông cũng là người

Trang 28

làm nông nghiệp (84%) Vì vậy, hầu hết những người ở độ tuổi 60 - 74 vẫn còn tham gia công việc đồng áng

3.1.2.3 NCT phường Trường Thi - Thành phố Thanh Hoá

Tính đến 16/5/2009, phường Trường Thi thành phố Thanh Hoá có 1.200 người từ 60 tuổi trở lên tham gia sinh hoạt tại các chi hội NCT của phường, chiếm 9,93% dân số của phường Trong đó có 336 nam và 864 nữ Số người

từ 60 - 74 tuổi là 536, gồm 209 nam và 327 nữ Các cụ từ 85 tuổi trở lên là 63 Người cao tuổi nhất là 102 tuổi NCT là cán bộ về hưu chiếm 67%, còn lại là các ngành khác như buôn bán hay nội trợ…

Trang 29

Bảng 3 2: Chiều cao đứng TB của ĐTNC tại TT

Đơn vị: cm

Biểu đồ 3 1: So sánh chiều cao đứng TB giữa các ĐTNC

158.78

157.96 159.43

149.18

147.46 149.45

159.42

157.89 160.25

149.71

140 145 150 155 160 165

Nhóm tuổi cm

Qua số liệu ở bảng 3 1, 3 2 và biểu đồ 3 1 cho thấy:

Chiều cao đứng TB của cả nam CT và nữ CT ở cả NT và TT đều giảm dần theo tuổi Mức độ giảm chiều cao của nữ CT rõ rệt hơn của nam CT Từ nhóm 60-

64 đến nhóm 70- 74 tuổi, TB cứ mỗi 5 năm một giảm đi 0,74 cm đối với nam và 0,97 cm đối với nữ NT; 1,18 cm đối với nam và 1,90 cm đối với nữ TT Kết quả

này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Long:„„Tuổi càng cao thì

chiều cao càng giảm Mức độ giảm về chiều cao trung bình ở nam là 0,15 cm/năm

Trang 30

và ở nữ là 0,17 cm/năm‟‟ Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét của Levin

(1987):„„Từ 55 tuổi về già, cứ 5 năm một chiều cao giảm đi 0,7 cm‟‟ [23]

Sau 15 năm, chiều cao đứng TB của nam CT NT giảm 1,47 cm; của nữ CT

NT giảm 1,93 cm; ở nam CT TT giảm 2,36 cm và ở nữ CT TT giảm 2,81 cm Kết quả này phù hợp với quy luật phát triển sinh học chung của con người

Tốc độ giảm chiều cao theo 5 năm một không đều qua các nhóm tuổi: Từ 0,65 cm (từ nhóm tuổi 60- 64 đến nhóm tuổi 65- 69), tăng lên 0,82 cm (từ nhóm tuổi 65- 69 đến nhóm tuổi 70- 74) đối với nam CT NT; tương ứng là 0,27 cm tăng lên 1,66 cm đối với nữ CT NT; từ 0,83 cm tăng lên 1,53 cm đối với nam

CT TT và tương ứng là: 0,85 cm và 1,96 cm đối với nữ CT Sự sai khác này là

do khi tuổi càng cao càng mất đi tính chất đàn hồi và sự bẹt xuống của các đĩa sụn đệm giữa các đốt sống Đồng thời còn do sự giảm trương lực cơ thần kinh

mà dẫn đến bàn chân bẹt và làm suy giảm tư thế đứng của cơ thể [63]

So sánh sự giảm chiều cao đứng TB giữa nam CT và nữ CT ở từng nhóm tuổi của NT, TT được nghiên cứu đều có sự khác nhau đáng kể, có ý nghĩa thống

kê với P < 0,05 Chiều cao đứng TB của nam CT NT lớn hơn của nữ CT NT là 10,02 cm; 9,6 cm và 10,5 cm tương ứng với các nhóm tuổi: 60- 64; 65- 69 và 70-

74 Chiều cao đứng TB của nam CT TT lớn hơn của nữ CT TT là 10,54 cm; 10,46 cm và 10,59 cm tương ứng với các nhóm tuổi: 60- 64; 65-69 và 70- 74 Kết quả này phù hợp với quy luật phát triển sinh học của con người

Trang 31

* So sánh chiều cao đứng TB giữa các ĐTNC với một vài nghiên cứu khác Bảng 3 3: So sánh chiều cao đứng TB giữa các ĐTNC với một vài nghiên cứu khác

Đơn vị: cm

Giới tính

Nhóm tuổi

Nguyễn Thị Phương Thúy Phạm Hồng Nga Đoàn

Yên ( 1987)

NT (2009)

TT (2009)

NT (2006)

TT (2006)

Biểu đồ 3 2: So sánh chiều cao đứng TB của nam CT NT với nam CT TT

và với một vài nghiên cứu khác

Nhóm tuổi cm

NT (2009) TT (2009) NT (2006) TT (2006) Đoàn Yên(1987)

Biểu đồ 3 3: So sánh chiều cao đứng TB của nữ CT NT với nữ CT TT và

với một vài nghiên cứu khác

Trang 32

NT (2009) TT (2009) NT (2006) TT (2006) Đoàn yên(1987)

Từ số liệu ở bảng 3 3, biểu đồ 3 2 v à 3 3 cho thấy:

Chiều cao đứng TB của ĐTNC cùng giới, cùng độ tuổi giữa NT và TT

nói chung chênh lệch không đáng kể

Chiều cao đứng TB của ĐTNC so với ĐTNC cùng độ tuổi, cùng giới trong nghiên cứu của Phạm Hồng Nga [38], có sự sai khác nhưng không có ý

nghĩa về mặt thống kê

Chiều cao đứng TB của nam CT thấp nhất là 157,89± 4,9 cm (ở nam

CT NT nhóm tuổi 70- 74) và cao nhất là 160,25± 5,57 cm (ở nam CT NT độ tuổi 60- 64) Chiều cao đứng trung bình của nữ CT thấp nhất là 147± 5,56 cm

và cao nhất là 149,71± 5,12 cm

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, chiều cao TB của ĐTNC ở nam là 158,95± 5,45; ở nữ là 148,58± 5,08 cao hơn giá trị chiều cao đứng trung

bình của người Việt Nam trên 60 tuổi trong tài liệu „„Các giá trị sinh học

người Việt Nam bình thường thập kỷ 90- thế kỷ XX‟‟ (nam trên 60 tuổi là

157,52± 4,82 cm; nữ trên 60 tuổi là 147,71± 5,08 cm) [4] và cao hơn so với ĐTNC cùng độ tuổi, cùng giới trong kết quả nghiên cứu của Đoàn Yên [63]

Đó là do ĐTNC khác nhau, thời điểm nghiên cứu khác nhau, đặc biệt là điều kiện kinh tế, xã hội đã thay đổi sau 20 năm

Trang 33

3.2.2 Cân nặng trung bình của ĐTNC

Bảng 3.4: Cân nặng TB của ĐTNC tại NT

Trang 34

Biểu đồ 3 4: So sánh cân nặng TB giữa các ĐTNC

52.36

43.14 44.27

45.18

53.11 54.23

55.12 49.54

0 10 20 30 40 50 60

Nhóm tuổi Kg

Từ số liệu ở bảng 3 4, 3 5 và biểu đồ 3 4 cho thấy:

Cân nặng TB của cả nam CT và nữ CT ở NT và TT đều giảm dần theo tuổi

Từ nhóm tuổi 60- 64 đến nhóm tuổi 70- 74, TB 5 năm giảm 0,95 kg đối với nam NT; 1,52 kg đối với nữ NT; 1,005 kg đối với nam TT và 1,325 kg đối với nữ phường Kết

quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Long (1996) [23]:„„Cân

nặng TB của nam giảm 0,22 kg/năm và của nữ giảm 0,24 kg/năm‟‟ và cũng phù hợp

với quy luật phát triển sinh học về chiều cao của con người

Tốc độ tăng, giảm cân 5 năm một không đều theo các nhóm tuổi Tốc

độ giảm cân sau từng 5 năm một từ 0,51 kg (từ nhóm tuổi 60- 64 đến nhóm tuổi 65- 69) lên 1,39 kg (từ nhóm tuổi 65- 69 đến nhóm tuổi 70- 74) đối với nam NT; tương ứng là 0,91 kg và 2,13 kg đối với nữ NT; từ 0,89 kg lên 1,12

kg đối với nam TT và từ 1,69 kg đến 0,96 kg đối với nữ TT

So sánh sự giảm cân TB giữa nam và nữ ở từng nhóm tuổi có sự chênh lệch khá lớn, có ý nghĩa thống kê với P< 0,05 Cân nặng TB của nam NT lớn hơn của

nữ NT là: 7,18 kg; 7,78 kg và 8,32 kg tương ứng với các nhóm tuổi là: 60- 64; 65-

69 và 70- 74 Cân nặng TB của nam CT TT lớn hơn nữ CT TT là: 5,58 kg; 6,38

kg và 6,22 kg tương ứng với các nhóm tuổi là: 60- 64; 65- 69 và 70- 74

Trang 35

* So sánh cân nặng TB của các ĐTNC và với một số nghiên cứu khác Bảng 3 6: So sánh cân nặng TB giữa các ĐTNC và với một vài nghiên cứu khác

Đơn vị: kg

Giới tính

Nhóm tuổi

Nguyễn Thị

Yên (1987)

NT (2009)

TT (2009)

NT (2006)

TT (2006)

Trang 36

Biểu đồ 3 5: So sánh cân nặng TB của nam CT NT với nam CT TT và với một vài nghiên cứu khác

52.36 55.12 52.97 51.85 54.23 50.46 53.11

50.14 52.93 52.22 53.67

0 10 20 30 40 50 60

Nhóm tuổi Kg

NT (2009) TT (2009) NT (2006) TT (2006) Đoàn yên(1987)

Trang 37

Từ số liệu ở bảng 3 6, biểu đồ 3 5 và 3 6 cho thấy:

Cân nặng TB của nam NT và nam TT chênh lệch nhau không đáng kể Cân nặng TB của nữ NT và nữ TT ở từng nhóm tuổi có sự chênh lệch khá lớn, có ý nghĩa thống kê với P< 0,05 Cân nặng TB của nữ TT lớn hơn nữ NT là: 4,36 kg; 3,58 và 4,75 kg tương ứng với các nhóm tuổi là: 60- 64; 65- 69 và 70- 74 Có sự chênh lệch này có thể do điều kiện sống ở nông thôn còn nhiều khó khăn; chế độ

ăn uống còn thiếu chất dinh dưỡng; chế độ chăm sóc, nghỉ ngơi còn hạn chế; đa số

nữ CT nông thôn còn sức khoẻ vẫn tham gia lao động sản xuất; trong số họ có những người bị suy dinh dưỡng Ngược lại, ở thành phố, chế độ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng hơn; chế độ chăm sóc, nghỉ ngơi tốt hơn; đa số NCT ở thành phố

có chế độ lương hưu, chế độ bảo hiểm Mặt khác, đa số họ lại nhàn rỗi, ít phải lao động chân tay Do đó, nhiều người trong số họ có xu hướng béo phì

Cân nặng trung bình của nam CT đạt giá trị thấp nhất là 50,46± 5,97 kg (ở nam CT NT độ tuổi 70- 74) và giá trị cao nhất là 55,12± 5,41 kg (ở nam CT TT độ tuổi 60- 64) Cân nặng trung bình của nữ CT đạt giá trị thấp nhất là 42,14± 6,05 kg (ở nữ CT NT độ tuổi 70- 74) và giá trị cao nhất là 49,54± 6,25 kg (ở nữ CT TT độ tuổi 60- 64) Kết quả này so với giá trị cân nặng TB của người Việt Nam bình

thường trên 60 tuổi trong tài liệu „„Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường

thập kỷ 90- thế kỷ XX‟‟ có sự sai khác nhưng không đáng kể [4]

Cân nặng TB của ĐTNC của chúng tôi ở nam là 52,86± 5,80 ; ở nữ là 45,98± 4,82 so với ĐTNC cùng giới, cùng độ tuổi trong kết quả nghiên cứu của Phạm Hồng Nga [38], có sự sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kê nhưng cao hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của Đoàn Yên [38] và đối

tượng nghiên cứu trong tài liệu „„Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường

thập kỷ 90- thế kỷ XX‟‟, cân nặng TB của NCT trên 60 tuổi là 48,53± 5,26 kg ở nam

và 42,16± 4,50 kg ở nữ Sự chênh lệch đó là do đối tượng nghiên cứu khác

nhau, địa điểm nghiên cứu khác nhau và đặc biệt là thời điểm nghiên cứu khác nhau Sau 20 năm, điều kiện kinh tế, xã hội có nhiều đổi mới, đời sống

Trang 38

vật chất của nhân dân đƣợc nâng cao… Tuy nhiên, điều kiện sống giữa nông thôn và thành thị vẫn có sự khác biệt nhất định

3.2.3 Vòng ngực trung bình của ĐTNC Bảng 3.7:Vòng ngực TB của ĐTNC tại NT

Trang 39

Biểu đồ 3.7: So sánh vòng ngực TB của ĐTNC

83.56 83.79

Nhóm tuổi Pignet

Từ số liệu ở bảng 3 7,3 8 và biểu đồ 3 7 cho thấy:

Vòng ngực trung bình của đối tượng nghiên cứu ở NCT TT giảm dần theo tuổi Từ nhóm tuổi 60 – 64 đến nhóm tuổi 70 – 74, vòng ngực TB giảm từ 84,78 cm xuống còn 80,75 cm đối với nam và từ 80,36 cm xuống 75,48 cm đối với nữ Như vậy, sau 15 năm vòng ngực TB của nam giảm 4,03 cm đối với nam và 4,88 cm đối với nữ Kết quả này phù hợp với quy luật phát triển chung về sinh học của cọn người

So sánh vòng ngực TB giữa nam và nữ ở từng nhóm tuổi có sự sai khác nhau đáng kể có ý nghĩa thống kê với P < 0.05 và phù hợp với quy luật sinh học Vòng ngực TB của nam lớn hơn nữ là 4,42 cm, 4,44 cm, 5,27 cm tương ứng với các nhóm tuổi 60 – 64 , 65 – 69, 70 – 74

Tương tự như ĐTNC ở TT, vòng ngực TB của đối tượng nghiên cứu NT

giảm dần theo tuổi Từ nhóm tuổi 60 – 64 đến nhóm tuổi 70 – 74, vòng ngực trung bình giảm từ 83,79 cm xuống còn 79,92 cm đối với nam và từ 81,54 cm xuống còn 79,27 cm đối với nữ Như vây, sau 15 năm vòng ngực TB của nam giảm 3,87cm và vòng ngực trung bình của nữ giảm 2,27 cm Kết quả này phù hợp với quy luật phát triển chung về sinh học của con người

Trang 40

Tốc độ giảm vòng ngực TB theo 5 năm một không đều theo các nhóm tuổi Càng ở nhóm tuổi cao tốc độ giảm càng mạnh so với nhóm tuổi trước Tốc độ giảm 5 năm một từ 1,23 từ nhóm tuổi 60 – 64 đến 65- 69) tăng lên 2,64 từ nhóm tuổi 65- 69 đến 70- 74) đối với nam và tăng từ 1,09 tăng lên 1,18 đối với nữ

So sánh vòng ngực giữa nam và nữ ở từng nhóm tuổi có sự khác nhau rõ rệt có ý nghĩa thống kê với P<0.05 và phù hợp với quy luật sinh học Vòng ngực trung bình nam lớn hơn nữ là 6.59 cm tương ứng với từng nhóm tuổi 60 – 64, 65 – 69, 70 – 74

Qua số liệu trên bảng 3.7 cho thấy sự sai khác về vòng ngực bình thường giữa nam TT và nam NT không ý nghĩa thống kê với P>0.05

3.2.4 Chỉ số Pignet trung bình của ĐTNC

Bảng 3.9: Chỉ số Pignet của ĐTNC tại NT

Ngày đăng: 22/08/2023, 00:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm