1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người việt

121 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người Việt
Tác giả Lê Sỹ Đài
Người hướng dẫn GS.TS. Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 828,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Lịch sử vấn đề (5)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu (7)
  • 4. Nhiệm vụ nghiên cứu (7)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 6. Cấu trúc luận văn (8)
  • Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài (0)
    • 1.1. Xung quanh vấn đề ca dao (9)
    • 1.2. Vấn đề từ và từ loại danh từ (20)
    • 1.3. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa (25)
    • 1.4. Tiểu kết (29)
  • Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của các câu ca dao có từ gà, trâu (0)
    • 2.1. Đặc điểm cấu tạo và sự hành chức của các câu ca dao có chứa từ gà (31)
    • 2.2. Đặc điểm cấu tạo và sự hành chức của các câu ca dao có chứa từ trâu 37 2.3. Điểm tương đồng và khác biệt (41)
    • 2.4. Tiểu kết (49)
  • Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu (0)
    • 3.1. Ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà (0)

Nội dung

Lịch sử vấn đề

Nhiều công trình nghiên cứu đã khám phá sâu về ca dao Việt Nam từ các góc độ thi pháp, ngôn ngữ, văn hóa và ngữ dụng học, góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa biểu tượng đặc trưng của thể loại này Các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích các yếu tố ngôn ngữ và văn hóa để hiểu rõ hơn về giá trị văn học và xã hội của ca dao Đặc biệt, việc đi vào tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng giúp làm nổi bật những giá trị nhân văn và truyền thống trong ca dao Việt Nam, nâng cao nhận thức về đặc điểm và phong tục tập quán của người Việt qua các thế hệ.

Người đầu tiên đề cập trực tiếp đến biểu tượng con vật trong ca dao là

Trong cuốn sách "Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam," Vũ Ngọc Phan phân tích về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, đặc biệt nhấn mạnh hình ảnh các con vật trong văn hóa Việt Nam Một số tác giả đã nghiên cứu sâu về cách tượng trưng các hình ảnh động vật trong dân gian, như bài viết "Duy liên tưởng và thế giới động vật của người Việt - phẩm chất và chiến lược," nhằm làm rõ vai trò của động vật trong việc thể hiện phẩm chất, tính cách và chiến lược ứng xử của người Việt qua các câu tục ngữ và dân ca. -Khám phá giải pháp học ngôn ngữ và văn hóa Việt qua AI cùng Talkpal để hiểu sâu về tục ngữ và hình ảnh động vật [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/2699274)

Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, [40 - 48]

- Phạm Văn Quế (1995), Các con vật và một số đặc trưng của chúng được cảm nhận từ góc độ dân gian, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, [tr.59 - 64]

- Trí Sơn (2001), Con Rắn trong tâm thức người Việt qua thành ngữ Việt Nam, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1

- Phạm văn Thấu (1997), Con Trâu trong tâm thức người Việt qua tục ngữ, ca dao, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1

- Bùi Thị Thi Thơ (2006), Hình ảnh các con vật mang ý nghĩa biểu trưng trong thành ngữ so sánh, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong bài Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao Việt Nam (Kỷ yếu Khoa học Ngữ Văn, ĐHSP Hồ Chí

Minh, 1999) đã phân chia các biểu tượng chủ yếu hình thành từ ba nguồn sau:

Các biểu tượng xuất phát từ phong tục tập quán của người Việt Nam phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần và tín ngưỡng dân gian, như hình ảnh trầu cau thể hiện tình nghĩa keo sơn, cây đa là biểu tượng của sự bền vững và gắn kết cộng đồng, cùng với các hình dạng vuông, tròn phản ánh quan niệm về sự cân đối, hài hòa trong vũ trụ.

- Những biểu tượng xuất phát từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc:

Thúy Kiều - Kim Trọng, Ngưu Lang - Chức Nữ, dây tơ hồng, ông Tơ, bà Nguyệt, trăng già

- Những biểu tượng xuất phát từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày của nhân dân: hoa sen, hoa đào, con cò, con bống, trăng thu

Gần đây, nhiều biểu tượng đã được nghiên cứu kỹ lưỡng trong lĩnh vực văn hóa và văn học, mang lại cho độc giả những hiểu biết sâu sắc và thú vị Trong đó, biểu tượng con chim quyên của Triều đặc biệt nổi bật với ý nghĩa tượng trưng về sự tự do, hy vọng và sự vĩnh cửu Các bài viết về biểu tượng này giúp khám phá ý nghĩa sâu xa cũng như tầm ảnh hưởng của nó trong các tác phẩm văn học và truyền thống văn hóa Nghiên cứu biểu tượng con chim quyên góp phần làm sáng tỏ các phẩm chất tinh thần và giá trị văn hóa trong đời sống cộng đồng Triều.

Nguyên [28]; Biểu tượng hoa Đào, Biểu tượng hoa Sen, của Nguyễn Phương

Bài viết "Hàm ý biểu trưng của từ ngữ của hoa và tên hoa trong ca dao của Hà Quế Hương" được đăng trong Ngữ học trẻ năm 2002 đã gợi ý cho chúng tôi những vấn đề quan trọng về biểu tượng trong ngôn ngữ và văn học Nội dung tập trung vào ý nghĩa biểu tượng của các từ ngữ liên quan đến hoa và tên hoa trong ca dao, góp phần làm rõ cách hoa được sử dụng như biểu tượng trong văn hóa Việt Nam Những phân tích này giúp hiểu rõ hơn về cách thức biểu đạt cảm xúc và ý nghĩa sâu xa thông qua hình ảnh hoa trong ca dao truyền thống.

Trong cuốn sách Ca dao Việt Nam và những lời bình, tác giả Vũ Thị

Thu Hương đã tổng hợp các bài viết về các biểu tượng động vật, cây cối, hoa lá từ nhiều báo, tạp chí của các tác giả như Trương Thị Nhàn, Mai Ngọc Chừ, Đặng Hiến, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Xuân Lạc Trong đó, đặc biệt có tác giả Nguyễn Xuân Kính đã dành hẳn một chương trong cuốn "Thi pháp ca dao" để phân tích các biểu tượng như con Bống, con Cò, cây Trúc, cây Mai, hoa Nhài Các bài viết này giúp làm rõ ý nghĩa biểu tượng trong văn hóa Việt Nam, góp phần nâng cao nhận thức về giá trị nghệ thuật của các hình tượng dân gian.

Trong các bài viết đã công bố, mỗi bài tập trung vào một góc độ riêng về ca dao, nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào phân tích toàn diện và hệ thống đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các từ ngữ liên quan đến gà, trâu trong ca dao Việt Nam Chính vì vậy, chúng tôi đề xuất nghiên cứu kỹ hơn về đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa của các câu ca dao có chứa từ gà và trâu, nhằm làm rõ hơn giá trị ngôn ngữ và văn hóa của những hình ảnh này trong kho tàng ca dao Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê phân loại các từ ngữ chỉ gà, trâu trong Kho tàng ca dao người Việt

- Chỉ ra những đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao chứa từ gà, trâu

- Chỉ ra các đặc trưng văn hoá của người Việt qua việc sử dụng từ chỉ gà, trâu.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp thống kê, phân loại;

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ;

- Phương pháp so sánh, đối chiếu;

Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của các câu ca dao có chứa từ gà, trâu trong Kho tàng ca dao người Việt

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của các câu ca dao chứa từ gà, trâu trong Kho tàng ca dao người Việt.

Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Xung quanh vấn đề ca dao

Ca dao còn được gọi là phong dao, là những câu hát dân gian gắn liền với các giai điệu trong lao động, đối đáp trữ tình hay lễ hội dân gian Theo từ ngữ dân gian, nó còn được gọi là câu ca, câu hát, câu ví, câu hò, phản ánh đặc trưng của nghệ thuật dân gian Việt Nam Ca dao thể hiện nét đẹp văn hóa truyền thống, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc qua các lời hát mộc mạc, chân thực trong đời sống hàng ngày.

Theo tác giả Minh Hiệu, thuật ngữ "Ca dao" là từ Hán Việt được sử dụng muộn trong lịch sử Việt Nam, có thể đã xuất hiện hàng nghìn năm trước với các câu ví, câu hát dân gian Trong khi đó, tác giả Cao Huy Đỉnh cho rằng dân ca và truyền miệng của người Việt ra đời từ rất sớm, và đã phát triển mạnh mẽ, phức tạp từ thời đồ đồng Trình độ sáng tác và biểu diễn dân ca thời kỳ này cao, cùng với sự xuất hiện của các nghệ sĩ chuyên nghiệp và các loại nhạc cụ tinh tế.

Vũ Ngọc Phan định nghĩa ca dao là loại thơ dân gian có thể ngâm được như các thể loại thơ khác và xây dựng thành các điệu dân ca Ông cho rằng ca dao gồm các câu bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, tám chữ, hoặc hai mười bảy chữ đều có thể ngâm nguyên câu mà không cần tiếng đệm như thơ Khi dùng một bài ca dao để hát, bài ca dao đó sẽ trở thành dân ca, góp phần giữ gìn và phát huy các nét truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam.

Các nhà nghiên cứu văn học dân gian thường sử dụng thuật ngữ "dân ca" để phân biệt với "ca dao" - những lời thơ dân gian truyền miệng Từ đó, ca dao nhanh chóng trở thành thuật ngữ chỉ những bài thơ ca dân gian dạng truyền miệng, thường có hình thức là những câu hát không theo một nhịp điệu cố định.

Ca dao Việt Nam phản ánh chân thực đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thể hiện tình yêu thương, nghĩa tình, nỗi đau khổ, nỗi nhớ nhung và niềm vui hạnh phúc của cộng đồng Nó là tiếng hát của lòng tin vào tương lai, đồng thời bộc lộ những cảm xúc sâu sắc về niềm tự hào quê hương, đất nước, tình yêu lao động, gia đình, bè bạn và những khát vọng vượt qua khó khăn Ngoài ra, ca dao còn khắc họa rõ nét những nỗi buồn, sự căm phẫn trước những thế lực đen tối trong xã hội, qua đó phản ánh đời sống tinh thần phong phú của người Việt qua các thời kỳ.

1.1.2 Phân biệt ca dao với tục ngữ

Một bộ phận lớn câu tục ngữ và ca dao có điểm chung về hình thức thể hiện Câu tục ngữ thường gồm 14 tiếng chia đều trên hai dòng thơ, giống với dạng thể lục bát của ca dao Sự nhập nhằng trong hình thức này thường xuất hiện trong các câu có nội dung về nhân sinh, và cũng có nhiều ca dao lấy chất liệu từ tục ngữ, tạo nên mối liên hệ chặt chẽ giữa hai thể loại dân gian này.

- Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu

- Tiếng đồn quán rộng lòng thương Hết nạc thì vạc đến xương còn gì

Dựa vào đặc trưng văn hoá giao tiếp, tác giả Nguyễn Thái Hoà cho rằng ca dao không phải là hình thức nghệ thuật vì độ dài, mà là được định hình trong một mô hình nghệ thuật phổ biến, có thể phát triển theo sự sáng tạo của người làm thơ Trong khi đó, tục ngữ hình thành lời thoại hàng ngày, phù hợp với các tình huống giao tiếp cụ thể, còn ca dao thuộc loại hình giao tiếp nghệ thuật, có thể ngâm, hát, kèm theo làn điệu nhạc Tác giả Hoàng Tiến cũng nhấn mạnh rằng tục ngữ thiên về lý trí, nhằm nêu lên nhận xét khách quan, còn ca dao thiên về tình cảm, và sự khác biệt này thể hiện rõ qua phương thức sử dụng: khi theo phương thức nói - luân lý thì là tục ngữ, còn khi theo phương thức hát - trữ tình thì là ca dao.

Ca dao, còn gọi là phong dao, là thuật ngữ dùng để chỉ những bài hát dân gian phổ biến trong cộng đồng, có thể có hoặc không có khúc điệu Theo nghĩa gốc, ca là bài hát có khúc điệu, trong khi dao là bài hát không có khúc điệu; do đó, ca dao là danh từ ghép phản ánh toàn bộ các bài hát truyền thống trong dân gian Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong giáo trình "Lịch sử văn học Việt Nam - Văn học dân gian" nhấn mạnh rằng để phân biệt giữa ca dao và tục ngữ, cần dựa trên đặc điểm trội của từng thể loại để quy rõ loại hình phù hợp.

Như vậy, để phân biệt tục ngữ và ca dao, chúng ta có thể dựa vào các tiêu chí:

Tục ngữ thường có số lượng âm tiết ngắn hơn so với ca dao, đôi khi chỉ có ba âm tiết như "Đen như mực" hay "cay như ớt", chủ yếu là câu có 6 âm tiết và dài nhất là 28 âm tiết, nhưng số câu này không nhiều, ví dụ như "Chớp đằng đông vừa trông vừa chạy" hay "Chớp đằng tây mưa giây mưa giật" Trong khi đó, ca dao ít nhất cũng phải có từ hai dòng trở lên, phản ánh tính chất phong phú và đa dạng của thể loại này.

Ví dụ: Cơm ăn mỗi bữa một lưng

Uống nước cầm chừng để dạ thương em

Tuy nhiên, nếu dựa vào tiêu chí hình thức có nhiều trường hợp tục ngữ có hình thức là một cặp lục bát giống như ca dao, ví dụ:

- Rau bợ là vợ canh chua

Ai chết nửa mùa sống lại mà ăn

- Mẹ đần lại đẻ con đần Gạo chiêm đem giả mấy lần vẫn chiêm

- Yêu nhau chẳng lọ chiếu giường Dẫu rằng tàu lá che sương cũng tình

- Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Trong những tình huống này, chúng ta không chỉ dựa vào tiêu chí hình thức mà còn cần xem xét tiêu chí nội dung để đánh giá một cách toàn diện và chính xác Điều quan trọng là đảm bảo nội dung phải phù hợp và phù hợp với mục đích truyền tải, giúp người đọc dễ dàng hiểu và tiếp cận thông điệp của bài viết Việc cân nhắc cả về hình thức lẫn nội dung sẽ mang lại hiệu quả tối ưu trong việc truyền tải thông điệp và đạt được mục tiêu của nội dung đó.

* Về nội dung: Tục ngữ thiên về lý trí, triết lý, đúc rút kinh nghiệm

Còn nội dung ca dao thường đề cập đến tâm trạng, tình cảm, cảm xúc

Tục ngữ là công cụ đúc rút kinh nghiệm nhận thức về tự nhiên, giúp con người dự báo thời tiết như "Mùa hè đang nắng cỏ gà trắng thì mưa" Trong lao động sản xuất, các câu tục ngữ như "Lúa chiêm lấp ló đầu bờ" hay "Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên" thể hiện kinh nghiệm quý báu của người nông dân trong canh tác Ngoài ra, tục ngữ còn phản ánh nhận thức về xã hội, ví dụ như "Thà ăn bắp hột chà vôi, còn hơn giàu có mồ côi một mình", thể hiện giá trị sẻ chia và đoàn kết trong cộng đồng.

Còn ca dao thiên về cảm xúc, tình cảm rõ rệt

- Thà rằng chịu lạnh nằm không

Còn hơn lấy gái lẹm cằm răng hô

- Tay ôm bó mạ xuống đồng

Miệng ca tay cấy mà lòng nhớ ai

Ngoài ra, chúng ta có thể dựa vào các tiêu chí sau đây:

* Về ý nghĩa: Ý nghĩa của tục ngữ chủ yếu là nghĩa đen, nghĩa bóng, còn ca dao thiên về ý nghĩa biểu cảm

Tục ngữ thường chứa các hành động nói có tác động đến nhận thức, thể hiện quan điểm như "Được ăn cả ngã về không," trong khi ca dao thường bao gồm ít nhất hai hành động nói ảnh hưởng đến tâm trạng và cảm xúc của người nghe hoặc người đọc.

Tục ngữ thường có cấu trúc rõ ràng, gồm hai dạng chính: Đề - Thuyết đơn và Đề - Thuyết sóng đôi Cấu trúc Đề - Thuyết đơn thường thể hiện ý nghĩa qua câu như "Ai biết được ma ăn cổ" hoặc "Nước đổ đầu vịt," phản ánh những chân lý hoặc quan niệm dân gian sâu sắc Trong khi đó, cấu trúc Đề - Thuyết sóng đôi lại mang tính đối đáp hoặc phản đề, như "Chè hâm lại, gái ngủ trưa" hay "Ai ăn trầu, nấy đỏ môi," giúp nêu bật mối liên hệ hoặc bài học qua các câu đối đôi, phổ biến trong văn hóa truyền thống Việt Nam.

Ca dao có cấu trúc hoàn chỉnh gồm hai phần rõ ràng: phần đầu mô tả hoàn cảnh khách quan như thiên nhiên hoặc con người, giúp người nghe hình dung bối cảnh rõ nét; phần thứ hai thể hiện ngụ tình, bộc lộ cảm xúc, cảnh huống chủ quan của người sáng tác, tạo nên sự hài hòa và sâu sắc trong bài thơ dân gian.

Trên trời có đám mây xanh Ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng Ước gì anh lấy được nàng Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

Ví dụ: 2 Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu nhiều đắng cay

Trong hai câu trên đều có hai phần: phần đầu nói về thiên nhiên gợi hứng làm nền, còn phần cuối nói đến cảm xúc tâm trạng

1.1.3 Những đặc điểm của ca dao 1.1.3.1 Đặc điểm về nội dung phản ánh

Ca dao là thơ dân gian có lịch sử lâu đời và sức sống mãnh liệt, phản ánh tiếng vọng tâm hồn và tình cảm của nhân dân lao động Nó là tiếng nói của cộng đồng trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc, song hành cùng hành trình lịch sử dân tộc.

Vì vậy, ca dao không chỉ lớn về số lượng tác phẩm mà còn hết sức phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức nghệ thuật

Vấn đề từ và từ loại danh từ

1.2.1 Vấn đề từ 1.2.1.1 Khái niệm từ

Từ là đơn vị cơ bản và cốt lõi của ngôn ngữ, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các yếu tố phức tạp hơn như cụm từ, câu và văn bản Như viên gạch xây dựng nên tòa lâu đài ngôn ngữ, từ ngữ là thành phần thiết yếu tạo nên nội dung truyền đạt ý nghĩa rõ ràng và hiệu quả Việc hiểu đúng và sử dụng chính xác các từ giúp nâng cao khả năng giao tiếp và tối ưu hóa nội dung theo các tiêu chuẩn SEO.

Theo Từ điển tiếng Việt, từ được định nghĩa là đơn vị nhỏ nhất mang ý nghĩa hoàn chỉnh và có cấu tạo ổn định để dùng trong việc đặt câu Từ đơn là loại từ không phân chia thành các thành phần nhỏ hơn mà vẫn giữ được ý nghĩa đầy đủ, đóng vai trò quan trọng trong cấu tạo câu Việc kết hợp các từ đơn thành câu giúp truyền đạt ý nghĩa rõ ràng và chính xác trong giao tiếp hàng ngày Hiểu rõ đặc điểm của từ là nền tảng để xây dựng kỹ năng ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt một cách linh hoạt, hiệu quả.

Trong đó, Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh rằng từ trong tiếng Việt là tập hợp của một hoặc một số âm tiết cố định, mang ý nghĩa nhất định và tuân theo các kiểu cấu tạo cũng như đặc điểm ngữ pháp đặc trưng của tiếng Việt, nhằm hình thành nên câu Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa rằng từ trong tiếng Việt là một đơn vị hoàn chỉnh, mang ý nghĩa rõ ràng và có hình thức là một âm tiết, đóng vai trò nền tảng để cấu tạo câu nói trong ngôn ngữ.

Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên, "từ" là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc nhiều âm tiết, mang nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để xây dựng câu Cụ thể, "chữ" viết rời thể hiện rõ đặc điểm của từ, góp phần nâng cao khả năng sử dụng linh hoạt trong giao tiếp và sáng tạo ngôn ngữ Việc phân biệt giữa chữ viết rời và các yếu tố cấu thành sẽ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc của ngôn ngữ và giá trị của từ trong việc truyền đạt ý nghĩa Do đó, "từ" đóng vai trò trung tâm trong hệ thống ngôn ngữ, là đơn vị cơ bản để hình thành câu chuyện, ngữ nghĩa và truyền tải thông điệp một cách hiệu quả, phù hợp với các nguyên tắc tối ưu hóa SEO trong nội dung truyền thông.

- Từ là đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết

- Từ có cấu tạo riêng, hoàn chỉnh (từ ghép, từ láy)

- Từ có nghĩa nhỏ nhất

- Từ có khả năng vận dụng tự do để tạo câu

Tóm lại, từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có chức năng định danh, gồm hai mặt cố định là mặt âm và mặt nghĩa Nó là chỉnh thể toàn diện, vừa phản ánh chân thực hiện thực khách quan, vừa thể hiện cảm xúc và thái độ chủ quan của người sử dụng.

1.2.2 Danh từ và đặc điểm của danh từ 1.2.2.1 Khái niệm danh từ

Theo Từ điển tiếng Việt, Danh từ là từ chuyên biểu thị ý nghĩa sự vật, đối tượng, thường làm chủ ngữ trong câu [32, tr.242]

Danh từ trong Ngữ pháp tiếng Việt được định nghĩa là lớp từ mang ý nghĩa phạm trù sự vật, biểu thị những đơn vị có thể nhận thức dựa trên tồn tại của chúng trong tự nhiên, xã hội hoặc trong suy nghĩ của con người Tác giả Đỗ Kim Liên nhấn mạnh rằng danh từ phản ánh các hiện tượng trong thực tế hoặc trong tư duy, giúp mô tả và nhận diện các đối tượng cụ thể và trừu tượng trong ngôn ngữ.

Danh từ, theo từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do Nguyễn Như Ý chủ biên, là từ loại có ý nghĩa phạm trù “sự vật” Đây là nhóm từ có phạm trù ngữ pháp giống, số, cách, dù được thể hiện khác nhau trong các ngôn ngữ khác nhau Danh từ còn có thể đảm nhận các chức năng ngữ pháp đa dạng trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ và định ngữ.

Danh từ là loại thực từ biểu thị sự vật tính (sinh vật), vật thể, hiện tượng hoặc sự việc trong đời sống thực tại và tư duy Theo Nguyễn Kim Thản, danh từ có những đặc trưng ngữ pháp như không trực tiếp làm vị ngữ và có thể kết hợp với các từ loại như số từ, đại từ chỉ số, lượng từ, phó danh từ, hoặc đại từ chỉ định để được xác định hoặc hạn chế ý nghĩa Trong khi đó, Nguyễn Tài Cẩn nhấn mạnh rằng danh từ là từ loại không thể độc lập làm vị ngữ, vì nó không có vị ngữ tính trong câu.

Ví dụ một số nhóm danh từ:

- Danh từ chỉ vật: nhà, bà, ghế, sách, bút, áo, quần

- Danh từ chỉ người: bộ đội, sinh viên, học sinh, nông dân, xã viên, thanh niên, cán bộ

- Danh từ trừu tượng: tinh thần, văn hoá, khái niệm, tư duy, vật chất, thượng đế, triết học

1.2.2.2 Đặc điểm của danh từ

Danh từ là loại từ dùng để chỉ "sự vật", mang ý nghĩa rộng, bao gồm các đối tượng như động vật, thực vật, vật thể, hiện tượng tự nhiên, cũng như các yếu tố trong đời sống vật chất và tinh thần của con người.

- Về khả năng kết hợp:

* Danh từ có khả năng làm trung tâm của cụm danh từ Theo mô hình cụm danh từ của Nguyễn Tài Cẩn đưa ra, có 7 vị trí

Tất cả / những / cái / con / mèo/ đen / ấy

* Danh từ có khả năng đứng sau các từ: những, các, mọi, từng, mỗi và đứng trước các từ này, nọ, đó, kia

* Danh từ có khả năng đứng sau những từ chỉ vị trí: trên, dưới, trong, ngoài

Nó đi ra ngoài sân

Hùng đang làm bài tập trong nhà

* Trong câu danh từ thường làm chủ ngữ

Nước // chảy, hoa // trôi (chủ ngữ)

* Danh từ không trực tiếp làm vị ngữ Muốn làm vị ngữ phải có quan hệ từ là đứng trước

- Huyền Trân là một vị công chúa

- Ruộng rẫy là chiến trường Cuốc cày là vũ khí

Nhà nông là chiến sỹ

1.2.2.3 Danh từ gà, trâu trong ca dao

* Dựa vào đặc điểm khái quát, có thể chia danh từ thành các tiểu nhóm sau:

Chung Riêng Lan Hương, Hùng Tổng hợp

Anh em Không tổng hợp

Trong bảng phân loại danh từ, danh từ chỉ động vật bao gồm các từ như gà, vịt, trâu, bò, ngựa, phản ánh các loài vật phổ biến trong đời sống hàng ngày Danh từ không chỉ chỉ đơn vị tự nhiên như con vật, cây cối mà còn bao gồm các vật thể vật chất, đồ vật và các khái niệm trừu tượng khác Việc hiểu rõ các loại danh từ giúp người học sử dụng từ chính xác trong giao tiếp và viết lách, đồng thời tối ưu hóa nội dung theo yêu cầu của SEO.

* Đặc điểm của từ gà, trâu:

- Chỉ tiểu nhóm động vật

- Kết hợp sau từ chỉ đơn vị tự nhiên: con gà, con trâu

- Không trực tiếp đứng sau số từ:

Ví dụ, người Việt không nói 3 gà, mà phải nói: 3 con gà, 5 con trâu

- Trong câu nó thường làm chủ ngữ: Gà què // ăn quẩn cối xay

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Trong cuộc sống hàng ngày, con người chủ yếu sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp chính Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, giữ vai trò then chốt trong việc trao đổi thông tin giữa các thành viên cộng đồng xã hội Nó không chỉ giúp hình thành và phát triển tư duy mà còn truyền đạt các tư tưởng, lưu giữ nét văn hóa và lịch sử qua các thế hệ.

Ngôn ngữ được hiểu là hệ thống gồm các âm, từ và quy tắc kết hợp nhằm mục đích giao tiếp trong cộng đồng Nó còn là hệ thống ký hiệu dùng để diễn đạt và truyền đạt thông tin một cách rõ ràng Ngoài ra, ngôn ngữ còn thể hiện nghệ thuật và trình độ sử dụng riêng của từng người.

Ngôn ngữ là hệ thống truyền đạt hàng nghìn năm qua, góp phần hình thành và phát triển nền văn hóa Nó không chỉ là phương tiện liên lạc mà còn phản ánh sự tiến bộ của xã hội qua từng giai đoạn Ngôn ngữ duy trì vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền tảng văn hóa, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội qua từng thời kỳ.

Ngôn ngữ không mang tính giai cấp hay thuộc về thượng hoặc hạ tầng xã hội, mà là sản phẩm của tập thể và tài sản chung của cộng đồng Nó phục vụ mọi giai cấp, đóng vai trò là công cụ phản ánh và truyền đạt tư tưởng của con người Như C Mác đã khẳng định, “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng”, thể hiện rõ vai trò trung tâm của ngôn ngữ trong việc ghi nhận và bộc lộ suy nghĩ của xã hội.

Thuật ngữ Văn hóa xuất phát từ tiếng Latin "Cultus", mang nghĩa đen là lao động nông nghiệp, trồng trọt và canh tác Trong nghĩa bóng, nó liên quan đến các giá trị tinh thần, giáo dục, sự phát triển trí tuệ, trình độ học vấn và tri thức Văn hóa không chỉ phản ánh quá trình lao động, sản xuất mà còn là nền tảng cho sự phát triển trí tuệ và giá trị tinh thần của con người Nghiên cứu văn hóa giúp hiểu rõ các truyền thống, phong tục và giá trị xã hội, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển bền vững của cộng đồng.

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, văn hoá là hệ thống hữu cơ gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn Văn hoá hình thành từ sự tương tác liên tục giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, phản ánh quá trình phát triển và đổi mới không ngừng của cộng đồng.

Theo tổ chức UNESCO, văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị đa dạng, bao gồm cảm xúc, tri thức, vật chất và tinh thần của xã hội, không chỉ giới hạn trong sáng tác nghệ thuật mà còn phản ánh phương thức sống, quyền con người, truyền thống và tín ngưỡng Văn hóa thể hiện những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hoặc nhóm người Nó bao gồm các yếu tố như nghệ thuật, văn chương, lối sống, quyền lợi cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, tập tục và tín ngưởng, góp phần hình thành bản sắc văn hoá đặc trưng của cộng đồng.

Văn hoá được định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra qua quá trình lịch sử, như văn hoá phương Tây hay kho tàng văn hoá dân tộc Nó còn đề cập đến những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần, phản ánh đặc trưng và bản sắc của mỗi cộng đồng Văn hoá không chỉ là di sản lịch sử mà còn là yếu tố cốt lõi trong việc xây dựng và duy trì bản sắc dân tộc, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam.

Văn hoá phản ánh các hoạt động văn hoá văn nghệ và trình độ văn hoá của cộng đồng Trình độ kiến thức khoa học và văn hoá thể hiện trình độ phát triển trí thức của xã hội Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội được xem là biểu hiện của nền văn minh; ví dụ, những người cư xử rất văn hoá hay thiếu văn hoá đều phản ánh mức độ văn minh của một xã hội Tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định dựa trên các di vật có đặc điểm chung, như văn hoá Sa Huỳnh hay Đông Sơn Ở đây, chúng ta đề cập đến khái niệm văn hoá theo nghĩa đầu tiên, phản ánh toàn diện các giá trị của một nền văn minh cổ xưa.

Văn hóa là một đối tượng nghiên cứu rộng lớn và đa dạng, thu hút sự quan tâm của nhiều ngành học như văn hóa học, ngôn ngữ học, triết học, sử học, dân tộc học và xã hội học trên toàn thế giới.

Trong sự phong phú và đa dạng của các quan niệm về văn hóa, chúng ta đặc biệt quan tâm đến những nét chung nổi bật nhất Văn hóa được hiểu là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn Đây là những nội dung cốt lõi giúp xác định bản chất và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội.

1.3.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá

Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng để mở rộng giao lưu, trao đổi và hiểu biết về văn hoá giữa các cộng đồng dân cư, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Hoạt động ngôn ngữ cùng với hoạt động văn hoá đều là những hoạt động tinh thần mang ý nghĩa thiết yếu, giúp nâng cao nhận thức và kết nối cộng đồng Ngôn ngữ không chỉ là công cụ truyền đạt thông tin mà còn là nền tảng để phát triển và bảo tồn các giá trị văn hoá, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.

Văn hóa bao gồm các thành tố như phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội và ngôn ngữ, trong đó ngôn ngữ được xem là thành tố quan trọng nhất Ngôn ngữ đóng vai trò là phương tiện thiết yếu, là điều kiện để các thành tố khác của văn hóa hình thành và phát triển Ngoài ra, ngôn ngữ còn là công cụ truyền đạt, chuyển tải và củng cố giá trị văn hóa, góp phần giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc.

Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ dân tộc và văn hóa dân tộc luôn có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau Ngôn ngữ đóng vai trò là nền tảng xây dựng và duy trì nét đặc trưng văn hóa của từng cộng đồng dân tộc Ngược lại, văn hóa dân tộc cũng là nguồn cảm hứng và giữ gìn ngôn ngữ truyền thống của các dân tộc, tạo điều kiện để bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa độc đáo qua các thế hệ.

Quan niệm của mỗi dân tộc và thế giới được khúc xạ độc đáo trong bức tranh ngôn ngữ của họ, hình thành nên cách nhìn nhận thực tại riêng biệt Bức tranh ngôn ngữ này không chỉ phản ánh mà còn ảnh hưởng đến sự tri giác đặc thù về hiện thực của cộng đồng văn hóa – ngôn ngữ đó Chính vì vậy, ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nhận thức và thế giới quan của từng nền văn hóa khác nhau.

Tiểu kết

Trong bài viết này, chúng tôi đã giới thiệu các khái niệm cơ bản về ca dao, làm rõ điểm giống và khác nhau giữa ca dao và tục ngữ Đồng thời, bài viết cũng khám phá các đặc điểm tiêu biểu của ca dao, bao gồm nội dung phản ánh phù hợp với đề tài, cùng với các yếu tố nghệ thuật như ngôn ngữ, kết cấu và thể loại của ca dao.

Chúng tôi đã trình bày khái niệm về văn hoá, ngôn ngữ và mối quan hệ giữa chúng để thiết lập nền tảng cho việc phân tích danh từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người Việt Việc tìm hiểu về đặc điểm, phân loại danh từ nói chung, cùng với danh từ chỉ con vật như gà, trâu, giúp làm rõ vai trò của chúng trong văn học dân gian Các câu ca dao Việt Nam phản ánh sâu sắc đời sống, văn hoá và tâm thức của người dân, trong đó gà và trâu đóng vai trò quan trọng trong lao động sản xuất và đời sống tinh thần Hiểu rõ ý nghĩa và vai trò của hai con vật này giúp chúng ta lý giải tại sao ca dao lại có sức sống lâu bền và khả năng lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng xã hội.

Đặc điểm ngữ pháp của các câu ca dao có từ gà, trâu

Đặc điểm cấu tạo và sự hành chức của các câu ca dao có chứa từ gà

gà 2.1.1 Đặc điểm cấu tạo 2.1.1.1 Thống kê

Dựa trên khảo sát trong Kho tàng ca dao Việt Nam, có tổng cộng 12.487 câu ca dao thì có đến 157 câu chứa từ "gà" hoặc có yếu tố "gà" là thành phần chính, như "gà ri" hay "gà kiến", hoặc là thành tố đẳng lập như "gà – vịt".

Trong đó chủ yếu là từ đơn (gà), còn từ ghép (gà ô) và thành ngữ (mẹ gà con vịt) xuất hiện với số lượng hạn chế (khoảng hơn 10 từ)

Bảng thống kê sau đây sẽ cho ta những thông tin quan trọng:

Từ ghép 11 45 24,19% Gà con, gà mẹ, gà nòi, gà ô, gà ri, gà ác, gà lôi, gà tơ,

10 10 5,37% Con tông gà nòi, mẹ gà con vịt, gà con lạc mẹ,

Bảng 2.1: Bảng thốngkê số lượng và tần số xuất hiện từ gà (từ đơn, từ ghép, thành ngữ) trong Kho tàng ca dao

2.1.1.2 Cấu tạo của từ gà trong ca dao

Trong tổng số 157 câu ca dao có từ "gà", từ "gà" hoặc yếu tố liên quan xuất hiện tổng cộng 186 lần, bao gồm 131 lượt từ đơn, 45 lượt từ ghép và 10 lượt thành ngữ Tần suất xuất hiện của từ đơn "gà" gấp 2,9 lần so với từ ghép "gà vịt" và gấp 13,1 lần so với thành ngữ; trong đó, từ ghép gấp 4,5 lần thành ngữ Các từ ghép liên quan gồm hai nhóm chính: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ, phản ánh sự đa dạng trong việc sử dụng từ "gà" trong ca dao Việt Nam.

- Từ ghép đẳng lập: gà vịt

- Từ ghép chính phụ: gà con, gà ác, gà ri,

- Thành ngữ: mẹ gà con vịt, gà cùng một mẹ,

2.1.2 Đặc điểm về hành chức 2.1.2.1 Vị trí và tần số xuất hiện

Qua khảo sát, chúng tôi thấy trong 157 câu ca dao có chứa từ gà thì có 171 số lượt từ gà xuất hiện ở các vị trí khác nhau trong dòng

Bảng thống kê sau đây cho thấy rõ điều đó:

Vị trí từ gà Số lượt Tỉ lệ Ví dụ Đứng đầu dòng 51 29,82% Gà con bươi rác, bươi rơm

Con em chèo chẹo đòi cơm cả ngày Đứng giữa dòng 62 36,25% Ai lên nhắn với trăng già

Nhủ trăng khoan lặn, nhủ gà khoan kêu Đứng cuối dòng 58 33,91% Ao sâu bắt chẳng đặng cá

Vườn rộng bắt chẳng đặng gà

Bảng 2.2 Vị trí và tần số xuất hiện của các câu ca dao có chứa từ gà

Trong câu, từ chỉ gà xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau, bao gồm đầu dòng, giữa dòng và cuối dòng Trong đó, từ gà đứng ở vị trí giữa dòng chiếm tỷ lệ lớn nhất, đạt 36,25% (62/171), còn vị trí đầu dòng chiếm tỷ lệ thấp nhất là 29,82% Ngoài ra, từ gà xuất hiện ở cuối dòng với tỷ lệ trung bình là 33,91%.

2.1.2.2 Đặc điểm về khả năng kết hợp a) Kết hợp làm thành phần chính của câu a 1 ) Từ chứa gà làm chủ ngữ:

Chủ ngữ là thành phần chính của câu, thường nằm ở vị trí đầu tiên và do từ, cụm từ hoặc kết cấu C-V đảm nhận Chủ ngữ thể hiện nhân vật, vật thể, sự việc hoặc tình hình liên quan đến thành phần thứ hai là vị ngữ Việc xác định chủ ngữ giúp xác định rõ đối tượng hoặc đối tượng tác động trong câu, từ đó làm rõ ý nghĩa chung của câu Chủ ngữ đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc câu và ảnh hưởng trực tiếp đến cách diễn đạt ý tưởng một cách chính xác, rõ ràng theo quy luật ngữ pháp tiếng Việt.

* Đặc điểm của chủ ngữ

- Về hình thức: thường đứng đầu câu và đứng trước vị ngữ

- Về cấu tạo: chủ ngữ thường có cấu tạo một từ hay một cụm từ

Từ có thành tố gà làm thành phần chính của câu (làm chủ ngữ), chiếm số lượng khá lớn trong ca dao

1 Gà con // đuổi bắt diều hâu

2 Gà kia // một trứng nở đà hai con

3 Gà hồ // nấu với măng mai

4 Con gà // cục tác lá chanh

5 Con gà // tốt mã về lông

6 Gà con // lạc mẹ, gà con // chiu chít

7 Gà // đã giục khách anh hùng

8 Gà lôi // đội lốt con công

9 Gà què // ăn quẩn cối xay

10 Gà // về bới nát cỏ sân

11 Gà // cất tiếng gáy, em // ăn anh // về

12 Gà tơ // xào với mướp già

Trong tư liệu khảo sát của chúng tôi, không xuất hiện trường hợp từ có thành tố gà làm vị ngữ Tuy nhiên, từ "gà" có thể kết hợp làm thành phần phụ của câu hoặc làm trung tâm của cụm danh từ để mở rộng ý nghĩa trong câu Điều này cho thấy sự linh hoạt của từ "gà" trong cấu trúc câu tiếng Việt và các yếu tố ngữ pháp liên quan Các phân tích này giúp làm rõ cách sử dụng từ "gà" trong các thành phần câu nhằm nâng cao hiệu quả truyền đạt thông tin.

Ta thường gặp gà kết hợp với con/ đàn đứng ở vị trí trung tâm:

Ví dụ: - con gà kia

Định ngữ trong câu là thành phần phụ của cụm danh từ, có chức năng làm rõ nghĩa cho danh từ trung tâm mà nó phụ thuộc Đặc biệt, TT P b 2 ) Làm định ngữ cho danh từ trung tâm giúp xác định rõ ràng hơn về đặc điểm, thuộc tính hoặc quan hệ của danh từ đó, góp phần làm cho câu văn chính xác và dễ hiểu hơn Việc sử dụng đúng và linh hoạt các thành phần định ngữ sẽ nâng cao khả năng diễn đạt và tối ưu hóa SEO trong bài viết của bạn.

Về cấu tạo, định ngữ có thể là một từ, một tổ hợp từ hay một kết cấu C- V

1 Muốn ăn thịt gà ăn cả cháo kê (tr.365)

2 Trái duyên coi bẵng một gian chuồng gà (tr.469)

3 Khoan khoan mổ ruột con gà (tr.1298)

4 Máu gà tẩm với xương gà (tr.1434)

5 Mẹ sinh con trai làm chi Đầu gà má lợn mang đi cho người (tr.1474)

6 Thoạt tiên mua ba tiền gà (tr.1540)

7 Muốn ăn xôi gà đóng tiền mà ăn (tr.1574)

Trong các dạng kết hợp với từ "gà", ta thường gặp các cúm danh từ như "đầu gà", "xôi gà", "tiền gà", "tiếng gà", "chuồng gà", "thịt gà", "chân gà", "ruột gà" và "xương gà", phản ánh các phần hoặc sản phẩm từ gà Ngoài ra, từ "gà" còn được dùng làm bổ ngữ cho các động từ để mô tả hành động hoặc trạng thái liên quan đến gà Những cấu trúc này giúp mô tả rõ ràng các đặc điểm, hình thái hoặc hoạt động liên quan đến gà trong văn cảnh tiếng Việt.

Bổ ngữ là thành phần phụ của động từ hoặc tính từ, đóng vai trò làm vị ngữ trong câu Trong tiếng Việt, bổ ngữ thường đứng sau động từ hoặc tính từ để làm rõ nghĩa của câu Việc nhận biết bổ ngữ giúp cải thiện khả năng sử dụng ngữ pháp chính xác và nâng cao kỹ năng viết của người học tiếng Việt Các thành phần này đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt ý nghĩa rõ ràng và phong phú hơn trong câu.

Bổ ngữ có thể là một từ hoặc một cụm từ, tùy thuộc vào cấu tạo của câu Về mặt từ loại, bổ ngữ có thể đóng vai trò là danh từ, vị từ, số từ hoặc đại từ, giúp làm rõ nghĩa của câu và bổ sung các thông tin cần thiết.

Với những cương vị khác nhau có những vị từ đòi hỏi hơn một bổ ngữ, thậm chí có đến ba bốn bổ ngữ

Bổ ngữ bắt buộc là thành phần câu không thể thiếu để làm rõ ý nghĩa của động từ, gồm bổ ngữ nội dung và bổ ngữ đối tượng Chúng thường thể hiện rõ nội dung của hành động như ăn cơm, viết thư, đọc bài hay cắt tóc, giúp câu trở nên đầy đủ và chính xác hơn.

Bổ ngữ không bắt buộc, còn gọi là bổ ngữ hoàn cảnh, không nhằm thể hiện ý nghĩa của động từ trung tâm mà phản ánh hiện thực ngoài câu nói Chúng có vai trò bổ sung thông tin về cách thức, kết quả hoặc thời gian của hành động, như: bổ ngữ cách thức (ăn nhanh), bổ ngữ kết quả (ăn xong), và bổ ngữ thời gian (ăn chiều).

Sau đây là những ví dụ về các câu ca dao có từ gà làm bổ ngữ:

1 Hào tư anh để mua gà ĐT BN

2 Ao to ta thả cá chơi

Hồ rộng nuôi vịt, vườn khơi nuôi gà ĐT BN

3 Anh giết lợn giết gà ĐT BN

4 Trời mưa cho mối bắt gà ĐT BN Với nhóm này ta bắt gặp thành tố gà thường đứng sau các động từ đơn tiết đòi hỏi bổ ngữ trực tiếp như: mua, nuôi, ăn, bán, mổ, bắt, giết, ném, xua

(gà) c) Kết hợp sóng đôi với danh từ khác

Trong ca dao Việt Nam, từ có thành tố "gà" thường xuất hiện cùng các danh từ chỉ các loài vật khác như lợn, rắn, vịt, chó để mô tả những món ăn ngon, bổ dưỡng như gà - lợn, gà - vịt, hoặc để tượng trưng trong các hình ảnh phong phú như công - gà, phượng hoàng - gà, quạ (diều) - gà Ngoài ra, "gà" còn liên kết với các loài vật khác như rắn, chó để thể hiện các mối quan hệ trong đời sống hoặc đời tuồng cổ, góp phần làm phong phú và đa dạng về mặt nội dung của ca dao Việt Nam.

Anh về anh bảo mẹ cha Bắt lợn để cưới, bắt gà để cheo [tr.166]

Ao to ta thả cá chơi

Hồ rộng nuôi vịt, vườn khơi nuôi gà [tr.188]

Anh giết lợn giết gà

Mẹ anh lại kể con cà con kê [tr.197]

Ba phen quạ nói với diều Vườn hoang cỏ rậm thì nhiều gà con [tr.220]

Gà con đuổi bắt diều hâu Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông [tr.242]

Gà con đuổi bắt diều hâu Trứng gà tha quạ biết đâu mà tìm [tr.242]

Bói cho một quẻ trong nhà Con heo bốn cẳng, con gà hai chân [tr.305]

Chim chích cắn cổ diều hâu [tr.337]

Gà con tha quạ biết đâu mà tìm

Bài ca dao "Mẹ sinh con trai làm chi" thể hiện đặc điểm nổi bật về khả năng xuất hiện của cấu trúc lặp trong kết cấu, giúp tăng tính nhấn mạnh và dễ nhớ cho câu hát Cấu trúc lặp không chỉ làm rõ ý nghĩa mà còn góp phần tạo nên sự mềm mại, dễ đi vào lòng người của bài ca dao Đặc điểm này thường xuyên xuất hiện trong các bài ca dao Việt Nam, góp phần làm cho nội dung trở nên sinh động và hấp dẫn hơn.

Từ điển tiếng Việt cho rằng: Lặp là nhắc lại giống y như cái đã có trước

Cấu trúc lặp là phương pháp sử dụng đi sử dụng lại một yếu tố hoặc đơn vị ngôn ngữ nhằm tạo ra sự liên kết giữa các câu trong văn bản Đây là biện pháp tu từ nghệ thuật phổ biến trong ca dao, giúp thu hút sự chú ý của người nghe hoặc người đọc vào sự vật, sự việc hoặc lập luận đang trình bày Tính lặp đi lặp lại không chỉ nâng cao tính thẩm mỹ cho bài viết mà còn làm nổi bật ý nghĩa cốt lõi của nội dung.

Các phép lặp cụ thể mà chúng ta gặp nhiều trong văn bản là lặp từ vựng, lặp cấu trúc cú pháp và lặp ngữ âm

- Lặp ngữ âm: là phép liên kết câu dùng các âm tiết hoặc các vần giống nhau ở các câu khác nhau

Ai lên nhắn với trăng già

Nhủ trăng khoan lặn, nhủ gà khoan kêu [tr.67]

Hào tư anh để mua gà

Sáu xu mua rượu, hào ba đi tàu [tr.131]

Nói thời nói rứa thôi mà

Năm ba đọi gạo con gà cũng xong [tr.177]

Đặc điểm cấu tạo và sự hành chức của các câu ca dao có chứa từ trâu 37 2.3 Điểm tương đồng và khác biệt

2.2.1 Đặc điểm cấu tạo 2.2.1.1 Thống kê

Dựa trên khảo sát và thống kê, trong tổng số 130 câu ca dao có chứa từ "trâu", chúng tôi nhận thấy tổng cộng có 154 lần xuất hiện của từ "trâu" Trong đó, số lượng các dạng từ gồm từ đơn, từ ghép và thành ngữ chứa từ "trâu" được phân bổ rõ ràng, phản ánh tần suất và sự đa dạng trong cách sử dụng từ này trong các câu ca dao dân gian Điều này cho thấy trâu là biểu tượng phổ biến, giàu ý nghĩa trong văn hóa dân gian Việt Nam, góp phần làm phong phú nét đẹp sâu sắc của kho tàng ca dao.

Từ và TN Số lượng từ

Từ ghép 07 38 24,67% Trâu bò, trâu đực, trâu nái,

Thành ngữ 11 11 7,14% Đàn gảy tai trâu, chết đuối vũng trâu đầm,

Bảng 2.3: Bảng thống kê số lượng và tần số xuất hiện từ trâu (từ đơn, từ ghép, thành ngữ) trong Kho tàng ca dao 2.2.1.2 Nhận xét

Trong kho tàng ca dao Việt Nam gồm 154 ngữ cảnh, chúng tôi đã thống kê được 130 câu ca dao chứa từ "trâu", thể hiện tầm quan trọng của biểu tượng này trong văn hóa dân gian Trong đó, từ đơn "trâu" xuất hiện 106 lần, cho thấy sự phổ biến và quen thuộc của hình ảnh con trâu trong đời sống người Việt Ngoài ra, còn có 07 từ ghép gồm "trâu" xuất hiện 38 lần, phản ánh cách sử dụng linh hoạt của từ trong các ngữ cảnh khác nhau Bên cạnh đó, có 11 thành ngữ liên quan đến con trâu, góp phần thể hiện các giá trị truyền thống và đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam.

11) Từ đơn gấp 2,76 lần từ ghép và gấp 9,54 lần thành ngữ Còn từ ghép gấp 3,45 lần thành ngữ

2 2.2 Đặc điểm về sự hành chức 2.2.2.1 Vị trí và tần số xuất hiện

Theo khảo sát 12.487 lời ca dao, chúng tôi nhận thấy có tổng cộng 130 câu ca dao chứa từ "trâu" Trong số đó, từ "trâu" xuất hiện tổng cộng 138 lần ở các vị trí khác nhau trong các câu ca dao này Kết quả này cho thấy sự phổ biến và vai trò quan trọng của hình ảnh trâu trong truyền thống dân gian Việt Nam.

Bảng thống kê sau đây cho chúng ta thấy rõ điều đó:

Vị trí từ trâu Số lượt Tỉ lệ Ví dụ Đứng đầu dòng 39 28,26% Trâu chậm thời anh bán đi

Trong cuộc sống gia đình, việc chồng đánh vợ là hành động cần tránh và không phù hợp với đạo đức Đứng giữa dòng chảy của cuộc đời, mọi người thường mong muốn giữ gìn hòa khí và thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau Trong câu chuyện truyền thống, hình ảnh người chồng đi trâu, để vợ chăn, đội nón và cầm khăn tượng trưng cho sự đảm đang, chăm sóc gia đình Trưởng nam có nhiều ruộng, trâu, thể hiện trách nhiệm lớn trong gia đình và gắn bó với công việc đồng áng Việc duy trì sự hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau là yếu tố quan trọng để xây dựng cuộc sống hạnh phúc, bền vững.

Một trăm cái giổ bổ đầu trưởng nam

Bảng 2.4: Vị trí và tần số xuất hiện của từ trâu trong câu ca dao

Trong các dòng ca dao, từ "trâu" được sử dụng ở nhiều vị trí khác nhau, bao gồm đầu dòng, giữa dòng và cuối dòng Phần lớn các câu ca dao đều đặt từ "trâu" ở vị trí cuối dòng, chiếm tỷ lệ 44,20% (61/138 câu), thể hiện rõ nét đặc trưng trong cách sử dụng từ này Trong khi đó, từ "trâu" xuất hiện ở vị trí giữa dòng với tỷ lệ thấp nhất, đạt 27,53%, còn ở vị trí đầu dòng lại chiếm tỷ lệ trung bình, phản ánh sự linh hoạt trong cách thể hiện hình ảnh con trâu trong các câu ca dao truyền thống.

2.2.2.2 Đặc điểm về khả năng kết hợp a) Kết hợp làm thành phần chính của câu a 1 ) Từ trâu làm chủ ngữ

1 Con chuột kéo cày lồi lồi Con trâu // bốc gạo vào ngồi trong cong

2 Trâu // về cầu cậy biết đâu mà tìm

3 Có thương thì cột tìm trâu Trâu // đâu tìm cột, gái đâu tìm chồng

4 Con trâu // đổ trốc cành tre

5 Con trâu // ăn đám mạ dầu mà còn đây

C V a 2 ) Từ trâu làm vị ngữ:

Trong tư liệu chúng tôi khảo sát chỉ có một câu:

Ngưu // là trâu, làm ruộng nuôi ta

C V b) Kết hợp làm thành phần phụ của câu b 1 ) Từ trâu làm bổ ngữ cho cụm động từ

1 Rước vinh quy về nhà bái tổ

Ngả trâu bò làm lễ tế vua ĐT BN

2 Bao giờ cho đến tháng ba

Giao trâu cho chú tôi ra tôi về ĐT BN

3 Gặp nhau ăn một miếng trầu

Còn hơn đám cưới mổ trâu ăn mừng ĐT BN

4 Chăn trâu chả biết mặt trâu ĐT BN

Ta gặp các kết hợp như: mổ, ngả, giết, thui, dẫn, giao, dắt, lùa, bắt, cột, buộc, chăn, (trâu) b 2 ) Từ trâu làm định ngữ cho danh từ

Trong các câu ca dao, từ "trâu" thường được sử dụng như một từ định ngữ để mô tả các danh từ trung tâm như "chuồng trâu", "tai trâu", "da trâu" hay "mặt trâu", qua đó thể hiện nét đặc trưng văn hóa và cuộc sống của người nông dân Việt Nam.

1 Cứ ăn ở xó bếp lại ngủ khì chuồng trâu

2 Thuyền son đậu phải vũng đầm

Tai trâu mà gảy đàn cầm biết chi

3 Mai mốt trống lủng còn vành

Da trâu bịt lại cũng thành như xưa

4 Sớm ngày đi cắt cỏ trâu

DT ĐN b 3 Kết hợp làm thành tố trung tâm của cụm danh từ:

Chín vạn trâu bò c Khả năng xuất hiện trong một số cấu trúc bài ca dao c 1 Cấu trúc lặp:

Cũng như từ gà, các câu ca dao có chứa từ trâu thường xuất hiện ở dạng :

* Lặp ngữ âm: từ trâu được lặp ở đây thường ở vị trí hiệp vận (tiếng thứ

6 của câu lục hoặc câu bát), lặp ở đây thực chất là quy tắc hiệp vần của thể loại lục bát Kiểu lặp này chiếm số lượng khá lớn

Tính quen chừa chẳng được đâu

Lệ làng, làng bắt mấy trâu mặc làng [tr.106]

Bao giờ muỗi đốt chết trâu Thời tau mới phải làm dâu nhà mày [tr.249]

Nào cờ nào lọng theo hầu Khi về bái tổ ngã trâu giết bò [tr.357]

Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu Tham vì ông lão tốt râu mà hiền [tr.409]

* Lặp từ vựng: thường xuất hiện ở cả câu lục và câu bát

Chăn trâu chả biết mặt trâu Trâu về cầu cậy biết đâu mà tìm [tr.459]

Chưa được khấn bà một trâu Được rồi thì có trâu đâu khấn bà [tr.592]

Có thương thì cột tìm trâu Trâu đâu tìm cột, gái đâu tìm chồng [tr.619]

Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cày cấy vốn nghiệp nông gia

Ta đây trâu đấy ai mà quản công Bao giờ cây lúa còn bông Thời còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn [tr.23]

* Lặp cú pháp: Kiểu lặp này chiếm số lượng hạn chế

Dẫn trâu sợ máu họ hàn Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân [tr.745]

Dù ai buôn đâu bán đâu Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về [tr.770]

Dù ai buôn bán trăm nghề Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu [tr.771]

Trong các câu ca dao Việt Nam, hình ảnh con trâu được sử dụng phổ biến để thể hiện ý nghĩa về sự chăm chỉ, giữ gìn tài sản và truyền thống làng quê Các câu ca dao như "Nằm đây, chớ chẳng ngủ đâu / Thức mà giữ lấy con trâu con bò" nhấn mạnh vai trò của con trâu trong đời sống nông thôn, thể hiện sự cần cù, chăm sóc của người nông dân Ngoài ra, các câu ca dao còn sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh để làm nổi bật giá trị và ý nghĩa của con trâu, góp phần làm phong phú và đa dạng cho nền văn hóa dân gian Việt Nam.

Sau đây là một số câu tiêu biểu:

- Mất chồng như nậu mất trâu Chạy lên chạy xuống, cái đầu chơm bơm [tr.508]

- Dù ai béo bạo như tru (trâu)

Về đất Kẻ Ngù cũng tóm như dam [tr.770]

- Đôi ta thương chắc, chú bác trục trặc, cha mẹ không ỳ Giống như trâu không chạc mũi biết tắc rì đường mô [tr.957]

- Em như con cá rô kia lóc vũng chân trâu

Ba bảy hăm mốt cái cần câu châu vào [tr.1060]

Cấu trúc so sánh trong ca dao giúp hình ảnh về trâu trở nên sinh động, gần gũi và thân thương hơn Nhờ đó, các biểu tượng liên quan đến trâu được thể hiện rõ nét, sâu sắc và thiêng liêng hơn trong lòng người đọc Cấu trúc đối cũng được sử dụng nhằm làm nổi bật các mối quan hệ, ý nghĩa và đặc điểm của hình ảnh trâu trong ca dao, góp phần làm cho nội dung trở nên đa dạng, phong phú hơn.

- Từ ngữ khẳng định - phủ định

- Từ ngữ có ý nghĩa trái ngược nhau trong ngữ cảnh

Dù ai béo bạo như tru (trâu)

Về đất Kẻ Ngù cũng tóm như dam [tr.770]

Số giàu lấy khó cũng giàu

Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo [tr.1639]

Cứu nhân, nhân trả oán nhãn tiền chẳng lâu Sông suối không chết, chết vũng chân trâu [tr.1740]

Nước giữa dòng chê trong chê đục Vũng trâu đầm hì hục khen ngon [tr.1817]

Thật thà cũng thể lái trâu Thương nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng [tr.2142]

Tiếc con gái khôn mắc thằng chồng dại Tiếc bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu [tr.2254]

Từ "trâu" trong ca dao có thể là từ đơn hoặc từ ghép, trong đó từ ghép có thể theo hai kiểu đẳng lập hoặc chính phụ Từ này không quy định về vị trí xuất hiện trong bài ca dao và xuất hiện với tần số khá lớn, thậm chí có thể xuất hiện liên tiếp nhiều lần trong một bài hát Khả năng kết hợp của từ "trâu" rất phong phú, có thể làm bổ ngữ cho cụm động từ, định ngữ cho cụm danh từ, hoặc đóng vai trò chủ ngữ, vị ngữ trong câu Trong các cấu trúc bài ca dao, "trâu" đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thành các cấu trúc lặp lại, các phép so sánh và đối, góp phần làm phong phú nội dung và hình thức của bài hát dân gian.

2.3 Điểm tương đồng và khác biệt

Qua khảo sát 12.487 câu ca dao Việt Nam trong kho tàng dân gian, chúng tôi nhận thấy các từ chỉ hai con vật gà và trâu xuất hiện với tần suất khá cao, thể hiện sự phổ biến trong văn hóa dân gian Những từ này được phân bố linh hoạt ở nhiều vị trí khác nhau trong câu ca dao, từ đầu dòng, giữa dòng đến cuối dòng, phù hợp với cấu trúc câu lục hoặc câu bát Việc sử dụng đa dạng vị trí của hai con vật này giúp tăng tính sinh động và biểu tượng trong các câu ca dao Việt Nam.

Về mặt cấu tạo, các từ chỉ hai loài động vật như gà, trâu có thể là từ đơn như "gà" hoặc "trâu", hoặc là từ ghép như "gà vịt" hoặc "trâu bò" Nhiều trường hợp, chúng còn là thành ngữ và được sử dụng như những từ độc lập trong ngôn ngữ hàng ngày, ví dụ như "mẹ gà con vịt" hay "đầu trâu mặt ngựa", phản ánh đặc điểm truyền thống và phong phú của tiếng Việt.

Các từ như "con gà" và "con trâu" là danh từ chỉ con vật trong tiếng Việt, có khả năng kết hợp linh hoạt với nhiều từ loại khác nhau Chúng có thể đóng vai trò trung tâm trong cụm danh từ, làm định ngữ cho danh từ, bổ ngữ cho động từ, hoặc làm chủ ngữ và vị ngữ trong câu Khả năng kết hợp rộng rãi này giúp nâng cao sự phong phú và linh hoạt trong cách sử dụng các từ chỉ con vật trong tiếng Việt.

Trong bài ca dao, những từ chỉ gà và trâu thể hiện rõ các hình thức kết cấu như cấu trúc lặp, cấu trúc so sánh, cấu trúc đối, và cấu trúc sóng đôi, góp phần tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn cho bài hát.

Trong ca dao, điểm tương đồng giữa hai từ chỉ gà, trâu xuất phát từ việc chúng đều thuộc nhóm danh từ chỉ loài vật nuôi quen thuộc Bên cạnh đó, gà và trâu có mối quan hệ gần gũi với đời sống của người Việt, đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa và tinh thần của cộng đồng nông nghiệp điển hình như nước ta.

Trong kho tàng ca dao Việt Nam, từ "gà" xuất hiện nhiều hơn với tần suất 186 lần so với "trâu" chỉ 164 lần, thể hiện mức độ phổ biến cao hơn của từ "gà" trong các câu ca dao Tần số xuất hiện của "gà" trong dòng ca dao còn lớn hơn so với "trâu" (171 lần so với 138 lần), kể cả trong dạng từ đơn, từ ghép hay thành ngữ Về vị trí xuất hiện, "gà" thường xuất hiện nhiều ở vị trí giữa dòng, ít xuất hiện ở đầu dòng, trong khi "trâu" chủ yếu xuất hiện ở cuối dòng và ít xuất hiện ở vị trí giữa, thể hiện sự khác biệt trong cách sử dụng và ý nghĩa của hai từ này trong ca dao Việt Nam.

Tiểu kết

Trong kho tàng ca dao Việt Nam, từ "gà" và "trâu" xuất hiện vô cùng phong phú, thể hiện rõ nét đời sống và tâm lý nhân dân Các từ này có khả năng kết hợp linh hoạt trong ngữ cảnh khác nhau, phản ánh mối quan hệ và đặc điểm đặc trưng của từng con vật Mỗi từ ngữ "gà" hay "trâu" đều mang những đặc điểm riêng biệt, góp phần làm phong phú thêm nội dung và ý nghĩa của ca dao dân gian Việt Nam.

Dựa trên phân tích thống kê và tư liệu cụ thể, các từ chỉ gà và trâu được sử dụng trong nhiều chức vụ ngữ pháp khác nhau như chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, đồng thời kết hợp với các danh từ khác tạo nên những đặc trưng riêng biệt Các câu ca dao chứa các từ này thể hiện sự phong phú và đa dạng về cấu trúc, bao gồm các dạng như cấu trúc lặp, cấu trúc so sánh, cấu trúc đối, cùng một số cấu trúc đặc biệt khác Những hình thức cấu trúc này giúp các tác giả dân gian truyền đạt ý nghĩa một cách hiệu quả, sâu sắc và sinh động hơn.

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC CÂU CA DAO

CÓ TỪ GÀ , TRÂU TRONG KHO TÀNG CA DAO NGƯỜI VIỆT

3.1 Ngữ nghĩa và ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà 3.1.1 Khái niệm ngữ nghĩa

Nghĩa hay ngữ nghĩa trong ngôn ngữ học là vấn đề đa dạng và phức tạp Nghĩa học là ngành khoa học nghiên cứu về nghĩa, trong khi ngữ nghĩa học là một bộ phận của nghĩa học, tập trung vào các ý nghĩa thuộc phạm vi ngôn ngữ Ngữ nghĩa trong ngôn ngữ học liên quan đến việc giải thích nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, hình thức và biểu thức ngôn ngữ Khi nghiên cứu nghĩa trong ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu thường tập trung vào cách thức các đơn vị ngôn ngữ truyền đạt ý nghĩa một cách chính xác và rõ ràng.

Ngữ nghĩa học là một bộ môn khoa học thuộc ngôn ngữ học, ra đời cách đây gần hai trăm năm với những đóng góp của nhà ngôn ngữ học người Pháp Michel Bréal, người đặt nền móng cho lĩnh vực này Tại Việt Nam, nghiên cứu về ngữ nghĩa đã được các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu và Lê Quang Thiêm tham gia đóng góp quan trọng.

Ngữ nghĩa trong từ điển tiếng Việt được hiểu là nghĩa của từ, câu trong ngôn ngữ, giúp làm rõ ý nghĩa của các từ trong câu nói Nghiên cứu ngữ nghĩa học là quá trình phân tích và hiểu các khái niệm, ý nghĩa của từ ngữ, góp phần nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác và hiệu quả.

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học thì ngữ nghĩa là: “1

Nội dung và thông tin của ngôn ngữ được truyền tải thông qua các yếu tố như từ ngữ, hình thái ngữ pháp, cụm từ và câu Những thành phần này thể hiện rõ ràng các ý nghĩa, giúp truyền đạt thông điệp hiệu quả và chính xác Khi xây dựng nội dung, việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp cùng cấu trúc câu rõ ràng sẽ nâng cao khả năng tiếp cận và hiểu rõ thông tin của người đọc Chú trọng vào các yếu tố ngôn ngữ này không chỉ giúp nội dung trở nên sinh động, logic mà còn tối ưu hóa cho các công cụ tìm kiếm theo các quy luật SEO.

Khái niệm nghĩa của từ đã được xác định từ lâu và có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng có thể tóm tắt như sau: Nghĩa của từ là những liên hệ trong nhận thức của chúng ta giữa từ và những thứ mà nó biểu thị hoặc chỉ ra, tức là những tín hiệu mà từ đó mang lại (Vũ Đức Nghiệu, 1797, tr.167).

Khái niệm ngữ nghĩa mà chúng tôi sử dụng đề cập đến nghĩa của từ, câu và văn bản trong ngôn ngữ, phản ánh mối quan hệ giữa chúng với ngữ cảnh và người sử dụng Ngữ nghĩa giúp hiểu rõ ý nghĩa đích thực của ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp khác nhau Việc phân tích ngữ nghĩa là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ học, giúp làm rõ cách thức truyền đạt thông điệp và ý nghĩa trong văn bản hay cuộc trò chuyện.

3.1.2 Ngữ nghĩa của từ gà

Gà là con vật nuôi phổ biến dùng để lấy thịt và trứng, có mỏ cứng và nhọn, khả năng bay kém, và trống biết gáy mỗi sáng theo từ điển tiếng Việt.

Hay “Gà là động vật có xương sống, đầu có mỏ, thân phủ lông vũ, có cánh để bay, đẻ trứng” (Từ điển tiếng Việt, 1992, tr.170)

Khi sử dụng trong câu, từ "gà" mang nhiều nghĩa khác nhau, bao gồm nghĩa thực (nghĩa đen) và nghĩa biểu trưng Theo thống kê từ cuốn "Kho tàng ca dao người Việt," đã có 157 câu ca dao chứa từ "gà," phân chia thành hai nhóm chính này Trong đó, nhóm nghĩa thực thể hiện các ý nghĩa chân thực về con gà, còn nhóm nghĩa biểu tượng thể hiện các ý nghĩa tượng trưng hoặc ẩn dụ, phản ánh đặc trưng văn hóa của người Việt.

Việt nghĩa thực là nghĩa từ vựng của từ, hay còn gọi là nghĩa đen, là nghĩa có trước những nghĩa khác về mặt lôgic hoặc lịch sử Ví dụ, từ "xuân" chỉ một mùa đầu tiên trong năm, từ tháng Giêng đến tháng 3 Trong khi đó, nghĩa biểu trưng (hoặc nghĩa bóng) bắt nguồn từ nghĩa đen hoặc một nghĩa bóng khác thông qua việc sử dụng có ý thức trong lời nói để biểu thị sự vật, không dựa vào quy chiếu tự nhiên Một từ có nghĩa bóng khi nó thể hiện sự vật qua một biểu tượng khác dựa trên phép ẩn dụ, hoán dụ hoặc chơi chữ, như các từ chỉ vật dụng cá nhân từ áo gấm, áo xông hương đến yếm, tượng trưng cho đời sống tình cảm đôi lứa Nghĩa biểu trưng trong ca dao thể hiện qua nhiều cấp độ khác nhau, phản ánh các hiện tượng xã hội, đời sống, lịch sử, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của nhân dân và đặc trưng của từng thể loại văn học.

Theo tác giả Diệp Quang Ban, nghĩa bóng của câu chữ hay diễn ngôn là cách hiểu và giải thích nhằm làm rõ ý nghĩa của câu văn, trong đó các từ ngữ được sử dụng theo nghĩa thực tế thông thường, không theo nghĩa tượng trưng hay ẩn dụ Điều này giúp độc giả dễ dàng hiểu được nội dung chính của văn bản một cách chính xác và rõ ràng Nghĩa bóng là phương pháp diễn đạt mang tính giả thuyết, nhằm làm rõ các ý nghĩa sâu xa của câu chữ trong ngữ cảnh phù hợp.

“nghĩa đen” của câu chữ mà theo “ngôn ngữ hình tượng”, theo “cách tu từ” (trái với nghĩa đen) (4b, tr.331)

Dựa trên quan niệm về nghĩa đen và nghĩa biểu trưng, chúng tôi phân loại các tiểu nhóm ngữ nghĩa của từ "gà" xuất hiện trong các câu ca dao Phân tích này giúp làm rõ cách sử dụng tượng trưng của từ "gà" để thể hiện các ý nghĩa khác nhau trong văn hóa dân gian Việc đánh giá các trường hợp từ "gà" theo nghĩa đen và nghĩa biểu trưng góp phần nâng cao hiểu biết về truyền thống và giá trị thực tiễn trong các câu ca dao Việt Nam.

3.1.3 Các nhóm ngữ nghĩa của các câu ca dao có chứa từ gà

3.1.3.1 Từ gà xuất hiện trong ca dao với nghĩa đen Trong ca dao, từ gà xuất hiện với nghĩa đen này chủ yếu là thực phẩm ngon, bổ dưỡng Thịt gà ngon chế biến được nhiều món ăn bổ dưỡng khác nhau: luộc, kho, rán, hấp, nước, làm nộm và là món ăn đặc sản của nhiều vùng quê Một số vùng được nhắc đến qua các địa danh, như gà Hồ, gà Đông cảo, gà Cao lãnh Đặc biệt, thuở xưa khi nguồn chất đạm còn ít ỏi, đời sống người dân còn rất thấp nên người có điều kiện ăn thịt gà vịt thường xuyên được bạn bè, người thân ân cần nhắc nhở rằng lúc khá giả, chớ quên lúc hàn vi: Ăn tiêu nhớ đến mùi hành

Bạn có thể nhớ về những món ăn truyền thống như nem gà, chả vịt, kèm với rau canh đặc trưng Thịt gà thường đi kèm với gia vị là lá chanh (chỉ dùng lá chanh miền Bắc hoặc Đà Lạt, không dùng lá chanh miền Nam vì đắng), thái mỏng và chấm với nước mắm hoặc muối vắt chanh tươi Người xưa coi thịt gà là món ăn sang trọng, bổ dưỡng, thể hiện sự khôn ngoan của người ăn qua câu “Người khôn ăn miếng thịt gà, tuy rằng ăn ít nhưng mà no lâu” Thịt gà, cùng với các loại chim khác như cá lệch, cảnh cau, rau cải, đã từ lâu được ca ngợi là thực phẩm ngon, quý giá, mang ý nghĩa về sự sang trọng và cao quý trong ẩm thực Việt Nam.

Đặc điểm ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu

Ngày đăng: 22/08/2023, 00:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938),Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Bốn phương, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Bốn phương
Năm: 1938
2. Hà Thị Quế Anh (2007), Đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của các từ ngữ, hình ảnh các loài hoa trong ca dao Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của các từ ngữ, hình ảnh các loài hoa trong ca dao Việt Nam
Tác giả: Hà Thị Quế Anh
Nhà XB: Đại học Vinh
Năm: 2007
3. Toàn Ánh (1969), Phong tục Việt Nam, Nhà sách Khai trí Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Tác giả: Toàn Ánh
Nhà XB: Nhà sách Khai trí Sài Gòn
Năm: 1969
4. Diệp Quang Ban (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
5. Nguyễn Nhã Bản (2005), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ tục ngữ trong Ca dao, Nxb Văn hoá - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ tục ngữ trong Ca dao
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2005
6. Đỗ Hữu Châu (1986), Ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
7. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cương ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
9. Đỗ Hữu Châu (2005),Tuyển tập, (tập 1) phần Từ vựng - Ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, (tập 1) phần Từ vựng - Ngữ nghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
10. Phan Mậu Cảnh (2006), Ngữ pháp tiếng Việt và các phát ngôn đơn phần, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt và các phát ngôn đơn phần
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
11. Nguyễn Phương Châm (2001), Biểu tượng hoa Đào, Văn hoá dân gian, Số 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng hoa Đào
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Nhà XB: Văn hoá dân gian
Năm: 2001
12. Nguyễn Phương Châm (2003), Vài nhận thức về biểu tượng thực vât trong ca dao người Việt, Văn hoá nghệ thuật (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận thức về biểu tượng thực vật trong ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Nhà XB: Văn hoá nghệ thuật
Năm: 2003
13. Nguyễn Tố Chung,Góp phần tìm hiểu cách sử dụng các thành ngữ, tục ngữ tiếng Nhật có danh từ chỉ con vật, Ngữ học trẻ, 2003, tr.211- 214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu cách sử dụng các thành ngữ, tục ngữ tiếng Nhật có danh từ chỉ con vật
Tác giả: Nguyễn Tố Chung
Nhà XB: Ngữ học trẻ
Năm: 2003
14. Mai Ngọc Chừ (1991), Ngôn ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 1991
15. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (1990), Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao Việt Nam, Kỷ yếu khoa học khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Nhà XB: Kỷ yếu khoa học khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm, TP Hồ Chí Minh
Năm: 1990
16. Cao Xuân Đỉnh (2000), Ca dao Việt Nam và những lời bình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời bình
Tác giả: Cao Xuân Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2002), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
18. Vũ Thị Thu Hương (2007), Ca dao Việt Nam và những lời bình, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời bình
Tác giả: Vũ Thị Thu Hương
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2007
19. Nguyễn Thị Mai Hương (2006), Ngôn ngữ thể hiện hành động thề nguyền trong ca dao Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thể hiện hành động thề nguyền trong ca dao Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Hương
Nhà XB: Đại học Vinh
Năm: 2006
20. Hà Thị Quế Hương (2002), Hàm ý biểu tượng của từ chỉ hoa và tên hoa trong Ca dao, Kỷ yếu Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàm ý biểu tượng của từ chỉ hoa và tên hoa trong Ca dao
Tác giả: Hà Thị Quế Hương
Nhà XB: Kỷ yếu Ngôn ngữ học
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê sau đây sẽ cho ta những thông tin quan trọng: - Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người việt
Bảng th ống kê sau đây sẽ cho ta những thông tin quan trọng: (Trang 31)
Bảng thống kê sau đây cho thấy rõ điều đó: - Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người việt
Bảng th ống kê sau đây cho thấy rõ điều đó: (Trang 32)
Bảng thống kê sau đây cho chúng ta thấy rõ điều đó: - Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người việt
Bảng th ống kê sau đây cho chúng ta thấy rõ điều đó: (Trang 42)
Bảng 2.3: Bảng thống kê số lượng và tần số xuất hiện từ trâu   (từ đơn, từ ghép, thành ngữ) trong Kho tàng ca dao           2.2.1.2 - Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người việt
Bảng 2.3 Bảng thống kê số lượng và tần số xuất hiện từ trâu (từ đơn, từ ghép, thành ngữ) trong Kho tàng ca dao 2.2.1.2 (Trang 42)
Bảng 3.5: Bảng so sánh số lượng ngữ nghĩa giữa từ gà và trâu        3.3.1 - Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của các câu ca dao có từ gà, trâu trong kho tàng ca dao người việt
Bảng 3.5 Bảng so sánh số lượng ngữ nghĩa giữa từ gà và trâu 3.3.1 (Trang 93)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w