Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ c
Trang 1tr-ờng đại học vinh
_
Trịnh văn ngãi
Một số giải pháp nâng cao chất l-ợng đội ngũ giáo viên
ở tr-ờng trung cấp nghề việt tiệp hà nội
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
Vinh – 2010
Trang 2Vinh, khoa sau Đại học trường Đại học Vinh, các giảng viên, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy, cung cấp tài liệu, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin chân thành tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS: Nguyễn Thị Hường người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ, giáo viên Trường Trung cấp nghề Việt Tiệp, bạn bè đồng nghiệp, gia đình tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn này
Mặc dầu hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi những hạn chế, kính xin được sự giúp đỡ, góp ý và chỉ dẫn thêm
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2010
TÁC GIẢ
Trịnh Văn Ngãi
Trang 301 BLĐTB - XH Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
02 CNH- HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Trang 4công nhân 17
Sơ đồ 2: Các nội dung đào tạo bồi dưỡng giáo viên 60
Sơ đồ 3: Các hình thức đào tạo bồi dưỡng giáo viên 60
Bảng 1: Thực trạng tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức của người giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp 30
Bảng 2: Thực trạng kiến thức của giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp 33 Bảng 3: Thống kê trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên 35
Bảng 4: Thống kê trình độ sư phạm của đội ngũ giáo viên 36
Bảng 5: Thực trạng năng lực sư phạm của giáo viên 41
Bảng 6: Khảo sát mức độ thiết thực và tính khả thi của các biện pháp 72
Biểu đồ 1: Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên 35
Biểu đồ 2: Trình độ sư phạm của đội ngũ giáo viên 36
Trang 5tri thức trong thế kỷ 21 thì cần thiết phải tăng cường đầu tư nguồn vốn con người bằng cải cách và đổi mới sâu sắc nâng cao chất lượng của sự nghiệp giáo dục trong toàn xã hội, đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế xã hội được đổi mới và hiện đại hoá cả về phương thức tổ chức và nội dung giáo dục, kết hợp hài hoà những thành tựu khoa học hiện đại với những tinh hoa của nền văn hoá truyền thống… sẽ là một đảm bảo chắc chắn cho chúng ta tìm một con đường thích hợp, một phương pháp đổi mới đúng đắn có hiệu quả và có những bản sắc riêng để phát triển, hội nhập với xu hướng phát triển chung của toàn cầu Sự phát triển của đất nước dân tộc ta trong tương lai phụ thuộc nhiều vào nhận thức và hành động đúng đắn của các thế hệ học sinh, sinh viên, phải xác định cho mình mục đích và động cơ hoạt động đúng đắn: Học để hiểu biết, học để làm người, học để ngày mai lập nghiệp, học để xây dựng đất nước
Hội nghị lần thứ 6 BCH TW Đảng khoá IX đã chỉ rõ “ Tập trung chỉ đạo đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá tiếp cận trình độ tiên tiến Đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho đất nước” {29} vấn đề cốt yếu nhất đối với cải cách giáo dục là đổi mới giáo dục và mỗi nội dung chương trình đổi mới thì phương pháp dạy học phải được cải tiến và biến đổi theo Một trong những điều kiện quyết định chất lượng dạy học ở các nhà trường nói chung và trường Trung cấp nghề nói riêng là phương pháp quản lý hoạt động dạy học Do đó việc nghiên cứu và đề xuất những giải pháp quản lý dạy học có tính chất khả thi để đưa vào áp dụng trong các nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kỳ đổi mới là vấn đề cần thiết đáng được quan tâm
Trang 6tiện hiện đại vào quá trình dạy học , sớm chấm dứt tình trạng dạy chay ”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam (04/2006) tiếp tục đưa ra định hướng phát triển giáo dục là: “ ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường
cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên ”
Chỉ thị 15 của Bộ Giáo dục - Đào tạo đã nêu rõ: “ Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong trường sư phạm nhằm tích cực hoá hoạt động học tập, phát huy tính chủ động sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên Nhà giáo giữ vai trò chủ đạo trong quá trình học tập
và tham gia nghiên cứu khoa học”{28}
Hai hoạt động dạy – học là loại hình lao động sáng tạo thường xuyên đổi mới, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức sâu rộng, luôn cập nhật và
bổ sung cái mới, nhằm hoàn thiện nghệ thuật sư phạm Đổi mới phương pháp dạy – học là vấn đề bức xúc hiện nay, trước yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và thay sách giáo khoa Vậy suy cho cùng, đổi mới phương pháp dạy- học là gì? là cách thay đổi dạy học cổ truyền “ Thầy đọc, trò nghe và chép” như kiểu học sinh chữ to (Đại học – chữ to) bằng cách kích thích hoạt động của học sinh – sinh viên chủ động hơn nữa, tự khám phá, tự trả lời câu hỏi của thầy đặt ra và biết cách đặt câu hỏi khi gặp một vấn đề với thầy Chỉ thị 40 CT-TW của ban bí thư đã cắt nghĩa cho cụm từ này: “ Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển KT-XH, đa số vẫn dạy theo lối cũ, nặng về truyền đạt
lý thuyết, ít chú ý đến phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành
Trang 7của người học”{1} Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục phải nhận thức đầy đủ về đổi mới phương pháp giáo dục, đội ngũ này là lực lượng cốt cán biến mục tiêu giáo dục thành hiện thực, là nhân tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục Người giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt, thông báo kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập để học sinh – sinh viên tự chiếm lĩnh nội dung học tập Tuy nhiên đối với các trường Trung cấp nghề thù giáo viên
và cán bộ quản lý cần nắm được các yêu cầu và quy định đổi mới phương pháp dạy học Đặc biệt cán bộ quản lý chịu trách nhiệm việc này cần quan tâm và đặt vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đúng tầm của nó trong sự phối hợp với các hoạt động toàn diện của nhà trường Ban Giám hiệu cần trân trọng, ủng hộ khuyến khích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của giáo viên và cũng cần biết hướng dẫn, giúp đỡ giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học thích hợp với các môn học, đặc điểm học sinh, điều kiện dạy và học ở địa phương, làm cho hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ngày càng được
mở rộng và có hiệu quả hơn, các môn học có sự độc lập tương đối về mục tiêu, nội dung và phương pháp, đòi hỏi phải có sự quản lý hoạt động dạy – học phù hợp
Trong giai đoạn hiện nay, ngành giáo dục và đào tạo đã và đang thực hiện cuộc vận động: “Hai không” của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo, muốn thực hiện tốt bốn nội sung của cuộc vận động trên thì các trường học phải chú trọng đến việc : “ Dạy thực chất, học thực chất”, đây là công việc rất khó khăn đòi hỏi các trường phải đưa lên hàng đầu trong chiến lược giáo dục của mình Do đó, việc nâng cao chất lượng của giáo viên là việc đáng được lưu tâm hơn bao giờ hết
Với thực tiễn nhiều năm công tác trong môi trường giáo dục đào tạo, đúc rút kinh nghiệm quản lý trường học, tôi nhận thấy rằng: “ Thực trạng đội ngũ giáo viên nói chung là chưa đáp ứng được yêu cầu về đổi mới phương
Trang 8pháp dạy học; một số giáo viên chưa chú ý đến tính sư phạm, tư thế tác phong, phương pháp truyền đạt, cách ra đề kiểm tra, nhiều giáo viên còn chưa chú ý đến việc thường xuyên phải đổi mới dạy học và nhiều thao tác khác trong quá trình giảng dạy, giáo dục Vì vậy tìm hiểu một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giảng dạy theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề cần được nghiên cứu nhiều hơn nưa Trong những năm gần đây trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và tại địa bàn Nam Sông Hồng – Hà Nội nói riêng đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này, tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của các tác giả này là các trường THPT, còn các trường Trung cấp nghề thì ít được viết đến Là một trong những cán bộ đầu tiên của trường Trung cấp nghề Việt Tiệp – Hà Nội tham gia lớp cao học quản lý giáo dục, tôi thiết nghĩ mình cần phải có một đóng góp nho nhỏ nào
đó cho môi trường công tác của mình Chính vì vậy nên chúng tôi chọn đề tài nghiên của mình là: “ Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
ở trường Trung cấp nghề Việt Tiệp – Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
ở trường Trung cấp nghề Việt Tiệp Hà Nội
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu Công tác đào tạo – bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ở trường Trung cấp nghề Việt Tiệp
3.2 Đối tượng nghiên cứu Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở trường Trung cấp nghề Việt Tiệp
4 Giả thuyết khoa học
Chất lượng đội ngũ giáo viên ở trường TCN Việt Tiệp sẽ được nâng cao nếu đề xuất được các giải pháp có tính đồng bộ, khả thi, phù hợp với thực tiễn nhà trường
Trang 95 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường trung cấp nghề
5.2 Tìm hiểu thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp;
5.3 Đề xuất và khảo nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giao viên trường trung cấp nghề Việt Tiệp
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứư tài liệu, các văn bản nhà nước, nghị quyết của Đảng về quản lý giáo dục, quản lý dạy – học ở các trường Trung cấp nghề
- Tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các bài viết có nội dung liên quan đến đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, tổng kết kinh nghiệm giáo dục, lấy ý kiến chuyên gia
6.3 Các phương pháp toán học
Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu thu được và một số phương pháp khác
7 Đóng góp của luận văn
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và các khái niệm có liên quan đến đề tài
- Phản ánh thực trạng đội ngũ giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp
- Đề xuất các giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên trường Trung cấp
nghề Việt Tiệp
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở
trường Trung cấp nghề Việt Tiệp
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Ngoài nước
Để nâng cao chất lượng đào tạo nghề, vai trò của đội ngũ giáo viên là
vô cùng quan trọng vì “ Không có hệ thống giáo dục nào vươn quá tầm những người giáo viên làm việc cho nó” {19}
Trên thế giới, các nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Singapore luôn xem giáo viên là điều kiện tiên quyết của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục Vì vậy mà khi quyết định đưa giáo dục Hoa Kỳ lên hàng đầu thế giới trong thế kỷ XXI chính phủ Hoa Kỳ đã lấy giải pháp giáo viên làm then chốt
- R.R.Singh, nền giáo dục của thế kỷ thứ XXI những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương, Hà Nội 1994 (tài liệu dịch)
- Thực hiện chính sách đảm bảo chất lượng giáo dục Đại học trong khu vực Đông Nam Á, SEAMO 2002
- Hệ thống quy trình đánh giá và đảm bảo chất lượng giáo dục Đại học tại một số nước châu Âu, tạp chí giáo dục số 29
- Tác giả V.A.XukhômLinXki cho rằng muốn nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thì phải tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm tiết dạy Theo ông, người tham gia dự giờ phải chỉ rõ thực trạng yếu kém của việc phân tích sư phạm tiết dạy
1.1.2 Trong nước
Ở Việt Nam, các nhà giáo dục học và các nhà sư phạm cũng luôn nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Trong những năm qua đã có những công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như: Trần Hồng Quân, Trần
Trang 11Bá Hoành, Phạm Minh Hạc, Nghiêm Đình Vì, Nguyễn Văn Tứ, Nguyễn Ngọc Dũng
Đề tài do TS Nguyễn Thị Quý (viên nghiên cứu giáo dục – Trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh thực hiện) nhằm khảo sát năng lực giáo viên tiểu học ĐBSCL, đề xuất các giải pháp về thử nghiệm tại một số trường tiểu học tại 1 số tỉnh ĐBSCL Theo bà muốn nâng cao năng lực giáo viên cần thiết phải có mức lương đủ sống để nuôi gia đình mà không phải làm thêm nghề khác, giáo viên được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thiết thực để nâng cao tay nghề Theo bà, bồi dưỡng giáo viên bằng những công việc cụ thể, hoạt động hỗ trợ dạy học (Xây dựng khối cộng đồng giáo dục: Nhà trường- Gia đình – Xã hội, hỗ trợ tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện nhiệm vụ được giao, tăng cường thiết bị phục vụ cho việc dạy học, đặc biệt đầu tư máy móc, trang thiết bị hiện đại như máy vi tính nối mạng, máy chiếu, ti vi tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên truy cập tài liệu, thông tin và áp dụng phương pháp dạy học tích cực có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hội thảo của Bộ GD - ĐT tháng 12/2003 làm thế nào để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Tại đó, nhiều nhà quản lý giáo dục cho rằng muốn nâng chất lượng đội ngũ giáo viên thì hệ thống các trường sư phạm phải đi đầu về cả phương pháp lẫn chương trình, giáo trình giảng dạy Để có thể tạo
ra sự đột phá trong chất lượng giáo viên, các trường sư phạm phải là đầu tầu
về đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy để kéo cả hệ thống giáo dục quốc dân đi lên Mỗi trường sư phạm cần xây dựng cơ chế liên kết với 1 tỉnh, thành phố để biết rõ nhu cầu đào tạo cho phù hợp
- Tác giả Phan Khắc Long thì cho rằng muốn nâng cao chất lượng giáo viên phải rèn luyện kỹ năng sư phạm của nhà giáo
Gần đây nhất có dự án phát triển giáo viên thực hành của Bộ GD - ĐT, công trình nghiên cứu “ Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của tác giả trong trường Đại học Vinh do PGS – TS Nguyễn Ngọc Hợi chủ nhiệm đề tài đã đề ra được các giải pháp cơ bản, có tính hệ thống,
Trang 12tính chiến lược để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Song, do đề tài này nghiên cứu trên phạm vi rộng với nhiều đối tượng giáo viên từ tiểu học đến Trung học phổ thông Vì thế nếu đưa vào áp dụng trên địa bàn hẹp thì đòi hỏi phải có những giải pháp sao cho phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá và giáo dục của địa bàn đó
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Khái niệm giáo viên
Ở Việt Nam, chúng ta vẫn thường nói giáo viên là kỹ sư tâm hồn; là những người trực tiếp, tiếp xúc với những tâm hồn, xây dựng, giáo dục phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Năm 1971, khi về thăm Trường Đại học sư phạm Hà Nội, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “ Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo Vì nó sáng tạo
ra những con người, sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội” Theo đồng chí Phạm Văn Đồng thì giáo viên là những người cao quý, được xã hội tôn vinh
vì họ đào tạo ra những con người làm ra của cải vật chất cho xã hội
Như vậy, khái niệm giáo viên trình bày đã rõ, nhưng tập trung đầy đủ hơn cả là khái niệm giáo viên được thể hiện ở điều 70, Luật giáo dục sửa đổi,
b Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;
d Lý lịch bản thân rõ ràng
Điều 72: Nhiệm vụ của giáo viên dạy nghề:
Nhà giáo có những nhiệm vụ sau đây:
Trang 131 Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy
4 Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình
độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học;
5 Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Như vậy tuỳ thuộc cách tiếp cận mà các khái niệm đã nêu ra theo nghĩa rộng hay hẹp, nhưng đề cập đến bản chất của người giáo viên Đó là những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học
để người học tích cực chủ động nắm được tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
và xây dựng, phát triển nhân cách, bằng chính nỗ lực chủ quan của mình
1.2.2 Khái niệm đội ngũ giáo viên
Trong các tổ chức xã hội, khái niệm đội ngũ giáo viên được dùng như:
“ Đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân viên chức, đội ngũ giáo viên, ” {357} đều có gốc xuất phát từ đội ngũ theo thuật ngữ quân sự, đó là một khối đông người được tổ chức thành một lực lượng để chiến đấu hoặc để bảo vệ vv
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hiểu: Đội ngũ giáo viên (giảng viên) là một tập thể người có cùng chức năng, cùng nghề nghiệp (nghề dạy học) cấu thành một tổ chức và là nguồn nhân lực Đội ngũ giáo viên là 1 tập thể người được gắn kết với nhau bằng hệ thống mục đích, có nhiệm vụ trực tiếp giảng dạy và giáo dục học sinh, sinh viên, chịu sự ràng buộc của những quy tắc có tính hành chính của ngành, của Nhà nước
Trang 14Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những giáo viên, tổ chức thành một lực lượng, có cùng chức năng chung là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đặt
ra cho tập thể hoặc tổ chức đó
1.2.3 Khái niệm chất lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên
Có nhiều cách định nghĩa chất lượng, chúng tôi xin đưa một số khái niệm chất lượng như sau:
- Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của người, sự vật hoặc sự việc {20}
- Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dự kiến, các thông số cơ bản ( Oxford pocket Dictionary);
- Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực tế (đối tượng) tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu hoặc nhu cầu tiềm ẩn (theo Tiêu chuẩn TCVN – ISO 8420);
- Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với sự vật khác
Theo PGS Lê Đức Phúc thì: “ Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất giá trị của một người, một sự vật, sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật và phân biệt nó với những sự vật khác”
Xuất phát từ những ý tưởng trên, chất lượng đội ngũ giáo viên được chủ yếu thể hiện ở 5 yếu tố cơ bản sau:
1 Phẩm chất chính trị – tư tưởng;
2 Trình độ chuyên môn;
3 Nghiệp vụ sư phạm;
4 Số lượng đội ngũ giáo viên;
5 Cơ cấu đội ngũ giáo viên
Trang 15Trong đó 3 yếu tố đầu tiên tạo nên chất lượng của từng cá nhân người giáo viên Như vây, đội ngũ giáo viên được đánh giá là đảm bảo chất lượng khi đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, mạnh về chất lượng (chất lượng hiểu chất lượng cá nhân) và phát huy ba yếu tố trên tạo nên chất lượng của tập hợp đội ngũ giáo viên
a Nếu nhìn góc độ cá nhân (trong đội ngũ ) thì chất lượng thể hiện ở:
- Trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm đạt chuẩn quốc gia;
- Phẩm chất chính trị – tư tưởng tốt;
- Khoẻ mạnh cả tinh thần lẫn vật chất;
- Về trình độ chuyên môn, dấu hiệu thể hiện chất lượng ở:
+ Trình độ đào tạo, bằng cấp đào tạo;
+ Năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao;
+ Mức độ cống hiến của cá nhân đó với tập thể, tổ chức
- Về trình độ nghiệp vụ sư phạm, dấu hiệu thể hiện chất lượng ở:
+ Năng lực giảng dạy các môn chuyên ngành của mình;
+ Năng lực giáo dục;
+ Năng lực hoạt động xã hội;
+ Năng lực tự học, học suốt đời để giảng dạy
- Về phẩm chất chính trị – tư tưởng, chất lượng thể hiện ở:
+ Có lý tưởng XHCN, có tình cảm với nghề sư phạm;
+ Có hoài bão, có sự say mê nghiên cứu học tập để cải tiến nghề dạy; + Yêu quý, chăm lo đến học sinh, sinh viên bằng cả tâm hồn Có tác phong lối sống trong sạch giản dị
Trong trình độ, cần chú ý hệ thống kiến thức chuyên môn và kỹ năng giảng dạy – giáo dục để chuyển tải tri thức khoa học, kỹ năng nghiên cứu cho sinh viên Cũng nhấn mạnh trình độ nghiệp vụ sư phạm, vì rằng dạy học là một nghề, nghề truyền bá tri thức khoa học để hình thành nhân cách con người, làm chủ đất nước
Trang 16Ngoài những tiêu chuẩn đã trình bày, chất lượng cá nhân giáo viên cần phải: Biết quan tâm đến bản thân, bạn bè và quần chúng nhân dân Nắm bắt tình hình thời sự trong nước và thế giới về mọi mặt để xử lý kịp thời vào giảng dạy – giáo dục; hiểu sâu sắc đối tượng là sinh viên, học sinh, có sức khoẻ, biết vui chơi, giải trí lành mạnh; đảm bảo yêu cầu thẩm mỹ nhất định, ngôn ngữ lưu loát, lịch thiệp, vẻ mặt vui tươi, tư thế tác phong đàng hoàng, tự tin
b Nếu nhìn từ góc độ tập thể đội ngũ giáo viên, chất lượng thể hiện ở:
+ Đạt chuẩn (số lượng và chất lượng);
+ Đồng bộ về cơ cấu tổ chức;
+ Đoàn kết quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ;
+ Được bồi dưỡng thường xuyên;
+ Đạt hiệu quả trong công tác
Nếu nghiên cứu chất lượng và giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên với quan điểm từng cá nhân thì chất lượng thể hiện ở hiệu quả đào tạo mà kết quả học tập của học sinh, sinh viên, khả năng chuyên môn nghiệp vụ của người giáo viên tương lai là tiêu chí để đánh giá chất lượng giáo dục của đội ngũ giáo viên nhà trường
Nếu xem xét biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên với quan điểm cả tập thể thì chất lượng đó được thể hiện ở số lượng, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của Nhà trường hay chưa, từ đó đề ra chiến lược đào tạo bồi dưỡng đội ngũ này
Vì vậy, nghiên cứu việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên phải đề cập đến cả hai phương diện, vừa là cá nhân, vừa là tập thể Có như vậy mới đánh giá đúng thực trạng và đề ra giải pháp nâng cao chất lượng cho toàn bộ đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
1.2.4 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
- Giải pháp: Theo từ điển Tiếng Việt giải pháp là: “ Phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó” {20, tr.387} Như vậy nói đến giải pháp là
Trang 17nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định , tập trung lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu, càng giúp con người nhanh chòng giải quyết những vấn đề đặt ra Tuy nhiên, để có những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy
- Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là cách thức tác động hướng vào việc tạo ra những biến đổi về chất lượng trong đội ngũ giáo viên
1.3 VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GV VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
1.3.1 Vai trò của đội ngũ giáo viên
Như ta biết, bất cứ XH nào cũng tạo dựng được một vị thế xứng đáng cho người thầy giáo của xã hội mình Các nhà tư tưởng tiến bộ của mọi thời đại ca ngợi ý nghĩa cao cả và tính ưu việt của nghề dạy học Chẳng hạn nhà giáo dục Đixtevec cho rằng: “Vai trò của người GV là vô cùng vì đối tượng chăm sóc của người GV không phải là hòn đá mà là con người”, không có giáo viên thì thế giới sẽ về thời đại dã man”
Người Việt Nam từ xưa tới nay vẫn luôn kính trọng người thầy, họ cho rằng “ muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ hãy yêu lấy thầy” hay “ nửa bụng chữ còn hơn hũ vàng”
Mặc dù, hiện nay nhân loại đang đứng trước nhiều vấn đề như sự bùng
nổ của tri thức khoa học và công nghệ, sự xuất hiện một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, sự đối mặt với những vấn đề lớn có tính toàn cầu, vượt ra ngoài phạm vi mõi quốc gia, của từng khu vực, như dân số, môi trường, bệnh dịch Nên con người là trung tâm của sự phát triển, một xã hội phát triển dựa vào sức mạnh của tri thức, bắt nguồn từ khai thác tiềm năng của con người, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanh chóng và bền vững Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Việc đặt con người vào trung tâm của sự phát triển khiến cho giáo dục phải rà soát lại nhận thức về mục tiêu: “ Học để biết” sang chỗ “ học để
Trang 18làm” rồi “ học để cùng chung sống”, học để tự khẳng định minh, có nghĩa là
“khuyến khích sự phát triển đầy đủ nhất tiềm năng sáng tạo của mỗi con người” nhưng vai trò của giáo viên vô cùng quan trọng bởi giáo dục Nhà trường dưới sự chỉ đạo của giáo viên là con đường tin cậy và hiệu quả nhất giúp đỡ thế hệ trẻ tiếp thu có mục đích, có chọn lọc, có hệ thống những tinh hoa di sản văn hoá, khoa học, nghệ thuật của loài người và của dân tộc Do
đó, Đảng và Nhà nước ta coi đội ngũ GV là lực lượng cốt cán của sự nghiệp
GD, người GV là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận tư tưởng – văn hoá
Xu thế đổi mới giáo dục của thế kỷ XXI đang đặt ra những yêu cầu mới
về phẩm chất, năng lực và làm thay đổi vai trò, chức năng của người giáo viên
Công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng, tạo ra những phương tiện, phương pháp giao lưu mới, tạo cơ hội cho mỗi người có thể học dưới nhiều hình thức theo khả năng và điều kiện cho phép Giáo dục Nhà trường không còn là nguồn thông tin duy nhất đem đến cho học sinh các tri thức mới mẻ của loài người mà học sinh có thể tiếp nhận thông tin khoa học từ các nguồn tài liệu khác nhau như: Phần mềm dạy học, Internet, truyền hình Vì vậy, giáo viên không chỉ đóng vai trò truyền đạt các tri thức khoa học mà còn phải phát triển những cảm xúc, thái độ, hành vi, đảm bảo cho người làm chủ và biết ứng dụng hợp lý những tri thức đó Giáo dục phải quan tâm đến tự phát triển ở người học ý thức về các giá trị đạo đức, tinh thần, thẩm mỹ tạo nên bản sắc tốt đẹp của loài người, vừa kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống, vừa sáng tạo những giá trị mới, thích nghi với thời đại mới Về mặt này, không có
gì thay thế vai trò của người giáo viên như nhà GD người Tiệp Cônmenxki khẳng định: Chức vụ mà XH trao cho người GV là chức vụ quang vinh mà dưới ánh mặt trời này không có chức vụ nào cao quý hơn, nhưng cũng đặt ra cho người GV yêu cầu cao về lòng nhân ái “ Anh không thể như một người cha thì cũng không thể là một người thày”
Trang 19Ngày nay, phương pháp dạy học đang chuyển từ kiểu dạy học tập trung vào vai trò của người giáo viên sang kiểu tập trung vào vai trò của học sinh,
từ cách dạy thông báo đồng loạt, học tập thụ động sang cách dạy phân hoá, học tập tích cực Giáo viên không còn đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức mà là người gợi mở, hướng dẫn, tổ chức, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động tìm tòi, tranh luận của học sinh
Vai trò chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh được phát huy, nhưng vai trò của người giáo viên không hề giảm nhẹ mà trái lại, kinh nghiệm nghề nghiệp của mỗi người trong chúng ta cho biết tiến hành một tiết dạy theo kiểu truyền thống: Thuyết trình, đàm thoại thì dễ hơn dạy một tiết học theo phương pháp tích cực, trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm học sinh, thông qua đó các em tự giành lấy những kiến thức mới, đồng thời nắm được phương pháp đi tới kiến thức đó Giáo viên phải được đào tạo công phu, có một trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ mới có thể đóng vai trò là người cố vấn, người trọng tài luôn luôn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình sư phạm, trong hoạt động đa dạng của học sinh
Với vai trò to lớn như vậy, nên trong bài phát biểu tại trường Đại học
sư phạm Hà Nội tháng 10/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định : “ Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh” {3, Tr 331 – 332}
Vai trò của người giáo viên dạy nghề trong xã hội:
Giáo viên dạy nghề giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển giáo dục
xã hội và nhân cách của người học Bởi ai cũng phải học để tham gia một công việc nào đó có ích vào đời sống xã hội Đặc biệt ai cũng phải học một nghề để tạo dựng cuộc sống , ai cũng ít nhất một lần đến trường học chữ, học nghề để trở thành con người thực sự Ông cha ta đã dạy: “ Học ăn, học nói, học gói, học mở” với ý nghĩa, cái gì cũng phải học “ Học ăn” sao cho văn
Trang 20minh lịch sự: “ ăn trong nồi, ngồi trông hướng” “ Học nói” chính là học đối nhân xử thế, “ lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Còn “ học gói, học mở” chính là học nghề, mọi việc cho dù là đơn giản nhất như gói và mở cũng phải học
Khoa học càng phát triển, các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp càng tinh vi phức tạp Mỗi người không thể tự mình có được các kỹ năng, kỹ xảo đó mà phải có người dạy dỗ Tục ngữ có câu: “ Không thầy đố mày làm nên” câu nói
đó cho thấy rõ vai trò của người thầy trong việc đào tạo nghề Nhờ có thầy mà kho tàng tri thức, văn hoá và kinh nghiệm của nhân loại được lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau
Thầy giáo không chỉ dạy nghề mà nhiệm vụ lớn hơn là hình thành cho học sinh nhân cách người lao động Rõ ràng người thầy giáo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của từng con người Vì vậy, họ phải xứng đáng được xã hội tôn vinh Điều đó phù hợp với đạo lý “ Tôn sư trọng đạo” của dân tộc ta
Chúng ta đang sống ở những năm đầu của thế kỷ XXI, khởi đầu của nền kinh tế tri thức Vai trò của người thầy đối với sự phát triển của đất nước trong tương lai càng trở nên quan trọng Người thầy phải thực hiện trọng trách
mà xã hội giao đã khẳng định: “ Người thầy là nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục” Thầy giáo là người tổ chức, lãnh đạo quá trình học tập, giáo dục ở trường học, ảnh hưởng của người thầy đối với học sinh rất to lớn Ngay trong việc giảng dạy, nội dung bài giảng hoàn toàn do giáo viên quyết định V.I.Lê Nin viết: “Không có sự kiểm tra nào, không có chương trình nào có thể thay đổi một cách tuyệt đối phương phướng của các bài học mà giảng viên đã xác định” {4 tr.94}
Trong Nhà trường nếu đội ngũ giáo viên có năng lực, họ có thể lựa chọn được nội dung giảng dạy sát với thực tế và nhu cầu người học, khai thác,
Trang 21sử dụng có hiệu quả thiết bị, phương tiện dạy học, tạo ra được mô hình, học
cụ, làm giàu thêm cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy
Tóm lai: Giáo viên là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo nghề Vai trò của người thầy đối với chất lượng đào tạo được thể hiện ở sơ đồ 1
Sơ đồ 1: Vai trò của người giáo viên dạy nghề đối với chất lượng đào tạo công nhân
1.3.2 Đặc điểm lao động sư phạm của đội ngũ giáo viên trường Trung cấp nghề
Thế kỷ 21 là thế kỷ của công nghệ thông tin Rồi đây công nghệ thông tin sẽ được áp dụng rộng rãi trong quá trình dạy học, đem lại những khả năng mới, giúp giáo viên có thể mô phỏng, minh hoạ những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên xã hội mà mắt thường không thể nhìn thấy được, hoặc nguy hiểm độc hại cho phép cung cấp một lượng lớn thông tin trong thời gian ngắn Do vậy người giáo viên cần phải được đào tạo, phải tự nghiên cứu
về công nghệ thông tin để có thể ứng dụng những thành tựu của nó trong dạy học nhằm hiện đại hoá nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
CƠ SỞ VẬT CHẤT GVDN
NỘI DUNG ĐÀO TẠO
CHẤT LUỢNG ĐÀO TẠO
GVDN
Trang 22Lao động sư phạm là một dạng lao động nghề nghiệp có những nét đặc thù do mục đích, đối tượng và công cụ của lao động sư phạm quy định
a Mục đích lao động sư phạm của người giáo viên là thế hệ trẻ, hình thành ở họ những phẩm chất và năng lực mà xã hội yêu cầu
Lao động sư phạm thực hiện chức năng di sản văn hoá xã hội, tái sản xuất sức lao động xã hội đảm bảo sự nối tiếp giữa các thế hệ và làm sức lao động ngày càng hoàn thiện và “trí tuệ hoá” cao
Nước ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến tới nền kinh tế tri thức đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo ra những học sinh tự chủ, năng động, sáng tạo, biết tiếp thu và chọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại
b Đối tượng của lao động sư phạm Đối tượng lao động sư phạm là những con người, là thế hệ đang lớn lên
và đang trưởng thành
Đối tượng lao động sư phạm là vốn quý, là tương lai của dân tộc Vì vậy lao động sư phạm mang ý nghĩa đặc biệt, càng trở nên cao quý hơn
Đối tượng này có những đặc điểm:
- Người học sinh không chịu ảnh hưởng tác động của giáo viên mà còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như gia đình, bạn bè, môi trường xã hội vì thế lao động sư phạm có nhiệm vụ điều chỉnh mọi tác động đó, làm cho chúng mang tính giáo dục
- Người học sinh, đối tượng của lao động sư phạm phát triển không theo tỷ lệ thuận với tác động sư phạm mà theo quy luật của sự hình thành con người, tâm lý nhận thức
- Trong lao động sư phạm, người giáo viên là chủ thể, người học sinh là khách thể (đối tượng) Song người học sinh không chỉ là đối tượng mà còn là chủ thể của lao động sư phạm Vì vậy quá trình sư phạm chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh
Trang 23c Công cụ lao động sư phạm Công cụ lao động của người giáo viên là hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người giáo viên cần nắm và truyền đạt cho học sinh Tuy nhiên những yếu tố trên chưa đủ đảm bảo hiệu quả của lao động sư phạm Vì thế nhân cách của người giáo viên, với tất cả vẻ đẹp tâm hồn, phong phú trí tuệ, trong sáng về lương tâm là phương tiện quan trọng có ý nghĩa to lớn và quyết định hiệu quả công tác giáo dục
d Sản phẩm của lao động sư phạm Sản phẩm của lao động sư phạm là con người Nhưng đó là con người
đã trưởng thành về nhân cách nhờ được giáo dục và đào tạo Họ có được hành trang cần thiết bước vào cuộc sống, không ngừng thích ứng với kỷ nguyên thông tin và nền kinh tế tri thức
1.3.3 Yêu cầu về phẩm chất, năng lực của đội ngũ giáo viên
a Phẩm chất của đội ngũ giáo viên (Phẩm chất đạo đức, tư tưởng, chính trị của người giáo viên)
Bác Hồ đã từng nói: “ Một tấm gương sáng còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” Vì vậy người giáo viên phải có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; có phẩm chất đạo đức mà nghề dạy học đòi hỏi Giáo viên phải thường xuyên học tập chính trị Mác – Lê nin để giữ vững lập trường
và tư tưởng Trong quá trình dạy học và giáo dục học sinh, người giáo viên hình thành ở các em lòng yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những phẩm chất đạo đức cách mạng, những nét tính cách tốt đẹp Công tác giáo dục không thể chỉ tiến hành trong những giờ nhất định, mà ở bất cứ lúc nào, trong mọi vấn đề, qua mọi hành vi của giáo viên Nếy không có sự tu dưỡng thường xuyên, không có sự trưởng thành về mặt tư tưởng chính trị, không có sự hoàn thiện về nhân cách, không có sự thống nhất giữa lời nói và việc làm của giáo viên, thì công tác giáo dục không thể đem lại kết quả tốt, giáo viên không thể
có uy tín thực sự đối với học sinh
Trang 24- Người giáo viên phải có lòng yêu nghề mến trẻ Thực tế đã khẳng định chỉ những ai say sưa và yêu quý nghề nghiệp giáo dục mới có thể thành công trong công việc Chính lòng yêu nghề quý trẻ
đó giúp giáo viên đi sâu vào tâm hồn trẻ, thông cảm với các em, gần gũi các
em, hiểu được nhu cầu, hứng thú của các em, nhờ đó giáo dục được các em truyền thống nhân ái dân tộc, kết hợp sự giác ngộ về nhiệm vụ cao cả của mình, sẽ làm cho người giáo viên càng thêm yêu nghề, vì : “ càng yêu người bao nhiêu, càng yêu nghề bấy nhiêu”
- Có quan hệ tốt với học sinh, tôn trọng học sinh, bảo vệ quyền lợi chính đáng và sở thích của học sinh, đối xử công bằng với tất cả học sinh, có lối sống lành mạnh, giản dị là tấm gương tốt cho học sinh noi theo
- Thực hiện tốt chức trách của người giáo viên theo Luật Giáo dục, hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách của Nhà nước và các chủ trương của Ngành
- Có quan hệ tốt với đồng nghiệp trong công tác và đời sông, khiêm tốn học hỏi đồng nghiệp, chan hoà, thân thiện với mọi người xung quanh
- Có quan hệ tốt với cha mẹ học sinh với cộng đồng để phối hợp giáo dục học sinh
- Tích cực tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao
b Năng lực của người giáo viên Năng lực của người giáo viên được thể hiện qua kiến thức và kỹ năng sư phạm
* Kiến thức Người giáo viên phải nắm vững các kiến thức cơ bản của môn học mà chính mình đào tạo và sẽ đảm nhận giảng dạy các kiến thức này tối thiểu ở trình độ trung học sư phạm đối với giáo viên mầm non, tiểu học, cao đẳng sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở; Đại học sư phạm đối với giáo viên
Trang 25Trung học phổ thông, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề vv Để có thể dạy một cách có hiệu quả các môn học trong chương trình của bậc học Các kiến thức cơ bản của người giáo viên phải đủ sâu sắc để có khả năng giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học không chỉ thể hiện trong việc làm bài tập tại lớp mà còn trong hoàn cảnh khác : trong gia đình, ngoài xã hội và ở các cơ sở sản xuất
Giáo viên còn phải có kiến thức về tâm lý học, giáo dục học, lôgíc học Những kiến thức về phương pháp giáo dục, dạy học, kiểm tra đánh giá, quản
lý giáo dục và phải luôn cập nhật những thông tin mới về thành tựu của lĩnh vực này
- Có kiến thức về những vấn đề Kinh tề – Xã hội của đất nước và của địa phương; hiểu biết về phong tục tập quán, cả ngôn ngữ và đời sống của cộng đồng địa phương nơi trường đóng; nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngành giáo dục
- Kiến thức về công nghệ thông tin, nền kinh tế tri thức, mục tiêu giáo dục ở thế kỷ 21, mục tiêu kế hoạch đào tạo mà mình giảng dạy
- Kiến thức về lập kế hoạch giảng dạy, soạn giáo án, tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh, sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học trên lớp
- Kiến thức, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, tham gia các hoạt động hội thảo khoa học nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp phát triển giáo dục
* Kỹ năng sư phạm Giáo viên phải có kỹ năng chuẩn bị bài lên lớp: Xác định được mục đích, yêu cầu và những nội dung cơ bản của bài học; dự kiến các phương pháp, phương tiện dạy học sẽ sử dụng trong giờ học, phân phối thời gian theo các khâu, các bước của giờ lên lớp và soạn giáo án một cách hợp lý, khoa học; Người giáo viên trong quá trình dạy học luôn giữ vai trò chủ động quản
Trang 26lý lớp học hợp lý, theo dõi hướng dẫn học theo quy trình khoa học; ngôn ngữ
rõ ràng mạch lạc, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Giáo viên phải biết đặt câu hỏi và duy trì không khí hứng thú, tính tích cực học tập của học sinh; sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học, đặc biệt là ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin, tự làm các thiết bị dạy học, nắm được cách thức tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, lập hồ sơ giảng dạy của bản thân và tích luỹ tư liệu giảng dạy, biết xây dựng hồ sơ theo dõi quá trình học tập của học sinh để thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho cha mẹ học sinh Người giáo viên còn phải có kỹ năng sau:
- Quản lý lớp học và tổ chức các hoạt động của học sinh ở trong và ngoài trường, vận dụng, lôi cuốn học sinh tham gia các hoạt động này và duy trì thái độ học tập tích cực sáng tạo
- Giao tiếp với học sinh, phụ huynh và đồng nghiệp, thể hiện khả năng duy trì và phát triển mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau
- Nghiên cứu khoa học giáo dục để nâng cao trình độ, không ngừng hoàn thiện mình nhằm nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục
1.3.4 Cơ sở pháp lý của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Toàn cầu hoá kinh tế đang là xu thể khách quan mang lại cả cơ hội và thách thức đối với mỗi quốc gia, trong xu thế đó, sự cạnh tranh giữ các quốc gia trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế ngày càng quyết liệt hơn, gay gắt hơn và lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn nhân lực chất lượng cao hơn Vì vậy việc chú trọng phát triển nền kinh tế Nguồn nhân lực nói chung, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có chất lượng cao đang thực sự trở thành yếu tố cơ bản trong cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc tế, trong quá trình CNH, HĐH đất nước, lực lượng lao động kỹ thuật là một trong những nhân tố có vai trò quyết định Nhận thức rõ vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta coi việc đẩy mạnh
Trang 27phát triển đào tạo nghề là vị trí then chốt trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của quốc gia
Đường lối phát triển kinh tế của đất nước trong 10 năm tới đã được Đại hội IX của Đảng khẳng định là: “ Đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo nền tảng để đến năm 2010 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” Đối với đào tạo nguồn nhân lực nói chung, đào tạo nghề nói riêng, mục tiêu phát triển cũng đã được xác định rõ trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội là: hiện đại hoá một số trường dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động kỹ thuật từ 30% năm 2005, lên 40% năm 2010
Xây dựng và phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề theo hướng mở Hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành để thực hiện đào tạo nghề theo 3 trình độ: bán lành nghề, liên thông giữa đào tạo nghề và các trình độ đào tạo khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân
Phát huy nội lực, huy động mọi nguồn nhân lực để phát triển mạng lưới
cơ sở dạy nghề và nâng cao năng lực đào tạo nghề cho người lao động Tập trung đầu tư xây dựng, hiện đại hoá một số trường dạy nghề để đến năm 2010
có 40 trường dạy nghề chất lượng cao
Mở rộng quy mô đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động
và nguyện vọng học tập suốt đời của người lao động; đồng thời với việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề để cung cấp lực lượng lao động có chuyên môn,
kỹ thuật, nghiệp vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; gắn đào tạo nghề với nhu cầu sử dụng việc làm
Phát triển mạnh mẽ đào tạo nghề theo cả hai hướng: Một là, tăng tỷ trọng đào tạo công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ lành nghề và có trình
độ cao trong tổng quy mô đào tạo nghề hàng năm, tập trung đầu tư củng cố và xây dựng một số trường dạy nghề chất lượng cao để đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ trình độ cao đáp ứng nhu cầu các ngành kinh tế mũi nhọn, các khu công nghiệp, khu chế xuất, xuất khẩu lao động và
Trang 28chuyên gia Hai là, chú trọng phát triển đào tạo nghề ngắn hạn, đặc biệt là phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và đáp ứng nhu cầu phổ cập nghề cho người lao động
để tìm kiếm việc làm và tự tạo việc làm , góp phần xoá đói giảm nghèo
Thực hiện chuẩn hoá chương trình đào tạo, chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, chuẩn hoá cơ sở đào tạo và chế độ kiểm định chất lượng đào tạo Đến năm 2010 có 70% số trường dạy nghề đạt tiêu chuẩn quy định Nâng tỷ lệ trung bỉnh giáo viên trên số học sinh (đào tạo dài hạn) đạt tới 1/15 vào năm 2010; luân phiên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên dạy nghề theo chu kỳ 5 năm/ lần; nâng dần tỷ lệ giáo viên có trình độ sau đại học tại các trường dạy nghề, đặc biệt là ở các trường dạy nghề có trình độ cao
Đào tạo nghề trong những năm gần đây đã được sự ổn định và từng bước phát triển Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng khó khăn, bất cập Nhiệm vị đặt ra cho đào tạo nghề trong những năm tới là rất nặng nề, song với
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành và toàn xã hội cùng với sự cố gắng, nỗ lực của cả hệ thống dạy nghề, chắc chắn sự nghiệp dạy nghề sẽ ngày càng được phát triển Thực hiện thành công phương hướng nhiệm vụ KT-XH trong đó có đào tạo nghề mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X về phát triển nguồn nhân lực thực hiện CNH, HĐH đất nước đã chỉ ra
Chỉ thị 40-CT/TƯ của ban Bí thư đã xác định, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện là “ nhiệm vị vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt và mang tính chiến lược lâu dài” Đội ngũ giáo viên phải được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, nghề nghiệp
Quyết định số 07/2006/QĐ-BLĐTBXH về quy hoạch phát triển mạng lưới trường dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 khẳng định:
“ phát triển đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương
Trang 29tâm nghề nghiệp; đạt chuẩn về trình độ đào tạo về lý thuyết, thực hành, nghiệp vụ sư phạm dạy nghề; có trình độ tin học, ngoại ngữ để áp dụng vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học” “hực hiện chế độ định kỳ về bồi dưỡng giáo viên, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề” “ đến năm 2010: đảm bảo tỷ lệ giáo viên, học sinh đạt khoảng 1/20, có 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo; 10% giáo viên trong các trường Trung cấp nghề và cao đẳng nghề có trình độ sau Đại học”.{9}
Như vậy, thông qua đường lối của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chương trình hành động của chính phủ, thực hiện quyết định số 27/2006/QĐ-BLĐTBXH về giáo dục, đào tạo đã chỉ rõ sự cần thiết phải “ tập trung chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục”.{9}
Từ những chủ trương, chính sách của Đảng và Quốc hội chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như sau:
- Vị trí vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã hôi
Để phát triển kinh tế xã hội thì vai trò, vị trí của sự phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực khoa học công nghệ, nhân lực kỹ thuật được Đảng ta hết sức quan tâm và được xem là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của nền giáo dục
- Giáo dục đào tạo với sự phát triển kinh tế xã hội + Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với GD-ĐT Con đường cơ bản để làm tăng giá trị con người phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội chính là công tác giáo dục đào tạo
+ Quan niệm về giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục kỹ thuật dạy nghề nói riêng với sự phát triển kinh tế xã hội
Trang 30Khi kinh tế xã hội phát triển nó tạo môi trường cho sự phát triển
GD-DT, vì vậy GD-ĐT vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế
xã hội
- Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ở các trường dạy nghề + Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ở các trường dạy nghề Các yếu tố đó là mục đích nhiệm vụ dạy học nội dung phương pháp phương tiện dạy học, môi trường kinh tế xã hội
+ Chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo ở các trường Cao đẳng và Trung cấp nghề
Thầy với hoạt động dạy và trò với hoạt động học là hai nhân tố trung tâm của quá trình đào tạo Vì vậy chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo
- Cơ sở thực tiễn của việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên trường dạy nghề
Đội ngũ giáo viên dạy Cao đẳng và Trung cấp nghề có trình độ chuẩn được quy định tại luật giáo dục và dạy nghề nhằm chuẩn hoá trình độ đội ngũ giáo viên và thường xuyên được học tập và bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, trình độ năng lực đáp ững yêu cầu giảng dạy Đây chính là cơ sở xây dựng các giải pháp bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp trong giai đoạn hiện nay
Kết luận chương 1
Như vậy ở trên, chúng tôi đã làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến
đề tài nghiên cứu, phân tích, chứng minh vai trò của đội ngũ giáo viên và giáo viên dạy nghề cũng như tìm hiểu các cơ sở pháp lý của đề tài một cách đầy
đủ, cụ thể làm cơ sở để đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên hiện có về các mặt số lượng, cơ cấu, phẩm chất trình độ, năng lực và công tác bồi dưỡng Từ
đó đề xuất các giải pháp bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng đựơc yêu cầu như đề tài nghiên cứu đặt ra
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ VIỆT TIỆP
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ VIỆT TIỆP HÀ NỘI
Trường Trung cấp nghề Việt Tiệp thuộc Công ty cổ phần Xây dựng, dịch vụ và Hợp tác lao động được thành lập theo quyết định số 1186 QĐ/BNN-TCCB của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên
cơ sở là Trung tâm đào tạo nghề và bồi dưỡng lao động xuất khẩu Trường có chức năng nhiệm vụ chính như sau:
- Đào tạo nghề theo 2 cấp trình độ: Trung cấp nghề và Sơ cấp nghề; với các chuyên ngành:
Kế toán doanh nghiệp; Hàn; Công nghệ thông tin; Điện dân dụng, Kỹ thuật xây dựng
- Bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho lao động;
Trang 32vẫn cần phải làm nhiều việc trong đó việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đang là yêu cầu cấp bách hiện nay của trường
Vì vậy, trong giai đoạn 2010 – 2020 Đại hội chi bộ Nhà trường đạt ra mục tiêu, nhiệm vụ như sau:
Trải qua hơn 10 năm phấn đấu liên tục không mệt mỏi, trường Trung cấp nghề Việt Tiệp đã đào tạo được 18.000 công nhân kỹ thuật với bậc thợ 3/7 đóng góp một phần trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước; số công nhân ra trường được các công ty,
xí nghiệp trong và ngoài Thành phố đánh giá có chất lượng tốt, nói chung được xã hội thừa nhận và đánh giá cao Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới từng bước chuyển sang cơ chế thị trường, vị thế của trường ngày càng được khẳng định Dưới ánh sáng Nghị quyết TW2 khoá VIII; Nghị quyết TW 6 khoá IX của Đảng về định hướng phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH Đặc biệt vừa qua trong văn kiện Đại hội X của Đảng về phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội từ năm 2006-2010 đã nêu: “ đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất ”
Căn cứ vào nhiệm vụ của ngành dạy nghề; căn cứ nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và công nhân kỹ thuật trên địa bàn Thành phố Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH theo nghị quyết Đại hội Đảng
bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XVI; những mục tiêu trước mắt của trường Trung cấp nghề Việt Tiệp là:
- Thực hiện chủ trương đa dạng hoá ngành nghề, bậc học và phương thức đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu định hướng của cơ chế thị trường
- Phấn đấu, thực hiện mục tiêu đưa trường thành trường Cao đẳng nghề Việt Tiệp trong những năm tới
- Tập trung khắc phục khó khăn để duy trì và nâng cao số lượng học sinh học nghề của trường từ 1.200 HS/năm lên 1.500 HS/năm
Trang 33- Giữ vững và nâng cao chất lượng đào tạo hàng năm, trên cơ sở củng
cố kiện toàn bộ máy, tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
Nhiệm vụ chung là: Lập kế hoạch nâng cấp mở rộng trong công tác đầu
tư xây dựng cơ bản, củng cố cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, mua sắm trang thiết bị mới tiên tiến phục vụ công tác giảng dạy, học tập Từng bước đổi mới, cải tiến phương pháp công nghệ dạy học nhất là sử dụng tin học vào phương pháp dạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm Lập kế hoạch tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, cơ chế thích hợp khuyến khích giáo viên xây dựng
đề tài khoa học cấp Trường, cấp ngành, phấn đấu xây dựng trường trở thành một trường Cao đẳng nghề có thế mạnh trong khu vực Từ đó, đề ra các mục tiêu cụ thể là:
- Xây dựng đội ngũ giáo viên dạy nghề trường Trung cấp nghề Việt Tiệp năm 2012 có 100% đạt trình độ chuẩn giỏi về lý thuyết, thành thạo về thực hành Giáo viên dạy nghề phải được đào tạo trên cơ sở cấu trúc nhân cách: Là một nhà sư phạm, một nhà chuyên môn kỹ thuật, nhà nghiên cứu ứng dụng khoa học, nhà quản lý và hoạt động xã hội, trước mắt tư nay đến năm 2015
- Tuyển dụng và sử dụng giáo viên dạy nghề hợp lý
- Đào tạo giáo viên dạy nghề đảm bảo số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề
- Xây dựng, cơ chế nội bộ, có chính sách thích hợp để khuyến khích, động viên giáo viên hăng say nghề nghiệp, thu hút người tài giỏi tham gia vào công tác dạy nghề
- Bồi dưỡng: Phải đảm bảo 80% số giáo viên đạt trình độ chuẩn quốc gia; 30% giáo viên thực hành nghề có trình độ 6/7 trở lên; 100% giáo viên
Trang 34được phổ cập tin học, trong đó 60% giáo viên lý thuyết sử dụng tin học vào giảng dạy, quản lý; 80% số giáo viên biết ngoại ngữ, trong đó 10-15% có khả năng giao tiếp và làm việc
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ VIỆT TIỆP
2.2.1 Thực trạng về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp
Bảng 1: Thực trạng tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức của giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp
Tham gia tốt các hoạt động xã hội và các phong trào của trường, của địa phương 84 14 1 1 Giúp đỡ đồng nghiệp thực hiện tốt các
Đối xử công bằng với học sinh, không
Thực hiện cá biệt hoá trong dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của từng đối tượng học sinh
Tích cực tham gia các hoạt động chuyên
Trang 35Thường xuyên cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao kết quả học tập của học sinh
30 35 20 15
đoàn kết hợp tác với đồng nghiệp
Hoàn thành các công việc được giao 30 20 40 10
Có lối sống trung thực giản dị và lành mạnh gương mẫu trước học sinh 60 20 17 3
Có tinh thần học hỏi giúp đỡ đồng nghiệp 30 20 35 15 Tích cực tham gia xây dựng tập thể sư
Có nhu cầu và kế hoạch tự bồi dưỡng
Tham gia đầy đủ nội dung bồi dưỡng
Có ý thức tìm tòi, học hỏi để vận dụng các phương pháp mới vào công tác giảng dạy – giáo dục học sinh
Trang 36trường nhìn chung còn hạn chế, đây cũng là tình trạng chung của dạy nghề khi bước đầu chuyển sang cơ chế thị trường thu nhập giáo viên ở trường hiện tại còn thấp, chưa hấp dẫn nên ít nhiều ảnh hưởng đến sự yên tâm nghề nghiệp
Nhiều giáo viên của trường chưa biết gắn công tác giáo dục tình cảm, ý chí trách nhiệm của học sinh vào từng bài giảng, từng môn học mà mình phụ trách Đặc biệt không linh hoạt trong việc giáo dục học sinh cá biệt Tuy nhiên, một số giáo viên chủ nhiệm hoạt động khá tốt, tinh thần đoàn kết cao,
am hiểu được nhiệm vụ Mặt khác, có tinh thần đoàn kết tốt, biết kết hợp với các tổ chức, lực lượng khác trong nhà trường tìm ra nhiều hình thức để giáo dục học sinh
2.2.1.2 Phẩm chất đạo đức và chính trị
- Về phẩm chất chính trị: Đội ngũ giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp có 20% số giáo viên được trưởng thành qua một thời gian công tác trong quân đội Số này tập trung chủ yếu có tuổi từ 40 – 50, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu trong công tác Hầu hết đội ngũ giáo viên Nhà trường có phẩm chất chính trị tốt, được đào tạo cơ bản, luôn tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước Điều đó được thể hiện:
+ 30% giáo viên là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam
+ 100% giáo viên là đoàn viên công đoàn trường
+ 100% giáo viên trong độ tuổi đoàn viên thanh niên đều có ý chí rèn luyện phấn đấu tốt
Xuất phát từ ý thức, giác ngộ lý tưởng XHCN và tin tưởng vào đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nên đội ngũ giáo viên của trường luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
- Phẩm chất đạo đức:
Phẩm chất đạo đức đội ngũ giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp được thể hiện trước hết là gắn bó với nghề dạy học, luôn vì học sinh thân yêu
Trang 37Quan tâm và có trách nhiệm với các tổ chức, Đảng, chính quyền, đoàn thể tới các lớp, chi đoàn học sinh và đồng nghiệp Chưa có biểu hiện thương mại hoá trong giáo dục đào tạo Đa số giáo viên của trường thể hiện tính gương mẫu trong công tác và sinh hoạt, có lối sống lành mạnh, trong sạch, giản dị, đoàn kết chân thành, có tinh thần hợp tác trong trợ giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động chuyên môn cũng như trong cuộc sống sinh hoạt đời thường
2.2.2 Thực trạng về kiến thức và trình độ chuyên môn của giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp
Bảng 2: Thực trạng kiến thức của giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp
thức trong môn học( hoặc giữa các môn học với nhau)
Có khả năng bồi dưỡng học sinh giỏi 30 37 30 3
Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin
Nắm vững và vận dụng tốt các phương pháp
Trang 383 Kiến thức về tình hình chính trị kinh tế xã hội của đất nước và địa phương
Hiểu được nhu cầu giáo dục của địa phương
và ảnh hưởng của cộng đồng đến việc học tập rèn luyện của học sinh
Vận dụng để hiểu biết về tình hình kinh tế xã hội của đất nước và địa phương vào giảng dạy
20 41 30 9
Dạy đề xuất được những biện pháp thu hút các lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường
18 23 45 14
Qua bảng cho thấy:
2.2.2.1 Thực trạng kiến thức
- Kiến thức khoa học cơ bản
Đa số giáo viên nắm được nội dung chủ yếu của môn học/ các môn học
mà bản thân phụ trách ở mức độ tốt khoảng 70% mức độ khá là 25% và mức
độ trung bình là 5% Phần lớn giáo viên đã thấy rõ mối quan hệ giữa các đơn
vị kiến thức trong môn học, một số giáo viên có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
- Kiến thức sư phạm học
Đa số giáo viên có kiến thức về tâm lý học lứa tuổi và có năng lực tìm hiểu để nắm vững nhu cầu, nguyện vọng của học sinh Các giáo viên nắm vững và vận dụng tốt các phương pháp đánh giá học sinh
Tuy nhiên, có giáo viên vẫn chưa biết vận dụng tâm lý học lứa tuổi để giáo dục các em nên có lúc giữa giáo viên và học sinh có mâu thuẫn và nghĩ xấu về nhau
- Kiến thức về tình hình chính trị, kinh tế xã hội của đất nước và địa phương
Trang 39Nhìn chung các giáo viên nắm được tình hình chung của đất nước và địa phương, hiểu được nhu cầu giáo dục của địa phương, ảnh hưởng của cộng đồng đến việc học tập và rèn luyện của học sinh Nhưng trong lĩnh vực vận dụng được tình hình chính trị, kinh tế xã hội của đất nước và địa phương vào giảng dạy; đề xuất những giải pháp nhu cầu thu hút lực lượng lao động xã hội tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường còn nhiều hạn chế
2.2.2.2 Thực trạng về trình độ chuyên môn
Dù ở thời đại nào thì việc thể hiện bộ mặt của một tập thể trước hết ở bằng cấp, vì nó thể hiện trình độ cao hay thấp của đơn vị, do đó đây là yếu tố được mọi người đánh giá và quan tâm hàng đầu, ở trường chúng tôi trình độ giáo viên còn quá thấp so với yêu cầu của xã hội đặt ra
Bảng 3: Thống kê trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên
Tỷ lệ (%)
Số lượng (người )
Tỷ lệ (%)
Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
26.7
Trang 40Qua phân tích ở bảng trên ta thấy: Đội ngũ giáo viên có trình độ cao chiếm một tỷ lệ khiêm tốn, chưa đáp ứng yêu cầu về đào tạo nguồn lao động ở thời kỳ CNH – HĐH Cho nên nhà trường cần có kế hoạch tuyển chon, đào tạo lại cho số giáo viên này
2.2.3 Thực trạng về năng lực sư phạm của giáo viên trường Trung cấp nghề Việt Tiệp
Bảng 4: Thống kê trình độ sư phạm của đội ngũ giáo viên
Tỷ lệ (%)
Đã bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
Chưa bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
10 20 30 40 50 60 70
TN các trường SP
Đã bồi dưỡng NVSP
Chưa bồi dưỡng NVSP
Các giáo viên hiện nay của trường một số tốt nghiệp các trường sư phạm, số khác tốt nghiệp các trường sư phạm kỹ thuật Những giáo viên tốt