Theo Giáo trình “Đạo đức học”: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người tron
Trang 1mới ở nước ta hiện nay đang cần những thế hệ công dân tốt và đội ngũ CB có đủ
cả đức lẫn tài Cho nên, việc tăng cường công tác giáo dục đạo đức là một trong những yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, là đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp phát triển con người trong giai đoạn mới ở nước ta
1.2 Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói: “Có tài mà không có đức
thì là người vô dụng Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”[27, tr106] Đạo đức ngày nay càng được coi trọng hơn, nhất là trong thời kì nước ta
đã chuyển đổi từ chế độ bao cấp sang nền kinh tế thị trường Mọi lứa tuổi từ già tới trẻ đều bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế này Khi Việt Nam mở cửa giao lưu buôn bán với bạn bè bốn phương thì cũng mở ra cho văn hóa Việt Nam rất nhiều vấn đề Bên cạnh mặt tích cực mà công cuộc giao lưu với nước ngoài mang lại cho chúng ta như giúp kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ, tạo cho chúng ta những con người năng động thì nó cũng làm cho thuần phong mỹ tục, những truyền thống tốt đẹp mà chúng ta đã xây đắp và giữ gìn hàng nghìn năm có xu hướng dần mai một Những thói hư tật xấu ảnh hưởng đến tất cả mọi người và
sẽ tác động đến nền tảng của đất nước Không ai khác mà chính thế hệ trẻ, những SV - trụ cột của đất nước trong tương lai sẽ là những con người giữ vững
và xây dựng nền móng ấy thêm vững chắc
1.3 Thanh Hóa là tỉnh có bề dày truyền thống cách mạng và cũng là cái
nôi sản sinh ra biết bao anh hùng dân tộc, nhân tài cho đất nước nên việc đào tạo thế hệ trẻ hôm nay càng được lãnh đạo và nhân dân tỉnh nhà quan tâm đặc biệt Tuổi trẻ Thanh Hóa đã và đang đi đầu trong rất nhiều phong trào để xây
Trang 2tỉnh trở thành một trong những nhiệm vụ được quan tâm hàng đầu
1.4 Hiện nay, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa đang
được quan tâm, đầu tư để xây dựng thành trường trọng điểm của nền giáo dục
tỉnh Thanh Hóa Chính vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, vấn đề đạo đức, giáo dục
đạo đức cho SV của nhà trường cần phải được quan tâm, chú trọng nhiều hơn
nữa Do vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên Trường Cao
đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa” làm luận văn tốt nghiệp Cao học
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh cho SV Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh
Hóa
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh cho SV Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa
3.2 Khách thể nghiên cứu
Công tác giáo dục đạo đức cho SV của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ
thuật Thanh Hóa thông qua việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trang 3tưởng đạo đức Hồ Chớ Minh đối với giỏo dục đạo đức cho SV
- Khảo sỏt thực trạng và đề xuất một số giải phỏp nhằm nõng cao hiệu quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chớ Minh cho SV Trường Cao đẳng Văn húa Nghệ thuật Thanh Húa
6 Phương phỏp nghiờn cứu
Đề tài sử dụng cỏc phương phỏp nghiờn cứu sau:
- Nhúm phương phỏp nghiờn cứu lý luận: phương phỏp phõn tớch, phương phỏp tổng hợp, phương phỏp so sỏnh, phương phỏp logic – lịch sử
- Nhúm phương phỏp nghiờn cứu thực tiễn: Phương phỏp quan sỏt, phương phỏp điều tra, khảo sỏt, phương phỏp phỏng vấn, phương phỏp tọa đàm…
- Phương phỏp thống kờ toỏn học: Sử dụng ph-ơng pháp này để xử lý các
số liệu thu đ-ợc
7 Đúng gúp của đề tài
- Hệ thống húa một số vấn đề lý luận về đạo đức và tư tưởng Hồ Chớ
Minh về đạo đức làm cơ sở cho việc đề xuất cỏc giải phỏp
- Đề tài đề xuất một số giải phỏp cần thiết và cú tớnh khả thi nhằm nõng
cao hiệu quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chớ Minh cho SV Trường Cao đẳng Văn húa Nghệ thuật Thanh Húa
8 Cấu trỳc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Trang 4tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho SV Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa
Trang 5Xét về mặt từ nguyên, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) - lề thói Điều đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Đạo đức
là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [35]
Theo Giáo trình “Đạo đức học”: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội,
là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [16, tr816]
Theo quan điểm của học thuyết Mac - Lênin: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại
xã hội Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng thay đổi theo Như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc” (Dẫn theo Nguyễn Kim Bôi)
GS - TS Phạm Minh Hạc quan niệm đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lí, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng bên trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và
Trang 6biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn
Như trên đã trình bày, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức Tuy nhiên ta có thể hiểu khái niệm này dưới 2 góc độ:
- Góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh (hoặc chi phối) hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội, giữa con người vời nhau và với chính bản thân mình
- Góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí hành vi, thói quen và cách ứng xử của
họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân
họ với người khác và với chính bản thân mình
Đạo đức quy định các chuẩn mực hành vi mà con người cảm nhận rõ mình
có nghĩa vụ phải tự giác tuân theo dù có hay không trong quy định của pháp luật
1.1.2 Nguồn gốc của đạo đức
Các quan niệm trư c Mác v nguồn gốc c a đạo đức
Trước Mác, ngghen, những nhà triết học (kể cả duy tâm lẫn duy vật) đều rơi vào quan niệm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo đức Họ không thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã hội nói chung và đạo đức nói riêng Do vậy, đạo đức với tính cách là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của con người, của xã hội được nhìn nhận một cách tách rời cơ sở
Trang 7kinh tế - xã hội sinh ra và quy định nó Các nhà triết học, đạo đức trước Mác đã tìm nguồn gốc, bản chất của đạo đức hoặc ở ngay chính bản tính của con người, hoặc ở một bản thể siêu nhiên bên ngoài con người, bên ngoài xã hội Nét chung của các lý thuyết này là không coi đạo đức phản ánh cơ sở xã hội, hiện thực khách quan
Các nhà triết học, thần học coi con người và xã hội chẳng qua chỉ là những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó Những chuẩn mực đạo đức, do vậy là những chuẩn mực do thần thánh tạo ra để răn dạy con người Mọi biểu hiện đạo đức của con người đều là sự thể hiện cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên và tiêu chuẩn tối cao để thẩm định thiện - ác chính là sự phán xét của đấng siêu nhiên đó
Những nhà duy tâm khách quan tiêu biểu như Platon, sau là Hêghen tuy không mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối”
và về cách lý giải nguồn gốc và bản chất đạo đức suy cho cùng, cũng tương tự như vậy Những nhà duy tâm chủ quan nhìn nhận đạo đức như là những năng lực "tiên nghiệm" của lý trí con người chí đạo đức hay là "thiện ý" theo cách gọi của Cantơ, là một năng lực có tính nhất thành bất biến, có trước kinh nghiệm
và độc lập với những hoạt động mang tính xã hội của con người
Những nhà duy vật trước Mác, mà tiêu biểu là L.Phoi-ơ-bắc đã nhìn thấy đạo đức trong quan hệ người với người Nhưng với ông, con người chỉ là một thực thể trừu tượng, bất biến, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại
Những người theo quan điểm của Đác Uyn xã hội đã tầm thường hóa chủ nghĩa duy vật bằng cách cho rằng những phẩm chất đạo đức của con người là đồng nhất với những bản năng bầy đàn của động vật Đối với họ, đạo đức về thực chất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người
1.1 uan niệm Mác it v nguồn gốc c a đạo đức
Trang 8Quan niệm khoa học về nguồn gốc của đạo đức là quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin Khác với tất cả những quan niệm trên, Mác và ngghen đã quan niệm đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử
Theo Mác, ngghen, sự tác động lẫn nhau giữa người với người là hệ quả của hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần mà cơ bản là hoạt động thực tiễn
và hoạt động nhận thức
Khi bàn về vai trò của lao động đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của xã hội loài người, Mác, ngghen cho rằng “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người”, “người ta phải ăn, ở, mặc, đi lại trước khi làm chính trị, khoa học và nghệ thuật ”[9, tr306] Xuất phát từ con người thực tiễn, chứ không phải con người thuần túy ý thức hay con người sinh học, hai ông
đi đến quan niệm về phương thức sản xuất quyết định đối với toàn bộ hoạt động của con người, xã hội loài người Như vậy, đạo đức không là biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ con người Với tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế “Xét cho cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” 9, tr307]
Xã hội Cộng sản nguyên thủy là bước đầu tiên con người thoát khỏi trạng thái động vật Hoạt động thực tiễn của xã hội hết sức thấp kém, chưa tạo nên sản phẩm thặng dư và do đó, tư hữu và chế độ tư hữu chưa có tiền đề khách quan để xuất hiện Trong xã hội chưa có hiện tượng áp bức xã hội nhưng con người vẫn
bị nô dịch bởi những lực lượng tự phát của tự nhiên Tuy nhiên, xã hội nguyên thủy đã đem lại nội dung “ngây thơ”, “thuần phác” nhưng “tốt đẹp mơ mộng” cho đạo đức người nguyên thủy Đạo đức này chưa biết nói đến thói xấu, cái ác
Trang 9trong xã hội văn minh Đây là “ý thức bầy đàn đơn thuần” của “bản năng được ý thức” thức đạo đức chưa tách ra thành hình thái độc lập
Những hình thái kinh tế - xã hội có đối kháng giai cấp tạo nên những cơ
sở kinh tế, xã hội và tinh thần cho sự phát triển ý thức đạo đức Những hệ thống đạo đức của các giai cấp khác nhau và đối nghịch nhau đều lấy “những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi” Những hệ thống đạo đức đó phản ánh và điều chỉnh những quan hệ xã hội
đa dạng, phong phú và phức tạp, trong đó ý thức nói chung và đạo đức nói riêng của người nguyên thủy chỉ phản ánh hoàn cảnh gần nhất có thể cảm giác được Đạo đức đã tự khẳng định mình là một hình thái ý thức xã hội, là lĩnh vực sản xuất tinh thần của xã hội Đây là một bước tiến, làm đạo đức phát triển so với xã hội nguyên thủy Tuy nhiên, bước phát triển này cũng làm nảy sinh những cái
ác, tham lam, ích k , lừa dối mà loài người phải đấu tranh hàng ngàn năm nay
để chống lại nó
Nội dung của đạo đức được thể hiện dưới những hình thức cụ thể Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp, nội dung và hình thức của đạo đức phát triển nhưng chưa thật nhân đạo, chưa hoàn thiện Sự hoàn thiện của nội dung đạo đức (thật sự nhân đạo) chỉ có thể đạt được khi con người chiến thắng được tình trạng đối kháng giai cấp và tạo ra những điều kiện có thể “quên được tình trạng đối kháng giai cấp” Điều kiện đó chỉ có thể bắt đầu có được bằng đạo đức cộng sản trong xã hội cộng sản mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa Sự hoàn thiện đạo đức được bắt đầu từ đạo đức của giai cấp công nhân “có nhiều nhân tố hứa hẹn” để dẫn tới một kiểu đạo đức “thật sự có tính nhân đạo” Như vậy, xã hội cộng sản nguyên thủy với trình độ bắt đầu làm nảy sinh đạo đức do hoạt động thực tiễn và nhận thức đã phát triển đạo đức Xã hội cộng sản chủ nghĩa trong
Trang 10tương lại mà hiện thực hôm nay đang bắt đầu xây dựng sẽ hoàn thiện đạo đức cả
về nội dung lẫn hình thức
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức sinh ra trước hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các quan
hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp
1.1.3 n ch t của đạo đức
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định về nguồn gốc của đạo đức không phải là từ sự “tiên nghiệm” càng không phải là lực lượng từ bên ngoài ấn vào xã hội Đạo đức là lĩnh vực của quan hệ thật sự con người Trong khi phát triển với tích cách là thực thể xã hội, con người chịu trách nhiệm với sự lựa chọn, với hậu quả của những sự lựa chọn đối với hành vi ứng xử người - người
Với tính cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức mang bản chất xã hội Bản chất xã hội của đạo đức được hiểu theo nghĩa:
- Nội dung của đạo đức là do hoạt động thực tiễn và tồn tại xã hội quyết định
- Nhận thức xã hội đem lại các hình thức cụ thể của phản ánh đạo đức, làm cho đạo đức tồn tại như một lĩnh vực độc lập về sản xuất tinh thần của xã hội
- Sự hình thành, phát triển, hoàn thành bản chất xã hội của đạo đức được quy định bởi trình độ phát triển và hoàn thiện của thực tiễn và nhận thức xã hội của con người Nói cách khác, nội dung khách quan của quan niệm, quan điểm, các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức chính là biểu hiện của trạng thái, một trình độ phát triển nhất định của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế
Việc khẳng định tính quy định của cơ sở kinh tế đối với đạo đức cho phép nhìn nhận sự biến đổi của đạo đức theo sự biến đổi của cơ sở kinh tế Phân tích
Trang 11mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế với kiến trúc thượng tầng mà trong đó đạo đức là một yếu tố của nó
Tiếp tục và cụ thể hóa tư tưởng của Mác về tính quy định của cơ sở kinh
tế đối với ý thức xã hội nói chung và đạo đức nói riêng, ngghen đã luận chứng cho bản chất xã hội của đạo đức bằng cách chỉ ra tính thời đại, tính dân tộc và tính giai cấp của đạo đức Phê phán quan điểm của Đuyrinh về những chân lý đạo đức vĩnh cửu, ngghen đã khẳng định rằng, thực chất và xét đến cùng, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các quan điểm đạo đức chẳng qua là sản phẩm của các chế độ kinh tế, các thời đại kinh tế mà thôi Lấy ví dụ về nguyên tắc không được ăn cắp, ngghen cho rằng đó không phải là một nguyên tắc, một chân lý vĩnh cửu gắn liền với bản chất trừu tượng của con người Nguyên tắc này có cơ
sở kinh tế của nó và nó sẽ mất ý nghĩa khi cơ sở kinh tế của nó không còn nữa
ng viết “từ khi sở hữu tư nhân về động sản phát triển thì tất cả các xã hội có chế độ sở hữu tư nhân ấy, tất phải có một lời răn chung về đạo đức: không được trộm cắp” 10, tr32]
Tính quy định của thời đại đối với đạo đức cho ta quan niệm khoa học về loại hình đạo đức Mặc dù đạo đức có quy luật vận động nội tại, có sự kế thừa,
có sự lệch pha nào đó đối với cơ sở sản sinh ra nó nhưng về căn bản, tương ứng với một chế độ kinh tế, m i phương thức sản xuất và do đó m i hình thái kinh tế
- xã hội là một hình thái đạo đức nhất định Đạo đức nguyên thủy, đạo đức chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản và sau đó, đạo đức cộng sản chủ nghĩa là những thời đại tiến triển dần dần của đạo đức nhân loại
Cùng với tính thời đại, tính dân tộc là một trong những biểu hiện bản chất
xã hội của đạo đức Có thể nhìn nhận tính dân tộc như là sự biểu hiện đặc thù tính thời đại của đạo đức trong các dân tộc khác nhau Không phải các học thuyết đạo đức trước Mác không thấy sự khác biệt trong đời sống đạo đức của
Trang 12các dân tộc, có điều, việc giải thích sự khác biệt ấy hoặc là dựa trên cơ cở tôn giáo hoặc là dựa trên các quan niệm duy tâm triết học không đúng đắn…
Coi đạo đức như là một hình thái ý thức xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đặt cơ sở khoa học cho việc luận chứng tính dân tộc của đạo đức
Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức vừa bị quy định bởi tồn tại xã hội, vừa chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác (chính trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo) Tổng thể những nhân tố ấy trong m i dân tộc là sự khác biệt nhau, làm thành cái mà ngày nay chúng ta gọi là bản sắc dân tộc Bản sắc ấy được phản ảnh vào đạo đức nên tính độc đáo của các quan niệm, các chuẩn mực, cách ứng xử đạo đức, nghĩa là tạo nên tính độc đáo trong đời sống đạo đức của
m i dân tộc Nhìn nhận tính độc đáo và sự khác biệt ấy về mặt dân tộc trong các cặp khái niệm cơ bản của đạo đức, ngghen chỉ ra sự biến đổi của chúng qua các thời đại và dân tộc ng viết: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau”[10, tr43]
Không thể thổi phồng tính nhân loại chung của đạo đức để đi đến những quan niệm sai lệch về đạo đức trừu tượng, về đạo đức phổ biến phi lịch sử, chẳng có tác dụng gì trong thực tiễn Nhưng cũng không được phủ nhận tính nhân loại của đạo đức Tính nhân loại của đạo đức tồn tại ở hình thức thấp là biểu hiện của những quy tắc đơn giản, thông thường nhưng lại cần thiết để bảo đảm trật tự bình thường cho cuộc sống hàng ngày của con người Biểu hiện cao hơn trong tính nhân loại của đạo đức lại ở những giá trị đạo đức tiến bộ nhất trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, những giá trị đạo đức này thường thường là những giá trị đạt được ở giai cấp tiến bộ nhất trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại Đi đến tột đỉnh các giá trị đạo đức của giai cấp tiến bộ của từng thời kỳ lịch sử, nhân loại sẽ bắt gặp đạo đức của mình tương ứng với các thời kỳ lịch sử đó
Trang 131.1.4 Chức năng của đạo đức
4 Chức năng đi u chỉnh hành vi
Sự điều chỉnh hành vi được thực hiện bằng hai hình thức chủ yếu Một là, thông qua dư luận xã hội, ca ngợi, khuyến khích cái thiện, cái tốt, lên án, phê phán cái ác, cái xấu Trong trường hợp này, giá trị đạo đức phụ thuộc vào sức mạnh và tính đúng đắn của dư luận M i khi dư luận xã hội được củng cố và phát triển, được mọi người đồng tình ủng hộ, nó sẽ trở thành sức mạnh to lớn trong việc điều chỉnh đạo đức
Do đó, nếu dư luận xã hội m i khi được hướng dẫn bởi những học thuyết đạo đức tiên tiến, sẽ góp phần điều chỉnh hành vi đạo đức, làm cho nó phù hợp với sự tiến bộ xã hội, tạo nên những giá trị đạo đức đích thực Hai là, bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực đạo đức xã hội Cách thức điều chỉnh này phụ thuộc vào việc giáo dục, giác ngộ của chủ thể đạo đức Bởi lẽ, trong quan hệ đạo đức chủ thể đạo đức vừa tham gia vào hành vi ứng xử, vừa là người phán xét hành vi ứng xử của chính mình Khi thực hiện hành vi ứng xử, chủ thể đạo đức dựa vào các chuẩn mực được hình thành trong bản thân họ (chuẩn mực này đã tiếp thu chuẩn mực đạo đức xã hội và do điều kiện sinh sống và các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân chủ thể tạo thành) Nếu các chuẩn mực đó phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, nó sẽ trở thành cơ sở khách quan làm cho hành vi đạo đức của cá nhân phù hợp với lợi ích xã hội, được dư luận đồng tình ủng hộ Ngược lại, m i khi chuẩn mực cá nhân sai lệch chuẩn mực xã hội sẽ dẫn đến những hành vi đạo đức cá nhân không phù hợp với lợi ích xã hội Trong trường hợp này, dư luận xã hội sẽ lên án, phê phán Khi phán xét hành vi ứng xử của mình, chủ thể đạo đức căn cứ vào chuẩn mực đạo đức của cá nhân họ Nếu như vì thiếu nhiệt tình, chưa cố gắng hết sức mình, nên không thực hiện được một quan hệ đạo đức nào đó đúng như chuẩn mực của bản thân, thì lương tâm họ bị cắn rứt, họ cảm thấy ân hận,
Trang 14xấu hổ về hành vi của mình Ngược lại m i khi họ thực hiện được những quan
hệ đạo đức đúng như chuẩn mực đã hình thành ở họ, thì lương tâm họ cảm thấy thanh thản, họ tự hào về hành vi của mình Như vậy, với cách thức điều chỉnh này, giá trị đạo đức phụ thuộc vào các chuẩn mực đạo đức được hình thành trong m i chủ thể đạo đức đó là cơ sở cho hành vi đạo đức của m i cá nhân phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ xã hội
Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi Sự điều chỉnh hành vi làm cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng
4 Chức năng giáo dục
Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể của lịch sử Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy
Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống đạo đức mà các cá nhân chịu sự tác động Ở đây, môi trường đạo đức: tác động đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nhận thức đạo đức để chuyển hóa đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân Thực tiễn đạo đức là hiện thực hóa nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức Các hành vi đạo đức lặp
đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả đạo đức cá nhân và xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức
Chức năng giáo dục được thực hiện thông qua sự giáo dục của xã hội và sự
tự giáo dục của m i cá nhân Giáo dục đạo đức là quá trình tuyên truyền những
tư tưởng, nhưng chuẩn mực đạo đức xã hội, biến nó thành thước đo đánh giá, điều chình hành vi của m i cá nhân nhằm đạt tới một sự phù hợp giữa hành vi cá nhân với lợi ích xã hội
Trong quá trình hoạt động sinh sống, m i cá nhân không chỉ mưu cầu lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, mà còn mưu cầu sự tiến bộ của bản thân và đều
Trang 15muốn được dư luận xã hội ca ngợi, biểu đương Do đó, những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức xã hội trở thành mục tiêu, thành những định hướng cho hoạt động cá nhân của nó Những hành vi đạo đức có tính chất lặp đi lặp lại, tạo nên các quan hệ đạo đức tương đối ổn định và nó thường xuyên được duy trì, củng cố bằng dư luận xã hội sẽ trở thành thói quen, tập quán, truyền thống đạo đức trở thành nhân tố trực tiếp tác động đến sự hình thành đạo đức của thế hệ người tiếp theo Như vậy, giá trị đạo đức trong trường hợp này được hình thành, phát triển ra sao luôn phụ thuộc vào tính đúng đắn, khoa học của những tư tưởng
và những chuẩn mực đạo đức được tuyên truyền, giáo đục trong xã hội
Tự giáo dục đạo đức của cá nhân, trước hết thế hiện ở ch , môi cá nhân thông qua sự tự phán xét của lương tâm về hành vi của mình để củng cố các chuẩn mực đạo đức cá nhân, để đạt tới hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức đó Mặt khác, dựa vào dư luận xã hội, họ tự điều chỉnh hành vi và điều chỉnh ngay cả những chuẩn mực đạo đức cá nhân khi nhận thấy nó sai lệch với chuẩn mực xã hội Giá trị đạo đức trong trường hợp này được xác định phụ thuộc vào sự nhạy cảm, sự cầu thị của chủ thể trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cho phù hợp với tư tưởng, chuẩn mực đạo đức của xã hội
Giáo dục đạo đức gắn liền với tiến bộ đạo đức Nhân đạo hóa các quan hệ
xã hội và mức độ phổ biến nhân đạo hóa các quan hệ xã hội; sự hoàn thiện của cấu trúc đạo đức và mức độ phổ biến của nó sẽ giúp chủ thể lựa chọn, đánh giá mức đúng các hiện tượng xã hội, đánh giá đúng tư cách của người khác hay của cộng đồng cũng như tự đánh giá đúng thông qua mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, hình thức và các bước đi của quá trình giáo dục sẽ giúp
m i cá nhân và cả cộng đồng tạo ra các hành vi và thực tiễn đạo đức đúng
4 3 Chức năng nhận thức
Những tư tưởng đạo đức và chuẩn mực đạo đức xã hội có trở thành các quan hệ đạo đức trong đời sống xã hội hay không, điều đó không chỉ phụ thuộc
Trang 16vào tính đúng đắn, tư tưởng đạo đức, của các chuẩn đạo đức, vào việc tuyên truyền, giáo dục trong xã hội, mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiếp nhận
và chuyển hoá nó trong hoạt động nhận thức và trong hành vi của m i chủ thể đạo đức Thông qua sự lựa chọn, đánh giá của các chủ thể đạo đức về những tư tưởng, chuẩn mực đạo đức, trong bản thân họ hình thành niềm tin, lý tương đạo đức và các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức trong quan hệ ứng xử của chính họ Hoạt động nhận thức đạo đức cũng bao gồm hai trình độ: tình cảm và tư tưởng đạo đức, kinh nghiệm và lý luận đạo đức
Thông qua quá trình nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, chủ thể đạo đức phân tích, đánh giá, lựa chọn các tư tưởng đạo đức và các chuẩn mực đạo đức trong xã hội để trên cơ sở đó, chứng minh, lý giải các tư tưởng đạo đức và các chuẩn mực đạo đức được hình thành trong bản thân nó là đúng đắn và hợp
lý, để tiếp thu cái đúng, cái hợp lý và phê phán những sai trái trong các tư tưởng
và chuẩn mực đạo đức khác
Sự phản ánh của đạo đức với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hình thái ý thức khác Đạo đức là phương thức đặc biệt của sự chiếm lĩnh thế giới con người Nếu xét dưới góc độ xã hội học thì hệ thống tinh thần (nhận thức đạo đức) không tách rời thực tiễn, hành động của con người Do vậy, đạo đức là hiện tượng xã hội vừa mang tính tinh thần vừa mang tính hành động hiện thực
Từ nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng
để hoàn thành trách nhiệm đó Trong cuộc sống có vô số những trách nhiệm như vậy, nó luôn đặt trong quan hệ phong phú giữa chủ thể đạo đức với xã hội, gia đình, bạn bè, đồng chí, đồng đội, tập thể, dân tộc, giai cấp, tổ quốc
Nhận thức đạo đức đưa lại tri thức đạo đức, ý thức đạo đức Các cá nhân, nhờ tri thức đạo đức, ý thức đạo đức xã hội đã nhận thức (trở thành đạo đức cá nhân) Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng giá trị đạo đức xã hội trở
Trang 17thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện đạo đức (hiện thực hóa đạo đức)
Như vậy, có thể nói, giá trị đạo đức được hình thành ở m i cá nhân luôn phụ thuộc vào việc các cá nhân ấy được giáo dục và tiếp nhận những tư tưởng
và các chuẩn mực đạo đức đúng đắn của xã hội
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.2.1 Hồ Chí Minh với nền đạo đức mới Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản vô giá, đó là tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về đạo đức Người để lại rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết chuyện về đạo đức Ngay trong tác phẩm lý luận đầu tiên Người
viết để huấn luyện những người yêu nước Việt Nam trẻ tuổi, cuốn Đường kách mệnh, vấn đề đầu tiên Người đề cập vẫn là tư cách người cách mệnh Tác phẩm
sau cùng bàn sâu về vấn đề đạo đức được Người viết nhân dịp k niệm 39 năm
ngày thành lập Đảng (3-2-1969), đăng trên báo Nhân dân là bài: Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch ch nghĩa cá nhân Trong Di chúc thiêng liêng, khi
nói về Đảng, Bác cũng căn dặn Đảng phải rất coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho CB, Đảng viên
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây
mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Trang 18Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức, bao gồm: vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức; những phẩm chất đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rèn luyện đạo đức với m i người cách mạng
Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách
mạng Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư
cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với việc
- Với m i người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối Người viết:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không
có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [28, tr205] Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách: “có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa” [20, tr58]
- Với yêu cầu đó, Hồ Chí Minh nêu ra 5 điểm đạo đức mà người Đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:
+ Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân
+ Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng
+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu
+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết
Trang 19+ Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng
- Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh” Người thường nhắc lại ý của V I Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại
Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện Người nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan
hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với việc Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của CB, Đảng viên, nhất là
khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền Trong bản Di chúc bất hủ, Người viết:
“Đảng ta là một Đảng cầm quyền M i Đảng viên và CB phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”
1.2.2 Những phẩm ch t đạo đức cơ b n của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Việt Nam trong thời đại mới
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có 4 chuẩn mực đạo đức cơ bản:
- Trung với nước, hiếu với dân là chuẩn mực đạo đức nền tảng, điều chỉnh hành vi giữa cá nhân với cộng đồng Trung, hiếu là các khái niệm đạo đức truyền thống, nhưng được Hồ Chí Minh sử dụng và đưa vào những nội dung
mới
+ Trung với nước: yêu nước, gắn liền với yêu Chủ nghĩa xã hội; trung thành với lý tưởng, con đường cách mạng mà đất nước, dân tộc đã lựa chọn; có trách nhiệm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước
Trang 20+ Hiếu với dân: Thương dân, quý dân, lấy dân làm gốc; chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân một cách tự giác; đấu tranh giải phóng quần chúng nhân dân
Liêm: Liêm khiết, trong sạch, không tham tiền tài, địa vị, danh vọng Chính: Chính trực, ngay thẳng, thật thà đối với mình, đối với người, đối với việc
Chí công vô tư: Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết,
hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ Các tiêu chuẩn đạo đức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo tiền đề cho nhau Hồ Chí Minh xác định cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức thực sự cần thiết của một con người, là thước đo trình độ văn minh, tiến bộ của một dân tộc
- Yêu thương con người: Yêu thương tất cả mọi người, trước hết là người lao động nghèo khổ, bị bóc lột, áp bức, những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội: trẻ em, người già, phụ nữ; yêu thương con người trên lập trường của giai cấp công nhân; chăm lo mọi mặt đời sống con người để con người được thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân
- Tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung: Chuẩn mực đạo đức này điều chỉnh hành vi ứng xử của con người trong quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc
Nó có cơ sở từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân, của chế độ xã hội chủ nghĩa Về nội dung, chuẩn mực đạo đức này bao gồm: Tôn trọng, thương yêu
Trang 21các dân tộc; ủng hộ, giúp đỡ các dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng; xây dựng khối đoàn kết quốc tế trên cơ sở cùng có lợi, có lý, có tình
1.2.3 Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới
Những phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh nêu ra phù hợp với từng đối tượng Hơn nữa Người nhấn mạnh những phẩm chất này là nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ nhất định Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và tinh thần quốc tế trong sáng là bốn phẩm chất chung, cơ bản nhất trong tư tưởng đạo đức Hồ Chi Minh
Để xây dựng một nền đạo đức mới, Chủ tịch Hồ Chi Minh đưa ra những nguyên tắc cơ bản để định hướng cho sự lãnh đạo của Đảng, cũng như cho việc rèn luyện của m ingười Chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình, giáo dục, động viên CB, Đảng viên, nhân dân cùng thực hiện Đó là:
- Nói đi đôi v i làm, phải nêu gương v đạo đức
+ Đối với m i người, lời nói phải đi đôi với việc làm
+ Nói đi đôi với làm trước hết là sự nêu gương tốt Sự làm gương của thế
hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với nhân viên là rất quan trọng Người yêu cầu, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, ông
bà làm gương cho con cháu, lãnh đạo làm gương cho CB, nhân viên
+ Đảng viên phải làm gương trước quần chúng Người nói: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu mến Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”
- Xây đi đôi v i chống
+ Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, đó là "chủ nghĩa cá nhân" Xây đi đôi với
Trang 22chống là muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chống chủ nghĩa cá nhân
+ Xây dựng đạo đức mới trước hết phải được tiến hành bằng giáo dục, từ gia đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội Những phẩm chất chung nhất phải được cụ thể hoá sát hợp với các tầng lớp, đối tượng Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá các phẩm chất đạo đức cơ bản đối với từng giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi và nhóm xã hội Trong giáo dục, vấn đề quan trọng là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh của mọi người, để mọi người nhận thức được và tự giác thực hiện + Trong đấu tranh chống lại cái tiêu cực, lạc hậu trước hết phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải phát hiện sớm, phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn
+Để xây và chống cần phát huy vai trò của dư luận xã hội, tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, biểu dương cái tốt, phê phán cái xấu Người đã phát động cuộc thi đua “ba xây, ba chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục về đạo đức, lối sống
- Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
+ Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành Người viết: “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”
+ Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời Người dạy: “Một dân tộc, một đảng và m i con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[26, tr184]
+ Tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có ch hay, ch dở, ch xấu, ch tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái
Trang 23ác để khắc phục Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong mọi mối quan
hệ của mình
1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và sự nghiệp đổi mới hiện nay
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức thanh niên
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà lãnh đạo cách mạng kiệt xuất, Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức và có nhiều cống hiến trong việc phát triển những tư tưởng đạo đức mới Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức trong sáng của Người có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, là nhân tố có ý nghĩa to lớn trong công cuộc xây dựng con
người mới ở Việt Nam hiện nay
Trong đó, đặc biệt chú ý là những quan điểm của Người về đạo đức thanh niên và giáo dục đạo đức cho thanh niên Người luôn coi đây là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam Điều này
được Người căn dặn rất rõ trong Di chúc: “ Thanh niên ta nói chung là tốt, mọi
việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” Quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức thanh niên được đề cập nhiều trong các bài nói và bài viết của Người Người phân tích một cách rõ ràng vị trí và vai trò quan trọng của thanh niên trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước trong thời kỳ mới Chính vậy, việc nghiên cứu các quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức thanh niên và vận dụng các quan điểm đó vào việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ thanh niên là một yêu cầu quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng con người mới xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp cách mạng hiện nay
Trang 24Nhìn nhận và đánh giá đúng thanh niên, điều quan trọng trước hết là phải xác định cho đúng vị trí, vai trò của lực lượng thanh niên trong tiến trình phát triển của xã hội Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tác dụng chỉ đạo và định hướng cho công tác giáo dục và chuẩn bị hành trang vào đời cho thanh niên thức được điều này, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình, ngay từ những ngày đầu, Hồ Chí Minh đã nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của thanh niên trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Sau này, Người vẫn luôn chăm lo giáo dục thanh niên, mạnh dạn giao nhiệm vụ và từng bước dìu dắt họ tham gia đấu tranh cách mạng Đúc rút từ thực tiễn những năm tháng khó khăn, gian khổ đầy thử thách của bản thân, Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra những phẩm chất tuyệt vời của thanh niên, đánh giá cao vị trí, vai trò của họ đối với vận mệnh của dân tộc và cách mạng Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến thanh niên, biểu dương những việc làm tốt, những hành động anh hùng, dũng cảm, sáng tạo của họ Người nói: “Khắp thành thị, nông thôn, miền xuôi, miền núi, thanh niên ta ngày nay đã thành một đội quân to lớn, hăng hái tiến lên, quyết tâm phấn đấu, hy sinh vì Tổ quốc thân yêu,
vì tiến bộ xã hội”[21, tr13] Chính vì vậy, thanh niên xứng đáng là cánh tay đắc lực của Đảng, là lực lượng luôn luôn đi đầu trong việc thực hiện đường lối do Đảng đề ra và là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ của Đảng: “ thanh niên ta luôn luôn hăng hái xung phong và họ xứng đáng là cánh tay đắc lực của Đảng” [21, tr14]
Với lòng yêu thương, tin tưởng và hy vọng to lớn ở thanh niên nước ta, Hồ Chí Minh cũng không quên việc cần phải chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế mà thanh niên ta còn mắc phải và Người đưa ra những yêu cầu, nhiệm vụ đối với thanh niên để khắc phục những hạn chế đó Người nhận xét: “Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng Rất mong toàn
Trang 25thể nhân dân ta ra sức phát triển những ưu điểm, tẩy sạch những khuyết điểm ấy”[32, tr12] Người thường ân cần nhắc nhở thanh niên đấu tranh khắc phục những khuyết điểm, nhược điểm và luôn khuyên thanh niên phải có chí tiến thủ vươn lên, ham làm việc, tích cực làm việc và khi đã làm gì thì phải làm cho kỳ xong
Trên cơ sở nhìn nhận cả hai mặt của vấn đề, Người đã đề ra những yêu cầu
về phẩm chất đạo đức đối với thanh niên trong công cuộc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, bao gồm cả các yêu cầu đối với từng đối tượng, từng thế
hệ và ở tùng thời điểm khác nhau Trong vấn đề học tập, rèn luyện, tu dưỡng, hoàn thiện nhân cách của người thanh niên, Hồ Chí Minh luôn đề ra yêu cầu thanh niên phải thấm nhuần tinh thần làm chủ nước nhà và học tập, trau dồi đạo đức cách mạng Người đưa ra những phẩm chất cần thiết trong giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho thanh niên, đó là: Trung với nước, hiếu với dân; tinh thần dũng cảm, hăng say trong lao động; tinh thần đoàn kết, chống chủ nghĩa cá nhân
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, trước những ảnh hưởng ngày càng to lớn của nền kinh tế thị trường và xu hướng khu vực hoá, quốc tế hoá, bên cạnh những tác động tích cực thì cũng có không ít những tác động tiêu cực đến một
bộ phận không nhỏ thanh niên như: biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống, nhạt phai lý tưởng, thiếu chí tiến thủ, không quan tâm đến tình hình đất nước Vì vậy, hiện nay, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên ngày càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết Việc phấn đấu tu dưỡng bản thân là một quá trình lâu dài, nhận thức và thực hiện tốt trách nhiệm của bản thân đối với tập thể, với cộng đồng, với đất nước và với chính bản thân mình còn là một quá trình rèn luyện và phấn đấu lâu dài hơn, đòi hỏi ở m i người phải có một ý chí, nghị lực, quyết tâm cao để chiến thắng chính bản thân mình, chiến thắng mọi cám d của đồng tiền, của tâm lý
Trang 26hưởng thụ, của chủ nghĩa cá nhân Trong quá trình ấy, việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức trong sáng của Người trong những công việc hằng ngày của bản thân m i người
sẽ giúp m i chúng ta biết vươn lên với tinh thần, tình cảm và trách nhiệm của mình
Trước sự nghiệp đổi mới hiện nay của Đảng và Nhà nước ta, việc đào tạo thế hệ trẻ cũng đang trở thành một vấn đề trọng tâm trong toàn bộ chiến lược phát huy nhân tố con người Điều này đã được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương 6 (khoá VII) và Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động nhằm kích thích vai trò xung kích của thanh niên, quyết tâm đào tạo
họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa
“chuyên” như mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.3.2 Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và sự nghiệp đổi mới hiện nay
Thế k XX đã đi qua, với dân tộc ta đây là thế k của những biến đổi to lớn và sâu sắc, thế k đấu tranh gian nan, oanh liệt giành lại độc lập dân tộc, tự
do, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội với những chiến công mang ý nghĩa lịch sử và thời đại Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhân dân ta bước vào thế k XXI với quyết tâm xây dựng đất nước định hướng theo con đường chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh
Sự thắng lợi to lớn trong hai mươi năm đổi mới của Đất nước ta một lần nữa khẳng định con đường cách mạnh của dân tộc ta là đúng đắn Trong đó một trong những vấn đề căn bản đưa đến sự thành công đó là Đảng ta luôn giương cao ngọn
Trang 27cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh đúng đắn mà không ai có thể phủ nhận rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) Đảng cộng sản Việt Nam
đã ghi vào cương lĩnh và điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động”[2, tr28] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) một lần nữa khẳng định lại điều này Đây là một sự tổng kết sâu sắc, bước phát triển mới trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta và là một quyết định quan trọng có ý nghĩa lịch sử, đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp cách mạng
nước ta, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta
Trong điều kiện mới, chúng ta càng khẳng định và kiên trì đi theo con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn Khát khao cháy bỏng của Hồ Chí Minh là độc lập cho dân tộc, nhưng Người cũng cho rằng, độc lập phải gắn với tự do, phải làm cho nhân dân sống một cuộc sống ấm no, hạnh phúc Điều mong
muốn cuối cùng của Hồ Chí Minh trước khi qua đời thể hiện trong bản Di chúc
là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp cách mạng thế giới.” Kiên định con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn, hiện nay chúng ta tiếp tục thực hiện sáu đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam được nêu trong Cương lĩnh ây dựng đất nư c trong thời kỳ quá độ lên ch nghĩa ã hội, đã được Đại hội Đảng lần thứ VII đã khái quát Kiên định
đi theo con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn là tiêu chí đánh giá sự vững vàng về chính trị, tư tưởng, lập trường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa của m i một công dân Việt Nam yêu nước Chúng ta tin tưởng rằng con đường độc lập dân
Trang 28tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra là con đường phù hợp với qui luật, là con đường phát triển tất yếu của dân tộc Việt Nam
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là hiện thân sinh động của văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh, như một người từng đối đầu với Hồ Chí Minh – tướng Vanluy thừa nhận: “Hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư, dưới con mắt những người chung quanh và những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ”[14, tr112] Thắng lợi của cách mạng, vinh quang của quyền lực, hay danh vọng của cá nhân không thể nào làm lu mờ tấm gương đạo đức của Người Vì vậy, trong thế giới của những người cầm quyền, hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật hơn bao giờ hết
Trang 29Kết luận chương 1
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho cá nhân và cộng đồng tồn tại, phát triển Sống trong xã hội, người ta ai cũng phải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những con đường, cách thức và phương tiện hoạt động nhằm kết hợp lợi ích của mình và cộng đồng, từ đó bảo
đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng
Trong sự vận động phát triển của xã hội loài người, suy cho cùng nhân tố kinh tế là cái chủ yếu quyết định Tuy nhiên, nếu tuyệt đối quá cái chủ yếu này thành cái duy nhất thì sẽ dẫn tư duy và hành động đến những lầm lạc đáng tiếc
Sự tiến bộ của xã hội, sự phát triển của xã hội không thể thiếu vai trò của đạo đức Khi xã hội loài người có giai cấp, có áp bức, có bất công, chiến đấu cho cái thiện đẩy lùi cái ác đã trở thành ước mơ, khái vọng, đã trở thành chất men, thành động lực kích thích, cổ vũ nhân loạt vượt lên Đạo đức đã trở thành mục tiêu đồng thời cũng là động lực để phát triển xã hội
Vai trò của đạo đức còn được biểu hiện thông qua các chức năng cơ bản của đạo đức: chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục, chức năng nhận thức… Ngày nay để xây dựng xã hội mới, chúng ta đang cần có những con người mới với phẩm chất đạo đức nhất định Những con người phát triển toàn diện cả đức và tài Tuy nhiên, cần chú ý trong quan hệ giữa đức và tài hôm nay Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn lưu ý, nhắc nhở chúng ta phải coi trọng cả tài và đức nhưng phải lấy đức là gốc Bởi lẽ tài năng chỉ có thể phát triển lâu bền trên nền của đức và tài năng chỉ có thể hướng thiện trên gốc của đức
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG HỌC TẬP
VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT THANH HÓA 2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển
Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Thanh Hóa tiền thân là trường Sơ cấp VHNT được thành lập từ năm 1967 và trở thành trường Trung học ngày 05/10/1978 và nâng cấp lên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa theo quyết định số 4765/QĐ-BGD&ĐT – TCCB do Bộ trưởng Bộ GD & ĐT ký ngày 25 tháng 08 năm 2004
Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa là trường Cao đẳng nằm trong hệ thông giáo dục Việt Nam chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và UBND tỉnh Thanh Hóa Trường đóng tại số 20 phố Nguyễn Du, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hoá Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa là trường Cao đẳng chuyên nghiệp đào tạo đa ngành, đa hệ Hiện nay, trường đang đào tạo các chuyên ngành ở bậc Cao đẳng chuyên nghiệp
và Trung học chuyên nghiệp gồm:
- Sư phạm Âm nhạc
- Sư phạm Mỹ thuật
- Việt Nam học
- Quản lý văn hóa
- Thiết kế thời trang
- Hội hoạ
- Thanh nhạc
- Nhạc cụ phương Tây
- Nhạc cụ truyền thống
Trang 31- Thư viện - Thông tin
- Đạo diễn (chuyên ngành Đạo diễn sân khấu)
- Thanh tra chất lượng đào tạo Ngoài ra, trường tiếp tục đào tạo một số ngành học ở hệ TCCN: năng khiếu nghệ thuật âm nhạc, Sân khấu, mỹ thuật; liên kết với các trường Đại học đào tạo liên thông, đào tạo không chính quy một số chuyên ngành: Sư phạm, Quản lý văn hoá, Thanh nhạc, Hội hoạ…
Với hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa đã có nhiều thành tích trong công tác đào tạo CB nghiệp
vụ văn hoá thông tin và diễn viên nghệ thuật cho phong trào văn hoá - văn nghệ quần chúng, phục vụ truyên truyền chính trị cho sự nghiệp kháng chiến chống
Mỹ cứu nước, cũng như trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội
Từ một trường ban đầu là Sơ cấp chỉ đào tạo ngành diễn viên sân khấu và bồi dưỡng CB Văn hoá thông tin tuyên truyền đến nay, nhà trường đã có 134 CB
GV, trong đó có 2 TS, 18 Thạc sỹ và 51 Cử nhân Đại học Quy mô đào tạo của nhà trường là 1.780 HS SV/ năm ở 13 chuyên ngành, đã góp phần đáng kể cho đào tạo nguồn nhân lực để phát triển sự nghiệp văn hoá thông tin, nghệ thuật của tỉnh nhà
Trong hơn 40 năm qua, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa
đã đào tạo hàng vạn CB văn hóa, GV nhạc họa và hàng ngàn nghệ sỹ trên các lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật Nhiều người đã trở thành những nhà quản lý văn hóa giỏi, những nghệ sỹ tài năng của đất nước, góp phần tích cực vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của quê hương, đất nước Với sự đóng góp và thành tích xuất sắc, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng thi đua cao quý
2.1.2 Quy mô đào tạo và cơ sở vật ch t
Trang 32Qua một số bảng số liệu thống kê dưới đây, chúng ta có thể nhận thấy được
rõ quy mô đào tạo, số lượng HS học tập và tốt nghiệp tại trường, số lượng các khoa, các phòng ban cũng như cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho quá trình giáo dục đạo đức và đào tạo chuyên môn của Trường Cao đẳng Văn hóa
Nghệ thuật Thanh Hóa
- Số CB GV cơ hữu của nhà trường: 134 CB GV
- Số lớp: 71 lớp với số HS, SV là 1.780 bao gồm cả TCCN và CĐCN ở 10 ngành
ng 1:
ng thống kê số lượng HS, SV đã tốt nghiệp của nhà trường qua các năm
Trang 33THIẾT BỊ CN CAO (PHÒNG)
DIỆN TÍCH SỬ DỤNG (m2)
Trang 34Phòng khách 15m2
hànhđa năng100m2(13 CN)
1 Khoa Văn hoá - Lý
Tổ Hội hoạ, LLMT
Tổ Mỹ thuật ứng dụng (Sơn mài - Thời trang)
Trang 3512 Phòng Thanh tra
Tổ công nghệ - Khoa học
2.1.3 Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo
Để đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho tỉnh, cho đất nước, trong những năm gần đây, nhà trường tập trung vào một số nội dung
cụ thể:
- Tập trung mọi nguồn lực cho nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực lao động của tỉnh Thanh Hóa trong quá trình CNH, HĐH
Trang 36- Nhà trường xác định mục tiêu trọng tâm là nâng cao chất lượng đào tạo chuyên nghiệp và kỹ năng nghề cho tất cả các ngành học
+ Nhà trường sẽ xây dựng hệ thống xưởng trường phù hợp với từng chuyên ngành, đảm bảo tốt cho việc tổ chức thực hành, thực nghiệm cho SV thuộc 11 chuyên ngành khác nhau
+ Tích cực đẩy mạnh công tác nâng cao năng lực đội ngũ GV, đặc biệt nhóm GV thực hành chuyên nghiệp; kết hợp tốt giữa việc gửi đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ với tổ chức cho GV thực tập nghiên cứu khoa học
+ Có cơ chế, chính sách khuyến khích cho GV học tập, nghiên cứu khoa học, đổi mới phương pháp giảng dạy, phấn đấu qua năm 2010 đạt trên 50% trình
độ trên Đại học
+ Phân cấp quản lý theo hướng chuyên sâu đến tổ bộ môn, nâng cao năng lực quản lý cấp khoa, phòng, tổ bộ môn nhằm phát huy tính năng động sáng tạo
cho m i cá nhân và tập thể
2.2 Thực trạng chung về đạo đức của SV hiện nay
2.2.1 Khái quát chung về tình hình đạo đức của SV
SV trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là "tổng hoà của các quan hệ xã hội" Nhưng họ còn có những đặc điểm riêng: tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25; dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách; ưa các hoạt động giao tiếp; có tri thức, đang được đào tạo chuyên môn, dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, ưa tìm tòi và sáng tạo Đây cũng là tầng lớp khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị - xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt
Một đặc điểm rất đáng chú ý đang xuất hiện trong những người trẻ hôm nay, liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là một cuộc cách mạng, đó là sự hình thành một môi trường ảo, hình thành một lối sống ảo Đặc điểm này chỉ biểu hiện trong giới trẻ, đặc biệt những người có tri thức như
Trang 37SV, giúp SV hình thành một phương pháp tư duy của thời đại công nghệ thông tin: Ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay vì cây bút, có tính lắp ghép chính xác, hệ thống, hạn chế sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan Con người vì thế sống trong một môi trường ảo và cái hiện thực ở đây là cái hiện thực ảo, giao tiếp ảo Về môi trường sống, SV thường theo học tập trung tại các trường ĐH và CĐ (thường ở các đô thị), sinh hoạt trong một cộng đồng (trường, lớp) gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi
Đối với SV nước ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn ra quá trình phân hoá, với hai nguyên nhân cơ bản: tác động của cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo và sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ SV chênh lệch lớn ngay từ đầu vào Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó những đặc điểm tương đồng dưới đây:
- Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao… Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ
- Tính năng động: Nhiều SV vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành
tư duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty ngay khi đang còn là SV), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện) Nhiều SV cùng một lúc học hai trường, hoặc vừa học nhưng đồng thời cũng đi làm để tiếp thêm kiến thức và kinh nghiệm
- Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn liền với sự định hướng cụ thể Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: SV hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng
Trang 38của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không Có thể khẳng định SV hiện nay sống có lý tưởng, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân
- Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong SV trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng
- Tính cá nhân: Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là SV Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân Sự hy sinh vì quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận SV
Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế M i đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực trong nhận thức đạo đức của SV
2.2.2 Về định hướng giá trị mục đích sống
Trang 39Trên cơ sở tìm hiểu sự lựa chọn các hoạt động cơ bản của SV bằng phương pháp phân tích nhân tố và phân tích phân loại đã cho thấy ba kiểu sống cơ bản của SV hiện nay Qua đó chúng ta dễ dàng nhận ra định hướng giá trị mục đích
sống của SV hiện nay
- Số lượng SV sống khép mình, ít tham gia các hoạt động xã hội chiếm một
tỉ lệ tương đối lớn, tới 60% Kiểu sống của nhóm SV này chiếm t lệ cao nhất trong các kiểu sống của SV tại TP.HCM Họ vẫn chú ý đến học tập và thường gặp gỡ, thăm hỏi bạn bè và người thân nhưng thường trong phạm vi hẹp Ngoài
ra họ còn xem ti vi, đọc sách báo Có điều họ ít tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị, sinh hoạt tập thể Đây là cách sống thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hòa nhập vào đời sống xã hội Trước sự kiện đang xảy ra xung quanh mình, họ luôn tỏ thái độ bàng quan
Kết quả nghiên cứu trên còn cho thấy môi trường sống đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của SV Chẳng hạn, SV sống cùng với gia đình thể hiện một lối sống chăm lo bản thân và người thân, nhưng thiếu tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội chung Trong khi đó, những SV sống xa nhà lại gắn bó với cuộc sống tập thể và xã hội hơn Do vậy, lối sống tích cực ở họ cũng cao hơn hẳn những SV cùng sống với gia đình Đặc biệt môi trường sống ở ký túc xá đã ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành kiểu sống này
- Số lượng SV hướng vào vui chơi, hưởng thụ chiếm tới 10% Gồm những
SV hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang tính hưởng thụ, nhiều khi
vô bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách Đó là những điều quan tâm thường trực trong đời sống hàng ngày của nhóm SV này Tuy vậy, họ là những con người rất năng động, hứng thú với những hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ những thú vui của tuổi trẻ, thể hiện một lối sống tiêu dùng "sành điệu”
Trang 40- Số lượng SV say mê học tập chỉ chiếm 30% Ai cũng biết rằng trách nhiệm của người SV hôm nay đến giảng đường là để học hỏi, tìm kiếm một ngành nghề nào đó cho cuộc sống tương lai, hoặc để tự nâng cao kiến thức hiểu biết Nhưng điều đáng tiếc đã xảy ra: chỉ có 30% trong số họ thực hiện được công việc này Đây là nhóm SV có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng và say mê học tập Những hoạt động của nhóm SV này nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện cá nhân như học thêm, làm thêm, đọc sách, đi thư viện Đồng thời họ cũng thích xem biểu diễn nghệ thuật, tham gia vào các hoạt động
xã hội, câu lạc bộ, các lễ hội truyền thống Nhóm SV này hướng những hoạt động của mình vào mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân, đồng thời cũng có những hoạt động hướng ngoại tích cực như hướng đến những nơi giao tiếp công cộng, đại chúng Nơi họ đến và tham gia hoạt động là những tổ chức
hoạt động chính quy với mục đích lành mạnh
Một nghiên cứu mới đây của PGS.TS Nguyễn Công Khanh, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chỉ ra một loạt các con số về phong cách học của SV và trong đó, có không ít con số rất “giật mình” Theo PGS.TS Nguyễn Công Khanh, m i SV lớn lên trong môi trường văn hoá, xã hội khác nhau, hình thành những thói quen, cách suy nghĩ, các năng lực nhận thức, hứng thú cũng khác nhau Điều này tạo nên sự đa dạng và sự phong phú về phong cách học, một số
SV học tập tích cực, chủ động, một số khác lại tỏ ra thụ động, thích im lặng ngồi nghe hơn là tranh cãi Cũng từ đó, PGS.TS Nguyễn Công Khanh đã dùng các con số của mình để trả lời các câu hỏi: Phong cách học tập của SV có mối liên
hệ như thế nào đến thành tích học tập? Những phong cách học tập nào giúp SV
dễ dàng gặt hái sự thành công học đường? Có sự khác nhau đáng kể về phong cách học tập giữa SV học các ngành học khác nhau? Một số thống kê khác như: + Hơn 50% SV được khảo sát không thật tự tin vào các năng lực/ khả năng học của mình, hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học; gần 70% SV