Nhiều thuật ngữ nếp sống được nhắc đến trong toàn văn của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 như “…Xây dựng con người VN trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau: có lối sống lành
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Vinh-2010
Trang 2CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ NẾP SỐNG VĂN HÓA CỦA SINH VIÊN Ở KÝ TÚC XÁ
TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ VĂN HÙNG
Trang 3sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo nước nhà chính là niềm tự hào của chúng tôi
những học viên được ngồi trên giảng đường ngày hôm nay
Hai năm học tập nghiên cứu, mặc dù có nhiều khó khăn, vất vả nhưng tôi
cảm nhận sâu sắc, đó là thời gian để tôi trưởng thành về mọi mặt
Nhờ có công lao giảng dạy tận tình của các thầy cô giáo, trong quá trình
học tập, nghiên cứu tôi đã đạt được một số kết quả về nhận thức lý luận
trong quản lý giáo dục để vận dụng vào thực tiễn công tác, hoàn thành tốt
nhiệm vụ giảng dạy, đào tạo các thế hệ sinh viên trường Cao đẳng Múa
Việt Nam
Với sự nhiệt tình, tâm huyết và những bài giảng sinh động, gắn liền với thực
tiễn cuộc sống của các thầy,cô giáo đã ghi ấn tượng sâu sắc và niềm tự hào
trong tôi về một mái trường không thể nào quên Vì vậy cho phép tôi được
chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo; các thầy, cô khoa
Sau Đại học trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tận tình giảng
dạy, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Cao đẳng
Múa Việt Nam, các khoa, phòng chức năng và đồng nghiệp đã động viên, tạo
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học và luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS-TS Hà Văn Hùng,
người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 9 năm 2010
Tác giả
Trang 41 Lý do chọn đề tài:
Trong qúa trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc , Đảng và nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp phát triển giáo dục văn hoá Nếp sống văn hoá Năm 1990 Ban Nếp Sống mới Trung Ương (TW) được thành lập do Ban Bí thư TW Đảng trực tiếp chỉ đạo , do yêu cầu nhiệm vụ sau 3 năm đổi mới , đến năm
1989 Ban Nếp Sống mới Trung Ương có tên là Ban chỉ đạo Nếp sống văn hóa trung ương ( NSVHTW) Cả nước đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng Nếp sống văn hoá – Gia đình văn hoá trong tình hình mới nhằm xây dựng cho cá nhân , gia đình và xã hội có nếp sống văn hoá
Nhằm thể chế hoá quan điểm của Đảng , Tư tưởng Hồ Chí Minh về Thanh niên và công tác Thanh niên , tăng cường chăm lo giáo dục bồi dưỡng , rèn luyện Thanh niên , bảo vệ Thanh niên trước các tác động của hiện tượng tiêu cục trong XH , đồng thời phát huy tính xung kích , tiềm năng to lớn của TN, trách nhiệm của TN trong thời kỳ đổi mới CNH- HĐH , trong chương II điều 13 của luật thanh niên (có hiệu lực bắt đầu từ 01/07/2006)có ghi :” TN thường xuyên rèn luyện đạo đức , tác phong, hành
vi ứng xử văn hoá , thực hiện nếp sống văn minh ”
Trường Cao Đẳng Múa Việt Nam - Vườn ươm lớn của nghệ thuật Múa Việt Nam - được thành lập năm 1959 với nhiệm vụ đào tạo diễn viên múa chuyên nghiệp cho các nhà hát, các đoàn văn công, các đơn vị nghệ thuật trong
cả nước
Trải qua 50 năm xây dựng và trưởng thành, Trường Cao Đẳng Múa Việt Nam đang từng bước hội nhập quốc tế trong lĩnh vực đào tạo diễn viên múa
Trang 5Trường Cao Đẳng Múa Việt Nam còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của thực tiễn xã hội trong thời kỳ hội nhập
Phần lớn HS-SV trường Cao Đẳng Múa Việt Nam đều ở tỉnh xa về Hà Nội nên nhu cầu được ở KTX là rất cần thiết Được sự đầu tư của Bộ văn hoá Thể thao và Du lịch HS-SV trường Cao đẳng Múa Việt Nam được ở trong khuôn viên khu KTX các trường văn hoá Nghệ thuật Tuy vậy số lượng HS-
SV ngoại tỉnh được ở KTX còn hạn chế
Có thể nói quản lý SV ở KTX của trường trong những năm qua đã có những bước đầu đáng khích lệ góp phần giáo dục SV có phẩm chất đạo đức , năng lực biểu diễn đáp ứng nhu cầu cung cấp diễn viên Múa cho cả nước Bên cạnh những ưu điểm vẫn còn một số hạn chế nhất định về nội dung hình thức biện pháp quản lý NSVH của SV Do vậy NSVH của SV trong KTX chưa thật sự đi vào nề nếp Điều này đòi hỏi nhà trường phải xem xét đánh giá thực trạng công tác quản lý NSVH của SV ở KTX Trong những năm qua, tại các trường văn hoá nghệ thuật trên địa bàn HN chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý NSVH của SV nói chung & SV ở KTX của trường Cao đẳng Múa Việt Nam nói riêng
Xuất phát từ lý do trên , tác giả đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu: “Các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trường Cao đẳng Múa Việt Nam ” làm đề tài tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý
giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu :
Trang 6lượng quản lý SV của nhà trường
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSVH của SV ở KTX trường Cao đẳng Múa Việt Nam
+ Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý NSVH của SV ở KTX trường Cao đẳng Múa Việt Nam
4 Giả thuyết nghiên cứu
Bằng việc đề xuất và phối hợp thực hiện các biện pháp có tính khoa học, hợp lý thì sẽ nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trường Cao đẳng Múa Việt Nam
5 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu :
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý NSVH của SV ở KTX trường Cao đẳng Múa Việt Nam
5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý NSVH của SV ở KTX trường Cao đẳng Múa Việt Nam
5.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trường Cao đẳng Múa Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 7- Phương pháp điều tra
8 Cấu trúc của luận văn:
Phần mở đầu
Phần nội dung
Phần kết luận chung và kiến nghị
Trang 8SINH VIÊN Ở KÝ TÚC XÁ 1.1 SƠ LƢỢC VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Vấn đề nghiên cứu nếp sống đã được đề cập từ lâu qua nhiều tác phẩm
nghiên cứu công phu như: “ Bộ Thiên Nam dư hạ tập thời Lê Thánh Tông còn ghi lại nhiều quy định của nhà nước về phong tục và nếp sống trong nhân dân:
từ việc ăn uống, quần áo, nhà cửa cho đến đám cưới, đám ma, cùng mọi sinh hoạt trong gia đình và làng xã” [19] Nhà vua xem việc ban hành những quy định ấy là công việc rất cần thiết nhằm củng cố quyền quốc gia và để bảo vệ sự thống trị của mình
Cụ Phan Kế Bính (1875 – 1921) là một nhà biên khảo và dịch thuật xuất sắc, có công phu, sáng tạo và có tư tưởng tiến bộ, ông nghiên cứu công phu về các phong tục tập quán của dân tộc VN qua bao thăng trầm của lịch sử 4000 năm Trong tác phẩm “VN phong tục” của ông, hầu hết những phong tục XH, phong tục trong gia tộc , thói quen, nếp sống của con người VN kể từ xưa đến đầu thế kỷ XX được tác giả phản ánh một cách khách quan, từ đó ca ngợi những phẩm chất, thói quen tốt của con người VN, đồng thời mạnh dạn phê phán các yếu tố lạc hậu, trì trệ trong các phong tục, thói quen, nếp sống…không phù hợp với thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa lớn của dân tộc và nhân loại cũng đã nhấn mạnh việc xây dựng “ Đời sống mới” (sau này đổi thành nếp sống mới), cách làm mới, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ lòng nhân
ái, kính già, yêu trẻ, có lối sống thật thà, khiêm tốn, trung thực, yêu lao động, yêu đồng bào và yêu tổ quốc Trong lúc nước nhà chưa thống nhất, việc “ xóa
Trang 9bỏ, cải tạo nếp sống cũ lạc hậu và xây dựng nếp sống mới là nhiệm vụ to lớn và
phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành, như Hồ Chủ Tịch nói: Một cách rất cẩn thận,
rất chịu khó, rất lâu dài”[30]
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng VN, ĐCSVN luôn quan tâm đến vấn đề văn hóa NSVH, coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng XH mới, con người mới Vấn đề
nghiên cứu nếp sống, NSVH đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu
nếp sống, NSVH đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu, nhiều văn
bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước
Từ khi miền nam được giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, Đại
hội lần thứ IV và lần thứ V của Đảng đã đề ra đường lối xây dựng nếp sống
mới trong từng văn kiện Trong Đại hội IV, văn kiện đã dùng khái niệm “ nếp sống mới có văn hóa”, vận động một cách kiên trì và sâu rộng để tạo ra nếp
sống mới có văn hóa trong XH, đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất Trong Đại hội , Nghị quyết đã nhấn mạnh: “ kiên trì xây dựng nếp sống mới lành mạnh, khoa học, tiết kiệm và giản dị, bảo vệ và phát triển các giá trị tinh thần Kiên quyết bài trừ hủ tục, mê tín, dị đoan, …Tất cả những việc đó nhằm làm cho tư tưởng, tình cảm lối sống mới thật sự chiếm ưu thế trong đời sống nhân dân.” [30]
Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Đề cương văn hóa của Đảng, đồng chí Trường Chinh trình bày vấn đề lối sống, nếp sống: “ Nếp sống mới gắn liền quyền lợi với trách nhiệm và nghĩa vụ… xây dựng CNXH, bảo vệ tổ quốc, tôn trọng luật pháp, giữ gìn trật tự an ninh…không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ của mỗi người, được thực hiện với ý thức tự giác.” [30]
Trang 10Năm 1980 Ban nếp sống mới TW được thành lập do Ban Bí thư TW ĐCS VN trực tiếp chỉ đạo , đến năm 1989 có tên là Ban chỉ đạo NSVHTW Cả nước đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng NSVH – gia đình văn hóa trong tình hình mới nhằm xây dựng cho cá nhân, gia đình và XH có nếp sống văn hóa Nghị quyết Đại hội ĐCSCN lần thứ VII nhấn mạnh: “ Xây dựng gia đình văn hóa mới có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi người…hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hóa.” [46]
Thông báo số 178– TB/TW ngày 29/3/1996 của Ban Bí thư về tăng cường nghiên cứu và chỉ đạo vấn đề gia đình sau 10 năm đổi mới có nêu: “
…đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa ở tất cả các địa phương, coi đây là công tác trọng tâm của cuộc vận động xây dựng NSVH hiện nay.” [1] Tiếp sau đó, trong hai ngày 22,23/8/1996 Hội nghị “ Bàn về công tác xây dựng gia đình văn hóa các tỉnh phía Bắc” đã được tổ chức, Hội nghị nhất trí đề xuất những kiến nghị với Nhà nước và Bộ văn hóa – Thông tin như sau:
“…tiếp tục coi công tác xây dựng gia đình văn hóa có tầm chiến lược quốc gia,
đề nghị nhanh chóng có kế hoạch cụ thể kiện toàn Ban chỉ đạo NSVHTW để có biện pháp hữu hiệu, kịp thời củng cố và xây dựng gia đình văn hóa trong tình hình hiện nay.”[7]
Ngày 16/7/1998, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, khóa VIII của BCHTW ĐCSVN ra đời, đây là Nghị quyết định hướng chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nội dung Nghị quyết
bao gồm 6 vấn đề quan trọng, trong đó vấn đề giáo dục tư tưởng, đạo đức, nếp
Trang 11sống được đặt lên hàng đầu Nhiều thuật ngữ nếp sống được nhắc đến trong
toàn văn của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 như “…Xây dựng con người VN trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau: có lối sống lành mạnh,
nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép
nước…Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa , nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc
xây dựng nếp sống văn minh…Coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, đạo đức, nếp sống văn hóa,
lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đồ của đất nước…Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, mở rộng
mạng lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số…Xây dựng nếp sống văn minh
trong tiệc cưới, việc tang, lễ hội, đẩy lùi hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma túy, mại dâm, bạo lực, gây rối trật tự công cộng…khuyến khích nhân dân các xã, phường, thôn, ấp, cụm dân cư, khu tập thể, xí nghiệp, cơ quan xây dựng các
quy ước về nếp sống văn hóa, giữ gìn trật tự vệ sinh công cộng, bảo vệ môi
trường thiên nhiên, cảnh quan sạch đẹp, …”
Hội nghị lần thứ 9 BCHTW ĐCSVN khóa IX đã nhấn mạnh: “…Tăng cường quản lý nhà nước, hoàn thiện cơ chế, chính sách và giải pháp đẩy mạnh
việc xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh; hình thành các giá trị con người
mới, giá trị XH mới làm cơ sở và động lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”, đặc biệt, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X(2006) đề cập việc “…Phát huy tính năng động, chủ động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ Quốc, các đoàn thể nhân dân, các hội văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, các hộ gia đình, cá nhân, các trí thức tham gia hoạt động trên
Trang 12các lĩnh vực văn hóa Xây dựng và triển khai chương trình giáo dục văn hóa –
thẩm mỹ, nếp sống văn minh, hiện đại trong nhân dân “ [46]
Như vậy, có thể khẳng định các nhà lãnh đạo đất nước, quản lý XH rất
quan tâm đến việc xây dựng, quản lý nếp sống, NSVH của các tầng lớp nhân
dân, trong đó có lực lượng TN, HS, SV
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Nhà nước các nhà khoa học, văn hóa,
giáo dục…đã tập trung nghiên cứu vấn đề nếp sống, NSVH của các tầng lớp
nhân dân, do vậy có nhiều sách, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như :
Sách : Bàn về lối sống và nếp sống XHCN của nhà XB Văn hóa Hà Nội –
1985 Cuốn sách là công trình nghiên cứu tập thể một số cán bộ Viện Văn hóa, sách cung cấp một số lý luận cơ bản chung quanh vấn đề xây dựng lối sống,
nếp sống XHCN, đề cập đến những khái niệm về lối sống, nếp sống, phân tích
sự khác nhau giữa khái niệm đó,…mạnh dạn đề xuất những khuôn mẫu và
những biện pháp đề xây dựng nếp sống XHCN ở nước ta
Bài : Tác dụng của pháp chế XHCN trong việc xây dựng lối sống XHCN
và NSVH của con người làm chủ tập thể cảu tác giả Ngô Bá Thành (1985), nội
dung bài viết đề cập : Tăng cường pháp chế XHCN là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân và làm tròn chức năng của chuyên chính vô sản… Đòi hỏi phải khẩn trương xây dựng nề nếp quản lý XH theo pháp luật, tự giác tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh pháp luật “Xây dựng lối sống XHCN bằng cuộc vận động xây dựng NSVH thì một việc làm không thể thiếu được chính là biến phương châm : Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật thành nếp sống hàng ngày của nhân dân.” [30]
Trang 13Tác phẩm : Con người văn minh sống như thế nào,NxB, Hà Nội, 1995, của cố GS Nguyễn Lân đã đề cập đến vấn đề nếp sống văn minh của thế hệ trẻ;
trước tình hình của một bộ phận TN, thiếu niên ngang ngược, không kính già, mến trẻ, ăn nói xấc xược, hành động bừa bãi…làm cho gia đình, XH lo lắng, bi quan về tương lai của dân tộc; bên cạnh sự lơ là của gia đình, sự sơ xuất của trường học thì lý do chính là từ nhỏ đến lớn, thanh niên chưa có “ những ý niệm minh bạch về nếp sống văn minh của con người, mặc dù có nhiều sách lý luận nhiều bài giảng chính trị nhưng thanh niên , thiếu niên chưa được biết những điều cụ thể trong nếp sống hàng ngày.” [21, tr.25]
Chính vì vậy, cố GS Nguyến Lân đã nghiên cứu và chỉ ra những nếp
sống văn minh trong đời sống hàng ngày của bản thân (rèn luyện về thể chất, về
tinh thần, về tập quán), nếp sống văn minh trong gia đình, quan hệ hàng xóm, láng giềng, quan hệ với thầy và bạn, quan hệ với đồng nghiệp, đồng sự, nếp
sống văn minh ở ngoài đường, nơi công cộng và trong giao tiếp; có thể nói đây
là một tác phẩm hay, có giá trị ở hiện tại và trong tương lai sau này trong việc
giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ để trở thành con người có nếp sống văn minh Trong tác phẩm: Giáo dục con người hôm nay và ngày mai, 1995, GS
VS Phạm Minh Hạc cũng đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan nhiều đến thế
hệ trẻ, vấn đề giáo dục con người văn hóa, xây dựng con người văn hóa là “ sự vận động của các mối giao tiếp văn hóa, thể hiện trong ứng xử của từng người
và nếp sống, trật tự kỷ cương của XH”, [16] nói lên nghĩa vụ và quyền lợi của
từng người và cộng đồng trong mọi công việc, từ sản xuất, học tập đến sinh hoạt, vui chơi
Cùng với các tỉnh, thành phố trong cả nước quan tâm đến việc xây dựng phát triển quê hương ngày càng giàu và đẹp, Hà Nội được xem như là một
Trang 14trong những thành phố năng động của cả nước Bên cạnh công tác chỉnh trang
đô thị, tôn tạo và xây dựng mới cơ sở hạ tầng cho thành phố một diện mạo mới thì Hà Nội là một trong những thành phố đặc biệt chú trọng đến việc phát động
nhiều phong trào nhằm xây dựng NSVH, văn minh cho nhân dân, cụ thể là:
phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phong trào thi đua
thực hiện Nếp sống văn minh đô thị, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường
đã được triển khai rộng khắp, góp phần xây dựng NSVH - văn minh đô thị Trong tác phẩm: Xây dựng và phát triển nền văn hóa VN tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, (2001) tác giả Nguyễn Khoa Điềm cũng đã khái quát
những vấn đề trọng tâm của việc phát triển văn hóa, việc hình thành nền tảng tinh thần của XHVN hiện đại đặt ra cho văn hóa những trọng trách, đó là mối quan tâm thường xuyên đến nhân tố con người, không ngừng cổ vũ, hướng con người tới các giá trị chân, thiện, mỹ, phấn đấu cho hạnh phúc chính đáng của chính mình và góp ngày càng nhiều cho XH Kiên quyết lên án sự suy thoái đạo đức, lối sống, bài trừ các thói hư, tật xấu, đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, quan liêu, vô trách nhiệm, coi thường kỷ cương, phép
nước Đề cao và nhân rộng những tấm gương tốt đẹp trở thành nếp sống lành
mạnh của XH
Luận văn Thạc sĩ:Một số biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho SV
nội trú trường Cao đẳng Giao thông Vận tải 3, (2004) của Nguyễn Văn Toàn
Tác giả đã nghiên cứu thực trạng và quản lý giáo dục nếp sống cho SV nội trú trường Cao đẳng Giao thông Vận tải 3 và đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục cho SV, tập trung những biện pháp: Tạo sự phong phú về nội dung giáo dục nếp sống SV trong các hoạt động ở KTX, tổ chức SV tự quản trong hoạt động, củng cố tổ chức quản lý KTX, đảm bảo trật tự an ninh trong
Trang 15KTX…trong các biện pháp, tác giả chưa nhấn mạnh đến vai trò của GVCN trong việc quản lý nếp sống SV, đẩy mạnh hoạt động giao lưu với các KTX bạn
để học hỏi kinh nghiệm tổ chức, quản lý và thường xuyên bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho các bộ quản lý KTX…Mặt khác tác giả chưa nhấn mạnh từng biện pháp có ảnh hưởng trực tiếp như thế nào đến hoạt động của nhà trường, BQL KTX…Đây là những vấn đề khá quan trọng góp phần không nhỏ vào việc
quản lý nếp sống SV nội trú
Qua sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề, tôi nhận thấy chủ trương của Đảng, Nhà nước về vấn đề xây dựng NSVH nhân dân đã có từ lâu, có một số nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà khoa học,….đã có công trình nghiên cứu về vấn
đề NSVH, song ít thấy công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý NSVH của SV nói chung, SV ở KTX nói riêng Và nhiều năm qua tại Hà Nội và tại Trường Cao đẳng Múa VN chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý NSVH của SV ở KTX Do vậy, tôi mạnh dạn chọn vấn đề một số biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX Trường Cao
đẳng Múa VN để nghiên cứu nhằm mục đích góp phần trực tiếp vào việc quản
lý NSVH của SV ở KTX trường Trường Cao đẳng Múa VN ngày một hiệu quả
hơn
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một hiện tượng trong XH có từ rất lâu đời, được nẩy sinh trong quá trình lao động chung của loài người Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, các nghiên cứu đã có nhiều cách định nghĩa về khái niệm quản lý dựa trên những cách tiếp cận khác nhau
Trang 16Theo từ điển Giáo dục học: Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [16]
Trong thời đại công nghiệp các nhà quản lý phương Tây rất chú ý đến khía cạnh kinh tế và hiệu quả của hoạt động quản lý, Frederick Winslow Taylo (1856-1925) – nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động cho rằng: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và
Các định nghĩa trên cho chúng ta thấy sự phong phú trong cách sử dụng thuật ngữ, trong cách diễn đạt, trong những cách tiếp cận khác nhau….Theo tác
giả, có thể hiểu khái niệm quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có kế
hoạch, có tổ chức, định hướng, kiểm tra, điều chỉnh của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu đã dự kiến
1.2.1.2 Chức năng quản lý
Trong quản lý, chức năng quản lý là kết quả của quá trình phân công lao động và là bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, được tách riêng và có
Trang 17tính chuyên môn hóa Các chức năng cơ bản của quản lý gồm: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
+ Kế hoạch hóa: là vạch ra kế hoạch hành động theo một thời gian,
phạm vi nhất định trên cơ sở thực trạng, lộ trình, biện pháp thực hiện, dự báo tình huống có thể xảy ra của tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến
+ Tổ chức: Là hình thành nên những cơ chế phối hợp giữa các thành
viên, bộ phận trong đơn vị, đảm bảo sự chỉ huy thống nhất, xử lý công việc hàng ngày của người quản lý nhằm đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra Nhờ việc
tổ chức có hiệu quả người quản lý có thể điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (vật lực và tài lực) một cách khoa học nhằm nâng cao hiệu quả, năng suất vận hành của đơn vị
+ Chỉ đạo: Là các phương pháp, cách thức tác động của chủ thể quản lý
làm cho tất cả các thành viên của đơn vị phối hợp, đoàn kết với nhau và thực hiện trách nhiệm của từng người, cống hiến tốt nhất trên từng cương vị công tác, từ đó làm cho toàn bộ tổ chức vận hành một cách hữu hiệu để đạt được mục tiêu của đơn vị
+ Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức để xem
xét thực tế, theo dõi giám sát quá trình và kết quả hoạt động, tiến hành uốn ắn, điều chỉnh những hạn chế, thiếu sót, sửa chữa những hoạt động sai trái của các thành viên trong tổ chức, khuyến khích khen thưởng những thành viên thực hiện tốt kế hoạch đem lại kết quả cao cho tổ chức; đồng thời xem lại những quyết định quản lý để có sự điều chỉnh quyết định kịp thời phù hợp với tình hình đơn vị
Hiểu được khái niệm quản lý, chức năng quản lý giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về công tác quản lý, đồng thời đây là cơ sở quan trọng để
Trang 18nắm được khái niệm quản lý trên một lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như quản lý NSVH của SV
1.2.2 Nếp sống văn hóa của SV
1.2.2.1 Văn hóa
Văn hóa do con người sáng tạo ra, đến lượt mình con người lại trở thành một sản phẩm của văn hóa, của XH Để có một sự hài hòa giữa XH, văn hóa và con người, sự tồn tại của một cộng đồng, một dân tộc…buộc phải quy định ra những khuôn mẫu, tiêu trí văn hóa cho những con người trong cộng đồng, trong
XH, trong một quốc gia Sự quy định ấy phải thể hiện bằng pháp chế, bằng dư luận, bằng cách tạo ra những thói quen, phong tục tập quán truyền thống…
* Khái niệm văn hóa
Khái niệm văn hóa được nhiều người đề cập, vào năm 1994, trong công
trình Văn hóa VN và cách tiếp cận mới, PGS Phan Ngọc cho biết: “ Một nhà
dân tộc học Mỹ đã dẫn ngót bốn trăm định nghĩa về văn hóa khác nhau” [13]
Do vậy, trên thế giới hiện nay, có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các cơ quan nghiên cứu…đã nghiên cứu về văn hóa, bằng kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu sắc của mình trên từng lĩnh vực, với cách tiếp cận khác nhau trên cương vị công tác của mình đã có những khái niệm về văn hóa như sau:
Ông Federico Mayor, cựu Tổng giám đốc UNESCO cho rằng: “ Văn hóa
là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.” [19]
Thập niên 40 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày một quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
Trang 19mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc,
ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hóa.”[26]
Nguyên thủ tướng Phạm Văn Đồng đã kế thừa tư tưởng của Bác và cho rằng: “ Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà cơ liên quan tới con người trong một quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử….cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và đẹp nhất của nó, bao gồm cả
hệ thống giá trị, tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo về tài sản và bản lĩnh các dân tộc cộng đồng, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình
và không ngừng lớn mạnh.” [15]
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và XH của mình [36]
Có thể thấy sự phong phú trong cách sử dụng thuật ngữ, diễn đạt với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã dùng ở một số định nghĩa đã nêu trên, qua
nghiên cứu chúng tôi nghĩ khái niệm văn hóa cũng có thể hiểu như sau: Văn
hóa là toàn bộ những giá trị vật chất hay tinh thần được hình thành theo thời gian qua sự tác động sáng tạo của con người vào tự nhiên, XH và chính con người để vươn tới sự hoàn thiện góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển không ngừng của đời sống XH loài người
Trang 20Để hiểu rõ khái niệm văn hóa và phân biệt một khái niệm gần với khái
niệm văn hóa (culture) đó là khái niệm văn minh (civilization); bởi lâu nay, không ít người vẫn sử dụng văn minh như một từ đồng nghĩa với văn hóa
“ Văn minh (văn nghĩa là vẻ đẹp, minh là sáng) là khái niệm có nguồn gốc từ phương Tây chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, nó đặc trưng cho một thời đại và một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại.”
[36] Hai khái niệm văn hóa và văn minh “gần gũi, có liên quan mật thiết với nhau song không đồng nhất” [36]; trong khi văn hóa luôn luôn có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ cho biết một trình độ phát triển của văn hóa; thực tế chứng minh như sau: nếu như vào thế kỷ XIX, chiếc đầu máy hơi nước đã từng
là biểu tượng của văn minh thì sang thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI nó là biểu tượng của sự lạc hậu và nhường chỗ cho máy vi tính, máy kĩ thuật số, phi thuyền bay vào vũ trụ…
“ Ở VN còn có các khái niệm: văn hiến, văn vật đó là những khái niệm
bộ phận của văn hóa” [36]; hai khái niệm này khác với khái niệm văn hóa ở độ bao quát các giá trị: “ văn hiến là văn hóa thiên về các giá trị tinh thần, còn văn vật là văn hóa thiên về các giá trị vật chất.” ” [36]
*Chức năng của văn hóa: Văn hóa có 4 chức năng: tổ chức xã hội, điều
chỉnh xã hội, giáo dục, giao tiếp ” [36]
+ Chức năng tổ chức xã hội: “ Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ
ổn định của xã hội, cung cấp cho XH mọi phương diện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và XH của mình.” ” [36] Thể hiện của chức năng này đó là: tận dụng môi trường (nếu tác động của môi trường là tích cực), đối phó vơi
Trang 21môi trường (nếu tác động của môi trường là tiêu cực) và chủ động cải biến, sáng tạo ra môi trường
+ Chức năng điều chỉnh XH: Văn hóa định hướng các giá trị, xem xét,
phân loại các giá trị, điều chỉnh các ứng sử của con người, “giúp cho XH duy trì trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến động của môi trường để tồn tại và phát triển.” ” [36]
+ Chức năng giáo dục: Nhờ chức năng giáo dục mà truyền thống văn
hóa được tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác
+ Chức năng giao tiếp: Văn hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan
trọng bởi văn hóa luôn gắn liền với con người và hoạt động của con người trong XH, thể hiện cụ thể: “giao tiếp giữa cá nhân trong một dân tộc, giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau, giữa các nền văn hóa khác nhau trên thế giới.” ” [36,]
1.2.2.2 Nếp sống văn hóa
* Khái niệm nếp sống văn hóa
Trong cuộc sống, những ý nghĩ việc làm, sinh hoạt…được lặp đi, lặp lại hàng ngày, dần dần trở thành thói quen, thành một hệ thống tập quán tạo nên
nếp sống Nói cách khác, Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy
ước…đã trở thành thói quen trong các lĩnh vực của cuộc sống, ví dụ như: trong sản xuất có cách thức trồng trọt, chăn nuôi,…trong sinh hoạt có thói quen ăn, mặc, ở, giao tiếp…;trong đời sống XH có phong tục tập quán, lễ nghi, pháp
luật…Nhờ có nếp sống mà những kinh nghiệm quý báu của con người và XH được giữ gìn và phát triển và cũng nhờ có nếp sống mà con người và XH không
cần phải đi đường vòng, không phải bắt đầu lại quá trình lịch sử mà nhân loại
đã trải qua
Trang 22Trong từ điển Tiếng Việt ” [47], nếp có hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất: vệt hằn trên bề mặt nơi bị gấp lại của vải, lụa, da, vv…(quần áo còn nguyên nếp, nếp nhăn trên má): theo nghĩa thứ hai: Lối, cách sống, hoạt động đã trở thành thói quen (nếp sống văn minh, thay đổi nếp theo suy nghĩ)
Một số tác giả đã có những khái niệm khác nhau về nếp sống như sau:
Tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: Nếp sống là lối sống đã đi vào nề
nếp được XH quy định bởi những pháp chế, tập tục hay luật lệ được dư luận
đông đảo quần chúng của XH chấp nhận ” [44] Theo tác giả Lê Như Hoa: Nếp
sống là những hành vi ứng sử của con người đã được lặp đi lặp lại nhiều lần
thành nếp, thành thói quen, thành phong tục được XH công nhận ” [30] Tác
giả Lê Thanh cho rằng:” Nếp sống là những quy ước được lặp đi, lặp lại và trở
thành thói quen trong sinh hoạt, phong tục tập quán và hành vi đạo đức [23]
Qua tìm hiểu, nghiên cứu chúng tôi hiểu khái niệm nếp sống như sau:
nếp sống là những biểu hiện hành vi ứng sử của con người trong các lĩnh vực của cuộc sống (sản xuất, sinh hoạt, đời sống XH, gia đình,…) đã được hình thành, trải nghiệm và ổn định theo thời gian
* Nếp sống văn hóa
Theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn: NSVH tức là nếp sống phù hợp với văn hóa của một XH, một dân tộc, một tộc người, một đất nước nhất định [44] Trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, NSVH của một đơn vị, một lứa tuổi, một thế hệ…là một bộ phận của văn hóa dân tộc, NSVH ấy vừa mang tình phổ quát, vừa có tính dân tộc và phù hợp với xu thế chung của nhân loại, vừa mang nội dung của chế độ XH mà đất nước, dân tộc đó lựa chọn
Điều tất yếu và là nhân tố quan trọng quyết định trong việc xây dựng một NSVH của dân tộc VN đang trên chặng đường quá độ tiến tới một XH XHCN
Trang 23là: NSVH của con người VN nói chung, của thanh niên nói riêng không chấp nhận lối sống lấy đồng tiền làm thước đo mọi giá trị con người, lấy cạnh tranh không lành mạnh, lừa gạt, bịp bợm làm lẽ sống, lấy sự chà đạp lên danh dự, phẩm giá người khác, mua quyền, bán chức làm phương tiện để vươn lên địa vị cao sang trong XH, lấy sự gian dối, cơ hội, thiếu trung thực để đạt được những
gì mình mong muốn
Chúng tôi cho rằng: NSVH của SV là những biểu hiện hành vi ứng xử
của SV trong các hoạt động học tập, giao tiếp, hoạt động cá nhân, tập thể…đã được hình thành, rèn luyện, ổn định theo thời gian, phù hợp với các quy định, văn hóa của nhà trường, phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH và được cộng đồng chấp nhận
1.2.2.2 Một số khái niệm liên quan
Nếp sống, lối sống là những khái niệm gần gũi, liên quan đến nhau nhưng không đồng nhất với nhau
Lối sống của một dân tộc, một đất nước bao hàm một nội dung gắn liền với những hình thức sinh hoạt của tất cả mọi người trong cộng động trải ra nhiều lĩnh vực hoạt động, đảm bảo các chuẩn mực văn hóa và do tính chất của
XH, của dân tộc, của đất nước quy định Trong từng giai đoạn lịch sử, bên cạnh lối sống chung mang dấu ấn của cả nước, cả dân tộc thì mỗi ngành, mỗi giới, mỗi thành phần giai cấp…thậm chí từng gia đình, từng cá nhân đều có lối sống riêng của mình Sự riêng biệt của những lối sống này chỉ có thể chấp nhận được một khi nó phù hợp với lối sống chung của cộng đồng, không đi ngược với lợi ích của cộng đồng
Vì vậy, tùy theo cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã có những khái niệm về lối sống không hoàn toàn giống nhau:
Trang 24Lối sống là toàn bộ những hình thức, hoạt động sinh sống tiêu biểu xuất
hiện trong những quan hệ kinh tế - XH nhất định của các dân tộc, giai cấp, các nhóm XH, cá nhân trong sản xuất vật chất và tinh thần, trong phạm vi XH – chính trị và riêng tư thường ngày, trong những mối quan hệ của mội người và trong đời sống cá nhân [32]
Lối sống là một phạm trù XH học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm XH, các cá nhân trong những điều kiện một hình thái kinh tế - XH nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa [19]
Có thể nói, lối sống là thước đo về trình độ dân trí, sinh hoạt vật chất, tinh thần của cong người và của XH, lối sống được thể hiện ở lẽ sống, nếp sống lành mạnh, con người có thể trở thành con người có văn hóa và XH không ngừng tiến bộ, phát triển
Lẽ sống là sự lựa chọn chủ quan của con người về một lối sống; nó luôn
túc trực và sẵn sàng giải đáp mọi lúc mọi nơi cho con người về ý nghĩa sự tồn tại hàng ngày của họ Trong hoàn cảnh dân tộc ta bị áp bức, nhân dân bị nô
dịch, nước nhà chưa thống nhất thì lẽ sống của con người phải là độc lập, tự
do; mà lẽ sống của con người VN có lương tâm đó là thực hiện theo như lời
Bác Hồ dạy: “ Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, biết làm giàu cho bản thân, gia đình và cho XH, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh, văn minh
Mức sống là một chỉ báo về lối sống, nói lên trình độ sinh hoạt vật chất
(ăn, mặc, ở…) của con người từ mức thu nhập cá nhân và mức hưởng thụ phúc lợi XH (đi lại, học tập, sinh hoạt văn hóa, bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm XH,…)
Trang 25của cá nhân đó Mức sống được nâng cao là điều kiện vật chất cần thiết để con
người có thể nâng cao sức khỏe, phát triển tài năng, tổ chức tốt cuộc sống gia đình nhằm đóng góp nhiều của cải vật chất, tinh thần cho XH Do vậy, nâng cao mức sống là nhu cầu chính đáng và cũng là mục tiêu phấn đấu của Đảng,
Nhà nước ta và của mọi người Tuy nhiên, mức sống không thể đồng nhất với
lối sống Tức là, mức sống có thể ngang nhau nhưng lối sống có thể khác nhau,
không phải mức sống được nâng cao thì mọi mặt của lối sống đều tích cực, tốt đẹp; thực tế đã xảy ra, đó là có không ít những người sống một mức sống rất
cao song họ lại làm những việc bị XH lên án Ngược lại, có những người sống trong cảnh nghèo túng, nhưng họ lại vượt qua mọi khó khăn siêng năng, chịu khó, thường xuyên nâng cao trình độ học vấn và rèn luyện phẩm chất đạo đức
tốt Như vậy, mức sống của họ thấp song lối sống của họ rất đáng trân trọng Nắm được bản chất của khái niệm lối sống, lẽ sống và mức sống sẽ giúp
chúng ta có một thái độ đúng đắn trong việc không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân, đồng thời xây dựng một lối sống tốt đẹp và lẽ sống thật phù hợp ngay trong lúc đất nước đang chuyển mình sang thực hiện CNH, HĐH và hội
nhập quốc tế, mặt khác hiểu được khái niệm lối sống, lẽ sống và mức sống sẽ
giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn khái niệm nếp sống, NSVH
1.2.2.4 Sinh viên
* Một số đặc điểm của SV VN Thuật ngữ “ Sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh : Student, có nghĩa
là người làm việc, người học tập nhiệt tình, người đi khai thác và tìm kiếm tri thức [37,]
SV là những người đã tốt nghiệp THPT, đã qua kì tuyển sinh vào đại học, cao đẳng và được tuyển chính thức vào học các trường ĐH, CĐ SV xuất
Trang 26thân từ nhiều thành phần khác nhau và là lực lượng đông đảo của XH, số lượng tăng dần theo xu hướng phát triển của XH, họ đang theo học các ngành nghề khác nhau ở các trường ĐH, CĐ công lập và dân lập; họ có khả năng tiếp thu tri thức khoa học, nhạy bén, năng động và tinh tế đối với các vấn đề kinh tế, chính trị, XH, văn hóa nghệ thuật…Đại bộ phận SV trong độ tuổi từ 18 đến 22 tuổi, một ít trên 22 tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi này khác với lứa tuổi
HS THPT
Tâm sinh lý của SV tương đối phức tạp, qua nghiên cứu tìm hiểu, có thể thấy SV VN có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
+Về thể chất: Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, thể lực dẻo dai, cơ thể
tương đối hoàn thiện và dồi dào sức sống Tuy nhiên, cũng không ít SV không biết giữ gìn sức khỏe, phung phí sức lực vào những hoạt động không lành mạnh làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và nhiệm vụ trọng tâm là học tập, rèn luyện của mình
+ Về hoạt động nhận thức: SV có khả năng chú ý cao, đặc biệt là sự chú
ý có chủ định, sự quan sát mang tính mục đích rõ rệt Trí nhớ cũng phát triển tốt, ghi nhớ có ý nghĩa ngày càng chiếm ưu thế SV có khả năng tư duy loogic,
tư duy lí luận…và có khả năng làm những việc độc lập, sáng tạo; tuy nhiên, SV còn chủ quan trong nhận thức hay nhận thức chưa đầy đủ, có tính hiếu kỳ, tò
mò, đôi lúc cả tin…do đó một bộ phận không nhỏ SV dễ đánh giá các hiện tượng đời sống XH nông cạn và dễ có thái độ cực đoan đối với các sự việc xảy
ra trong XH, thậm chí một số SV dễ bị kích động, lôi kéo vào những việc làm sai trái, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức XH dẫn đến việc vi phạm những chuẩn mực, quy định pháp luật, Nhà nước
Trang 27+ Về mặt tình cảm: Ý thức đạo đức, tình cảm hình thành mạnh mẽ trong
lứa tuổi này, thế giới nội tâm cũng trở nên đa dạng, phong phú và thường có những mâu thuẫn nội tại, SV có nhu cầu giao tiếp rộng, nhạy cảm và giàu cảm xúc, dễ rung động trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè, các sự kiện XH, đặc biệt ở lứa tuổi này là xuất hiện tình yêu nam, nữ khác với các lứa tuổi khác; đa
số là những mối tình đẹp; tuy vậy trong nền kinh tế thị trường không ít SV đã
bị ảnh hưởng mặt trái của nó cho nên xuất hiện những kiểu tình yêu buông thả, thực dụng, phóng túng, sống thử
+ Về ý trí, tính cách: Nổi bật ở ý trí, tính cách của người SV là tính tự
lập, lòng tự trọng, có kế hoạch sống riêng của mình, độc lập trong phán đoán, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, tích cực tham gia các hoạt động tập thể, công tác XH…; đặc biệt, phong cách sống, khả năng ứng xử, lựa chọn phương thức hành động hầu như ít giống với thế hệ đi trước, đây là thời kỳ SV có thể đạt được những đỉnh cao trên nhiều lĩnh vực khoa học, văn hóa, nghệ thuật…bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng: khả năng tự ý thức của SV phát triển mạnh nhưng chưa chắc chắn; khả năng tự giáo dục của SV đã phát triển, có khả năng tự điều chỉnh hành vi, hứng thú, động cơ…song ít nhiều còn cực đoan trong việc đánh giá tự khẳng định bản thân
Có thể nói, lứa tuổi SV là thời kỳ phát triển tích cực nhất về mặt thể chất, nhận thức, tình cảm, ý trí, tính cách…là giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách; nhân cách của SV được hình thành và phát triển là nhờ phần lớn ở quá trình tự vận động và hoạt động tích cực của chính bản thân họ Điều đó kéo dài suốt cả cuộc đời song những năm tháng được sống, học tập và rèn luyện ở các trường ĐH, CĐ là thời kỳ hình thành và phát triển mạnh mẽ nhất về nhân cách
Trang 28của SV Chính vì vậy, nắm được đặc điểm tâm sinh lý của SV giúp cho các thầy, cô giáo có phương pháp truyền đạt các tri thức cơ bản, khoa học, hiện đại, đồng thời giúp các nhà quản lý giáo dục định hướng, quản lý, rèn luyện NSVH, hình thành nhân cách SV phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH, góp phần thực hiện mục tiêu GD&ĐT tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
* Tình hình SV các trường đại học, cao đẳng hiện nay
Trong nhà trường, SV là nhân vật trung tâm Đa số SV có ý thức chính trị tốt, quan tâm đến các vấn đề của XH, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo; hầu hết có lối sống lành mạnh, tích cực tham gia các hoạt động XH như phong trào TN tình nguyện tham gia hoạt động hè, giữ gìn trật tự giao thông, hướng dẫn mùa thi, …Trong điền kiện đất nước mở cửa, việc giao lưu, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau của thế giới, đa số SV vẫn giữ được bản lĩnh, có nếp sống lành mạnh, có nhiều ước mơ, hoài bão cống hiến thật nhiều cho quê hương, đất nước, không bị kẻ xấu lợi dụng, kích động làm mất ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn XH Tuy nhiên tình trạng đáng lo ngại hiện nay là còn một bộ phận SV thiếu trung thực trong học tập và thị cử; một số vi phạm nội quy, quy chế, có biểu hiện của lối sống hưởng thụ, đua đòi Tệ nạn XH, nhất là ma túy, cờ bạc, mê tín, vi phạm pháp luật trong SV tuy ít nhưng chưa ngăn chặn được, gây nhiều lo lắng cho người thân, bạn bè và XH…; năng lực tự học, tự nghiên cứu, khả năng giao tiếp và hợp tác trong công việc còn yếu; trình độ ngoại ngữ của SV tốt nghiệp CĐ, ĐH chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và yêu cầu của cuộc sống
Phải nói rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến SV đến những điều không tốt, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH, nhưng trong hoàn cảnh hay
Trang 29điều kiện nào đó thì họ cũng cần được giúp đỡ, giáo dục, rèn luyện…để tiến bộ
và có thể khẳng định mình, lấy lại được vị trí của mình trước bạn bè, trong gia
đình và ngoài XH, từ đó họ có thể tự hào với hai tiếng SV mà bạn bè, gia đinh
và XH luôn dành cho những tình cảm tốt đẹp, trìu mến và đặt nhiều hy vọng
1.2.3 Quản lý NSVH của SV ở KTX
NSVH được truyền đạt lại và thay đổi có lựa chọn từ thế hệ này sang thế
hệ khác và ngày càng được bổ sung phong phú thêm theo sự phát triển của XH Trong nhà trường, các cán bộ, giáo viên của nhà trường cũng đã kế thừa và phát huy truyền thống của thế hệ trước, ngày một hoàn thiện NSVH để góp phần xây dựng nhà trường luôn vững vàng về mọi mặt NSVH đã làm mọi người trong nhà trường đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau, kích thích sự năng động, sáng tạo của từng người, từng đợn vị phòng, khoa, tổ, đoàn thể trong trường, từ đó các công việc được thực hiện có chất lượng và hiệu quả hơn Một số biểu hiện NSVH của cán bộ, giáo viên trường Trường Cao đẳng Múa VN
Đối xử có văn hóa trong giao tiếp: Sự tôn trọng những quy tắc sống tập thể, chia sẽ những khó khăn khi hoạn nạn, chúc mừng nhau khi gặp chuyện vui,… Quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của từng thành viên trong tập thể Mỗi người làm việc hết lòng vì SV, vì tập thể Ngược lại, cả tập thể chăm
lo đời sống cho từng cá nhân, từng gia đình để mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người trong nhà trường
Trong tập thể có sự học tập lẫn nhau, sự bắt chước lẫn nhau về tác phong quản lý, tác phong lao động, về các hành động tốt đẹp…
Cán bộ, giảng viên có tinh thần tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực của bản thân, nâng cao trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ, cập
Trang 30nhật kiến thức để khỏi bị lạc hậu so với thời đại, các giảng viên trẻ của nhà trường thường xuyên tham gia các cuộc thi concour (trong nước hay Quốc tế) nhằm nâng cao kinh nghiệm trong thực tập biểu diễn và giảng dậy, tham gia NCKH; cập nhật phương pháp giảng dạy mới của các nước tiên tiến trên Thế giơí, cập nhật kiến thức từ Internet, sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại,…để đáp ứng tốt yêu cầu giảng dạy, giáo dục, phục vụ ngày càng cao của nhà trường
NSVH của SV có thể xem như phần thể hiện văn hóa của trường học; có
thể khẳng định rằng: Một kết quả văn hóa, một NSVH nào đó trong XH được truyền thụ và phổ biến trong một đơn vị đều phải được thông qua các chức năng quản lý: lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm tra
Một số biểu hiện NSVH của SV ở KTX trường Trường Cao đẳng Múa
VN trong một số lĩnh vực như: giao tiếp, ứng xử, học tập, sinh hoạt cá nhân…cần được xây dựng quản lý trong hiện tại và tương lai; cụ thể như sau:
1.2.3.1 NSVH của SV ở KTX biểu hiện trong giao tiếp ứng xử
Thực sự tôn trọng, lễ phép khi giao tiếp với cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhà trường, người lớn tuổi
Có cử chỉ nhã nhặn, lịch sự khi giao tiếp với bạn bè, biết “cảm ơn”, “xin lỗi” kịp thời, đúng lúc, đúng nơi Giữ đúng lời hứa, giờ hẹn với mọi người Chú ý đến những người xung quanh, quan tâm chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với người thân, đồng nghiệp, bạn bè, cộng đồng Sẵn sàng giúp đỡ và luôn khiêm tốn học hỏi mọi người
Có thái độ bất bình trước những hành vi thiếu văn hóa, vi phạm NSVH của tập thể, của XH
Trang 31Có góp ý, phê bình một cách tế nhị, khéo léo, tránh gây ức chế, xúc phạm người được góp ý phê bình Tôn trọng sở thích, cá tính của người khác nếu cá tính của họ không ảnh hưởng xấu đến những người xung quanh
Tôn trọng danh dự, nhân cách, lợi ích của mọi người, tổ chức, cộng đồng
Có lòng tự trọng, nhận trách nhiệm trong công việc và trong cuộc sống
Có lòng nhân hậu, thái độ lạc quan, yêu đời
1.2.3.2 Quản lý NSVH của SV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử
Quản lý NSVH của SV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử là:
- Quản lý hình thức, nội dung, biện pháp giáo dục SV thông qua các chức năng quản lý
- Quản lý sự phối hợp trong các hoạt động của BQL KTX với các đoàn thể, các phòng chức năng, các khoa, tổ, GVCN, chính quyền địa phương, gia đình SV….nhằm nâng cao nhận thức về NSVH trong giao tiếp, ứng xử cho SV
1.2.3.3 NSVH của SV ở KTX biểu hiện trong học tập
Tự giác, chăm chỉ học tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp
Tìm tòi, học hỏi những phương pháp học tập tích cực phù hợp với bản thân, bậc học và ngành học Có thói quen tham khảo tài liệu, sách, báo….để cập nhật, bổ sung kiến thức
Trang 32Tích cực tham gia các cuộc thi trong nước cũng như Quốc tế nhằm khẳng định mình sớm trong môi trường nghệ thuật
Xây dựng kế hoạch, sắp xếp thời gian học tập một cách hợp lý; biết quý trọng thời gian và rèn luyện thói quen đi học, làm việc theo đúng giờ
Không nhồi nhét, dồn nén, đợi đến ngày thi mới bắt đầu học Trung thực trong kiểm tra, thi cử
Thói quen hợp tác làm việc trao đổi, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau và giải quyết vấn đề theo nhóm
1.2.3.4 Quản lý NSVH của SV ở KTX trong học tập
Quản lý NSVH SV ở KTX trong học tập thực chất là việc:
- Nghiên cứu, tìm biện pháp để quản lý quá trình học tập của SV ở KTX, thông qua những việc như: hình thành phong cách học tập, bồi dưỡng tình cảm, lòng yêu nghề, kích thích động cơ học tập của SV, rèn luyện tính kế hoạch, khoa học, trung thực, năng động, sáng tạo trong học tập
- Phát huy tính tự học, tự nghiên cứu, đào sâu suy nghĩ để giải quyết vấn
đề, đẩy mạnh sự hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập ôn luyện các kỹ năng nhuần nhuyễn trên lý thuyết cũng như thực hành
1.2.3.5 NSVH của SV ở KTX biểu hiện trong sinh hoạt cá nhân
Luôn có ý thức chấp hành và thực hiện đúng các quy định, nội quy nhà trường, KTXSV; có ý thức bảo quản, giữ gìn tài sản của cá nhân, tập thể
Tích cực nắm bắt thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua sách, báo theo chuyên đề phù hợp với đặc điểm tâm lý, lứa tuổi
Sắp xếp thời gian tham gia hoạt động văn thể Sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách hợp lý vào các hoạt động tích cực, hữu ích, không làm ảnh hưởng đến người xung quanh
Trang 33Rèn luyện thói quen ngăn nắp, gọn gàng, thẩm mỹ Ăn mặc sạch đẹp, giữ
vệ sinh nơi học tập, cư trú và nơi công cộng
Rèn luyện nếp sống lành mạnh, giản dị, không phô trương, hình thức, đua đòi,…Nâng cao ý thức xây dựng tình bạn, tình yêu trong sáng, lành mạnh,
an toàn
Thường xuyên nâng cao ý thức tự rèn luyện để ngày một hoàn thiện bản thân về sức khỏe, năng lực hoạt động ở các lĩnh vực mình đang thực hiện và phụ trách
Nói không với ma túy, cờ bạc, tệ nạn XH, văn hóa phẩm đồi trụy, mê tín
dị đoan
1.2.3.6 Quản lý NSVH của SV ở KTX biểu hiện trong sinh hoạt cá nhân
Quản lý NSVH của SV ở KTX trong sinh hoạt cá nhân thực chất là:
- Quản lý sự phối hợp các phòng, ban chức năng, các đoàn thể, các khoa, GVCN trong việc đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, động viên, khen thưởng, kỷ luật SV…
- Phát huy những mặt tích cực của SV, cổ vũ, nhân điển hình những thói quen tốt, hành động tiêu biểu, tích cực thể hiện NSVH của SV trong việc tham gia các hoạt động VHVN, TDTT, ý thức tự bảo vệ môi trường, bảo vệ tài sản của bản thân và tập thể, biết nắm bắt, cập nhật thông tin thời sự kịp thời
- Hạn chế những biểu hiện lệch lạc, sai trái, không lành mạnh, tiêu cực trong SV để xây dựng KTXSV thực chất là môi trường văn hóa lành mạnh góp phần giáo dục toàn diện SV nhà trường
Trên đây là một số biểu hiện NSVH của SV ở KTX mang tính điển hình, phù hợp với sự phát triển của một đơn vị, trường học và yêu cầu của công
Trang 34tác quản lý NSVH của SV ở KTX trên từng lĩnh vực cụ thể trong tình hình hiện nay
Có thể khẳng định rằng: Quản lý NSVH của SV ở KTX giữ vai trò quan
trọng trong việc hình thành những phẩm chất và nhân cách tốt cho SV, giúp SV
có đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập, tham gia các hoạt động và tự tổ chức các hoạt động, rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, ứng xử khéo léo, linh hoạt, tế nhị với mọi người phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực của xã hội
Điều mang tính quyết định dẫn đến hiệu quả việc quản lý NSVH của SV
ngành nghệ thuật nói chung và SV ở KTX trường Cao đẳng Múa nói riêng là
biến những hành vi tốt thành thói quen tốt, biến sự giáo dục thói quen tốt thành
sự tự giáo dục thói quen tốt, có như vậy, SVnghệ thuật mới có đủ bản lĩnh, kỹ năng, đạo đức để bổ sung vào hành trang của người diễn viên giáo viên múa những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa Với trách nhiệm nặng nề song rất cao quý
đó là gìn giữ cái cốt lõi, tinh túy nhất trong nghệ thuật múa truyền đạt kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ mai sau – lực lượng chủ lực xây dựng gìn giữ truyền bá nền nghệ thuật múa của đất nước trong tương lai
Trang 35CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NẾP SỐNG VĂN HÓA CỦA SINH VIÊN Ở
KÝ TÚC XÁ TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM 2.1 TÌNH HÌNH KTX TRƯỜNG CĐ MÚA VIỆT NAM 2.1.1 Cơ sở vật chất
Trường Cao đẳng Múa Việt Nam đang khẩn trương hoàn thành đề án nâng cấp trường thành Học Viện nghệ thuật Múa Quốc gia Việt Nam Do vậy, bên cạnh việc chuẩn bị nâng cao trình độ cán bộ, giảng viên về mọi mặt để có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, nhà trường luôn quan tâm xây dựng CSVC nhà trường và KTXSV cho phù hợp , đáp ứng mục tiêu đào tạo nhà trường trong hiện tại và tương lai
KTX SV trường Cao đẳng Múa Việt Nam nằm trong khuôn viên khu văn hoá Nghệ thuật Mai Dịch đường Hồ Tùng Mậu Quận Cầu Giấy – TP Hà Nội KTX SV có 2 dãy nhà 5 tầng (dãy A và dãy B), diện tích sử dụng 5.763,21 mét vuông, sức chứa tối đa 720 SV, khu nhà A: 5 tầng, được xây mới
từ năm 2008 với cấu trúc khép kín, thoáng mát, khá tiện nghi với các phòng độc lập cho 6 – 8 SV/ phòng Khu nhà B 5 tầng, xây từ năm 2005, hiện nay đã được cải tạo lại với các phòng khép kín cho 8 – 10SV/ phòng; các phòng ở đều được trang bị 2 quạt trần, 3 bóng đèn neon đủ sáng phục vụ việc học, sinh hoạt của SV; hiện nay, KTX có 2 phòng làm việc BQL KTX, 1 phòng văn hóa có trang bị dàn máy hát Karaoke, các sách, báo…được dùng để tổ chức sinh hoạt VHVN, giao lưu, sinh nhật cho SV ở KTX ; 1 phòng y tế chuyên chăm sóc, chữa trị bệnh thông thường của SV; 1 nhà ăn tập thể phục vụ khoảng 200SV
Trang 36mỗi ngày; 1 phòng bóng bàn để SV rèn luyện hàng ngày, 1 phòng để 1 ti vi 21 inch phục vụ SV giải trí theo giờ giấc quy định từ 6 giờ đến 22 giờ 30 phút trong ngày
Trước 2 khu nhà là sân KTX rộng 3000 m2
, được bê tông hóa , đây là nơi tổ chức chính các hoạt động giao lưu, VHNT, TDTT ( thi đấu bóng đá mini, bóng chuyền, bóng rổ, cầu lông, …) giáo dục quốc phòng
BQL KTX đã tổ chức quản lý, sử dụng CSVC để phục vụ SV ở KTX Khi được hỏi ở mức độ hợp lý của việc sử dụng CSVC ở KTX, khối CBGV và khối SV
đã đánh giá và chúng tôi đã tổng hợp ở bảng 2.1 cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Đánh giá mức độ hợp lý của việc sử dụng CSVC ở KTX
và 6,9.% CBGV đánh giá chưa hợp lý; hơn nữa, một điều đáng lưu ý đó là có tới 61,6%SV năm III (thời gian ở KTX nhiều hơn) lại đánh giá việc sử dụng CSVC ở mức độ “chưa hợp lý” cao hơn nhiều so với SV năm II, SV năm II đánh giá mức độ “chưa hợp lý” cao hơn năm I; điều này cho thấy, SV ở càng lâu trong KTX thì càng thấy việc sử dụng CSVC ở KTX SV chưa hợp lý, như
Trang 37vậy, một vài năm trở lại đây Ban QLKTX chưa thật sự quan tâm nghiên cứu, điều chỉnh, tận dụng tất cả các tài sản, CSVC đã được trang ở KTX làm lãng phí làm lãng phí ít nhiều đến tài sản của nhà trường
Từ việc sử dụng CSVC ở KTX , chúng tôi tiếp tục thăm dò mức độ cần thiết của việc xây dựng và sử dụng CSVC hiện có nhằm phục vụ SV ở KTX ngày một tốt hơn , kết quả thăm dò ở bảng 2.2
Bảng 2.2: Mức độ cần thiết xây dựng và sử dụng CSVC ở KTX
Các vấn đề về CSVC Mức độ SV Tổng cộng
khối SV I, II, III
Khối CBGV
SV năm I SV năm II SV năm III
F % F % F % F % F %
1 Xây dựng sân khấu di động để tổ chức các hoạt động
Không cần 9 33,0 10 35,3 11 52,6 32 39,7 8 20,7 Cần thiết 21 67,0 20 64,7 9 47,4 48 60,3 30 79,3
2 Đưa phòng tập thể hình, thẩm mỹ vào hoạt động
Không cần 5 16,5 7 23,7 5 22,1 17 21,1 13 32,8 Cần thiết 25 83,5 23 76,3 15 77,9 63 78,9 25 67,2
3 XD hệ thống bản tin từng dãy lầu
Không cần 7 24,8 8 28,8 8 45,3 25 32,0 16 39,7 Cần thiết 23 75,2 22 71,2 12 54,7 55 68,0 22 60,3
4 Cải tạo một số phòng để SV tự học
Không cần 2 6,4 1 1,9 2 3,2 5 3,6 6 13,8 Cần thiết 28 93,6 29 98,1 28 96,8 75 96,4 32 86,2 Trang bị thêm CSVC
cho phòng văn hóa
Không cần 4 11,9 6 14,7 2 6,3 9 11,7 3 6,9 Cần thiết 26 88,1 24 85,3 28 93,7 71 88,3 35 93,1
Từ kết quả thống kê: tỉ lệ ý kiến của khối SV thấp nhất là 60,3%, cao nhất là 96,0% và tỉ lệ ý kiến của khối CBGV thấp nhất 60,3%, cao nhất 93,1%đều cho rằng sự cần thiết phải xây dựng mới hoặc cải tạo một số CSVC đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của SV và nhằm mục đích phục vụ đời sống văn hóa tình thần, vật chất của SV ngày một tốt hơn
2.1.2 Bộ máy quản lý KTX
Trang 38KTX của HS- SV các trường văn hoá nghệ thuật là một bộ phận trực thuộc Văn phòng Bộ Văn Hoá, Thể Thao và Du Lịch KTX gồm có 12 cán bộ trong đó có 4 cán bộ quản lý KTX ( 1 trưởng ban, 1 phó ban, 1 thường trực, 1
kế toán), 1 phụ trách nhà ăn, 2 nhân viên y tế, 2 nhân viên vệ sinh và 3 bảo vệ Nhà trường đã quan tâm phối hợp chặt chẽ với BQL KTX hiện nay còn nhiều vấn đề chưa hợp lý, chưa tận dụng CSVC đã được trang bị thật hiệu quả nhằm phục vụ một cách tốt nhất đời sống vật chất, tinh thần cho SV ở KTX, những nhược điểm này sẽ làm ảnh hưởng ít nhiều đến thực trạng NSVH của và công tác quản lý NSVH của SV ở KTX hiện nay
2.2 THỰC TRẠNG NẾP SỐNG VĂN HÓA CỦA SV Ở KÝ TÚC XÁ
2.2.1 Tình hình SV trường CĐ Múa Việt Nam
Do đặc trưng ngành nghệ thuật nên SV trường CĐ Múa Việt Nam có số lượng nữ chiếm đa số ở tất cả các khóa đào tạo Sự phân bố về giới cũng không đồng đều ở các hệ Nhìn chung, tỷ lệ nữ ở chuyên nghành Huấn luyện múa thường cao hơn, do vậy có nhiều thế mạnh về các hoạt động VHVN, ý thức chấp hành nội quy nề nếp nhà trường tương đối tốt; ngược lại, chuyên nghành Biên đạo múa có số lượng SV nam đông hơn nên thường có thế mạnh về các hoạt động TDTT, cắm trại, giã ngoại…
Hầu hết SV được học tập tại trường đều được trang bị kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ biểu diễn, nâng cao lòng yêu nghề và được rèn luyện kỹ năng
tổ chức phong trào thông qua các hoạt động VHVN, TDTT, …Nhiều SV đã thể hiện sự năng động sáng tạo trong hoạt động, tự giác chấp hành nội quy, nề nếp nhà trường, KTX SV; tuy vậy, bên cạnh những SV tích cực cũng còn một số
SV chưa tự nỗ lực vươn lên, chưa nhiệt tình tham gia các hoạt động chung, cá biệt cũng có một số ít SV thiếu ý thức chấp hành nội quy, nề nếp nhà trường,
Trang 39tham gia phong trào một cách miễn cưỡng, ăn mặc không đúng quy định, không trung thực trong thi cử, ít tế nhị trong giao tiếp ứng xử…Các tồn tại này luôn luôn thôi thúc lãnh đạo nhà trường, cán bộ quản lý các phòng, khoa, GVCN , các đoàn thể trong trường thường xuyên quan tâm tìm mọi cách để hạn chế những tiêu cực trong SV, giáo dục SV nhằm nâng cao tính tự giác, tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên để có thể trở thành những diễn viên, giáo viên tốt trong tương lai
2.2.2 Tình hình SV ở KTX (SV nội trú) trường CĐ Múa Việt Nam 2.2.2.1 Số lượng SV
Số lượng SV Năm học 2009 – 2010, có 100 SV đang nội trú tại KTX trường
CĐ Múa Việt Nam Trong đó SV năm thứ I là :35 (22 nữ, 13 SV nam), SV năm thứ II là :40 (30 SV nữ, 10 SV nam).SV năm thứ III là 25(20 SV nữ, 05 SV nam)
Sau khi sử dụng phương pháp chọn mẫu, chúng tôi đã chọn được 80 SV (68 nữ,
12 nam) thuộc 2 khoa Huấn luyện múa và Biên đạo múa đang ở KTX để thăm
dò ý kiến, cụ thể như sau: SV năm I: 30 SV (10 nam, 20 nữ); SV năm II: 30 SV (12 nam, 18 nữ); SV năm III: 20SV (12 nam, 8 nữ) được thể hiện qua bảng 2.3 như sau:
Từ bảng 2.3 cho thấy: số SV khoa Biên đạo là chiếm nhiều nhất, kế đến
là SV khoa Huấn luyện múa ít hơn
Bảng 2.3Phân bố SV đang ở KTX theo khoa, giới, các năm học I,II,III
Tên khoa Huấn luyện múa Biên đạo múa Giới tính Tổng Giới tính Tổng Nam Nữ Nam Nữ
Trang 40SV Năm I
Năm II Năm III Tổng cộng
2.2.2.2 Tình hình SV ở KTX (nội trú)
Tình hình SV ở KTX (nội trú) SV nội trú là những người đang học tại trường
và được trường bố trí ở trong khu nội trú theo hợp đồng của SV đã ký với Trưởng BQL quản lý KTX
Đa số SV nội trú trường CĐ Múa Việt Nam xem KTX là ngôi nhà thứ 2 của mình SV đã có ý thức bảo vệ môi trường, trồng cây lưu niệm, làm ghế đá tặng KTX, chấp hành khá tốt các nội quy KTX, tích cực tham gia các hoạt động văn thể,…nhiều năm liền, qua việc phối hợp kiểm tra, giám sát của BQL KTX
và công an địa phương chưa phát hiện trường hợp SV ở KTX tàng trữ, sử dụng các loại vũ khí, pháo nổ, hóa chất độc hại, lưu hành các văn hóa phẩm đồi trụy,…Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đã nêu trên vẫn còn một số SV chưa chấp hành nội quy, nề nếp KTX như uống rượu, gây gổ, đánh nhau, ồn ào gây mất trật tự, ra vào cổng không đúng quy định, đặc biệt là nếp sống trong giao tiếp, ứng xử, học tập, sinh hoạt cá nhân còn nhiều hạn chế như: thiếu khéo léo, tế nhị trong giao tiếp, ý thức tự học, ít tự giác cập nhật thông tin hằng ngày,…đây là những nhược điểm cần được nhà trường , BQL KTX chấn chỉnh một cách kịp thời, đồng thời đẩy mạnh việc nắm bắt nguyện vọng chính đáng của SV nội trú, có kế hoạch, biện pháp thích hợp nhằm tạo điều kiện để SV nội trú thực hiện khả năng sáng tạo, năng động của mình trong học tập, rèn luyện qua đó quản lý được NSVH của SV
2.2.3 Những biểu hiện về NSVH của SV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử