1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả bồi dương chuyên đề chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh ninh bình trong giai đoạn hiện nay

92 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả bồi dưỡng chuyên đề chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Phạm Thành Trung
Người hướng dẫn TS. Đinh Trung Thành
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn giáo dục chính trị
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 743,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song trước những triển vọng và điều kiện mới trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đặt ra yêu cầu các ngành, các cấp, đặc biệt là cán bộ cơ sở nhận thức đầy đủ cả về bản chất, nội d

Trang 1

PHẠM THÀNH TRUNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ BỒI DƢỠNG CHUYÊN ĐỀ “CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ” CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ TỈNH NINH BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PPDH BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

Trang 2

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

HNKTQT Hội nhập kinh tế quốc tế

về Hợp tác kinh tế quốc tế

Trang 3

Chương 1 Sự cần thiết của việc bồi dưỡng chuyên đề ”Chủ động,

tích cực Hội nhập kinh tế quốc tế” cho đội ngũ cán bộ

cơ sở của tỉnh Ninh Bình trong thời kỳ hội nhập 12 1.1 Một số vấn đề chung về công tác bồi dưỡng chuyên đề

Hội nhập kinh tế cho cán bộ cơ sở trong thời kỳ hội nhập 12 1.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng chuyên đề “Chủ động,

tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” cho đội ngũ cán bộ

cơ sở ở tỉnh Ninh Bình 30

Chương 2 Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp nâng

cao hiệu quả bồi dưỡng chuyên đề ”Chủ động, tích cực Hội nhập kinh tế quốc tế” cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay 50 2.1 Một số quan điểm cơ bản trong công tác bồi dưỡng

chuyên đề “Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Ninh Bình……… 50 2.2 Phương hướng cơ bản của công tác bồi dưỡng chuyên

đề “Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Ninh Bình……… 52 2.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả bồi

dưỡng chuyên đề “Chủ động, tích cực HNKTQT” cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Ninh Bình trong bối cảnh hiện nay 55

Kết luận và kiến nghị 73

Danh mục các tài liệu tham khảo……… 77

Trang 4

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở vừa hồng vừa chuyên, để lãnh đạo quản lý đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, đưa nước ta từng bước tiến lên CNXH là một vấn đề có tính chiến lược trước mắt cũng như lâu dài Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở là vấn đề bức xúc đặt ra với các cơ sở đào tạo hiện nay

Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thể hiện trực tiếp và cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Vì vậy, việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở xã, phường, thị trấn, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt có đủ phẩm chất, năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng

Thời kỳ đổi mới, hội nhập của đất nước đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế xã hội Song trước những triển vọng và điều kiện mới trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đặt ra yêu cầu các ngành, các cấp, đặc biệt là cán

bộ cơ sở nhận thức đầy đủ cả về bản chất, nội dung, yêu cầu và lộ trình hội nhập để vận dụng một cách chủ động, linh hoạt và tích cực, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của từng ngành, địa phương

Bồi dưỡng chuyên đề “Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” cho đội ngũ cán bộ cơ sở nhằm quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; biến tư tưởng, lý luận thành niềm tin

và hành động tự giác, sáng tạo của cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong Đảng, tổ chức và trong xã hội

Trang 5

nước Đội ngũ cán bộ cơ sở có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản

lý và thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Đội ngũ cán bộ

cơ sở của tỉnh Ninh Bình trong thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước cần được trang bị kiến thức mới để đương đầu với những thay đổi của thời cuộc, trong thời kỳ chuyển tiếp này cần phải có sự chuẩn bị, chọn lọc chu đáo để có một đội ngũ cán bộ trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, nắm vững đường lối cách mạng của Đảng; vững vàng, đủ phẩm chất và bản lĩnh chính trị, có năng lực về lý luận, pháp luật, chuyên môn, có nghiệp vụ hành chính và khả năng thực tiễn để thực hiện công cuộc đổi mới trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ cơ sở của Ninh Bình được đào tạo trong cơ chế trước đây bộc lộ nhiều hạn chế về trình độ lý luận chính trị, còn thiếu chuyên môn cần thiết, nhất là về Nhà nước, pháp luật và kỹ thuật, nghiệp vụ hành chính nhà nước để quản lý một nền kinh tế mở, nhất là trong điều kiện quan hệ quốc

tế ngày càng phát triển, không chỉ như vậy, còn có một bộ phận hay mắc những khuyết điểm, sai lầm, bệnh quan liêu, mệnh lệnh, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, chấp hành luật pháp và kỷ cương không nghiêm, không tôn trọng lợi ích chung của Nhà nước Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, đến nay việc lựa chọn, xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế các cấp ở tỉnh Ninh Bình đã có những bước tiến triển đáng ghi nhận Ninh Bình đã dần dần trẻ hóa được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, kinh tế nhất là ở cấp cơ sở, thay đổi được một số cán bộ lãnh đạo, quản lý năng lực yếu kém, có khuyết điểm và giảm sút ý chí chiến đấu, không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao, bổ nhiệm được một số cán bộ có

Trang 6

lãnh đạo quản lý kinh tế có đổi mới nhiều, nhưng chưa mạnh, trình độ lý luận, chuyên môn của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý còn yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi cao của cách mạng đặt ra

Nhằm nâng cao chất lượng, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý

kinh tế trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu vấn đề “Nâng cao hiệu quả

bồi dưỡng chuyên đề “Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay” có ý nghĩa cấp

bách cả về lý luận và thực tiễn

Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế cho đội ngũ cán bộ song, cho đến nay chưa có công trình cụ thể đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và đề ra giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng kiến thức HNKTQT cho cán bộ cơ sở trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nhằm đảm bảo chỉ tiêu cả

về số lượng và hiệu quả trong nội dung đào tạo nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ cơ sở theo kịp được yêu cầu của thời kỳ hội nhập

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn

HNKTQT là chủ trương xuyên suốt trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta Phát triển tư tưởng đổi mới của Đại hội VI (1986), trong Cương lĩnh của mình, Đại hội VII (1991) chỉ rõ: "Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên

xã hội chủ nghĩa Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình" Chính sách kinh tế đối ngoại cũng được xác định

Trang 7

là: "Đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng

có lợi" [7; 35]

Đại hội VIII (1996) phát triển thêm một bước: "Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và

khu vực, " [9; 54] Đại hội IX (2001) của Đảng khẳng định thêm một lần

nữa: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế ", "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh

quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường" [12; 38] Đại

hội X (2006) nhấn mạnh: "Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ",

"Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích của

đất nước làm mục tiêu cao nhất" [15; 52]

Ngoài ra, còn có các Nghị quyết khác rất cụ thể của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị về công tác đối ngoại và về HNKTQT

- Quán triệt quan điểm của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tuyên giáo trung ương đã ban hành nhiều chỉ thị về việc trang bị những thông tin, kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế và WTO cho các cán bộ lãnh đạo, quản

lý Bởi đây là cán bộ của những cơ quan trực tiếp tham mưu, giúp việc cho các lãnh đạo của Đảng, Chính quyền trong công tác hoạch định chính sách, pháp luật trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; đồng thời đóng vai trò quan

Trang 8

trọng trong việc triển khai đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và

Nhà nước ta Ngày 13/11/2008 Ban Tuyên giáo trung ương đã ban hành

hướng dẫn Những nội dung cần chú ý khi giảng chương trình bồi dưỡng

chuyên đề "Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế" Kèm theo Hướng

dẫn số 58 - HD/BTGTW

Cũng đã có một số công trình khoa học của các tác giả, các nhà khoa học đề cập tới tiến trình hội nhập và những tác động của nó tới công tác lãnh đạo, công tác cán bộ Tiêu biểu cho các công trình đó, có thể kể đến: “Hội nhập quốc tế và vai trò lãnh đạo của Đảng ta”, Hà Đăng, Tạp chí Cộng sản,

Số 2+3 (122 +123) năm 2007; “Công tác cán bộ của Đảng trong thời kỳ mới”, Chu Thái Thành, Tạp chí Cộng sản, Số 1 (122) năm 2007; “Về đội ngũ cán

bộ, công chức xã, phường, thị trấn”, Nguyễn Đức, Ban Tổ chức Trung ương, Tạp chí Cộng sản số 18/2008

Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức Hội nhập kinh tế

quốc tế trong tình hình hiện nay đang là sự đòi hỏi cấp bách Yêu cầu đổi mới

tuyên truyền, phổ biến kiến thức Hội nhập kinh tế quốc tế là thường xuyên

đưa cái mới vào quá trình giáo dục để tạo ra sự phát triển mới, để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mà vẫn giữ được ổn định Xuất phát từ yêu cầu công tác cán bộ trong thời kỳ mới của đất nước, một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ, như: Luận văn thạc sĩ: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức

quản lý nhà nước về kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thanh Hoá" của Cầm Bá Tiến, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,

năm 2000; "Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,

quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay" của Vũ Đình Chuyên, Luận văn thạc sĩ

Triết học năm 2000; Nguyễn Thị Hồng Lê: "Nâng cao trình độ lý luận chính

trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên trong

Trang 9

giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học năm 2004 Luận văn thạc sĩ

Khoa học Giáo dục của Đặng Thị Mỹ Cẩm năm 2010: “Nâng cao hiệu quả

công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ đảng viên ở đảng bộ khối doanh nghiệp Đồng Tháp”.

Trong các công trình trên, các tác giả đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở; làm rõ bản chất, đặc trưng, tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ đảng viên khối doanh nghiệp, thực trạng trình độ lý luận chính trị cũng như công tác đào tạo nâng cao trình

độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ này

Trong những năm gần đây, đã có những công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả dưới nhiều góc độ khác nhau về vấn đề này như:

Nguyễn Khoa Điềm (2004), "Nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu

quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong tình hình mới", Tạp chí Thông

tin công tác tư tưởng lý luận, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương đã nêu tầm quan trọng của việc học tập của cán bộ, đảng viên, trong đó học tập lý luận chính trị có vị trí cực kỳ quan trọng; những nội dung của công tác giáo dục lý luận chính trị; đồng thời nêu ra một số giải pháp nhằm đảm bảo yêu cầu và nhiệm vụ của công tác giáo dục lý luận trong bối cảnh hội nhập

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, đặt ra những vấn đề rất cơ bản cả về lý luận lẫn thực tiễn, đề ra những phương hướng và giải pháp để nâng cao kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế cho đội ngũ cán bộ quản lý kinh

tế ở cấp này cấp khác Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, cho tới nay chưa có

công trình nghiên cứu một cách chi tiết, đầy đủ, có hệ thống và chuyên sâu về thực trạng cũng như nêu ra những chủ trương, giải pháp để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng chuyên đề "Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế" cho

Trang 10

đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cơ sở ở tỉnh Ninh Bình (tác giả nhấn mạnh)

Vì vậy, nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong sự nghiệp đổi mới nói chung, từng bước khắc phục tình trạng đội ngũ cán bộ cơ sở vừa thiếu lại vừa yếu như hiện nay

Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tiếp thu, kế thừa có chọn lọc thành quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến luận văn

Quán triệt các nghị quyết của Đảng, tiếp thu một cách có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học của các tác giả, luận văn đi sâu

nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả bồi dưỡng chuyên đề "Chủ động, tích cực hội

nhập kinh tế quốc tế" cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Ninh Bình trong giai

đoạn hiện nay”

Để đạt mục đích trên, luận văn phải thực hiện được các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ vai trò của việc bồi dưỡng chuyên đề về Hội nhập kinh tế quốc tế đối với việc nâng cao trình độ, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ cơ sở

- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng nhận thức của đội ngũ cán bộ cơ

sở tỉnh Ninh Bình về vấn đề Hội nhập kinh tế quốc tế và những nguyên nhân của thực trạng đó

Trang 11

- Đề xuất và lý giải được những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm nâng cao trình độ nhận thức chuyên đề “Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” cho đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh Ninh Bình trong điều kiện hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng về công tác giáo dục lý luận chính trị,

về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý

Luận văn được trình bày dưới góc độ Khoa học Giáo dục với các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng và nhu cầu giáo dục phổ biến, bồi dưỡng kiến thức Hội nhập kinh tế quốc tế cho cán bộ lãnh đạo, quản

lý cấp cơ sở của tỉnh Ninh Bình

- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi, trò chuyện nắm bắt tâm tư nguyện vọng của cấp ủy Đảng, cán bộ làm công tác giáo dục phổ biến, bồi dưỡng kiến thức Hội nhập kinh tế quốc tế cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở ở tỉnh Ninh Bình

- Phương pháp tìm hiểu và phân tích tài liệu

Trang 12

- Phương pháp lịch sử cụ thể

- Phương pháp thống kê

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế đối với đội ngũ cán bộ quản lý cấp cơ sở của một tỉnh vùng Đông Bắc Bộ nước ta Đồng thời đánh giá được thực trạng nhận thức về Hội nhập kinh tế quốc

tế và năng lực thực tiễn của đội ngũ này Trên cơ sở đó, đề xuất với tỉnh một số giải pháp chủ yếu để từng bước nâng cao trình độ cả lý luận lẫn thực tiễn cho họ, đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới

7 Giả thuyết khoa học

Nếu luận văn được thông qua thì có thể làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, trường chính trị…

8 Ý nghĩa của luận văn

Những kết luận được rút ra qua nghiên cứu và những chủ trương, giải pháp trình bày trong luận văn sẽ góp phần nâng cao trình độ cả lý luận lẫn thực tiễn cho đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh Ninh Bình Đồng thời đây cũng là tài liệu để tham khảo phục vụ cho việc hoạch định chiến lược, xây dựng, quy hoạch đội ngũ cán bộ cho tỉnh Ninh Bình

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 13

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản của luận văn

1.1.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là một thuật ngữ xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây và cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về hội nhập kinh

tế quốc tế Cách hiểu đó xoay quanh hai loại ý kiến:

Loại ý kiến thứ nhất quan niệm HNKTQT là quá trình các quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết quốc tế song phương, đa phương và toàn cầu về các lĩnh vực thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác có liên quan nhằm đảm bảo tính tương thích giữa hệ thống kinh tế quốc gia với hệ thống kinh tế khu vực và toàn cầu dựa trên cơ sở những nguyên tắc và qui định thống nhất Điều thấy rõ nhất về quá trình HNKTQT từ quan niệm này là việc thống nhất các chính sách, quy định pháp

lý trong từng quốc gia với nguyên tắc, thông lệ quốc tế

Loại ý kiến thứ hai quan niệm HNKTQT là quá trình các quốc gia loại bỏ dần các rào cản để hoạt động thương mại, di chuyển các yếu tố sản xuất và thanh toán quốc tế diễn ra một cách thuận lợi Quan niệm này hiểu quá trình hội nhập gắn với quá trình tự do hóa

Trang 14

Mặc dù có những quan niệm khác nhau nhưng quan niệm tương đối phổ biến nhất hiện nay là: “HNKTQT là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu trong đó các thành viên chịu

sự ràng buộc theo những qui định chung của cả khối Nói một cách khái quát, HNKTQT là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hóa và tự do

hóa thương mại, đầu tư và hoạt động kinh tế đối ngoại khác” [23; 237]

Để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, các điều kiện chung được quy định đối với mỗi quốc gia, là tự do hoá thương mại và đầu tư một cách công khai, rõ ràng Cụ thể, các tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế hay khu vực nói chung đều hoạt động theo 4 nguyên tắc cơ bản sau:

- Công bằng: các nước dành cho nhau quy chế ưu đãi cao nhất của mình và chung cho mọi nước (nghĩa là mọi hàng hoá và dịch vụ của các công

ty các nước đối tác đều được hưởng một chính sách ưu đãi chung); đồng thời không phân biệt chính sách thương mại giữa các công ty: mọi chế độ chính sách liên quan đến thương mại và đầu tư trong mỗi nước đều phải bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất nội địa

- Tự do hoá thương mại: các nước chỉ được sử dụng thuế làm công cụ bảo hộ cho nền sản xuất của mình, các biện pháp phi thuế quan như giấy phép, quota, hạn ngạch xuất nhập khâu đều không được sử dụng, các biểu thuế này đều phải có lộ trình rõ ràng công khai về việc giảm dần đến tự do hoá hoàn toàn (thuế suất bằng 0%)

- Làm ăn hay thương lượng với nhau phải trên cơ sở có đi có lại: khi nền kinh tế thị trường của một nước thành viên bị bị hàng nhập khâu đe doạ thái quá hoặc bị những biện pháp phân biệt đối xử gây hại, thì nước đó có

Trang 15

quyền khước từ một nghĩa vụ nào đó hoặc có thể có những hành động khẩn cấp cần thiết, được các nước thành viên khác thừa nhận, đề bảo vệ quyền lợi cua nền kinh tế trong nước

- Công khai mọi chính sách thương mại và đầu tư Với các điều kiện và nguyên tắc trên, nước “đi sau” như nước ta có nhiều thuận lợi, nhất là học hỏi kinh nghiệm của các nước “đi trước”, nhưng cũng phải chịu rất nhiều khó khăn thách thức, mà quan trọng hàng đầu là bảo hộ nền sản xuất trong nước

và các doanh nghiệp việt nam, nhất là các doanh nghiệp mới “chân ướt chân ráo” bước vào nền kinh tế thị trường Đây không chỉ đơn thuần là việc bảo hộ thuần tuý cho nền kinh tế, cho từng doanh nghiệp, mà còn là vấn đề của yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong giai đoạn mới việc hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với quá trình tự do hoá Không thể có hội nhập quốc tế mà không có tự do hoá kinh tế, đây là một đặc điểm mới của xu thế toàn cầu hoá ngày nay Vấn đề quan trọng trong việc hội nhập kinh tế quốc tế là cần xác định mức độ tiến trình hội nhập và tự do hoá như thế nào cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế để

có thể phát huy được các thế mạnh của đất nước, tận dụng được những ưu thế của hợp tác quốc tế, tạo rá sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế quốc gia, nâng cao vị thế của mình trong phân công lao động quốc tế

1.1.1.2 Khái niệm bồi dưỡng kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế

Bồi dưỡng: Bồi dưỡng có hai nghĩa: “1 Làm cho khỏe thêm, mạnh

thêm; 2 Làm cho tốt hơn, giỏi hơn: bồi dưỡng đạo đức, bồi dưỡng nghiệp vụ”

[30; 354]

Bồi dưỡng là quá trình hoạt động làm tăng thêm kiến thức mới cho những người đang giữ chức vụ, đang thực thi công việc của một ngạch, bậc nhất định để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao Khối lượng kiến thức,

Trang 16

kỹ năng được quy định tại các chương trình, tài liệu phải phù hợp với từng đối tượng cán bộ, công chức Kết quả của các khoá bồi dưỡng, người học sẽ nhận được chứng chỉ ghi nhận kết quả như: bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên hoặc bồi dưỡng chuyên đề, công tác chuyên môn, tập huấn nghiệp vụ

Như vậy, bồi dưỡng cán bộ cơ sở là một phương tiện để đạt tới mục đích cuối cùng chứ bản thân nó không phải là mục đích cuối cùng Công tác bồi dưỡng theo như thường hiểu, bao hàm nhiều hoạt động giáo dục và phát triển chứ không chỉ là một phần của chương trình học tập kiến thức, kỹ năng Công tác bồi dưỡng là một bộ phận của chiến lược tổng thể quản lý nguồn nhân lực bao gồm lập kế hoạch và công tác quản lý cán bộ; các quy định nhiệm vụ cho công chức, lương bổng, các sáng kiến quản lý công việc và năng suất công tác; các mối quan hệ lao động trong cơ quan, tổ chức v.v Bồi dưỡng Cán bộ công chức ở cơ sở giữ vai trò bổ trợ, tăng cường kiến thức, kỹ năng để người cán bộ cơ sở có đủ năng lực đáp ứng hoạt động quản lý, điều hành Đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm phản ánh cùng một mục tiêu là truyền kiến thức cho người công chức Tuy vậy, hai thuật ngữ này có những tính chất, nội dung, phạm vi tồn tại và quy trình khác nhau

Quan niệm này mang tính thực tiễn của Việt Nam và cũng phù hợp với khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng trong Từ điển tiếng việt do Nxb Đà Nẵng phát hành năm 2004: đào tạo, bồi dưỡng là làm tăng năng lực và phẩm chất cho người được đào tạo, bồi dưỡng

Khái niệm bồi dưỡng được dùng với nghĩa là cập nhật, bổ túc thêm một

số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng

Trang 17

Bồi dưỡng kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế là việc nâng cao nhận thức

và trang bị thêm cho lãnh đạo, cán bộ quản lý và các doanh nghiệp những kiến thức về công tác đối ngoại và tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước

1.1.1.3 Khái niệm về cán bộ cơ sở

Khái niệm cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta khoảng mấy chục năm gần đây để chỉ một lớp người là những chiến sỹ cách mạng, lớp người mới, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp cao cả giành độc lập, tự do cho dân tộc Tên gọi cán bộ đã từng

để lại dấu ấn đẹp trong lịch sử cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo

Từ cán bộ được du nhập vào nước ta từ Trung Quốc và được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp Ban đầu, từ này được dùng nhiều trong quân đội để phân biệt chiến sĩ và cán bộ Từ cán bộ dùng để chỉ những người làm nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở lên Dần dần từ cán bộ được dùng để chỉ tất cả những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với nhân dân

Trong từ điển Nhật – Việt, từ cán bộ cũng được dùng tương tự như ở Trung Quốc, có nghĩa là người ở hạng cao (trong một tổ chức đoàn thể), là yếu nhân Ở Nhật hiện nay, từ cán bộ phần lớn được dùng trong quân đội để chỉ những người đóng vai trò quan trọng, còn để chỉ công chức hay viên chức thì họ dùng từ quan liêu (dùng để chỉ những người làm trong bộ máy nhà nước Nghĩa của từ cán bộ ở Nhật trung thành nhiều hơn với từ gốc mà nó được dịch ra (Cadre) Trong tiếng Pháp cũng như tiếng Anh, từ này có nhiều nghĩa, tựu trung có hai nghĩa chủ yếu được chuyền vào từ cán bộ của Nhật, Trung Quốc và Việt Nam Nghĩa thứ nhất là cái khung (ảnh), cái khuôn Nghĩa thứ hai là người nòng cốt, những người chỉ huy trong quân đội, trong một tổ chức làm thành một nòng cốt

Trang 18

Cũng như hiện tượng chung của ngôn ngữ, từ cán bộ, khi du nhập vào nước ta đã được áp dụng theo thực tiễn tâm lý – văn hóa Việt Nam, nên

đã biến đổi không còn nguyên như nghĩa gốc Tuy nhiên, cái hàm nghĩa: bộ khung, người làm nòng cốt, người chỉ huy luôn được lưu giữ và nhận thức

Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, quân đội Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như những người có mức lương từ cán sự (cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự một

Trong Từ điển Tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa:

- Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, đảng và đoàn thể

- Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ

Cho đến nay, từ cán bộ đã được dùng với rất nhiều nghĩa khác nhau:

- Trong tổ chức đảng và đoàn thể, từ cán bộ được dùng với hai nghĩa: một là, để chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến Trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên, hội viên; hai là, những người làm công tác chuyên trách có hưởng lương trong các tổ chức đảng và đoàn thể

- Trong hệ thống nhà nước, từ cán bộ được hiểu cơ bản là trùng với

từ công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước thuộc hành chính, tư pháp, kinh tế, văn hóa và xã hội Đồng thời, cán bộ cũng được hiểu

là những người có chức vụ chỉ huy, phụ trách, lãnh đạo (trưởng, phó phòng,

vụ, cục, v.v…)

Trang 19

Dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp, các lĩnh vực cụ thể có khác nhau, nhưng về cơ bản, từ cán bộ bao hàm nghĩa chính của nó là bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy Như vậy có thể quan niệm một cách chung nhất, cán bộ là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức

Trong hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt gồm: bí thư, phó bí thư và các ủy viên ban thường vụ đảng ủy là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt Đảng ở cơ sở; chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch, phó chủ tịch UBND là những cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt chính quyền cơ sở; người đứng đầu các đoàn thể chính trị - xã hội gồm mặt trận tổ quốc, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, hội nông dân là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt đoàn thể ở cơ sở

Như vậy, đội ngũ cán bộ cơ sở, ngoài những chức danh chuyên môn theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP của Chính phủ còn các chức danh khác đều thông qua bầu cử và làm việc có nhiệm kỳ

1.1.2 Quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về Hội nhập kinh tế quốc tế

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng quan tâm và dày công xây dựng Đảng thành một khối đại đoàn kết thống nhất vững mạnh, trong sạch Người thường chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán

bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ trở thành những con người vừa hồng vừa chuyên Người còn dạy “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém…” Những tư tưởng của Người về công tác cán bộ vẫn luôn là

Trang 20

những giá trị thực tiễn, là bài học kinh nghiệm vô giá trong công cuộc dựng xây nhà nước pháp quyền hiện nay và mai sau

Bên cạnh đó, quan điểm nổi bật trong hội nhập và hợp tác quốc tế của

Hồ Chí Minh là “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, thể hiện tư tưởng hòa bình, hữu nghị, cùng có lợi Một lần trả lời các nhà báo, Hồ Chí Minh đã nói: Có thể rằng, chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác Có thể rằng: chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia Theo Hồ Chí Minh, trong điều kiện đất nước còn nghèo thì hội nhập, hợp tác quốc tế, sự giúp đỡ của các nước là một nguồn vốn quý cũng như thêm vốn cho ta Ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta Người không bao giờ nhầm lẫn giữa những giá trị văn minh của nhân loại với những xấu xa của chủ nghĩa tư bản thực dân Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng, mọi thành tựu của khoa học kỹ thuật, mọi nguồn lực kinh tế, văn hóa đã được tạo ra đều là tài sản chung của văn minh nhân loại Do đó, nước ta phải tích cực hội nhập thông qua các hình thức hợp tác quốc tế để khai thác tốt nhất mọi giá trị nguồn lực của nhân loại nhằm làm giàu và tăng cường sức mạnh cho dân tộc, giữ vững quyền độc lập

tự do, mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào Từ địa vị một nước thuộc địa mới giành độc lập, lại nghèo, trong hội nhập, hợp tác với các nước, bao giờ cũng tiềm ẩn nhiều điều bất lợi Do vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi hợp tác, quan hệ quốc tế phải trên cơ sở thật thà và cùng có lợi, chống lại mọi thủ đoạn để dẫn tới sự can thiệp và thôn tính lẫn nhau Người khẳng định: Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với công dân Pháp Những người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam sẽ

Trang 21

được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như anh em bè bạn Song nhân dân Việt Nam kiên quyết cự tuyệt những người Pháp quân phiệt

Quan điểm tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong thư của Người gửi cho Liên hợp quốc tháng 12/1946:

“Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

a) Nước Việt Nam giành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà

tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình

b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế

c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc…

Trong cuộc đấu tranh vì những quyền thiêng liêng của mình, nhân dân Việt Nam có một niềm tin sâu sắc rằng họ cũng chiến đấu cho một sự nghiệp chung: Đó là sự khai thác tốt đẹp những nguồn lợi kinh tế và mọi tổ chức có

hiệu quả cho an ninh ở Viễn Đông” [22; 470]

Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức, quá trình đổi mới ở nước ta càng đi vào chiều sâu, hội nhập và hợp tác quốc tế có vai trò to lớn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hội nhập, hợp tác quốc tế thật sự là kim chỉ nam để dân tộc ta vượt lên sớm thoát khỏi đói nghèo, thực hiện dân giàu, nước mạnh.Chính những tư tưởng vô cũng quí báu ấy đã được Đảng ta vận dụng xây dựng các chiến lược xây dựng, phát triển thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế nhằm góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ đất nước, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập quốc tế

Trang 22

Nhận thức được xu thế và yêu cầu chung về toàn cầu hoá của thời đại, đại hội VI của Đảng (12/1986) trong khi quyết định chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN thì cũng đồng thời chủ trương: Việt Nam phải tham gia ngày càng rộng rãi vào sự phân công lao đông quốc tế, tích cực phát triển quan hệ kinh tế và khoa học kĩ thuật với các nước, các tổ chức quốc tế và

tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi

Trên cơ sở các chủ trương của Đảng, Nhà nước ban hành hệ thống luật đồng bộ bao gồm: luật đầu tư, luật lao động, luật thương mại, luật ngân hàng, luật hải quan, luật bưu chính viễn thông, luật xây dựng, luật khoa học công nghệ, luật tài nguyên Sửa đổi và bổ sung pháp luật và pháp lệnh hiện hành về thuế, khuyến khích đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Cải tiến việc ban hành văn bản pháp luật Đối với những chính sách: Nhà nước ban hành chính sách thương mại, tài chính, tiền tệ, đầu tư để kích thích mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo điều kiện cho nước ta hội nhập kinh tế quốc tế

Từ những yêu cầu đặt ra đó, cán bộ cơ sở đòi hỏi phải có sự nhanh nhẹn, linh hoạt, nắm bắt kịp thời các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để tuyên truyền, phổ biến cho các doanh nghiệp, tầng lớp nhân dân trên địa bàn từng bước đáp ứng được yêu cầu của HNKTQT

1.1.3 Hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu nâng cao trình độ, kiến thức cho đội ngũ cán bộ cơ sở

Trong bối cảnh hiện kinh tế hiện nay còn rất nhiều biến động, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh Để phát triển trong bối cảnh như vậy, HNKTQT trở thành một đòi hỏi

Trang 23

không thể né tránh đối với các nước Vì vậy, Đảng ta đã quyết định: Chủ động HNKTQT và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo

vệ môi trường Toàn cầu hoá và HNKTQT đã trở thành một xu thế tất yếu trong quan hệ kinh tế hiện nay Trong xu thế đó, ở các mức độ khác nhau, các nước không thể không tham gia hội nhập Vấn đề đặt ra là nếu không có sự chuẩn bị, không chủ động phát huy nội lực thì không thể hội nhập thành công Toàn cầu hoá kinh tế có tác động hai mặt đối với nền kinh tế của mọi quốc gia Quá trình toàn cầu hoá kinh tế không chỉ gây tác động lan toả, phổ cập những mặt tích cực mà nó còn gây ra những mặt trái, ảnh hưởng tới sự phát triển của các quốc gia Tuy thế giữa các nước và các bộ phận xã hội ở mỗi nước vẫn đang tồn tại sự khác biệt đáng kể về nhận thức cũng như trong hành động trước toàn cầu hoá Những nước và nhóm xã hội yêu thế thường bị thua thiệt do tác động từ những mặt trái của toàn cầu hoá và luôn phản đối nó hoặc trong tâm thế thích ứng bị động Trong khi đó, những nước và những người

có sức mạnh chi phối toàn cầu hoá lại coi đó là cơ hội mang lại sự tiến bộ cho mình và ra sức tận dụng những mặt tích cực của nó Cho dù vậy, toàn cầu hoá vẫn đã và sẽ diễn ra, chi phối dưới hình thức này hay khác, với các mức độ khác nhau đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội của hầu hết các nước, nếu nhìn về dài hạn Bên cạnh đó, HNKTQT là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ Ngày nay, muốn tránh thua thiệt và được hưởng lợi trong cạnh tranh quốc tế, thì vấn đề cốt lõi là phải tăng cường thực lực kinh tế và chủ động hội nhập Đồng thời có tự chủ về kinh tế mới có thể chủ động hội nhập hiệu quả như mong muốn Xác định độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản bảo đảm sự bền vững của độc lập tự chủ về chính trị và do

Trang 24

đó, trên con đường HNKTQT, các nước tham gia HNKTQT tế phải có đường lối, chính sách kinh tế độc lập tự chủ, gắn với nguyên tắc chủ động HNKTQT trên nguyên tắc bao trùm là bảo đảm giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa

Bên cạnh đó, kế thừa thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp và đặc biệt vào những năm 80 của thế kỷ XX đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học công nghệ tạo ra tiền đề quan trọng cho tất cả các quốc gia đó là:

- Tạo khả năng cho các ngành sản xuất trong việc ứng dụng các công nghệ hiện đại và kỹ thuật do con người tạo ra

- Nhu cầu xã hội, đặc biệt là nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng được thỏa mãn với chất lượng cao

- Xuất khẩu tăng nhanh, cung luôn vượt cầu, thị trường trở nên chật hẹp

- Phải đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện phân công lao động quốc tế sâu sắc hơn

- Ngày nay, các định chế kinh tế tài chính quốc tế xuất hiện ngày càng nhiều và bao trùm lên phạm vi toàn cầu góp phần tạo động lực to lớn thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa Sự xuất hiện của các tổ chức như IMF, AFTA, NAFTA, là những ví dụ điển hình của các liên kết kinh tế tài chính thúc đẩy hoạt động kinh tế diễn ra trên phạm vi rộng mang tính toàn cầu

- Đặc biệt là sự xuất hiện WTO với tư cách là diễn đàn thương mại đa phương, đã biến WTO thành một "Liên hợp quốc" về thương mại Sự xuất hiện WTO đã góp phần to lớn trong việc đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu, làm cho quan hệ thương mại quốc tế thay đổi mạnh về chất, phân công lao dộng quốc tế ngày càng sâu sắc

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển nhu cầu và mục tiêu vươn tới

Trang 25

để trở thành một quốc gia công nghiệp có kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, đời sống của nhân dân với chất lượng ngày càng cao Tư tưởng chỉ đạo

đó đã được khẳng định trong nhiều Nghị quyết quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII; IX, X, XI

1.1.4 Vai trò của công tác bồi dưỡng chuyên đề “tích cực, chủ động HNKTQT” đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cơ sở

Trong thời kỳ đổi mới, HNKTQT, vấn đề cải cách hành chính đã được Nhà nước ta chú ý thực hiện và đã có những thành tựu quan trọng Tuy nhiên, nền kinh

tế Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi, việc tiếp tục cải cách hành chính, kiện toàn bộ máy quản lý, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công chức, cải cách

cơ chế vận hành của bộ máy chính quyền các cấp vẫn đang là vấn đề cần thiết Do

đó cần coi trọng nâng cao trình độ chuyên môn nói chung, trình độ và kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng đối với đội ngũ cán bộ cơ sở

Đội ngũ cán bộ cơ sở là một trong những nhân tố có tính chất quyết định

sự thành công hay thất bại của một hệ thống quản lý nhà nước và hiệu quả của các hoạt động kinh tế - xã hội ở cấp xã, phường, thị trấn Ngày nay, lao động quản lý có xu hướng trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ cấu lao động

xã hội, là một nghề với một cơ cấu phức tạp trong cơ cấu sản xuất xã hội được chuyên môn hoá, hiệp tác hoá sâu sắc.Vai trò của cán bộ quản lý ngày càng tăng do sản xuất xã hội ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu và

có sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường Điều đó làm tăng số lượng các phương án và quyết định lựa chọn các phương án tối ưu trong sản xuất kinh doanh trở nên phức tạp hơn Do vậy, tác động của các quyết định quản lý đối với đời sống kinh tế - xã hội vừa có thể đem lại hiệu quả lớn hoặc để lại hậu quả nghiêm trọng Thực tế cho thấy, nó đòi hỏi tính trách nhiệm của mỗi cán

bộ cơ sở cả về chất lượng và tính khoa học của các quyết định quản lý Đồng thời, sự tăng nhanh khối lượng tri thức và độ phức tạp của cơ cấu tri thức, sự

Trang 26

xuất hiện của hệ thống thông tin quản lý đã và đang mở rộng đòi hỏi khả năng

xử lý, chọn lọc để có quyết định quản lý đúng đắn và hiệu quả Vai trò của cán bộ cơ sở ngày càng tăng, thực chất là do đòi hỏi ở người cán bộ khả năng phát huy nhân tố chủ quan, có bản lĩnh, tri thức và năng động trên cơ sở nắm vững và vận dụng quy luật khách quan cũng như các quan điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới, HNKTQT

Chính vì vậy để nâng cao chất lương đội ngũ cán bộ cơ sở thì công tác bồi dưỡng cán bộ chuyên đề “Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” có vai trò đặc biệt quan trọng Nếu không được bồi dưỡng về kiến thức hội nhập,

về các tổ chức kinh tế quốc tế, về quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam, về lợi thế so sánh của đát nước, của địa phương trong bối cảnh hội nhập sân chơi toàn cầu…thì đội ngũ cán bộ cơ sở không thể vững vàng về bản lĩnh chính trị,

có đủ năng lực, trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, về kiến thức quản lý hành chính nhà nước…để thực thi công vụ

Để đội ngũ cán bộ cớ sở của Ninh Bình ngang tầm với đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hoá, xã hội, chủ động HNKTQT thì một đòi hỏi cấp bách hiện nay là cần bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở có đủ trình độ và năng lực lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện thành công sự nghiệp CNH - HĐH, hội nhập, phát triển kinh tế, xã hội

Cũng giống như các tỉnh, thành phố khác, sự tác động của hoạt động HNKTQT đối với Ninh Bình rất khác nhau ở hai thời kỳ trước và sau khi chuyển sang cơ chế thị trường Ninh Bình cũng như các tỉnh khác trong nền

kinh tế kế hoạch hoá tập trung hầu như không có gì thay đổi qua thời gian

Đó là một hệ thống kín Ninh Bình chỉ được biết đến nhờ các hoạt động chính trị, giáo dục, văn hoá, khoa học kỹ thuật

Trang 27

Khác với tình trạng đó, khi chuyển sang cơ chế thị trường, HNKTQT, Ninh Bình dù muốn hay không cũng phải thay đổi theo yêu cầu của quy luật kinh tế thị trường, của quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa Sự thay đổi diễn

ra bắt nguồn từ động lực kinh tế thúc đẩy trên tất cả các mặt: xây dựng cơ sở

hạ tầng, kiến trúc đô thị, và sinh hoạt xã hội Ninh Bình chuyển từ một hệ thống khép kín sang hệ thống mở Nhờ đó Ninh Bình đang trở thành một trung tâm kinh tế Cũng nhờ đó nó đem lại cho các hoạt động chính trị, giáo dục, văn hoá, khoa học một sắc thái mới, khác với trước đây

Sở dĩ có những biến chuyển lớn như thế, vì Ninh Bình chịu tác động ngày càng tăng của quy luật kinh tế thị trường, hội nhập Tác động này sẽ ngày càng lớn hơn cùng với quá trình mở cửa, HNKTQT ngày càng sâu rộng của đát nước Những điều đó đòi hỏi trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở phải vươn lên đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Do đó công tác đào tạo, bồi dưỡng, đặc biệt bồi dưỡng chuyên đề “Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” cho đội ngũ cán

bộ cơ sở công chức cần được quan tâm đúng mức

1.1.5 Nội dung cơ bản của chuyên đề “Chủ động, tích cực Hội nhập kinh tế quốc tế”

Theo Hướng dẫn số 58 - HD/BTGTW ngày 13/11/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương, chuyên đề “Chủ động, tích cực HNKTQT” bao gồm bốn chuyên đề chính sau:

Chuyên đề 1: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

I Khái niệm

1 Khái niệm "toàn cầu hoá "

2 Khái niệm "toàn cầu hoá kinh tế quốc tế”

3 Khái niệm "toàn cầu hóa và khu vực hóa"

4 Khái niệm "hội nhập kinh tế quốc tế"

Trang 28

II Những nhân tố khách quan thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá

1 Sự phát triển của sản xuất hàng hoá và cơ chế kinh tế thị trường;

2 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ và kinh tế tri thúc;

3 Sự phát triển của quá trình phân công lao động quốc tế Sự hình thành các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia

III Tác động có tính hai mặt của toàn cầu hóa

1 Những tác động tích cực của quá trình toàn cầu hoá

2 Những tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá

3 Quan niệm tính chất tư bản chủ nghĩa của toàn cầu hóa

IV Những xu hướng chủ yếu của Quá trình toàn cầu hóa trong giai đoạn hiện nay

Phân tích những xu hướng chủ yếu của quá trình toàn cầu hoá đối với mối quan hệ quốc tế và quá trình hội nhập về kinh tế của các nước trong giai đoạn hiện nay

Câu hỏi thảo luận

1 Phân tích các khái niệm toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế?

2 Phân tích rõ những nhân tố dẫn tới tính khách quan của quá trình toàn cầu hoá ?

Chuyên đề 2: Cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập kinh

Trang 29

- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Hội nhập kinh tế quốc tế có tác động tích cực đến lao động, việc làm

và các vấn đề xã hội

- Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ

- Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần hình thành nền kinh tế độc lập tự chủ của nước

- Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần bảo vệ môi trường sinh thái

- Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần mở rộng giao lưu văn hoá quốc tế

II Những thách thức, khó khăn đặt ra cho Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Việt Nam chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để tham gia có hiệu quả vào thị trường toàn cầu

- Nền công nghiệp Việt Nam còn nhỏ bé đang hội nhập vào thị trường quốc tế đang cạnh tranh gay gắt, quyết liệt

- Những tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế đến lao động, việc làm và các vấn đề xã hội

- Nguy cơ "tụt hậu" về trình độ khoa học, công nghệ

- Nguy cơ bị lệ thuộc của nền kinh tế

- Những thách thức trong lĩnh vực môi trường

- Tác động của hội nhập kinh tế đến lĩnh vực tư tưởng, văn hoá

Trang 30

III Cơ hội và thách thức đối với nước ta khi là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO)

- Cơ hội, thách thức khi nước ta chính thức trở thành thành viên của WTO

- Mối quan hệ giữa cơ hội và thách thức

- Tận dụng tốt cơ hội, vượt qua mọi thách thức để đưa nền kinh tế nước

ta bước vào giai đoạn phát triển nhanh, bền vững

Câu hỏi thảo luận

1 Phân tích cơ hội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam?

2 Phân tích những thách thức, khó khăn đặt ra trong quá trình Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế?

Chuyên đề 3: Đường lối, quan điểm, giải pháp tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay

I Khái quát về quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

1 Quá trình hoàn thiện đường lối tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta

- Thời kỳ trước đổi mới

- Thời kỳ đổi mới

2 Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

3 Ý nghĩa của việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới

4 Nội dung chủ yếu trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam

II Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo trong hội nhập kinh tế quốc tế

1 Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Trang 31

2 Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập kinh tế của Đảng

- Bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá dân tộc

- Giải quyết tốt các vấn đề môi trường trong quá trình phát triển

- Giữ vững và tăng cường quốc phòng, an ninh quốc gia trong quá trình hội nhập

- Hoàn thiện các thiết chế dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Câu hỏi thảo luận

1 Phân tích mục tiêu, quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam?

2 Phân tích một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế nước ta phát triển bền vững khi là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới ?

Trang 32

Chuyên đề 4: Giữ gìn, phát huy và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, giữ vững trận địa tư tưởng - văn hóa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

I Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ gìn, phát huy và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc

1 Văn hoá trong quá trình toàn cầu hoá

2 Giữ gìn, phát huy và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc trong quá

trình mở cửa, hội nhập, giao lưu và hợp tác nhằm tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá, văn minh của nhân loại, đồng thời phải bảo vệ, bảo toàn các giá trị tốt đẹp, cao quý, bản sắc dân tộc của nền văn hoá Việt Nam

3 Những âm mưu và thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng - văn hóa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

II Bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc, giữ vững trận địa tư tưởng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1 Bảo vệ, phát huy và phát triển văn hoá Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

2 Bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế

3 Thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, đấu tranh có hiệu quả chống âm mưu "diễn biến hoà bình" trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Câu hỏi thảo luận

1 Phân tích khía cạnh văn hoá trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam?

2 Phân tích và liên hệ trách nhiệm của tập thể và bản thân đối với việc bảp vệ và phát triển văn hoá dân tộc, giữ vững trận địa tư tưởng trong quá trình Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ?

Trang 33

1.2 Thực trạng công tác bồi dƣỡng chuyên đề “Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Ninh Bình

1.2.1 Bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình

1.2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình

* Điều kiện tự nhiên:

Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng sông Hồng, phía bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía đông và đông bắc giáp tỉnh Nam Định; phía nam là Vịnh Bắc Bộ; phía tây và tây nam giáp tỉnh Thanh Hóa; phía tây bắc giáp tỉnh Hòa Bình

Theo cách tính tọa độ địa lý ngày nay, lấy bốn điểm xa nhất về bốn hướng: đông – tây – nam – bắc làm điểm chuẩn thì tỉnh Ninh Bình nằm trên tọa độ sau:

+ Vĩ độ Bắc: Từ 19o47’ (cửa sông Đáy xã Kim Đông, huyện Kim Sơn) đến 20028’ (xóm Lạc Hồng, xã Xích Thổ, huyện Nho Quan)

+ Kinh độ Đông: Từ 105032’ (núi Điện, xã Cúc Phương, huyện Nho Quan) đến 106010’20” (khu vực Đò Mười, xã Khánh Thành, huyện Yên Khánh)

Ninh Bình có diện tích tự nhiên 1.389,1km2, số dân năm 2008 là 936.262 người, mật độ 674 người/km2 So với các tỉnh, thành trong cả nước,

có thể thấy: về diện tích tự nhiên, Ninh Bình thuộc loại nhỏ, về dân số thuộc loại trung bình, nhưng mật độ dân số lại thuộc loại cao so với mật độ chung của Việt Nam

Căn cứ trên bản đồ Việt Nam, tỉnh Ninh Bình nằm trên rìa cạnh tam giác châu thổ Bắc Bộ, phía đông là đồng bằng, phía nam là biển cả, dãy Tam Điệp là giới hạn cuối cùng về phía nam của Bắc Bộ, là khởi đầu của Trung Bộ Trong quá khứ, Ninh Bình là nơi tiếp giáp của hai đơn vị hành chính lớn: Giao Châu phía bắc và Ái Châu phía nam, là trung gian giữa xã hội người Việt ở

Trang 34

đồng bằng và xã hội người Mường ở vùng rừng núi Tây Bắc (Hòa Bình) Ninh Bình đã từng là nơi phân chia giữa Đông Việt (phía bắc) và Tây Việt (xứ Thanh), là giới tuyến và chiến tuyến giữa hai tập đoàn phong kiến Lê – Mạc ở thế kỷ XVI Cuối thế kỷ XVIII, khi giặc thanh kéo vào xâm chiếm kinh thành Thăng Long, nghĩa quân Tây Sơn đã lấy Tam Điệp làm chiến lũy chặn ngang bắc – nam để đợi đại quân từ Phú Xuân (Huế) kéo ra và quét sạch giặc thù Giờ đây, Ninh Bình nằm trên chiến tuyến giao thông huyết mạch: Quốc lộ 1A xuyên Bắc – Nam, và cách Hà Nội khoảng 90km – một lợi thế không nhỏ

* Tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 – 2010 Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIX đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010: “Khai thác và huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tạo bước đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển văn hóa – xã hội toàn diện, vững chắc; tiếp tục thực hiện xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, giảm các tai,

tệ nạn xã hội; tăng cường công tác quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng hệ thống chính trị vững chắc, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm và năng lực chỉ đạo điều hành, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành, các cấp, xây dựng cơ cấu kinh tế: Công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, phấn đấu chỉ tiêu GDP tính theo đầu người đạt mức bình quân chung của các tỉnh Đồng bằng sông Hồng”

Quá trình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 –

2010 của tỉnh có nhiều thuận lợi, đó là: Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định; tác động tích cực từ những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội

cả nước sau hơn 20 năm đổi mới; kinh tế địa phương bước vào thời kỳ phát triển mạnh; Sự nỗ lực của Đảng bộ, nhân dân trong tỉnh được khơi dậy… Tuy vậy, Ninh Bình cũng gặp rất nhiều khó khăn, thách thức như: Ảnh hưởng của

Trang 35

suy giảm kinh tế cả nước do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu gây ra, tăng trưởng kinh tế không ổn định và thiếu bền vững, làm chậm quá trình chuyển dịch kinh tế theo hướng hiện đại của tỉnh; Tình hình thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, biến đổi phức tạp của khí hậu toàn cầu tác động xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm ước đạt 16,5%, vượt kế hoạch Hai năm đầu thực hiện (2006 - 2007) nền kinh tế tiếp tục đà phát triển với tốc độ tăng trưởng GDP lần lượt là 17,26% và 14,9% Năm 2008 tăng vọt lên 18,9% là do một số nhà máy xi măng lớn đã hoàn thành xây dựng và đi vào hoạt động Năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy giản kinh tế trong nước, tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt 15,4% Năm 2010, kinh tế địa phương dần lấy lại đà tăng trưởng, tốc độ tăng GDP đạt trên 16,0%

Quy mô của nền kinh tế tăng nhanh, GDP (giá CĐ 1994) năm 2010 ước đạt trên 7,0 nghìn tỉ đồng, gấp 3,6 lần so với năm 2000 và gấp gần 2,1 lần

so với năm 2005 Theo giá thực tế, GDP 2010 đạt trên 18,7 nghìn tỉ đồng, gấp 7,8 lần so với năm 2000 và gần 3,8 lần so với năm 2005 Nên đã nâng mức GDP/người từ 5,57 triệu (năm 2005) lên 20,6 triệu đến (năm 2010), gấp 1,5 lần so với kế hoạch đề ra

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng nhanh, bình quân tăng 47,67%/năm, nâng tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm đạt khoảng 52.150 tỉ đồng, gấp hơn 5 lần so với giai đoạn 2001 – 2005 Cơ cấu đầu tư đã có những chuyển biến tích cực, tập trung hơn cho những dự án sản xuất kinh doanh và thực hiện các mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội; nhiều dự án đầu tư vào sản xuất công nghiệp làm tăng năng lực sản xuất, kinh doanh tạo ra khối lượng lớn sản phẩm có sức cạnh tranh; nhiều công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được hoàn thành làm tăng cơ sở vật chất của kinh tế - xã hội

Trang 36

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trong thời gian vừa qua cũng còn nhiều hạn chế, tăng trưởng kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào một số ngành công nghiệp như sản xuất xi măng và thép xây dựng; các ngành công nghiệp khác quy mô còn nhỏ, manh mún; thị trường và khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm công nghiệp còn yếu Tỷ trọng công nghiệp cơ khí, chế tạo, công nghiệp sạch còn thấp và chưa có định hướng rõ để thu hút đầu

tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài Chưa phát huy được hết các nhân tố phát triển theo cả chiều sâu và chiều rộng Năng lực cạnh tranh, năng xuất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế vẫn còn thấp so với tiềm năng và yêu cầu cạnh tranh trong điều kiện mới Tăng trưởng kinh tế còn chênh lệch khá lớn giữa các vùng, địa phương trong tỉnh

Chưa phát huy tốt thế mạnh trong từng ngành kinh tế, dịch vụ chất lượng cao chậm phát triển Sản xuất hàng hóa chưa thật năng động, thị trường hạn chế và còn mang tính tự phát cao Kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về kĩ thuật, ô nhiễm môi trường nước và dịch bệnh Tỷ trọng công nghiệp gia công, lắp giáp vẫn là chủ yếu; công nghiệp bổ trợ chậm phát triển; tốc độ đổi mới công nghệ chậm; các sản phẩm chủ yếu của ngành còn ít Tỷ trọng dịch vụ trong GDP còn thấp và chưa có chuyển biến rõ nét Các vùng kinh tế trọng điểm phát triển chưa tương xứng với tiềm năng vai trò; chính sách đầu tư và hỗ trợ các vùng kém phát triển chưa đáp ứng được nhu cầu Kinh tế du lịch chậm phát triển để phù hợp với tiềm năng, thế mạnh và yêu cầu, dịch vụ du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu, các cơ sở phục vụ du lịch chưa thực sự hấp dẫn khách du lịch

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối còn thấp Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác xã hiệu quả hoạt động chưa cao Việc hình thành các loại thị trường chậm và chưa thật đồng bộ, còn nhiều lúng túng

Trang 37

trong quá trình phát triển và quản lý Thị trường tài chính, thị trường bất động sản mới bắt đầu xuất hiện, còn nhỏ bé và manh mún; thị trường lao động phát triển tự phát và còn nhiều bất cập; thị trường khoa học công nghệ yếu

Quản lý quy hoạch còn buông lỏng Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản còn những hạn chế nhất định, tiến độ thực hiện dự án còn kéo dài Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, nhất là ở nông thôn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Hệ thống khu, cụm công nghiệp chậm được hoàn chỉnh để đi vào khai thác Mạng lưới giao thông, thủy lợi, bưu chính viễn thông, hạ tầng đô thị và một số lĩnh vực kĩ thuật khác chưa hoàn chỉnh, chất lượng còn thấp, đặc biệt

là ở khu vực nông thôn, vùng núi, bãi ngang

Sự tham gia hội nhập của kinh tế địa phương mới ở giai đoạn đầu; mặt hàng xuất khẩu còn ít về chủng loại, chủ yếu là hàng công nghiệp chế biến từ nông sản giá trị thấp Chưa thu hút được công nghệ tiên tiến và các dự

án lớn, nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn còn thấp

Chất lượng trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề chưa cao; cơ

sở vật chất còn khó khăn, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp; dịch

vụ bổ trợ cho ngành giáo dục và đào tạo chưa phát triển Khoa học công nghệ chưa có vai trò chủ đạo trong việc nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trên một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh còn yếu Thành tựu giảm nghèo chưa thật vững chắc, tỷ lệ hộ cận nghèo còn cao Chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các khu vực còn cao Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có lúc, có khâu còn chưa tốt Quản lý nhà nước ở một số điểm văn hóa chưa chặt chẽ Việc thực hiện nếp sống văn minh ở nhiều khu du lịch, khu di tích văn hóa chưa đáp ứng được nhu cầu Vệ sinh, môi trường, nhất là ở các khu vực nông thôn và ở các khu, điểm du lịch chưa được đảm bảo

Trang 38

1.2.1.2 Tình hình Hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Ninh Bình

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11/1/2007, là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình HNKTQT của nước ta Những thành tựu đạt được trong hơn

20 năm qua cho thấy, việc Việt Nam tham gia vào WTO là phù hợp với thực

tế khách quan và xu thế hợp tác, HNKTQT đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ

và sâu sắc trên thế giới hiện nay, tạo thuận lợi cho quan hệ thương mại giữa Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng với các nước trên thế giới, thể hiện trên một số mặt như sau:

- Về kinh tế đối ngoại

Cùng với việc hoàn thiện và bổ sung quy hoạch các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, quảng bá rộng rãi các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư, tiềm năng và môi trường đầu tư của tỉnh, hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh đã có những chuyển biến đáng kể so với năm 2006 Tỉnh Ninh Bình đã cấp 11 Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư trên 425 triệu USD Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Ninh Bình chủ yếu do các nhà đầu tư từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản… thực hiện, tập trung vào các lĩnh vực: Sản xuất

xi măng, hàng may mặc, chế biến thực phẩm, dịch vụ du lịch… Các dự án này đang góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho lao động, tăng thu nhập của người dân, đóng góp một phần không nhỏ cho ngân sách tỉnh

Năm 2008, Ninh Bình đã thu hút được 7 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký đạt 65,8 triệu USD (trong đó có 3 dự án vào khu công nghiệp với tổng số vốn đăng ký đạt 26,5 triệu USD), đóng góp

Trang 39

chính tích cực vào sự tăng trưởng mạnh của sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu của tỉnh

Năm 2009, Ninh Bình đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 8 dự án đầu

tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 82 triệu USD

Năm 2010, Ninh Bình tiếp tục thu hút được 8 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký đạt 102,3 triệu USD

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 37 tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động hơn 20 dự án và các khoản viện trợ cho tỉnh Tổng trị giá đã cam kết là 1.938 ngàn USD Một số tổ chức có nhiều đợt làm việc tại tỉnh như: Tổ chức CRS, WCDO, ORBIS, GRET, VVAF, Hội thúc đẩy hòa bình và hữu nghị Nhật Việt, Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, JICA, EAST Việt Nam

Nhìn chung, khi thực hiện dự án, các tổ chức đều có văn bản xin phép hoặc thông báo với chính quyền, nên việc triển khai thực hiện tương đối thuận lợi, đáp ứng mục đích đề ra, hỗ trợ kịp thời cho các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi Trên địa bàn tỉnh còn có 09 dự án ODA hoạt động (06 dự án tỉnh là

cơ quan chủ quản, 03 dự án do cơ quan Trung ương chủ quản) với tổng số vốn cam kết là 827.896 triệu đồng, vốn đối ứng là 197.395 triệu đồng

- Các hoạt động giao lưu với nước ngoài

Trong năm 2010, UBND tỉnh và các sở, ban, ngành, hội, UBND các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh đã thực hiện nhiều hoạt động hợp tác, giao lưu về mọi mặt với các đối tác nước ngoài nhằm tăng cường hơn nữa tình đoàn kết hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau với các nước cũng như các tổ chức quốc tế trên thế giới Những hoạt động giao lưu nổi bật như:

+ Hoạt động giao lưu thắt chặt tình cảm anh em bền chặt giữa tỉnh Ninh Bình và tỉnh U Đôm Xay – Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Ninh Bình đã hỗ

Trang 40

trợ bạn kinh phí 1,5 tỷ đồng xây dựng lại nhà văn hóa trước đây tỉnh Hà Nam

cũ đã giúp đỡ xây dựng

+ Xây dựng và mở rộng quan hệ đối ngoại với các địa phương của nước ngoài như: thành phố Jecheon, tỉnh Chungcheongbuk của Hàn Quốc với thành phố Ninh Bình, quan hệ hợp tác giữa thành phố Brantford, Canada và Liên đoàn các đô thị Canada, tỉnh Chita – Liên Bang Nga với tỉnh Ninh Bình

Hoạt động giao lưu hữu nghị và hợp tác với bạn bè quốc tế được thực hiện thường xuyên, có định hướng, ngày càng mở rộng và đem lại hiệu quả thiết thực hơn, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội nói chung của tỉnh, nâng cao hiệu quả HNKTQT của tỉnh Ninh Bình

- Về hoạt động xuất nhập khẩu

Trong các năm gần đây, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng và chi phối của lạm phát và giá cả tăng cao dẫn tới nhu cầu thị trường trong và ngoài nước giảm, nhưng hoạt động xuất khẩu trên địa bàn tỉnh vẫn đạt được kết quả đáng khích lệ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, kết quả trong năm 2010 về hoạt động xuất nhập khẩu có hiệu quả cao so với các năm trước

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm là 178 triệu USD tăng 28,5%

so với năm 2007 và vượt 23,6% so với kế hoạch Trong đó kim ngạch xuất khẩu là 48,2 triệu USD, tăng 38,5% so với năm 2009 và vượt 37,6% so với

kế hoạch Đây là mốc hết sức quan trọng, là năm tỉnh Ninh Bình có kim ngạch đạt cao nhất từ trước tới nay, tạo đà cho việc thực hiện thành công chiến lược xuất khẩu của tỉnh đến năm 2011 kim ngạch đạt trên 50 triệu USD Hoạt động nhập khẩu cả năm cũng tăng cao theo hướng nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh

Ngày đăng: 22/08/2023, 00:16

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w