Ở các thành phố, dân cư tập trung nhiều, nhà cao tầng, công trình văn hoá mọc lên, khan hiếm đất đai, không còn diện tích cho các loài rau ăn phát triển điều đó đang là một vấn đề đáng p
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3nông nghiệp trên địa bàn TP Vinh
12
Trang 425 2.3.2 Phương pháp thu mẫu 17
Trang 5và các vùng phụ cận
Trang 6Magnoliophyta
41
và vùng phụ cận so với hệ thực vật Việt Nam
Trang 7nghiên cứu
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Trang
cận
46
Trang 10LỜI CẢM ƠN
tại Chuyên ngành Thực vật, Khoa Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Vinh, tôi nhận được sự ủng hộ giúp đỡ của các Thầy, Cô giáo, các địa phương nơi nghiên cứu, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Ngô Trực Nhã người Thầy đã tận tình chỉ bảo , hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến các Thầy, Cô giáo khoa Sau Đại học và khoa Sinh học – Trường Đại học Vinh, cán bộ công nhân viên Trường THPT Hữu Nghị, cùng gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Vinh, ngày 06 tháng 12 năm 2011
Tác giả
Lê Thị Son
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, là nguồn tài nguyên quý giá cung cấp cho con người nhiều nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như lương thực, thực phẩm, rau xanh, dược liệu và các nguyên liệu khác phục vụ cho các hoạt động phát triển Trong điều kiện hiện nay, mức sống của con người từng bước được nâng cao, cơ thể con người có xu hướng dư thừa quá nhiều chất dinh dưỡng như đạm,
mỡ và thiếu rau xanh nên người ta có nhu cầu ăn nhiều rau Ở các thành phố, dân
cư tập trung nhiều, nhà cao tầng, công trình văn hoá mọc lên, khan hiếm đất đai, không còn diện tích cho các loài rau ăn phát triển điều đó đang là một vấn đề đáng phải quan tâm
Rau cung cấp cho con người nhiều loại Vitamin, chất xơ, chất khoáng, chất kháng sinh, prôtêin, từ xưa tới nay, Nghệ An chúng ta là tỉnh nông nghiệp, nhân dân ta ngoài trồng lúa, hoa màu, còn trồng rau ở khắp nơi Do đô thị hoá và công nghiệp hoá nên nghề trồng rau không phát triển, do thiếu rau nên nhiều nơi trồng rau lại sử dụng quá nhiều chất hoá học, kích thích mang lại lợi ích cho mình đã đem lại nhiều bất lợi cho người sử dụng nó Môi trường sống bị ô nhiễm, nguồn rau cũng tàn lụi dần, hệ sinh thái biến đổi ảnh hưởng không tốt cho cuộc sống con người
Để góp phần đánh giá đầy đủ giá trị về nguồn tài nguyên rau xanh trong
hệ sinh thái biến đổi ở Thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An và vùng phụ cận làm cơ
sở xây dựng chiến lược quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên rau xanh Tôi
tiến hành đề tài: "Điều tra đa dạng loài cây rau của nhân dân Thành
phố Vinh và vùng phụ cận"
Trang 122 Mục tiêu
- Điều tra thu thập thành phần các loài rau, tìm hiểu công dụng của chúng
về mặt cung cấp dinh dưỡng và giá trị kinh tế, nhằm góp phần tuyên truyền và
phổ biến trong nhân dân trồng và sử dụng các loài rau đạt hiệu quả
- Phân tích đánh giá tính đa dạng các loại rau theo môi trường sống, giá trị
sử dụng và cách sử dụng tại các địa bàn dân cư trong thành phố Vinh và vùng phụ cận
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu rau một số nước trên thế giới
Hiện nay, có khoảng 120 loài rau được sản xuất ở khắp các lục địa nhưng chỉ
có 12 loài chủ lực được trồng trên 80% diện tích rau trên toàn thế giới [19] Loài rau được trồng nhiều nhất là cà chua - 3,17 triệu ha, thứ hai là hành - 2,29 triệu
ha, thứ ba là bắp cải - 2,07 triệu ha Ở châu Á, loại rau được trồng nhiều nhất là
cà chua, hành, bắp cải, dưa chuột, cà tím, ít nhất là đậu Hà Lan [19] Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, ngoài việc mở rộng diện tích trồng thì năng suất và sản lượng các loại rau cũng không ngừng tăng Theo số liệu thống
kê của FAO năm 2001 tình hình sản xuất rau được thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng rau trên thế giới (1997 - 2001)
Diện tích (triệu ha)
- Thế giới
- Châu Á
Tỷ lệ (%)
37,759 25,003 66,21
39,740 26,745 67,30
41,558 28,087 67,59
42,442 28,883 68,05
43,023 29,539 68,66 Năng
suất (tạ/ha)
- Thế giới
- Châu Á
Tỷ lệ (%)
161,06 163,47 101,50
158,79 159,85 100,67
160,65 160,82 100,11
163,02 165,22 101,35
162,27 164,95 101,65 Sản
lượng (triệu tấn)
- Thế giới
- Châu Á
Tỷ lệ (%)
608,124 408,716 67,21
631,037 427,518 67,75
667,633 451,687 67,66
691,894 477,210 68,97
698,127 487,251 69,79
(Nguồn: FAO - Databases, 2002) [19]
Ghi chú: Tỷ lệ %: tỷ lệ châu Á/Thế giới
Qua số liệu bảng 1.1 cho thấy, từ năm 1997 - 2001 năng suất rau của châu
Á luôn luôn đạt mức cao hơn so với năng suất chung của toàn thế giới, năm 1997 năng suất rau châu Á là 163,47 tạ/ha (bằng 101,5 % năng suất của toàn thế giới) Năm 2001, năng suất rau của châu Á cao nhất qua 5 năm, đạt 101,65%( năng
Trang 14suất rau châu Á là 164,95 tạ/ha và năng suất thế giới 162,27 tạ/ha [19])
Theo Trung tâm rau quả thế giới, diện tích trồng rau tăng diện nhanh nhất trên thế giới (nhất là Châu Á) Nhiều khu vực trước đây trồng ngũ cốc và bông sợi hoặc bỏ hoang thì nay đã chuyển sang trồng các loại rau có giá trị kinh tế cao Trung Quốc là một quốc gia lớn nhất châu lục, tốc độ tăng trưởng của ngành rau gần bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế Trong vòng 20 năm qua, sản xuất rau của Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng trung bình trên 6%/năm So với mặt bằng chung của các nước đang phát triển trên thế giới thì tốc độ tăng trưởng cao hơn 3%/năm [16]
Tính chung toàn thế giới, tốc độ tăng diện tích đất trồng rau đạt 2,8%/năm, cao hơn 1,05%/năm so với diện tích đất trồng cây ăn trái, 1,33%/năm
so với cây lấy dầu Trong khi đó, diện tích trồng cây ngũ cốc và cây lấy sợi lại giảm từ 0,45%/năm tới 1,82%/năm [18]
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) [21], do tác động của tăng dân số, tăng thị hiếu tiêu dùng và tăng thu nhập… tiêu thụ nhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2000-2010, đặc biệt là các loại rau ăn lá Giá rau tươi các loại sẽ tiếp tục tăng nhưng giá rau chế biến sẽ chỉ tăng nhẹ, thậm chí có thể
sẽ giảm so với giai đoạn 2002-2004
Nhu cầu nhập khẩu rau dự báo sẽ tăng khoảng 1,8%/ năm Các nước phát triển như Pháp, Đức, Canada… vẫn là những nước nhập khẩu nhiều rau và các nước đang phát triển, như Trung Quốc, Thái Lan và các nước nam bán cầu lại đóng vai trò chính cung cấp rau tươi, nhất là rau trái vụ [21]
Từ năm 1983-1984 ở Nhật Bản người ta đã trồng rau an toàn với công nghệ không dùng đất, năng suất cà chua đạt 130-140 tấn/ha/năm, dưa leo 250 tấn/ha/năm
và xà lách đạt 700 tấn/ha/năm [1]
Trang 15Bảng 1.2 Các nước xuất khẩu rau tươi lớn trên thế giới
từ năm 1999-2003 (1000 USD)
Mehico 2.145.740 2.177.340 2.330.802 2.244.340 2.613.682 Trung Quốc 1.520.732 1.544.583 1.746.170 1.883.286 2.180.735 Hoa Kỳ 1.786.431 1.890.211 1.869.025 1.927.826 2.045.684
EU 15* 1.290.816 1.203.329 1.307.123 1.751.691 1.996.556 Canada 1.012.444 1.133.427 1.186.231 1.093.157 1.277.580
Tổng số 10.328.118 10.307.853 11.024.076 11.842.019 13.187.927
(Nguồn : Trung tâm thông tin thương mại toàn cầu, Inc) [14]
* : Chưa tính 10 nước mới gia nhập
Bảng 1.3 Các nước nhập khẩu rau tươi lớn trên thế giới
(Nguồn : Trung tâm thông tin thương mại toàn cầu, Inc) [14]
* : Chưa tính 10 nước mới gia nhập
Qua bảng 1.2 và bảng 1.3 ta thấy các nước phát triển vừa xuất khẩu rau, vừa nhập khẩu rau, nhưng nhập khẩu luôn có số lượng lớn hơn qua từng năm, ví
dụ EU năm 1999 xuất khẩu 1.290.816 tấn/năm và nhập 2.655.180 tấn /năm Tại nhiều nước chậm phát triển như Gabông với kỹ thuật trồng trọt không
sau trồng 90 ngày Tại Anh, người ta xây
Trang 16dựng một hệ thống kỹ thuật màng mỏng dinh dưỡng sử dụng nhiệt thừa của nhà máy điện với diện tích 8,1 ha để trồng cà chua Ở Singapore, người ta đã trồng các loại rau diếp, bắp cải, cà chua, su hào và một số loại rau ôn đới khác với kỹ thuật cao như kỹ thuật aeroponic Trước đây, loại rau ôn đới trồng ở Singapore rất khó khăn, nhưng với kỹ thuật mới hiện nay thì các loại rau lại được trồng tương đối
dễ dàng Có các loại rau ôn đới nếu được trồng theo kỹ thuật mới aeroponic thì chỉ tốn một nửa thời gian sinh trưởng so với trồng trên đất tự nhiên [22]
Ở Bắc Âu, năm 1991 đã có 4000 ha trồng rau trong dung dịch, ở Mỹ có
220 ha trồng trong nhà kính, trong đó có 75% diện tích rau được trồng bằng công nghệ không dùng đất Ở Hà Lan có 3600 ha và Nam Phi có 400 ha trồng rau trong dung dịch [theo 1]
Hà Lan là nước có nền công nghiệp phát triển, diện tích việc áp dụng trồng cây không dùng đất trong mấy năm qua tăng đáng kể Từ 515 ha (1982) lên
800 ha (1983), 1000 ha (1984), 2000 ha (1986) và 3000 ha (1991) [theo 1] Riêng châu Á sản lượng rau 2001 đạt khoảng 487.215 triệu tấn Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất, đạt 70 triệu tấn/năm; Ấn Độ với sản lượng rau đạt 65 triệu tấn/năm Nhìn chung, mức tăng trưởng sản lượng rau châu Á các năm qua đạt khoảng 3% năm, tương đương khoảng 5 triệu tấn/ năm [19]
Cùng với số lượng, vấn đề chất lượng rau quả cũng đang được người tiêu dùng trên thế giới rất quan tâm Tháng 09/2003, Tổ chức bán lẻ châu Âu (EUREP) đã đề xuất tiêu chuẩn Thực hành Nông nghiệp tốt (GAP) nhằm giải quyết mối quan hệ bình đẳng và trách nhiệm giữa người sản xuất sản phẩm nông nghiệp và khách hàng của
họ Sản xuất rau an toàn (RAT) theo hướng dẫn của GAP có thể được hiểu là sản phẩm khi đưa ra thị trường phải đảm bảo 3 yêu cầu: “An toàn cho môi trường, an toàn cho người sản xuất và an toàn cho người tiêu dùng” [22]
Dựa trên những quy định của EUREPGAP phiên bản 2 (1/2004) [22], tại Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), các tiêu chuẩn về sản xuất rau đã được
Trang 17chuẩn hóa ở mức độ chung nhất cho khu vực, yêu cầu người nông dân phải tuân thủ
và được gọi là ASEANGAP Các tiêu chuẩn này được đưa ra phù hợp với các nước thành viên ASEAN đến năm 2020 Sản phẩm cuối cùng mà khu vực nhằm đến là môi trường, kỹ thuật canh tác và an toàn cho xã hội
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất rau như : kỹ thuật thuỷ canh, kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có thiết bị che chắn (nhà lưới, nhà nilon, nhà màn, màng phủ nông nghiệp ) và trồng ở điều kiện ngoài đồng theo qui trình sản xuất nghiêm ngặt đối với từng loại rau và phù hợp với từng vùng sinh thái [20], [23]
Chẳng hạn như sản xuất rau trong nhà kính chỉ thực hiện trong mùa đông
ở các nước ôn đới, trong khi sản xuất rau ngoài đồng vẫn có thể cho năng suất cao với chất lượng đảm bảo và giá thành hạ nếu được áp dụng các quy trình nghiêm ngặt Ngày nay, với các công nghệ bảo quản sau thu hoạch, chế biến tiên tiến người ta có thể dự trữ và cung cấp rau ăn dự trữ dài ngày cho cả mùa đông
1.2 Tình hình nghiên cứu rau trong nước
Các nhà khoa học nông nghiệp nước ta qua nhiều năm nghiên cứu đã phân Việt Nam đã hình thành nên 4 vùng sinh thái rõ rệt [10]
- Vùng khí hậu á nhiệt đới: Sapa, Bắc Hà (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng)
C, rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển các loại rau ôn đới
- Vùng nhiệt đới có mùa đông lạnh: Vùng đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc với khí hậu chia thành 4 miền rõ rệt, cho phép trồng rau quanh năm
Vụ Xuân Hè phù hợp cho việc trồng trọt các loại rau chịu nóng và ưa nước, vụ Thu Đông phù hợp cho các loại rau ưa lạnh và chịu hạn, đặc biệt vụ Đông ở các tỉnh đồng bằng, trung du và các tỉnh miền núi phía bắc có thể trồng trọt các loại rau có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới như xu hào, cà chua, cải bắp, [8]
- Vùng nhiệt đới có mùa hè khô nóng bao gồm các tỉnh cực nam Trung bộ: Ninh Thuận, Bình Thuận Phù hợp với sản xuất một số loại rau đặc thù như các
Trang 18loại dưa và hành tây
- Vùng nhiệt đới điển hình: các tỉnh Nam bộ với khí hậu chia thành 2 mùa
rõ rệt trong năm (mùa mưa và mùa khô) nên việc trồng rau gặp nhiều khó khăn hơn cả
Chính nhờ vào các đặc trưng khí hậu này mà rau nước ta rất phong phú và
đa dạng về các chủng loại, đặc biệt là rau vụ đông Có thể nói đây là thế mạnh của sản xuất rau Việt Nam so với các nước trong khu vực
Sản lượng rau trên đất nông nghiệp được hình thành từ 2 vùng sản xuất chính:
- Vùng rau chuyên canh ven thành phố và khu công nghiệp, chiếm 38-
40 % và 45- 50 % sản lượng [15] Tại đây, rau sản xuất phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tập trung là chủ yếu Chủng loại rau vùng này rất phong phú và năng suất cũng cao hơn Tuy nhiên, mức độ an toàn thực phẩm rau xanh ở đây lại thấp hơn so với các vùng sản xuất khác
- Vùng rau hàng hoá được luân canh với cây lương thực trong vụ đông tại các tỉnh phía bắc, đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và tại tỉnh Lâm Đồng Sản phẩm rau tươi của vùng này ngoài cho tiêu dùng trong nước còn là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cho xuất khẩu sang các nước có mùa đông lạnh không trồng được rau Nếu phát huy được lợi thế này, nghành sản xuất rau sẽ có tốc độ nhảy vọt [7]
Trong đề án phát triển rau quả giai đoạn 1999-2010 do Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn đề ra được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 3/9/1999 là: "Đáp ứng nhu cầu rau có chất lượng cao phục vụ cho tiêu dùng trong nước, nhất là vùng dân cư tập trung (đô thị, khu công nghiệp…) và xuất khẩu Phấn đấu đến năm 2010 đạt mức tiêu thụ bình quân đầu người là 85 kg rau/1 năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 690 triệu USD" [9]
Diện tích đất trồng rau ở nước ta, theo thống kê có khoảng 445 nghìn ha vào năm 2000, tăng 70% so với năm 1990, bình quân mỗi năm tăng 18,4 nghìn
Trang 19ha (mức tăng 7%/năm) Năm 2001 là 450.000 ha, so với năm 1991 diện tích trồng rau cả nước tăng 224% bình quân mỗi năm tăng 31.450 ha (ở mức 24,4%/năm) Trong đó các tỉnh phía Bắc chiếm 56% diện tích (249.200 ha) và các tỉnh phía Nam chiếm 44% (196.000 ha) diện tích canh tác [9]
Năng suất rau Việt Nam nhìn chung không ổn định Năm có năng suất cao nhất (1998) đạt 14,48 tấn/ha, bằng 80% so với năng suất trung bình toàn thế giới (xấp xỉ 18 tấn/ha) Năng suất rau năm 2001 là 13,8 tấn/ha, so với năng suất năm
1991 (11,55 tấn/ ha) thì năng suất bình quân cả nước trong mười năm chỉ tăng 2,25 tấn/ha [9] Sản lượng rau năm 2001 đạt 6,2 triệu tấn so với sản lượng rau
1991 (3,21 triệu tấn) tăng 93% Mức tăng sản lượng trung bình hàng năm 2001) là 0,299 triệu tấn [9]
1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của TP Vinh 1.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Trang 20Hình 1.1 Bản đồ địa lý thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
cách Huế 350 km; Đà Nẵng 472km; Thành phố HCM 1447 km (về phía Nam) Là trung tâm của khu vực Bắc miền Trung nên Vinh có nhiều điều kiện thuận lợi cả
về giao thông đường thông, đường bộ và đường thuỷ Đây cũng là một trong những lợi thế để Vinh hội tụ các điều kiện nhằm phát triển kinh tế
1.3.1.2 Điều kiện thời tiết, khí hậu, thuỷ văn
Trang 2124oC, nhiệt độ cao tuyệt đối 42,1oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối 4o
C Số giờ nắng trung bình khoảng 1.500-1.700 giờ/năm Các tháng giữa mùa Hè có số giờ nắng lớn từ 179 - 260 giờ/tháng, các tháng giữa mùa Đông có số giờ nắng xấp xỉ 100 giờ/tháng Năng lượng bức xạ dồi dào, trung bình 12 tỷ Keal / ha năm
- Chế độ mưa:
Lượng mưa trung bình khoảng 1.400-1.700 mm/năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa Đây cũng là mùa tập trung lũ lụt tuy nhiên thành phố Vinh có hệ thống tiêu thoát khá chủ động nên tình trạng ngập úng là ít khi xảy ra Chế độ mưa và nhiệt độ của Vinh rất thích hợp cho các loại cây trồng phát triển
- Gió, bão, lũ lụt:
Các hiện tượng thời tiết bất lợi đối với Thành phố Vinh là gió Lào khô nóng (xuất hiện từ tháng 3 đến cuối tháng 7, nhiều nhất vào tháng 6, trung bình trên 10 ngày) và bão Bão là một thiên tai đối với Nghệ An nói chung và Vinh nói riêng, tần suất bão nhiều nhất vào tháng 9 (37%) Bão bắt đầu xuất hiện từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 11
- Độ ẩm tương đối:
Độ ẩm tương đối trung bình qua các năm khoảng 83-85%, phân bố khá đều trong năm Ngoại trừ tháng 6-7 có độ ẩm tương đối thấp khoảng 76-77%, các tháng còn lại trong năm đều có độ ẩm lớn hơn 83% Các tháng có độ ẩm cao nhất tập trung vào tháng 2-3 và tháng 9-12
+ Nhận xét
Tính chất chung của khí hậu TP Vinh khá khô, nóng Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau)
Mưa nhiều trong các tháng 9, 10, 11, các tháng 6,7 là thời điểm gió Lào khô nóng mạnh nhất Khó có thể sản xuất trên diện rộng nếu không chủ động về
Trang 22nguồn nước tưới trong các tháng khô và tiêu trong thời kỳ mưa nhiều
Điều kiện khí hậu và độ ẩm của Vinh khá thích hơp cho các loại cây trồng phát triển Đây là một trong những tiền đề quan trọng để phát triển một nền nông nghiệp với cơ cấu trồng trọt phong phú, đa ngành nhất là nghề trồng rau xanh
1.3.1.3 Điều kiện địa hình, đất đai và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh
Là trung tâm của vùng Bắc Trung bộ nhưng TP Vinh được ưu đãi rất lớn
từ thiên nhiên, toàn vùng chủ yếu là đất đồng bằng ven biển với độ dốc không lớn (nhỏ hơn 5%) Địa hình núi, đồi có xuất hiện trong địa bàn tuy nhiên chỉ nằm ở vùng ven thành phố
Nông nghiệp TP Vinh có những tiềm năng rất cơ bản để có thể phát triển
đa ngành Diện tích đất trồng cây hàng năm trong đó bao gồm lúa, rau đậu các loại còn rất thấp, chiếm chưa tới 40% diện tích đất tự nhiên toàn thành phố
Một phần diện tích khá lớn đất sông suối chưa sử dụng vào mục đích phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nuôi thuỷ sản
1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 1.3.2.1 Tổ chức hành chính, dân số và lao động
* Tổ chức hành chính: TP Vinh có tổng số 26 phường, xã; 286 khối xóm
phân bố cả ở thành thị và nông thôn
Là trung tâm của tỉnh Nghệ An, TP Vinh là một thành phố rất năng động Do đang trong quá trình quy hoạch và phát triển mở rộng nên thành phố
có nhiều biến động về mặt sản xuất nông nghiệp Tổng diện tích đất gieo trồng cây hàng năm của thành phố là 3.528 ha năm 2007, 1.539 ha năm 2008, 3.065 ha năm 2009 và 2.763 ha năm 2010, rõ ràng có sự biến động rất lớn qua các năm Cùng với quá trình đô thị hoá, chính sách chuyển dịch cơ cấu giữa ngành trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản thì trong thời gian tới, phần diện tích trồng cây trồng hàng năm sẽ còn bị thu hẹp lại Cơ cấu ngành nông nghiệp của
Trang 23thành phố tập trung chủ yếu vào 2 phân ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi trong đó có nuôi trồng thuỷ sản Thực hiện chủ trương của tỉnh cũng như của thành phố sẽ khuyến khích chuyển đổi một phần diện tích đất trồng trọt không
có hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản Tính tới năm 2008, diện tích nuôi trồng thuỷ sản của thành phố đạt mức 820 ha trong tổng số 3.306,03 ha đất nông nghiệp của thành phố chiếm 24,80% Vì vậy sức ép trước nhu cầu của thị trường lên phần đất canh tác còn lại trong thời gian tới là rất lớn
* Dân số lao động: Tính tới năm 2010, thành phố Vinh có 342.666 người
57.110 hộ gia đình phân bố chủ yếu ở khu vực thành thị (chiếm 79,16%) Sự phân bố dân cư của thành phố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị (189.688 người chiếm 78,17%) hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, văn phòng hành chính sự nghiệp thương mại và dịch vụ Phần dân cư hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp rất hạn chế
Khu vực nông thôn chỉ có 52.978 người chiếm 11,83% nhưng đây là lực lượng chính hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
1.3.2.2 Hiện trạng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp
+ Hộ gia đình nông-lâm ngư: 6.522 hộ, chiếm 12,9% tổng số hộ thành phố
Trong đó nông nghiệp có 6.257 hộ, chiếm 12,3% tổng số hộ thành phố
+ Nhân khẩu nông lâm ngư: 27.239 khẩu, chiếm 11,7% nhân khẩu thành phố + Nhân khẩu nông nghiệp: 26.129 khẩu, chiếm 11.2% tổng nhân khẩu
thành phố
+ Lao động nông lâm ngư: 14.898 người, chiếm 11,4% lao động thành phố
Trong đó nông nghiệp: 14.324 người, chiếm 10,9% tổng số lao động thành phố
1.3.2.3 Văn hoá xã hội và dịch vụ
Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của cả tỉnh,
là nơi tập trung hội tụ về trí tuệ, khoa học công nghệ và các điều kiện dịch vụ khác Thành phố cũng là nơi tập trung dân số trên 23 vạn người, là cửa ngõ giao lưu của cả vùng, khu vực và 2 miền Bắc-Nam Vì vậy, sản xuất nông nghiệp thành phố có thuận lợi trong việc ứng dụng các tiến bộ về công nghệ phục vụ sản
Trang 24xuất kinh doanh, đồng thời thành phố có thị trường tiêu thụ phong phú dịch vụ buôn bán phát triển, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và hàng hoá
1.3.3 Hiện trạng sản xuất rau của thành phố Vinh 1.3.3.1 Diện tích, năng suất và sản lƣợng rau của thành phố Vinh
TP.Vinh là một thành phố trẻ, với dân số 342.666 (năm 2010) nên sản lượng rau cần thiết cung cấp cho thành phố là rất lớn Tuy nhiên, với phần diện tích đất canh tác rất nhỏ và ngày càng thu hẹp nên sản lượng rau của thành phố không lớn
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng rau của thành phố Vinh
Ghi chú: BQ: bình quân; DT: diện tích; NS: Năng suất; SL: Sản lượng
Số liệu qua bảng trên cho thấy, diện tích, sản lượng, năng suất của sản xuất rau trên địa bàn thành phố ổn định giai đoạn 2008-2010, phần tăng lên qua các năm không lớn Tuy nhiên với diện tích chỉ chiếm từ 11,31 % đến 11,66% đất sản xuất nông nghiệp (2010) thì ngành sản xuất rau không thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường Mặc dù diện tích đất canh tác rất thấp, song năng suất trung bình trên ha của thành phố Vinh cao nhất trên địa bàn toàn tỉnh Sở dĩ có điều này là do đây là địa bàn trọng điểm của thành phố, khả năng tưới tiêu là khá chủ động, điều kiện đất đai thuận lợi dân trí cao, trình độ canh tác của người dân
ở đây là tốt hơn so với mặt bằng chung toàn tỉnh
1.3.3.2 Chủng loại rau tại thành phố Vinh phân theo các địa bàn
Về địa bàn sản xuất và các chủng loại rau màu sử dụng chủ yếu trên địa bàn thành phố thể hiện tại bảng 1.5
Trang 25Bảng 1.5 Diện tích và đối tượng cây rau trên địa bàn thành phố Vinh năm 2010
gieo trồng (ha)
xuân, rau muống
Bình
rau chuyên vụ đông
rau vụ đông các loại
hè, xuân các loại
rau vụ xuân các loại
(Nguồn: Phòng Kinh tế TP Vinh, 2010)
Từ bảng 1.5 cho thấy, so với giai đoạn 2008-2010, diện tích sản xuất rau năm
2010 đã có sự biến động rất lớn Tổng diện tích sản xuất năm 2010 của thanh phố là 847,38 ha gấp 2,2 lần so với giai đoạn trước Tuy diện tích sản xuất tăng lên nhưng
Trang 26phân bố không đồng đều giữa các điạ phương Nhiều nhất tập trung vào các xã như Hưng Đông (213,50 ha), Hưng Lộc (158,18 ha), Phường Đông Vĩnh (100,10 ha), Phường Hưng Dũng (129,00 ha) Đây cũng chính là những vùng nằm trong phạm vi quy hoạch phát triển sản xuất rau an toàn của thành phố
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các loài rau làm thực phẩm ở Thành phố Vinh và các vùng phụ cận: Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Cửa Lò
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra và thu mẫu trên thực địa
- Xác định tên khoa học
- Lập danh lục rau ở Thành Phố Vinh và các vùng phụ cận
- Phân tích tính đa dạng loài rau về các mặt:
+ Thành phần loài
+ Dạng sống
+ Đa dạng về dạng thân
+ Phân bố các loài theo sinh cảnh
+ Giá trị và mức độ đe doạ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung trên, tôi đã tiến hành các phương pháp sau:
2.3.1 Điều tra thực địa theo khu vực
Điều tra trên địa bàn dân cư, theo phường, vào trong từng nhà dân điều tra
2.3.2 Phương pháp thu mẫu
Thu theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [17] và của Klein (1979) [12]
2.3.3 Phương pháp ép mẫu
Theo phương pháp ép mẫu của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [17]
Mẫu được lấy xong xử lý ngay, loại bỏ phần dập nát, sâu, nếu mẫu có nhiều cành lá thì chỉ giữ lại những cành lá có hoa, quả đặc trưng nhất Nên cắt mỏng quả để ép giữ lại phần quả có cuống Sau đó đặt lên tờ báo gấp đôi lại Khi xếp mẫu lên giấy báo thì nguyên tắc chung là:
Trang 28- Khi xếp cần chú ý để một vài lá lật ngửa lên để về sau quan sát hệ gân lá
- Không để các bộ phận của cây đè lên nhau
- Các mẫu có đầy đủ hoa, quả (quả nhỏ) thì cần giữ đầy đủ hoa quả
- Đừng xếp tất cả các mẫu ở giữa tờ báo gấp vì khi xếp mẫu như vậy mẫu
sẽ quá dày dễ dập gãy
- Sau khi đã xếp mẫu lên báo, ta cho mẫu và báo vào cặp ép và lót 2-3 tờ báo ở phía ngoài Dùng dây buộc chặt đem phơi nắng hoặc sấy khô
Sau 8-12 h phơi hoặc sấy thì thay báo mới và buộc chặt và tiếp tục phơi
Xác định tên loài:
+ Phân chia mẫu theo họ và chi:
Sau khi thu mẫu, phân loại sơ bộ ngay tại hiện trường, dựa vào bảng chỉ dẫn nhận dạng nhanh các họ ngoài thiên nhiên trong: “Cẩm nang tra cứu và nhận dạng nhanh các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân [2] và
“Cẩm nang nghiên cứu đa dạng thực vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [17] + Xác định tên khoa học: Mẫu vật được xác định tên khoa học chủ yếu dựa vào phương pháp hình thái so sánh, tên loài định tra cứu và định loại theo Cây cỏ Việt Nam ( 1999- 2000) của Phạm Hoàng Hộ vừa phân tích vừa tra khoá
Trong quá trình tiến hành xác định tên khoa học phải tuân theo các nguyên tắc:
phân định các cặp dấu hiệu
Các tài liệu chính dùng trong quá trình xác định tên khoa học gồm:
Trang 29+ Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) [17]
(Nguyễn Tiến Bân, 1997) [2]
Chi, Trần Hợp), Cây rau, trái đậu dùng để ăn và trị bệnh (Võ Văn Chi,
2005) [5], Rau – Hoa - Quả - Củ làm thuốc (Nguyễn Bá Cừ, 2005) [6],
1900 loài cây có ích ở Việt Nam, (Trần Đình Lý và cộng sự, 1993) [13]
2.4 Lập danh lục thành phần loài
Danh lục thành phần loài được lập theo từng ngành, họ, chi theo vần A,B,C sắp xếp theo Brummit (1992)
2.5 Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật về mặt phân loại:
+ Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành
+ Đánh giá đa dạng loài của các họ
+ Đánh giá đa dạng loài cuả các chi
2.6 Phương pháp xác định dạng thân:
Dạng thân các cây rau có 5 dạng:
+ Thân leo + Thân bụi
2.7 Lên tiêu bản bách thảo
Theo phương pháp của R M Klein - D T Klein (1979) giấy khâu mẫu là loại giấy bìa Croki 29x41cm, khâu mẫu trực tiếp vào giấy bìa Croki
- Dùng kim chỉ khâu các bộ phận cành, lá, hoa, quả vào giấy
- Góc dưới của giấy khâu mẫu gắn nhãn cố định với kích thước 8x12cm
2.8 Đánh giá tính đa dạng của cây rau
* Mức độ gặp: Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) trong “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” là:
Trang 30Mức độ gặp C% được tính theo phần trăm số lần lấy mẫu có loài được xét
trên tổng số lần thu mẫu
% 100
%
p
P C
Trong đó: p số lần gặp loài được xét
2.9 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 12-2010 đến tháng 12-2011
Tháng 12 chọn đề tài và xác định địa điểm nghiên cứu Tháng 1 đến tháng 3: Đọc tài liệu và đi thực địa Thời gian thu mẫu tôi chia làm 3 đợt Mỗi đợt 7-10 ngày
- Tháng 04 năm 2011 thu mẫu đợt 1
- Tháng 5 năm 2011 thu mẫu đợt 2
- Tháng 6 năm 2011 thu mẫu đợt 3
Sau mỗi đợt thu mẫu xong thì xử lý mẫu, giám định mẫu và xác định tên khoa học
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thống kê các loài cây rau ở thành phố Vinh và vùng phụ cận
Qua quá trình điều tra, thu mẫu ở thành phố Vinh và vùng phụ cận Các loài cây rau ăn được nhân dân sử dụng làm thực phẩm hàng ngày đã được xác
định tên khoa học, cách dùng, kết quả đó được trình bày ở bảng 1
Trong bảng danh lục các loài cây rau ăn được sắp xếp theo từng chi, họ
Sự sắp xếp này dựa vào cách sắp xếp của R.K Brummitt (1992)
Tổng số loài đã thống kê được trong danh lục thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch đó là:
- Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta)
- Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta)
Chú thích: Những ký hiệu được sử dụng trong bảng danh lục của luận văn:
TT: Thứ tự DT: Dạng thân BPSD: Bộ phận sử dụng MTS: Môi trường sống MĐG: Mức độ gặp
- Dạng thân: G: Gỗ Le: Leo, bò Th: Thảo Bu: Bụi
- Môi trường sống:
N: Cây trong vườn nhà
R: Cây ngoài đồng ruộng, đất khô và đầm lầy
H: Cây hoang dại ở ao, hồ, kênh, mương, ven đường đi
- Bộ phận sử dụng: T: Thân Q: Quả Ca: Cả cây
R: Rễ L: Lá Ho: Hoa
Ha: Hạt Cu: Củ Ng: ngọn non
Trang 32
Bảng 3.1 Danh lục các loài rau ăn ở thành phố Vinh và vùng phụ cận T
Phyll 2 Magnoliophyta Class 1 Magnoliopsida
+
Lá ăn sống hay luộc
Fam 2 Aizoaceae
4 Glinus oppositifolius (L.) DC
Rau đắng đất
H
thể ăn sống, luộc, nấu
Trang 33R
Ca ++++
+
Lá và đọt non luộc, nấu canh, xào
Ng
+++ Lá và ngọn non luộc, nấu canh
R
nấu canh, luộc, xào
Trang 34Urb R,
H
sống, muối dưa, luộc, nấu canh thịt, canh tép, canh cá lóc
R,
H
sống hoặc nấu làm gia
H
Ca ++++ Dùng ăn
sống, nấu canh chua
Trang 35hoặc ăn sống
Fam 6 Asclepiadaceae
21 Telosma cordata (Burmf.) Merr
23 Artemisia carvifolia
Buch – Ham ex Roxb
non nấu canh
luộc hay xào
25 Blumea lacera
(Burm.f.) DC
canh tép, canh cá
26 Blumea lanceolaria
(Roxb.) Druce
Xương sông