Đánh giá các kết quả đã đạt được và kết luận Nghiên cứu này đã bổ sung thêm các bằng chứng thực nghiệm về tác động của năng lực cạnh tranh đến các loại rủi ro khác nhau của các NHTM tại
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: Tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của các
ngân hàng thương mại Việt Nam
Mã số đề tài: 21.2TCNH01
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Kiều Nga
Đơn vị thực hiện: Khoa Tài chính - Ngân hàng
Tp Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2023
Trang 3PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
I Thông tin tổng quát
1.1 Tên đề tài: Tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của các ngân
hàng thương mại Việt Nam
1.2 Mã số: 21.2TCNH01
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
(học hàm, học vị) Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài
1 TS Nguyễn Thị Kiều Nga Khoa Tài chính - Ngân hàng Chủ nhiệm
2 ThS Vũ Trọng Hiền Khoa Tài chính - Ngân hàng Thư ký
3 ThS Từ Thị Hoàng Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng Thành viên chính
1.4 Đơn vị chủ trì: Khoa Tài chính - Ngân hàng
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 03 năm 2022 đến tháng 03 năm 2023
1.5.2 Gia hạn (nếu có):
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 03 năm 2022 đến tháng 03 năm 2023
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu: Không
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 25 triệu đồng
II Kết quả nghiên cứu
1 Đặt vấn đề:
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang phát triển trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhận được nhiều lợi ích cũng như không ít bất lợi từ chính sự hội nhập tài chính toàn cầu này Theo đó, mức độ cạnh tranh giữa các NHTM với nhau cũng ngày càng gay gắt và tác động không nhỏ đến tính ổn định của cả hệ thống ngân hàng nói riêng và ảnh hưởng đến cả nền kinh tế Việt Nam nói chung Vì vậy, rất cần thiết để nghiên cứu tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của các NHTM Việt Nam nhằm đưa ra các hàm ý giúp hạn chế được rủi ro mà các NHTM đang gặp phải
3 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm tác giả sử dụng hồi quy GMM (do xuất hiện vấn đề nội sinh) cho mô hình nghiên cứu với mẫu quan sát 30 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2009-2021
DEFAULT_RISK = β0 + β1 LERNER + β2 DTA + β3 ETA + β4 SIZE + β5 LOANTA + β6 TAG (1)
CREDIT_RISK = β0 + β1 LERNER + β2 DTA + β3 ETA + β4 SIZE + β5 LOANTA + β6 TAG (2)
OPERATIONAL_RISK = β0 + β1 LERNER + β2 DTA + β3 ETA + β4 SIZE + β5 LOANTA + β6 TAG (3)
Trang 44 Tổng kết về kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc cải thiện năng lực cạnh tranh ngân hàng sẽ làm gia tăng rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam Tuy nhiên, việc cải thiện năng lực cạnh tranh ngân hàng làm hạn chế rủi ro vỡ nợ và rủi ro hoạt động của các NHTM Việt Nam
5 Đánh giá các kết quả đã đạt được và kết luận
Nghiên cứu này đã bổ sung thêm các bằng chứng thực nghiệm về tác động của năng lực cạnh tranh đến các loại rủi ro khác nhau của các NHTM tại một quốc gia có thị trường vốn cận biên mà các nghiên cứu trước đây ít quan tâm đến hơn là chỉ nghiên cứu tác động của năng lực cạnh tranh đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
6 Tóm tắt kết quả
Nghiên cứu xem xét tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam với các thước đo rủi ro tín dụng, rủi ro vỡ nợ và rủi ro hoạt động Nghiên cứu sử dụng mẫu quan sát bao gồm 30 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2021 và sử dụng phương pháp hồi quy GMM để kiểm soát vấn
đề nội sinh tiềm tàng Tác giả sử dụng chỉ số Lerner để đo lường năng lực cạnh tranh ngân hàng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc cải thiện khả năng cạnh tranh ngân hàng
sẽ làm gia tăng rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam Tuy nhiên, việc cải thiện khả năng cạnh tranh ngân hàng lại làm hạn chế rủi ro vỡ nợ và rủi ro hoạt động của các NHTM Việt Nam Kết quả nghiên cứu đưa ra nhiều hàm ý quan trọng góp phần hạn chế được rủi ro của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều biến động hiện nay
This paper analyzes the effect of banking competitiveness on credit risk, default risk, and operational risk in Vietnamese commercial banks Using a sample of 30 commercial banks operating in Vietnam between 2009 and 2021, the authors employ the GMM regression method to control for potential endogeneity and measure banking competitiveness using the Lerner index Results show that improving banking competitiveness can increase credit risk, but it can also limit default risk and operational risk The findings have important implications for managing risks in commercial banks during periods of economic volatility
III Sản phẩm đề tài, công bố và kết quả đào tạo
3.1 Kết quả nghiên cứu (sản phẩm dạng 1,2,3)
2 Bài báo đăng trên Tạp
chí IUH Đăng báo Tạp chí IUH Đạt yêu cầu
3.2 Kết quả đào tạo
TT Họ và tên thực hiện đề tài Thời gian
Trang 5Sinh viên Đại học
IV Tình hình sử dụng kinh phí
T
Kinh phí được duyệt
(triệu đồng)
Kinh phí thực hiện
(triệu đồng)
Ghi chú
A Chi phí trực tiếp
1 Thuê khoán chuyên môn 17.656.500 17.656.500
2 Nguyên, nhiên vật liệu, cây con
VI Phụ lục sản phẩm
- Báo cáo khoa học tổng kết đề tài
- Bài báo đăng trên Tạp chí IUH
Tp HCM, ngày 24 tháng 7 năm 2023
Chủ nhiệm đề tài Phòng QLKH&HTQT Khoa Tài chính – Ngân hàng
Trưởng khoa
Trang 6PHẦN II BÁO CÁO CHI TIẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
(Báo cáo tổng kết sau khi nghiệm thu, đã bao gồm nội dung góp ý của hội đồng nghiệm thu)
Trang 7CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 35 năm đổi mới (1986 - 2023), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, ấn tượng, trong đó hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đa dạng hình thức, và thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược với nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, chẳng hạn như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)… Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam cũng vận động phát triển theo xu thế tất yếu đó Sự ổn định và phát triển của hệ thống ngân hàng sẽ giúp thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế (Nguyen, 2022) Các NHTM Việt Nam phải cạnh tranh ngày càng gay gắt không những phạm vi trong nước
mà còn trên phạm vi toàn cầu, và điều này đã mang lại nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức, rủi ro cho các NHTM Việt Nam Các NHTM Việt Nam đang ngày càng cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ đa dạng, hiện đại đáp ứng nhu cầu của khách hàng, số hóa toàn diện các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp để mang lại sự thuận tiện và nhanh chóng cho khách hàng Nhiều NHTM đã ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào trong quá trình chuyển đổi số, chẳng hạn như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, nhận dạng sinh trắc học, dữ liệu lớn,… Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng tích cực xây dựng, hoàn thiện hệ thống ngân hàng số giúp gia tăng sự trải nghiệm cho khách hàng, như giúp tư vấn các sản phẩm dịch vụ, hỗ trợ hướng dẫn làm thủ tục cho khách hàng, thực hiện một số giao dịch cơ bản Theo đó, nhiều nghiên cứu, nhiều giải pháp đã được các nhà nghiên cứu, các nhà làm chính sách đưa ra giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam
Tuy nhiên, kể từ sau những cú sốc tiêu cực xảy ra trong nền kinh tế giai đoạn gần đây, như ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, sự phá sản của ba ngân hàng tại Mỹ bao gồm Silicon Valley, Signature Bank, Silvergate Bank cùng với khoảng 186 ngân hàng
Mỹ có nguy cơ phá sản, đã phần nào ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và
hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay Do đó, các nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh ngân hàng ngoài việc xem xét tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thì còn cần phải xem xét tác động đến mức độ rủi ro của các ngân hàng nhằm giúp đưa ra được bức tranh cân đối
Trang 8giữa lợi ích và rủi ro của việc nâng cao năng lực cạnh tranh ngân hàng Vì vậy, điều này
đã thúc đẩy nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu vấn đề việc cải thiện năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam có dẫn đến giúp cho các NHTM hoạt động ổn định hơn hay không, hay nói một cách khác là làm gia tăng hay làm sụt giảm rủi ro của các NHTM Việt Nam
Từ đó, nhóm tác giả đã lược khảo các nghiên cứu có liên quan trước đây trên thế giới và tại Việt Nam, thì nhận thấy có nhiều nghiên cứu trên thế giới về vấn đề liệu năng lực cạnh tranh của các NHTM gia tăng có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến rủi ro của các NHTM, chẳng hạn như nghiên cứu của Keeley (1990), Allen & Gale (2004), Berger và cộng sự (2009), Martinez-Miera & Repullo (2010), Beck và cộng sự (2013),… Nhóm tác giả đã nhận thấy đa phần các nghiên cứu trước đây thực hiện tại các quốc gia mới nổi và các quốc gia đã phát triển với các kết quả nghiên cứu khác nhau Tại Việt Nam, thì có 3 nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Đặng Bửu Kiếm (2016), Nguyễn Đức Trường và cộng sự (2018), Hồ Thúy Ái và Nguyễn Chí Đức (2021) thực hiện nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của các NHTM Việt Nam Nghiên cứu của họ đều chỉ tập trung vào một thước đo đại diện rủi ro duy nhất, chẳng hạn như thước
đo Z-Score (Võ Xuân Vinh và Đặng Bửu Kiếm, 2016; Nguyễn Đức Trường và cộng sự, 2018), hay độ biến động lợi nhuận của ngân hàng (Hồ Thúy Ái và Nguyễn Chí Đức, 2021) và kết quả nghiên cứu cũng không thống nhất với nhau Bài nghiên cứu này của nhóm tác giả bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến các loại rủi ro khác nhau của các NHTM Việt Nam, cụ thể là rủi ro tín dụng, rủi ro vỡ nợ và rủi ro hoạt động Từ đó, nhóm tác giả chỉ ra các kết quả nghiên cứu khác biệt với nhau khi sử dụng các thước đo khác nhau cho các loại rủi ro khác nhau Sau đó, nhóm tác giả đưa ra các hàm ý chính sách quan trọng góp phần hạn chế được các loại rủi ro khác nhau mà các NHTM hay gặp phải trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này xem xét tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của các NHTM Việt Nam
Trang 91.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ các mục tiêu nghiên cứu được xác định ở trên, nhóm tác giả đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Năng lực cạnh tranh ngân hàng tác động như thế nào đến rủi ro vỡ nợ của các NHTM Việt Nam?
- Năng lực cạnh tranh ngân hàng tác động như thế nào đến rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam?
- Năng lực cạnh tranh ngân hàng tác động như thế nào đến rủi ro hoạt động của các NHTM Việt Nam?
1.4 Phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu về tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro vỡ nợ, rủi ro tín dụng, và rủi ro hoạt động của ngân hàng
- Phạm vi nghiên cứu
Nhóm tác giả nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và rủi ro vỡ nợ, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam trong suốt giai đoạn quan sát 2009-2021
- Phương pháp nghiên cứu
Nhóm tác giả sử dụng phương pháp hồi quy GMM để giải quyết vấn đề nội sinh tiềm tàng trong nghiên cứu Biến năng lực cạnh tranh ngân hàng (thước đo chỉ số Lerner)
là một biến nội sinh, có quan hệ nhân quả đảo ngược với biến phụ thuộc là rủi ro của ngân hàng (rủi ro vỡ nợ, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động) Nhóm tác giả cũng liên hệ với thực tiễn hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam để thảo luận chi tiết về kết quả nghiên cứu đạt được
Trang 101.5 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu này bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động khác nhau của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến các loại rủi ro khác nhau của các NHTM Việt Nam, một quốc gia tiền mới nổi có đặc trưng rất khác biệt so với các quốc gia đã phát triển và mới nổi, mà các nghiên cứu trước đây ít quan tâm đến
Nghiên cứu đưa ra các hàm ý quan trọng nhằm giúp nâng cao được năng lực cạnh tranh của các NHTM và giảm thiểu được rủi ro cho các NHTM Việt Nam
1.6 Cấu trúc của đề tài
Nội dung của bài nghiên cứu được trình bày trong 5 chương:
Chương 1 Giới thiệu trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, xác định mục
tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, và chỉ ra những đóng góp mới của đề tài nghiên
cứu
Chương 2 Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây trình bày
về các khái niệm có liên quan như năng lực cạnh tranh ngân hàng, các loại rủi ro khác nhau của NHTM, trình bày khung lý thuyết nghiên cứu về tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của các NHTM, lược khảo các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam về chủ đề này, và cuối cùng là phát triển được các giả thuyết nghiên
cứu
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu trình bày về mô hình nghiên cứu của nhóm
tác giả, các biến nghiên cứu được sử dụng, dữ liệu nghiên cứu, và phương pháp hồi quy
được sử dụng trong nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận trình bày các kết quả nghiên cứu
mà nhóm tác giả đạt được, và thảo luận các kết quả nghiên cứu với tình hình thực tiễn
của các NHTM Việt Nam
Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách trình bày các hàm ý nghiên cứu cho
các NHTM Việt Nam, chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu và định hướng cho các nghiên cứu trong tương lai
Trang 11KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, nhóm tác giả đã tập trung giới thiệu tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đề cập đến phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, và phương pháp nghiên cứu, chỉ ra những đóng góp mới của đề tài và kết cấu của một đề tài nghiên cứu Sau phần giới thiệu này, thì nhóm tác giả sẽ lần lượt đi vào nghiên cứu những nội dung cụ thể bao gồm Chương 2 (Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây), Chương 3 (Phương pháp nghiên cứu), Chương 4 (Kết quả nghiên cứu và thảo luận) và Chương 5 (Kết luận và kiến nghị)
Trang 12CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
2.1 Các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh ngân hàng
2.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng thương mại Khái niệm của cạnh tranh được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu trước đây
Stigler (1987) đã đưa ra khái niệm cạnh tranh như sau: ‘Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các cá nhân (hoặc các tổ chức hoặc các quốc gia), và nó nảy sinh bất cứ khi nào từ hai cá nhân (hoặc tổ chức hoặc quốc gia) trở lên cố gắng để đạt được một điều gì đó mà tất cả không thể cùng đạt được’ Độ rộng của khái niệm này bao gồm tất cả các hình thức ganh đua (giao dịch thị trường, đấu giá, cuộc chạy đua, các cuộc chiến tranh tiêu hao, ), các công cụ ganh đua (giá, quảng cáo, R & D, trả giá mua lại để giành quyền kiểm soát công ty, mức độ nỗ lực, ), các mục tiêu ganh đua (lợi nhuận, thị phần, kiểm soát công ty, thăng chức, giải thưởng, sự tồn tại, ) cũng như các loại ganh đua
Các lý thuyết về cạnh tranh được tiếp cận từ nhiều trường phái khác nhau: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển, và lý thuyết cạnh tranh hiện đại Smith (1776) đưa ra khái niệm cạnh tranh giữa những người mua hay những người bán trong một thị trường như sự ganh đua trong một cuộc chạy đua để cung ứng hàng hóa vượt mức Sự ganh đua đó thúc đẩy giá hướng đến điểm cân bằng giữa cung và cầu Smith và các nhà kinh tế học cổ điển khác đã liên kết cạnh tranh với các vấn đề phân bổ nguồn lực và lý thuyết giá trị hơn là lý thuyết hiệu quả sản xuất
2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Khi đề cập đến khái niệm năng lực cạnh tranh thì có thể tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Đối với khía cạnh vi mô thì năng lực cạnh tranh được xem là khả năng của một doanh nghiệp trong việc sản xuất sản phẩm đồng nhất và có lợi nhuận nhằm thỏa mãn được các yêu cầu khắt khe của thị trường về chất lượng cũng như giá cả (Domazet, 2012) Khả năng cạnh tranh ở góc độ doanh nghiệp thì liên quan chặt chẽ đến hiệu quả
Trang 13hoạt động trong dài hạn và lợi tức đầu tư cao hơn cho chủ sở hữu Ngoài ra, cũng có thể hiểu năng lực cạnh tranh là việc các doanh nghiệp có khả năng duy trì, tạo ra và phát triển các lợi thế hiện có để gia tăng thị phần nhằm gia tăng giá trị cho chủ sở hữu Đối với khía cạnh vĩ mô thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia được xem là một lĩnh vực lý thuyết kinh tế, phân tích về thực trạng và các chính sách hình thành khả năng duy trì và xây dựng môi trường bền vững của một quốc gia giúp tạo ra nhiều giá trị hơn cho các cá nhân và chủ thể trong nước (Garelli, 2006)
Theo Porter (1985), các doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh thông qua việc
có được chi phí sản xuất thấp hơn và/hoặc có được mức giá bán cao hơn do có sự khác biệt trong sản phẩm so với các doanh nghiệp khác Theo đó, để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần cung cấp các hàng hóa và dịch vụ đa dạng, có chất lượng cao cũng như sản xuất với hiệu suất cao
Lý thuyết cạnh tranh truyền thống dựa trên tiền đề là các doanh nghiệp trong cùng ngành có tính đồng nhất về nguồn lực và chiến lược kinh doanh họ sử dụng Tuy nhiên, khi môi trường kinh doanh thay đổi và có tác động đến chiến lược kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của doanh nghiệp trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thường có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước, hoặc mua bán trên thị trường nguồn lực
2.1.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh ngân hàng
Nguyễn Thanh Phong (2010) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng do chính ngân hàng tạo ra để duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ, vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”
Vì vậy, khi đề cập đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại thì có thể hiểu là khả năng tạo ra lợi nhuận lớn thông qua giảm thiểu các khoản chi phí lãi vay và các khoản chi phí hoạt động và/hoặc đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng Các ngân hàng thương mại cạnh tranh thông qua giá cả (lãi suất và mức phí áp dụng cho các sản phẩm, dịch vụ mà NHTM cung ứng cho các khách hàng), thông qua đa dạng hóa dịch vụ cung cấp, và thông qua hệ thống phân phối
Trang 142.1.4 Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh ngân hàng
Chỉ số Lerner được phát triển bởi Lerner (1934) Đây là một chỉ số về quyền lực độc quyền, được xác định bằng sự khác biệt giữa giá bán và chi phí (markup) Nó thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm
LERNER = (P - MC) / P
Khi thị trường cạnh tranh hoàn hảo tồn tại thì giá bán bằng với chi phí biên, lúc này chỉ số Lerner bằng 0 Khi giá cả lớn hơn chi phí biên thì lúc này chỉ số Lerner sẽ lớn hơn 0 và nó ở trong khoảng giữa 0 và 1 Chỉ số Lerner càng gần 1 thì quyền lực độc quyền của công ty càng cao Coccorese (2009) chỉ ra rằng chỉ số Lerner là một chỉ báo đúng của năng lực cạnh tranh ngân hàng và thước đo này được sử dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu trước đây Chỉ số này đo lường mức độ hoạt động thực sự chứ không
đo lường mức tiềm năng trong hành vi độc quyền của ngân hàng
Một cách tiếp cận khác dựa trên H-statistic mà được tính toán bằng tổng độ co giãn của doanh thu theo giá đầu vào Giá trị H-statistic nằm trong khoảng - ∞ đến 1 Một giá trị bằng hoặc nhỏ hơn 0 chỉ ra mức độ độc quyền Khi giá trị H ở giữa 0 và 1 thể hiện tình trạng độc quyền nhóm hay cạnh tranh độc quyền Khi giá trị bằng 1 chỉ ra cạnh tranh hoàn hảo Cách tiếp cận này được áp dụng cho tất cả các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu
Một thước đo năng lực cạnh tranh thứ ba đó là chỉ số Hirschman-Herfindahl, mà
đo lường mức độ tập trung thị trường Chỉ báo này thường được sử dụng trong mô hình SCP mà giả định rằng cấu trúc thị trường tác động đến hành vi của các ngân hàng và quyết định đến thành quả của các ngân hàng Ý tưởng của thước đo này đó là các ngân hàng có thị phần lớn hơn thì có năng lực thị trường cao hơn
2.2 Các vấn đề liên quan đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 2.2.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Khi đề cập đến khái niệm rủi ro thì có thể tiếp cận ở nhiều khía cạnh, quan điểm khác nhau Nhóm tác giả dựa theo Trần Huy Hoàng (2011) đề cập đến 2 quan điểm về rủi ro
Theo quan điểm truyền thống thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra
Trang 15Theo quan điểm trung hòa thì rủi ro là một sự không chắc chắn, một tình trạng bất
ổn hay sự biến động tiềm ẩn ở kết quả Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro
Khi đề cập đến khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì nhóm tác giả cũng dựa theo Trần Huy Hoàng (2011) cũng đã đề cập đến khái niệm rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải
bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định
2.2.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
2.2.2.1 Rủi ro vỡ nợ
Rủi ro vỡ nợ là rủi ro một ngân hàng không có khả năng thực hiện các khoản thanh toán nghĩa vụ nợ khi đến hạn Theo Boyd & Graham (1986), vỡ nợ ngân hàng là tình huống mà các khoản tổn thất (lợi nhuận âm) vượt quá vốn chủ sở hữu
2.2.2.2 Rủi ro tín dụng
Nhóm tác giả nghiên cứu yếu tố rủi ro tín dụng dựa theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, cụ thể là: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
Bên cạnh đó, Trần Huy Hoàng (2011) cũng đề cập đến khái niệm rủi ro tín dụng, đó chính là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ (nợ gốc hay nợ lãi) khi khoản nợ đến hạn Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng có thể được hiểu là rủi ro không thu hồi được nợ khi đến hạn do người vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn Đây là loại rủi ro gắn liền với hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng
Nợ của các tổ chức tín dụng được phân thành 5 nhóm: nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn), nhóm 2 (nợ cần chú ý), nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ
có khả năng mất vốn) Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được đúng hạn
Trang 16một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng Nợ xấu
là nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5
Các tổ chức tín dụng phải ước tính được những tổn thất của hoạt động tín dụng, phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Theo Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN thì dự phòng rủi ro tín dụng là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động
để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể
Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể Ít nhất mỗi tháng một lần phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Các tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng chung bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4
Các NHTM thực hiện trích lập dự phòng theo Điều 12, Điều 13 Thông tư 11/2021/TT-NHNN với tỷ lệ trích lập dự phòng đối với từng nhóm nợ như sau:
40/2018/TT-đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu
tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý).”
2.2.5 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro hoạt động kinh doanh ngân hàng 2.2.5.1 Chỉ tiêu đo lường rủi ro vỡ nợ
Z-score là một thước đo đảo ngược của rủi ro vỡ nợ ngân hàng được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu bởi vì tính toán tương đối đơn giản Theo Houston và cộng sự (2010), Lepetit & Strobel (2013) cho rằng thước đo này kết hợp khả năng sinh lợi, đòn
Trang 17bẩy, và độ biến động khả năng sinh lợi trong một thước đo duy nhất Nguyên tắc cơ bản của thước đo Z-score là liên kết mức độ vốn của ngân hàng đảm bảo cho sự thay đổi trong tỷ suất sinh lợi của ngân hàng để cho ngân hàng không bị vỡ nợ Một giá trị cao hơn trong Z-score thể hiện mức độ rủi ro của ngân hàng thấp hơn Thước đo Z-score gia tăng theo khả năng sinh lợi và mức độ tự tài trợ cao hơn và sụt giảm theo mức thu nhập không ổn định Thước đo Z-score không thể nắm bắt rủi ro tương lai của các ngân hàng bởi vì chỉ sử dụng dữ liệu kế toán trong quá khứ Tuy nhiên, thước đo này vẫn còn phù hợp trong việc đánh giá sự ổn định của ngân hàng và có thể giúp dự báo 76% vỡ nợ của ngân hàng (Chiaramonte và cộng sự, 2016) Chỉ tiêu này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu, như Danisman & Demirel (2019), Santoso và cộng sự (2021), Berger và cộng sự (2009), Fu và cộng sự (2014), Võ Xuân Vinh & Đặng Bửu Kiếm (2016), Nguyễn Đức Trường và cộng sự (2018)
2.2.5.2 Chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra đo lường rủi ro tín dụng thông qua tỷ lệ chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ cho vay Theo Houston và cộng sự (2010) thì mức độ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng có thể phản ánh hành vi quản trị của ngân hàng về chất lượng của danh mục cho vay, dự phòng cho toàn bộ các khoản tổn thất kỳ vọng của ngân hàng Chỉ tiêu này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu, như Danisman & Demirel (2019), Santoso và cộng sự (2021), Beck và cộng sự (2013), Berger và cộng sự (2009)
2.2.5.3 Chỉ tiêu đo lường rủi ro hoạt động
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng độ biến động của tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) là một chỉ báo đại diện cho mức độ nhạy cảm rủi ro hoạt động của ngân hàng, với giả định là mức độ nhạy cảm rủi ro hoạt động gia tăng tuyến tính theo độ biến động của hệ số NIM Theo Houston và cộng sự (2010) khi các ngân hàng trải qua sự sụt giảm mạnh hệ số NIM do các sự kiện mang tính hệ thống hoặc các sự kiện do nội tại ngân hàng, thì rủi ro hoạt động của ngân hàng đó cũng tăng lên Chỉ tiêu này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu, như Danisman & Demirel (2019)
Trang 182.3 Khung lý thuyết nghiên cứu
2.3.1 Lý thuyết Rủi ro đạo đức (Moral hazard)
Paul Krugman cho rằng Rủi ro đạo đức là trường hợp khi một bên đưa ra các quyết định liên quan tới mức độ chấp nhận rủi ro, trong khi bên kia phải chịu tổn thất nếu các quyết định đó thất bại
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro đạo đức có thể nảy sinh từ phía khách hàng và/hoặc từ phía ngân hàng
Rủi ro đạo đức từ phía khách hàng: thể hiện ở việc khách hàng sử dụng khoản vay không đúng mục đích cam kết, mạo hiểm đầu tư vào những dự án rủi ro, làm giả hồ sơ tín dụng,…
Rủi ro đạo đức từ phía ngân hàng: thể hiện ở việc thẩm định tín dụng không đạt tiêu chuẩn, có quan hệ lợi ích với khách hàng nên hướng dẫn khách hàng hợp thức hóa
hồ sơ tín dụng, không nắm bắt thông tin chính xác, thiếu thận trọng trong quá trình thẩm định, nới lỏng quá mức các chính sách, tiêu chuẩn thẩm định hồ sơ tín dụng, đầu tư vào các sản phẩm có mức độ mạo hiểm cao,…
Rủi ro đạo đức xuất hiện do một số nguyên nhân, như sự nới lỏng kiểm soát từ phía ngân hàng; sự thiếu hiểu biết của nhà quản trị ngân hàng; việc thiếu giám sát của
cơ quan chính phủ, cổ đông và người gửi tiền; sự hậu thuẫn của chính phủ cứu giúp các
tổ chức tín dụng lớn thoát khỏi sự sụp đổ
2.3.2 Lý thuyết giá trị đặc quyền (Charter Value)
Theo Acharya (1996), trong thực tế, các ngân hàng đạt được những lợi ích đáng
kể từ danh tiếng, từ lợi thế kinh tế theo quy mô và từ những thông tin có chất lượng trên thị trường tài chính, và phần lớn các lợi ích này sẽ bị mất đi khi ngân hàng đóng cửa Các lợi ích bị mất đi đó được gọi là giá trị đặc quyền Giá trị đặc quyền bao gồm các tổn thất vô ích (dead-weight losses) do đóng cửa ngân hàng, ví dụ như các tổn thất giá trị tài sản do quyết định thanh lý tài sản ngân hàng hay chuyển tài sản ngân hàng sang cho các đối tác sẵn lòng Nó cũng bao gồm các chi phí giao dịch (phá sản) Nếu ngân hàng không đóng cửa thì các chi phí giao dịch này sẽ được tái đầu tư trong ngân hàng Tóm lại, giá trị đặc quyền là giá trị bị mất đi như một khoản tổn thất vô ích khi đóng cửa một ngân hàng
Trang 192.3.3 Các quan điểm về tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng
và rủi ro ngân hàng
Trong ngân hàng, bất cân xứng thông tin có tác động đáng kể đến mức độ cạnh tranh ngân hàng và tính hiệu quả của các quyết định cho vay, bởi vì các ngân hàng có được các thông tin độc quyền thông qua các hoạt động cho vay mà cung cấp các lợi thế
về mặt thông tin hơn so với những người cho vay ít thông tin hơn khác (Bouckaert & Degryse, 2006)
Có hai quan điểm đối lập về mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh ngân hàng và rủi ro của ngân hàng
Đầu tiên là quan điểm “cạnh tranh - tính dễ đổ vỡ” Cạnh tranh giữa các ngân hàng được xem là một tác nhân tác động tiêu cực đến tính ổn định của các ngân hàng thương mại trong nhiều quốc gia khác nhau Keeley (1990) chỉ ra rằng khi mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng càng cao thì càng làm sụt giảm lợi nhuận của các ngân hàng Vì vậy, các ngân hàng gánh chịu rủi ro rất cao để gia tăng được khả năng sinh lợi Hay một lập luận khác đó là, khi năng lực cạnh tranh của ngân hàng càng cao thì càng làm giảm giá trị thương hiệu của ngân hàng (franchise value) nên các ngân hàng có động cơ chấp nhận rủi ro nhiều hơn và làm gia tăng rủi ro của ngân hàng Bolt & Tieman (2004) chỉ ra rằng khi các ngân hàng cạnh tranh nhiều hơn có thể làm cho mức độ thu thập thông tin về người vay sẽ ít hơn, dẫn đến ngân hàng có thể đề xuất cấp tín dụng không phù hợp và cho những người đi vay có chất lượng tín dụng thấp Ngoài ra, khi mức độ cạnh tranh gay gắt hơn sẽ có thể làm cho các ngân hàng chạy đua lãi suất, và điều này khiến cho các ngân hàng đối mặt rủi ro cao hơn
Quan điểm “cạnh tranh - tính ổn định” chỉ ra các ngân hàng cạnh tranh hơn dẫn đến hệ thống ngân hàng sẽ ổn định hơn Boyd & De Nicolo (2005) và một số tác giả khác đã chỉ ra rằng khi mức độ cạnh tranh ngân hàng sụt giảm thì các ngân hàng sẽ tính mức lãi suất cho vay cao hơn để lựa chọn các dự án có rủi ro cao Boyd & De Nicolo (2005) cũng đã phát triển một mô hình giải quyết vấn đề hợp đồng tối ưu trong trường hợp có rủi ro đạo đức và chỉ ra rằng khi mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng cao hơn thì lãi suất tiền gửi cao hơn và lãi suất cho vay thấp hơn Lãi suất cho vay thấp hơn làm giảm đi vấn đề rủi ro đạo đức và các ngân hàng đối mặt với rủi ro ở mức thấp hơn Quan điểm này nhận được sự đồng tình từ nghiên cứu của Boyd & De Nicolo (2005), Schaeck
và cộng sự (2009)
Trang 20Martinez-Miera & Repullo (2010) xem xét tác động dịch chuyển rủi ro mà làm gia tăng tính ổn định của ngân hàng thông qua việc giảm lãi suất cho vay, nhờ đó cắt giảm
tỷ lệ vỡ nợ của người đi vay Bù lại, các ngân hàng thương mại sẽ giảm bớt các khoản
dự phòng tổn thất cho vay và dẫn đến sụt giảm tính ổn định của ngân hàng Theo đó, họ
dự đoán mối quan hệ giữa cạnh tranh ngân hàng và tính ổn định của ngân hàng có dạng chữ U
2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước
2.4.1 Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm “Cạnh tranh - Tính ổn định”
Khi các ngân hàng cạnh tranh trong cả thị trường tiền gửi và cho vay, lãi suất cho vay xác định mức độ dịch chuyển rủi ro Boyd và De Nicolo (2005) chỉ ra rằng sự đánh đổi giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng có thể biến mất khi tính đến sự lựa chọn rủi
ro của các ngân hàng Một sự gia tăng trong cạnh tranh thị trường cho vay cắt giảm lãi suất cho vay ngân hàng, gia tăng lợi nhuận kỳ vọng của các ngân hàng, dẫn đến các ngân hàng lựa chọn khoản đầu tư an toàn hơn, mà chuyển sang các danh mục cho vay ngân hàng an toàn hơn
Quan điểm “Cạnh tranh - Tính ổn định” cho rằng cạnh tranh có tác động tích cực đến tính ổn định của các định chế tài chính Theo đó, Boyd & Nicolo (2005) cho rằng trong một thị trường cạnh tranh, việc cắt giảm lãi suất cho vay sẽ làm cắt giảm chi phí vay mượn và tăng mức độ thành công của các doanh nghiệp, và điều này đã góp phần làm tăng tính ổn định của ngân hàng thông qua việc cắt giảm độ nhạy cảm với rủi ro tín dụng Schaeck & Cihák (2008) đã phân tích 3.600 ngân hàng châu Âu và hơn 8.900 ngân hàng Mỹ, kết quả nghiên cứu cũng ủng hộ quan điểm này (với thước đo năng lực cạnh tranh là chỉ báo Boone) Schaeck và cộng sự (2009) chỉ ra rằng trong một môi trường cạnh tranh, các ngân hàng sẽ duy trì tấm đệm vốn nhằm làm giảm đi khả năng xảy ra khủng hoảng tài chính Noman và cộng sự (2017) cũng phân tích tác động này và nhận thấy rằng cạnh tranh thúc đẩy sự ổn định tài chính và cắt giảm rủi ro tín dụng trong
Trang 21sát các ngân hàng tại 55 quốc gia đã phát triển và đang phát triển trong giai đoạn
2000-2007 Kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng sự cạnh tranh lớn hơn làm gia tăng tính ổn định trong hệ thống ngân hàng bởi vì sự cạnh tranh nhiều hơn có thể làm cho các ngân hàng theo đuổi đa dạng hóa thu nhập
Fu và cộng sự (2014) sử dụng mẫu quan sát bao gồm các ngân hàng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và nhận thấy rằng mức độ năng lực cạnh tranh ngân hàng cao hơn có quan hệ với mức độ rủi ro ngân hàng thấp hơn Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với Goetz (2018) khi nhận thấy cạnh tranh ngân hàng càng lớn thì sẽ cắt giảm rủi ro của ngân hàng do có sự tăng lên trong khả năng sinh lợi và chất lượng của tài sản
Võ Xuân Vinh & Đặng Bửu Kiếm (2016) xem xét tác động của năng lực cạnh tranh đến lợi nhuận và sự ổn định của 37 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2014 bằng phương pháp ước lượng cố định (Fixed Effects) và ước lượng ngẫu nhiên (Random Effects) Họ đo lường tính ổn định của ngân hàng thông qua chỉ
số Z-score và đo lường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thông qua chỉ số Lerner Kết quả nghiên cứu chỉ ra việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng giúp các ngân hàng tạo ra lợi nhuận càng cao và ổn định hơn
2.2.3 Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm “Cạnh tranh - Tính dễ đổ vỡ”
Quan điểm “Cạnh tranh - Tính dễ đổ vỡ” chỉ ra rằng cạnh tranh trong ngành dịch
vụ tài chính càng cao làm suy yếu khả năng sinh lợi của các định chế tài chính Để phục hồi lại các khoản tổn thất tài chính, các định chế tài chính có thể đầu tư vào các danh mục rủi ro cao hơn
Allen & Gale (2004) thiết lập mô hình cân bằng tổng quát về mối liên hệ giữa cạnh tranh ngân hàng với sự ổn định ngân hàng, chỉ ra rằng cạnh tranh hoàn hảo giữa các định chế tài chính thì tối ưu hóa Pareto, còn cạnh tranh không hoàn hảo giữa các định chế tài chính thì tối ưu hóa Pareto có ràng buộc, và sự ổn định ngân hàng là một điều kiện cần thiết để tối ưu hóa Các mô hình cân bằng tổng quát này không đề cập đến rủi ro đạo đức do sự lựa chọn rủi ro của ngân hàng không thể quan sát được
Trong cân bằng từng phần, sự đánh đổi giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng được bắt nguồn thông qua lập luận dịch chuyển rủi ro áp dụng đối với một ngân hàng mà gia tăng nguồn tài trợ từ người gửi tiền và lựa chọn rủi ro đầu tư Với trách nhiệm hữu hạn,
sự lựa chọn rủi ro không thể quan sát được, cầu tiền gửi không nhạy cảm với rủi ro, lợi suất kinh tế theo quy mô không đổi trong việc thẩm định và giám sát, một sự gia tăng
Trang 22trong cạnh tranh thị trường tiền gửi làm gia tăng lãi suất tiền gửi, cắt giảm lợi nhuận kỳ vọng của các ngân hàng và thúc đẩy các ngân hàng chấp nhận rủi ro nhiều hơn
Keeley (1990) sử dụng mẫu quan sát bao gồm các ngân hàng tại Mỹ với kết quả nghiên cứu chỉ ra khi gia tăng cạnh tranh sẽ làm giảm đi tính ổn định của ngành ngân hàng tại Mỹ Kết quả nghiên cứu này nhận được nhiều ủng hộ từ các nghiên cứu sau đó như Berger và cộng sự (2009), Beck và cộng sự (2013)
Chan và cộng sự (1986) cho rằng khi mức độ cạnh tranh trên thị trường gia tăng
sẽ làm cho thu nhập của ngân hàng sụt giảm và dẫn đến giảm sút chất lượng khoản vay Mishkin (1999) cho rằng trong một thị trường ít cạnh tranh thì các ngân hàng thường được nhà nước hỗ trợ, điều này dẫn đến các ngân hàng chấp nhận rủi ro nhiều hơn do vấn đề rủi ro đạo đức Caminal & Matutes (2002) cho rằng trong một thị trường ít cạnh tranh thì các ngân hàng có xu hướng giảm bớt các ràng buộc tín dụng và mở rộng cho vay hơn, và điều này sẽ dễ dẫn đến phá sản ngân hàng Boyd và cộng sự (2006) chỉ ra rằng mức độ cạnh tranh ngân hàng càng cao không nhất thiết có quan hệ với mức độ gia tăng trong khả năng phá sản ngân hàng
Theo Allen & Gale (2004), trong một thị trường cạnh tranh, các ngân hàng có động
cơ hạn chế các khách hàng kiểm tra việc cho vay nhiều hơn và kiếm lợi nhuận cao hơn của ngân hàng Beck và cộng sự (2013) nhận thấy mối quan hệ cùng chiều giữa cạnh tranh và tính dễ đổ vỡ của ngân hàng trong nền kinh tế đã phát triển, nhưng Anginer và cộng sự (2014) chỉ ra rằng hệ thống ngân hàng dễ đổ vỡ hơn trong các quốc gia có mức
độ giám sát yếu, trong các ngân hàng có mức độ sở hữu nhà nước lớn hơn, và trong các quốc gia có chính sách công hạn chế sự cạnh tranh Kasman & Kasman (2015) sử dụng chỉ báo Boone để đo lường cạnh tranh ủng hộ quan điểm “cạnh tranh - tính dễ đổ vỡ” khi nghiên cứu với các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ
Boyd & Nicolo (2005) ủng hộ quan điểm “cạnh tranh - tính ổn định” nhưng khi Martinez-Miera & Repullo (2010) mở rộng mô hình của Boyd & Nicolo (2005) chỉ ra rằng khi cạnh tranh ngân hàng cao hơn dẫn đến lãi suất giảm, làm giảm thu nhập của ngân hàng, dẫn đến làm cho các ngân hàng thực hiện hoạt động rủi ro hơn Vì vậy, chỉ
ra mối quan hệ cạnh tranh - tính ổn định ngân hàng dạng chữ U
Nguyễn Đức Trường và cộng sự (2018) cũng xem xét tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến tính ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai
Trang 23đoạn 2006-2017 bằng phương pháp hồi quy GMM hệ thống do vấn đề nội sinh tiềm tàng Mẫu quan sát bao gồm 7 ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, 32 ngân hàng thương mại cổ phần, 6 ngân hàng có 100% vốn nước ngoài Tác giả đo lường tính ổn định của ngân hàng thông qua chỉ số Z-score và tỷ lệ nợ xấu, đo lường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thông qua chỉ số Lerner Kết quả nghiên cứu chỉ ra cạnh tranh ngân hàng gia tăng có thể làm gia tăng tính bất ổn của hệ thống Theo đó, họ nhận thấy kết quả này thì phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam cũng như các nước có hệ thống tài chính đang phát triển Điều này là bởi vì cạnh tranh quá mức trong khi pháp luật chưa
đủ chặt chẽ để điều chỉnh, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh và làm suy giảm sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Hồ Thúy Ái & Nguyễn Chí Đức (2021) xem xét tác động của cạnh tranh và quy
mô ngân hàng đến biến động lợi nhuận của 17 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2019 (theo quý) bằng phương pháp ước lượng cố định (Fixed Effects)
và ước lượng ngẫu nhiên (Random Effects) Kết quả nghiên cứu chỉ ra khi cạnh tranh ngân hàng gia tăng sẽ đe dọa lợi nhuận ngân hàng nên các ngân hàng sẵn sàng cho vay danh mục rủi ro hơn Vì vậy, biến động lợi nhuận ngân hàng cũng sẽ cao hơn Quy mô hoạt động có thể giúp cho ngân hàng giảm thiểu rủi ro
Một số nghiên cứu trước đây ủng hộ quan điểm “cạnh tranh - tính dễ đổ vỡ” chẳng hạn như nghiên cứu của Danisman & Demirel (2019), Santoso và cộng sự (2021) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại ủng hộ quan điểm “cạnh tranh – tính ổn định” như Soedarmono & Tarazi (2016) Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm khi chỉ ra mối quan hệ phi tuyến dạng U ngược giữa năng lực cạnh tranh ngân hàng và tính ổn định của hệ thống ngân hàng, như nghiên cứu của Martinez-Miera & Repullo (2010) Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Berger và cộng sự (2009) vừa chỉ ra năng lực cạnh tranh của ngân hàng cao hơn sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề nợ xấu của ngân hàng (ủng hộ quan điểm “cạnh tranh - tính ổn định”) vừa chỉ ra năng lực cạnh tranh của ngân hàng càng cao sẽ làm giảm đi xác suất mất khả năng thanh toán của ngân hàng (ủng hộ quan điểm “cạnh tranh - tính dễ đổ vỡ”) Thông qua việc lược khảo các nghiên cứu trước đây về tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của các ngân hàng thì nhóm tác giả nhận thấy gần như chỉ có các bằng chứng thực nghiệm tập trung ở các quốc gia mới nổi và đã phát triển, còn bỏ ngỏ rất nhiều bằng chứng thực nghiệm ở các quốc gia đang phát triển và các quốc gia
Trang 24tiền mới nổi Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng hay nếu có nghiên cứu tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến sự ổn định của ngân hàng thì lại tập trung vào nghiên cứu yếu tố rủi ro vỡ nợ của các ngân hàng thương mại Nghiên cứu này xem xét tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của ngân hàng trên nhiều thước đo rủi ro khác nhau để có một cái nhìn phân tích tổng quát hơn, bao gồm rủi ro
vỡ nợ, rủi ro tín dụng, và rủi ro hoạt động của ngân hàng
Trang 25KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 trình bày các khái niệm có liên quan về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh ngân hàng, rủi ro, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro vỡ nợ, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động của các ngân hàng thương mại Đồng thời, bài nghiên cứu cũng trình bày các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh ngân hàng
và các chỉ tiêu đo lường rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Nhóm tác giả trình bày khung cơ sở lí thuyết về rủi ro đạo đức, lý thuyết về giá trị đặc quyền, 2 quan điểm về tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của ngân hàng, đó là quan điểm “cạnh tranh-tính ổn định” và quan điểm “cạnh tranh-tính dễ đổ vỡ” Ngoài
ra, chương này còn đề cập đến các nghiên cứu thực nghiệm trước đây ở trên thế giới và
cả ở trong nước về tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của ngân
hàng
Trang 26CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu
Nhóm tác giả dựa trên khuôn khổ lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới và tại Việt Nam, trong đó có nghiên cứu của Danisman & Demirel (2019), Santoso và cộng sự (2021) để đề xuất mô hình nghiên cứu sau để nghiên cứu tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Cụ thể hơn, nhóm tác giả nghiên cứu tác động này trên 3 thước đo rủi ro khác nhau, bao gồm rủi ro vỡ nợ, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động Nhóm tác giả cũng kiểm soát các yếu tố Tổng tiền gửi trên tổng tài sản, Tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, Quy mô của ngân hàng, Tổng dư nợ cho vay trên tổng tài sản, Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản có tác động đến rủi ro của các ngân hàng trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới và tại Việt Nam
DEFAULT_RISK = β0 + β1 LERNER + β2 DTA + β3 ETA + β4 SIZE + β5 LOANTA + β6 TAG (1)
CREDIT_RISK = β0 + β1 LERNER + β2 DTA + β3 ETA + β4 SIZE + β5 LOANTA + β6 TAG (2)
OPERATIONAL_RISK = β0 + β1 LERNER + β2 DTA + β3 ETA + β4 SIZE + β5 LOANTA + β6 TAG (3)
Trong đó:
DEFAULT_RISK: Rủi ro vỡ nợ
CREDIT_RISK: Rủi ro tín dụng
OPERATIONAL_RISK: Rủi ro hoạt động
LERNER: Năng lực cạnh tranh ngân hàng
DTA: Tổng tiền gửi trên tổng tài sản
EQTA: Tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
SIZE: Quy mô của ngân hàng
LOANTA: Tổng dư nợ cho vay trên tổng tài sản
TAG: Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản
Trang 273.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu
Khi mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng càng cao thì càng làm sụt giảm lợi nhuận của các ngân hàng Vì vậy, các ngân hàng phải gánh chịu rủi ro rất cao để gia tăng được khả năng sinh lợi Điều đó làm cho mức độ thu thập thông tin về người vay
sẽ ít hơn, dẫn đến ngân hàng có thể đề xuất cấp tín dụng không phù hợp và cho những người đi vay có chất lượng tín dụng thấp Từ đó, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết H1 như sau:
Giả thuyết H1: Năng lực cạnh tranh ngân hàng gia tăng sẽ làm gia tăng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Khi mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng cao hơn thì lãi suất tiền gửi cao hơn
và lãi suất cho vay thấp hơn Lãi suất cho vay thấp hơn làm giảm đi vấn đề rủi ro đạo đức và các ngân hàng đối mặt với rủi ro ở mức thấp hơn, nhờ đó cắt giảm đi tỷ lệ vỡ nợ của người đi vay, dẫn đến làm giảm đi khả năng xảy ra vỡ nợ của các ngân hàng Từ đó, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết H2 như sau:
Giả thuyết H2: Năng lực cạnh tranh ngân hàng gia tăng sẽ làm sụt giảm rủi ro vỡ
nợ của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Khi mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng cao hơn thì các ngân hàng sẽ cố gắng hoàn thiện quy trình nội bộ, ít xảy ra các lỗi, sự cố của hệ thống để nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ, thu hút khách hàng Điều này làm sụt giảm rủi ro hoạt động của các ngân hàng Từ đó, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết H3 như sau:
Giả thuyết H3: Năng lực cạnh tranh ngân hàng gia tăng sẽ làm sụt giảm rủi ro hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
3.3 Biến nghiên cứu
3.3.1 Biến năng lực cạnh tranh (LERNER)
Nhóm tác giả dựa theo nghiên cứu của Samarasinghe & Uylangco (2021) để tính toán thước đo Lerner nhằm đo lường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Thước đo này cũng được sử dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu, chẳng hạn như Berger và cộng sự (2009), Beck và cộng sự (2013) Chỉ số Lerner của một ngân hàng có giá trị càng cao nghĩa là ngân hàng đó có khả năng chi phối càng lớn Nhóm tác giả tính toán cụ thể như sau
LERNER = (P - MC) / P (7)
Trang 28Trong đó: P là mức giá của tổng tài sản, được đại diện bởi tỷ số tổng thu nhập của ngân hàng (thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi) trên tổng tài sản của ngân hàng; MC
là chi phí biên của tổng tài sản
Nhóm tác giả tính toán chi phí biên (MC) theo các bước như sau:
- Hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) theo một
số điều kiện ràng buộc
Ln(C) = α + β 1 ln(Q) + β 2 (ln(Q)) 2 + β 3 ln(W 1 ) + β 4 ln(W 2 ) + β 5 ln(W 3 ) +
β 6 ln(Q)*ln(W 1 ) + β 7 ln(Q)*ln(W 2 ) + β 8 ln(Q)*ln(W 3 )+ β 9 (ln(W 1 )) 2 + β 10 (ln(W 2 )) 2 + β11(ln(W 3 )) 2 + β 12 ln(W 1 )*ln(W 2 )+ β 13 ln(W 1 )*ln(W 3 ) + β 14 ln(W 2 )*ln(W 3 ) + ø
Year dummies + ε (8)
Trong đó:
C là tổng chi phí lãi vay và tất cả các chi phí hoạt động khác của ngân hàng
Q là sản lượng ngân hàng được đại diện bởi tổng tài sản (theo De Guevara và cộng
sự, 2005)
W1 là tỷ số chi phí lãi vay trên tổng nợ phải trả
W2 là tỷ số chi phí nhân sự trên tổng tài sản
W3 là tỷ số chi phí hoạt động khác trên tổng tài sản
Cùng với các điều kiện ràng buộc: β3 + β4 + β5 = 1; β6 + β7 + β8 = 0; β9 + β12 + β13 = 0; β10 + β12 + β14 = 0; β11 + β13 + β14 = 0
- Từ các hệ số hồi quy ước lượng được ở phương trình (8), nhóm tác giả đưa vào phương trình (9) để ước tính chi phí biên
MC = ∂C/∂Q = C/Q*[β1 + 2*β2*ln(Q) + β6*ln(W1) + β7*ln(W2) +
β8*ln(W3)] (9) 3.3.2 Biến rủi ro vỡ nợ (DEFAULT_RISK)
Nhóm tác giả sử dụng cách thức tính toán được đề cập đến trong nghiên cứu của Berger và cộng sự (2009) vào trong nghiên cứu này Giá trị Z-score càng cao thể hiện mức độ ổn định ngân hàng càng cao và rủi ro vỡ nợ càng thấp
Nhóm tác giả nhân thêm giá trị (-1) với mục đích làm cho thước đo rủi ro vỡ nợ dễ dàng so sánh với các thước đo rủi ro khác ở trong nghiên cứu này như trong nghiên cứu của Danisman & Demirel (2019) Vì vậy, giá trị của biến Default_Risk càng cao thể hiện mức độ rủi ro vỡ nợ càng lớn
Trang 29DEFAULT_RISK = - LN( 𝑹𝑶𝑨 + (
𝑬
𝑨 ) 𝑺𝒅.(𝑹𝑶𝑨)) (10)
Trong đó:
ROA: khả năng sinh lợi trên tổng tài sản,
E/A: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản,
Sd.(ROA): độ lệch chuẩn của khả năng sinh lợi trên tổng tài sản
3.3.3 Biến rủi ro tín dụng (CREDIT_RISK)
Nhóm tác giả dựa theo nghiên cứu của Houston và cộng sự (2010), Danisman & Demirel (2019) đo lường rủi ro tín dụng thông qua tỷ lệ chi phí trích lập dự phòng rủi
ro tín dụng trên tổng dư nợ cho vay Giá trị của biến Credit_Risk càng cao thì thể hiện mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng càng lớn
CREDIT_RISK = 𝑪𝒉𝒊 𝒑𝒉í 𝒕𝒓í𝒄𝒉 𝒍ậ𝒑 𝒅ự 𝒑𝒉ò𝒏𝒈 𝒓ủ𝒊 𝒓𝒐 𝒕í𝒏 𝒅ụ𝒏𝒈
𝑻ổ𝒏𝒈 𝒅ư 𝒏ợ 𝒄𝒉𝒐 𝒗𝒂𝒚 (11) 3.3.4 Biến rủi ro hoạt động (OPERATIONAL_RISK)
Nhóm tác giả dựa theo nghiên cứu của Houston và cộng sự (2010), Danisman & Demirel (2019) sử dụng độ biến động của tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) đại diện cho mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngân hàng có giá trị tỷ lệ thu nhập lãi thuần NIM càng biến động tức là đến từ các chiến lược cho vay rủi ro hơn Giá trị của biến Operational_Risk càng cao thì thể hiện mức độ rủi ro hoạt động của ngân
hàng càng lớn
3.3.5 Các biến kiểm soát
Khi nghiên cứu tác động này, nhóm tác giả cũng đưa vào các biến kiểm soát như sau:
• Tổng tiền gửi trên tổng tài sản (DTA)
DTA = Tổng tiền gửi/ Tổng tài sản Các ngân hàng có tỷ lệ tổng tiền gửi trên tổng tài sản cao hơn thì sẽ có động lực vận hành ngân hàng thận trọng hơn, ít rủi ro hơn (Rokhim & Min, 2020)
• Tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA)
ETA = Tổng vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản Biến này được đưa vào trong mô hình để kiểm soát mức độ vốn hóa ngân hàng
mà có thể tác động đến mức độ ổn định của ngân hàng