Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Đánh giá được thực trạng và những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết châ
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÂM THỊ HỒNG PHÚC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÁC BÔ RÁC TẠM VÀ CÁC TRẠM TRUNG CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN TẠI QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH KHI BẮT ĐẦU ÁP DỤNG EPR
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Hùng Anh
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23 tháng 7 năm 2023
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS Lương Văn Việt - Chủ tịch Hội đồng
2 TS Nguyễn Thị Thanh Trúc - Phản biện 1
3 TS Nguyễn Thanh Phong - Phản biện 2
4 PGS.TS Đào Minh Trung - Ủy viên
5 TS Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VIỆN TRƯỞNG
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Lâm Thị Hồng Phúc MSHV: 20000131
Ngày, tháng, năm sinh: 31/12/1978 Nơi sinh: Tp Hồ Chí Minh Ngành: Quản lý Tài nguyên và môi trường Mã ngành: 8850101
I TÊN ĐỀ TÀI:
Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý các bô rác tạm và các tạm trung chuyển chất thải rắn tại Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh khi bắt đầu áp dụng EPR từ năm 2024
NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Nhiệm vụ: Đánh giá được thực trạng và những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý
các bô rác tạm và các trạm trung chuyển chất thải rắn, qua đó đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp tại Quận Gò Vấp
Trang 4- Đề xuất giải pháp quản lý trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn theo định hướng áp dụng EPR từ năm 2024 trên địa bàn quận Gò Vấp trong công tác quản lý các bô rác tạm, điểm tập kết, trạm trung chuyển CTRSH trên địa bàn quận Gò Vấp
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo Quyết định số 2821/QĐ-ĐHCN ngày
20/12/2023 của Hiệu trưởng trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 10/06/2023
IV NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Lê Hùng Anh
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2023
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý các bô rác tạm và các tạm trung chuyển chất thải rắn tại Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh khi bắt đầu
áp dụng EPR từ năm 2024” là kết quả của quá trình học tập và làm việc của bản thân
và có sự giúp đỡ và động viên khích lệ của các Thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và đơn
vị đang công tác Qua đây tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những người đã giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học vừa qua
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy hướng dẫn là PGS.TS Lê Hùng Anh đã trực tiếp hướng dẫn tôi từ những ngày mới bắt đầu hình thành ý tưởng
và triển khai nghiên cứu cho đến khi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và Quý thầy cô của Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý Môi trường, Phòng Quản lý Sau đại học – Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt việc nghiên cứu khoa học của mình
Tôi xin cảm ơn các anh/chị học viên lớp cao học quản lý môi trường khóa 10A năm
2020 và gia đình tôi là nguồn động viên, tiếp lực cho tôi thực hiện bài nghiên cứu này trong suốt thời gian qua
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Quá trình đô thị hóa trên địa bàn quận Gò Vấp diễn ra nhanh, cùng với tốc độ phát triển kinh tế của khu vực đã tạo nên nhiều áp lực cho công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt của quận Từ thực trạng, những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý tại 10
bô rác tạm và 1 trạm trung chuyển chất thải rắn của quận được đánh giá, qua đó đề xuất các giải pháp phục vụ cho công tác quản lý với định hướng áp dụng EPR Các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phân tích đánh giá cơ hội và thách thức để đánh giá thực trạng công tác quản lý thu gom rác thải trên địa bàn quận cơ bản đáp ứng được yêu cầu Các phương pháp phân tích số liệu và so sánh với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã chỉ ra hiện trạng môi trường không khí tại trạm trung chuyển Quang Trung đạt chất lượng; Trong đó, nồng độ các chất gây mùi tại các bô rác tạm, điểm tập kết như NH3 và H2S vượt quy chuẩn cho phép Tác giả đã tham luận, lấy ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực quản lý môi trường để đưa ra các giải pháp quản lý định hướng áp dụng EPR theo các thứ tự ưu tiên, chủ yếu được thực hiện từ đơn vị quản
lý nhà nước: Phòng Tài nguyên và Môi trường quận thực hiện rà soát, thương thảo, điều chỉnh, bổ sung nội dung EPR đối với các nhà thầu cung ứng dịch vụ thu gom rác; Hoạt động giáo dục, tuyên truyền trong công tác phân loại rác tại nguồn và quy hoạch đầu tư trạm trung chuyển rác hiện đại
Trang 7ABSTRACT
The rapid urbanization process in Go Vap district and the area’s economic development, have created a lot of pressure for the district's solid waste collection From the current situation, the existing problems in the management at 10 temporary landfills and a solids transfer station in the district were assessed, thereby proposing solutions for management with application orientation EPR The methods of investigation by questionnaires, analysis, and evaluation of opportunities and formulas to assess the current garbage collection management situation in the district meet the requirements The methods of data analysis and comparison with the new national technical regulations show that the current status of the air environment at Quang Trung Transshipment Station is of good quality; In particular, the concentration of odor-causing substances at temporary exhaust gases and gathering points such as NH3 and H2S exceeded the permitted standards The author consulted and consulted experts in the field of environmental management to come up with management solutions to orient the application of EPR in order of priority, mainly from state management units: The District Department of Natural Resources and Environment reviews, negotiates, adjusts, and supplements EPR content for contractors providing garbage collection services; Education and propaganda activities in waste separation at source and investment planning in a modern waste transfer station
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong cuốn luận văn là do tôi thực hiện dưới sự trực tiếp hướng dẫn của PGS.TS Lê Hùng Anh Các nhận định nêu ra trong luận văn
là kết quả nghiên cứu nghiêm túc và trung thực Các nguồn tài liệu tham khảo và trích dẫn được xác định rõ ràng
Nếu có phát hiện bất kỳ sai sót về số liệu hoặc sự sao chép nào về kết quả nghiên cứu khác, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường và hội đồng
Học viên
Lâm Thị Hồng Phúc
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ iii
ABSTRACT iv
LỜI CAM ĐOAN v
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH ix
DANH MỤC BẢNG BIỂU xi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Cách tiếp cận trong nghiên cứu 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 6
1.1 Tổng quan một số vấn đề cơ bản 6
1.2 Một số vấn đề EPR trong công tác quản lý chất thải rắn 7
1.3 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt trong và ngoài nước 9
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý CTRSH ở một số nước 9
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nước ta 14
1.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 18
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 18
Trang 101.4.2 Kinh tế - xã hội 20
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Nội dung nghiên cứu 23
2.1.1 Đánh giá hiện trạng và các vấn đề môi trường tại các bô rác tạm, điểm tập kết và trạm trung chuyển chất thải tại địa bàn nghiên cứu 23
2.1.2 Các vấn đề tồn tại trong công tác quản lý các bô rác tạm, điểm tập kết và trạm trung chuyển trên địa bàn quận Gò Vấp 24
2.1.3 Đề xuất giải pháp quản lý trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn theo định hướng áp dụng EPR từ năm 2024 trên địa bàn quận Gò Vấp 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, điều tra thực địa 25
2.2.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 25
2.2.3 Phương pháp SWOT (Strenghts-Weaknesses-Opportunities-Threats) 26
2.2.4 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 26
2.2.5 Phân tích hệ thống 27
2.2.6 Phương pháp bản đồ học 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Kết quả đánh giá hiện trạng các bô rác tạm, điểm tập kết và trạm trung chuyển chất thải tại địa bàn nghiên cứu 29
3.1.1 Hiện trạng các trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn 29
3.1.2 Kết quả điều tra về phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn quận Gò Vấp 33
3.1.3 Kết quả điều tra về lộ trình vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Gò Vấp 35
3.1.4 Hoạt động lưu trữ rác thải 39
3.1.5 Hoạt động thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn sinh hoạt 45
3.2 Đánh giá các vấn đề môi trường tại các bô rác tạm, điểm tập kết và trạm trung chuyển trên địa bàn quận Gò Vấp 47
Trang 113.2.1 Chất lượng môi trường không khí tại trạm trung chuyển Quang Trung 49
3.2.2 Chất lượng không khí môi trường lao động tại các bô rác tạm, điểm tập kết rác 54
3.3 Kết quả khảo sát cán bộ quản lý và người dân về các vấn đề phát sinh tại các bô rác tạm, điểm tập kết và trạm trung chuyển trên địa bàn quận Gò Vấp 56
3.3.1 Kết quả khảo sát cán bộ quản lý tại các điểm tập kết rác, trạm trung chuyển 57 3.3.2 Kết quả khảo sát người dân sinh sống gần khu vực bô rác tạm, điểm tập kết, trạm trung chuyển 58
3.4 Đánh giá những tồn tại trong công tác quản lý các bô rác tạm, điểm tập kết, trạm trung chuyển CTRSH trên địa bàn quận Gò Vấp 66
3.4.1 Các chính sách quản lý chất thải rắn sinh hoạt, vệ sinh trên địa bàn quận Gò Vấp 66
3.4.2 Những hạn chế trong chính sách quản lý môi trường đối với các điểm tập kết, trạm trung chuyên trên địa bàn quận Gò Vấp 69
3.4.3 Đánh giá hiệu quả quản lý của các điểm tập kết, trạm trung chuyển trên địa bàn quận Gò Vấp 71
3.5 Đề xuất giải pháp quản lý trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn theo định hướng áp dụng EPR từ năm 2024 trên địa bàn quận Gò Vấp 73
3.5.1 Đánh giá mức độ khả thi thực hiện các giải pháp quản lý chất thải rắn theo định hướng áp dụng EPR từ năm 2024 trên địa bàn quận Gò Vấp 73
3.5.2 Đề xuất các giải pháp quản lý 77
3.5.3 Một số đề xuất cụ thể khác 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC CHUYÊN GIA, NHÀ QUẢN LÝ VỀ CHẤT THẢI RẮN THAM GIA THAM VẤN 89
PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH PHƯƠNG TIỆN THU GOM, VẬN CHUYỂN RÁC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP 90
Trang 12PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ TỔNG HỢP PHIẾU KHẢO SÁT NGƯỜI DÂN 93 PHỤ LỤC 4: HÌNH ẢNH KHẢO SÁT, PHỎNG VẤN CỦA HỌC VIÊN 98 PHỤ LỤC 5: MẪU PHIẾU PHIẾU KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ KHẢ THI
VÀ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA CÁC GIẢI PHÁP 100 PHỤ LỤC 6: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN NGƯỜI DÂN 103
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 106
Trang 13DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 0.1 Bản đồ phạm vi nghiên cứu quận Gò Vấp 3
Hình 0.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu của đề tài 4
Hình 1.1 Sơ đồ mô tả cách thức vận hành EPR tại Việt Nam 8
Hình 2.1 Sơ đồ định hướng nghiên cứu của đề tài 22
Hình 3.1 Phân bố rác tại các điểm tập kết, bô rác tạm 30
Hình 3.2 Vị trí trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Gò Vấp 31
Hình 3.3 Điểm tập kết rác cuối hẻm 221 Phan Huy Ích, phường 14, quận Gò Vấp 32 Hình 3.4 Phương tiện thu gom rác hộ dân, rác đường phố 34
Hình 3.5 Xe ép rác thu gom rác tại điểm tập kết rác thải 35
Hình 3.6 Bản đồ lộ trình thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt từ TTC về các khu liên hiệp xử lý chất thải rắn 36
Hình 3.7 Hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt 39
Hình 3.8 Rác thải được tập kết, lưu trữ tại khu vực chợ Gò Vấp trước khi được đơn vị vận chuyển thu gom 40
Hình 3.9 Thùng rác ba ngăn tại siêu thị LOTTE Mart Gò Vấp 41
Hình 3.10 Hoạt động thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại LOTTE Mart Gò Vấp 42
Hình 3.11 Nơi chứa chất thải rắn sinh hoạt trong trường học 43
Hình 3.12 Hoạt động thu gom rác tại trường học 43
Hình 3.13 Hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt tại bệnh viện Gò Vấp 44
Hình 3.14 Quy trình xử lý rác tại trạm trung chuyển 47
Hình 3.15 Hàm lượng bụi trong khu vực trạm trung chuyển 51
Hình 3.16 Hiện hàm lượng SO2 trong khu vực trạm trung chuyển 52
Hình 3.17 Hàm lượng NO2 trong khu vực trạm trung chuyển 53
Hình 3.18 Hàm lượng H2S và NH3 ở khu vực trạm trung chuyển 54
Hình 3.19 Hiện hàm lượng NH3 tại các điểm tập kết rác 55
Hình 3.20 Hàm lượng H2S tại các điểm tập kết rác 55
Hình 3.21 Khảo sát, thu thập thông tin từ cán bộ quản lý 58
Trang 14Hình 3.22 Kết quả khảo sát người dân về khối lượng rác thải tại các bô rác, điểm tập kết và trạm trung chuyển 59 Hình 3.23 Kết quả khảo sát người dân về tần suất thu gom rác thải sinh hoạt tại các hộ gia đình, cơ sở sản xuất và kinh doanh 60 Hình 3.24 Kết quả khảo sát người dân về thời gian diễn ra hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình, cơ sở sản xuất và dịch vụ 61 Hình 3.25 Kết quả khảo sát người dân về mức độ ảnh hưởng của hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt đến người dân xung quanh 62 Hình 3.26 Kết quả khảo sát người dân về mức độ ảnh hưởng từ mùi hôi của hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt tại các bô rác, điểm tập kết và TTC 63 Hình 3.27 Kết quả khảo sát người dân về hoạt động phân loại rác tại nguồn 64 Hình 3.28 Kết quả khảo sát người dân về mức độ hiệu quả của công tác quản lý môi trường của địa phương tại các điểm tập kết/trạm trung chuyển 66 Hình 3.29 Dự án tặng cụm thùng rác bảy màu để phân loại rác cho người dân phường
13, quận Gò Vấp 73
Trang 15DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 0.1 Kết quả khảo sát hiện trạng trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập
kết chất thải rắn tại địa bàn nghiên cứu 2
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát các bô rác tạm, điểm tập kết và trạm trung chuyển trên địa bàn quận Gò Vấp vào tháng 3 năm 2023 29
Bảng 3.2 Kết quả khảo điều tra về phương tiện, khối lượng vận chuyển CTRSH về công ty Cổ phần Vietstar 37
Bảng 3.3 Kết quả điều tra phương tiện, khối lượng vận chuyển CTRSH về công ty CP ĐTPT Tâm Sinh Nghĩa 38
Bảng 3.4 Kết quả điều tra phương tiện thu gom, vận chuyển về Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước, huyện Bình Chánh 38
Bảng 3.5 Mức thu đối với hộ gia đình (đồng/tháng) 45
Bảng 3.6 Mức thu phí đối với các đối tượng ngoài hộ gia đình – Nhóm 1 46
Bảng 3.7 Mức thu phí đối với các đối tượng ngoài hộ gia đình – Nhóm 2 46
Bảng 3.8 Mức thu phí đối với các đối tượng ngoài hộ gia đình – Nhóm 3 46
Bảng 3.9 Kết quả quan trắc chất lượng không khí khu vực trạm trung chuyển Quang Trung vào mùa khô 50
Bảng 3.10 Kết quả quan trắc chất lượng không khí khu vực trạm trung chuyển Quang Trung vào mùa mưa 51
Bảng 3.11 Kết quả khảo sát các bô rác tạm, điểm tập kết lấy rác trong khu vực nghiên cứu 56
Bảng 3.12 Dân số của quận Gò Vấp qua các năm 70
Bảng 3.13 Kết quả đánh giá mức độ khả thi và tính hiệu quả của các giải pháp đề xuất 74
Trang 16DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCL Bãi chôn lắp
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
ĐTPT Đầu tư phát triển
EPR Extended Producer Responsibility
Trang 17MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Gia tăng dân số và phát triển về kinh tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh nói chung,
ở Quận Gò Vấp nói riêng đã dẫn đến nhiều hệ lụy về môi trường Trong đó, phải kể đến là rác thải phát sinh ngày càng gia tăng cả về khối lượng và đa dạng về thành phần; chính điều này đang gây khó khăn nhiều cho công tác quản lý
Xét tổng thể, các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng, dịch vụ, trường học, bệnh viện… và cả sinh hoạt của người dân đang tạo ra một lượng lớn chất thải rắn bao gồm các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, chất vô cơ, chất tái chế, chất thải nguy hại
Từ đó, đã tạo ra không ít khó khăn cho các nhà quản lý môi trường là vừa phải đảm bảo cho việc phát triển kinh tế - xã hội, vừa đảm bảo chất lượng môi trường và cân nhấc cả về lợi ích xã hội vào trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, khối lượng rác phát sinh ngày càng tăng cùng với đa số người dân chưa có
ý thức về bảo vệ môi trường nên tình trạng vứt rác sinh hoạt một cách bừa bãi còn phổ biến trong các khu dân cư, gây áp lực cho môi trường và các điểm chứa rác tạm, các bô rác, các trạm trung chuyển.… Như vậy, tình trạng ngày càng bị quá tải, trong công tác thu gom, trung chuyển, vận chuyển và xử lý đang gặp nhiều khó khăn Với tốc độ phát triển như hiện nay, quận Gò Vấp cũng đang đối mặt với vấn đề về chất thải sinh hoạt Trên địa bàn quận hiện có 1 trạm trung chuyển, 10 bô rác tạm
và điểm tập kết rác thải sinh hoạt để phục vụ cho công tác quản lý chất thải rắn đạt hiệu quả cao, hạn chế ảnh hưởng tới người dân khu vực và đảm bảo môi trường và
mỹ quan đô thị
Để công tác quản lý tại các điểm này đạt hiệu quả cao, đề tài “Đánh giá thực trạng
và đề xuất giải pháp quản lý các bô rác tạm và các trạm trung chuyển chất thải rắn tại Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh khi bắt đầu áp dụng EPR từ năm 2024”
Trang 18được thực hiện để góp phần giải quyết vấn đề rác thải phát sinh tại quận Gò Vấp, Tp
Hồ Chí Minh hướng đến một đô thị xanh và sạch hơn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Đánh giá được thực trạng và những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn, qua đó đề xuất các giải pháp phục vụ cho công tác quản lý
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng và những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn tại quận Gò Vấp
- Đề xuất các giải pháp quản lý các trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn tại địa bàn nghiên cứu có tính đến giai đoạn khi bắt đầu áp dụng EPR
từ năm 2024
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn
Bảng 0.1 Kết quả khảo sát hiện trạng trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập
kết chất thải rắn tại địa bàn nghiên cứu
STT Các điểm tập kết chất
1 Gần Chợ Gò Vấp Số 86 Nguyễn Văn Nghi, phường 4
2 Gần Chợ Tân Sơn Nhất Bùng binh ngã 6 Nguyễn Thái Sơn, phường 3
3 Nguyễn Văn Lượng Số 5 Nguyễn Văn Lượng, phường 10
4 Gần Chợ An Nhơn 79 Lê Đức Thọ, phường 17
5 Gần Chợ Xóm Mới 3/30 Lê Đức Thọ, phường 16
6 Gần Chợ Hạnh Thông Tây trước nhà số H9, Chợ Hạnh Thông Tây, phường 11
7 Cầu Trường Đai 147/1T Lê Đức Thọ, phường 14
Trang 19STT Các điểm tập kết chất
8 Chợ Rau 538 Lê Văn Thọ, P.13 (Đối diện quán Tre Vàng)
9 Hẻm 221 Phan Huy Ích Cuối Hẻm 221 Phan Huy Ích, phường 14
10 Quang Trung 691 Quang Trung, phường 8
Trang 204 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận trong nghiên cứu
Luận văn xuất phát từ hoạt động nghiên cứu về cơ sở lý thuyết kết hợp với thu thập
dữ liệu và đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại địa bàn nghiên cứu
Từ thực trạng đó, tác giả đã nhận định, đưa ra được những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý và qua đó đề xuất các giải pháp quản lý trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn ở quận Gò Vấp có tính đến giai đoạn khi bắt đầu
áp dụng EPR từ năm 2024 Để giải quyết các vấn đề được đặt ra ở trên, trong công tác điều tra và thu thập thông tin, hoc viên đã tập trung nhiều ý kiến từ người dân ở khu vực xung quanh trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn nhằm có những kết quả nhận định khách quan hơn cho đối tượng nghiên cứu của đề tài
Hình 0.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu của đề tài Các số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp phân tích thống kê từ đó đưa ra các
số liệu có ý nghĩa thống kê minh chứng các vấn đề tồn động tại trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn Dựa trên các kết quả đánh giá và thu thập được trong hệ thống quản lý vận hành trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm
Trang 21tập kết chất thải rắn để phân tích các điểm mạnh và điểm yếu Các tác động từ bên ngoài hệ thống có thể tạo ra cơ hội và nguy cơ nhằm mục đích giúp nhà nghiên cứu
và nhà lập kế hoạch nhìn ở bốn góc độ: mạnh, yếu, cơ hội, nguy cơ nhằm đưa ra giải pháp phù hợp để quản lý Cũng trên cơ sở đó, học viên đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với định hướng EPR tại trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn quận Gò Vấp
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin, điều tra thực địa
- Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
- Phương pháp SWOT (Strenghts-Weaknesses-Opportunities-Threats)
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
- Phương pháp phân tích hệ thống
- Phương pháp bản đồ học
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những giải pháp cụ thể để đưa vào sử dụng thực tế cho công tác quản lý chất thải rắn tại trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn Các giải pháp định hướng áp dụng phương pháp EPR cũng được đưa vào để các nhà quản lý có cái nhìn tổng quát trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu
Đề tài đã nghiên cứu và đánh giá được cụ thể về thực trạng trong công tác quản lý các bô rác tạm, điểm tập kết và trạm trung chuyển; Nêu được vấn đề tồn tại và hạn chế tại địa phương trong công tác quản lý chất thải rắn, đề xuất các giải pháp, hướng
đi cho công tác quản lý theo định hướng EPR vào thời gian tới
Trang 22CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan một số vấn đề cơ bản
Chất thải rắn sinh hoạt: (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh từ sinh
hoạt hàng ngày của con người [1] Đối với chất thải rắn được định nghĩa là chất thải
ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [2]
Trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn thường được sử dụng trong trường hợp quảng đường vận chuyển từ nơi phát sinh đến nơi xử lý hoặc bãi chôn lấp quá xa Như vậy, trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn là cần thiết để giảm bớt chi phí vận chuyển Trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn phải có các khu vực khác nhau để lưu giữ các loại CTRSH đã được phân loại, cần được bảo đảm không để lẫn các loại chất thải lại với nhau Các trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn (tạm gọi là điểm tập kết) được quy định về kỹ thuật bảo vệ môi trường như sau [3]:
- Điểm tập kết có vai trò là kết nối hiệu quả giữa công tác thu gom, vận chuyển và xử
lý chất thải rắn; Phạm vi thu gom cần đảm bảo khoảng cách an toàn môi trường; Các thiết bị lưu trữ chất thải được bố trí với dung tích phù hợp với thời gian lưu giữ, bảo đảm không rò rỉ nước ra môi trường; thực hiện các biện pháp vệ sinh, phun xịt khử mùi sau khi kết thúc các hoạt động thu gom rác thải;
- Chủ dự án đầu tư, chủ sử dụng, ban quản lý khu đô thị mới, chung cư, tòa nhà văn phòng phải bố trí điểm tập kết CTRSH trong các hoạt động của mình: Thiết kế, xây dựng và vận hành để phục vụ nhu cầu thải bỏ, tập trung CTRSH của tất cả các đối tượng trong khu vực quản lý [3];
- Trạm trung chuyển cố định cần được đầu tư mới tại các khu vực nội thành đô thị loại I và đô thị loại đặc biệt: Sử dụng công nghệ tự động, hiện đại để đảm bảo với yếu
tố môi trường, phù hợp với điều kiện từng địa phương; Kết nối đồng bộ được toàn bộ
hệ thống thu gom, vận chuyển CTRSH Các khu vực lưu giữ CTRSH phân loại tại
Trang 23nguồn, chất thải rắn cồng kềnh và các trang thiết bị thu gom, vận chuyển được trang
bị đầy đủ; Sau khi phân loại CTRSH, các loại chất thải nguy hại cần được lưu trữ đúng quy định;
- Trạm trung chuyển phải bố trí khu vực chờ cho phương tiện dừng chờ đổ chất thải; hạn chế tối đa phát tán ô nhiễm, mùi và xâm nhập của côn trùng trong điều kiện khép kín Trạm trung chuyển cần được trang bị đầy đủ các hệ thống vệ sinh, phun xịt khử mùi, hệ thống camera giám sát, phần mềm theo dõi khối lượng và phương tiện thu gom, vận chuyển CTRSH
1.2 Một số vấn đề EPR trong công tác quản lý chất thải rắn
Khái niệm về EPR (Extended Producer Responsibility): Trách nhiệm mở rộng của
nhà sản xuất EPR là cách tiếp cận chính sách môi trường mà trách nhiệm của các nhà sản xuất được mở rộng tới giai đoạn thải bỏ và xử lý sản phẩm sau tiêu dùng Việc giao trách nhiệm như vậy có thể tạo động lực để ngăn ngừa chất thải tại nguồn, thúc đẩy thiết kế sản phẩm vì môi trường và hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu tái chế
và quản lý CTRSH [4]
EPR được thiết kế dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Nhà sản xuất
có trách nhiệm quản lý các sản phẩm sau khi chúng trở thành rác thải, bao gồm việc thu gom; tiền xử lý (vận chuyển, phân loại, tháo dỡ, làm sạch ); tái sử dụng; thu hồi (bao gồm tái chế và thu hồi năng lượng), tiêu hủy Nhà sản xuất thực hiện trách nhiệm của mình thông qua cung cấp nguồn tài chính cần thiết và/hoặc trực tiếp tham gia vận hành quản lý chất thải rắn, có thể thực hiện riêng lẻ hoặc theo nhóm, tập thể [4]
- Quy định có liên quan đến EPR:
Năm 2005, Luật bảo vệ môi trường (BVMT) Việt Nam đã quy định về trách nhiệm thu hồi sản phẩm thải bỏ cho các nhà sản xuất đối với một số loại hình sản phẩm (khoản 1 Điều 67) Năm 2013, điều Luật này được cụ thể hóa trong Quyết định số 50/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ Năm
2017, Bộ TNMT đã ban hành Thông tư số 34/2017/TT-BTNMT quy định về thu hồi,
Trang 24xử lý sản phẩm thải bỏ, thực tế mới chỉ quy định chi tiết Khoản 13 Điều 5 và Khoản
1 Điều 9 của Quyết định số 16/2015/QĐ- TTg Còn các hướng dẫn khác có liên quan, đặc biệt là tỷ lệ phải thu hồi, tái chế hoặc xử lý của doanh nghiệp sản xuất thì không được quy định cụ thể
Năm 2020, Luật BVMT số 72/2020/QH14 đã được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2020 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2022), trong đó đã quy định chi tiết hơn, và đồng bộ hóa hệ thống thúc đẩy EPR tại Việt Nam Điều 54, quy định các trách nhiệm tái chế của từng tổ chức, cá nhân sản xuất hay nhập khẩu và Điều 55, quy định trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải của các đối tượng trên
Cơ chế mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất theo quy trình:
Hình 1.1 Sơ đồ mô tả cách thức vận hành EPR tại Việt Nam [5]
Theo Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT thực hiện khảo sát với các doanh nghiệp vừa và nhỏ về mức độ sẵn sàng thực hiện Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất cho thấy, số doanh nghiệp có nhận thức đầy đủ về trách nhiệm thu gom, tái chế và xử lý chất thải theo quy định tại Điều 54, 55 là 93,55% [6] Đây chính là điểm thuận lợi khi triển khai áp dụng Luật BVMT đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 251.3 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt trong và ngoài nước
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý CTRSH ở một số nước
Theo nghiên cứu của Silpa K et al (2018), thành phần chất thải rắn khác nhau ở các nhóm nước Theo đó, hàm lượng chất thải hữu cơ thấp ở các nhóm nước có thu nhập, chiếm khoảng 32% Trong khi đó, hàm lượng hữu cơ ở mức cao tại các nước có thu nhập thấp và trung bình, với tỷ lệ chiếm khoảng 53 - 56% [7] Ngược lại, thành phần chất thải rắn (CTR) tái chế được (như giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh…) có tỷ lệ cao (khoảng 50%) ở các nước có thu nhập cao Các nước thu nhập thấp có tỷ lệ này thấp hơn, chỉ chiếm khoảng 16% Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đô thị tỷ lệ thuận với mức thu nhập của các quốc gia, mức thu nhập của quốc gia càng cao thì tỷ lệ thu gom càng cao Cụ thể, tỷ lệ thu gom CTR gần như đạt tuyệt đối 100% ở các nước thu nhập cao
và các nước Bắc Mỹ Các nước thu nhập trung bình thấp có tỷ lệ thu gom trung bình (chiếm khoảng 51%) Trong khi tỷ lệ này ở mức thấp với khoảng 39% ở các nước thu nhập thấp [7] Và tại các nước thu nhập trung bình thấp, tỷ lệ thu gom chênh lệch theo khu vực, cụ thể tỷ lệ này chiếm tỷ lệ cao ở các đô thị (chiếm 71%) và 33% ở khu vực nông thôn Tỷ lệ bao phủ các dịch vụ thu gom chất thải rắn ở các nước Châu Á – Thái Bình Dương đạt khoảng 77% ở đô thị và chiếm tỷ lệ thấp hơn ở nông thôn với 45% [7] Nhiều nước phát triển đã có các chính sách quản lý, thu gom và xử lý CTR một cách hiệu quả như Đức, Singapore, Đan Mạch, Nhật Bản
Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia quá nổi tiếng về vấn đề quản lý CTRSH ngay từ khâu phân loại rác tại nguồn, nhờ áp dụng phân loại rác tại nguồn mà công tác quản lý, thu gom và
xử lý CTR được thực hiện rất hiệu quả
Rác thải sinh hoạt ở Nhật được phân loại thành 4 nhóm chính:
Rác cháy được: gồm rác phát sinh ở các hộ gia đình như thực phẩm thừa, rau củ quả thừa, vỏ trứng, cây cối, cỏ lá, đồ dùng bằng nhựa, gỗ, da, quần áo, tả giấy … riêng đối với những rác thải nhà bếp cần phải loại bỏ nước cho khô ráo hết mức có thể trước khi bỏ vào túi rác, cành cây phải được cắt ngắn lại khoảng 50cm Sau đó, đặt rác thải
Trang 26này vào vật chứa có nắp đậy hoặc túi nhựa trong suốt Tùy theo khu phố, thị trấn mà loại rác này được thu gom 2-3 lần/tuần (do rác thường có mùi) và chiếm khối lượng lớn nhất [8]
Rác không cháy được: những đồ dùng bằng kim loại, các sản phẩm thủy tinh, đồ gốm, pin, các thiết bị điện gia dụng có kích thước các cạnh không quá 30cm Tương tự, đặt rác thải này vào vật chứa có nắp đậy hoặc túi nhựa trong suốt
Rác có thể tái chế: các sản phẩm nhựa dùng một lần (PET) như vỏ chai các loại nước giải khát, cần phải súc sạch trước khi thải bỏ; giấy các loại; các loại chai lọ thủy tinh đựng thức ăn và thức uống (trừ chai lọ đựng dầu); các loại lon đựng thức ăn – thức uống (trừ lon chứa dầu); các loại chai xịt; các loại bóng đèn… [8] Sau đó, cho rác thải vào các túi trong suốt, riêng với bóng đèn huỳnh quang thì cần bỏ lại vào hộp của nó rồi lấy giấy gói lại để tránh trường hợp đèn bị vỡ trong quá trình thu gom Rác có kích thước lớn: giường, nệm, tủ, xe, ghế sofa, máy lạnh, tivi, tủ lạnh, máy giặt… đây là các loại rác thải phải trả phí cho công ty thu gom
Trên các túi đựng rác có ghi tên hộ gia đình nên nếu sau khi kiểm tra thấy rác chưa được phân loại đúng quy định sẽ được trả lại cho hộ gia đình đó để phân loại lại Các túi rác sẽ không được thu gom nếu như không nhìn thấy được những thành phần bên trong
Ở các vùng nông thôn Nhật Bản, nếu muốn đem rác tới các điểm thu gom thì cần phải biết được hôm đó được đem bỏ loại rác gì Các ngày trong tuần sẽ có quy định cụ thể
về loại rác được đem bỏ, tùy khu vực sẽ có quy định khác nhau Tại một số nơi, để tránh các loài động vật và chim tới bới rác, người ta sử dụng lưới chuyên dụng để trùm lên các túi rác
Đối với rác cháy được, các công nghệ đốt thân thiện với môi trường được sử dụng
để xử lý mang lại hiệu quả cao, lượng khí thải độc hại như NO hay SO2 ít hơn rất nhiều, vật liệu cứng được đốt cháy nhanh hơn, có giá thành vận hành rẻ hơn [9]
Thụy Điển
Thụy Điển là một trong các nước phát triển đã áp dụng thành công chính sách tái chế
Trang 27rác thải trên cả nước, với tổng lượng rác thải được thu gom tới 96% rác được tái chế, chỉ 4% còn lại đem chôn lấp Rác thải sinh hoạt gia đình được sử dụng như một loại nhiên liệu đốt cho các nhà máy và năng lượng thu được sẽ sử dụng cho mục đích sưởi ấm; rác được phân loại và tái sử dụng theo các mục đích khác nhau; các loại rác vô
cơ dùng để trải đường, làm mái ngói, gạch lót sàn Với các chính sách quản lý rác thải hiệu quả của Thụy Điển, lượng rác thải trung bình đem chôn lấp chỉ khoảng 7 kg/người/năm Nước này chỉ có khoảng 38% rác thải được tái chế vào năm 1975, thì tính tới năm 2022, việc tái chế rác thải đạt đến 99% CTRSH hàng ngày của người dân, đứng đầu thế giới Với số lượng hơn 30 lò đốt rác trong cả nước Thụy Điển có thể đáp ứng việc tiêu hủy lượng rác thải là 5,5 triệu tấn/năm, khối lượng rác phát sinh không đủ cho hoạt động của các lò đốt rác, phải nhập khẩu từ các nước khác như Na
Uy, Anh hoặc Ý [9] Một nguồn rác giá rẻ khác đang được Thụy Điển nhắm tới đó là rác trên các đại dương
Đan Mạch
Ở Đan Mạch, việc thu gom và xử lý rác thải được chịu trách nhiệm bởi các chính quyền địa phương, và ban hành luật cấm đốt các loại rác thải có khả năng tái chế được; việc thải bỏ chất thải có khả năng tái chế tại các nơi có trách nhiệm tái chế rác thải mà không bị mất phí Ngược lại, nếu đưa rác thải có khả năng tái chế vào các lò đốt rác thải thì sẽ bị xử phạt Ở Copenhagen - Đan Mạch có một nhà máy xử lý rác thải hiện đại lớn nhất nước tên là Vestforbraending, trước khi vận chuyển rác vào nhà máy để đổ rác thì xe vận chuyển rác thải phải dừng lại ở trạm cân xe trước Người ta
sẽ kiểm tra ngẫu nhiên để xem trong rác thải có lẫn thành phần rác có khả năng tái chế hay không, nếu có thì người vi phạm sẽ bị phạt rất nặng Năng lượng thu hồi trong quá trình đốt rác thải của nhà máy này phục vụ cho việc sưởi ấm cho các ngôi nhà ở địa phương giúp làm giảm chi phí sưởi ấm
Ở thành phố Horsholm, lượng rác thải tái chế chiếm 61%, lượng rác thải đem tới lò đốt để thu hồi năng lượng chiếm 34%, rác thải được đưa tới các bãi chôn lấp (BCL) chỉ 4% và 1% rác thải gồm hoá chất, sơn và đồ điện tử phế thải sẽ được đưa tới các BCL đặc biệt Các nhà máy xử lý rác thải được trang bị những thiết bị sàng lọc hiện
Trang 28đại nhằm loại bỏ những chất thải nguy hại có khả năng gây ô nhiễm trước rác thải được đưa vào lò đốt Nồng độ các chất ô nhiễm trong khí thải của các nhà máy xử lý rác này thấp hơn 10-20% so với tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt của châu Âu [10] Đối với những chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm sẽ được xử lý theo phương pháp riêng, chứ không đem chôn lấp
Singapore [9]
Vốn nổi tiếng là một quốc gia xanh – sạch – đẹp nhất thế giới với bộ luật nghiêm ngặt
về quản lý rác thải và biện pháp chế tài khắc khe đối với hành vi vứt rác bừa bãi, Singapore được nhiều quốc gia trên thế giới học hỏi về chính sách quản lý môi trường
Thu hồi năng lượng từ việc đốt rác để phát điện
Singapore là quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất Đông Nam Á nhờ chính sách công nghiệp hóa – hiện đại hóa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, giáo dục phát triển, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế kéo theo lượng rác thải phát sinh ngày càng lớn, nhưng do diện tích đất nước Singapore bị hạn chế nên vấn đề chôn lấp rác thải trở thành một gánh nặng cho đất nước trong thế kỷ 20 Hai BCL có diện tích lớn nhất Singapore phải lần lượt đóng cửa vì quá tải là Lim Chu Kang (tổng diện tích 30ha, đóng cửa vào năm 1992) và Lorong Halus (diện tích 234ha, đóng cửa vào năm 1999) [11]
Do đó, Singapore đã triển khai nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề về rác thải như: chú trọng phân loại rác tại nguồn, có biện pháp chế tài nặng đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường, tăng cường tái chế rác thải và đầu tư công nghệ xử lý rác bằng phương pháp đốt và thu hồi năng lượng để phát điện
Cơ quan môi trường quốc gia Singapore (NEA) đã thống kê lượng rác thải mỗi ngày
ở Singapore là 21.023 tấn/ngày, trong đó lượng rác có thể tái chế chiếm 58% và được đưa tới nhà máy tái chế, 41% lượng rác thải được đem tới nhà máy đốt rác phát điện, còn lại 1% rác không đốt được sẽ được đem đi xử lý ở BCL Semakau [11] Việc xử
lý rác bằng phương pháp đốt đã giúp Singapore giảm tới 90% lượng rác thải và đáp ứng gần 3% nhu cầu năng lượng điện cho cả nước Tuy nhiên, lượng chất thải tồn lại
Trang 29không đốt được như bùn thải, chất thải từ các nhà máy đóng tàu, chất thải xây dựng, tro xỉ của các nhà máy đốt rác thì vẫn cần phải chôn lấp
Kinh nghiệm về thu gom rác thải và tái chế rác thải của Singapore
Để đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế song song với bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp, chiến lược quản lý CTR tổng hợp bền vững thông qua giải pháp 3R (reduce, reuse, recycle) đã được sử dụng Tất cả rác thải sinh hoạt đều được người dân nghiêm túc phân loại tại nguồn thành 3 nhóm: rác thải có thể tái chế, rác thải đốt được và rác thải không đốt được [11] Việc phân loại rác tại nguồn giúp cho công tác thu gom rác (TGR) diễn ra nhanh chóng, thuận lợi và dễ quản lý Ở những nơi công cộng cũng bố trí các thùng rác có các ngăn để phân loại rác
Bên cạnh biện pháp phân loại rác khoa học, Singapore cũng áp dụng một chính sách TGR rất hiệu quả Singapore có 9 khu vực TGR, các doanh nghiệp sẽ đấu thầu để chịu trách nhiệm thu TGR cho từng khu vực, việc tổ chức đấu thầu được thực hiện công khai Doanh nghiệp nào trúng thầu sẽ thực hiện TGR tại một khu vực trong 7 năm và hoạt động TGR sẽ được quản lý theo quy định của pháp luật Singapore Từ năm 1999, dịch vụ TGR đã được tư nhân hóa để nâng cao chất lượng, các doanh nghiệp tư nhân sẽ được cấp phép hoạt động nếu trúng thầu dịch vụ TGR và hoạt động TGR sẽ chịu sự giám sát của Bộ Môi trường và Tài nguyên Singapore Các doanh nghiệp trúng thầu phải chấp hành các quy định về phân loại rác; phương tiện thu gom, trang thiết bị thu gom để đảm bảo không ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của cộng đồng Rác thải sinh hoạt sẽ được thu gom tận cửa, sau đó được vận chuyển về khu tập kết rác lớn (TTC) theo quy định; rác thải có thể tái chế được thu gom và xử
lý theo Chương trình Tái chế quốc gia Tại Singapore phần lớn dịch vụ TGR được thực hiện bởi các doanh nghiệp tư nhân (hơn 300 doanh nghiệp) chịu trách nhiệm TGR tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, xây dựng, thương mại… [11]; chỉ có 4 nhà thầu thuộc khu vực công chịu trách nhiệm TGR tại các cơ quan nhà nước Hiện nay, Sinapore có khoảng 50% lượng rác thải được thu gom bởi các doanh nghiệp tư nhân
Trang 301.3.2 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nước ta
Theo thống kê của Tổng Cục Môi Trường năm 2019, lượng CTRSH phát sinh mỗi năm ở Việt Nam là 23,3 triệu tấn, trong đó mỗi ngày CTRSH phát sinh tại đô thị là 35.624 tấn/ngày (chiếm khoảng 55%), còn ở nông thôn là 28.394 tấn/ngày [12] Trong
đó, tổng CTRSH đô thị phát sinh chiếm 33,6% ở khu vực TP Hồ Chí Minh và Hà Nội
Tuy nhiên, hiện nay có một số loại CTR đang trở thành vấn đề đáng lo ngại về môi trường đó là chất thải từ hoạt động xây dựng, chất thải điện tử và chất thải nhựa trên biển Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng lượng chất thải điện tử trên toàn cầu mỗi năm đạt khoảng 45 triệu tấn, trong đó riêng Việt Nam lượng chất thải điện tử phát sinh năm 2016 khoảng 141.000 tấn và đang tiếp tục gia tăng [13] Mối quan tâm lớn của thế giới hiện nay đó là về rác thải nhựa trên biển vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái biển Việt Nam lại nằm trong top 4 quốc gia mà nước thải chứa chất thải nhựa trên biển nhiều nhất (sau Trung Quốc, Indonesia và Phillipines) với khối lượng ước tính khoảng 0,28-0,73 tấn/năm [14] Theo thống kê năm 2012 của Ngân hàng Thế giới thì các nước có thu nhập thấp như Việt Nam có chất thải nhựa chiếm tỷ lệ khoảng 12% tổng số CTR đô thị [15], còn theo ước tính của Bộ TNMT Việt Nam, tỷ
lệ này vào khoảng 8-16% [12] Do Trung Quốc ban hành chính sách hạn chế nhập khẩu các loại phế liệu từ cuối năm 2018 nên lượng phế liệu dồn lại, nhập về Việt Nam tăng nhanh
Về vấn đề thu gom CTRSH đô thị, từ năm 2008 đến nay với tỷ lệ thu gom từ 80% đến 85% đối với các đô thị loại II và III Tại các đô thị đặc biệt có tỷ lệ thu gom ở mức cao: TP Hồ Chí Minh chiếm 91%, Hà Nội đạt từ 93-94% [12] Tỷ lệ thu gom CTRSH tại khu vực nông thôn mới đạt khoảng 63% [12], đối với các vùng nông thôn ven đô thị hoặc thị trấn, có tỷ lệ thu gom cao hơn, đạt khoảng 60-80%, còn tại một số nơi vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ thu gom chỉ đạt dưới 10% [16]
Về phương diện tái chế CTRSH, hiện nay tỷ lệ tái chế chất thải vẫn còn thấp, chỉ đạt khoảng 8-12% CTRSH đô thị và ở vùng nông thôn chỉ chiếm 3,24% [17] Một số
Trang 31công nghệ tái chế chất thải được triển khai như chế biến phân vi sinh, viên nhiên liệu hay thu hồi năng lượng từ việc đốt rác Hiện nay, cả nước có khoảng 35 cơ sở xử lý CTR bằng công nghệ ủ sinh học làm phân hữu cơ, tiêu biểu có các cơ sở ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Ninh Thuận, Hải Phòng, Nam Định, Hà Tĩnh [17] Một số
cơ sở tái chế không chính thức và đang có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường như tái chế nhựa ở Minh Khai (Hưng Yên), tái chế chì ở Chỉ Đạo (Hưng Yên), tái chế giấy
ở Văn Phong (Bắc Ninh), tái chế chất thải điện tử ở Văn Môn (Bắc Ninh)
Khía cạnh thu hồi năng lượng từ việc chế biến rác thải bằng phương pháp đốt rất có tiềm năng, đã có nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng thành công, tuy nhiên ở Việt Nam chỉ mới là bước đầu triển khai Hiện nay, có một số dự án thu hồi năng lượng từ việc đốt chất thải (như ở Bình Dương, Quảng Bình, Hà Nam, Hà Nội), 01 dự án nhà máy nhiệt điện đốt trấu; 01 dự án phát điện từ chất thải phân gia súc, gia cầm và 06
dự án điện bã mía [18]
Dự án “Giải pháp công nghệ xử lý rác thải quy mô nhỏ thân thiện với môi trường và phù hợp với điều kiện Việt Nam” của các tác giả Lê Hạnh Chi và Ứng Thị Thúy Hà
đã nêu lên vấn đề ô nhiễm môi trường từ các BCL rác, bên cạnh đó là chi phí đầu tư
và vận hành cao Hướng đề xuất của dự án là áp dụng phương pháp chôn lấp sinh học đồng thời kết hợp với hệ thống xử lý bằng thực vật giúp hấp thu và thoát hơi nước rỉ rác vào không khí, phương pháp này đã được thực hiện thành công ở Slovenia Với
mô hình này, BCL xanh được tạo thành từ 3 yếu tố kết hợp gồm [19]:
BCL được trang bị hệ thống tuần hoàn kín nước rỉ rác;
Một hệ thống xử gồm bãi lọc trồng cây và các hồ chứa để xử lý sơ bộ nước rỉ rác dư, nước chảy tràn bề mặt vào mùa mưa;
Hệ thống cây trồng trên mặt BCL khi đã đóng bãi và trồng cây xung quanh khu vực BCL để tạo dải cây xanh ngăn cách BCL, đồng thời để hấp thụ lượng nước tưới được chứa trong các hồ chứa sau công đoạn xử lý bằng bãi lọc trồng cây
Trang 32Tác giả đã tiến hành nghiên cứu mô hình trên với quy mô phòng thí nghiệm như sau:
- Hệ thống 2 cột ủ rác mô phỏng theo cấu trúc BCL sinh học;
- Hệ thống bãi lọc trồng cây và mẫu định hình dòng chảy: dùng để nghiên cứu sơ bộ khả năng xử lý nước rỉ rác, nước chảy tràn bề mặt, nước hồ bị ô nhiễm bởi nước rỉ rác phát sinh vào mùa mưa tại khu vực BCL;
- Hệ thống hấp thụ và thoát hơi nước bằng thực vật
Việc thiết kế lại mô hình thực nghiệm nhằm nghiên cứu khả năng hấp thụ và xử lý nước rỉ rác của cây trồng thông qua quá trình thoát hơi nước, bên cạnh đó là đánh giá khả năng chống chịu và phát triển của các loại cây nghiên cứu trong điều kiện nước tưới có thành phần từ nước rỉ rác
Từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên đã cho thấy việc tuần hoàn nước rỉ rác trong mô hình BCL vừa tăng cường được khả năng phân hủy nước rỉ rác cũng như thúc đẩy được quá trình ổn định rác thải trong BCL Với BCL hợp vệ sinh, sau khi chôn lấp không thể can thiệp bằng các giải pháp nhân tạo nhằm thúc đẩy quá trình ổn định rác trong lòng bãi Kết quả nghiên cứu khả năng phát triển của các loại cây trồng tạo cảnh quan đều phát triển bình thường và tốt Từ kết quả nghiên cứu trên, các tác giả đã triển khai mô hình BCL xanh này tại BCL Đại Đồng, Hưng Yên [19]
Tác giả Nguyễn Văn Cách đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ xử
lý sinh học có kiểm soát mùi và nước rỉ rác để xử lý CTRSH phù hợp với điều kiện Việt Nam” đã chỉ ra rằng rác thải là một nguồn tài nguyên tiềm năng Bên cạnh đó,
nếu muốn tận dụng nguồn tài nguyên rác thì phải tái chế được, sử dụng lại được hoặc
là đốt được để thu hồi năng lượng
Để làm được điều này, rác cần phải được phân loại từ nguồn Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, việc phân loại rác vẫn còn mới và “xa xỉ” đối với người dân dù cho các cơ quan quản lý đã nỗ lực tuyên truyền vận động, người dân vẫn chưa có thói quen phân loại rác Nếu rác được phân loại tại nguồn thì việc thu gom và xử lý sẽ hiệu quả hơn
Trang 33Các bãi rác ở các thành phố lớn bị ùn ứ do xử lý không kịp hoặc bốc mùi khó chịu, gây ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe và cuộc sống của người dân, mục tiêu nghiên cứu của dự án là kiểm soát được mùi và nước rỉ rác, thu được mùn rác để làm nguyên liệu chế biến phân bón hữu cơ, thu được rác có nhiệt trị cao để trở thành điện năng và tiết kiệm được diện tích đất cho khu vực xử lý Về bản chất, rác thải sinh hoạt của Việt Nam gây mùi và ô nhiễm do lẫn rác thải hữu cơ không được xử lý Để giải quyết vấn
đề này, việc quan trọng là phải thúc đẩy để chất hữu cơ xử lý được nhanh, mạnh Vì thế, trong thời gian ủ rác, nhóm nghiên cứu tăng cường thêm các vi sinh vật bản địa vào trong bể chứa rác
Rác tươi khi được đưa về khu xử lý được đưa vào các bồn chứa lớn tùy công suất và quy mô và xếp thành nhiều tầng Phía bên trên là mái che cùng quạt hút tạo áp suất
âm trên bề mặt, giúp sản sinh ra một môi trường hiếu khí thúc đẩy việc rác nhanh khô hơn so với môi trường kỵ khí - rác đổ đống như hiện nay Trong điều kiện kỵ khí, rác thải sẽ sinh ra ít năng lượng nhưng trong điều kiện hiếu khí sẽ sinh ra nhiều năng lượng Nhiệt độ cao cùng với tốc độ phân hủy nhanh do được bổ sung vi sinh vật bản địa khiến ít mùi hơn, không bị ô nhiễm Sau 30 ngày, nhờ luồng thông gió theo nguyên
lý ống khói - tức là theo chiều thẳng đứng chứ không bốc sang ngang Điều này giúp nhà máy có thể tiết kiệm được điện năng trong vận hành quạt thông gió so với phương thức ủ rác hiện tại đang vận hành
Ngoài ra, rác khi được cho vào thùng sẽ xốp và tạo điều kiện cho không khí được điều tiết liên tục và len lỏi từng lớp rác một cách dễ dàng, giúp rác mau khô hơn, giảm
ô nhiễm đến mức thấp nhất, hạn chế việc ăn mòn thiết bị Quan trọng hơn, bể thu nước rỉ rác ở phía dưới cũng được bổ sung các vi sinh vật bản địa để tăng cường thời gian tiêu hủy các chất hữu cơ trong nước rỉ rác và chuyển hóa thành sinh khối là mùn,
có thể sử dụng làm nguyên liệu bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng Công nghệ quản trị logistics được ứng dụng vào việc xếp đặt hệ thống các bể chứa rác
Theo công nghệ, máy móc thiết bị trong nghiên cứu này, sau 30 ngày, rác được đưa vào một máy sàng kết hợp sấy để làm khô một lần nữa Lúc này, rác sẽ được phân ra
Trang 34làm ba nhóm, mùn rác mịn được đưa ra bên ngoài để làm nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy phân bón Cát, sỏi, đá… được đưa đi chôn lấp Các mảnh vụn hữu cơ được đưa lại mẻ ủ mới để phân hủy hoàn toàn và phần rác trơ như cành cây, gỗ… có nhiệt trị cao được mang đi đốt Trong khi đó, nước rỉ rác sau thời gian được xử lý đã hết ô nhiễm được ép tách nước bùn Bùn thu được trộn cùng với mùn rác mịn đưa tới nhà máy phân bón, trong khi nước thu gom được khử trùng thêm một lần nữa trước khi thải ra dòng chảy chung Như vậy cả quá trình này, chỉ có đầu vào ô nhiễm, còn toàn bộ quá trình đều được xử lý gọn gàng không gây ô nhiễm Theo mô hình thử nghiệm với công suất 40 tấn rác tại Nam Định, kết quả sau khi ủ thu được 15-20% là mùn hữu cơ, 30% rác khô có thể mang đi đốt [20] Khối lượng còn lại tiếp tục được đưa về xử lý hoặc mang đi chôn lấp Tuy nhiên, với quy trình này, rác đã được xử lý như một loại tài nguyên, có thể quay lại phục vụ cuộc sống
1.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Quận Gò Vấp thuộc khu vực nội thành, cửa ngõ giao thương với các quận, huyện phía bắc của Thành phố, vị trí tọa độ địa lý từ 106˚38’10” đến 106˚42’15” kinh độ Đông và 10˚48’41” đến 10˚51’29” vĩ độ Bắc: phía Đông giáp Quận 12 và Bình Thạnh; phía Tây và phía Bắc giáp Quận 12; phía Nam giáp quận Tân Bình, Phú Nhuận
và Bình Thạnh
Địa bàn quận có 16 Phường, theo quyết định số 3395/QĐ-UBND ngày 7/10/2022 của UBND quận Gò Vấp về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2022 của quận Gò Vấp, tổng diện tích tự nhiên là 1.973,25ha, có tỷ lệ gần 1% tổng diện tích toàn Thành phố Dân số khu vực nghiên cứu có khoảng 667.289 người (năm 2021), chiếm khoảng 7,52% dân số toàn Thành phố [21]
1.4.1.2 Địa hình
Theo bản đồ độ cao số (DEM) của khu vực thành phố Hồ Chí Minh (với độ phân giải 20m), địa hình có độ cao trung bình từ 0,7- 12 m Khu vực ven sân bay Tân Sơn Nhất
Trang 35có địa hình cao nhất; Khu vực ven sông Bến Cát, Vàm Thuật với độ cao thấp, theo
đó độ cao khu vực nghiên cứu có thể chia làm ba khu vực:
- Địa hình thấp: với độ cao trung bình từ 0,7 – 1,5 m, phân bố ven kênh Tham Lương (Phường 13, 14) và Sông Vàm Thuật (Phường 5, 6, 15, 17) Vùng này thường xuyên
bị ngập do thấp hơn đỉnh triều cường (1,5m), trong sử dụng và quy hoạch sử dụng đất cần chú ý tình trạng ngập
- Địa hình trung bình: là vùng chuyển tiếp giữa địa hình cao và địa hình trũng (từ (1,5-5m), khu vực có nền địa chất chủ yếu phù hợp với các công trình có tải trong vừa và nhỏ
- Địa hình cao: có diện tích chiếm khoảng 65-70% khu vực nghiên cứu, với độ cao trung bình khoảng (5 -12m) Vùng đất có đặc điểm gò cao, loại đất chủ yếu là đất xám phù sa cổ, với khả năng thoát nước khá tốt Địa chất phù hợp cho việc xây dựng các công trình lớn; Đất phi nông nghiệp chiếm chủ yếu [21]
1.4.2.3 Khí hậu
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có tính chất cận vùng xích đạo với hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầy từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Một số đặc điểm về khí hậu như sau [21]:
- Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 27 – 28oC, với khoảng chênh lệch nhiệt độ khoảng 4oC Nhiệt độ ghi nhận thấp nhất vào tháng 12 và tháng 1 (năm sau), cao nhất vào tháng 4
- Lượng bức xạ có sự thay đổi theo mùa, với mức trung bình là 140 Kcal/cm2/năm Mùa khô ghi nhận lượng bức xạ cao, tháng 4 và tháng 5 (400 – 500 cal/cm2/ngày) là tháng cao nhất Mùa mưa có bức xạ thấp hơn, cường độ bức xạ cao nhất ghi nhận trong mùa mưa là đạt 300 – 400 cal/cm2/ngày
- Khu vực có độ ẩm trung bình cả năm ghi nhận khoảng 75 – 80% Độ ẩm có mức độ thấp nhất vào tháng 12 đến tháng 3 năm sau, bắt đầu tăng từ tháng 4 đến tháng 9 và sau đó giảm dần vào tháng 10 và 11
Trang 36- Do đặc điểm vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên lượng mưa trung bình đạt khá cao
từ 1.950 – 2.100 mm/năm, phân bố không đều giữa các tháng, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11, mưa nhiều và mưa tập trung từ tháng 6 đến tháng 10, đã gây nên tình trạng ngập úng Do vậy, trong quy hoạch sử dụng đất, cần đặc biệt chú trọng đến giảm rủi ro do biến đổi khí hậu gây ra
1.4.2 Kinh tế - xã hội
1.4.2.1 Kinh tế
Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành kinh tế năm 2021 ước thực hiện bằng 84,47%
so với năm 2020 (kế hoạch năm là 9% - 10%) Cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng của quận, trong đó ngành thương mại - dịch vụ chiếm tỷ trọng 70,01% giá trị sản xuất (kế hoạch năm là trên 71%), ngành công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng 29,98%; ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng 0,01% [21]
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2021 ước thực hiện 11.468 tỷ đồng, bằng 93,45%
so với năm 2020; trong đó các doanh nghiệp ước thực hiện 11.169 tỷ đồng, bằng 91,85% so với năm 2020; cơ sở sản xuất nhỏ ước thực hiện 299 tỷ đồng, bằng 61,47%
so với năm 2020 Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2021 tăng trưởng - 9,32% so với năm 2020 [21] Do ảnh hưởng, tác động của dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp và một số ngành sản xuất gặp khó khăn, giá nguyên vật liệu tăng cao, thị trường thu hẹp, thiếu hụt nguyên vật liệu, công nhân phải giãn việc hoặc nghỉ việc
Giá trị sản xuất ngành xây dựng ước thực hiện năm 2021 đạt 7.900 tỷ đồng, bằng 82,39% so cùng kỳ [21]
Thương mại – dịch vụ: Tổng mức bán ra thị trường xã hội ước thực hiện ước thực hiện năm 2021 là 136.138,5 tỷ đồng, bằng 83,73% so với năm 2020 (năm 2020 tăng 10,68 %), trong đó bán lẻ thực hiện 57.414,2 tỷ đồng, bằng 84,63% so với năm 2020 (năm 2020 tăng 9,56%) [21]
Trang 371.4.2.2 Dân số và việc làm
Dân số trung bình: 693.787 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 0,612%, tăng 0,065%
so với cùng kỳ (năm 2019: 0,547%) Đạt chỉ tiêu kế hoạch giao năm 2020 (tăng 0,05%
Trang 38CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sơ đồ các công đoạn tiến hành nghiên cứu của học viên để đánh giá được thực trạng
và những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn, qua đó đề xuất các giải pháp phục vụ cho công tác quản lý, được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 2.1 Sơ đồ định hướng nghiên cứu của đề tài
Trang 392.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đánh giá hiện trạng và các vấn đề môi trường tại các bô rác tạm, điểm tập kết và trạm trung chuyển chất thải tại địa bàn nghiên cứu
Đánh giá về hiện trạng phân bố của trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn trên địa bàn quận Gò Vấp Từ đó đánh giá được khả năng đáp ứng yêu cầu trong công tác tập kết rác thải
- Điều tra về phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn quận
Gò Vấp Đánh giá được khả năng vận chuyển rác thải của khu có đáp ứng về kỹ thuật
và số lượng để vận chuyển rác thải sinh hoạt Các loại phương tiện thu gom có đáp ứng được yêu cầu thu gom rác đã phân loại tại nguồn, từ đó giúp công tác quản lý rác thải theo định hướng EPR tốt hơn
- Điều tra về lộ trình vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Gò Vấp Nghiên cứu, đánh giá các tuyến đường để đề xuất lộ trình vận chuyển chất thải được thuận tiện và hợp lý
- Đánh giá về hoạt động lưu trữ rác thải và lượng chất thải được trung chuyển qua trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn
Về mặt kinh tế sẽ đánh giá các hoạt động thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn sinh hoạt được quy định cho từng đối tượng Từ đó, đưa ra nhận định có phù hợp, giúp ích cho việc áp dụng EPR trong công tác quản lý chất thải rắn như thế nào Các vấn đề môi trường của trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn trên địa bàn quận Gò Vấp, được giới hạn trong việc đánh giá chất lượng môi trường không khí tại trạm trung chuyển Quang Trung và chất lượng không khí môi trường lao động tại các bô rác tạm, điểm tập kết rác Qua đó, đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các hoạt động thu gom, vận chuyển rác đến môi trường không khí xung quanh
Trang 402.1.2 Các vấn đề tồn tại trong công tác quản lý các bô rác tạm, điểm tập kết và trạm trung chuyển trên địa bàn quận Gò Vấp
Nghiên cứu, đánh giá các vấn đề phát sinh trong hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Gò Vấp:
- Thời gian và tần xuất thu gom;
- Sức chứa tại các bô rác tạm, điểm tập kết so với khối lượng rác phát sinh tại khu vực;
- Mức độ ảnh hưởng về mùi hôi, công tác quản lý thu gom rác đến hoạt động sinh hoạt thường ngày của người dân xung quanh khu vực các bãi rác tạm, điểm tập kết
- Các hoạt động phân loại rác tại nguồn của người dân, và công tác thu gom rác thải Nghiên cứu, đánh giá các chính sách quản lý chất thải rắn sinh hoạt, vệ sinh trên địa bàn quận Gò Vấp, đưa các hạn chế trong các chính sách này Từ đó, đánh giá được mức độ hiệu quả trong công tác quản lý, đưa ra các cơ hội, thách thức cho công tác quản lý này trong việc áp dụng EPR
2.1.3 Đề xuất giải pháp quản lý trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn theo định hướng áp dụng EPR từ năm 2024 trên địa bàn quận Gò Vấp
- Đánh giá mức độ khả thi thực hiện các giải pháp quản lý trạm trung chuyển, các bô rác tạm và điểm tập kết chất thải rắn theo định hướng áp dụng EPR từ năm 2024 trên địa bàn quận Gò Vấp
- Nhận định các giải pháp khả thi, phù hợp với đặc điểm tình hình trong công tác quản
lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Từ đó, đề xuất các giải pháp quản lý cho quận theo định hướng EPR
- Một số đề xuất cụ thể trong tình hình thực tế hiện nay