Bệnh sốt mò hay sốt bụi rậm (Scrubtyphus) phổ biến ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Ở Việt Nam bệnh sốt mò đã phát hiện từ năm 1915 tại Sài Gòn. Năm 2003 đã có 24 tỉnh thuộc Bắc bộ và Bắc Trung bộ có bệnh nhân sốt mò. Hiện nay, ở nước ta bệnh sốt mò có xu hướng gia tăng.
Trang 1KẾT QUẢ ĐIỀU TRA CHUỘT, MÒ VÀ MẦM BỆNH SỐT MÒ
(ORIENTIA TSUTSUGAMUSHI) TẠI MỘT SỐ ĐIỂM Ở MIỀN
TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN
Nguyễn Văn Châu 1 , Bạch Ngọc Luyến 2 , Nguyễn Quang Thái 2 , Nguyễn Viết Sự 2 ,
Lý Bá Lộc 2 , Đoàn Trọng Tuyên 2 ; Nguyễn Bá Hành 3 , Nguyễn Mạnh Hùng 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Bệnh sốt mò hay sốt bụi rậm (Scrub-typhus) phổ biến ở khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương Ở Việt Nam bệnh sốt mò đã phát hiện từ năm 1915 tại Sài Gòn Năm
2003 đã có 24 tỉnh thuộc Bắc bộ và Bắc Trung bộ có bệnh nhân sốt mò Hiện nay, ở nước ta bệnh sốt mò có xu hướng gia tăng.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định thành phần loài chuột, mò và mầm bệnh sốt mò tại
các điểm nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Điều tra, mô tả cắt ngang Xác định kháng thể kháng
Orientia tsutsugamushi trong huyết thanh chuột và người bằng sinh phẩm chẩn đoán nhanh (SD BioLine- Hàn Quốc).
Kết quả: Vào cuối tháng 5, đầu tháng 6 năm 2009, đã thu thập được 4 loài chuột là:
Rattus exulans, R rattus, R (Berylmus) bowersi và Bandicota savilei; 4 loài mò ký sinh trên chuột là: A (Lau.) indica; G (W.) ewingi, G (W.) lupella và L (L.) deliense Tại Dục Mỹ (Khánh Hòa) 14,30% số cá thể loài chuột Bandicota savilei và 21,04% dân cư
có kháng thể kháng O tsutsugamushi Tại Chư Prông (Gia Lai) 40% số cá thể loài chuột
R exulans và 13,99% dân cư phát hiện được kháng thể kháng O tsutsugamushi Tại Đất Bằng, Krông Pa (Gia Lai) 20,0% cá thể chuột R exulans; 50% cá thể chuột R (Berylmus) bowersi và 7,14% có kháng thể kháng O tsutsugamushi Chưa phân lập được O tsutsugamushi từ các loài mò thu thập được trên chuột tại các điểm nghiên cứu
Kết luận: Tại Dục Mỹ (Ninh Hoà) tỉnh Khánh Hoà, Bình Giáo (Chư Prông) và Đất
Bằng (Krông Pa) thuộc tỉnh Gia Lai có nguy cơ mắc bệnh sốt mò đối với cộng đồng dân cư.
Từ khoá: sốt mò, mầm bệnh sốt mò, kháng thể kháng Orientia tsutsugamushi, loài
chuột, mò,
ABSTRACT
INVESTIGATION ON RATS, CHIGGERS AND ORIENTIA TSUTSUGAMUSHI IN SOME FOCI IN THE CENTER AND WESTERN HIGHLAND OF VIETNAM
Nguyen Van Chau, Bach Ngoc Luyen, Nguyen Quang Thai, Nguyen Viet Su,
Ly Ba Loc, Doan Trong Tuyen and Nguyen Ba Hanh, Nguyen Manh Hung
2.Viện Vệ sinh Phòng dịch Quân đội.
3.Bệnh viện 87 –Tổng cục Hậu cần
Liên lạc: PGS.TS Nguyễn Văn Châu - ĐT: 0982 331 949 - Email: vanchaunimpe@yahoo.com
Trang 2Backround: Tsutsugamushi disease (Scrub-typhus) is a widely disease in
Asia-Pacific In Vietnam, the first case of disease has been discover in Saigon in 1915 Nowadays, the tsutsugamushi disease in Vietnam ten to increase In 2003 patiens of tsutsugamushi desease were found in 24 provinces of North and North-Central
Purpose: To determine species compostion of rats, chiggers and O tsutsugamushi in
the study sites
Method: Cross- section survey, O tsutsugamushi antibodies in serotypes of rats
detected by rapid diagnostic biologicals (BioLine SD – South Korea)
Results: Four species of rat have been collected including: Rattus exulans, R rattus,
R (Berylmus) bowersi and Bandicota savilei; four rat-parasite chiggers including: A.
(Lau.) indica, G (W.) ewingi, G (W.) lupella and L (L.) deliense In Duc My, Ninh Hoa (Khanh Hoa province) 14,30% individuals of B savilei and 21,04% local inhabitants were found O tsutsugamushi resistant immunity In Binh Giao, Chu Prong (Gia Lai province) O tsutsugamushi resistant immunity was foud in 40% of R exulans and in
13,99% of local inhabitants In Dat Bang (Gia Lai province) this immunitiy was found in
20% of R exulans; 50% of R (Berylmus) bowersi and in 7,14% of inhabitan Orientia has
not been isolated in sutsugamushi from chiggers collected from the study sites
Conclusion: Potential of tsutsugamushi desease presents in the study sites.
Key words: Tsutsugamushi disease, O tsutsugamushi, O tsutsugamushi antibodies,
compostion of rats, chiggers
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt mò hay sốt bụi rậm (Scrub-typhus) lưu hành ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng phổ biến ở những nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Ở Việt Nam bệnh sốt mò đã phát hiện từ năm 1915 tại Sài Gòn; đến năm 1964 bệnh này đã lan rộng ở
11 tỉnh (Legac et Arques, 1964) [1] Trong các năm 2001- 2003, Viện Y học lâm sàng các Bệnh nhiệt đới (Bạch Mai, Hà Nội) đã thống kê được bệnh sốt mò từ 24 tỉnh thuộc Bắc bộ và Bắc Trung bộ đến điều trị [7] Có thể nhận thấy bệnh sốt mò ngày càng lan rộng ở Việt Nam Nghiên cứu về vector sốt mò ở nước ta đã được chú ý từ những năm đầu của thế kỷ 20 Đến nay ở Việt Nam đã xác định được hơn 100 loài mò thuộc họ mò
đỏ - Trombiculidae [3,4]; trong đó có 5 loài đã phân lập được mầm bệnh sốt mò
(Rickettsia orientalis = Orientia tsutsugamushi) [2] Những loài mò có khả năng truyền
bệnh chủ yếu ký sinh trên gậm nhấm (Rodentia), đặc biệt trên các loài chuột hoang dại sống ở sinh cảnh savan cây bụi Mặc dù bệnh sốt mò ở nước ta có xu hướng gia tăng, nhưng việc điều tra nghiên cứu về bệnh này những năm qua ít được chú ý; chỉ có một số nghiên cứu rải rác của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương phối hợp với Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí [5, 6] Do
đó việc điều tra nghiên cứu chuột (vật chủ), mò (vector) và phát hiện mầm bệnh sốt mò tồn tại trong các quần thể chuột và mò tại một số điểm thuộc Miền Trung và Tây Nguyên
là rất cần thiết, nhằm phát hiện các ổ sốt mò, từ đó có biện pháp phòng chống bệnh sốt
mò cho cộng đồng quân và dân tại các địa bàn nghiên cứu
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 3Điều tra cắt ngang, tại các điểm: Dục Mỹ, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà (23-25/5 và 2-5/6/2009); Bình Giáo, huyện Chư Prông (27-29/5/2009) và Đất Bằng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (30,31/5 và 1/6/2009)
Thu thập chuột: sử dùng bẫy lồng kích thước 24 x 14 x 14 cm Tại Bình Giáo (Chư Prông) và Đất Bằng (Krông Pa) mỗi điểm đặt 3 đêm, tại Dục Mỹ (Ninh Hoà) đặt 5 đêm, mỗi đêm đặt 50 bẫy (20 bẫy đặt trong nhà, 30 bẫy đặt ở ngoài nhà) Bẫy đặt ngoài nhà ở sinh cảnh savan cây bụi, rừng tái sinh và rừng trồng, nương rẫy, cách doanh trại bộ đội từ 100m - 500m Mồi bẫy chuột bằng khoai lang, sắn hoặc bắp ngô tuơi
Thu thập mò trên chuột theo kỹ thuật thường quy của Viện Sốt rét-KST-CT TƯ Định loại mò theo tài liệu phân loại của các tác giả trong và ngoài nước [1,2,3,7]
Chỉ số mật độ chuột (chung hay từng loài) tính theo công thức:
Tổng số chuột bẫy được
Chỉ số chuột (con /100bẫy/đêm) = - x 100
Tổng số bẫy đặt
- Điều tra kháng thể kháng Orientia tsutsugamushi trong huyết thanh chuột bằng sinh
phẩm chẩn đoán nhanh (SD BioLine- Hàn Quốc)
Hình 1: Kít SD BIOLine phát hiện kháng thể kháng O tsutsugamushi
+ Nguyên lý kỹ thuật: SD BIOLINE test là phương pháp sắc kí miễn dịch trên pha rắn để phát hiện nhanh kháng thể IgG, IgM và IgA kháng O tsutsugamushi trong huyết
thanh, huyết tương và máu toàn phần Test được sản xuất bằng việc sử dụng protein
kháng nguyên 56kDa bề mặt chủ yếu đặc trưng cho O tsutsugamushi (Karp, Kato và Gilliam) Kít được gắn sẵn 2 vị trí kháng nguyên: “T” gắn kháng nguyên của O tsutsugamushi, và “C” gắn kháng nguyên đối chứng Các vị trí kháng nguyên này không
nhìn thấy khi chưa thực hiện phản ứng Vị trí chứng để kiểm soát quá trình thí nghiệm Vị trí chứng này luôn xuất hiện nếu quá trình thí nghiệm đúng Vị trí “T” xuất hiện màu tía khi trong mẫu có đủ kháng thể IgG
+ Độ nhạy và độ đặc hiệu: SD BIOLINE test được kiểm tra với các mẫu bệnh phẩm lâm sàng âm tính và dương tính với O tsutsugamushi đã được chẩn đoán bằng phương
pháp PHA Các mẫu âm và dương tính được xác định bằng phương pháp IFA
Bảng 1 Độ nhạy và độ đặc hiệu của SD BIOLINE test
Huyết
thanh
SD BIOLINE
Trang 4tính tính số tính tính số
Dương
Trong nghiên cứu này, SD BIOLINE TSUTSGAMUSHI test có độ nhạy là 99% (99/100), độ đặc hiệu là 96 (96/100) và độ tương quan (serological Agreement) so với phương pháp IFA là 97,5% (195/200) (bảng 1)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thành phần loài chuột
Bảng 2 Thành phần loài và chỉ số mật độ chuột tại các điểm nghiên cứu
Tên loài chuột
Điểm nghiên cứu Dục Mỹ
(Khánh Hoà)
Bình Giáo (Gia Lai)
Đất Bằng (Gia Lai)
T
nhà nhàN. nhàT. nhàN. nhàT. nhàN.
Rattus exulans
(chuột lắt) (3,0)3 0 (10,6
0)
(16, 7) 0
R rattus (chuột
R (Ber.)
bowersi (chuột
mốc)
(2,2)
Bandicota
salivei (chuột
đất bé)
Mật độ chuột
theo sinh cảnh
3 (3,0)
17 (11,3 )
6 (10, 0)
(16, 7)
3 (3,3)
Mật độ chuột ở
từng điểm
20 (8,0) 6 (10,0) 8 (5,33)
Số loài chuột ở
Ghi chú: Con số ngoài ngoặc đơn là số lượng chuột; trong ngoặc đơn là chỉ số mật độ (con/100 bẫy /đêm) T nhà: trong nhà; N Nhà: ngoài nhà.
Tại Dục Mỹ thu thập được 3 loài chuột: chuột lắt (Rattus exulans) trong nhà với mật
độ 3,0 (con/100 bẫy/ đêm); chuột rừng (R rattus) ngoài nhà với mật độ 6,7; chuột đất bé (Bandicota salivei) ngoài nhà với mật độ 4,7.Tại Bình Giáo thu được 1 loài chuột lắt (R exulans) trong nhà với mật độ 10,0 Tại Đất Bằng thu được 3 loài chuột gồm: chuột lắt (R exulans) trong nhà với mật độ 16,7; chuột rừng (R rattus) ngoài nhà với mật độ 1,1
và chuột mốc R (Ber.) bowersi bẫy được ngoài nhà với mật độ 2,2 (Bảng 2).
Trang 5Bảng 3 Tỷ lệ chuột nhiễm mò tại các đi m nghiên c uểm nghiên cứu ứu
Tên loài
chuột
Điểm nghiên cứu Dục Mỹ Bình Giáo Đất Bằng
Trong
nhà Ngoàinhà nhàTr. nhàN. Tr.nhà nhàN.
Rattus
exulans 0/3 - (16,71/6
%)
-R rattus - 10/10
R (Ber.)
bowersi - - - - - (1002/2
%)
Bandicota
salivei - (42,9%3/7
)
Chuột
nhiễm mò
theo sinh
cảnh
33,33
%
Chuột
nhiễm mò
Tỷ lệ chuột nhiễm mò tại Dục Mỹ cao nhất (65,0%), tiếp đến Đất Bằng (25,0%) và Bình Giáo thấp nhất (16,7%) Các loài chuột sống gần rừng như chuột rừng, chuột mốc đều nhiễm mò cao hơn những loài sống gần nhà và trong nhà như chuột đất bé và chuột lắt (bảng 3)
Thành phần loài mò
Bảng 4 Thành phần loài mò tại từng điểm nghiên cứu
Điểm nghiên cứu Dục
Mỹ Bình Giáo Bằng Đất
1 Ascoschoengastia
(Laurentella) indica
45 (84,90)
2 (50,0)
3 (60,0)
2 Garliepia (Walchia)
ewingi
3 Garliepia (Walchia )
lupella
7 (13,21)
2 (50,0)
1 (20,0)
4 Leptotrombidim
(Lep.) deliense
(20,0)
(100)
(100)
Ghi chú: Con số ngoài ngoặc đơn là số lượng ấu trùng mò; trong ngoặc đơn là tỷ lệ %.
Trang 6Tại Dục Mỹ thu thập được 3 loài mò, trong đó loài A (Lau.) indica chiếm ưu thế về
số lượng cá thể (84,90%) Đây là loài mò đã được chứng minh có vai trò truyền sốt mò ở
Việt Nam [1] Tại Bình Giáo 2 loài là A (Lau.) indica và G (W.) lupella số lượng cá thể
như nhau Tại Đất Bằng 3 loài mò, trong đó 2 loài có vai trò truyền sốt mò chủ yếu ở Việt
Nam là A (Lau.) indica và L (L.) deliense Loài A (Lau.) indica chiếm 60% số lượng
các thể trong tổng số ba loài mò thu thập ở đây (Bảng 4)
Bảng 4 Tình hình nhiễm mò ở các loài chuột tại các điểm nghiên cứu
Tên loài
chuột
Điểm nghiên cứu Dục Mỹ Bình Giáo Đất Bằng
Rattus
exulans **
0 A (Lau.) indica
G (W.) ewingi
0
R rattus * A (Lau.)
indica
G (W.)
ewingi
G (W.)
lupella
R.(Ber.)
bowersi * - - A (Lau.) indica
G (W.) lupella
L (L.) deliense Bandicota
salivei * A (Lau.) indica -
-Ghi chú: * : Ngoài nương rẫy; ** : Trong nhà
Chuột ở các điểm nghiên cứu nhiễm từ 1 đến 3 loài mò, trong đó 1 đến 2 loài mò có
vai trò truyền bệnh sốt mò Loài chuột rừng (R rattus) ở Dục Mỹ nhiễm 3 loài mò, trong
đó 1 loài có vai trò truyền bệnh là A (Lau.) indica Chuột mốc R.(Ber.) bowersi ở Đất Bằng nhiễm 3 loài mò, trong đó 2 loài có vai trò truyền bệnh là A (Lau.) indica và L (L.) deliense Chuột lắt (R exulans) ở Bình Giáo nhiễm 2 loài mò, trong đó 1 loài có vai trò truyền bệnh là A (Lau.) indica Chuột đất bé (B salivei) ở Dục Mỹ nhiễm 1 loài mò có
khả năng truyền bệnh sốt mò (bảng 4)
3.3 Kết quả xét nghiệm huyết thanh
Bảng 5 Kết quả xét nghiệm huyết thanh chuột (kháng thể kháng Scrub typhus)
Tên loài
chuột
Dục Mỹ Bình Giáo Đất Bằng
Tổng
số
mẫu
XN
Số mẫu + Tổngsố mẫu XN
Số mẫu +
Tổng số mẫu XN
Số mẫu +
Trang 7exulans ** (40,0) (20,0)
R rattus * 10 0 0 0 1 0
R.
bowersi * 0 0 0 0 2 (50,0)1
Bandicota
salivei * 7 (14,30)1 0 0 0 0
(4,76)
(40,0)
(12,5)
Ghi chú: Con số ngoài ngoặc đơn là số lượng mẫu huyết thanh chuột; trong ngoặc đơn
là tỷ lệ (%) mẫu huyết thanh dương tính.
Huyết thanh chuột ở ba điểm đều có kháng thể kháng O tsutsugamushi Tại Dục Mỹ
có 14,3% cá thể loài chuột đất nhỏ (B salivei) có kháng thể kháng O.tsutsugamushi Tại Bình giáo có 40% cá thể loài chuột lắt (R exulans) có kháng thể kháng O tsutsugamushi Tại Đất Bằng có 20% cá thể loài chuột lắt (R exulans) có kháng thể kháng O tsutsugamushi và 50% cá thể của loài chuột mốc R.(Ber.) bowersi có kháng thể kháng O tsutsugamushi Đáng chú ý loài chuột lắt R exulans chuyên sống trong nhà, gần người có
tỷ lệ kháng thể kháng Tsutsugamushi cao (20 - 40%) tại Đất Bằng và Bình Giáo Điều đó
cho thấy rằng nhà dân, doanh trại bộ đội đóng ở sinh cảnh savan, gần rừng thì khả năng con người tiếp xúc với mầm bệnh sốt mò rất dễ dàng (bảng 5)
Bảng 6: Kết quả điều tra huyết thanh trên cộng đồng dân cư tại các khu vực nghiên cứu
Khu vực
Số mẫu điều tra (n)
Kháng thể kháng
O.
tsutsugamush
Dươ ng tính
Tỷ lệ ± CI95 (%) Dục Mỹ và
4,41
P(1;3)
< 0,05 Đất Bằng
và lân cận
(2)
3,26
P(1;2) <
0,05 Bình Giáo
và lân cận
(3)
4,36
P(3; 2)
< 0,05
Tỷ lệ kháng thể kháng O tsutsugamushi lưu hành tại cộng đồng dân cư khu vực
Dục Mỹ và lân cận là 21,04 ± 4,41%; khu vực Đất Bằng và lân cận là 13,99 ± 4,36%
và dân cư khu vực Bình Giáo và lân cận là 7,14 ± 3,26% Tỷ lệ kháng thể kháng O tsutsugamushi lưu hành tại cộng đồng dân cư giữa các khu vực khác nhau có ý nghĩa
thống kê, với p < 0,05
4 BÀN LUẬN
Trang 8Các loài chuột thu thập được tại các điểm nghiên cứu trên là những loài đặc trưng cho sinh cảnh savan cây bụi gần người ở Việt Nam Sinh cảnh rừng núi là nơi sống của
loài chuột rừng (Rattus rattus) và chuột mốc R (Ber.) bowersi Sinh cảnh savan, cây bụi, khoảng trống giữa rừng và khu dân cư là nơi sống của chuột đất bé (B savilei) và sinh cảnh dân cư là nơi sống của chuột lắt (R exulans) Chuột lắt là loài chuyên sống trong
nhà, phổ biến nhất ở miền Nam nước ta, từ đồng bằng đến rừng núi, phân bố từ Quảng Bình trở vào
Chỉ số mật độ chuột chung tại các điểm nghiên cứu không cao so với chỉ số mật độ chuột tại một số ổ sốt mò ở Yên Thế, Bắc Giang là 13,0-16,0 (năm 2000) và 6 điểm ở Quảng Ninh là 15,58 (năm 2003) [5,6]
Tỷ lệ nhiễm mò trên chuột ở các điểm nghiên cứu không cao (16,7 – 65,0%) so với
tỷ lệ nhiễm mò trên chuột Yên Thế, Bắc Giang (70%)[5] và ở Uông Bí, Quảng Ninh (59,7%)[6] Số lượng loài mò thu thập được ở cả ba điểm nghiên cứu chiếm 6,45% số loài mò đã phát hiện được ở miền Nam Trung Bộ- Nam Bộ[4]
Vai trò truyền bệnh của các loài mò đã được nhiều tác giả xác định Vùng Châu Á-Thái Bình Dương khoảng 20 loài mò có khả năng truyền bệnh sốt mò[Error: Reference
source not found] Ở Nhật Bản đã phân lập được Rickettsia orientalis (= O tsutsugamushi) từ các loài mò: Leptotrombidium (Lep.) akamushi, L (L.) deliense, L (L.) scutellare, L (L.) pallida và L (L.) fuji (Nagayo, 1921; Kawamura, 1930) Theo Metha (1937), L (L.) deliense truyền bệnh sốt mò ở một sô nước ở vùng Đông Nam Á Ở Trung Quốc: Chao-Hsu-Swang (1953) xác định mầm bệnh sốt mò từ loài mò L (L.) deliensis và chuột rừng (Rattus rattus), chuột cống (R norvegicus), chuột chù Suncus murinus tại Quảng Đông Cù Phong Y (1968) phân lập được R orientalis trên mèo, gà và chim sẻ Ở miền Bắc Việt Nam đã phân lập được Rickettsia orientalis trên một số loài mò: L (L.) deliense [= Trombicula (L.) deliensis]; G.(W.) parapacifica, G (Gateria) pintanensis; Euschoengastia sp2., Trombicula (Lep.) sp., và một số loài thú nhỏ thuộc bộ gậm nhấm và bộ ăn côn trùng như: Rattus flavipectus, R r sladeni (R rattus) R edwardsi, R ninidus, Dermomys rufigenis, Callosciurus erythraeus, Mus sp., Crocidura dracula dracula, Talpaia sp Loài mò T (L.) deliensis và chuột nhà R flavipectus là vật
chủ và môi gới truyền bệnh chủ yếu [2]
Tỷ lệ kháng thể kháng O tsutsugamushi lưu hành tại cộng đồng dân cư khu vực
Dục Mỹ và lân cận cao nhất (21,04%); điều này có thể giải thích khu vực Đất Bằng
và lân cận là 13,99% và dân cư khu vực Bình Giáo và lân cận là 7,14% Nhìn chung,
tỷ lệ kháng thể kháng O tsutsugamushi lưu hành tại cộng đồng dân cư này là cao Tuy
nhiên tỷ lệ này khác nhau giữa các khu vực có ý nghĩa thống kê, với p < 0,05
K t qu nghiên c u cho th y: v i dân c l m ngh r ng v l m nông nghi pứu ấy: với dân cư làm nghề rừng và làm nông nghiệp ới dân cư làm nghề rừng và làm nông nghiệp ư làm nghề rừng và làm nông nghiệp àm nghề rừng và làm nông nghiệp ề rừng và làm nông nghiệp ừng và làm nông nghiệp àm nghề rừng và làm nông nghiệp àm nghề rừng và làm nông nghiệp ệp nguy c ph i nhi m v i ơ phơi nhiễm với ơ phơi nhiễm với ễm với ới dân cư làm nghề rừng và làm nông nghiệp O.tsutsugamushi cao h n so v i quân nhân v ng nh nghơ phơi nhiễm với ới dân cư làm nghề rừng và làm nông nghiệp àm nghề rừng và làm nông nghiệp àm nghề rừng và làm nông nghiệp ề rừng và làm nông nghiệp khác v i P = 0,00001-0,038; OR= 2,46-3,33 Y u t ngh nghi p l m t ng t lới dân cư làm nghề rừng và làm nông nghiệp ố nghề nghiệp làm tăng tỷ lệ ề rừng và làm nông nghiệp ệp àm nghề rừng và làm nông nghiệp ăng tỷ lệ ỷ lệ ệp
m c trong c ng ộng đồng với giá trị của nguy cơ qui thuộc AR= 60%-70,15% đồng với giá trị của nguy cơ qui thuộc AR= 60%-70,15%.ng v i giá tr c a nguy c qui thu c AR= 60%-70,15%.ới dân cư làm nghề rừng và làm nông nghiệp ị của nguy cơ qui thuộc AR= 60%-70,15% ủa nguy cơ qui thuộc AR= 60%-70,15% ơ phơi nhiễm với ộng đồng với giá trị của nguy cơ qui thuộc AR= 60%-70,15%
Ch a xác ư làm nghề rừng và làm nông nghiệp đị của nguy cơ qui thuộc AR= 60%-70,15%.nh đư làm nghề rừng và làm nông nghiệpợc các ngành nghề khác như: Bộ đội, làm rẫy, nghề tự doc các ng nh ngh khác nh : B àm nghề rừng và làm nông nghiệp ề rừng và làm nông nghiệp ư làm nghề rừng và làm nông nghiệp ộng đồng với giá trị của nguy cơ qui thuộc AR= 60%-70,15% động đồng với giá trị của nguy cơ qui thuộc AR= 60%-70,15% àm nghề rừng và làm nông nghiệpi, l m r y, ngh t doẫy, nghề tự do ề rừng và làm nông nghiệp ự do
v các ngh khác l y u t nguy c ph i nhi m v i m m b nh, hay nói cách khácàm nghề rừng và làm nông nghiệp ề rừng và làm nông nghiệp àm nghề rừng và làm nông nghiệp ố nghề nghiệp làm tăng tỷ lệ ơ phơi nhiễm với ơ phơi nhiễm với ễm với ới dân cư làm nghề rừng và làm nông nghiệp ầm bệnh, hay nói cách khác ệp
l các ng nh ngh n y l m gi m b t nguy c ph i nhi m c a v i m m bênh.àm nghề rừng và làm nông nghiệp àm nghề rừng và làm nông nghiệp ề rừng và làm nông nghiệp àm nghề rừng và làm nông nghiệp àm nghề rừng và làm nông nghiệp ới dân cư làm nghề rừng và làm nông nghiệp ơ phơi nhiễm với ơ phơi nhiễm với ễm với ủa nguy cơ qui thuộc AR= 60%-70,15% ới dân cư làm nghề rừng và làm nông nghiệp ầm bệnh, hay nói cách khác
Ổ mò là nơi sinh trưởng và phát triển của mò Nếu điều kiện khách quan tương đối
ổn định, ổ mò có thể tồn tại lâu và phát triển qua nhiều đời Sự hình thành và phân bố ổ
mò phụ thuộc vào sinh thái loài mò, sinh thái vật chủ của mò và môi trường xung quanh Trên thực tế rất ít thấy phạm vi phân bố ổ mò vượt quá phạm vi hoạt động của vật chủ [2]
Trang 95 Kết luận
Tại Dục Mỹ (Khánh Hòa) đã thu thập được 3 loài chuột và 3 loài mò Trong đó, loài
có vai trò truyền bệnh là A (Lau.) indica chiếm 84,9% tổng số cá thể cá loài mò thu thập
ở đây Có 14,30% số cá thể chuột đất bé (B savilei) có kháng thể kháng O tsutsugamushi
Tại Bình Giáo (Chư Prông, Gia Lai thu thập được 1 loài chuột và 2 loài mò Trong
đó loài A (Lau.) indica có vai trò truyền bệnh chiếm tỷ lệ 50% và 40% số cá thể chuột R exulans phát hiện được kháng thể kháng O tsutsugamushi
Tại Đất Bằng (Krông Pa, Gia Lai) thu thập được 3 loài chuột và 3 loài mò Trong đó
2 loài có khả năng truyền bệnh sốt mò là A (Lau.) indica và L (L.) deliense Có 20% cá thể chuột R exulans và 50% cá thể loài chuột mốc (R ber.) bowersi có kháng thể kháng
O tsutsugamushi
Như vậy có thể thấy rằng, tại Dục Mỹ (Ninh Hòa) tỉnh Khánh Hòa, Bình Giáo (Chư Prông) và Đất Bằng (Krông Pa) thuộc tỉnh Gia Lai có nguy cơ mắc bệnh sốt mò đối với cộng đồng dân cư
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Kulagin C.M and I.B Tarashevich (1972) The Scrub Tsutsugamushi Public Moscow Medicina: 240 pp
2 Nguyễn Kim Bằng (1970) Mò (Trombiculidae) và vai trò truyền bệnh của chúng Trường Đại học Quân y, 134 trang
3 Nguyễn Văn Châu (1997) Phân loại mò (Acariformes, Trombiculidae) ở Việt Nam, Nhà xuất bản Y học: 48 trang
4 Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Thu Vân, Đỗ Sí Hiển (2007) Động Vật chí Việt Nam – Fauna of Vietnam, 16: Họ mò đỏ Trombiculidae, Bộ Bọ chét Siphonaptera Nhà
XBKH&KT : 306 trang
5 Nguyễn Văn Châu, Trương Sĩ Niêm và CTV., (2001) Khảo sát mò và bệnh sốt mò (Tsutsugamushi) tại một số điểm thuốc tỉnh Bắc Giang.Kỷ yếu CTNCKH (1996-2000), Viện Sốt rét- KST- CTTƯ NXBYH: 538 – 546
6 Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Thị Liên và CTV., (2003) Tìm hiểu sự phân bố các loài
mò (Trombiculidae) liên quan đến sự phân bố bệnh sốt mò (Tsutsugamushi) ở một
số địa phương thuốc tỉnh Quảng Ninh.Tạp chí PCSR&CBKST, Viện Sốt
rét-KST-CT TƯ, số 6/2003: 53-63
7 Phạm Thị Thanh Thủy (2007) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh sốt mò (Scrub typhus) Tóm tắt luận án tiến sĩ Y học
Trang 10Địa chỉ liên hệ:
PGS.TS Nguyễn Văn Châu
Viện Sốt rét-KST-CT TƯ , 245 Lương Thế Vinh, Thanh Xuân ,Hà Nội Mobile: 0982331949; Email: vanchaunimpe@yahoo.com