PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ Giám đốc điều hành kiêm nhiệm CEO Duality là thuật ngữ đề cập đến việc một cá nhân đồng thời nắm giữ cả hai vị trí quan trọng nhất trong một công ty đó là giám đốc điề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
và m ức độ ch ấ p nh ậ n r ủ i ro c ủ a doanh nghi ệ p
Giảng viên hướ ng dẫn:ThS Huỳnh Ngọc Quang Anh Danh sách thành viên Nhóm 5:
3.Đinh Ngọc Khánh Ngân – 31211021349 - 23
4.Đỗ Trung Nghĩa- 31201022504 - 24
Trang 2PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Giám đốc điều hành kiêm nhiệm (CEO Duality) là thuật ngữ đề cập đến việc một cá nhân đồng thời nắm giữ cả hai vị trí quan trọng nhất trong một công ty đó là giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quản trị (Rechner & Dalton, 1991) Có nhiều câu hỏi được đặt ra rằng, liệu việc giám đốc điều hành có nên kiêm nhiệm kép vị trí Chủ tịch hội đồng quản trị hay để một
cũng như suy giảm hiệu quả quản trị công ty Finkelstein, Hambrick and Cannella (2009) cũng lưu ý rằng “việc CEO kiêm nhiệm là nguyên nhân chính dẫn đến các tranh cãi trong các cuộc thảo luận công khai về quản trị công ty” Theo góc độ lý thuyết đại diện, việc một cá nhân kiêm nhiệm cả hai vị trí quan trọng trong công ty sẽ làm mất đi sự hiệu quả của việc quản lý và kiểm soát công ty Tuy nhiên, đứng dưới góc độ lý thuyết tổ chức, Boyd (1995) lại nhận thấy “việc
đến tình hình công ty (Kang & Zardkoohi, 2005) Dường như hầu hết các nghiên cứu đều kết luận rằng, tính kiêm nhiệm giúp củng cố quyền lực của giám đốc điều hành và làm suy yếu sự giám sát của hội đồng quản trị, ngược lại, sự không kiêm nhiệm đồng thời hai vị trí CEO và
quyền lực của CEO (Finkelstein et al., 2009) Bởi chính sự xung đột về quyền giám sát và quyền lực thực thi, nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ lý thuyết đại diện đã chỉ ra tác động tiêu cực giữa
rủi ro của nhà quản trị Đồng thời, cũng có rất ít bằng chứng về việc rằng nếu cả hai vị trí quyền lực nhất của một công ty được nắm giữ bởi cùng một người có thể tác động đến những chủ đích
cá nhân và thúc đẩy hành vi chấp nhận những dự án có mức độ rủi ro cao hay không Vì thế, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu để xem xét sự việc việc liệu một CEO kiêm nhiệm Chủ HĐQT với quyền lực mạnh mẽ có tác động như thế nào đến mức độ chấp nhận rủi ro của doanh
nghiệp.
Trang 3PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Năm xuất
Phương
pháp nghiên
Mẫu thử nghiệm hoặc
1
Board structure and
corporate risk taking in the
UK financial sector
Saeed Akbar Buthiena Kharabsheh Jannine Poletti-Hughes Syed Zulfiqar Ali Shah
2017 Phân tích
dữ liệu thống kê
Dựa trên dữ liệu dạng bảng của tất cả các công
ty niêm yết trong lĩnh vực tài chính ở Anh
Sự hiện diện của các giám đốc không điều hành và các CEO có quyền lực trong hội đồng quản trị công ty làm giảm các hành vi chấp nhận rủi ro của công ty trong các công ty tài chính Mối quan hệ tiêu cực có thể được giải thích trong bối cảnh lý thuyết đại diện, trong đó các nhà quản lý được coi là không thích rủi ro hơn do rủi ro về uy tín và việc làm Do đó, sự tập trung quyền lực gia tăng dự kiến sẽ làm tăng hành vi ngại rủi ro của các giám đốc Tuy nhiên, những phát hiện không cho thấy bất kỳ tác động đáng kể nào của quy
mô hội đồng quản trị đối với việc chấp nhận rủi ro của công ty trong các công ty tài chính
2
The impact of board
characteristics and CEO
power on banks’
risk-taking: stable versus
crisis periods
Catarina Fernandes Jorge Farinha Francisco Vitorino Martins Cesario Mateus
2021 Phân tích
dữ liệu thống kê
Mẫu của 72 ngân hàng châu Âu niêm yết công khai trong cả giai đoạn ổn định và khủng hoảng
Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, quy mô HĐQT và quy n lực của Giám đ c đi u hành (CEO) đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng trong cuộc khủng hoảng tài chính gần đây Ngược lại, quyền sở hữu của cổ đông tổ chức và sự hiện diện của một cựu CEO với tư cách là Chủ tịch ảnh hưởng tích cực đến việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng Ngoài ra,trong giai đoạn t rước khủng hoảng, chỉ có sự độc lập của hội đồng quản trị và quyền sở hữu của tổ chức mới có tác động như nhau đối với rủi ro trong khi quyền lực của CEO không có ảnh hưởng và sự tồn tại của một cựu CEO với tư cách là Chủ tịch làm giảm khả năng chấp nhận rủi ro bởi các ngân hàng
3
The Relationship Between
Board of
Directors’Characteristics
and Bank Risk-Taking:
Evidence fromEgyptian
Banking Sector
Mohamed Galal Abobakr Khairy Elgiziry
2017 Phân tích
dữ liệu thống kê
Mẫu của 27 ngân hàng hoạt động tại Ai Cập với
dữ liệu trong khoảng thời gian 6 năm từ 2006– 2011
Quy mô HĐQT có ý nghĩa dương với ba thước đo rủi ro Giám đốc không điều hành có tương quan nghịch đáng kể với cả rủi ro mất khả năng thanh toán và rủi ro thanh khoản Tính hai mặt của CEO được tìm thấy
có ý nghĩa tích cực với rủi ro tín dụng Hội đồng quản trị nữ có ý nghĩa âm với rủi ro mất khả năng thanh toán và rủi ro thanh khoản, trong khi có ý nghĩa dương với rủi ro tín dụng Trình độ của hội đồng quản trị không ảnh hưởng đến ba thước đo rủi ro
4
Environmental, Social and
Governance Performance:
Analysis of CEO Power
and Corporate Risk
Yan Zhao Ehsan Elahi Zainab Khalid Xuegang Sun Fang Sun
2023 Phân tích
dữ liệu thống kê
Một mẫu các doanh nghiệp niêm yết hạng A của Trung Quốc từ năm
2011 đến 2018
Hiệu suất ESG tốt hơn có thể làm giảm rủi ro của các công ty Mối quan hệ tiêu cực giữa hiệu suất ESG và công ty mạnh hơn đối với công ty có quyền lực CEO lớn hơn Mối liên kết này yếu hơn đối với các công ty thuộc sở hữu nhà nước và mạnh hơn đối với các công ty có tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư tổ chức thấp hơn Hơn nữa, hiệu suất ESG chủ yếu ảnh hưởng đến rủi ro doanh nghiệp thông qua ba kênh: danh tiếng công
ty, minh bạch thông tin và ki m soát nội bộ Nói chung, các công ty có hiệu su t ESG t t hơn có nhi u khả năng có khung quản lý rủi ro hợp lý hơn
5
Journal of Financial
Economic Policy: CEO
power, corporate risk
taking and role of large
shareholders
Junaid Haider Hong-Xing Fang 2018
Phân tích
dữ liệu thống kê
Sử dụng m u của 1502 công ty Trung Quốc được niêm yết trên
TTCK Thượng Hải và Thâm Quyến trong giai đoạn 2008 -2013
Quyền lực của CEO có quan hệ tỷ lệ nghịch với việc chấp nhận rủi ro của công ty theo rủi ro tổng thể và rủi ro đặc thù Thứ hai, sự hiện diện của các cổ đông lớn ảnh hưởng đáng kể đến mối quan hệ này, nhưng không làm thay đổi mối quan hệ tiêu cực chính giữa quyền lực của CEO và việc chấp nhận rủi ro của công
ty Cuối cùng, mối quan hệ giữa quyền lực của CEO và mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp là khác nhau giữa các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước
6
Board composition and
corporate risk-taking: a
review of listed firms from
Germany and the USA
Zahid Irshad Younas Christian Klein Thorsten Trabert Bernhard Zwergel
2019 Phân tích
dữ liệu thống kê
Các công ty niêm y t từ Đức và Hoa Kỳ từ 2004 đến 2015 dựa trên dữ liệu
từ Thomson Reuters Data
Stream
Sự gia tăng tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập có liên quan đến việc doanh nghiệp ít chấp nhận rủi ro hơn Những tác động này mạnh hơn giữa các công ty Đức Cuối cùng, ảnh hưởng của quy mô hội đồng quản trị
và hiệu quả của ủy ban kiểm toán (AUCE) đối với việc chấp nhận rủi ro có nhiều kết quả khác nhau
7
Ceo power and
risk-taking: The moderating
role of independent
boards, CEO
compensation and
institutional ownership
Diniesha Devarajan Chai Aun Ooi Sze Ying Loo Say Keat Ooi
2022 Phân tích
dữ liệu thống kê
Dựa trên mẫu gồm 362 công ty giao dịch công
khai ở Malaysia trong giai đoạn 2013 -2019
Quyền lực của CEO có quan hệ ngược chiều với việc chấp nhận rủi ro Thù lao của CEO và quyền sở hữu của tổ chức điều chỉnh tích cực mối quan hệ giữa quyền lực của CEO và việc chấp nhận rủi ro của nhà quản
lý Trong khi đó, không có tác động kiểm duyệt đáng kể nào về sự độc lập của hội đồng quản trị được quan
sát.
8 Strong boards, CEO power
and bank risk-taking Shams Pathan 2009
Phân tích
dữ liệu thống kê
Sử dụng m u g m 212 công ty nắm giữ ngân hàng lớn của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1997–
2004 (1534 quan sát)
HĐQT ngân hàng mạnh (hội đồng quản trị phản ánh nhiều lợi ích của cổ đông ngân hàng) đặc biệt là hội đồng quản trị nhỏ và ít hạn chế hơn ảnh hưởng tích cực đến việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng Ngược lại, quyền lực của CEO (khả năng CEO kiểm soát quyết định của hội đồng quản trị) ảnh hưởng tiêu cực đến việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng
9 Managerial ability and frm
risk-taking behavior
Kenneth Yung Chen Chen 2017
Phân tích
dữ liệu thống kê
Các công ty trên
Compustat trong khoảng thời gian từ 1980 đến
2014
Các nhà quản lý có năng lực cao và các nhà quản lý có năng lực th p có tác động trái ngược nhau đ i với hành vi của công ty và giá trị công ty Các nhà quản lý có năng lực cao sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong khi các nhà quản lý có năng lực thấp không chấp nhận rủi ro Các nhà quản lý có năng lực cao cắt giảm chi tiêu vốn nhưng chi nhiều hơn đáng kể cho các dự án R&D; các nhà quản lý có năng lực thấp giảm đáng kể cả chi phí vốn và chi phí R&D Kh ả năng quản lý có quan hệ ngược chiều với đòn bẩy công ty Ngoài ra, các nhà quản lý có năng lực cao có liên quan đến việc tăng giá trị công ty trong khi các nhà quản lý có năng lực thấp có liên quan đến việc giảm giá trị công ty
Trang 4Rủi ro là một trong những nhân tố quan trọng cần được xét đến đầu tiên khi các nhà quản
lý đưa ra các chính sách quản trị cũng như chiến lược quản lý (Ruefli, Collins & Lacugna, 1999) Những tác giả ủng hộ lý thuyết đại diện cho rằng các nhà quản trị công ty thường e ngại rủi ro và các cổ đông của công ty thì trung lập rủi ro (Beatty & Zajac, 1994) Nghĩa là, trái với mong đợi, các nhà quản trị thông thường sẽ do dự khi phải lựa chọn những dự án mang tính chất rủi ro cao, tương ứng với mức độ chấp nhận rủi ro còn hạn chế Các nhà quản trị quan tâm đến rủi ro công ty gánh chịu và mức độ thiệt hại đối với công ty hơn là việc tối đa hóa lợi ích các cổ đông Vì vậy, các nhà quản trị sẽ ưu tiên cho sự tồn tại trong lâu dài và sự ổn định của doanh nghiệp cao hơn so với việc đi tối đa hóa giá trị công ty (Baysinger & Hoskisson, 1989) Nhìn chung, các nhà quản trị có xu hướng e ngại hơn với các dự án rủi ro bởi họ muốn đảm bảo dòng thu nhập ổn định cũng như duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra
Kiêm nhiệm đồng nghĩa với việc một cá nhân cùng lúc nắm giữ cả hai vị trí được coi là quyền lực nhất trong hội đồng quản trị công ty, đó là vị trí Giám đốc điều hành (CEO) và Chủ tịch HĐQT Theo lý thuyết đại diện, việc kiêm nhiệm này khiến cho quyền lực của Giám đốc điều hành (CEO) ngày càng mạnh hơn và hội đồng quản trị sẽ khó giám sát và ít quyền lực hơn CEO Jensen (1993) lập luận rằng “việc một CEO kiêm nhiệm cả vị trí Chủ tịch HĐQT sẽ thúc đẩy hành vi tư lợi cá nhân, cản trở việc giám sát của hội đồng quản trị và tác động tiêu cực đến
cổ đông” Các CEO quyền lực này được kỳ vọng sẽ theo đuổi những dự án, chiến lược có lợi cho bản thân họ, dù đôi khi dự án, chiến lược được dự báo có rủi ro cao Nghiên cứu của Lewellyn (2012) lẫn Altunbas et al (2020) sử dụng mẫu nghiên cứu 74 công ty với một nửa là công ty nợ dưới chuẩn ngân hàng ở Mỹ, cho thấy “các CEO quyền lực cao liên quan mạnh mẽ đến việc chấp nhận rủi ro mà các đối tượng khác sẽ né tránh” Bassem (2012) đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa việc CEO kiêm nhiệm Chủ tịch với khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng, bởi quyền lực của CEO làm giảm khả năng kiểm soát và giám sát của các thành viên còn lại trong hội đồng quản trị.
Ngược lại, Kim and Buchanan (2008) đưa ra các bằng chứng thực nghiệm rằng các công
kể Cùng quan điểm trên, Pathan (2009) cũng nhất quán về việc CEO kiêm nhiệm sẽ cố gắng bằng nhiều cách để giảm rủi ro cho các ngân hàng và tương tự ở những công ty thuộc nhóm ngành tài chính ở Mỹ (Akbar et al., 2017) Có thể thấy rằng, do tính chất hai vị trí CEO và Chủ
kiêm nhiệm đưa ra các quyết định có suy xét và ít rủi ro hơn (Demsetz & Lehn, 1985) Ngoài
ra, việc nắm giữ cùng lúc hai vị trí quan trọng, chế độ lương thưởng cao, danh tiếng và các đặc quyền khác dẫn đến các CEO kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT sẽ có ít động cơ để để liều lĩnh chấp
Trang 5nhận các dự án đem lại cho họ mức độ rủi ro cao Do đó, nhóm tác giả quyết định xây dựng giả thuyết được phát biểu như sau:
3.1 Mô hình nghiên cứu Nhóm tác giả sử dụng mô hình dưới đây để phân tích mối quan hệ giữa quyền lực của CEO
ROA_sd it = α0 + β2 CEO_d it+ β3 ROA it + β4 FSIZE it + β5 LEV it + β5 MTB it + β6 NON it
+ β7 BSIZE it + εit
Mô hình này được nhóm tác giả áp dụng dựa trên dữ liệu bảng cân bằng (strongly balanced)
• ROA_sd it: Trung bình trượt độ lệch chuẩn của tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản i tại năm
t
• CEO_d it: CEO kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT
• ROA it : Tỷ suất sinh lời trên tài sản i tại năm t
• FSIZE it : Quy mô doanhnghiệp i tại năm t
• BSIZE it : Số lượng thành viên trong HĐQT của doanh nghiệp i tại năm t
Biến độc lập Giám đốc điều hành kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT (CEO_d) được mã hóa nhận giá trị 1 khi công ty có Giám đốc điều hành kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT và nhận giá trị 0 trong các trường hợp còn lại Dù Coles & Hesterly (2000) xây dựng phương pháp đo lường dựa trên việc xem xét rằng liệu trước khi kiêm nhiệm đồng thời cả hai vị trí, giám đốc điều hành có làm việc hoặc có bất kì mối liên hệ nào hay không Nhưng thực tế, nhóm tác giả thấy được phần lớn CEO kiêm chủ tịch HĐQT đã từng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động doanh
Trang 6Mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp (Risk -taking)
Để đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của một doanh nghiệp, nhóm sử dụng thước độ lệch chuẩn của Lợi nhuận trên tổng tài sản ().Dựa vào nghiên cứu trước đây của Faccio et al., (2011) ,nhóm tác giả tính toán biến phụ thuộc ROA_sd bằng cách lấy trung bình trượt của
giới hạn trong khoảng thời gian 3 năm và tiếp diễn tới năm cuối cùng, sử dụng cho từng công
hiện mà còn đánh giá được những rủi ro xuất hiện có liên quan đến việc sử dụng đòn bẩy tài
Nhóm tác giả sử dụng các biến giá trị doanh nghiệp (ROA), quy mô doanh nghiệp (FSIZE),
tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV), tỷ số giá trị thị trường của VCSH với giá trị sổ sách của VCSH (MTB), tỷ số số lượng thành viên không điều hành trong HĐQT (NON) và số lượng thành viên trong hội đồng quản trị làm các biến kiểm soát
Bài nghiên cứu này được thực hiện ở Việt Nam dựa trên bảng dữ liệu của 499 doanh nghiệp
sàng lọc theo một số yêu cầu, đảm bảo hoạt động liên tục trong các năm giai đoạn từ năm 2008
ROA_sd Trung bình trượt độ
CEO_d CEO kiêm nhiệm Chủ
Biến giả mang giá trị bằng 1 trong trường hợp CEO kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT, 0 là
-(Fernandes, Farinha, Martins, & Mateus , 2021)
tài sản
Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản
(Younas, Klein, Trabert,
& Zwergel , 2019)
Trang 7FSIZE Quy mô doanh nghiệp ln(Tổng tài sản) (Younas, Klein, Trabert,
& Zwergel, 2019)
chính Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản (Yung & Chen, 2017) MTB
Tỷ số giá trị thị trường của VCSH với giá trị
Giá trị thị trường VCSH/Giá
(Devarajan, Ooi, Loo, & Ooi, 2022)
NON
Tỷ số số lượng thành viên không điều hành
Số lượng thành viên không điều hành trong HĐQT/Số
(Abobakr & Elgiziry, 2017)
BSIZE Quy mô của HĐQT ln(Số lượng thành viên trong
(Akbar, Kharabsheh, Poletti-Hughes, & Shah, 2017)
Dùng lệnh SUM trong Stata để mô tả số quan sát, trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, lớn nhất, của các biến trong mô hình
Variable Obs Mean Std Dev Min Max ROA_sd 5,4810 0.0305 0.0477 0.0000 0.9861
CEO_d 5,7170 0.3112 0.4630 0.0000 1.0000
FSIZE 5,9720 27.0018 1.5298 21.8736 33.6318
BSIZE 5,7160 1.6800 0.1902 0.6931 2.3979
Thống kê mô tả là các phương pháp liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh tổng quát đối tượng nghiên cứu Từ bảng 3.2, nhóm tác giả nhận thấy rằng, biến phụ thuộc ROA_sd phản ánh mức độ chấp nhận rủi ro trong mẫu quan sát có giá trị trung bình là 3% Mức độ chấp nhận rủi ro của các doanh nghiệp biến động khá lớn giữa các doanh nghiệp với nhau, từ mức 0 đến 98,6%
Trang 8Biến kiểm soát ROA phản ánh giá trị của công ty có giá trị trung bình là 6% Trong khi đó vẫn có doanh nghiệp có ROA âm, chứng tỏ doanh nghiệp bị thua lỗ gây ra bởi việc sử dụng tài sản chưa hiệu quả trong khi vẫn có những doanh nghiệp mang giá trị ROA lên đến 78.4% Quy
mô công ty phản ánh giá trị của công ty trong mẫu quan sát có giá trị trung bình là 27 Doanh nghiệp có giá trị quy mô công ty thấp nhất là 21.87 và cao nhất là 33.63 Tỷ lệ đòn bẩy tài chính
có giá trị trung bình là 50% và có cách biệt lớn với giá trị nhỏ nhất của nó được ghi nhận ở mức 0.058% Đối với tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách có giá trị trung bình 1.07 và độ lệch chuẩn là 0.968 Tỷ lệ số thành viên không trong hội đồng quản trị trên tổng số thành viên hội
giá trị trung bình là 1.68 và độ lệch chuẩn là 0.19
CEO_d Freq Percent Cum.
Total 5,717 100
Từ bảng 3.3, cho thấy có hơn ⅔ doanh nghiệp có CEO không kiêm nhiệm chủ tịch Điều này đặt ra vấn đề giữa tỷ lệ CEO kiêm nhiệm chủ tịch và mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp
3.4 Kiểm định sự tương quan giữ a các biến ROA_sd CEO_d ROA FSIZE LEV MTB NON BSIZE ROA_sd 1
CEO_d
0.0239 0.0794 1
ROA
-0.1493 0.0000
0.0021 0.8753 1
FSIZE
-0.0854 0.0000
-0.0986 0.0000
-0.0732 0.0000 1
LEV
-0.1323 0.0000
0.0028 0.8315
-0.3969 0.0000
0.3167 0.0000 1
MTB
0.0871 0.0000
-0.0279 0.0393
0.3347 0.0000
0.1076 0.0000
-0.0957 0.0000 1
NON
0.0464 0.0000
-0.3452 0.0000
0.0258 0.0512
0.0478 0.0003
-0.1838 0.0000
0.0711 0.0000 1
BSIZE
-0.0283 0.0372
-0.0052 0.6964
0.0565 0.0000
0.2534 0.0000
-0.0367 0.0055
0.1014 0.0000
0.0716 0.0000 1
Trang 9Khi phân tích mối tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình, nhóm tác giả xem xét đến giá trị tuyệt đối của hệ số tương quan, nếu giá trị này tiến gần đến 1 thì chứng tỏ cặp biến
đó có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ với nhau, có thể gây nên hiện tượng đa cộng tuyến
Từ bảng 3.4, nhóm tác giả thấy rằng giá trị tuyệt đối hệ số tương quan của các cặp biến đều nhỏ hơn 0.5 (giá trị lớn nhất là 0.3969 của cặp biến ROA và LEV), qua đó, có thể đưa ra kết luận rằng các biến được sử dụng trong mô hình hoàn toàn phù hợp
4.1 Mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS)
F(7, 5210) = 91.57 Prob > F = 0.0000 R-squared = 0.1095 Adj R-squared = 0.1084 Root MSE =0.04531
Model 1.31573949 7 0.187962785
Residual 10.6948089 5,210 0.002052746
Total 12.0105484 5,217 0.002302194
ROA_sd Coef Std Err t P>| t | [95% Conf Interval] CEOkiêmnhiệmChủ
tịchHĐQT 0.0030427 0.001461 2.08 0.037 0.0001785 0.0059069 ROA -0.1821812 0.008362 -21.79 0.000 -0.1985743 -0.1657882
FSIZE -0.0009668 0.0004616 -2.09 0.036 -0.0018719 -0.0000618
BSIZE -0.0073931 0.0034374 -2.15 0.032 -0.0141319 -0.0006543
NON 0.0036235 0.00382 0.95 0.343 -0.0038653 0.0111124
LEV -0.051798 0.0034154 -15.17 0.000 -0.0584936 -0.0451023
MTB 0.008836 0.0006884 12.84 0.000 0.0074864 0.0101856
_cons 0.093063 0.0119381 7.80 0.000 0.0696593 0.1164667
Mô hình hồi quy OLS (Ordinary Least Squares) là một trong những phương pháp phổ biến nhất để đo lường mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập Dựa theo mô hình OLS được trình bày ở trên, nhóm tác giả tiến hành xem xét và đánh giá mối quan hệ giữa biến phụ thuộc (ROA_sd) và 7 biến độc lập tương ứng với mức ý nghĩa 1%; 5% và 10%
Trang 10• Với mức ý nghĩa 1% thì các biến ROA, LEV và MTB có giá trị p-value < 0.01
đưa vào giải thích được khoảng 11% cho biến phụ thuộc, vì vậy mô hình hồi quy OLS của nhóm tác giả vẫn có độ tin cậy nhất định Tuy nhiên, khi nhóm tác giả thực hiện bổ sung thêm
biến vào mô hình sẽ làm cho mô hình có khả năng bị sai dạng hàm hoặc gây ra các bệnh khác
Như chúng ta đã biết, việc tính toán trực tiếp mô hình hồi quy tổng thể PRF là không thể
mà nó sẽ được ước lượng dựa trên cơ sở hàm hồi quy mẫu SRF Phần dư là chênh lệch giữa giá trị thực và giá trị ước lượng của biến phụ thuộc trong hàm hồi quy tổng thể, là yếu tố quan trọng
đo lường sự phù hợp của hàm hồi quy Phần dư được xem như đại diện cho tất cả các biến không có trong mô hình ngay cả khi các biến bị loại bỏ khỏi mô hình là biến nào đi chăng nữa
tồn tại phần dư như một yếu tố ngẫu nhiên Vì là yếu tố ngẫu nhiên nên thực tế việc tính toán phần dư đối với một mẫu rất khó kiểm soát Vậy nên, việc kiểm định trung bình phần dư bằng
bình phần dư bằng không này và có thể đề cập tới ở những mô hình sau
estat imtest, white
White's test for Ho: homoskedasticity against Ha: unrestricted heteroskedasticity chi2 (34) = 1359.96
Prob > chi2 = 0.0000