Người nói sử dụng từ ngữ xưng hô linh hoạt trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, để xác lập và thể hiện các vai giao tiếp nhằm duy trì các mối quan hệ, thể hiện cách cư xử thích hợp vớ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ HẠNH
XƯNG HÔ TRONG TIỂU THUYẾT
TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙNG QUÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ HẠNH
XƯNG HÔ TRONG TIỂU THUYẾT
TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙNG QUÁN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Tình
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, người thân, tập thể lớp Ngôn ngữ K19 đã tạo điều kiện và động viên, để tôi học tập có kết quả
và hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 8
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÍ THUYẾT ĐÔI NÉT VỀ PHÙNG QUÁN VÀ TÁC PHẨM TUỔI THƠ DỮ DỘI 9
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN XƯNG HÔ 9
1.1.1 Lí thuyết hội thoại 9
1.2.2 Lí thuyết giao tiếp 15
1.2.3 Lí thuyết về chiếu vật và chỉ xuất 19
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM TRONG VĂN HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN XƯNG HÔ 25
1.2.1 Hội thoại trong tác phẩm văn học 25
1.2.2 Ngôn từ nghệ thuật 25
1.2.3 27
1.2.4 Tính hiện thực trong tác phẩm văn học 29
1.2.5 Hình tượng nhân vật 29
Trang 51.3 ĐÔI NÉT VỀ PHÙNG QUÁN VÀ TÁC PHẨM TUỔI THƠ DỮ DỘI 32
1.3.1 Về Phùng Quán và sự nghiệp văn học của ông 32
1.3.2 Về tác phẩm Tuổi thơ dữ dội 34
1.4 TIỂU KẾT 35
CHƯƠNG 2 - CÁC TỪ NGỮ XƯNG HÔ VÀ CÁCH XƯNG HÔ TRONG TUỔI THƠ DỮ DỘI 36
36
2.1.1 Cuộc thoại 36
2.1.2 Các từ ngữ xƣng hô trong cuộc thoại 37
38
2.2.1 Đặc điểm của các từ ngữ xƣng hô xét về hình thức 38
40
2.3 TIỂU KẾT 66
CHƯƠNG 3 - CÁCH XƯNG HÔ VÀ VIỆC KHẮC HỌA HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TUỔI THƠ DỮ DỘI 67
3.1 CÁCH XƢNG HÔ VÀ VIỆC KHẮC HỌA HOÀN CẢNH ĐIỂN HÌNH TRONG TÁC PHẨM 68
3.1.1 Một vùng quê xứ Huế với những mối quan hệ làng xóm thân tình 68
3.1.2 Một vùng chiến khu với những mối quan hệ đồng chí, đồng đội 72
3.1.3 Một mặt trận khốc liệt với hai chiến tuyến đối địch giữa Việt Minh và thực dân Pháp 82
3.2 CÁCH XƢNG HÔ VỚI VIỆC KHẮC HỌA TÍNH CÁCH CÁC NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM 82
3.2.1 Nhân vật chính diện 82
3.2.2 Nhân vật phản diện 87
3.3 CÁCH XƢNG HÔ VỚI VIỆC PHẢN ÁNH “CÁI TÔI NGHỆ THUẬT” CỦA TÁC GIẢ PHÙNG QUÁN 93
Trang 63.3.1.Chất Huế 93
3.3.2 Nhà văn một lòng theo kháng chiến 97
3.3.3 Nhập vai tinh tế 100
3.4 TIỂU KẾT 68
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Hình thức hội thoại trong các cuộc thoại 36
Bảng 2.2.Các từ ngữ xƣng hô đƣợc sử dụng trong cuộc thoại phẩm….… 39
Bảng 2.3 38
Bảng 2.4 38
Bảng 2.5 40
40
Bảng 2.7 hời 44
Bảng 2.8 Các từ ngữ chỉ quan hệ xã hội ngoài gia đình dùng để xƣng hô 52
Bảng 2.9 ừ ngữ xƣng hô chỉ nghề nghiệp và vị trí xã hội 53
55
59
, tính chất (hoặc có yếu tố chỉ trạng thái, tính chất) dùng để xƣng hô 62
xƣng hô vay mƣợn 64
64
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Giao tiếp là một hoạt động quan trọng nhất đảm bảo cho sự gắn kết của
xã hội loài người, dựa trên phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ Một trong những nhân tố để hoạt động này có hiệu quả là việc xác lập các vai trong giao tiếp trong hội thoại Người nói sử dụng từ ngữ xưng hô linh hoạt trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, để xác lập và thể hiện các vai giao tiếp nhằm duy trì các mối quan hệ, thể hiện cách cư xử thích hợp với chiến lược giao tiếp đặt
ra trong những tình huống khác nhau
Dưới tác động của những nhân tố văn hóa, cộng đồng người Việt đã hình thành nên và sử dụng một hệ thống từ ngữ xưng hô vô cùng phong phú, đa dạng, linh hoạt Điều này đã tạo nên sự khác biệt trong giao tiếp người Việt so với nhiều cộng đồng ngôn ngữ khác Hệ thống các từ ngữ xưng hô này từ cuộc sống đi vào văn học qua sự cảm thụ của các nhà văn
Việc xem xét cách xưng hô trong phạm vi tác phẩm văn học sẽ góp phần làm sáng tỏ về văn hóa xưng hô của người Việt, đồng thời cũng giúp độc giả phần nào hiểu sâu sắc về phong cách nhà văn thông qua cách kể về lời ăn tiếng nói của các nhân vật Qua cách sử dụng từ ngữ xưng hô của nhà văn, ta sẽ thấy
rõ các cung bậc tình cảm, thái độ ứng xử của nhân vật trong cuộc sống
1.2 Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán là một tác phẩm nổi tiếng, được khởi
thảo từ năm 1968 và hoàn thành năm 1986, đã nhận được Giải thưởng A của Hội Nhà văn Việt Nam Truyện viết về cuộc sống, sự chiến đấu, hi sinh của những thiếu niên 13 – 14 tuổi trong Đội Thiếu niên trinh sát của Trung đoàn Trần Cao Vân trong giai đoạn lịch sử vô cùng khốc liệt Đó là lúc thực dân Pháp quay trở lại xâm lược đất nước ta, những năm tháng trong giai đoạn
1945 - 1954 Tại vùng đất Huế, với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, các em nhỏ - những Ga- vơ- rốt trên chiến trận - đã tự nguyện hi sinh xương máu để bảo vệ chiến khu Hòa Mỹ, góp một phần cho thắng lợi của
Trang 9kháng chiến Truyện đã mang lại sự xúc động lớn lao cho nhiều thế hệ bạn đọc và khẳng định tài năng văn chương và nhân cách của người nghệ sĩ Phùng Quán Đúng như lời nhận xét về truyện: “Tác phẩm giàu chất thơ, tái hiện hiện thực hào hùng của cuộc kháng chiến, ca ngợi người chiến sĩ cách mạng thông qua cảm quan mĩ học kết hợp cái cao cả và cái bi tráng nên giàu sức truyền cảm ” [30, tr.1.434] Đóng góp cho thành công của tác phẩm phải kể đến sự am hiểu và tài năng sử dụng tiếng Việt, trong đó có việc sử dụng các
từ ngữ xưng hô của tác giả
Tác phẩm Tuổi thơ dữ dội viết về một thời kì lịch sử cách đây nửa thế kỉ,
về những con người và những sự kiện ở vùng đất Huế, bản thân tác giả cũng
là người sinh ra ở Thừa Thiên Huế.Vì vậy, chắc chắn những đặc điểm của một thời kì trong sự phát triển của tiếng Việt cũng như chất giọng của một vùng đất phải ít nhiều được ghi lại qua ngôn từ nghệ thuật, trong đó có cách xưng hô trong tác phẩm
Vì những lí do trên,“ Xưng hô trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng
Quán”, đã được chọn làm đề tài nghiên cứu trong luận văn này
Trong công trình Studies in Vietnamese Grammar (năm 1951), M.B
Emenéau đã có những nhận xét thú vị về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt, đặc biệt là nhóm từ xưng hô lâm thời có nguồn gốc danh từ Ông gọi các danh từ được dùng để xưng hô này là các “đại danh từ cương vị”: “Đa số các đại từ đó đều trùng làm một với những danh từ chỉ người bà con cùng huyết thống” [33, tr 51] Ông thống kê được mười ba đại danh từ nhân xưng cương vị trùng
với các danh từ chỉ quan hệ thân thuộc: cụ, ông bà, cha, con, cậu
Trang 10Ở Việt Nam, từ những thập niên cuối thế kỷ XX trở lại đây, các công trình nghiên cứu về xưng hô của tiếng Việt và các ngôn ngữ gần gũi hoặc có quan
hệ với nó xuất hiện ngày càng nhiều và chất lượng ngày càng dày dặn Các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu khá kĩ về lĩnh vực này như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Như Ý, Hoàng Thị Châu, Nguyễn Văn Khang, Mai Xuân Huy, Bùi Minh Yến, Phạm Ngọc Thưởng, Nguyễn Phú Phong, Lê Thanh Kim… Nhiều tác giả đã chú trọng tiếp cận cách xưng hô theo hướng mới: hoạt động của xưng hô dưới góc nhìn Ngữ dụng học Theo Nguyễn Văn Chiến: “Vấn đề sẽ rõ ràng và lý thú hơn khi chúng ta xem xét những từ xưng
hô dưới ánh sáng của lý thuyết dụng học và dân tộc học giao tiếp” [10, tr 15] Tác giả Nguyễn Văn Chiến đã đầu tư khá nhiều sự chú ý vào mảng đề tài
này trên cơ sở tư liệu tiếng mẹ đẻ (của tác giả) và ngoại ngữ Trong cuốn Từ
xưng hô trong tiếng Việt (1993), tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận hệ
thống để tìm hiểu về các từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ Theo ông, tất cả các từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt được nghiên cứu như một chỉnh thể nguyên vẹn Đó là một hệ thống cấu trúc bao gồm các yếu tố chỉ người trong sinh hoạt giao tiếp – đối thoại, nội dung và giá trị của từng yếu tố được xác định nhờ vào sự đối lập giữa yếu tố ấy với tất cả những yếu tố còn lại trong hệ thống thông qua những quan hệ phạm trù (cái được Nguyễn Phú Phong gọi là "phạm trù nhân xưng") Nguyễn Văn Chiến còn tiến hành khảo sát các phạm trù “nhân xưng” tiếng Việt trên cơ sở đối chiếu với các ngôn ngữ cùng loại hình với nó (như tiếng Khơ me, Lào ) và ngôn ngữ khác loại hình (như tiếng Nga, Anh, Tiệp ), từ đó có được những nhận xét lí thú về sự tương đồng và khác biệt trong cách “nhân xưng” của các ngôn ngữ này
Tác giả Bùi Minh Yến với hàng loạt bài viết trên tạp chí Ngôn ngữ (các
năm: 1990, 1993, 1994…) về cách xưng hô trong gia đình người Việt, như:
“Xưng hô giữa vợ và chồng trong gia đình người Việt”, “Xưng hô giữa anh chị và em trong gia đình người Việt”, “Xưng hô giữa ông bà và cháu trong gia
Trang 11đình người Việt” và luận án Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã hội của người Việt (2001) Tác giả Lê Thanh Kim với luận án tiến sĩ Từ xưng
hô và cách xưng hô trong các phương ngữ tiếng Việt từ góc nhìn của lý thuyết
xã hội ngôn ngữ học (2002) cùng với nhiều bài nghiên cứu về cách xưng hô,
cũng đã miêu tả phần nào bức tranh nhiều màu sắc về từ ngữ xưng hô của người Việt, xét từ góc nhìn phương ngữ Đó là cách tiếp cận các xưng hô theo hướng cấu trúc, hoặc từ góc nhìn của Ngôn ngữ học xã hội, nhằm đi sâu nghiên cứu các phạm vi sử dụng của các từ ngữ xưng hô trong các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ
Hội thoại trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng Tháng Tám của
Phạm Văn Khanh (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006) là một luận văn Thạc sĩ về sử dụng từ ngữ xưng hô trong tác phẩm văn học Tác giả nhấn mạnh vào đặc điểm sử dụng từ ngữ trong quan hệ với nhân vật trong các tác phẩm của Nam Cao và chỉ ra những đặc trưng trong cách xưng hô của các lớp nhân vật khác nhau Tác giả đi đến kết luận: Qua cách xưng hô, các nhân vật trong các tác phẩm đang xét thể hiện vị thế của mình, đồng thời thể hiện mối quan hệ, diễn biến tâm lí với các nét tình thái thân sơ khinh trọng khác nhau;
Từ ngữ xưng hô trong sáng tác của Nam Cao rất giàu sắc thái biểu cảm
Trong luận văn thạc sĩ Cách xưng hô trong Bão biển của Chu Văn, tác giả
Dương Minh Phượng (Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2011) đã đặt vấn
đề tìm hiểu về xưng hô trong một tác phẩm văn học nổi tiếng - Bão biển Ở
luận văn này, tác giả đã nhấn mạnh tới mối liên hệ giữa xưng hô với việc xây dựng hình tượng nghệ thuật và chỉ ra những liên quan thú vị giữa đặc điểm của mảnh đất con người với cách xưng hô tương ứng của những người cụ thể trong những hoàn cảnh khác nhau
2.2 Những nghiên cứu về Phùng Quán và sáng tác của nhà văn, về tiểu
thuyết Tuổi thơ dữ dội và ngôn ngữ trong tác phẩm
Phùng Quán được đánh giá là người có nhiều sáng tạo trong văn học, nhờ năng khiếu bẩm sinh và lòng kiên trì học tập của ông Cuộc đời sóng gió có
Trang 12những bước thăng trầm không làm người nghệ sĩ mất đi tính cách và tính sáng tạo tuyệt vời ấy Đó chính là lí do để hàng loạt tác phẩm có giá trị của Phùng Quán được ra đời Tuy có vài sáng tác không được công khai, bị chỉ trích ở một thời kì nhất định, nhưng những tác phẩm của nhà văn vẫn được độc giả đón nhận và trân trọng Cho đến nay, sự nghiệp sáng tác của Phùng Quán vẫn thu hút được nhiều độc giả
Mặc dù chưa có nhiều công trình nghiên cứu về những tác phẩm của Phùng Quán với quy mô rộng nhưng những đánh giá của những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình dành cho cuộc đời cũng như những tác phẩm của ông đều cho ta thấy được sự ngưỡng mộ về tài năng về nhân cách của người nghệ sĩ này
Luận văn thạc sĩ Thế giới nghệ thuật thơ Phùng Quán của Bài Văn Bình
(Trường Đại học Quy Nhơn, 2011) đã cho người đọc thấy được bản chất, nội dung và nghệ thuật thơ Phùng Quán Ở luận văn này, tác giả để cập đến quan điểm, nghệ thuật của Phùng Quán Với thơ, Phùng Quán cho rằng “Thơ là một tố chất mĩ học”, đồng thời “Thơ là vũ khí tấn công của những trận đánh một còn một mất” Đối với nhà thơ, Phùng Quán ca ngợi đạo đức chân chính, nhà thơ phải là người chân thật Ông khẳng định “Không được đổi giọng Viết ngay và viết thẳng, ngay thẳng thủy chung Từ dòng đầu tới dòng cuối” Hơn nữa, theo ông, nhà thơ còn phải “có khả năng kì diệu, bất kì cống rãnh nào cũng mò thấy ngọc trai”
Tác giả Bùi Văn Bình cũng trình bày hành trình nghệ thuật thơ Phùng Quán
và những khuynh hướng mà thơ ông phản ánh
Qua thiên hồi kí Phùng Quán viết Trăng Hoàng Cung (NXB Thuận Hóa),
Hà Khánh Linh đã phần nào cho người đọc thấy được cảm hứng khơi nguồn của tập thơ viết về xứ Huế này
Tác phẩm Vượt Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội đã được dựng thành phim và
được công chúng đón nhận
Trang 13Tuổi thơ dữ dội là một tác phẩm viết về đề tài thiếu nhi được đông đảo
độc giả yêu thích Rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình đã dành tặng cho tác phẩm những lời ca ngợi
“ Có một viên ngọc quý thời gian dành riêng để ban tặng con người, đó
là Tuổi thơ Viên ngọc màu nhiệm, trong sáng nhưng quá mong manh, không thể tìm thấy lần thứ hai trong đời Và có một thế hệ người Việt chưa bao giờ
được cầm viên ngọc trên tay, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được viết cho
thế hệ đó Hãy đọc để nhớ lại, để tự hào, và để cầu nguyện cho những Tuổi thơ sắp ra đời ” - Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
“ Tôi đọc vào năm đầu Tuổi thơ dữ dội thập kỷ 60, từ những trang tư liệu của Phùng Quán Suốt nghìn trang sách, khắc sâu vào lòng tôi hai chữ Trung Hiếu Một nỗi đau xé lòng khi ta đọc đến lời trăng trối của Mừng, nhân vật trong truyện, trước lúc em đi vào cõi vĩnh hằng” - Nhà văn Việt Linh
“ Tuổi thơ dữ dội không phải là một câu chuyện cổ tích, mà là một câu
chuyện có thật ở chốn trần gian, ở đó những con người tuổi nhỏ đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống xâm lược bảo vệ Tổ quốc với một chuỗi những chiến công đầy ắp ly kỳ và hấp dẫn Đọc Tuổi thơ dữ dội chính là đọc lại một phần lịch sử tuổi thơ Việt, thấm đẫm xúc động, cảm phục và tự hào ”- Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo
Về phương diện ngôn ngữ nghệ thuật cũng như về cách xưng hô nói
riêng trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, cho tới nay chưa có một công trình
đáng kể nào Vì vậy, chúng tôi hi vọng rằng việc lựa chọn đề tài về cách xưng
hô trong tác phẩm này phần nào sẽ giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cuốn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán (in lần đầu ở NXB
Thuận Hóa, Huế, 1987) sẽ được luận văn sẽ tập trung tìm hiểu, khảo sát ,
Trang 14nhằm tìm ra các phương tiện dùng để xưng hô và sự sử dụng các phương tiện này trong tác phẩm
Tiểu thuyết gồm 736 trang, chia là ba tiểu truyện chính:
- Đi tìm thuốc cho mẹ: 205 trang, gồm 2 phần:
Phần thứ nhất: 68 trang, chia thành 11 đoạn
Phần thứ hai: 137 trang, chia thành 31 đoạn
- Ba lần vượt ngục: 318 trang gồm 2 phần:
Phần thứ nhất: 137 trang chia thành 20 đoạn
Phần thứ hai: 181 trang chia thành 34 đoạn
- Núi mẹ con em Mừng: 203 trang, gồm 2 phần:
Phần thứ nhất: 145 trang, chia thành 25 đoạn
Phần thứ hai: 58 trang, chia thành 10 đoạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Với khuôn khổ của đề tài, chúng tôi tập trung khảo sát hệ thống các từ ngữ xưng hô, cách xưng hô, chỉ trong hình thức hội thoại của các nhân vật
(ngôi thứ nhất và thứ hai - vai nói và vai nghe) trong Tuổi thơ dữ dội
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cách xưng hô của các nhân vật trong Tuổi thơ dữ
dội, lấy đó làm cơ sở để chỉ ra được vai trò của xưng hô trong việc xây dựng
hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm này
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận có liên quan đến xưng hô;
- Khảo sát và miêu tả các phương tiện xưng hô và cách xưng hô trong tác phẩm;
- Bước đầu tìm hiểu vai trò của cách xưng hô trong việc khắc họa hình tượng
nhân vật trong những hoàn cảnh khác nhau của tác phẩm Tuổi thơ dữ dội
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: được dùng để khảo sát, thống kê tần số xuất hiện
và phân loại các từ ngữ xưng hô mà Phùng Quán đã sử dụng trong tiểu thuyết
Trang 15- Phương pháp miêu tả: được dùng để phân tích các phương tiện xưng hô
được khảo sát, sau đó quy chúng thành nhóm và tìm ra các quy luật của chúng Ngoài ra, luận văn có tham khảo cách phân tích tác phẩm văn học, kết hợp với tìm hiểu bối cảnh lịch sử thời đại bấy giờ (1945 - 1954) để lí giải các hiện tượng ngôn ngữ có liên quan đến xưng hô trong tác phẩm
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Về lí luận
- Góp thêm tư liệu và cách nhìn nhận trong nghiên cứu về xưng hô, cũng như cách xưng hô bằng tiếng Việt trong những hoàn cảnh cụ thể với những vai giao tiếp và mục đích khác nhau
- Cho thấy được kết quả của việc vận dụng kết hợp giữa cách nhìn nhận cấu trúc và hướng tìm hiểu Ngữ dụng học để nghiên cứu ngôn ngữ trong những tác phẩm văn chương
6.2 Về thực tiễn
- Giúp độc giả có thêm hiểu biết về thành công trong sáng tác văn học của
Phùng Quán, cũng như tác phẩm Tuổi thơ dữ dội của ông, với việc sử dụng ngôn
từ nghệ thuật để phản ánh hiện thực cũng như xây dựng hình tượng nhân vật
- Giúp cho công việc học tập và giảng dạy về ngôn ngữ trong các tác phẩm văn chương, cũng như tiếng Việt trong nhà trường nói chung Kết quả của luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên và những ai yêu thích các tác phẩm của Phùng Quán
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết Đôi nét về Phùng Quán và tác phẩm Tuổi thơ
dữ dội
Chương 2: Các từ ngữ xưng hô và cách xưng hô trong Tuổi thơ dữ dội
Chương 3: Cách xưng hô với việc xây dựng hình tượng nghệ thuật trong
Tuổi thơ dữ dội
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐÔI NÉT VỀ PHÙNG QUÁN VÀ TÁC
PHẨM TUỔI THƠ DỮ DỘI
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN XƯNG HÔ
1.1.1 Lí thuyết hội thoại
1.1.1.1 Hội thoại là gì?
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người dùng để trao đổi thông tin Quá trình trao đáp lời nói làm cơ sở cho hội thoại hình thành Hội thoại diễn ra hàng ngày trong cuộc sống con người, là nơi lời nói thực hiện đúng chức năng của nó Khi bàn về vấn đề này có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vì thế khái niệm hội thoại không chỉ có một
Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Như Ý (chủ biên) định nghĩa: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời, ở dạng nói, giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” [26,tr.122]
Trong Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, tác giả Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái
niệm hội thoại một cách bao quát sâu rộng, có thể áp dụng cho nhiều loại hình ngôn ngữ: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Hội thoại
là khái niệm dành cho mọi hình thức hội thoại khác nhau.” [7, tr.201]
Đi sâu vào nghiên cứu tác giả Đỗ Hữu Châu đã đưa ra những đặc điểm về hội thoại một cách hệ thống và toàn diện
Thoại trường là khoảng thời gian,không gian diễn ra cuộc hội thoại.Thoại
trường có thể mang tính công cộng như trong hội nghị, ximena, trên giảng đường, ngoài phố xá, trong công viên…Thoại trường cũng có thể mang tính riêng tư như trong phòng riêng, trong nhà gia đình…Trong thoại trường, thời gian, không gian không mang nghĩa tuyệt đối mà ngoài hai yếu tố này, đặc
điểm của thoại trường còn gắn với khả năng can thiệp của “người thứ ba”.Sự
Trang 17hiện diện của “người thứ ba” sẽ có ảnh hưởng nhiều ít đến nội dung cuộc
thoai Thoại trường cụ thể sẽ tương ứng với hình thức hội thoại và nội dung hội thoại phù hợp với nó Nên thoại trường khác nhau sẽ có các cuộc thoại khác nhau Chẳng hạn trong mối quan hệ vợ chồng nếu ở nhà sẽ có cách xưng
hô và trò chuyện hoàn toàn khác với khi trong cùng một cuộc họp Chi bộ mà
cả hai đều là thành viên trong đó
Người tham gia giao tiếp: Trong hội thoại, số lượng người tham gia có ảnh
hưởng lớn đến hình thức và nội dung cuộc thoại Hai người tham gia hội thoại
sẽ có song thoại; ba người tham gia tương ứng với hình thức tam thoại; hình thức đa thoại bao gồm trên ba người tham gia cuộc thoại Tuy nhiên song thoại vẫn là dạng cơ bản nhất của hội thoại
Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại (còn gọi là thoại nhân) cũng làm nên cái khác biệt của các cuộc thoại Đó là tính chủ động hay
bị động của các đối tác(còn gọi là đối ngôn); sự vắng mặt hay có mặt của vai nghe trong hội thoại Theo đó, vị thế giao tiếp của thoại nhân sẽ trở thành nhân tố nhằm duy trì, thúc đẩy hoặc kết thúc cuộc thoại
Đích thoại: Mỗi cuộc thoại đều hướng tới một đích nào đó Tuy nhiên
không phải lúc nào đạt được mục đích đã đặt ra Có những cuộc thoại có đích
rõ ràng, các nhân vật giao tiếp hướng về nội dung nhằm vào đích đã định sẵn nhưng cũng có những trường hợp ngẫu hứng không có mục đích nào cả
Tính quy thức và phi quy thức: Các cuộc thoại còn khác nhau ở tính có hình
thức hay không có hình thức Những hội nghị, cuộc họp ,…có hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng quy định về nhiều yếu tố, các nhân vật giao tiếp phải tuân thủ theo những quy tắc đặt ra Những giao tiếp trong đời sống sinh hoạt thường nhật thì không cần một hình thức tổ chức nào cả, người tham gia
có lời nói và tâm lý khá thoải mái, bộc lộ những nét tâm lý tự nhiên nhất
Trang 18Hoạt động người phát tạo ra diễn ngôn và hướng diễn ngôn của mình đến người nhận Hoạt động này được gọi là hoạt động trao lời Để hội thoại có chiều hướng phát triển thì dĩ nhiên phải có sự trao đáp Đó là qúa trình người nhận tin chuyển thành người phát tin
Sự tương tác xảy ra khi các nhân vật giao tiếp trao và nhận thông tin luân phiên Mối quan hệ của các nhân vật giao tiếp thể hiện trong sự tương tác hội thoại theo chiều hướng nào sẽ được thể hiện rõ trong cách xưng hô Thậm chí
do có sự tương tác trong hội thoại mà nhiều đoạn thoại có sự thay đổi liên tục cách xưng hô thể hiện sự tác động qua lại liên tục và mạnh mẽ giữa các nhân
vật tham gia giao tiếp
1.1.1.3 Quy tắc hội thoại
Cuộc thoại muốn diễn ra theo chiều hướng như mong muốn đòi hỏi có những quy tắc nhất định của nó:
a Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời
Khi tham gia cuộc hội thoại các Sp phải có sự luân phiên về lượt lời, đổi nhau về vai nói và vai nghe Các lượt lời nói có thể được một người điều chỉnh hoặc do các đối ngôn tự thương lượng ngầm với nhau Nếu các nhân vật không theo nguyên tắc này thì cuộc thoại không thể tiếp tục, gây ra những căng thẳng trong lời nói và tâm lý của người tham gia cuộc thoại Do đó mục đích cuộc thoại sẽ không thể đạt được
b Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại
Cuộc thoại mang tính chất xây dựng khi các nhân vật cùng hướng chung vào
một nội dung, chủ đề Quy tắc này chi phối các phương châm: quan hệ, cách thức trong hội thoại Người phát tin và người nhận tin thông qua những lượt lời của mình nói tới vấn đề đang bàn tới, thực hiện đích giao tiếp mà cuộc thoại hướng tới
c Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự
Theo Đỗ Hữu Châu:“Lịch sự là hiện tượng có tính phổ quát đối với mọi xã hội và trong mọi lĩnh vực…Phép lịch sự là hệ thống những phương thức mà
Trang 19người nói đưa vào hoạt động nhằm điều hòa và gia tăng giá trị của đối tác với mình” [7, tr.280]
Hai bình diện của quy tắc lịch sự là: lịch sự quy ước và lịch sự chiến lược
- Lịch sự quy ước
Mỗi một cộng đồng xã hội hay tổ chức tập thể sẽ có những quy định về nghi thức giao tiếp riêng Đây là một yếu tố có tính chung cho cộng đồng, được tất cả mọi chấp nhận và tuân thủ Nó có ảnh hưởng lớn đối với việc xây dựng và chiều hướng phát triển của cuộc thoại Khi giao tiếp với bất kì một cộng đồng nào chúng ta đều phải tìm hiểu những đặc trưng, thói quen của họ trong đó có cách xưng hô
Việc xưng hô trong giao tiếp của người Việt phải được chú ý để thỏa mãn quan hệ liên cá nhân theo hai trục quan hệ (quan hệ vị thế và quan hệ thân – sơ) đồng thời cũng phải thỏa mãn truyền thống “xưng khiêm hô tôn” của người Việt
- Lịch sự chiến lược
Khác với lịch sự quy ước, lịch sự chiến lược được thực hiện trong từng cuộc thoại cụ thể.Nó là một trong những cách thức để nhân vật giao tiếp thực hiện mục đích Họ có những“chiến lược”riêng khiến cho chiều hướng cuộc thoại diễn ra như mong muốn
Nguyên tắc lịch sự liên quan trực tiếp đến thể diện của những người tham gia hội thoại.P.Brown và S.Levison phân biệt dựa vào bản chất của thể diện, cho rằng có hai loại thể diện: dương tính và âm tính Thể diện dương tính là
sự cần được người khác thừa nhận, thường là quý mến, được đối xử như một thành viên trong nhóm xã hội Thể diện âm tính là sự cần được độc lập, có tự
do trong hành động, không bị áp đặt bởi người khác G.Yule cho rằng: “thể diện âm tính là nhu cầu được độc lập còn thể diện dương tính là nhu cầu được liên thông với người khác.”[27, tr 264]
“Xưng khiêm hô tôn” được xem là một biện pháp của lịch sự quy ước nhằm
đề cao thể diện của người tham gia hội thoại Đối với lịch sự chiến lược, để
Trang 20thỏa mãn nguyên tắc lịch sự, các nhân vật giao tiếp phải tránh đề cập đến các
đề tài có thể đe dọa đến thể diện (cả thể diện dương tính và thể diện âm tính) của những người tham gia hội thoại cùng mình
Xét trong quan hệ với thể diện, các hành động ngôn ngữ được chia thành các hành động tôn vinh thể diện như: khen ngợi, khích lệ…và các hành động có nguy cơ đe dọa thể diện như: phê bình, chê bai…Nguyên tắc lịch sự chiến lược gợi ý người giao tiếp tăng cường thực hiện các hành động ngôn ngữ tôn vinh thể diện, giảm thiểu các hành động đe dọa thể diện Khi giao tiếp nếu người phát ngôn cần phải thực hiện các hành động đe dọa thể diện của đối phương thì họ phải có các biện pháp “ bù đắp thể diện” như: Sử dụng các biện pháp nói giảm, nói tránh và các biểu thức ngôn ngữ rào đón hay các biểu thức ngôn hành gián tiếp
Nhưng cũng cần phải chú ý tới việc sử dụng các biểu thức ngôn ngữ nào để đảm bảo tính lịch sự Muốn như vậy cần căn cứ vào tình huống giao tiếp cụ thể, nhất là quan hệ liên cá nhân Ví dụ như với những người ta mới gặp lần đầu không nên cư xử quá thân mật hay tình cảm vì dễ dẫn tới hiểu lầm, nên giữ thái độ lịch sự, xã giao, chừng mực
Nguyên tắc lịch sự chiến lược còn được thể hiện qua phương châm khiêm tốn trong hội thoại Phương châm này thể hiện sự khéo léo của nhân vật giao tiếp Nói chung khi nói chuyện với thái độ khiêm nhường, tôn trọng người đối thoại thì cuộc giao tiếp sẽ đạt hiệu quả cao
1.1.1.4 Cấu trúc hội thoại
a Cuộc thoại
Theo C.K.Orecchioni quan niệm về cuộc thoại như sau: “Để có một và
chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng,trong một khung thời gian - không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng”[32, tr.113]
Trang 21Như vậy cuộc thoại được xem là một quá trình thống nhất trong đó các yếu tố: nhân vật, hoàn cảnh, chủ đề được quy định, gói gọn trong một khoảng không “ đứt quãng”
Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà ranh giới cuộc thoại có thể xác định được hay không Thông thường người ta nhận thấy được các dấu hiệu định ranh giới cuộc thoại như: dấu hiệu mở đầu (chào hỏi, chúc…), dấu hiệu kết thúc (những câu: Vậy nhé!, Tạm biệt!, Rồi, tôi đã hiểu….) Trong thực tế quy định về ranh giới không mang tính chất bắt buộc
b Đoạn thoại
Đoạn thoại là một phần của cuộc thoại bao gồm các diễn ngôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa (thống nhất chủ đề) và về ngữ dụng (thống nhất về đích) Xét về chức năng của các đoạn thoại trong cuộc thoại, có thể phân chia các đoạn thoại trong cuộc thoại thành đoạn mở thoại, đoạn thân thoại, đoạn kết thoại
Đoạn mở thoại và kết thoại có cấu trúc tương đối đơn giản và ổn định, dễ nhận ra hơn cả là đoạn thân thoại Đoạn thân thoại thường có dung lượng lớn hơn và cấu trúc phức tạp hơn Mặt khác, tổ chức của đoạn thoại mở đầu và kết thúc phần lớn được nghi thức hóa và lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố như: hoàn cảnh giao tiếp, các kiểu cuộc thoại, quan hệ liên cá nhân…
Trang 22Dựa vào vai trò, vị trí của tham thoại có thể phân loại tham thoại thành một
số loại sau:
- Tham thoại dẫn nhập là tham thoại có chức năng mở đầu cho một cặp thoại
- Tham thoại hồi đáp là tham thoại có chức năng phản hồi tham thoại dẫn nhập Tham thoại hồi đáp có thể đóng vai trò kết thúc cặp thoại vì thế còn gọi
là “tham thoại hồi đáp- dẫn nhập”
- Tham thoại có chức năng ghép là tham thoại kiêm nhiệm đồng thời hai chức năng, vừa là tham thoại hồi đáp cho cặp thoại này, lại vừa đóng vai trò
dẫn nhập cho một cặp thoại khác
e Lượt lời
Lượt lời là chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra kể từ lúc bắt đầu đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi ngôn ngữ của mình Không thể đồng nhất lượt lời với tham thoại Một lượt lời có thể bằng, lớn hơn hoặc nhỏ hơn một tham thoại (tham thoại gồm nhiều lượt lời)
1.1.2 Lí thuyết giao tiếp
Hoạt động giao tiếp đã diễn ra song song với sự xuất hiện của con người và bằng nhiều phương tiện khác nhau Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa con người (nhóm người) với con người (nhóm người), trong đó diễn ra sự trao đổi thông tin (hiểu rộng) đồng thời thể hiện thái độ đánh giá, cách ứng xử của các nhân vật giao tiếp đối với nội dung giao tiếp và giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Có 5 nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp:
nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp và cách thức giao tiếp
1.2.2.1 Nhân vật giao tiếp
Bất kì một hội thoại nào cũng cần đến sự có mặt của nhân vật giao tiếp
Theo Đỗ Hữu Châu: “Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn
Trang 23ngữ ”[7, tr 15] Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong quá trình
giao tiếp, có thể thúc đẩy hoặc tự kết thúc cuộc thoại Do đó, đây chính là linh hồn của cuộc thoại Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và
quan hệ liên cá nhân Cụ thể là:
a Vai giao tiếp
J.Lyons cho rằng:“Vai giao tiếp chính là cương vị xã hội của một cá
nhân nào đó trong một hệ thống các quan hệ xã hội Vai được hình thành trong quá trình xã hội hóa các nhân vật”[32, tr 30]
Để tiến hành giao tiếp, các thành viên tham gia giao tiếp phải xác lập vị thế giao tiếp của mình, tức là đóng một vai trong hệ thống giao tiếp Một nhân vật không chỉ có duy nhất một vai mà mang nhiều vai trong nhiều mối quan hệ xã hội hay thân sơ Ví như trong gia đình người đàn ông có thể là con đối với cha
mẹ, chồng đối với vợ, cha đối với con cái nhưng khi ra ngoài xã hội người đó còn thêm rất nhiều vai khác nữa: một nhân viên nơi làm việc, một học viên trên giảng đường, khách hàng khi đi vào siêu thị…Sự phong phú trong các vai giao tiếp từ đó cũng tạo nên sự phong phú trong cách xưng hô của mỗi cá nhân
b Quan hệ liên cá nhân
Về quan hệ liên cá nhân, Đỗ Hữu Châu cho rằng:“Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau”[7, tr 17]
Quan hệ liên các nhân giữa các nhân vật giao tiếp được xác định theo hai trục quan hệ : quan hệ quyền uy và quan hệ thân sơ
- Xét về quan hệ quyền uy,giữa các nhân vật giao tiếp có thể có:
+ Quan hệ ngang vai: quan hệ giữa những người có tuổi tác, vị thế trong gia đình, xã hội bình đẳng với nhau Ví dụ như quan hệ bạn bè
+ Quan hệ không ngang vai: quan hệ giữa những người có tuổi tác, vị thế trong gia đình, xã hội không bình đẳng với nhau Quan hệ không ngang vai có thể được phân biệt tiếp thành:
Trang 24Quan hệ trên vai: quan hệ giữa những người phát có tuổi tác, vị thế trong gia đình, xã hội thấp hơn người nhận Ví dụ như: quan hệ giữa con cái trong giao tiếp với bố mẹ, ông bà hoặc học sinh, sinh viên với thầy cô giáo…
Quan hệ dưới vai: quan hệ giữa người phát có tuổi tác, vị thế trong gia đình,
xã hội cao hơn người nhận
- Xét về quan hệ thân sơ, giữa các nhân vật giao tiếp có thể có quan hệ thân thiết hoặc xa lạ Nên chú ý mức độ thân cận có thể tỉ lệ thuận với mức độ hiểu biết về nhau của những người giao tiếp nhưng không nhất thiết là đã hiểu nhau thì sẽ thân nhau Có khi những kẻ tử thù với nhau lại hiểu nhau rất kĩ Trục thân sơ là trục đối xứng, có nghĩa là trong quá trình giao tiếp nếu SP1 dịch gần lại SP2 thì SP2 cũng dịch gần lại SP1(tất nhiên trừ trường hợp có người không cộng tác, chối từ sự biến đổi đó) và ngược lại Qua thương lượng
có thể thay đổi khoảng cách
Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung giao tiếp và hình thức của diễn ngôn do đó xưng hô chịu áp lực rất mạnh từ quan hệ này Nhờ việc sử dụng từ xưng hô mà vai nghe biết được vai nói xác định quan hệ
vị thế và quan hệ xã hội với mình như thế nào Trong tiếng Việt, lựa chọn và
sử dụng từ xưng hô được coi như là một chiến lược trong việc thiết lập quan
hệ liên cá nhân trong hội thoại
1.2.2.2 Mục đích giao tiếp
Mục đích giao tiếp là ý đồ, ý định mà các nhân vật giao tiếp đặt ra trong một cuộc giao tiếp nhất định Mục đích giao tiếp là yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động giao tiếp, nó chi phối gần như toàn bộ các nhân tố khác Mục đích giao tiếp cũng là yếu tố quan trọng chi phối việc sử dụng từ xưng hô Vì thế khi tiếp xúc các tác phẩm văn học, người đọc dễ dàng phân tích được thái
độ, ý đồ hay mục đích của từng nhân vật giao tiếp thông qua cách xưng hô của họ trong những ngữ cảnh khác nhau, từ đó rút ra được ý đồ, tư tưởng của tác giả Những mục đích đó có thể là: thuyết phục, sai khiến…
Trang 251.2.2.3 Nội dung giao tiếp
Là sự vật, hiện tượng, tư tưởng, tình cảm hay một vấn đề nào đó (được gọi
là thực tế khách quan) được các nhân vật giao tiếp bàn đến Nó trả lời cho câu hỏi: Nói (viết) về cái gì? Hiện thực, thực tế khách quan vô cùng phong phú và tồn tại độc lập bên ngoài các nhân vật giao tiếp Người phát trước khi giao tiếp phải có quá trình nhận thức thực tế khách quan Thực tế khách quan khi trở thành nội dung giao tiếp chính là những hiểu biết chủ quan của người phát
về nó
Nội dung giao tiếp luôn chịu sự chi phối bởi các nhân tố khác: Nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp
1.2.2.4 Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm: giao tiếp hẹp (thời gian, không gian cụ thể)
và giao tiếp rộng (đặc điểm xã hội, lịch sử, văn hóa…) Nhân tố này trả lời cho câu hỏi: Giao tiếp ở đâu? Khi nào? Hoàn cảnh giao tiếp chi phối việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ thể hiện Nghĩa là trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, các nhân vật phải lựa chọn cách giao tiếp tương ứng với những lời nói thích hợp nhất để tạo ra hiệu quả giao tiếp như mong muốn Muốn vậy trước khi phát ngôn người nói phải hiểu thấu hoàn cảnh đồng thời
có vốn hiểu biết về ngôn ngữ sử dụng
Trong hoàn cảnh giao tiếp người ta đặc biệt chú ý đến sự tồn tại của tính quy thức và phi quy thức trong giao tiếp qua những biểu hiện ngôn ngữ của các vai giao tiếp
Tính quy thức được hiểu là những yêu cầu, những quy tắc, những nghi lễ… trong những hoàn cảnh giao tiếp hẹp (không gian, thời gian cụ thể để cuộc giao tiếp diễn ra như trong các nghi lễ ngoại giao, tôn giáo, trong công sở, nhà trường…) Đây là các nghi thức mang tính quy phạm, có chuẩn mực chung
mà các thành viên tham gia giao tiếp ngầm hiểu và tôn trọng thực hiện chúng
Trang 26Ngược lại, tính phi quy thức là những hành vi giao tiếp ngoài xã hội, nơi mà những hoạt động giao tiếp diễn ra không chịu ảnh hưởng chi phối của quy tắc, luật
lệ nào Các vai giao tiếp được tự do, thoải mái bộc lộ theo cách của riêng mình Tính quy thức / phi quy thức của hoàn cảnh giao tiếp còn ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn và sử dụng các từ xưng hô, “nó có mối quan hệ rất chặt chẽ với các chức năng của từ xưng hô cũng như vị thế xã hội và quyền uy của nhân vật giao tiếp" [27, tr 43] Do đó, có thể nói trong hệ thống từ xưng hô chúng
ta có thể xét đến từ ngữ xưng hô có tính quy thức và từ xưng hô không có tính quy thức
Ở những người có vị thế ngang bằng nhau như bạn bè, việc sử dụng từ ngữ xưng hô ít tính quy thức hơn Còn xưng hô ở vị thế không ngang bằng thì vai giao tiếp (nhất là vai thấp hơn) thường có lối xưng hô quy thức, chuẩn mực,
"xưng khiêm hô tôn"
Các đại từ xưng hô thực thụ trong tiếng Việt (trừ đại từ tôi/tui) phần lớn ít có tính quy thức Các danh từ thân tộc (ông, bà, cô, chú, anh,…) đang chiếm ưu thế trong các giao tiếp xã hội cùng các danh từ chỉ chức vụ,nghề nghiệp (giáo sư,bác sĩ,thầy giáo,…) mang tính quy thức cao trong hoạt động giao tiếp
Trong khi đó, danh từ chỉ tên riêng lại mang tính chất trung gian và thường phải căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà xác định tính quy thức hay
phi quy thức
1.2.2.5 Cách thức giao tiếp
Là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong khi giao tiếp Người nói, người viết phải lựa chọn ngôn ngữ thích hợp, lựa chọn hình thức thể hiện văn bản, lựa chọn cách nói, cách viết thích hợp Cách thức giao tiếp bị chi phối bởi nội dung giao tiếp, nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp
1.2.3 Lí thuyết về chiếu vật và chỉ xuất
1.1.3.1 Chỉ xuất
Theo G.Yule, “chỉ xuất là một thuật ngữ chuyên môn dành cho một trong
số nhiều những cái cơ bản mà chúng ta làm khi tạo ra các phát ngôn Nó có
Trang 27nghĩa là “chỉ ra” thông qua ngôn ngữ Bất cứ một hình thái ngôn ngữ nào được dùng để thực hiện sự chỉ ra này đều được gọi là một biểu thức chỉ xuất”[33, tr 35]
Trong các ngôn ngữ đều tồn tại ba phạm trù chỉ xuất là:phạm trù ngôi (nhân
xưng), phạm trù chỉ xuất thời gian, phạm trù chỉ xuất không gian Ngoài ra còn phạm trù chỉ xuất xã hội thường được thực hiện kèm với phạm trù nhân xưng Trong luận văn này, chúng tôi tập trung đi sâu vào phạm trù xưng hô
(ngôi) để làm cơ sở cho việc tìm hiểu cách xưng hô
1.1.3.2 Xưng hô là gì?
Theo tác giả Phạm Ngọc Thưởng:
“Xưng là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói,để người nghe biết rằng mình đang nói và mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình Đó là hành động tự quy chiếu của người nói (ngôi 1).Hô là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong lời nói (ngôi 2) ”[23, tr 12]
Theo Bùi Minh Yến, “Khái niệm xưng hô được ý thức như là một hành vi ngôn ngữ có chức năng xác lập vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp và tương quan tâm thế giữa họ với nhau trong quá trình giao tiếp Khi thực hiện chức năng này, hành vi ngôn ngữ xưng hô đồng thời đảm nhận nhiệm vụ khởi sự tạo sự tương tác ngôn ngữ cho cuộc thoại, điều chỉnh cuộc thoại theo đích đã định, bảo đảm hiệu lực hành vi” [29, tr 17]
Xưng hô có vai trò quan trọng trong giao tiếp Nó thể hiện vị thế giao tiếp của các nhân vật đồng thời phần nào nói lên tính cách của các nhân vât giao tiếp Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố chi phối cách sử dụng từ ngữ xưng hô trong giao tiếp:
- Xưng hô phải thể hiện vai giao tiếp Dựa vào việc dùng từ xưng hô mà người nghe biết được người nói đặt mình trong quan hệ và vị thế xã hội như thế nào
Trang 28- Xưng hô phải thể hiện quan hệ quyền uy Đó cũng là cách thể hiện sự tôn trọng đối với vai có địa vị cao hơn mình hoặc thể hiện vai trò, ảnh hưởng đối với vai thấp hơn mình trong giao tiếp
- Xưng hô phải thể hiện quan hệ thân cận Cách xưng hô này sử dụng chủ yếu trong giao tiếp gia đình hay những giao tiếp ngoài xã hội đã được
“thương lượng” hoặc dùng những xưng hô mang xu hướng “gia đình hóa”
- Xưng hô phải phù hợp với ngữ vực Mỗi một từ xưng hô nếu có một ngữ điệu thể hiện cho phù hợp sẽ làm tăng hiệu lực giao tiếp
- Xưng hô phải thích hợp với thoại trường Yêu cầu này cho thấy, cùng một
từ ngữ xưng hô nhưng ở trong những hoàn cảnh khác nhau lại mang nghĩa khác nhau Do đó, từ ngữ xưng hô cũng phải biến đổi linh hoạt cho thích nghi với hoàn cảnh giao tiếp
- Xưng hô phải thể hiện tình cảm của người nói đối với người nghe Trong giao tiếp “người nói thường hướng hai thái độ tới người đối thoại: lịch sự hay không lịch sự mà từ đó lựa chọn từ ngữ xưng hô tương ứng”[7, tr 79]
Do xưng hô là một hành vi ngôn ngữ, nên tùy theo sự thay đổi của sáu nhân
tố trên trong hoàn cảnh cụ thể, mà các đối tượng tham gia giao tiếp sẽ lựa chọn những từ ngữ xưng hô thích hợp để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất Trong giao tiếp, xưng hô không phải là yếu tố cố định, bất biến, mà có sự thay đổi theo lịch sử, theo diễn biến của cuộc giao tiếp
Tóm lại, xưng hô là một hành vi ngôn ngữ mà ở đó các nhân vật giao tiếp dùng biểu thức quy chiếu để đưa mình và người đối thoại vào trong lời nói
1.1.3.3 Các phương tiện dùng để xưng hô
a Đại từ nhân xưng
Trong các phương tiện dùng để xưng hô, đại từ nhân xưng là phương tiện
có mặt ở tất cả các ngôn ngữ trên thế giới Tuy nhiên ở Việt Nam, việc phân chia đại từ nhân xưng thành các ngôi vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi
Tác giả Diệp Quang Ban nói về đại từ xưng hô như sau: “Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp.”
Trang 29[1,tr.111] Theo ông, đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người,vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi (đại từ xưng hô ở một ngôi xác định: ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3 và đại từ xưng hô dùng ở nhiều ngôi linh hoạt) Theo tác giả Phạm Ngọc Thưởng thì “Những đại từ nào chỉ rõ vai nhân vật tham gia trực tiếp vào hành vi xưng hô mới được gọi là những đại từ xưng hô
thực thụ” [23, 45] Để phân biệt ranh giới giữa xưng hô và đại từ,Benveniste
gọi ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai là các đại – nhân vật và ngôi thứ ba là đại –
danh từ Do đó, trong tiếng Việt, những đại từ chỉ ngôi thứ nhất (tôi, tao, tớ…) và đại từ chỉ ngôi thứ hai (mày, mi…) mới được coi là đại từ xưng hô
thực thụ
Theo ý kiến của các nhà Ngôn ngữ học, trong hệ thống từ ngữ xưng hô tiếng Việt, đáng chú ý là sự xuất hiện của từ ngữ xưng hô chuyên ngôi và kiêm ngôi Những từ ngữ chuyên ngôi là những từ chỉ được dùng cho một ngôi
nhất định (ví dụ: tôi, tao, mày, tớ….) Kiêm ngôi là những từ ngữ được dùng
ở nhiều ngôi (ví dụ: mình, người ta…) Tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà các
phương tiện được dùng để xưng hô sẽ đảm nhiệm các ngôi khác nhau
Cũng như một số ngôn ngữ khác trên thế giới Tiếng Việt còn có đại từ xưng
hô ngôi thứ nhất số nhiều bao gộp và không bao gộp Đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số nhiều bao gộp là đại từ chỉ một nhóm người (cả người nói và người
nghe) cùng hướng tới một hành vi (ví dụ: chúng ta…) Đại từ xưng hô ngôi
thứ nhất số nhiều không bao gộp là đại từ chỉ một nhóm người cùng hướng tới
một hành vi nhưng không bao gồm người nghe (ví dụ: chúng tao, chúng tôi, bọn tui…) Đại từ xưng hô chúng mình được dùng ở ngôi thứ nhất số nhiều
bao gộp và không bao gộp
b.Danh từ thân tộc
Trong gia đình, họ tộc có lớp từ biểu thị quan hệ huyết thống và chúng cũng chính là những từ dùng để xưng hô trong giao tiếp Theo Đỗ Hữu Châu các danh từ thân tộc có thể được chia thành ba nhóm:
Trang 30- Nhóm 1: u, bầm, bủ, cha, má,mạ…( dùng để xưng hô)
- Nhóm 2: anh, chị, em, cậu,cháu…(dùng để xưng hô và để miêu tả quan hệ)
- Nhóm 3: anh trai, em gái, chị dâu, anh rể…(dùng để miêu tả quan hệ) [7,
tr 76]
Trong đó, các danh từ nhóm 1 và nhóm 2 được dùng để xưng hô,nhóm 3 chỉ
có chức năng miêu tả Do đại từ xưng hô trong tiếng Việt chiếm số lượng không nhiều và hạn chế về phạm vi hoạt động, nên chúng thường chỉ được dùng với sắc thái biểu cảm (thân mật hay thô tục, khinh thường…) Bên cạnh
đó, danh từ thân tộc thường được sử dụng nhiều ở ba sắc thái biểu cảm: lịch
sự (khi các nhân vật giao tiếp làm quen với nhau…); trung hòa, vừa phải (chủ yếu dùng với chức danh miêu tả); thân mật, suồng sã (khi các nhân vật đã có mối quan hệ thân thiết hoặc phục vụ chiến lược giao tiếp cá nhân Cũng có khi kèm theo ngữ điệu lời nói được dùng ở sắc thái thô tục,khinh thường, mỉa mai…)
Trong tiếng Việt, danh từ thân tộc làm phương tiện xưng hô không chỉ được
sử dụng trong gia đình mà còn được sử dụng rộng rãi và chiếm ưu thế trong các mối quan hệ xã hội, giới nghiên cứu gọi đó là xu hướng “gia đình hóa”các
danh từ thân tộc trong xưng hô
c Danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ
Danh từ chỉ nghề nghiệp,chức vụ được dùng làm xưng hô thường trong hoàn cảnh giao tiếp có tính quy thức để miêu tả đối tượng giao tiếp Chúng thường được sử dụng trong giao tiếp ngoài xã hội hoặc công sở Lớp từ ngữ này có khả năng chiếu vật lớn và ít chịu ràng buộc bởi một quy định cụ thể nào
Trong tiếng Việt, khi giao tiếp, lớp từ chỉ nghề nghiệp (như:bác sĩ, công nhân, ca sĩ, kĩ sư, sinh viên…) thường không đứng một mình Người ta ít sử dụng các phát ngôn kiểu như: ca sĩ ấy, sinh viên kia… mà phải có các danh từ thân tộc đi kèm, như: cô ca sĩ ấy, anh sinh viên kia ơi…Việc kết hợp này không chỉ tạo sự thân mật, mà còn mang ý nghĩa miêu tả, chỉ thị đối tượng
Trang 31Khác với từ ngữ chỉ nghề nghiệp, những từ ngữ chỉ chức vụ có thể được dùng để xưng hô mà không phải thêm yếu tố hay điều kiện nào Chúng ta có
thể nói: Em chào giám đốc!, Đội trưởng khỏe không ạ!, Sếp có ở trong phòng không ? Song những từ ngữ chỉ chức vụ thấp ít khi được dùng để xưng hô,
nhất là ở ngữ cảnh giao tiếp không quy thức, khi người đối thoại có chức vụ thấp hơn mình Đây có thể là cách tránh xúc phạm tới thể diện của người đối thoại
Ngoài ra, chúng ta có thể nhận thấy các từ ngữ xưng hô chỉ quan hệ thân tộc (và các đại từ xưng hô) thường kết hợp với nhau theo từng cặp tương ứng
như: ông- bà; ông, bà- con, cháu; cha, mẹ- con; anh- chị…Tuy nhiên, những
từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp được lâm thời dùng để xưng hô lại không có cặp
tương ứng như vậy Ví dụ với các từ: chủ tịch- ,giáo sư - …chúng ta khó mà
tìm được một từ ngữ nào có tính tương ứng để tạo thành cặp với các từ trên
d Họ và tên riêng
Cấu trúc đầy đủ của họ tên người Việt gồm ba yếu tố: họ + tên đệm
(lót) + tên riêng Tuy nhiên, vì “vai trò của tên lót không có tính bắt buộc nên
nhiều khi có thể vắng mặt" [3, tr 94] Chúng ta bắt gặp nhiều tên của người
Việt khá đơn giản như: Lê Văn, Nguyễn Khuyến, Phạm Tuân…Việc sử dụng
họ tên riêng của người để xưng hô ở Việt Nam cũng mang những dấu ấn văn hóa - xã hội của từng giai đoạn lịch sử cụ thể
Trong tiếng Việt, cả ba yếu tố (họ + tên đệm + tên riêng) đều có thể đứng độc lập làm từ xưng hô Tuy nhiên, mức độ và phạm vi sử dụng của chúng cũng khác nhau:
- Dùng họ để xưng hô chủ yếu phổ biến trong xã hội phong kiến Hiện nay, cách xưng hô này chỉ tồn tại trong giao tiếp của người nước ngoài ở Việt Nam Ví dụ
như: anh Trần, ngài Nguyễn…
- Yếu tố đệm thường chỉ mang tính chất “trang trí” hay phân biệt giữa những người trùng họ, trùng tên nhưng khác tên đệm Cách gọi “tên đệm + tên
Trang 32riêng” thường dùng chủ yếu trong môi trường giáo dục, công sở giúp phân biệt đối tượng học sinh, nhân viên Ví dụ: một ban trong lớp cầm bức thư vào
lớp nói: “Mời bạn Thu Hương ra lấy thư,bạn Lan Hương chưa có nhé!”
- Việc dùng tên riêng để xưng hô khá phổ biến trong giao tiếp của người Việt, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: hoàn cảnh giao tiếp, mối quan hệ giữa các cá nhân…Xưng hô bằng tên riêng giúp tạo sự thân mật và đạt hiệu quả giao tiếp cao Tuy nhiên, trong hoàn cảnh giao tiếp có tính quy thức và đối với những người có vị thế xã hội cao hơn mình hay căn cứ vào chức vị trong gia đình…mà chủ thể giao tiếp thường có sự kết hợp “danh từ thân tộc,
danh từ quan hệ xã hội + tên riêng” Ví dụ: anh Thắng, chú Mừng…
e Những cách xưng hô khác
Ngoài các từ ngữ kể trên,trong tiếng Việt còn sử dụng một số kiểu loại từ ngữ khác lâm thời làm phương tiện xưng hô Tính lâm thời thể hiện ở nhóm này khá rõ nét: Nếu tách các yếu tố này khỏi ngữ cảnh thì ta khó xác định được vai trò của yếu tố đó (nhất là đối với các cụm từ lâm thời làm phương tiện xưng hô)
Một số từ ngữ thuộc kiểu loại xưng hô khác được chủ thể giao tiếp sử dụng khá rộng rãi, đó là:
- Từ ngữ chỉ định (hoặc có yếu tố chỉ định): đây, ấy, đằng ấy, đằng này,…
- Từ ngữ chỉ quan hệ xã hội ngoài gia đình: bạn, đồng chí, ngài…
- Từ ngữ chỉ trạng thái, tính chất (hoặc có yếu tố chỉ trạng thái, tính chất): đồ con lợn, súc vật nhơ bẩn, ranh con…
- Từ vay mượn: moa, choa…
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM TRONG VĂN HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN XƯNG HÔ
1.2.1 Hội thoại trong tác phẩm văn học
Hội thoại văn học là sáng tạo của nhà văn dựa trên sự mô phỏng hội thoại đời sống Hội thoại văn học càng gần với đời sống thì càng chân thực, sinh động
Trang 33Tuy nhiên, hội thoại trong tác phẩm văn học không phải là sự sao chép nguyên xi hội thoại đời sống Nhân vật nói như thế nào, ở đâu, tất cả tùy thuộc vào sự sắp xếp của nhà văn Nghĩa là hội thoại đời sống khi đi vào văn học đã được nhà văn tổ chức, sáng tạo lại sao cho nói lên được nhiều nhất, sâu sắc nhất ý đồ nghệ thuật của mình Do bản chất tuyến tính của ngôn ngữ nên
sự chồng chéo lượt lời lên nhau của các nhân vật giao tiếp trong một thời điểm nhất định không thể được tái hiện đầy đủ Hội thoại trong văn học có nhiều chức năng, trong đó có một số chức năng cơ bản như: chức năng khắc họa đặc điểm nhân vật, chức năng cá thể hóa thể tình huống, chức năng đồng quy chiếu, chức năng liên cá nhân, chức năng thẩm mỹ…
Trong hội thoại, nhân vật bị chi phối bởi các nhân tố giao tiếp Chính cách nhân vật hành xử nói năng trực tiếp làm cho nhân vật hiện ra là chính mình (chứ không phải như người khác nghĩ về nhân vật) với tất cả những đặc điểm tốt, xấu không thể che đậy về tính cách, cá tính,tâm lý, trình độ, lối sống…Ngoài ra, lượng thông tin bổ sung trong hội thoại tham gia tích cực vào khắc họa đặc điểm nhân vật Nhiều khi không cần phải miêu tả diện mạo, xuất thân, thành phần xã hội của nhân vật; chỉ cần thông qua hội thoại ta có thể nhận ra đâu là kẻ xảo quyệt, đâu là tên lưu manh, đâu là người lương thiện, đâu là kẻ thô lỗ ít học, đâu là người trí thức có văn hóa…Cũng qua hội thoại mà người đọc biết được thực trạng cuộc sống cũng như trạng thái tâm lý của nhân vật nhiều khi mâu thuẫn trái ngược với chính bản chất, tính cách của nhân vật
1.2.2 Ngôn từ nghệ thuật
Ngôn từ nghệ thuật là loại ngôn ngữ dùng để biểu đạt nội dung hình tượng
của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
M Gorki gọi đây là yếu tố thứ nhất của văn học và coi nó là công cụ chủ yếu của tác phẩm văn học Bởi xét về chất liệu, khi sáng tác văn học,nhà văn buộc phải sử dụng ngôn từ như một chất liệu, biện pháp Nhà văn thông qua
Trang 34ngôn ngữ mà thể hiện cảm xúc của mình, thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn, vừa có tính trực giác, vừa có tính cá thể Ngôn từ nghệ thuật khác với ngôn từ thông thường ở chỗ được sử dụng với chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ; trong khi đó ở các dạng thức khác của lời nói, chức năng này chỉ biểu lộ thất thường Trong giao tiếp thông thường, người ta có thể nói bằng nhiều cách để diễn đạt một ý Trong nghệ thuật, nhà văn hoàn thiện văn bản, tạo thành lời văn ngôn từ nghệ thuật duy nhất hợp với
Ngôn ngữ nghệ thuật là hình thức của tác phẩm văn học, nó phản ánh nội dung của tác phẩm đồng thời thể hiện ý đồ và bộc lộ tài năng của tác giả Muốn thấy được cái ẩn chứa bên trong một tác phẩm văn học chúng ta cần tìm hiểu cách tổ chức của yếu tố thứ nhất trong tác phẩm văn học: ngôn từ nghệ thuật
1.2.3
Theo Lí luận văn học,
Trang 35
,
n,
, :
, ,
: Chị Dậu, Lão Hạc, Chí Phèo
Trang 361.2.5 Hình tượng nhân vật
Theo Từ điển văn học : “Nhân vật văn học là thuật ngữ chỉ hình tượng
nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại trọn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người,nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người” [30,tr 25])
Trang 37Nhân vật là linh hồn của tác phẩm văn học Một tác phẩm để lại tiếng vang cần phải có những hình tượng nhân vật độc đáo Khi tiếp cận một tác phẩm văn chương người nghiên cứu luôn chú ý tới số phận, xúc cảm, suy tư của những đối tương mà nhà văn thể hiện Nhà văn Tô Hoài cũng có quan điểm đồng nhất về vai trò quan trọng của nhân vât khi cho rằng: “Nhân vật là nơi
duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác.”
Hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học cho dù lấy từ nguyên mẫu ngoài đời hay không cũng không bao giờ giống nhân vật trong cuộc sống thực Đó phải là hình ảnh của những con người được nhà văn ghi nhớ (nhận thức), và rồi thể hiện (kể lại, tả lại) bằng nghệ thuật ngôn từ và mang đậm dấu
ấn phong cách của nhà văn Ví dụ như khi nghiên cứu về văn xuôi của nhà văn Nam Cao giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám ta thấy xuất hiện hình tượng nhân vật điển hình, đó là những người nông dân bần cùng đói khổ và bị bọn quan lại phong kiến, thực dân chèn ép Qua nhân vật mình sáng tạo, nhà văn muốn thể hiện những con người xã hội nhất định và quan niệm nghệ thuật về những cá nhân đó Tóm lại, nhân vật được nói đến là phương tiện để khái quát tính cách, số phận con người và các quan niệm về con người của nhà văn trong một hoàn cảnh đời sống, lịch sử xã hội nhất định
Để xây dựng được những nhân vật trọn vẹn ấy ở văn học trong giới hạn khả năng nghệ thuật ngôn từ, nhà văn thường khắc họa con người với toàn bộ đặc điểm về ngoại hình và nội tâm (nét mặt, dáng người, tên riêng, lối nghĩ, hành động, thế giới tinh thần, tâm hồn…) Những đặc điểm này lại rất gần với tính cách nhân vật Vì vậy, khi phân tích hình tượng nhân vật, chúng ta cần tìm hiểu về tính cách - một trong những thành tố cơ bản trong dấu ấn tư tưởng của nhà văn trong tác phẩm văn học
Tính cách của nhân vật trong ý nghĩa rộng nhất, chung nhất là sự thể hiện các phẩm chất xã hội lịch sử của con người qua việc miêu tả các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lí của họ Tính cách có một hạt nhân là
Trang 38sự thống nhất của cá tính và cái chung của xã hội lịch sử Nhưng người ta chỉ gọi là tính cách những người mà sự thống nhất kia biểu hiện một cách “nổi bật”, các phẩm chất xã hội lịch sử của nó Tính cách ấy là hiện tượng nổi bật của đời sống con người Arixtốt viết: “Tôi hiểu tính cách là cái lí do mà ta gọi nhân vật bằng một tên nào đó…Nhân vật sẽ có tính cách, nếu trong lời nói hay hành động bộc lộ một khuynh hướng ý chí nào đó, bất kể nó tốt xấu như thế nào…Trong các tính cách bao giờ cũng cần tìm thấy một tính tất yếu hay một tính khả nhiên, mà theo đó, một ai đó nói gì hoặc làm gì, hoặc việc gì đó
xảy ra với họ đều tuân theo tính tất nhiên, khả nhiên đó” [32, tr 23]
Như vậy, tính cách được hiểu như là đặc điểm của nhân vật, khuynh hướng
xã hội và quy luật hành động của nhân vật Đó là nhận thức chung nhất về tính cách như là điều tất yếu phải miêu tả đối với mọi nhân vật trong văn học Tính cách đó được thể hiện trong toàn bộ sự miêu tả nhân vật, nhưng trước hết là trong các “công thức” giới thiệu nhân vật
Gắn với sáng tác ngôn từ của các thời đại khác nhau, nhân vật văn học với những nét tính cách tiêu biểu in dấu xu hướng tiến hóa của tư duy nghệ thuật
Ví dụ, tiểu biểu cho sử thi là nhân vật lý tưởng hóa; trong khi cổ tích thường
là nhân vật có số phận bất hạnh; ở chủ nghĩa lãng mạn là kiểu nhân vật bị vò
xé bởi những mâu thuẫn; ở chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX – XX là nhân vật được mô tả trong tính xã hội lịch sử cụ thể, có đời sống tâm lí…
Từ những góc độ khác nhau có thể chia nhân vật văn học thành nhiều kiểu khác nhau:
- Dựa vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm, nhân
vật văn học gồm: chính và phụ
- Dựa vào đặc điểm của tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn, nhân vật văn học gồm: chính diện và phản diện
- Dựa vào thể loại văn học, có các loại nhân vật: tự sự, trữ tình, kịch
- Dựa vào cấu trúc hình tượng, sẽ có các nhân vật: chức năng (hay mặt nạ), loại hình, tính cách, tư tưởng…
Trang 39Có thể nói nhân vật trong tác phẩm là yếu tố rất quan trọng trong việc tìm hiểu nội dung, tư tưởng tác phẩm
1.3 ĐÔI NÉT VỀ PHÙNG QUÁN VÀ TÁC PHẨM TUỔI THƠ DỮ DỘI
1.3.1 Về Phùng Quán và sự nghiệp văn học của ông
1.3.1.1 Cuộc đời Phùng Quán
Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932, mất năm 1995 Quê ở xã Thuỷ Dương,
huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân và là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 101 (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân) Sau đó ông tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV
Đầu năm 1954, Phùng Quán làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội)
Tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo của ông được giải thưởng của Hội Nhà
văn Việt Nam năm 1955.Về quá trình viết tác phẩm này, trong hồi kí “Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào”(do Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007), ông kể nhiều chi tiết rất thú vị về sự ngẫu nhiên và tình cờ đưa ông từ một người lính trở thành một nhà văn và những oan khuất phải gánh chịu nhưng với giọng kể rất hóm hỉnh, không một chút trách móc hay thù hận Không lâu sau đó, Phùng Quán bị liệt vào nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm với hai bài thơ “Lời mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí” (1957) Ông
bị kỷ luật, mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động cải tạo ở nhiều nơi
Năm 1988,cuốn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được xuất
bản và nhận Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam hai năm sau đó Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn sáng tác thơ và có nhiều bài thơ
được nhiều người đọc, như: Hoa sen, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, Hôn…
Trang 40Từ đó đến khi được nhìn nhận, đánh giá lại vào thời kì Đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản Nhà văn phải tìm cách xuất bản một số tác phẩm của mình dưới bút danh khác và câu cá ở Hồ Tây để kiếm sống Vì thế bạn bè nhà văn thường vui đùa gói gọn cuộc đời ông thời kì này bằng sáu chữ: “cá trộm, rượu chịu,văn chui”
Phùng Quán mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà Nội.Sau này mộ ông được đưa về quê nhà tại xã Thủy Dương, thành phố Huế, tỉnhThừa Thiên Huế Năm 2007, Phùng Quán được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng cùng với Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt
1.3.1.2 Sự nghiệp văn học của Phùng Quán
Tuy không có điều kiện thuận lợi dành cho công việc sáng tác văn học nhưng Phùng Quán đã để lại khá nhiều tác phẩm có giá trị
Tác phẩm: Vượt Côn Đảo, tiểu thuyết, 1955 – Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, 2007 Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo, thơ, 1955 - Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, 2007 Thơ Phùng Quán, Nxb Hội
Nhà văn, Hà Nội, 1995
Tuổi thơ dữ dội, tiểu thuyết, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1987 - Giải A văn học
thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam,1988 Năm 1990 được đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn dựng thành phim Giải thưởng Bộ Quốc phòng 2000,Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007
Trăng hoàng cung,Tiểu thuyết thơ, Nxb Thanh Văn, USA 1993 Năm 2007, Nxb Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản Trăng hoàng cung & Phùng Quán viết Trăng hoàng cung (tiểu thuyết tình 13 chương của Phùng Quán &
Hồi ức của nhà văn Hà Khánh Linh) kể về những câu chuyện xung quanh thi phẩm này