1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sáng kiến kinh nghiệm Tập làm văn miêu tả lớp 5

42 2,3K 25
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng kiến kinh nghiệm Tập làm văn miêu tả lớp 5
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc
Chuyên ngành Tập làm văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Kon Tum
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 270,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm Tập làm văn miêu tả lớp 5

Trang 1

Sáng kiến kinh nghiệm:

Moọt soỏ bieọn phaựp reứn kú naờng laứm vaờn mieõu taỷ cho hoùc sinh lụựp Naờm

A Phần mở đầu

I Lí do đề xuất sáng kiến kinh nghiệm

iếng Việt là tiếng phổ thông của dân tộc Việt Trong nhà trờng tiểu học, tiếng Việt là đối tợng mà học sinh cần chiếm lĩnh Đồng thời, Tiếng Việt cũng là một môn học: môn Tiếng Việt Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt

nh nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động lứa tuổi, góp phần rèn luyện các thao tác t duy Môn Tiếng Việt còn cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt Học tiếng Việt, học sinh còn đ-

ợc bồi dỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa

T

Trong chơng trình Tiểu học mới, môn Tiếng Việt đợc chia thành các phân môn, mỗi môn có nhiệm vụ rèn cho học sinh một số kĩ năng nhất định Phân môn Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao nhất Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh cả bốn kĩ năng, trong đó chú trọng vào các kĩ năng nghe, nói, viết Đối với phân môn này, học sinh phải đợc hình thành và rèn luyện năng lực trình bày văn bản (nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau

Qua thực tế giảng dạy tại trờng Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó trong các phân môn của môn Tiếng Việt Để thực hiện đợc mục tiêu của phân môn Tập làm văn là xây dựng các văn bản (nói và viết), học sinh cần huy động tất cả các kiến thức tiếng Việt tiếp thu

đợc qua việc học Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện Trong khi…

đó, học sinh nhà trờng với gần ba phần t là học sinh DTTS nên việc giúp các em

đạt đợc các yêu cầu trên là vấn đề nan giải Học sinh thờng rất ngán học Tập làm văn

Với học sinh lớp Năm, việc rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh là cần thiết Học tốt văn miêu tả sẽ là điều kiện thuận lợi để học sinh học tốt các môn học khác ở Tiểu học và học lên lớp trên

Đối với học sinh dân tộc thiểu số, việc giúp học sinh học làm đợc một bài văn miêu tả sẽ góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho các em, giúp

Trang 2

Nhằm góp phần đổi mới phơng pháp dạy học, nâng cao chất lợng dạy học trong nhà trờng nói chung, dạy học sinh lớp Năm học tốt văn miêu tả nói riêng, tôi đã chọn đề tài:

Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp Năm

II Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài, tôi không có nhiều tham vọng mà chỉ nhằm mục đích góp một phần công sức của mình vào công tác giáo dục của nhà trờng Với việc nghiên cứu đề tài, tôi mong muốn sẽ có đợc bài học kinh nghiệm để có thể áp dụng vào thực tiễn giảng dạy môn Tập làm văn trong trờng Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc nói riêng, ngành giáo dục nói chung Điều này càng có ý nghĩa nếu đề tài thành công sẽ đồng thời là chất lợng học tập của các em học sinh dân tộc thiểu

đợc nhiều kết quả khả quan, góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục của một nhà giáo trong giai đoạn mới

2 Đối tợng nghiên cứu:

Học sinh lớp 5A và 5B trờng Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum Trong quá trình áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, tôi có chú ý phân loại đối tợng học sinh theo trình độ và đối tợng học sinh dân tộc thiểu số

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Chọn đề tài này để nghiên cứu, tôi đề ra những nhiệm vụ cho từng giai

đoạn nh sau:

1 Giai đoạn 1: (Năm học 2007 – 2008):

Trang 3

+ Điều tra phân loại đối tợng học sinh lớp Năm của nhà trờng Từ đó mạnh dạn áp dụng những biện pháp nhằm giúp học sinh yêu thích và học tốt kiểu bài miêu tả trong chơng trình Tiếng Việt lớp Năm

+ Trên cơ sở các giải pháp đã áp dụng, tôi sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm trong dạy học kiểu bài miêu tả cho học sinh lớp Năm

2 Giai đoạn 2: (Năm học 2008-2009)

+ Phát triển sáng kiến kinh nghiệm thành đề tài nghiên cứu Tiếp tục áp dụng những biện pháp nhằm giúp học sinh lớp Năm, nhất là học sinh dân tộc thiểu số yêu thích và học tốt kiểu bài miêu tả

B Nội dung nghiên cứu

+ Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phơng pháp dạy học nhng đôi khi cũng ngại không dám thoát li các gợi ý của sách giáo khoa, sách hớng dẫn vì sợ sai

b Học sinh

- Học sinh cha vận dụng đợc các kiến thức, kĩ năng đã học trong các phân môn của Tiếng Việt, của các môn học khác, của các lớp dới vào học tập môn tập làm văn Chẳng hạn khi dạy cho học sinh cấu tạo một bài văn tả cảnh, giáo viên phải hớng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản mẫu để rút ra nhận xét Trong khi

đó, nếu dựa trên kiến thức đã học về văn miêu tả ở lớp Bốn để hình thành cho học sinh cấu tạo bài văn tả cảnh ở lớp Năm rõ ràng là nhanh hơn

- Học sinh của nhà trờng đa số là học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) Với

đối tợng này, việc học tập của các em gặp một số khó khăn sau:

Trang 4

+ Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh Vốn tiếng Việt của các em rất hạn chế Trong khi đó, việc học kiểu bài miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp Năm lại yêu cầu sử dụng vốn từ ngữ, năng lực t duy rất lớn

+ Vốn từ của học sinh cha phong phú, các em cha hiểu hết nghĩa của từ nên việc vận dụng vào bài làm còn nhiều sai sót

+ Chơng trình tiếng Việt mới có rất nhiều u điểm trong việc phát huy sáng tạo của học sinh nhng lại tơng đối nặng đối với đối tợng học sinh DTTS

+ Đôi lúc, do nhiều nguyên nhân, một số giáo viên vẫn lạm dụng phơng pháp làm mẫu đối với học sinh DTTS dẫn đến tình trạng học sinh nhìn nhau, học thuộc bài văn mẫu

+ Thời gian quy định đối với một tiết học cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hởng đến việc dạy Tập làm văn trong nhà trờng Tiểu học

+ Trong các lớp vẫn còn rải rác một số học sinh học yếu, cá biệt có học sinh đọc cha thông, viết cha thạo Đây là một trở ngại lớn cho việc dạy học tập làm văn cho học sinh Với số học sinh này, yêu cầu đặt từng câu văn rời rạc còn khó, nói gì đến việc hớng dẫn các em đặt một đoạn văn theo yêu cầu

+ Hầu hết học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em phải phụ giúp với gia đình trong công việc đồng áng Việc bảo đảm chuyên cần cho học sinh DTTS rất khó Các em rất hay nghỉ học vì nhiều lí do nh ở nhà giúp gia đình, đi mót mủ cao su, mót mì, đi chăn bò dê hoặc nhiều khi chỉ vì “không muốn…

đến lớp” Đi học không đều, việc tiếp thu bài của các em chắc chắn sẽ bị ảnh ởng rất nhiều

h-+ Kĩ năng làm văn miêu tả của học sinh DTTS hầu nh không có Các em cha biết cách quan sát, thực hiện làm một bài văn miêu tả cha đúng quy trình, cha biết cách chọn lọc các chi tiết miêu tả đặc sắc để đa vào bài văn mà hầu nh

bê nguyên si cả những điều đã biết vào bài văn, tạo cho bài văn thành một mớ hỗn độn của các chi tiết hoặc thành một bản liệt kê khoa học …

- Với học sinh ngời Kinh, việc dạy học tập làm văn cũng gặp một số tồn tại sau:

+ Do trong lớp có nhiều đối tợng học sinh nên giáo viên thờng sử dụng

ph-ơng pháp làm mẫu để giúp học sinh DTTS làm văn Phph-ơng pháp này giúp học sinh yếu có thể làm đợc bài bằng những gợi ý Tuy nhiên, một số học sinh học

đợc lại thờng hay bắt chớc các câu, đoạn văn mẫu nên nhiều bài làm có các câu,

đoạn giống nhau

+ Có sự chênh lệch rất lớn về trình độ của học sinh khá giỏi và học sinh yếu nên ngời giáo viên rất khó sử dụng các phơng pháp để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục Nếu chú ý đến số học sinh học trung bình và khá giỏi thì sẽ

bỏ qua số học sinh yếu, học sinh DTTS Nhng nếu tập trung đến số học sinh yếu, học sinh DTTS, kiên trì giúp số học sinh này có đợc bài văn thì lại ảnh h-ởng đến sự phát triển của số học sinh khá giỏi

+ Học văn miêu tả, làm văn miêu tả nhng nhiều học sinh lại thiếu vốn sống thực tế nên dẫn đến hai tình huống hay gặp trong dạy học tập làm văn miêu tả

Đó là:

Học sinh không biết làm bài, bỏ giấy trắng

Học sinh sử dụng các gợi ý của giáo viên, các đoạn văn mẫu để viết (theo kiểu kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc) Sản phẩm của các em không nói chắc

Trang 5

chúng ta cũng có thể hình dung đó là những đoạn văn, bài văn khô cứng, không cảm xúc, nếu không nói là vô vị

+ Một khó khăn nữa là nhiều học sinh viết chữ cha đẹp, nếu không nói là rất xấu, sai chính tả Nhiều bài văn có chữ viết lem nhem, đầy vết bẩn Có bài viết, số chữ sai chính tả nhiều hơn số chữ viết đúng Với một bài văn đầy lỗi chính tả, tẩy xóa thì việc đọc lại bài, trau chuốt câu văn, sửa ý, sửa từ quả là rất khó

1 Điều tra phân loại học sinh

Giáo viên điều tra phân loại học sinh, nắm chắc từng đối tợng học sinh: học sinh năng khiếu, trung bình, học sinh yếu Nắm chắc đợc đối tợng học sinh, giáo viên sẽ đề ra đợc kế hoạch dạy học phù hợp, có những biện pháp dạy học giúp vun xới, phát triển năng lực học văn của học sinh năng khiếu Đồng thời, giáo viên cũng có biện pháp phù hợp giúp học sinh yếu, học sinh DTTS biết làm văn miêu tả, có thể vận dụng làm đợc một bài văn hoàn chỉnh

2 Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát

Quan sát theo trình tự từ xa đến gần, từ trong ra ngoài, từ tổng quát đến cụ thể Ghi chép những điều đã quan sát đ… ợc Tổ chức cho học sinh quan sát cụ thể đối tợng tả Có thể hớng dẫn quan sát theo nhiều hình thức: quan sát trực tiếp đối tợng (sân trờng), quan sát ở nhà, ghi chép (ngôi nhà em đang ở), quan sát qua phim ảnh (cảnh biển buổi sáng) …

3 Chọn đề tài gần gũi, quen thuộc đối với học sinh

- Học sinh tiểu học vùng thuận lợi có thể viết đợc những bài văn miêu tả chỉ bằng quan sát qua tranh ảnh, phim Nh… ng đối với học sinh DTTS của tr-ờng, những đề tài tơng đối xa lạ là điều cần tránh Các em đến trờng học tập bằng ngôn ngữ thứ hai với một vốn tiếng Việt tơng đối hạn chế mà giáo viên lại yêu cầu học sinh hình dung, đặt câu, viết một bài văn miêu tả một đối tợng các

em cha nhìn thấy bao giờ thì đúng là điều quá sức các em Ví dụ: Đề bài trong sách giáo khoa tiếng Việt lớp 5 tập 2 trang 134: Tả một khu vui chơi mà em thích Với những đề bài nh thế này, tôi mạnh dạn thay bằng đề bài khác.

- Tuy nhiên, nói nh vậy không có nghĩa là không cho học sinh có cơ hội phát huy trí tởng tợng của mình Trong một lớp học luôn có nhiều đối tợng học sinh (Nh đã nói ở phần đặc điểm tình hình học sinh) Khi ra đề cho học sinh, ngời thầy luôn tạo cho các em quyền chọn lựa bằng cách ra nhiều đề (từ 2 đến 4

Trang 6

đề bài) để các đối tợng học sinh trong lớp đều có thể tự do chọn đề bài, tránh sự

áp đặt Ra đề cho học sinh làm bài kiểm tra viết, tôi chọn ba đề sau:

Tả một ngời thân trong gia đình em

Tả một ngời bạn cùng lớp hoặc ngời bạn ở gần nhà em

Tả một ca sĩ đang biểu diễn mà em thích

Với ba đề bài trên, các em học sinh có thể chọn đối tợng tả là một nhân vật quen thuộc, gần gũi Nhng với một vài học sinh khác, các em cũng có thể chọn tả ca sĩ đang biểu diễn với rất nhiều chi tiết sống động mà các em đã có dịp quan sát qua các đêm xem biểu diễn ca nhạc

4 Hớng dẫn học sinh lập dàn ý

Đây là một việc làm khó Giáo viên cần hớng dẫn cho học sinh lập dàn ý trớc khi làm thành một bài văn hoàn chỉnh Có lập đợc dàn bài thì mới có thể tìm ý, sắp xếp ý, viết thành một bài văn mạch lạc, bố cục rõ ràng, ý văn trong sáng

5 Sử dụng phơng pháp luyện tập theo mẫu:

Gợi ý cho học sinh khá giỏi làm bài, trình bày câu văn, đoạn văn Cả lớp theo dõi, nhận xét, giáo viên chốt lại và cho học sinh phát biểu Nhng điểm mấu chốt là giáo viên phải chú ý từng đối tợng học sinh, sửa cho từng em, động viên

sự sáng tạo của các em, dù là rất nhỏ

Dựa trên một đề văn cụ thể, giáo viên hớng dẫn học sinh vận dụng các kiến thức kĩ năng đã học về đề văn đó để làm nhiều bài khác nhau, nhất là với đối t-ợng học sinh trung bình, yếu Ví dụ:

+ Học bài văn tả ngời thân, học sinh tả ông nội Khi gặp một đề văn yêu cầu tả một ngời hàng xóm, học sinh có thể sử dụng thứ tự miêu tả, bố cục, các biện pháp nghệ thuật đã sử dụng ở đề bài trớc để thực hiện làm đề bài thứ hai Tất nhiên, giáo viên phải giúp học sinh tránh sự sao chép nguyên văn

6 Cá thể hóa hoạt động dạy học

- Quan tâm đến đối tợng học sinh trung bình, yếu đồng thời vẫn đảm bảo phát triển năng lực cảm thụ văn học đối với học sinh khá giỏi Ví dụ:

+ Bài làm của một học sinh giỏi: Ngoài ngôi nhà thân yêu đã gắn bó với tuổi thơ của em thì trờng em chính là ngôi nhà thứ hai Trờng em mang tên tr- ờng Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc Đi đâu xa, em nhớ nhà và mỗi khi về nhà thì

em lại nhớ đến ngôi trờng thân yêu.

+ Bài của một học sinh trung bình: Trờng em mang tên trờng Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc thân yêu Trờng nằm bên con đờng đất đỏ.

+ Bài của một học sinh yếu: Em học ở trờng Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc

- Khi học sinh đặt câu nêu cảm nghĩ của mình ở phần kết bài, giáo viên phải quan tâm đến từng em Đối với học sinh DTTS, học sinh yếu, giáo viên có thể hớng dẫn cụ thể cho các em bằng những gợi ý nh:

Em hãy nói tình cảm của mình với ngôi trờng (Yêu, ghét)? (Em rất yêu ngôi trờng.) Em thể hiện tình yêu đó bằng việc làm nh thế nào? (Em trồng cây,

Trang 7

chăm sóc bồn hoa để trờng em ngày càng đẹp hơn Hay: Em không bao giờ phá phách làm hỏng đồ đạc hay bẻ cây trong nhà trờng.)

- Tuyệt đối không đợc hớng dẫn học sinh một cách đồng loạt để các em có những câu văn chung chung, vô cảm kiểu nh: “Cô giáo em có mái tóc đen huyền, mợt nh nhung Đôi mắt cô đen trong và sáng long lanh Nớc da cô trắng mịn nh sữa.” Cô giáo hay ngời mẫu? Và đây là cô giáo nào?

Hay “Trờng em mái ngói đỏ tơi Cột cờ cao chót vót Trên đỉnh cột cờ, lá

cờ đỏ sao vàng bay phấp phới Giờ ra chơi, các bạn ùa ra khỏi sân trờng nh

đàn ong vỡ tổ.” Học sinh tả ngôi trờng nào đây?

Phải hớng dẫn để học sinh tìm ra những nét đặc sắc của cảnh Những nét

đặc sắc đó giúp ngời đọc hình dung đợc cảnh vật cụ thể mà không lẫn lộn với cảnh vật khác Ví dụ: Để hớng dẫn học sinh tả ngôi trờng thân yêu, tôi cho học sinh quan sát, tìm ý và chọn những chi tiết tả thực mà chỉ trờng Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc mới có Đó là những đoạn văn của học sinh:

Trờng em nằm trên một khu đất rộng Mùa nắng, sân trờng mát rợi bóng cây Mùa ma, sau những ngày ma kéo dài, sân trờng biến thành một hồ nớc mênh mông Vào giờ chơi, chúng em rất thích lội bì bõm trong nớc.”

Ngôi nhà em không giống bất cứ ngôi nhà nào của các bạn trong lớp Đó

là một ngôi nhà xây nằm ven một cái ao Mùa nào, ngồi trong nhà em cũng nhận đợc những làn gió mát từ mặt ao đa tới Ngôi nhà này Nhà nớc xây cho gia đình em.”

Bằng tuổi em nhng bạn Y Thuyết đứng chỉ đến vai em Bạn có nớc da ngăm ngăm của một ngời miền núi quen dãi đầ nắng ma Nhiều lúc, đi chăn dê,

Y Thuyết để đầu trần, đi chân không Mái tóc bạn không đen nh tóc em mà vàng hoe, khen khét mùi nắng Bạn có đôi mắt to rất đẹp với hàng lông mi dài, cong.”

Cô có đôi mắt to, đôi lông mày rậm và mái tóc để dài tự nhiên xõa ngang vai, không duỗi Điểm nổi bật ở cô là dáng cao nhất trờng Cô kể chuyện hay nhất trờng em nên đợc chọn đi thi kể chuyện đạo đức Bác Hồ cấp thị.”

7 Chấm bài thờng xuyên

Đồng thời với việc chấm bài là phải hớng dẫn học sinh sửa bài Phải giúp các em phát hiện ra những điểm hay, những điểm cha đạt trong bài văn của mình Trên cơ sở đó, học sinh phải sửa lại bài làm của mình cho đúng hơn, hay hơn

Giáo viên cần tránh việc chê bai học sinh nhng cũng không đợc lạm dụng lời khen, tạo sự thờ ơ của học sinh đối với lời khen do đợc khen quá nhiều, khen

Trang 8

8 Làm giàu vốn từ cho học sinh

Nếu học kiểu bài kể chuyện học sinh chỉ tái hiện lại nội dung câu chuyện

đã nghe, đã đọc là có thể đạt đợc yêu cầu cơ bản của đề bài thì văn miêu tả đòi hỏi phải có một vốn từ phong phú mới có thể làm bài Thế giới quanh ta rất phong phú đa dạng và không ngừng biến đổi Ngời viết văn không thể “vẽ” đợc một cảnh một ngời nếu bản thân ngời ấy thiếu vốn từ, vốn sống

Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp cho các em nắm một số từ gợi tả để có thể dùng trong miêu tả Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh tìm các

từ ngữ gợi tả mái tóc (vàng hoe, đen nhánh, bạc phơ, hoe vàng, cháy nắng, óng

ả, rễ tre, xoăn tít ), khuôn mặt (bầu bĩnh, vuông chữ điền, trái xoan, khắc…khổ ), n… ớc da (trắng trẻo, trắng hồng, ngăm ngăm, bánh mật, đen sạm ),…dáng ngời (nhỏ nhắn, gầy gò, đẫy đà, to khỏe, cao cao ), nụ c… ời (khành khạch, mủm mỉm, ha hả, toe toét ).…

Cho học sinh tìm từ bằng các hình thức nh: quan sát thực tế (quan sát bạn), quan sát tranh ảnh, xem phim, đọc sách truyện, nhất là qua các phân môn của Tiếng Việt hoặc các môn học khác Ví dụ: Dạy Luyện từ và câu bài từ đồng nghĩa, giáo viên gợi ý cho học sinh tìm các từ gợi tả đồng nghĩa nh bao la, mênh mông, bát ngát

Qua hình thức trò chơi nh: tìm từ láy âm gợi tả hình ảnh

Học sinh chia làm nhóm 4, từng nhóm lần lợt nêu một từ láy âm gợi tả hình ảnh rồi chỉ nhóm khác:

Mênh mông - nho nhỏ - đủng đỉnh – lung linh – mợt mà - đẫy đà - cứng cáp – thớt tha - mơn mởn – cuồn cuộn – nhanh nhẹn – nũng nịu…

Trên cơ sở những từ láy tìm đợc, giáo viên tiếp tục cho học sinh xác định những từ láy chỉ dùng để tả ngời: nho nhỏ - đủng đỉnh – mợt mà - đẫy đà - cứng cáp – thớt tha - nhanh nhẹn - nũng nịu…

9 Giúp học sinh luyện viết câu

- Trớc hết, mọi học sinh phải viết đợc câu văn đúng ngữ pháp Đây là yêu cầu cơ bản vì câu là đơn vị của lời nói Đối với học sinh giỏi, giáo viên yêu cầu học sinh đặt câu đúng ngữ pháp, giàu hình ảnh, lột tả đợc sắc thái riêng của đối tợng miêu tả Còn đối với học sinh yếu, học sinh DTTS, giáo viên hớng dẫn học sinh đặt đợc câu đúng, thể hiện đợc ý cần nói Ví dụ:

Với học sinh yếu: Tóc bạn Mi hơi vàng

Với học sinh trung bình: Y Loan có mái tóc dài, đen, phủ kín vai Bạn hay kẹp tóc bằng cái kẹp có hình con bớm màu xanh

Với học sinh khá giỏi: Bạn A có mái tóc xoăn tự nhiên của ngời miền núi không lẫn với bất cứ bạn nào trong lớp đợc Bạn hay để đầu trần đi học, đi chăn bò nên mái tóc của bạn không đen nh tóc em mà hoe vàng và khen khét mùi nắng.

- Biết dùng dấu câu đúng, nhất là dấu chấm và dấu phẩy Ngắt câu đúng sẽ diễn đạt rõ ràng, ngời đọc, ngời nghe dễ dàng tiếp nhận thông tin Việc dạy cho học sinh sử dụng dấu câu đã đợc tiến hành từ các lớp dới và phải đợc thờng

Trang 9

xuyên ôn luyện cho học sinh Giáo viên đa ra các trờng hợp sử dụng dấu câu

ch-a đúng để cả lớp nhận xét:

Trong lớp em ai cũng mến bạn Hoa.

Cột cờ cao chót vót lá cờ đỏ sao vàng phất phới bay

Sân trờng mát rợi bởi bóng của những cây bàng cây sữa

Học sinh trao đổi sửa chữa:

Trong lớp em, ai cũng mến bạn Hoa.

Cột cờ cao chót vót Trên đỉnh cột cờ, lá cờ đỏ sao vàng phất phới bay Sân trờng mát rợi bởi bóng của những cây bàng, cây sữa.

10 Hớng dẫn học sinh tích lũy vốn kiến thức văn học

- Tích lũy văn học là điều kiện tối thiểu để có thể học tốt môn tiếng Việt, nhất là phân môn Tập làm văn Giáo viên đã cho học sinh sử dụng sổ tay chính tả để ghi chép những tiếng khó, ghi những trờng hợp mắc lỗi chính tả đã đợc sửa chữa Trong môn Tập làm văn, đây cũng là một biện pháp tích cực để giúp học sinh trau dồi vốn kiến thức văn học Sổ tay văn học để cho học sinh ghi chép các ý hay, câu đoạn văn hay Việc ghi chép này không nhất thiết để cho học sinh khi làm văn sẽ mở ra sử dụng nhng trớc hết, mỗi lần ghi chép, các em

sẽ đợc một lần đọc, ghi nhớ, bắt chớc, lâu dần thành thói quen Khi làm bài, những từ ngữ, hình ảnh, ý văn sẽ tự động tái hiện, giúp học sinh có thể vận dụng làm văn

11 Hớng dẫn học sinh tìm hiểu, cảm nhận cái hay, cái đẹp của một

đoạn văn

- Hớng dẫn học sinh tìm hiểu để cảm nhận cái hay, cái đẹp qua việc đọc một đoạn văn đợc giáo viên tiến hành qua nhiều tiết học Cảm nhận đợc cái hay, cái đẹp, các em sẽ hình thành những cảm xúc thẩm mĩ, giúp cho việc học tập làm văn tốt hơn, nhất là văn miêu tả

- Để hớng dẫn tìm hiểu cảm nhận cái hay, cái đẹp của đoạn văn, giáo viên hớng dẫn học sinh hình thành thói quen suy nghĩ, tự đặt và ghi các câu hỏi xoay quanh nội dung đoạn văn Kết quả học sinh đặt ra các câu hỏi nh:

Đoạn văn trên miêu tả đặc điểm gì của nhân vật?

Đoạn văn trên có những từ láy nào gợi tả hình ảnh của nhân vật?

Đoạn văn trên có những hình ảnh so sánh nào?

Em có suy nghĩ gì sau khi đọc đoạn văn trên? …

12 Rèn kĩ năng sắp xếp, diễn đạt ý

- Đề bài: Em hãy tả một ngời bạn thân của em

Học sinh quan sát, viết nhanh ra giấy những điều đã quan sát đợc:

+ Y Thuyết học chung lớp với em.

+ Bạn chơi thân với em từ năm lớp Ba.

+ Chúng em rất thân nhau.

+ Em sẽ cố gắng chân thành với Y Thuyết để tình bạn của chúng em mãi mãi bền lâu.

Trang 10

+ Bạn có nớc da ngăm ngăm của một ngời miền núi quen dãi dầu nắng

m-a

+ Thầy giáo rất hay khen bạn vì bạn hay phát biểu và hiểu bài rất nhanh + Nhiều lúc, đi chăn dê, Y Thuyết để đầu trần, đi chân không.

+ Bạn rất hay cời.

+ Bạn có đôi mắt to rất đẹp với hàng lông mi dài, cong.”

+ Bằng tuổi em nhng bạn Y Thuyết đứng chỉ đến vai em.

+ Mái tóc bạn không đen nh tóc em mà vàng hoe, khen khét mùi nắng + Thuyết viết chữ rất đẹp Bạn đã đợc chọn dự thi viết chữ đẹp cấp cụm, cấp thị và đã đạt giải khuyến khích

+ Cô giáo hay lấy bạn làm gơng cho chúng em noi theo để rèn chữ.

+ Mỗi khi bạn cời, hai lúm đồng tiền hiện rõ trên khuôn mạt ngăm đen + Bạn không kình lộn với ai bao giờ.

Sau khi tìm ý, học sinh sẽ sắp xếp ý thành các đoạn mở bài, thân bài, kết bài:

dê, Y Thuyết để đầu trần, đi chân không nên mái tóc bạn không đen nh tóc em

mà vàng hoe, khen khét mùi nắng Bạn rất hay cời Mỗi khi bạn cời, hai lúm

đồng tiền hiện rõ trên khuôn mặt ngăm đen Y Thuyết có đôi mắt to rất đẹp với hàng lông mi dài, cong Đôi mắt luôn ánh lên những tia nhìn hồn nhiên, chất phác Thuyết viết chữ rất đẹp Bạn đã đợc chọn dự thi viết chữ đẹp cấp cụm, cấp thị và đã đạt giải khuyến khích Cô giáo hay lấy bạn làm gơng cho chúng

em noi theo để rèn chữ Mấy hôm nay, cô Huệ đi công tác, thầy Hải dạy thay Thầy giáo rất hay khen Y Thuyết vì bạn hiểu bài rất nhanh và hay phát biểu

Em cha bao giờ thấy Y Thuyết cãi nhau với ai.

*Đoạn kết bài:

Mỗi khi vắng Y Thuyết, em cứ cảm thấy nhớ nhớ Em sẽ cố gắng chân thành với Y Thuyết để tình bạn của chúng em mãi mãi bền lâu Và nhất là em phải cố gắng rèn chữ viết để có những trang chữ đẹp giống nh bạn.

Giáo viên cần lu ý cho học sinh mục đích của từng đoạn văn Đoạn mở bài

có tác dụng giới thiệu cho ngời đọc, ngời nghe biết xuất xứ nhân vật Đoạn thân bài là bức tranh vẽ bằng lời hình dáng, đờng nét, cử chỉ hoạt động, tính nết của nhân vật Có chọn đợc những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu ta mới vẽ đợc một nhân vật mang những cá tính riêng Bạn học sinh trong bài là một học sinh miền núi với những đặc điểm riêng, cá tính riêng không lẫn với bất cứ một bạn học sinh nào khác Đoạn kết bài mang đậm dấu ấn cá nhân của ngời viết Không thể có

đoạn kết bài chung cho mọi học sinh Giáo viên cần hớng dẫn học sinh nêu đợc cảm xúc tự nhiên, chân thật, không sáo rỗng kiểu nh: Em rất yêu quý bạn…

Trang 11

III Kết quả

Sau một thời gian thực hiện, theo nhận định của tôi, chất lợng học tập kiểu bài miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp Năm có sự chuyển biến rõ rệt.Kết quả khảo sát đầu năm - Môn Tiếng Việt - Năm học 2007 – 2008

Kết quả bài kiểm tra viết của học sinh trong tháng 03/2008

Đề bài: Em hãy tả một ngời bạn của em

nh sau:

1 Trớc hết, ngời thầy giáo phải luôn có lòng yêu nghề, yêu ngời, có ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến, không ngừng học hỏi và mạnh dạn áp dụng những cái mới vào trong thực tiễn giảng dạy

2 Nhiệm vụ quan trong bậc nhất của ngời giáo viên tiểu học là phải nắm vững đối tợng học sinh, hiểu rõ trình độ và năng lực, hoàn cảnh và sở thích của từng em cũng nh tâm sinh lí lứa tuổi học sinh Phân loại đợc học sinh, ngời giáo viên mới có thể áp dụng những pháp dạy học phù hợp với từng nhóm đối tợng học sinh, với từng cá thể học sinh

Trang 12

3 Giáo viên phải thờng xuyên nghiên cứu, dự giờ đồng nghiệp, tham dự

đầy đủ các lớp tập huấn chuyên môn để nắm bắt những thông tin về nội…dung, phơng pháp của chơng trình môn Tiếng Việt Từ đó, giáo viên mới có thể lập kế hoạch dạy học và kế hoạch bài học một cách khoa học, có sự tích hợp giữa kiến thức các môn học và các lớp học với nhau

4 Dạy Tập làm văn theo quan điểm tích hợp kiến thức, kĩ năng giữa bài

tr-ớc với bài sau, giữa các phân môn Tiếng Việt với nhau, giữa lớp dới với lớp trên

5 Sử dụng phối hợp nhiều phơng pháp nhằm khuyến khích học sinh bộc lộ trí tuệ và cảm xúc của mình trong các ngôn bản mà các em tạo lập:

+ Phơng pháp phân tích ngôn ngữ: Trên cơ sở các văn bản mẫu, học sinh khai thác, nhận biết kết cấu bài văn, trình tự miêu tả

+ Phơng pháp trực quan: Học sinh phải đợc quan sát đối tợng miêu tả Các

em có thể quan sát đối tợng tả trên thực tế ở lớp hoặc ở nhà, quan sát qua phim

ảnh Vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học, tạo điều kiện cho học sinh quan sát những đối tợng miêu tả không có ở địa phơng để mở rộng hiểu biết cho các em

+ Phơng pháp rèn luyện theo mẫu: Dựa vào văn bản mẫu, học sinh tạo lập các văn bản mới theo nét riêng của các em

+ Phơng pháp thực hành giao tiếp: Tạo điều kiện cho mọi đối tợng học sinh đợc trình bày sản phẩm của mình, đợc tranh luận để tìm ra cái mới

II Kiến nghị

Với những kết quả ban đầu thu đợc sau một thời gian áp dụng sáng kiến

kinh nghiệm “Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp

Năm”, tôi đề nghị Nhà trờng tổ chức khảo nghiệm và có ý kiến góp ý, chỉ đạo

để tôi tiếp tục hoàn chỉnh đề tài

Nếu đợc công nhận, đề nghị Nhà trờng tạo điều kiện cho tôi tiếp tục triển khai đề tài trong nhà trờng để góp phần nâng cao chất lợng dạy học Tiếng Việt nói riêng, chất lợng dạy học cho học sinh lớp Năm nói chung

Kon Tum, Ngày 05 tháng 04 năm 2008

Ngời viết

Nguyeón Vaờn Haỷi

Trang 13

Trang 14

1 Quá trình thực hiện : ( Những việc đã làm, thời gian, điều kiện thực hiện, phương pháp, biện pháp thực hiện)

2 Kết quả : ( Lưu ý có đối chứng với tình hình trước khi có SKKN hoặc đối chứng song song với đối tượng tương ứng trong các hoàn cảnh tương tự)

1 Nêu mức độ, phạm vi tác dụng của SKKN

2 Kiến nghị về việc áp dụng, triển khai SKKN

Trang 16

+Bài làm của một học sinh giỏi: Lớp 5A của chúng em là một tập thể đoàn kết, thơng yêu nhau Trong số những ngời bạn đáng yêu ấy, em hay chơi với Bình.

+Bài của một học sinh trung bình: Trong những ngời bạn thân học chung lớp 5A với em, em thờng chơi với bạn Y Thuyết

+Bài của một học sinh yếu: Em hay chơi với một ngời bạn tên là Y Loan

- Hớng dẫn học sinh vận dụng các kiến thức kĩ năng đã học về văn miêu tả

Trong thực tế giảng dạy để đạt đợc mục tiêu trên, ngời giáo viên gặp không ít khó khăn, khó khăn từ cả giáo viên và học sinh Có thể nói bản thân môn Tập làm văn là phân môn khó dạy nhất trong tất cả các phân môn của môn Tiếng Việt, bởi vì đa số học sinh ít ham thích học môn này Đối với thể loại văn

kể chuyện lớp Bốn vì những câu chuyện khá quen thuộc, các em đã đợc đọc,

đ-ợc nghe kể nhiều lần nên khi kể các em thờng bám sát vào sách giáo khoa, thiếu sáng tạo, các em cha biết kể chuyện tự nhiên mà thờng là đọc thuộc câu chuyện Đối với thể loại văn miêu tả đa phần học sinh cha biết cách quan sát, thiếu vốn sống thực tế chính vì vậy thiếu cảm xúc khi viết, học sinh thờng miêu tả nh một bài khoa học, nặng liệt kê các bộ phận của sự vật Về giáo viên đôi khi cũng không dám thoát li sách giáo khoa, ngại dạy phân môn Tập làm văn, bởi vì phải thờng xuyên xử lí các tình huống khác nhau trong tiết dạy

I Lí do chọn chuyên đề.

Môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh 4 kĩ năng đó là: “nghe-nói-đọc-viết” Trong đó môn Tiếng Việt có các phân môn nh: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn Trong đó, phân môn Tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp của…các phân môn khác Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản, đó là bài nói, bài viết Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua đó con ngời thực hiện quá trình t duy-chiếm lĩnh tri thức, trao

đổi t tởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi ngời hiểu nhau, cùng hợp tác trong cuộc sống lao động

Trang 17

Ngôn ngữ (dới dạng nói-ngôn bản, và dới dạng viết-văn bản) giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển xã hội Chính vì vậy, hớng dẫn cho học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn lớp 3 nói rêng Vấn đề đặt ra là: ngời giáo viên dạy tập làm văn theo h-ớng đổi mới nh thế nào để đáp ứng đợc khả năng tiếp thu của học sinh? Cách thức tổ chức, tiến hành tiết dạy Tập làm văn ra sao để đạt hiệu quả nh mong muốn.

Qua thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó trong các phân môn của môn Tiếng Việt Do đặc trng phân môn Tập làm văn với mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày văn bản (nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau nh: miêu tả, kể chuyện, viết th, tờng thuật, kể lại bản tin, tập tổ chức cuộc họp giới thiệu về mình và những ngời xung quanh.Trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập này, học sinh với vốn kiến thức còn hạn chế nên thờng ngại nói Nếu bắt buộc phải nói, các em thờng đọc lại bài viết đã chuẩn bị trớc Do đó, giờ dạy cha đạt hiệu quả cao

Xuất phát từ thực tiễn đó, Ban giám hiệu trờng Tiểu học Đằng Hải chỉ đạo giáo viên chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm chuyên đề “Dạy Tập

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Quỏ trỡnh dạy học là một quỏ trỡnh tư duy sỏng tạo – người giỏo viờn là một kĩ sư của tõm hồn, hơn nữa cũn là một nhà làm nghệ thuật Và việc dạy học ngày nay luụn dựa trờn cơ sở phỏt huy tớnh tớch cực chủ động của học sinh Chớnh vỡ thế nú đũi hỏi người giỏo viờn phải luụn cú sự sỏng tạo, tự cải tiến phương phỏp dạy học của mỡnh nhằm mục đớch nõng cao chất lượng dạy học Mỗi mụn học ở Tiểu học đều gúp phần hỡnh thành và phỏt triển nhõn cỏch của trẻ, cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết Phõn mụn Tập làm văn ở Tiểu học cú nhiệm vụ rất quan trọng là rốn kĩ năng núi và viết Thế nhưng hiện nay,

Trang 18

nói gì ? viết gì ? Ngay cả bản thân giáo viên đôi khi cũng không tự tin lắm khi dạy phân môn này so với các môn học khác Do đó khi đứng lớp tôi luôn chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng làm Tập làm văn cho học sinh lớp tôi phụ trách Sau đây, tôi xin trình bày một vài kinh nghiệm nhỏ của mình trong quá trình rèn kĩ năng làm Tập làm văn cho học sinh cả lớp.

II NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

- Hiện nay nhiều phụ huynh rất quan tâm đến việc học tập của con em mình nên đã có sự chuẩn bị đầy đủ về sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh khi đến lớp Bên cạnh đó, một số phụ huynh còn tìm thêm sách tham khảo, tài liệu học tập để học sinh đọc thêm

- Học sinh biết tự tổ chức các hoạt động trong giờ học theo yêu cầu của giáo viên

- Học sinh phát huy được sự tự tin khi phát biểu ý kiến hoặc đưa ra nhận xét của mình trước đám đông

- Nhiều học sinh rất thích thú, phấn khởi khi tự viết được 1 đoạn văn hoặc

1 Đối với Giáo viên:

* Người Giáo viên có vai trò rất quan trọngvà ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với HS vì họ là những người chủ đạo tổ chức việc học của HS, chính vì thế bản thân người Giáo viên cần phải:

Luôn học hỏi đồng nghiệp và tự học để nâng cáo trình độ bản thân và

nâng cao tay nghề.

Phải đầu tư thật kĩ bài dạy trước khi lên lớp.

Trang 19

Phải hết sức nhạy bén và ứng xử kịp thời các tình huống phát sinh khi

giảng dạy bằng cách chú ý lắng nghe ý kiến của HS khi biểu đề tim ra ưu khuyết điểm chính của học sinh để nhận xét tổ chức sửa chữa , góp ý đánh giá.

GV cũng cần rến cho HS kĩ năng nhận xét bài bạn để từ đó nhận biết

được những chỗ hay hoặc chưa hay khi làm bài của mình Ví dụ chỉ cần rõ bài ban hay là vì ban biết dùng từ ngữ liên kết câu, ban biết sử dụng các hình ảnh so sánh, nhân hóa , bạn biết lồng cảm xúc của mình vào bài viết và điều quan trọng là GV cần phải giúp HS chỉ rõ ra những từ ngữ, câu hay cho lớp tham khảo Điều này vừa động viên được những em làm bài hay, vừa khơi dậy chop

HS những ý tưởng, sáng tạo mới, HS cảm thấy có thêm nguồn động lựcđể thi đua học tập, để bài của mình được cô và các bạn đọc trước lớp như vậy Bên cạnh đó những hạn chế trong bài của HS, GV cũng cần tế nhị khi nhận xét Tuyệt đối không dùng những câu đại loại; ý nghéo nàn qu1, bài đủ ý, bài yếu hoặc em không có chuẩn bị bài sao Điều đó sẽ làm cho các em như bị dội gáo nước lạnh vào mặt Người GV cần thận trọng, trước tiên cần tìm cho bằng được những ưu điểm trong bài làm của bé dù nó chỉ là nhỏ nhoi để tuyên dương trước lớp rồi từ từ cho các em chỉnh sửa, bổ sung cho câu văn hay hơn, hoàn chỉnh hơn.

Người GV cần thay đổi nhiều hình thức học tập để tạo cơ hội cho nhiều

HS cùng được tham gia trình bày ý kiến của mình

VD: Tổ chức học nhóm 4 để các em được nói cho nhau nghe ý kiến của

mình ( vì có những em rất ngại nói trước lớp và ngại nói cho GV nghe, trái lại khi cùng tham gia vói các bạn mình thì các em rất tích cực ) Trong lúc này GV cần đến tận nơi, từng bàn để lắng nghe và gợi ý, định hướng cho các em xây dựng bài Được tham gia phát biểu, dần dần những em nhút nhát sẽ cảm thấy mạnh dạn và tự tin hơn khi đứng nói trước lớp Bên cạnh đó phương tiện trực quan, các hình thức tổ chức trò chơi, thi đua cũng không kém phần lôi cuốn

HS học tập tích cực hơn.

Trang 20

Khi chấm bài GV cũng cần có sự nhận xét cụ thể về những lỗi sai của

HS để định hướng cho HS khắc phục trong lần sau.

Nên tập cho các em có thói quenhọc tập các ý hay trong bài văn mẫu, đoạn hay, bài làm hay của bạn, từ sách báo tham khảo và được tạo thói quen ghi chép lại trong sổ tay văn học của mình.

2 Các giải pháp cụ thể:

a Dạy Tập làm văn qua giờ Luyện từ & câu.

- Các em ít tham gia phát biểu trong giờ học TLV là do không biết thể hiện

ý tưởng của mình bằng những câu như thế nào bởi lẽ vốn từ của các em quá ít.

- Phạm vi vốn từ cần cung cấp cho học sinh ở tiểu học chủ yếu xoay quanh các chủ đề về thế giớ xung quanh công việc của học sinh ở trường và ở nhà, tình cảm gia đình và vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người chúng ta cần làm giàu nhận thức, mở rông tầm mắt cho HS, giúp em nhận thấy vẻ đẹp của quê hương, đất nước, con người, dạy các em biết yêu quí và trân trọng tình cảm đó.

- Ở chương trình SGK mới này không cung cấp sẵn vốn từ mới cho các em

mà thông qua hệ thống bài tập học sinh phải cùng suy luận và cùng nhau tìm tòi,

bổ sung và làm giàu vống từ cho mình Sau đó GV có thể cung cấp thêm tư liệu cho HS ( tư liệu cung capấ cần thực tế và gần gũi nằm trong sự hiểu biết của các

em ) Sau đó GV cũng cần giúp các em HS làm rõ một số từ cần thiết, đó là nhiệm vụ sống còn trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Việc dạy nghĩa từ được tiến hành trên tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu cũng cung cấp từ ngữ thì ở đó có dạy nghĩa của từ đòi hỏi GV phải nắm rõ nghĩa của từ và giải thích cho phù hợp với ngữ cảnh, với nội dung bài học với hoàn cảnh thực tế với đối tượng học sinh Tuy nhiên việc giải nghĩa hết tất cả các từ là không thể và khong cần thiết, GV phải có sự chọn lọc từ để giải nghĩa Những từ được chọn lọc phải là những từ trung tâm có vai trò quan trọng trong hoạt động nói của HS trên một đề tài đã xác định, phải để cho các em giải nghĩa lấy ( kích thích tư duy HS làm cho HS lúc nào cũng cảm thấy mới lạ – Tạo hứng thú cho HS trong học tập ) cũng cần lưu ý rằng: từ nào GV nắm rõ nghĩa thì hãy giải thích còn nếu từ nào chưa rõ

Trang 21

nghĩa thì không nên giải thích vì giải thích qua loa, sơ xài sẽ làm cho HS chán nản vì không đáp ứng nhu cầu tò mò của trẻ thậm chí làm cho trẻ hiểu sai lệch nghĩa của từ và khi vận dụng vào bài viết của mình sẽ không hiệu quả, làm sai lệch ý muốn diễn đạt.

* GV có thể áp dụng một số phương pháp giải nghĩa của từ sau đây:

- Giải nghĩa bằng trực quan: đưa ra các vật thật, hình ảnh,

sơ đồ

- Giải nghĩa thông qua ngữ cảnh: GV cần được giải nghĩa

vào câu hoàn chỉnh để làm rõ nghĩa từ đó.

- Giải nghĩa bằng cách đối chiếu: GV so sánh nghĩa từ cần

được làm rõ nghĩa với từ khác.

VD: giải nghĩa từ “ ao” bằng cách so sánh với từ “hồ” -> ao nhỏ hơn

hồ.

- Giải nghĩa từ bằng cách tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa:

VD : Gần nghĩa với “lười biếng” là “biếng nhác”

Trái nghĩa với thông minh là “đần độn”

- Giải nghĩa từ bằng cách phân tích từ thành các từ tố

( tiếng )

VD : giải nghĩa từ “tâm sự” – (tâm:lòng ; sự:nỗi ) -> tâm sự:nỗi lòng

của một người.

- Giải nghĩa bằng định nghĩa: là biện pháp giải nghĩa bằng

cách nêu nội dung nghĩa, bằng một định nghĩa:

VD : Quê hương là nơi sinh mình ra và lớn lên.

b Dạy tập làm văn qua giờ tập đọc:

Trong giờ tập đọc, GV phải làm cho HS hiểu nghĩa một số từ cần thiết trong bài Hiểu được nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa “văn chương” của từ ngữ, điều này sẽ có ích cho HS khi vân dụng từ GV có thể kết hợp với những bài tập điền từ thích hợp.

Ngày đăng: 10/06/2014, 21:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê dưới đây đã chứng minh được điều đó: - Sáng kiến kinh nghiệm Tập làm văn miêu tả lớp 5
Bảng th ống kê dưới đây đã chứng minh được điều đó: (Trang 28)
Bảng và giải thích một số cột. - Sáng kiến kinh nghiệm Tập làm văn miêu tả lớp 5
Bảng v à giải thích một số cột (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w