Đó là do những tác động của tình hình thế giới sau đại chiến thế giới thứ nhất đa đến 1- Đại chiến thứ nhất đã đem lại cho châu Âu và thế giới một taihọa vô cùng to lớn, đã kích thích mạ
Trang 1Lời nói đầu
1 Lý thuyết quan hệ quốc tế của các nớc phơng Tây ra đời vào những năm 20 của thế kỷ XX Đó là do những tác động của tình hình thế giới sau đại chiến thế giới thứ nhất đa đến
1- Đại chiến thứ nhất đã đem lại cho châu Âu và thế giới một taihọa vô cùng to lớn, đã kích thích mạnh mẽ vào những quan niệm truyềnthống của nền chính trị thế giới, làm thay đổi thái độ của nhiều ngời về vấn
đề quốc tế nhiều vấn đề lý luận đợc đặt ra đòi hỏi giải đáp nh: nguyên nhâncủa chiến tranh, con đờng duy trì nền hòa bình, và vấn đề khôi phục lại trật
tự thế giới v.v
2- Cuộc đại chiến đó đã đa đến Cách mạng tháng Mời Nga và nớcXHCN đầu tiên ra đời, thực tế đó chứng minh tính chân lý của lý luận chủnghĩa Mác - Lênin Trong quan hệ quốc tế, nhà nớc Xô viết đã đa ra nhiềuchính sách phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động trênthế giới Trớc tình hình đó các học giả phơng Tây thấy cần thiết phải đề ranhững lý thuyết để biện hộ cho thái độ, chính sách của giai cấp t sản trên tr-ờng chính trị quốc tế
3- Đại chiến lần thứ nhất đã đa nớc Mỹ lên địa vị của một cờngquốc nớc lớn Nớc Mỹ một mặt không muốn các cờng quốc châu Âu khôiphục lại trật tự truyền thống của sự cân bằng thế lực, mặt khác Mỹ chốnglại cách mạng XHCN Do đó, Uyn-sơn là Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ đãnêu ra lý thuyết của mình, gơng ngọn cờ "dân chủ", "đạo đức", "chínhnghĩa", để giành quyền lãnh đạo thế giới
Tình hình trên đây đã đòi hỏi và tạo điều kiện cho những lý thuyếtquan hệ quốc tế của các nớc phơng Tây ra đời
2 Nghiên cứu lý thuyết quan hệ quốc tế của các nớc phơng Tây
đối với chúng ta là một việc hết sức cần thiết
1- Phải thừa nhận rằng về vấn đề này một số học giả phơng Tây đã
đi trớc chúng ta rồi sau đó các nhà nghiên cứu mác-xít mới đi sâu vào
Trang 2những vấn đề của lý thuyết quan hệ quốc tế Chính vì vậy mà có những vấn
đề các học giả phơng Tây nêu lên chúng ta cần phân tích xem xét để rút ranhững phần hợp lý
2- Các chính phủ, các chính khách phơng Tây thờng dựa vào các lýthuyết quan hệ quốc tế để đặt ra chủ trơng chiến lợc và sách lợc của mình.Tổng thống Win-sơn dựa vào lý thuyết chủ nghĩa tự do, cố vấn an ninh Kit-xinh-giơ lại sử dụng quan điểm của chủ nghĩa hiện thực Nắm đợc thực chấtcủa các lý thuyết đó giúp chúng ta nhanh chóng nhận ra những ý đồ chiến l-
ợc, sách lợc, thậm chí cả những âm mu, đối sách của các nớc đó
3- Ngày nay trong thời kỳ chúng ta mở rộng quan hệ đối ngoại, trênquan hệ quốc tế không chỉ đặt ra những vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế
mà cả những vấn đề t tởng văn hóa nữa Các nớc phơng Tây đa ra nhữngchính sách ngoại giao nhân quyền, những chủ trơng áp đặt quan điểm giá trịcủa họ cho các nớc khác Cuộc đấu tranh t tởng và văn hóa trên lĩnh vực nàylại càng đòi hỏi chúng ta tìm hiểu sâu sắc những lý thuyết quan hệ quốc tếcủa các nớc phơng Tây
4- Trong công tác nghiên cứu và giảng dạy quan hệ quốc tế cũng
nh nhiều môn khoa học khác, cần đợc nâng cao hơn nữa về chất lợng củacác đề tài và của các bài giảng thì việc nghiên cứu lịch sử của môn học, tìmhiểu một cách tơng đối có hệ thống các lý thuyết về quan hệ quốc tế có ýnghĩa quan trọng trớc hết
3 Các lý thuyết quan hệ quốc tế của các nớc phơng Tây tuy mới
ra đời vào đầu thế kỷ XX nhng nó có nguồn gốc lý luận từ thời cận đại, thậm chí từ thời cổ đại
Các lý thuyết đó có những mặt tích cực và có những mặt hạn chế,khi nó là lý luận của giai cấp t sản tiến bộ thì mặt tích cực thể hiện rất rõ,
nh những lý thuyết của giai cấp t sản trong thời kỳ Phục hng Song đến naynhững lý thuyết của giai cấp t sản về thực chất đã trở thành phản động vì nóbảo vệ lợi ích của chủ nghĩa đế quốc, do vậy cần đợc phân tích phê phánsâu sắc Tuy vậy với thái độ nghiêm túc khoa học chúng ta cũng rất quantâm đến những vấn đề có phần nào tích cực hợp lý đợc đặt ra trong các lý
Trang 3thuyết đó, chúng tôi sẽ nêu lên khi phân tích cụ thể từng lý thuyết.
Lý thuyết quan hệ quốc tế của các nớc phơng Tây thật là nhiều màunhiều vẻ, thậm chí trái ngợc nhau, song về thực chất vẫn là công cụ và là cơ
sở lý luận cho chiến lợc, sách lợc đối ngoại của các nớc đó Sau đây chúngtôi xin nêu lên một số nhận xét cụ thể:
Một là, các lý thuyết quan hệ quốc tế của các nớc phơng Tây luôn
khẳng định sự tồn tại vĩnh viễn của xã hội t bản, mô hình của CNTB là mộtxã hội lý tởng của loài ngời mà các nớc trên thế giới phải hớng theo Cáchọc giả phơng Tây luôn khẳng định chủ nghĩa t bản là "thế giới tự do"
Sau khi Liên Xô tan xã, CNXH ở các nớc Đông Âu sụp đổ, nhiềuhọc giả đã đa ra các lý thuyết để tạo dựng một trật tự thế giới mới mà Mỹ
đóng vai trò siêu cờng duy nhất lãnh đạo toàn thế giới
Hai là, nhiều lý thuyết đã khẳng định rằng các quốc gia dân tộc
không còn vai trò trên chính trờng quốc tế nữa, nhằm làm cho các quốc giachậm phát triển, đang phát triển phải lệ thuộc vào các nớc lớn Lý luận đórất sai lầm vì nó không phù hợp với thực tế hiện nay Độc lập dân tộc vàchủ quyền quốc gia vẫn là những mục tiêu đấu tranh chủ yếu của nhiều nớctrên thế giới
Ba là, các lý thuyết đó cũng đặt cơ sở để các nớc lớn chi phối các
n-ớc khác về mặt kinh tế Hiện nay nhiều học giả và chính khách theo thuyếtchủ nghĩa tự do mới nêu ra "sự đồng thuận của Washington" Theo thuyếtnày thì các nớc phải mở rộng cửa nền kinh tế nớc mình, thực hiện tự do hóanền kinh tế, thu hẹp vai trò quản lý điều tiết của Nhà nớc Điều này làm chonhững thế lực bên ngoài dễ dàng lợi dụng sự không ổn định của nền kinh tếthị trờng mà can thiệp sâu vào nội bộ các quốc gia, làm mất ổn định chínhtrị
Bốn là: Các lý thuyết quan hệ quốc tế của các nớc phơng Tây đều
tìm cách lảng tránh hoặc bác bỏ vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp Điều
đó là dễ hiểu, vì họ muốn tô hồng cho CNTB và làm cho mọi ngời quên mấtcuộc đấu tranh giai cấp vẫn đang diễn ra trong từng quốc gia và trên phạm
Trang 4vi toàn thế giới Các học giả t sản chỉ nói đến vấn đề chung của nhân loại
nh vấn đề môi trờng sinh thái, vấn đề đói nghèo, vấn đề bệnh tật, vấn đề tệnạn xã hội v.v Họ bỏ qua những vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, hơnthế nữa họ làm nh những vấn đề toàn cầu có tính chất chung của toàn nhânloại không có liên quan gì đến bản chất bóc lột của CNTB và của giai cấp tsản Chúng ta cũng không nên quên rằng "chiến lợc triệt tiêu kẻ thù" của đếquốc Mỹ vẫn đang hớng tới các nớc xã hội chủ nghĩa còn lại hiện nay
Năm là: Với thế giới quan, phơng pháp luận là duy tâm và siêu
hình, lý thuyết quan hệ quốc tế của các nớc phơng Tây đều tuyệt đối hóamột mặt nào đó trong quan hệ quốc tế, tách rời mặt kia; đề cao một yếu tốnào đó coi là cái chi phối quyết định tất cả Ví dụ nh chủ nghĩa tự do tuyệt
đối hóa những yếu tố đạo đức, lý tởng để rồi đi đến không tởng, ảo tởng;chủ nghĩa hiện thực lại nhấn mạnh đến vai trò của quyền lực quốc gia trongtừng nớc để đi đến chủ nghĩa vô chính phủ trong phạm vi quốc tế Chính vìvới thế giới quan và phơng pháp luận sai lầm nh vậy đối với những vấn đềquốc tế họ thờng đa ra những nhận định và chủ trơng sai lầm và nguy hiểm
Sáu là: Các lý thuyết quan hệ quốc tế của các nớc phơng Tây đều
phủ nhận và chống lại chủ nghĩa Mác - Lênin Cũng có những học giả nói
đến chủ nghĩa Mác, song nhiều lắm cũng chỉ coi chủ nghĩa Mác là mộttrong các học thuyết hiện nay mà thôi Còn một số học giả khác có vậndụng tiếp thu một số khái niệm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin thìphần nhiều là xuyên tạc, là kết hợp một cách vô nguyên tắc Chúng ta cóthể nêu ra những ví dụ rút ra từ trong lý thuyết của chủ nghĩa Gramsci mới,của chủ nghĩa xã hội dân chủ để minh họa cho nhận định trên
Bảy là: Chúng ta cũng cần phải biết đến một nhợc điểm nữa của các
lý thuyết này là không có một sự nhất quán chung Mỗi lý thuyết thờngphân thành nhiều nhóm, thậm chí có khi đối lập với nhau Ví dụ nh thuyếtnữ quyền có nhóm bảo thủ, có nhóm cấp tiến, có nhóm theo quan điểm mác-xít, có nhóm mang màu sắc cải lơng của chủ nghĩa xã hội dân chủ
4 Kết cấu của đề tài
Trang 5Kết cấu của đề tài đợc chia làm ba phần Phần thứ nhất trình bày
những t tởng chủ yếu của Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh về quan
hệ quốc tế Đây là những cơ sở lý luận mà đề tài làm căn cứ trong quá trình
đi sâu nghiên cứu, phân tích, nhận xét, phê phán các lý thuyết của phơngTây Song do phạm vi giới hạn của đề tài, nên các tác giả cha đi sâu phântích những nội dung t tởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -
Lênin Hai phần sau là trọng tâm của đề tài Phần thứ hai trình bày những
lý thuyết cơ bản về quan hệ quốc tế của các nớc phơng Tây Những lýthuyết này có chiều sâu cơ sở lý luận từ thời cổ đại, cận đại và ngày nay vẫn
có ảnh hởng rộng rãi đối với nhiều học giả, chính khách khi đi vào lĩnh vực
quan hệ quốc tế Phần thứ ba nêu lên một số lý thuyết đang nổi lên trong giới
nghiên cứu và hoạt động chính trị ở các nớc phơng Tây hiện nay
Trong phần thứ hai và phần thứ ba khi nói về các lý thuyết quan hệ
quốc tế của các nớc phơng Tây chúng tôi tập trung vào ba khía cạnh: một là nêu lên vài nét về bối cảnh, điều kiện ra đời, hai là giới thiệu một số nội dung chủ yếu và ba là bớc đầu đề xuất một số nhận xét, phê phán của
chúng tôi
Trang 6Phần thứ nhất
quan điểm mác xít về quan hệ quốc tế
I Quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen về quan hệ quốc tế
Mác và Ăngghen là những ngời sáng lập ra CNXH khoa học trên cơ
sở của hai phát minh vĩ đại: quan niệm duy vật về lịch sử và quy luật giá trịthặng d Từ đây chủ nghĩa Mác đã đặt cơ sở khoa học để nghiên cứu mộtcách đúng đắn về xã hội loài ngời Nghiên cứu những vấn đề quan hệ quốc
tế cần phải dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác và vận dụng phơngpháp luận biện chứng khoa học
Bản thân Mác và Ăngghen cũng đã nêu lên những quan điểm cơ bản
về vấn đề quan hệ quốc tế Những quan niệm đó giúp cho chúng ta nhậnthức đúng đắn và sâu sắc những vấn đề quốc tế trong lịch sử và cả trongthời đại ngày nay Đồng thời những quan điểm đó cũng là vũ khí để chúng
ta phân tích phê phán những lý luận của các học giả phơng Tây trên lĩnhvực quan hệ quốc tế
Chúng ta có thể nêu lên một số quan điểm cơ bản về quan hệ quốc
tế của Mác và Ăngghen nh sau:
1 Về vấn đề thời đại
Mác và Ăngghen kế thừa t tởng của những ngời đi trớc nh Phu-ri-ê,
Moóc-găng về vấn đề thời đại và trên cơ sở của hai phát hiện vĩ đại, một là quan điểm duy vật về lịch sử, hai là học thuyết giá trị thặng d, các ông đã
nêu lên quan điểm về thời đại Ăngghen viết: " Trong mỗi thời đại lịch sử,phơng thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội
do phơng thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị củathời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ cóxuất phát từ đó mới cắt nghĩa đợc lịch sử " (1)
Trang 7Nh vậy, hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cấu thành thời đại.Còn bản thân thời đại là thời kỳ lịch sử hình thành, phát triển và ngự trị củamột hình thái kinh tế xã hội nhất định.
Mác và Ăngghen cũng đã dự báo nội dung cơ bản của thời đại mớilà: "Giữa xã hội t bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa, là một thời
kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ
ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, trong đó nhà nớc không thể là cái gì
khác hơn là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản" (1)
T tởng trên đây vẫn có ý nghĩa để khẳng định con đờng đi lên củacác cuộc cách mạng chân chính hiện nay
2 Vấn đề toàn cầu hóa
Ngày nay, toàn cầu hóa đang là một xu thế lớn trong lịch sử nhân loại,
có liên quan đến sự vận động của thế giới ngày nay Ôn lại những chỉ dẫn củaMác - Ăngghen làm cho chúng ta nhận thức vấn đề đó đợc sâu sắc hơn
Cách đây hơn 150 năm Mác và Ăngghen trong "Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản" cũng đã nói đến quốc tế hóa và toàn cầu hóa:
"Đại công nghiệp đã tạo ra thị trờng thế giới, thay cho tình trạng côlập trớc kia của các địa phơng và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy pháttriển những mối quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc
Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phơng tiệngiao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp t sản đã lôi cuốn đến cả nhữngdân tộc dã man nhất vào trào lu văn minh " (2)
Nh vậy, Mác và Ăngghen đã nói đến toàn cầu hóa là một xu thếkhách quan, xu thế đó gắn liền với quá trình phát triển của nền kinh tếTBCN và dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc, các địaphơng trên thế giới
Trang 83 Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
Chủ nghĩa Mác khẳng định quá trình phát triển của xã hội loài ngời
là quá trình lịch sử tự nhiên, đồng thời cũng khẳng định không phải lànhững cá nhân kiệt xuất, những anh hùng mà quần chúng nhân dân là ngờilàm nên lịch sử Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử ngày mộttăng lên Phê phán quan điểm duy tâm của anh em Bờ-ru-nô Bau-e coi th-ờng vai trò của quần chúng nhân dân Mác và Ăngghen đã chỉ ra: "Hoạt
động lịch sử càng đi sâu thì khối quần chúng lấy hoạt động đó làm sựnghiệp của mình cũng sẽ do đó mà lớn lên" (1)
Khi tổng kết những kinh nghiệm của các cuộc cách mạng t sản ởchâu Âu, Bắc Mỹ và nhất là phong trào cách mạng Tây Âu những năm 40 -
50 thế kỷ XIX, Mác và Ăngghen lại một lần nữa khẳng định quần chúngnhân dân là ngời làm ra lịch sử, chính họ đóng vai trò quyết định đối vớitiến trình của lịch sử thế giới
4 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Mác và Ăngghen đã chứng minh rằng trong xã hội t bản đã hìnhthành một nền sản xuất đại công nghiệp bảo đảm cho lực lợng sản xuất vàxã hội phát triển khiến cho xã hội loài ngời có thể chuyển lên một xã hộicao hơn, đó là xã hội cộng sản văn minh Đồng thời một lực lợng xã hội đãhình thành và phát triển, đó là giai cấp công nhân Giai cấp này có sứ mệnhlịch sử xóa bỏ chế độ TBCN, xây dựng chế độ XHCN và cộng sản chủnghĩa Trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" hai ông đã viết: "Sự pháttriển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp t sản đã sảnxuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sản dới chân giai cấp t sản.Trớc hết, giai cấp t sản sản sinh ra những ngời đào huyệt chôn chính nó Sựsụp đổ của giai cấp t sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu nhnhau" (2)
Trang 95 Về chủ nghĩa quốc tế vô sản
Trong hoàn cảnh lịch sử của Mác, Ăngghen, giai cấp vô sản chagiành đợc chính quyền, các ông luôn nhấn mạnh đến đoàn kết trong phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế Mác và Ăngghen đã kêu gọi giai cấpcông nhân toàn thế giới: "Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ, khi nghĩ
đến một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa? Trong cuộc cách mạng ấy,những ngời vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ.Trong cuộc cách mạng ấy, họ giành đợc cả một thế giới cho mình
Vô sản tất cả các nớc, đoàn kết lại!" (1)
Trong "Phê phán cơng lĩnh Gôta" Mác đã phê phán Đảng Côngnhân Đức chỉ nói đến sự hoạt động riêng biệt của giai cấp vô sản trongphạm vi dân tộc, mà không nêu lên mối quan hệ đoàn kết tơng trợ giữa giaicấp công nhân các nớc với nhau Trong Cơng lĩnh Gôta cũng không hề nói
đến những nhiệm vụ quốc tế của giai cấp công nhân Đức
II Cống hiến của Lênin về lý luận quan hệ quốc tế
Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác lên một giai đoạn mới, trong lýluận về quan hệ quốc tế Lênin cũng có nhiều cống hiến to lớn vào kho tàng
lý luận của chủ nghĩa Mác Ngời nêu ra những quy luật quan hệ quốc tế ởnhững thời kỳ lịch sử khác nhau, và những nguyên lý cơ bản về lý luậnquan hệ quốc tế để hình thành chiến lợc, sách lợc đối ngoại của Đảng côngnhân và nhà nớc XHCN
T tởng của Lênin về quan hệ quốc tế có thể chia làm hai giai đoạn:trớc Cách mạng tháng Mời và sau Cách mạng tháng Mời
Giai đoạn trớc Cách mạng tháng Mời, Lênin nghiên cứu nguyênnhân của chiến tranh và tính chất của chiến tranh giữa các nớc đế quốc Ng-
ời vạch ra tính chất cớp đoạt của các chính sách đối ngoại của các nớc đếquốc và nhấn mạnh vai trò quan trọng của sự đoàn kết của giai cấp côngnhân và các lực lợng tiến bộ trong đấu tranh chống đế quốc Đồng thời,
Trang 10Lênin chỉ ra phơng châm đối ngoại cỉa nhà nớc vô sản mới thành lập phải
đối lập với tính chất cớp đoạt của chính sách ngoại giao của giai cấp t sản.Chính sách đó phải thúc đẩy sự nghiệp giải phóng các nớc thuộc địa vàquyền tự quyết của các dân tộc, phải liên minh với các lực lợng cách mạng
và các dân tộc bị áp bức, phải bảo vệ hòa bình trên cơ sở tôn trọng chủquyền của nhân dân các nớc
Sau đây chúng tôi nêu lên ba vấn đề chủ yếu mà Lênin đã phát triểnchủ nghĩa Mác trên lĩnh vực quan hệ quốc tế, trong giai đoạn lịch sử này
1 Chủ nghĩa xã hội thắng lợi trong một nớc
ở vào một giai đoạn mới của lịch sử, Lênin đã phát triển nhiều luận
điểm quan trọng của Mác - Ăngghen trớc đây Trong điều kiện lịch sửnhững năm 40 của thế kỷ XIX khi CNTB còn ở giai đoạn là CNTB tự docạnh tranh, những mâu thuẫn giữa các nớc t bản cha phát triển đến mức gaygắt, Mác và Ăngghen đã nêu lên luận điểm về cuộc cách mạng vô sản nhsau: "Chủ nghĩa cộng sản chỉ có thể có đợc một cách kinh nghiệm nh làhành động "tức khắc" và đồng thời của những dân tộc chiếm địa vị thốngtrị, điều này lại giả định là phải có sự phát triển phổ biến của lực lợng sảnxuất và của sự giao tiếp có tính thế giới gắn liền với chủ nghĩa cộng sản" (1)
Đến giai đoạn lịch sử mới, trên cơ sở học thuyết về chủ nghĩa đế quốcLênin đã khẳng định chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của CNTB, chủnghĩa đế quốc là đêm trớc của cuộc cách mạng vô sản Trên cơ sở khoa học đóLênin đã đi đến kết luận: "Sự phát triển không đều về kinh tế và chính trị làquy luật tuyệt đối của chủ nghĩa t bản Do đó chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xãhội có thể thắng lợi trớc hết là trong một số ít nớc t bản chủ nghĩa hoặcthậm chí chỉ trong một nớc t bản chủ nghĩa, tách riêng ra mà nói" (2)
2 Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng
Lênin đã phân tích tình hình thế giới khi nổ ra cuộc đại chiến lầnthứ nhất và chỉ ra rằng: đây là cuộc chiến tranh của các nớc đế quốc nhằm
Trang 11tranh giành quyền lợi của chúng Từ đó Lênin đã phê phán các đảng đệ nhịquốc tế đứng về phía Chính phủ của các nớc đế quốc hô hào quần chúngcông nông bảo vệ Tổ quốc Thực chất là các đảng đó đã trở thành những
đảng xã hội sô-vanh đứng ra bảo vệ lợi ích của giai cấp t sản của nớc mình.Lênin chỉ ra rằng điều ít tai hại nhất đối với nhân dân trong các cuộc chiếntranh đế quốc lúc đó là sự thất bại của Chính phủ Nga Hoàng vì nó làm chonhân dân dễ dàng đánh đổ chế độ Nga Hoàng, giai cấp công nhân và nôngdân đợc giải phóng; thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đế quốc Lênin cũng chỉ
ra rằng không phải chỉ những ngời cách mạng Nga mà cả các đảng cáchmạng của giai cấp vô sản ở tất cả các nớc tham chiến cũng phải thực hànhchính sách làm cho Chính phủ đế quốc ở nớc mình thất bại
ở đây, Lênin đã thể hiện rất rõ lập trờng và thái độ cách mạng củagiai cấp vô sản đối với chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc
3 Kết hợp phong trào giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, Lênin đã nhận ra vai trò cách mạngcủa phong trào giải phóng dân tộc Phong trào này kết hợp với phong trào cáchmạng vô sản sẽ biến các nớc phụ thuộc và thuộc địa từ chỗ là lực lợng hậu
bị của giai cấp t sản đế quốc trở thành lực lợng hậu bị và đồng minh củagiai cấp vô sản cách mạng Lênin đã chỉ ra phong trào giải phóng dân tộckết hợp với phong trào cách mạng của giai cấp vô sản để lật đổ kẻ thùchung là chủ nghĩa đế quốc Từ đó Lênin đã nêu lên một cách cụ thể nhiệm
vụ giáo dục chủ nghĩa quốc tế vô sản cho giai cấp công nhân nh sau:
"Trọng tâm của việc giáo dục chủ nghĩa quốc tế cho công nhântrong các nớc đi áp bức, tất nhiên phải là ở chỗ họ tuyên truyền và bênh vực
quyền tự do phân lập của các nớc bị áp bức Nếu không thì không có chủ
nghĩa quốc tế" và Lênin lại nói tiếp: "Trái lại ngời dân chủ - xã hội thuộcmột dân tộc nhỏ phải có bổn phận chuyển trọng tâm công tác cổ động của
mình vào chữ thứ nhất trong công thức chung của chúng ta là "liên hợp tự
nguyện" của các dân tộc" (1) Bổ sung vào khẩu hiệu mà Mác - Ăngghen đã
Trang 12đề ra: "Giai cấp vô sản toàn thế giới đoàn kết lại", Lênin đã nêu lên khẩuhiệu: "Giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại".
Sau Cách mạng tháng Mời, Lênin đã phát triển và làm phong phúthêm những quan điểm của chủ nghĩa Mác về quan hệ quốc tế trên cơ sởtổng kết kinh nghiệm của nhà nớc Xô viết
Một là: Lênin nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa chính sách đối nội
và chính sách đối ngoại Đồng thời cũng chỉ ra nếu đem chính sách đốingoại tách khỏi chính sách nói chung, thậm chí đem đối lập chính sách đốingoại với chính sách đổi mới, thì đó là sai lầm nghiêm trọng, bởi vì khôngchỉ chính sách đối nội ảnh hởng đến chính sách đối ngoại, mà chính sách
đối ngoại cũng tác động trở lại với chính sách đối nội Lênin viết: "Không
có t tởng nào sai lầm hơn và có hại hơn là t tởng tách rời chính sách đốingoại khỏi chính sách đối nội"(1)
Hai là: Lênin nêu lên phải biết kết hợp giữa tính kiên định, tính
nguyên tắc với tính linh hoạt trong chính sách đối ngoại của nhà nớc vô sản.Lênin nêu lên t tởng biết cách thỏa hiệp vì lợi ích của nhà nớc Xô viết vàlực lợng cách mạng trên thế giới Ngời cho rằng Hòa ớc Brét-litốp là sự thỏahiệp nh vậy Nhng trong lĩnh vực hệ t tởng thì Lênin cho rằng không thể có
sự thỏa hiệp nào Ví dụ nh là trớc ngày hội nghị Bộ Dân ủy ngoại giao đàmphán với ngời Mỹ, phía Mỹ nêu ra: nếu nớc Nga Xô viết thay đổi Hiếnpháp, để cho đại biểu của thành phần bóc lột tham gia Xô viết thì Mỹ sẽviện trợ kinh tế cho nớc Nga Xô viết Bộ Dân ủy ngoại giao tỏ ý tiếp thu đềnghị đó, nhng Lênin đã kiên quyết cự tuyệt
Ba là: Lênin nhiều lần nêu ra chỉ có dựa vào những quy luật khách
quan của sự phát triển xã hội do chủ nghĩa Mác vạch ra mới có thể giảithích quan hệ quốc tế một cách khoa học, dự báo đợc những xu thế pháttriển của quan hệ quốc tế Lênin đặc biệt nhấn mạnh những yêu cầu củachính sách nói chung và chính sách đối ngoại là phải đặc biệt quan tâm đếnnhững nhiệm vụ chủ yếu mà lịch sử đặt ra, quan tâm đến tơng quan lực lợnggiai cấp và cũng phải quan tâm đến nguyện vọng của dân chúng trong nớc
và trên phạm vi quốc tế
Trang 13Bốn là: Lênin đề ra nguyên tắc chủ nghĩa quốc tế của giai cấp vô
sản trong chính sách đối ngoại của nhà nớc XHCN Chủ nghĩa quốc tế vôsản đã đợc Mác - Ăngghen nêu ra trong "Tuyên ngôn Đảng cộng sản".Lênin tiếp tục phát triển và chỉ ra t bản là một lực lợng quốc tế, để chiếnthắng chủ nghĩa t bản cần phải có sự liên minh quốc tế và sự đoàn kết quốc
tế của giai cấp công nhân Trớc Cách mạng tháng Mời, chủ nghĩa quốc tếcủa giai cấp công nhân thể hiện ở những nguyên tắc quan hệ giữa các độitiên phong của giai cấp công nhân, sau khi Cách mạng tháng Mời thànhcông thì những nguyên tắc đó trở thành cơ sở của chính sách đối ngoại củanhà nớc Xô viết
Năm là: Lênin nêu lên nguyên tắc chung sống hòa bình giữa các nớc
có chế độ xã hội khác nhau Vào khoảng năm 1915 - 1916 Lênin đã đa rakết luận là trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa xã hội có thể thắnglợi ở một nớc hay một vài nớc, CNXH thay thế CNTB sẽ diễn ra trong mộtquá trình lâu dài, đó là cả một thời kỳ lịch sử Do đó mà có vấn đề quan hệgiữa các nớc có chế độ khác nhau Lênin nhấn mạnh rằng có một lực lợng tolớn hơn nguyện vọng, ý chí và nghị quyết của bất cứ chính phủ hay giai cấpnào, đó là sức mạnh của quan hệ kinh tế chung trên toàn thế giới Quan hệ đó
đã thúc đẩy các chính phủ đối địch, các giai cấp đối địch đi vào con đờng làm
ăn với chúng ta T tởng này của Lênin đã thể hiện ra trong pháp lệnh đầutiên của nhà nớc Xô viết: "Pháp lệnh Hòa bình" Tháng 6 năm 1920, ủyviên Bộ Dân ủy ngoại giao đã tuyên bố: "Khẩu hiệu của chúng ta: Trớc đây
và bây giờ là chung sống hòa bình với các chính phủ khác, bất luận họ làmột chính phủ nh thế nào Bản thân cuộc sống đã khiến chúng ta và các nớckhác phải xây dựng mối quan hệ lâu dài giữa chính phủ công nông vớichính phủ của giai cấp t sản" Đây là văn kiện chính thức đầu tiên của nhànớc Xô viết sử dụng thuật ngữ "chung sống hòa bình"
Lúc đó nhà nớc Xô viết ở trong vòng vây của CNTB; nhng việc nêu
ra nguyên tắc chung sống hòa bình không phải là suy nghĩ về sự tồn tại củabản thân nhà nớc Xô viết mà là dựa trên sự nhận thức quy luật khách quan,quá trình phát triển của xã hội loài ngời Lênin cho rằng chung sống hòabình là một hình thức đặc biệt của đấu tranh giai cấp, là hình thức tất yếucủa sự phát triển quan hệ quốc tế, sau khi xuất hiện hai chế độ căn bản khác
Trang 14nhau Nớc XHCN tiếp thu những nguyên tắc quan hệ quốc tế của giai cấp tsản đã nêu ra trong quá trình đấu tranh chống chế độ phong kiến nh: bình
đẳng, tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ hoàn chỉnh, không can thiệp vàocông việc nội bộ v.v Lần đầu tiên đã coi những nguyên tắc đó trở thành cơ
sở thực tế cho mối quan hệ qua lại giữa các quốc gia Nguyên tắc chungsống hòa bình yêu cầu các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau trên cơ sởcủa những nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, bình đẳng, lãnh thổ hoàn chỉnh
và không can thiệp nội bộ mà phát triển quan hệ giữa các quốc gia Thôngqua đàm phán giải quyết các tranh chấp quốc tế, không sử dụng vũ lực và
đe dọa dùng vũ lực, tôn trọng quyền chọn lựa chế độ chính trị xã hội củanhân dân các nớc
III T tởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế
T tởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế rất phong phú và mãi mãi là
t tởng chỉ đạo cho hoạt động đối ngoại của chúng ta Trong phạm vi của đềtài chúng tôi nêu lên những vấn đề chủ yếu mà Hồ Chí Minh đã vận dụngchủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích tình hình thực tế và đấu tranh chống t t-ởng hành vi của các thế lực phản động trên lĩnh vực quan hệ quốc tế
1 Tố cáo chủ nghĩa t bản, chủ nghĩa thực dân đế quốc
Hồ Chí Minh luôn vạch trần bản chất bóc lột của bọn đế quốc thựcdân đến xâm lợc các nớc thuộc địa Với nhiều bài viết và tác phẩm Hồ ChíMinh đã lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân các n-
ớc thuộc địa và nhân dân Việt Nam
Hồ Chí Minh nhiều lần vạch rõ bản chất xâm lợc của đế quốc Mỹ,Ngời nói rõ: Khi Giôn-sơn làm rùm beng về "thơng lợng hòa bình" thì ông
ta lại ra sức đẩy mạnh chiến tranh xâm lợc miền Nam Việt Nam và tăng ờng ném bom phá hoại miền Bắc
c-Đế quốc Mỹ và tay sai thờng rêu rao những ngời cộng sản là viphạm nhân quyền, chống tôn giáo v.v Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chấtcủa chủ nghĩa đế quốc trớc hết là đế quốc Mỹ về mặt này cho nhân dân toànthế giới biết Ngời đã thông báo cho Liên hợp quốc là ở miền Nam Việt
Trang 15Nam Mỹ - Diệm đã đàn áp dã man đối với Phật giáo Ngời cũng nhiều lần
tố cáo những tội ác chống con ngời của bọn xâm lợc Mỹ Theo Hồ ChíMinh tội ác vi phạm quyền con ngời lớn nhất của đế quốc Mỹ và bè lũ taysai là vi phạm quyền độc lập, tự do của các dân tộc
Là một danh nhân văn hóa, Hồ Chí Minh thờng xuyên lên án chínhsách ngu dân của bọn đế quốc, thực dân Ngay từ những ngày đầu của Nhànớc Việt Nam Dân chủ cộng hòa, với cơng vị là Chủ tịch nớc, Ngời đã hôhào toàn dân đứng lên chống ba loại giặc, mà trớc hết là giặc đói để xóa bỏnhững hậu quả chính sách ngu dân của chủ nghĩa thực dân để lại
2 T tởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc
Bớc ngoặt nhận thức về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc trong
t tởng của Hồ Chí Minh là từ khi Ngời đọc "Luận cơng về vấn đề dân tộc vàthuộc địa" của Lênin Luận cơng chống lại sự xâm lợc của chủ nghĩa đếquốc đối với các dân tộc, đồng thời cũng chống lại những quan điểm sailầm của "quốc tế hài" về vấn đề dân tộc Luận cơng cũng nhấn mạnh các
đảng cộng sản ở chính quốc phải có nhiệm vụ giúp đỡ phong trào giảiphóng dân tộc ở các nớc thuộc địa
Tổng kết những kinh nghiệm lịch sử của đấu tranh chống đế quốccủa nhân dân ta, kinh nghiệm của các nớc phơng Đông và kinh nghiệm củacác cuộc cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh đã rút ra nhận
định: không chấp nhận đi theo con đờng cách mạng t sản để giải phóng dântộc Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm hiểu kinh nghiệm của cách mạngNga (1917), Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận con đờng cứu nớc đúng đắnnhất là con đờng cách mạng vô sản
Hồ Chí Minh qua báo chí tuyên truyền cho nhân dân các nớc thuộc
địa nhận ra kẻ thù của mình Ngời vạch trần bộ mặt của những kẻ tự xng là
"ngời khai hóa văn minh" ở các nớc thuộc địa Hồ Chí Minh đã chứng minhrằng bọn đế quốc thống trị các nớc thuộc địa không chỉ áp bức bóc lột nhândân ở các nớc đó mà còn chống lại giai cấp vô sản ở chính quốc và chốnglại phong trào cách mạng thế giới
Trang 16Hồ Chí Minh chỉ ra mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc
và cách mạng vô sản ở chính quốc Ngời coi cách mạng giải phóng dân tộc
có vị trí ngang hàng với cách mạng vô sản ở chính quốc; Ngời ví hai cuộccách mạng đó nh "hai cánh của một con chim" Hai cuộc cách mạng đó đều
có chung một kẻ thù là chủ nghĩa t bản, mà ngời đã coi nó là "con đỉa t bảnchủ nghĩa có hai vòi", một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và mộtvòi nữa bám vào giai cấp vô sản và nhân dân các nớc thuộc địa, nếu muốngiết con vật đó, ngời ta phải cắt cả hai cái vòi của nó
3 T tởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
a) Hồ Chí Minh luôn coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận củacách mạng thế giới Với tinh thần đó, từ những năm 20 của thế kỷ XX, Ngời
đã nêu lên hình thành mặt trận quốc tế chống chủ nghĩa thực dân đế quốc.Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, Ngời đã mở rộng mặttrận đoàn kết với nhân dân thế giới để đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ
b) T tởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh có một nội dung cơbản là đoàn kết vững chắc với ba lực lợng: phong trào cộng sản và côngnhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào hòa bình thếgiới T tởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc lòng nhân
ái của Ngời Trong cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, Ngời luônkêu gọi tình đoàn kết với nhân dân các nớc trên thế giới, đặc biệt là vớinhân dân Pháp và nhân dân Mỹ Ngời luôn luôn nêu rõ thái độ của ta làphân biệt bọn thực dân xâm lợc Pháp với nhân dân Pháp, bọn hiếu chiến
Mỹ với nhân dân Mỹ
c) Hồ Chí Minh luôn tranh thủ sự đoàn kết quốc tế, nhng luôn luôngiữ vững tính độc lập tự chủ Đây là nhân tố quyết định sự thành công trênmặt trận đối ngoại, và cũng là nhân tố quyết định trên các lĩnh vực khác Tr-
ớc tình hình từ cuối những năm 50 phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế xuất hiện cuộc đấu tranh về đờng lối, Hồ Chí Minh đã kiên trì tinh thần
độc lập tự chủ vợt qua những ảnh hởng tiêu cực của chủ nghĩa xét lại cũng
nh của chủ nghĩa giáo điều, đã giải quyết thành công những vấn đề mới đặt
ra cho cách mạng Việt Nam thời chống Mỹ
Trang 17d) Hồ Chí Minh gắn liền hòa bình thế giới với độc lập tự do của dântộc ta.
Mục tiêu độc lập và tự do là điều cốt lõi trong t tởng Hồ Chí Minh,
điều đó gắn liền với mục tiêu hòa bình của nhân dân thế giới Hồ Chí Minhcho rằng muốn bảo vệ đợc hòa bình phải xóa bỏ tận gốc nguyên nhân gây
ra chiến tranh Ngời khẳng định: "Chủ nghĩa đế quốc là nguồn gốc chiếntranh", Ngời luôn luôn kêu gọi nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới
đoàn kết lại đấu tranh chống mọi âm mu gây chiến của chủ nghĩa đế quốc
- Hồ Chí Minh nêu rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa đấu tranh giành
độc lập tự do cho dân tộc và đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới Ngời làmcho thế giới hiểu rõ nhân dân Việt Nam chiến đấu hy sinh không phải chỉ vì
độc lập tự do của riêng mình mà còn vì độc lập tự do của các dân tộc và hòabình thế giới
Ngời còn phân biệt hòa bình chân chính của nhân dân tiến bộ thếgiới với hòa bình của các thế lực hiếu chiến phản động, nh chủ trơng muốn
có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh hoặc là hòa bình phải dựa vào sứcmạnh
Trang 18Phần thứ hai
Những lý thuyết cơ bản về quan hệ quốc tế
của các nớc phơng Tây
I Chủ nghĩa tự do
1 Vài nét về sự ra đời của chủ nghĩa tự do
Chủ nghĩa tự do là một trong hai trờng phái lý thuyết QHQT cơ bảnnhất ở phơng Tây Chủ nghĩa tự do đợc hình thành và truyền bá rộng rãi ởchâu Âu những năm đầu sau thế chiến thứ nhất Từ cuối năm 1930 cho đếnkhi chiến tranh lạnh kết thúc, vai trò, vị trí và ảnh hởng của trờng phái lýthuyết này trong giới học giả cũng nh trong hoạt động chính trị thực tiễn bịsuy giảm đáng kể Tuy nhiên, sau khi Liên Xô tan rã, chiến tranh lạnh chấmdứt, xu thế hòa bình hợp tác quốc tế có dấu hiệu trở thành nổi trội trên thếgiới, trờng phái lý thuyết này lại đợc hồi sinh và trở thành cơ sở lý luận, phơngpháp luận cho không ít các công trình nghiên cứu quốc tế ở hàng loạt quốcgia trên thế giới Chủ nghĩa tự do cho rằng từ xa xa con ngời đã mang sẵntrong mình bản chất thiện, luôn kỳ vọng về một thế giới tốt đẹp, hạnh phúc,
hài hòa hơn Đây chính là cơ sở nhận thức luận đầu tiên và chủ yếu nhất
cho sự hình thành trờng phái triết lý xã hội tự do chủ nghĩa nói chung và xu hớng lý thuyết tự do chủ nghĩa về quan hệ quốc tế nói riêng.
Bằng việc đề xuất thành lập "nhà nớc lý tởng" do các triết gia (tầng lớp thông thái và tinh túy nhất của xã hội) - quản lý, điều hành, Platôn(427 - 347 TCN) đợc coi nh một trong những ông tổ của trờng phái triết lýxã hội tự do chủ nghĩa Với việc nhấn mạnh, đề cao phơng diện đạo đức, giátrị luận của chính trị, thì G Gro-ti-u-xơ và I Căng đợc đánh giá nh lànhững ngời khởi xớng cho trờng phái lý thuyết tự do chủ nghĩa về QHQT.Theo quan niệm của Căng, luôn tồn tại sẵn một hệ giá trị đạo đức, nhân đạophổ quát, vĩnh cửu, bất biến, nh là "cái tiên thiên, tiên nghiệm" Hệ giá trị
-ấy đợc "chuyển" vào trong mỗi con ngời, trở thành mệnh lệnh, nguyên tắcchi phối, chỉ đạo hành vi của con ngời trong quan hệ xã hội, làm cho con
Trang 19ngời mang bản tính thiện Ông cho rằng, một trong những mục tiêu quantrọng nhất mà nhân loại hớng tới trong tiến trình phát triển của mình là thiếtlập hệ thống quan hệ hòa bình, hữu nghị vĩnh viễn giữa các quốc gia, giữacác dân tộc trên thế giới Căng khẳng định rằng hình thành nhà nớc phápquyền là một trong những điều kiện quyết định đối với việc thiết lập "nềnhòa bình vĩnh viễn" giữa các quốc gia châu Âu.
Bên cạnh những t tởng, luận điểm nêu trên của Căng, thì một số ý ởng của Xanh Xi-mông cũng đợc xem nh yếu tố quan trọng tạo nên hệ tiền
t-đề t tởng, lý luận cho sự hình thành lý thuyết tự do chủ nghĩa về chính trịquốc tế Xanh Xi-mông đề xuất ý tởng thiết lập "một nhà nớc siêu dân tộcchung cho toàn châu Âu"
Quan niệm của các nhà t tởng Pháp ở Kỷ nguyên ánh sáng về giátrị tối thợng của tri thức, lý trí, đạo đức, và đặc biệt là t tởng nhân văn củaRút-xô về hòa bình, dân chủ, quan điểm của Mông-téc-xki-ơ về vai trò củapháp luật, nhà nớc pháp quyền, xã hội công dân, cùng với hệ thống quanniệm của trờng phái Kinh tế chính trị học Cổ điển Anh mà hai đại diện tiêubiểu là A.Xmít và Ri-các-đô về kinh tế thị trờng, tự do kinh doanh, buônbán cũng trở thành tiền đề lý luận, t tởng cơ bản của trờng phái lý thuyết
Lo ngại rằng, những sự kiện tơng tự nh chiến tranh thế giới thứ nhất
có thể lặp lại trong tơng lai, giới nghiên cứu cũng nh một số chính trị giahàng đầu ở phơng Tây nỗ lực tìm phơng thức ngăn ngừa những thảm họa
nh vậy Trong quá trình phân tích, tổng kết, khái quát thực tiễn lịch sử ấy,dựa trên những tiền đề t tởng lý luận nêu trên mà một xu hớng lý thuyếtQHQT đợc ra đời Trờng phái lý thuyết này, khi nghiên cứu các sự kiện,
Trang 20quá trình chính trị - xã hội của nhân loại, xuất phát từ một lý tởng (Ideal),mong muốn, khát vọng hòa bình của nhân loại, chứ không xuất phát từ hiệnthực của nền chính trị quốc tế Do vậy, lúc đầu trờng phái lý thuyết ấy đợc
gọi là Chủ nghĩa lý tởng (Idealism) Trong những giai đoạn phát triển về
sau, trờng phái lý thuyết QHQT này đợc đổi tên gọi thành Chủ nghĩa tự do,Chủ nghĩa quốc tế tự do
2 Những vấn đề chủ yếu trong QHQT của chủ nghĩa tự do
Chủ nghĩa tự do khẳng định rằng hòa bình, hợp tác là bản chất, làthuộc tính khách quan thờng trực của nền chính trị thế giới Luận điểm này
đợc xây dựng trên cơ sở nhận thức: trạng thái hài hòa, cân bằng, hòa hợpkhông chỉ là bản chất, điều kiện tồn tại của giới tự nhiên mà còn của conngời Chiến tranh, xung đột là những hiện tợng phi lý, phản tự nhiên, là cáibất bình thờng, phản quy luật, không phải là thuộc tính thờng trực của nềnchính trị thế giới Xuất phát từ quan niệm nh vậy, đại biểu của lý thuyết tự
do chủ nghĩa kết luận, chiến tranh, xung đột là thứ "ung nhọt, bệnh tật" trêncơ thể nền chính trị quốc tế Cộng đồng nhân loại cần lên án, phản đối, hơnthế loài ngời có đủ khả năng hạn chế, đi tới chấm dứt hoàn toàn xung đột,chiến tranh trong đời sống xã hội
Để chữa trị "căn bệnh" xung đột, chiến tranh trong QHQT, phái tự
do chủ nghĩa đề xuất một số biện pháp, "phơng thuốc" chủ yếu nh:
Thứ nhất phổ biến, mở rộng thể chế chính trị dân chủ ra phạm vi
toàn thế giới Các nhà tự do chủ nghĩa chỉ ra rằng, hệ thống thế giới biến
đổi theo xu hớng ngày càng có nhiều quốc gia thành viên chọn lựa mô hìnhchính trị dân chủ, kinh tế thị trờng Nhờ đó, xung đột, chiến tranh sẽ giảmbớt, thế giới sẽ trở nên hòa bình và an ninh hơn
Thứ hai, thiết lập thị trờng chung, mở rộng thành thị trờng toàn cầu,
tăng cờng tự do kinh doanh, buôn bán giữa các quốc gia, các khu vực, cácchâu lục, xóa bỏ các rào cản đối với thơng mại quốc tế, làm cho các thànhviên tham gia thị trờng ấy có nhiều lợi ích chung mà họ hợp tác với nhauchặt chẽ hơn, nỗ lực cùng nhau bảo vệ, thực hiện lợi ích chung đó, tránh đ-
ợc xung đột, giảm đợc chiến tranh trong QHQT
Trang 21Thứ ba, xây dựng, tăng cờng thẩm quyền, nâng cao hiệu quả hoạt
động của các cơ quan, tổ chức quốc tế Đồng thời soạn thảo và thực thi hệthống pháp lý quốc tế, làm cho luật pháp quốc tế trở thành bắt buộc đối vớitất cả các quốc gia Tiến tới xây dựng mô hình, cơ chế quản lý toàn cầu t-
ơng tự nh hệ thống chính trị của một quốc gia Biện pháp này đợc xây dựngtrên một luận điểm rất cơ bản là các thiết chế quốc tế (tổ chức quốc tế, công
ty đa quốc gia ) là chủ thể hàng đầu, đóng vai trò quyết định đối với cáctiến trình phát triển của thế giới, còn các nhà nớc quốc gia chỉ là chủ thể
"hạng hai" Xu thế là trong tơng lai các thiết chế quốc tế ngày càng tăng vaitrò, ảnh hởng của mình, lấn át các nhà nớc, làm xói mòn chủ quyền quốcgia
Thứ t, xuất phát từ nhận định là tồn tại một hệ giá trị, hệ các quy tắc
đạo đức, ứng xử mang tính phổ quát, chung cho mọi quốc gia, những ngời
tự do chủ nghĩa cho rằng, gìn giữ, phổ biến, tuyên truyền những giá trịchung ấy sẽ giúp cho các dân tộc hiểu biết, xích lại gần nhau hơn, nhờ đó
họ sẽ tăng cờng hợp tác, quan hệ hòa bình hữu nghị đồng thời tránh xung
đột, gây chiến với nhau
3 Một số nhận xét, phê phán chủ nghĩa tự do
- Về những vấn đề chung trong quan hệ quốc tế
Chủ nghĩa tự do trên nền tảng là chủ nghĩa cá nhân và thuyết đanguyên cho rằng: có lợi ích cá nhân thì mới có tiến bộ và mới có cơ hội về
sự bình đẳng cho mỗi con ngời Những ngời theo chủ nghĩa tự do mongmuốn trong xã hội t bản có đợc một nền dân chủ vô hạn, dân chủ vô bờ, dânchủ chung cho mọi ngời, mọi giai cấp trong xã hội Đây chính là điểm khácnhau rất căn bản về nền tự do dân chủ của phơng Tây và quan niệm về tự dodân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin Những ngời cộng sản cho rằng tự dodân chủ có tính giai cấp và nó là một phạm trù lịch sử
Theo quan điểm của chủ nghĩa tự do việc hoạch định chính sách đốingoại do áp lực từ bên ngoài của chủ nghĩa hiện thực là không đúng đắn.Chủ nghĩa tự do cho rằng chính sách đối ngoại phải xuất phát từ lợi ích bêntrong của quốc gia Thực chất chủ yếu là vì lợi ích của giai cấp t sản, của
Trang 22các tập đoàn t bản độc quyền, còn nhân dân lao động vẫn là những ngời bị
bỏ rơi Chủ nghĩa tự do của phơng Tây là tự do chà đạp lên lợi ích của cácquốc gia khác, bắt quốc gia này phải hy sinh lợi ích vì một quốc gia khác,
tự do làm giàu của những quốc gia mạnh Đó là sự mất dân chủ, công bằnglớn nhất trong đời sống quan hệ quốc tế hiện nay
Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô nhiềuhọc giả phơng Tây cho rằng chủ nghĩa tự do là sự phát triển cao nhất, về t t-ởng, nó là mô hình cuối cùng cho chế độ kinh tế và chính trị của xã hội loàingời
Về vấn đề này cần phải phê phán chủ nghĩa tự do nh sau:
a) Nền kinh tế và chính trị trong xã hội t bản hiện nay không phải làluôn luôn phát triển, do những mâu thuẫn bên trong nó không ổn định,khủng hoảng, suy thoái, xung đột và chiến tranh vẫn diễn ra Không phải làCNTB mà chỉ có CNXH mới là mô hình xã hội tốt đẹp mà loài ngời sẽ vơntới trong tơng lai
b) Những quan điểm giá trị của các nớc phơng Tây không thể áp đặtcho các nớc khác Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là chân lý khoa học và cáchmạng của thời đại ngày nay
c) Chế độ "dân chủ" của các quốc gia phơng Tây không phải là cơ
sở để xây dựng mối quan hệ quốc tế hòa bình, ổn định Luận điểm của chủnghĩa Mác - Lênin về bản chất của chủ nghĩa đế quốc là gây chiến vẫn hoàntoàn đúng đắn trong thời đại ngày nay Thực tế của tình hình thế giới trongnhững năm gần đây đã chứng minh điều đó
- Về các quan điểm chiến tranh và hòa bình
Quan điểm của chủ nghĩa tự do phơng Tây, hòa bình là một trạngthái quan hệ thông thờng, rằng hòa bình có thể là vĩnh viễn Quy luật tựnhiên tạo ra những điều kiện cho sự hài hòa và hợp tác giữa mọi ngời Dovậy chiến tranh vừa là phản tự nhiên, vừa là phi lý chiến tranh không phải
là sản phẩm của quan hệ xã hội mà là thủ đoạn của những con ngời cá biệtnào đó với những đức tính không hoàn thiện
Trang 23Quan điểm mác xít cho rằng chế độ t hữu về t liệu sản xuất, chế độngời bóc lột ngời là nguồn gốc kinh tế, nguồn gốc xã hội sâu xa của mọicuộc chiến tranh Muốn loại bỏ chiến tranh ra khỏi đời sống quan hệ quốc
tế thì phải xóa bỏ chủ nghĩa t bản, xóa bỏ chế độ t nhân về t liệu sản xuất.Chính phủ quân sự, hoặc một thiểu số nào đó gây chiến tranh, chỉ là thểhiện lợi ích và ý chí của giai cấp thống trị xã hội Chủ nghĩa tự do phơngTây nhấn mạnh và muốn mọi ngời tin tởng vào tính thiện của con ngờitrong điều kiện xã hội t bản chủ nghĩa hiện nay, nhằm kêu gọi cho hòabình, tự do, dân chủ, chỉ là một ảo tởng duy tâm mà thực chất là phục vụ lợiích cho giai cấp t sản Chiến tranh là sự kế tục của chính trị Chính trị làbiểu hiện tập trung của kinh tế và do kinh tế quyết định Đó là lôgic củacuộc sống, là quan điểm duy vật lịch sử về chiến tranh và hòa bình
Ngày nay Mỹ và các nớc phơng Tây đã can thiệp thô bạo, trắng trợn
và đầy tội ác dã man đối với Nam T, I-rắc và nhiều nơi khác, những sự việc
ấy cho thấy lý luận của chủ nghĩa tự do về quan hệ quốc tế chỉ nhằm lừa bịpmọi ngời, phục vụ cho lợi ích của chủ nghĩa t bản, với một nền hòa bìnhtrong bất công, phản dân chủ
Những ngời theo chủ nghĩa tự do nhận thức không đúng đắn nguyênnhân của chiến tranh, nên họ cho rằng phơng thuốc điều trị loại bỏ chiếntranh là thơng mại, buôn bán Mậu dịch tự do là phơng tiện mang lại hòabình, mang lại sự giàu có cho đất nớc
Chúng ta thấy trong thực tế đời sống xã hội, loài ngời vì lợi ích kinh
tế đã dẫn đến biết bao cuộc chiến tranh tàn khốc Xã hội loài ngời đã từngdiễn ra nhiều cuộc chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh và cả chiến tranhmềm Sự cạnh tranh trong thơng mại cũng khốc liệt không kém gì chiếntranh nóng Chiến tranh ôtô, chiến tranh hàng tơ lựa, chiến tranh hàng điện
tử vẫn thờng diễn ra Chiến tranh mềm là những cuộc chiến tranh về kinh tế
- thơng mại, t tởng văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế - thơng mạihiện nay Chiến tranh mềm có sức công phá và hủy hoại đất nớc, con ngờikhông kém gì chiến tranh nóng và chiến tranh lạnh Thực tế ấy là cơ sở phêphán đanh thép nhất những quan điểm tự do mậu dịch của phơng Tây Chủ
Trang 24nghĩa tự do phơng Tây vì lợi ích của giai cấp t sản, che giấu sự bất công,bản chất xấu xa của xã hội t bản.
Mậu dịch tự do là trung tâm điểm của lý thuyết phụ thuộc lẫn nhau,việc thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu trớc kia và Liên minh châu AAungày nay có nguồn gốc từ niềm tin vào chủ nghĩa tự do Nền dân chủ vàmậu dịch tự do phơng Tây là những yếu tố chính của chủ nghĩa quốc tế tự
do phơng Tây Do vậy vấn đề nhân quyền trở thành một nội dung của chínhsách ngoại giao của các chính phủ theo chủ nghĩa tự do
Các nớc phơng Tây nói nhiều đến dân chủ, nhân quyền, nhng thực
tế ở những quốc gia ấy vi phạm tự do nhân quyền nhiều nhất Tệ phân biệt
đối xử về màu da, sắc tộc, về giới tính nam và nữ, về dân tộc lớn và nhỏ lànhững điều nhức nhối trong xã hội t bản Những ngời theo chủ nghĩa tự do
ở Mỹ đã làm ngơ trớc những hành vi vi phạm quyền tự do dân chủ trong đờisống quan hệ quốc tế của chính quyền Mỹ Nớc Mỹ tự phong cho mình sứmệnh phán xét, phê phán tình hình vi phạm nhân quyền của 194 nớc trênthế giới, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc Chỉ riêng điều đó đã chothấy Mỹ là nớc vi phạm tự do nhân quyền lớn nhất thế giới
Để có hòa bình, chống chiến tranh, chủ nghĩa tự do đã bàn đến cơcấu hệ thống quan hệ quốc tế nh hệ thống cân bằng quyền lực, hệ thống anninh tập thể với những luật pháp quốc tế và tổ chức bảo vệ hòa bình, v.v Những cố gắng ấy đều không loại bỏ đợc chiến tranh, không đa lại hòa bìnhcho nhân loại, vì họ đã không đi vào giải quyết tận gốc rễ của những vấn đềchiến tranh và hòa bình là chế độ kinh tế, chế độ chính trị Chỉ có chủ nghĩaxã hội, chủ nghĩa cộng sản mới đem lại nền hòa bình chân chính, vững bềncho loài ngời Chừng nào còn chủ nghĩa t bản, chủ nghĩa đế quốc thì khôngthể có hòa bình chân chính
- Về các quan điểm của chủ nghĩa tự do trên lĩnh vực kinh tế
Từ những năm 30 của thế kỷ XX trở về trớc là thời kỳ của chủ nghĩa
tự do cũ Ngày nay chủ nghĩa tự do mới về kinh tế của phơng Tây coi nềnkinh tế t bản chủ nghĩa là một hệ thống hoạt động tự động, do các quy luậtkinh tế khách quan điều tiết T tởng cơ bản là tự do kinh doanh, tự do tham
Trang 25gia thị trờng, chống lại sự can thiệp của Nhà nớc vào hoạt động kinh tế.Những ngời theo chủ nghĩa tự do cho rằng mọi thất bại không phải là do hệthống cạnh tranh và bản thân thị trờng điều tiết, mà là do nhà nớc gây trởngại và can thiệp vào hệ thống này Trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, họcho rằng sự điều tiết can thiệp của Nhà nớc vào kinh tế, họ cũng coi là mộtviệc làm xấu không hiệu quả.
Mậu dịch tự do trong thế kỷ XIX chỉ là một màn che đậy, mà đằngsau nó là nớc Anh theo đuổi một chính sách tàn nhẫn vơ vét bóc lột các dântộc trên thế giới
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Mỹ là nớc giàu mạnh lênnhanh chóng trở thành ngời đứng đầu thế giới t bản chủ nghĩa, do vậy chínhsách mậu dịch tự do thực chất cũng là do Mỹ chi phối và phục vụ lợi íchcho Mỹ Mỹ đã nổi trội lên thành một trung tâm vợt xa các nớc khác về tàichính, kinh tế, kỹ thuật
Chủ nghĩa mậu dịch tự do của phơng Tây trong thời gian qua đã lộ
rõ thái độ đạo đức giả của nhà nớc t sản và giai cấp t sản Phổ biến các nớc
đang phát triển không nhiệt tình hởng ứng hệ thống mậu dịch tự do của
ph-ơng Tây Các nớc đang phát triển nhìn nhận mậu dịch tự do nh là một vũkhí của chủ nghĩa đế quốc sử dụng để mở cửa đất nớc họ cho việc bóc lộttài nguyên, đầu t nớc ngoài và thu lợi nhuận Nh vậy mậu dịch tự do sẽ dẫn
đến làm suy giảm nền kinh tế và gây trở ngại cho các nớc này phát triển
Quan điểm của chủ nghĩa tự do về kinh tế trong đời sống quan hệquốc tế của phơng Tây là những t tởng biện hộ cho chủ nghĩa thực dân kiểumới của chủ nghĩa đế quốc Trong khi đi vào xây dựng nền kinh tế thị tr-ờng, những ngời cộng sản không buông lỏng, thả nổi hoạt động kinh tế đểmặc thị trờng tự điều tiết Nhận rõ tính hai mặt của cơ chế kinh tế thị trờng,chúng ta vừa khuyến khích tính tự quản, chủ động năng động trong sản xuất
và lu thông, đồng thời tăng cờng sự quản lý điều tiết ở tầm vĩ mô của Nhànớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Còn chủ nghĩa tự do muốn cho các n-
ớc phơng Tây đợc tự do thâm nhập chi phối thị trờng toàn thế giới Nhữngngời theo chủ nghĩa tự do phơng Tây ra sức kêu gọi mở rộng tự do trong
Trang 26quan hệ kinh tế quốc tế, trớc hết là mở cửa thị trờng của các nớc, điều đó sẽ
đem lại lợi ích cho chủ nghĩa t bản
Toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay đã phát triển ở trình độrất cao Trong tình hình đó những ngời theo chủ nghĩa tự do phơng Tâycàng đề cao vai trò và sức mạnh của thị trờng tự do, muốn hạ thấp vai tròcủa Nhà nớc trong đời sống kinh tế Họ muốn loại bỏ các "nhà nớc phúc lợixã hội" để nhờng chỗ cho thị trờng tự do hoạt động Sức mạnh điều tiết thịtrờng của Nhà nớc t sản đã bị xói mòn bởi sức mạnh toàn cầu hóa
Trong thời kỳ toàn cầu hóa kinh tế phát triển đến trình độ cao thìviệc phân tích bản chất mậu dịch tự do thế giới cần phải đợc làm sáng tỏ.Ngày nay những ngời theo chủ nghĩa tự do về kinh tế và thơng mại luônluôn cho rằng việc buôn bán trao đổi hàng hóa, tiền tệ trên thế giới phải dỡ
bỏ các rào chắn quốc gia Tất cả các nớc nên thực thi chính sách hớng tớimột thị trờng toàn cầu mở rộng, có thể vợt qua những đờng biên giới quốcgia Mậu dịch tự do sẽ sản sinh ra cạnh tranh, sự cạnh tranh sẽ thúc đẩy việc
sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn nguyên liệu lao động và vốn t bản
Tr-ớc đây chủ nghĩa tự do về kinh tế trong đời sống quan hệ quốc tế đã ra sứctuyên truyền ngợi ca lý thuyết về lợi thế so sánh Thuyết này khuyến nghịcác quốc gia nên chuyên môn hóa về hàng hóa và dịch vụ mà họ có thể làm
ra một cách tốt nhất, rẻ nhất
Thuyết lợi thế so sánh chủ trơng Nhà nớc kiểm soát việc chu chuyển
t bản Ngày nay trên thế giới hình thành các thị trờng vốn với quy mô lớntoàn cầu và sự luân chuyển t bản diễn ra rất nhanh, vợt khỏi cả sự kiểm soátcủa các chính phủ quốc gia Những thị trờng vốn hay bị chao đảo, khủnghoảng sẽ là một khó khăn, thách thức lớn đối với thuyết lợi thế so sánh.Trên 40% các hoạt động mậu dịch hiện nay là thuộc bên trong các công tyxuyên quốc gia Điều này sẽ ngợc lại với thuyết lợi thế so sánh Các công tyxuyên quốc gia đang thích ứng ngày càng mạnh mẽ trong việc tìm cách phá
vỡ những đờng biên giới quốc gia, tìm kiếm các nguồn lao động rẻ mạt vàcác nguồn nguyên liệu, v.v nhằm thu đợc lợi nhuận cao nhất Điều đókhông phải là do lợi thế so sánh tạo nên
Trang 27Nh vậy, việc quốc tế hóa sản xuất, sự biến động về vốn và sự ngự trịcủa các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia làm cho lý thuyết về lợi thế sosánh bị thách thức và lỗi thời.
Sự tăng nhanh của các Hiệp định mậu dịch tự do trong thời gian gần
đây nh NAPTA, APEC, WTO, EU, v.v cùng với vai trò lớn mạnh của G7,IMF, WB đã chỉ rõ ảnh hởng của chủ nghĩa tự do quốc tế về kinh tế và th-
ơng mại trong thời kỳ hiện nay nh thế nào Những thể chế quy định của các
tổ chức trên đã bảo vệ nguyên tắc tự do theo thế giới phơng Tây Tuy nhiênphải nhận rõ chính sách tự do kinh tế và thơng mại của phơng Tây đã làmcho sự phụ thuộc về kinh tế của các nớc đang phát triển tăng lên, nó cũngthể hiện sự thiếu trách nhiệm, mất dân chủ mà các nớc phơng Tây áp đặttrong quan hệ quốc tế
Các tổ chức mậu dịch tự do của thế giới phơng Tây chỉ là sự chínhthức hóa một trật tự toàn cầu dựa trên những mối quan hệ thị trờng khôngbình đẳng Các nớc đang phát triển đã hy vọng vào những chính sách mậu dịch
tự do: mở cửa cho đầu t nớc ngoài vào, giảm vai trò của chính phủ, t nhân hóadoanh nghiệp nhà nớc, xóa bỏ bao cấp đối với các ngành xuất khẩu, bỏ sựkiểm soát của Nhà nớc đối với các hoạt động về vốn Với những biện phápnày, các nớc đang phát triển đã phải trả giá đắt là sự mất chủ quyền về kinh tế.Chủ quyền của Nhà nớc bị thay thế bằng chủ quyền của vốn đầu t
"Sự đồng thuận Oa-sinh-tơn" là một biểu hiện của chủ nghĩa tự domới của Mỹ trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay Điều này khiến cho cácquốc gia phải thực hiện một cách triệt để tự do hóa thị trờng, t nhân hóa nềnkinh tế, thu hẹp vai trò của Nhà nớc theo hớng "nhà nớc tối thiểu, thị trờngtối đa" Các tổ chức quốc tế coi sự đồng thuận Oa-sinh-tơn là chuẩn mựccủa các nớc đang chuyển đổi nền kinh tế Do đó đem lại những hậu quả taihại cho nhiều nớc nhất là đối với các nớc đang phát triển Trong xu thế toàncầu hóa, chủ nghĩa tự do mới một mặt đòi hỏi các nớc mở rộng cửa nềnkinh tế của đất nớc mình, mặt khác hạn chế vai trò quản lý, điều tiết của bộmáy nhà nớc, qua đó tạo điều kiện để cho các thế lực bên ngoài dễ dàng canthiệp vào nội bộ các nớc, thậm chí chi phối và lật đổ các chính phủ, các chế
Trang 28độ mà họ cho là không phù hợp Chúng ta kịch liệt phê phán chống lại chủnghĩa tự do mới về toàn cầu hóa của phơng Tây Chúng ta không chấp nhận
sự mở cửa một cách không giới hạn, không có sự lựa chọn và quản lý, một sựvô chính phủ mới nhằm phục vụ phơng Tây
Tóm lại, những ngời theo chủ nghĩa tự do trong quan hệ quốc tế từ
lâu đã tìm cách hạn chế, xóa bỏ vai trò ảnh hởng của Nhà nớc trong cácquan hệ kinh tế - thơng mại quốc tế Sự sụp đổ về chủ quyền kinh tế của cácquốc gia là bằng chứng rõ ràng về sự suy giảm vai trò nhà nớc cũng nh táchại của chủ nghĩa tự do phơng Tây Các công ty xuyên quốc gia và nhữngthị trờng vốn có ảnh hởng vô cùng lớn đối với tình hình kinh tế thế giới nóichung và tình hình kinh tế của mỗi nớc nói riêng Mục tiêu của chủ nghĩa tự
do phơng Tây là tạo ra một thị trờng toàn cầu Tuy nhiên, không ít các quốcgia đã kịch liệt phê phán chủ trơng này, vì nó chủ yếu phục vụ cho các nớc
t bản phơng tây, mà thực chất là một hình thức mới của chủ nghĩa thực dân
đế quốc
Lý thuyết chủ nghĩa tự do trong quan hệ quốc tế, đã đợc các nớc tbản phơng Tây ra sức thực hiện Các cờng quốc kinh tế đã đạt đợc nhữngthành công lớn về kinh tế - thơng mại Chủ nghĩa tự do đã làm tăng lên sựchênh lệch về của cải ở trong nớc và giữa nớc giàu với nớc nghèo Sự chênhlệnh quá đáng ấy đã ngự trị và phá hủy đời sống cộng đồng Các Công tyxuyên quốc gia và các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế đã mặc sức hoànhhành và thao túng đời sống quan hệ quốc tế
Chiến tranh lạnh kết thúc, Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩakhông còn nữa, đối trọng của Mỹ và hệ thống t bản chủ nghĩa không cònnữa, do vậy chủ nghĩa tự do càng có điều kiện thuận lợi để phát huy ảnh hởng
II Chủ nghĩa hiện thực
1 Vài nét về sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực
Là một trong hai trờng phái lý thuyết QHQT chủ đạo ở các nớc
ph-ơng Tây, chủ nghĩa hiện thực chính thức ra đời vào khoảng những năm 30của thế kỷ XX Nó đợc đánh giá nh là một "phản đề" đối với trờng phái lý
Trang 29thuyết QHQT tự do chủ nghĩa, nhất là trong bối cảnh khi mà cộng đồng thếgiới đang đứng trớc nguy cơ bùng phát một cuộc chiến tranh thế giới mới(chiến tranh thế giới thứ hai) Các thế lực phát xít, quân phiệt hiếu chiến
đang tăng cờng sức mạnh và quyền lực, thực tiễn lịch sử đó diễn ra hoàntoàn trái với những dự báo, theo quan điểm của chủ nghĩa tự do Khoa họcQuan hệ quốc tế ở phơng Tây lâm vào tình trạng khủng hoảng, đòi hỏi phải
có những lý thuyết mới ra đời Trong bối cảnh nh vậy, trờng phái lý thuyếtQHQT hiện thực chủ nghĩa đợc hình thành Khi nghiên cứu nền chính trịthế giới nếu lý thuyết tự do chủ nghĩa xuất phát từ một mô hình thế giới lýtởng, từ những mong muốn, khát vọng mang tính chủ quan, thì lý thuyếthiện thực chủ nghĩa luôn yêu cầu phải xuất phát từ thực tế của nền chính trịthế giới Thực tế đó theo nhận định của nhà hiện thực chủ nghĩa, là chiếntranh, xung đột triền miên, là cuộc đấu tranh bất tận giành quyền lực, mởrộng ảnh hởng, nhằm thực hiện lợi ích của các quốc gia
Với công trình "Cuộc chiến tranh Pô-lô-pô-nê-xi-an" (lịch sử gọi là
"Cuộc chiến tranh ba mơi năm 432 - 404 TCN"), Thu-xi-dit, một sử gia HyLạp cổ đại (471 - 400 TCN), đợc xem nh ông tổ của những quan niệmchính trị hiện thực chủ nghĩa Tác giả cho rằng, cội nguồn, nguyên nhân sâu
xa của cuộc chiến tranh ấy là sự tranh giành quyền lực giữa hai thành bangA-ten và Xpác Từ đó ông rút ra kết luận chung: Các nhà nớc luôn có thamvọng giành nhiều quyền lực chính trị, luôn nghi kỵ nhau, do vậy mà họ th-ờng xung đột, gây chiến chống lại lẫn nhau
Quan điểm của Mác-ki-a-vê-li về sức mạnh, bạo lực nh là công cụquan trọng nhất của chính trị, cái nhìn bi quan của ông về bản tính con ng-
ời, cũng nh bản chất của chính trị đợc xem nh là một trong những tiền đề ttởng lý luận chủ yếu của trờng phái lý thuyết QHQT hiện thực chủ nghĩa.Tơng tự nh Mác-ki-a-vê-li,T Hốp-bơ cũng có quan niệm rất tiêu cực về bảntính con ngời Ông cho rằng, bản tính con ngời là tính ác, tính ích kỷ, thamlam, đối lập với xã hội, Trong trạng thái tự nhiên (tức là, trớc khi có nhà n-ớc) quan hệ giữa các cá nhân con ngời là "cuộc chiến tranh của mọi ngờichống lại mọi ngời" Vì sự tồn vong của loài ngời, thì trạng thái tự nhiên ấykhông thể tiếp tục kéo dài mãi đợc, do đó con ngời phải ký với nhau một
Trang 30"khế ớc xã hội" về việc thành lập nhà nớc, các cá nhân phải "chuyển dịch,san sẻ" một phần quyền hạn, lợi ích của mình cho Nhà nớc Đến lợt mìnhnhà nớc sử dụng quyền hạn do các cá nhân "góp lại" để điều tiết, quản lýquan hệ giữa các cá nhân Mở rộng ra quan hệ quốc tế, theo Hốp-bơ, cácnhà nớc cũng mang bản chất ích kỷ, tham quyền lực nh cá nhân mỗi conngời vậy, bởi vì chính quyền nhà nớc luôn do các cá nhân con ngời cụ thểnắm và sử dụng Vì thế, quan hệ giữa các nhà nớc là xung đột, chiến tranhgiành quyền lực.
Tiếp tục phát triển quan niệm nêu trên về bản tính con ngời, bảnchất nhà nớc một loạt các nhà t tởng nh Công-tơ, Phíc-tơ, Hê-ghen, Nit-sơ
đã góp phần đáng kể củng cố thêm những tiền đề t tởng, lý luận chuẩn bịcho sự ra đời của trờng phái lý thuyết QHQT hiện thực chủ nghĩa
Với tác phẩm "Cuộc khủng hoảng kéo dài hai thập kỷ: 1919 - 1939"xuất bản năm 1939, sử gia ngời Anh, E.H.Ka đợc đánh giá nh là một trongnhững nhà sáng lập ra trờng phái lý thuyết QHQT hiện thực chủ nghĩa.Trong công trình của mình Ka tập trung phê phán hệ quan điểm của lýthuyết QHQT tự do chủ nghĩa Trong quá trình phê phán, ông đa ra nhữngquan điểm đối lập, do vậy những quan điểm của chủ nghĩa hiện thực vềQHQT cha đợc trình bày theo một hệ thống, lôgic chặt chẽ Lần đầu tiên,những quan điểm của lý thuyết Hiện thực chủ nghĩa về QHQT đợc trìnhbày một cách có hệ thống, Lôgic chặt chẽ trong tác phẩm "Chính trị giữacác quốc gia" (xuất bản năm 1948) của nhà nghiên cứu chính trị quốc tế ng-
ời Mỹ, H Moóc-gen-thau Những năm trớc chiến tranh thế giới thứ II, lýthuyết hiện thực chủ nghĩa đợc phổ biến rộng rãi ở các nớc Tây Âu Sau khichiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, trung tâm của chủ nghĩa hiện thựcchuyển sang Bắc Mỹ, trở thành cơ sở lý luận cho việc hoạch định chiến lợc
đối ngoại của Chính phủ Hoa Kỳ Thực tế cho thấy, Kít-xinh-giơ và din-xki là những chính trị gia cổ vũ và áp dụng không ít luận điểm của tr-ờng phái lý thuyết này vào việc hoạch định, triển khai chính sách đối ngoạicủa Chính phủ Mỹ Giới phân tích chính trị quốc tế đánh giá, với việc coitrọng chủ nghĩa đơn phơng, tăng cờng củng cố tiềm năng quốc phòng,hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại khá cứng rắn nh hiện nay,