1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo Khó khăn, vướng mắc của Công chứng viên trong việc xác mịnh, giám định trong hoạt động công chứng – đề xuất giải pháp hoàn thiện Luật công chứng

19 304 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo Khó khăn, vướng mắc của Công chứng viên trong việc xác mịnh, giám định trong hoạt động công chứng – đề xuất giải pháp hoàn thiện Luật công chứng
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật công chứng
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 66,68 KB
File đính kèm Báo cáo.rar (63 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, tình trạng giả mạo giấy tờ, tài liệu cũng như giả mạo người yêu cầu công chứng trong hoạt động công chứng đã và đang diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp, nghiêm trọng. Các loại giấy tờ làm giả rất đa dạng: từ chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, bằng cử nhân, chứng chỉ hành nghề, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy xác nhận số chứng minh nhân dân, chứng minh nhân dân và giấy tờ có giá trị lớn như giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,... Trong thời gian qua, mặc dù đã có sự phối hợp giữa Cơ quan cảnh sát điều tra các địa phương và các cơ quan có liên quan nhằm đưa ra cũng như thực hiện nhiều giải pháp ngăn ngừa, xử lý, tuy nhiên tình trạng giả mạo giấy tờ tài liệu vẫn diễn biến phức tạp. Việc này không chỉ gây thiệt hại lớn về vật chất mà còn gây tâm lý hoang mang và bất ổn cho xã hội mà người yêu cầu công chứng và Công chứng viên đều có thể trở thành nạn nhân của vấn nạn này bất cứ lúc nào. Để “…bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế xã hội.” cũng như để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì Công chứng viên phải nhận diện được các tài liệu, giấy tờ giả có trong hồ sơ công chứng; nhận diện người tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch từ đó đưa ra các hành động pháp lý phù hợp. Tuy nhiên, để xác định được các tài liệu, giấy tờ giả có trong hồ sơ công chứng; nhận diện người tham gia giao kết hợp đồng thì Công chứng viên phải thực hiện hoạt động xác minh, giám định trong quá trình hành nghề công chứng. Đây là một trong những việc vô cùng quan trọng trong hoạt động công chứng, có tính chất quyết định trong việc đảm bảo việc chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự cũng như chứng nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt. Trong phạm vi bài báo cáo này, học viên xin lựa chọn chuyên đề: “Khó khăn, vướng mắc của Công chứng viên trong việc xác mịnh, giám định trong hoạt động công chứng – đề xuất giải pháp hoàn thiện Luật công chứng” nhằm phân tích chi tiết các vấn đề pháp lý liên quan đến việc xác minh, giám định cũng như làm rõ những khó khăn, vướng mắc từ đó đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện quy định của pháp luật về xác minh, giám định trong hoạt động công chứng.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC

-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN

Kỹ năng chung về công chứng

Chuyên đề: Khó khăn, vướng mắc của Công chứng viên trong việc xác mịnh, giám định trong hoạt động công chứng – đề xuất giải pháp hoàn

thiện Luật công chứng

Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2023

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC MINH HOẶC GIÁM ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 1

1 Khái niệm về xác minh, giám định 1

2 Các trường hợp xác minh, giám định trong hoạt động công chứng 1

3 Đối tượng cần xác minh, giám định trong hoạt động công chứng 2

3.1 Xác minh hoặc kiểm tra năng lực hành vi dân sự của cá nhân liên quan đến hoạt động công chứng 3

3.2 Các giấy tờ về tài sản 4

3.3 Giấy tờ tùy thân, giấy tờ hộ tịch 4

3.4 Tài sản 5

II THỰC TIỄN VIỆC XÁC MINH, GIÁM ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 6

1 Thực trạng, khó khăn, vướng mắc trong hoạt động xác minh hoặc giám định trong hoạt động công chứng 6

1.1 Chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý cho Công chứng viên thực hiện quyền xác minh, giám định 6

1.2 Vấn nạn giấy tờ giả, người giả mạo trong hoạt động công chứng diễn ra phổ biến, phức tạp 8

1.3 Thực trạng thiếu trang bị máy móc, công nghệ hỗ trợ hoạt động xác minh, giám định trong hoạt động công chứng 8

1.4 Hành vi vi phạm liên quan đến giấy tờ giả chưa được xử lý thỏa đáng 9

1.5 Kỹ năng hành nghề, chuyên môn nghiệp vụ của Công chứng viên còn hạn chế 10

2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác minh, giám định trong hoạt động công chứng 10

2.1 Xây dựng cơ chế pháp lý đảm bảo cho Công chứng viên thực hiện quyền xác minh, giám định 11

2.2 Giải pháp đối với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền liên quan 11 2.3 Giải pháp đối với các tổ chức hành nghề công chứng và Công chứng viên 12

C KẾT LUẬN 14

Trang 4

A MỞ ĐẦU

Hiện nay, tình trạng giả mạo giấy tờ, tài liệu cũng như giả mạo người yêu cầu công chứng trong hoạt động công chứng đã và đang diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp, nghiêm trọng Các loại giấy tờ làm giả rất đa dạng: từ chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, bằng

cử nhân, chứng chỉ hành nghề, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy xác nhận số chứng minh nhân dân, chứng minh nhân dân và giấy tờ có giá trị lớn như giấy chứng nhận đăng

ký mô tô, xe máy, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Trong thời gian qua, mặc dù đã có sự phối hợp giữa Cơ quan cảnh sát điều tra các địa phương và các cơ quan có liên quan nhằm đưa ra cũng như thực hiện nhiều giải pháp ngăn ngừa, xử lý, tuy nhiên tình trạng giả mạo giấy tờ tài liệu vẫn diễn biến phức tạp Việc này không chỉ gây thiệt hại lớn về vật chất mà còn gây tâm lý hoang mang và bất ổn cho xã hội mà người yêu cầu công chứng và Công chứng viên đều có thể trở thành nạn nhân của vấn nạn này bất cứ lúc nào

Để “…bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng

ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định

và phát triển kinh tế - xã hội.” cũng như để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì Công

chứng viên phải nhận diện được các tài liệu, giấy tờ giả có trong hồ sơ công chứng; nhận diện người tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch từ đó đưa ra các hành động pháp lý phù hợp Tuy nhiên, để xác định được các tài liệu, giấy tờ giả có trong hồ sơ công chứng; nhận diện người tham gia giao kết hợp đồng thì Công chứng viên phải thực hiện hoạt động xác minh, giám định trong quá trình hành nghề công chứng Đây là một trong những việc vô cùng quan trọng trong hoạt động công chứng, có tính chất quyết định trong việc đảm bảo việc chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự cũng như chứng nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt

Trong phạm vi bài báo cáo này, học viên xin lựa chọn chuyên đề: “Khó khăn,

vướng mắc của Công chứng viên trong việc xác mịnh, giám định trong hoạt động công chứng – đề xuất giải pháp hoàn thiện Luật công chứng” nhằm phân tích chi tiết các vấn đề

pháp lý liên quan đến việc xác minh, giám định cũng như làm rõ những khó khăn, vướng mắc từ đó đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện quy định của pháp luật về xác minh, giám định trong hoạt động công chứng

Trang 5

B NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC MINH HOẶC GIÁM ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

1 Khái niệm về xác minh, giám định

Xác minh trong hoạt động công chứng là việc Công chứng viên xem xét, kiểm tra những thông tin do người yêu cầu công chứng cung cấp và các giấy tờ, tài liệu liên quan tới nội dung cần công chứng để làm căn cứ đánh giá, kết luận về những thông tin, giấy tờ, tài liệu và đối tượng của hợp đồng, giao dịch có đúng, phù hợp với quy định của pháp luật

Giám định trong hoạt động công chứng do Công chứng viên yêu cầu (theo đề nghị của người yêu cầu công chứng) nhằm có cơ sở để đánh giá một cách chính xác người tham gia giao dịch là có năng lực hành vi dân sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội

2 Các trường hợp xác minh, giám định trong hoạt động công chứng

Việc xác minh hoặc giám định là một trong những hoạt động nghiệp vụ quan trọng bậc nhất của Công chứng viên nhằm góp phần đảm bảo việc chứng nhận các hợp đồng, giao dịch đúng luật

Theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 thì việc xác minh, giám định được tiến hành trong một số trường hợp như sau:

- Thứ nhất, “Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công

chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc đối tượng của hợp đồng, giao dịch chưa được mô tả cụ thể thì Công chứng viên

đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, Công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định…” - Khoản 5

Điều 40 Luật công chứng 2014

- Thứ hai, “Công chứng viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản

đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, Công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định” - Điều 57 Khoản 3 Luật công chứng 2014.

Như vậy, trong hoạt động công chứng, có rất nhiều trường hợp mà Công chứng viên cần phải xác minh hoặc giám định theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng Việc xác minh hoặc giám định trong hoạt động công chứng nhằm mục đích

để bảo đảm tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch Các nội dung cần xác

Trang 6

minh hoặc giám định trong hoạt động công chứng có thể là các vấn đề liên quan đến chủ thể bao gồm tư cách của chủ thể, tính xác thực của chủ thể, về năng lực hành vi dân sự của chủ thể yêu cầu công chứng; về đối tượng của hợp đồng, giao dịch; về các giấy tờ pháp lý liên quan (giấy tờ chứng minh về quyền của chủ thể, giấy tờ về tài sản) và các thông tin do các bên tham gia hợp đồng, giao dịch cung cấp

Trong hoạt động công chứng khi phát sinh các trường hợp cần xác minh hoặc giám định mà Công chứng viên bỏ qua không tiến hành xác minh, giám định hoặc việc xác minh, giám định không chính xác sẽ có nguy cơ gây dẫn đến hợp đồng, giao dịch dân sự bị vô hiệu, từ đó gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan khi tham gia công chứng hợp đồng, giao dịch

Do vậy, nếu “Công chứng viên không tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám

định trong trường hợp có yêu cầu xác minh, giám định của người yêu cầu công chứng” thì sẽ bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng - quy định tại điểm

o, khoản 3, Điều 15 Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 Ngoài ra

thì “tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành

chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” – Điều 71, 38 Luật công chứng 2014.

3 Đối tượng cần xác minh, giám định trong hoạt động công chứng

Khi kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì số lượng, loại và dạng tài sản ngày càng nhiều, đa dạng dẫn đến các loại việc yêu cầu công chứng từ đó cũng ngày càng

đa dạng, phức tạp Trong mỗi loại hợp đồng, giao dịch yêu cầu công chứng đều có thể phát sinh những vấn đề phải xác minh hoặc giám định nhằm đảm bảo tính xác thực, tính chính xác của hợp đồng, giao dịch

Hoạt động xác minh của Công chứng viên có thể được tiến hành thông qua việc kiểm tra, đối chiếu hồ sơ lưu trữ, truy xuất và tra cứu thông tin điện tử; tiến hành xác minh tại các cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có liên quan; kiểm tra thực tế đối tượng của giao dịch là tài sản; đề nghị các cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin cần thiết

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 17 Luật công chứng 2014 thì Công

chứng viên có quyền “d) Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp

thông tin, tài liệu để thực hiện việc công chứng;” Do vậy, ngoài biện pháp tự kiểm

tra, đối chiếu hồ sơ lưu trữ, truy xuất và tra cứu thông tin điện tử; tiến hành xác minh tại các cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có liên quan; kiểm tra thực tế đối tượng của giao dịch là tài sản; thì Công chứng viên còn có quyền đề nghị các cơ quan

có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin cần thiết nhằm xác minh các nội dung, vấn đề cần làm rõ Từ đó, giúp Công chứng viên xác nhận chính xác người tham gia giao dịch có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội hoặc đối

Trang 7

tượng của hợp đồng giao dịch là có thật, chữ ký trong hợp đồng, giao dịch là đúng chữ

ký của người tham gia hợp đồng, giao dịch Từ đó góp phần ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm hành lang pháp lý an toàn, ngăn ngừa các tranh chấp xảy ra

Theo quy định của Luật công chứng 2014, chúng ta có thể xác định những đối tượng cần phải xác minh hoặc giám định trong quá trình hành nghề của Công chứng viên – khi có yêu cầu xác minh hoặc giám định của người yêu cầu công chứng Cụ thể:

3.1 Xác minh hoặc kiểm tra năng lực hành vi dân sự của cá nhân liên quan đến hoạt động công chứng

Theo quy định tại Điều 19 Bộ luật dân sự 2015 thì “Năng lực hành vi dân sự

của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” Do vậy, khi tiếp nhận yêu cầu công chứng, thông qua việc trao đổi

và nghiên cứu hồ sơ, nếu Công chứng viên nhận thấy người có liên quan đến nội dung yêu cầu công chứng có những dấu hiệu bất thường về tinh thần, tâm lý, về sự thể hiện

ý chí… thì Công chứng viên phải áp dụng các kỹ năng nghề và biện pháp nghiệp vụ để xác định về trạng thái tinh thần, tâm lý của người đó Nếu có những dấu hiệu cho thấy người yêu cầu công chứng có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế, bị mất năng lực hành vi dân sự … thì phải tạm dừng việc công chứng và đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, Công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định để xác định khả năng nhận thức, làm chủ hành vi và thể hiện ý chí của người đó Trường hợp không làm rõ được thì Công chứng viên có quyền từ chối công chứng

Trong trường hợp không làm rõ được mà Công chứng viên vẫn tiến hành hoạt động công chứng thì tùy từng trường hợp hợp đồng, giao dịch đó có nguy cơ bị vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 như:

- Điều 122 “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định

tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”

– Điểm a khoản 1 Điều 11 “a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi

dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;”

- Điều 125 “Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất

năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện”.

- Điều 127 “Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép”

- Điều 128 “Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm

chủ được hành vi của mình”

Vì vậy, việc xác minh hoặc giám định năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng giúp Công chứng viên nhận định đúng về chủ thể của giao dịch, bảo

Trang 8

đảm giao dịch dân sự có hiệu lực Không những vậy, xác định chủ thể còn giúp Công chứng viên xác định được những yêu cầu về hồ sơ công chứng, yêu cầu về nội dung của giao dịch khi pháp luật có quy định các điều kiện riêng cho mỗi loại chủ thể, giúp Công chứng viên tránh những sai sót trong việc tư vấn, chứng nhận những giao dịch có nội dung trái quy định pháp luật do loại chủ thể đó không được thực hiện, khi thực hiện phải tuân theo điều kiện nhất định hoặc khi thực hiện giao dịch

họ không cần phải tuân theo những yêu cầu của pháp luật dành cho các chủ thể thông thường khác

Không những vậy, việc xác định được chủ thể, năng lực hành vi dân sự của chủ thể còn giúp xác định đúng cá nhân, tổ chức có yêu cầu công chứng có đủ điều kiện tham gia giao dịch hay không để đi đến việc từ chối hoặc nhận yêu cầu công chứng Từ đó giúp cho Công chứng viên có được những tư vấn đúng, đủ, cần thiết trong những trường hợp cụ thể để người yêu cầu công chứng có thể thực hiện những thủ tục pháp lý nhằm bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật về mặt chủ thể, bảo đảm quyền lợi của người tham gia giao dịch và quyền lợi của những người khác

3.2 Các giấy tờ về tài sản

Việc xác minh hoặc giám định đối với các giấy tờ về tài sản trong quá trình thực hiện công chứng là việc Công chứng viên xem xét các giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản có được cấp đúng thẩm quyền hay không, hiện trạng thực tế của tài sản có đúng với tình trạng pháp lý được ghi nhận trong giấy

tờ về tài sản hay không? Con dấu, chữ viết, chữ ký của người có thẩm quyền…có đúng không

Thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp hiện trạng thực tế của tài sản đã có

sự thay đổi so với hiện trạng được ghi nhận trên giấy chứng nhận, ví dụ như: đối với động sản như xe mô tô, xe máy đã thay đổi màu sơn không đúng với giấy chứng nhận đăng ký xe… Những trường hợp này, Công chứng viên phải hướng dẫn cho các bên hoàn tất các thủ tục hợp thức hóa đối với những thay đổi nêu trên hoặc tiến hành xác minh về hiện trạng và tình trạng pháp lý của tài sản, để bảo đảm cho việc công chứng hợp đồng, giao dịch được chính xác, tránh tranh chấp về sau

Ngoài ra việc xác minh, giám định có thể được tiến hành tại các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tờ về quyền sử hữu, quyền sử dụng tài sản hoặc Công chứng viên có thể yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tờ về quyền sử hữu, quyền

sử dụng tài sản như: Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ (đối với xe ô tô, mô tô, xe máy …), Sở Giao thông vận tải (đối với phương tiện thủy nội địa), Văn phòng đăng

ký đất đai (đối với nhà ở, quyền sử dụng đất,…) phối hợp trong việc cung cấp thông tin, dữ liệu nhằm xác minh nội dung, vấn đề còn chưa rõ Ngoài ra Công chứng viên cũng có thể xác minh tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản hoặc nơi cư trú của người yêu cầu công chứng

Trang 9

3.3 Giấy tờ tùy thân, giấy tờ hộ tịch

Mặc dù “giấy tờ tùy thân” được sử dụng phổ biến hiện nay, nhưng chưa có văn bản pháp luật nào định nghĩa cụ thể giấy tờ tùy thân là gì Theo cách hiểu chung nhất, giấy tờ tùy thân là những loại giấy tờ có thể giúp xác định đặc điểm và nhận dạng nhân thân của một người Giấy tờ tùy thân do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp và có giá trị sử dụng trong một thời gian nhất định

Đối với giấy tờ tùy thân của người tham gia giao dịch thì chứng minh nhân dân là một trong những loại giấy tờ rất quan trọng, nhưng thường xuyên bị các đối tượng làm giả mạo hoặc tẩy xóa, sửa chữa Việc kiểm tra giấy tờ tùy thân là để nhận diện thông tin của người tham gia giao dịch công chứng (ngày tháng năm sinh; họ tên; nơi thường trú; đặc điểm nhận dạng; vân tay…) có phù hợp với các địa điểm ghi trên giấy tờ tùy thân hay không hoặc có phù hợp với thông tin trên các loại giấy tờ khác như hộ khẩu, giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn … hay không hoặc có phù hợp với người yêu cầu công chứng hay không?

Thực tế xảy ra nhiều trường hợp người yêu cầu công chứng không phải là người có tên trên giấy tờ tùy thân, nhưng lại sử dụng các thủ đoạn giả mạo, gian dối

để thay hình, chèn hình, chèn đặc điểm nhận dạng vào giấy tờ tùy thân, để qua mặt Công chứng viên thực hiện thành công thủ đoạn giả mạo, gian dối

Ngoài ra, đối với các giấy tờ hộ tịch của người yêu cầu công chứng như giấy chứng nhận kết hôn, hộ khẩu, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy khai sinh, giấy chứng tử … Công chứng viên cũng phải kiểm tra kỹ hoặc tiến hành xác minh tại cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy tờ này nếu thấy có những nghi vấn về việc giả mạo giấy tờ hoặc gửi công văn xác minh đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền

3.4 Tài sản

Việc kiểm tra, xác minh tài sản là vấn đề rất phức tạp, liên quan đến nhiều quy định pháp luật, nhiều cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có liên quan, mất nhiều thời gian Nội dung xác minh có thể là: về hiện trạng của tài sản, tình trạng pháp lý của tài sản trong thực tế với các giấy tờ về tài sản

Có rất nhiều trường hợp thực tế tài sản không còn hiện hữu nữa, mà chỉ còn giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu Do vậy, khi Công chứng viên thấy có căn cứ để nghi vấn nhưng không tiến hành xác minh, dẫn tới việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch khi tài sản không còn trên thực tế sẽ dẫn đến tranh chấp và nếu phát sinh thiệt hại thì Công chứng viên có khả năng phải chịu bồi thường

Đối với nhà ở, các phát sinh thường gặp là nhà được xây dựng tăng thêm diện tích sử dụng, làm thay đổi hiện trạng, kết cấu nhà mà phần tăng thêm này không được chứng nhận sở hữu theo quy định pháp luật

Trang 10

Đối với các tài sản khác không phù hợp giữa tài sản thực tế và giấy tờ chứng minh quyền sở hữu như các phương tiện thủy nội địa, tàu biển đã có thay đổi về kích thước, vật liệu đóng, thay đổi tính năng sử dụng nhưng không được chứng nhận quyền

sở hữu và không được cập nhật trên giấy tờ chứng minh quyền sở hữu

Như vậy, việc xác minh, yêu cầu giám định của Công chứng viên khi hành nghề là rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi cho người tham gia giao dịch công chứng, tránh tranh chấp có thể xảy ra và phòng ngừa giả mạo trong hoạt động công chứng

II THỰC TIỄN VIỆC XÁC MINH, GIÁM ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

1 Thực trạng, khó khăn, vướng mắc trong hoạt động xác minh hoặc giám định trong hoạt động công chứng

1.1 Chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý cho Công chứng viên thực hiện quyền xác minh, giám định

- Với hoạt động xác minh:

Luật Công chứng năm 2014 quy định Công chứng viên phải bảo đảm các nội dung như chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự; mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; chữ ký hoặc dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịch đúng là chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng, giao dịch

Tuy nhiên, với quy định trên thì Công chứng viên chịu trách nhiệm về nội dung công chứng nhưng lại không đương nhiên có quyền thực hiện xác minh nội dung trong hợp đồng công chứng Luật Công chứng cũng như các văn bản pháp lý có liên quan trong lĩnh vực công chứng chưa thực sự tạo ra một cơ chế pháp lý ổn định, đồng nhất và đầy đủ cho Công chứng viên thực hiện quyền xác minh trong hoạt động công chứng

Theo quy định tại khoản 5 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014 thì Công chứng viên

chỉ tiến hành hoạt động xác minh trong trường hợp “Trong trường hợp có căn cứ cho

rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép… thì … theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, Công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định”.

Điều này có nghĩa là Công chứng viên không được quyền đương nhiên xác minh những vấn đề còn lại trong nội dung giao dịch mà chỉ xác minh, giám định “…

theo đề nghị của người yêu cầu công chứng”

Bên cạnh đó, theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 17 Luật Công chứng

2014 quy định Công chứng viên có quyền “Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên

quan cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện việc công chứng” Tuy nhiên, đó là tất

cả căn cứ pháp luật mà Công chứng viên có thể áp dụng để tìm kiếm thông tin Luật công chưng và các văn bản hướng dẫn khác không có quy định nào bắt buộc các cơ quan, tổ chức có liên quan phải cung cấp thông tin, tài liệu cho Công chứng viên trong

Ngày đăng: 21/08/2023, 11:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w