1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành

124 540 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
Tác giả Đỗ Thị Hồng Xinh
Trường học Viện Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 2,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương là công cụ quản lý hữu hiệu của doanh nghiệp, thông qua đó việc cung cấp chính xác số lượng, thời gian và kết quả la

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bất cứ xã hội nào, việc sản xuất ra của cải vật chất hoặc thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh đều không tách khỏi lao động của con người Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội Lao động là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất, trước hết cần phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động Trong nền kinh tế thị trường, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị và gọi là tiền lương

Hiện nay, công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương là công cụ quản lý hữu hiệu của doanh nghiệp, thông qua đó việc cung cấp chính xác số lượng, thời gian và kết quả lao động cho các nhà quản trị sẽ giúp cho việc quản lý được chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm Mọi doanh nghiệp được dựa vào các chế độ tiền lương do Nhà nước ban hành để áp dụng khéo léo vào thực trạng doanh nghiệp mình Doanh nghiệp phải luôn tìm cách bảo đảm mức thù lao tương xứng với kết quả của người lao động để làm động lực thúc đẩy họ nâng cao năng suất lao động, gắn bó phấn đấu vì doanh nghiệp nhưng cũng đảm bảo tối thiểu hoá chi phí tiền lương trong giá thành để tạo thế cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường Bởi tiền lương vừa là sản phẩm đối với doanh nghiệp đồng thời cũng là thu nhập chính của người lao động

Những lý luận trên đòi hỏi kế toán viên luôn phải tìm tòi để hoàn thiện hơn công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương, đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, nhanh chóng nhất cho nhà quản trị, đồng thời là chỗ dựa đáng tin cậy của người lao động

Trang 2

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp cùng với những kiến thức tích luỹ được trong quá trình học tập tại trường và quá trình thực tập tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành , em xin chọn đề tài:

“Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành” để làm khoá luận tốt nghiệp của mình

Trong bản khoá luận, ngoài phần lời nói đầu, kết luận, em xin được trình bày kết cấu khoá luận với ba phần chính như sau:

Phần I: Lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo

lương trong doanh nghiệp

Phần II: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành

Phần III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán tiền lương và

các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành

Là một sinh viên với một lượng kiến thức thu lượm được ở các Thầy

cô và qua sách vở còn thiếu nhiều kinh nghiệm về thực tế nên trong quá trình nghiên cứu và trình bày sẽ khó tránh những thiếu sót và hạn chế

Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô giáo, quý Công ty và bạn đọc để khoá luận được hoàn thiện hơn

Trang 3

PHẦN I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Bản chất tiền lương trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm tiền lương:

Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời cũng là quá trình tiêu hao các yếu tố cơ bản ( Lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động); trong đó lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người, sử dụng các tư liệu lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành các vật phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình Lao động là một trong ba yếu tố cần thiết và giữ vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất, trước hết cần phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động

Trong nền kinh tế thị trường, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị gọi là tiền lương vì trong nền kinh tế thị trường, thứ mà người ta mua bán không phải là lao động mà là sức lao động Khi sức lao động trở thành hàng hoá thì giá trị của nó được thể hiện bằng tiền Người bán sức lao động sẽ nhận được phần thù lao cho giá trị sức lao động dưới hình thức thanh toán tiền lương, lúc này tiền lương là biểu hiện bằng tiền của gía trị sức lao động, là giá cả của yếu tố sức lao động mà người sử dụng lao động ( Nhà nước, chủ doanh nghiệp, ) phải trả cho người cung ứng sức lao động tuân theo quy luật Cung - Cầu, quy luật giá cả thị trường

và pháp luật hiện hành của Nhà nước Trong nền kinh tế thị trường, tiền

Trang 4

lương là vấn đề quan trọng liên quan đến Chính phủ, doanh nghiệp và người lao động

Như vậy: Tiền lương là một bộ phận thu nhập quốc dân được dùng

để bù đắp hao phí lao động cần thiết của người lao động do Nhà nước hoặc chủ doanh nghiệp phân phối cho người lao động dưới hình thức tiền

tệ Tiền lương là khoản tiền mà người lao động được hưởng phù hợp với

số lượng và chất lượng lao động họ đã bỏ ra

1.1.2 Bản chất của tiền lương

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương không chỉ bị chi phối bởi quy luật giá trị mà còn bị chi phối quy luật cung - cầu lao động Nếu cung lao động lớn hơn cầu lao động thì tiền lương sẽ giảm xuống Ngược lại, nếu cung lao động nhỏ hơn cầu lao động thì tiền lương sẽ tăng lên Mặt khác, theo C Mác, giá trị sức lao động bao gồm: “Giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để bù đáp lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất, giá trị của những chi phí nuôi dưỡng con người trước và sau tuổi có khả năng lao động, giá trị cần thiết cho những chi phí cần thiết cho việc học hành” Những chi phí này không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu tự nhiên và sinh lý con người mà còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ văn minh đạt được

Như vậy, tiền lương thường xuyên biến động xung quanh giá trị sức lao động, nó phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và giá cả tư liệu sinh hoạt

Sự biến động xoay quanh giá trị sức lao động đó được coi như là biến động thể hiện bản chất của tiền lương

Mặc dù tiền lương (giá cả sức lao động) được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động nhưng nó có

sự biểu hiện ở hai phương diện: Kinh tế và Xã hội

Về mặt Kinh tế: Tiền lương là kết quả của thoả thuận trao đổi hàng

hoá sức lao động giữa người cung cấp sức lao động của mình trong một

Trang 5

khoảng thời gian nào đó và sẽ nhận được một khoản tiền lương thoả thuận

từ người sử dụng lao động

Về mặt Xã hội: Đối với người lao động, tiền lương là số tiền đảm bảo

cho người lao động có thể mua được những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động của bản thân và dành một phần để nuôi thành viên gia đình cũng như bảo hiểm lúc hết tuổi lao động Ngoài tiền lương

cơ bản, trong quá trình quan hệ lao động người lao động còn nhận được các khoản phụ cấp lương, tiền thưởng và các loại phúc lợi Trong xã hội phát triển ngày nay, khoa học công nghệ có bước tiến nhảy vọt, các nền kinh tế của các nước ngày càng hoà nhập mạnh mẽ với nhau, mức sống và trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực xã hội được nâng cao không ngừng, thì ngoài tiền lương cơ bản, phục cấp, thưởng và phúc lợi, người lao động còn có cơ hội thăng tiến nghề nghiệp, có vị trí xã hội và làm chủ công việc Do đó tiền lương còn có ý nghĩa như khoản tiền đầu

tư cho người lao động không ngừng phát triển về trí lực, thể lực, thẩm mỹ

và đạo đức

Trong hạch toán kinh tế tại các doanh nghiệp, cơ quan, tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành chi phí sản xuất kinh doanh Do vậy, các doanh nghiệp phải sử dụng sức lao động có hiệu quả để tiết kiệm chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm, làm tăng lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo tiền lương thoả đáng cho người lao động, tăng lợi nhuận phải tăng tiền lương và phúc lợi Điều đó mới đảm bảo gắn kết người lao động với doanh nghiệp và trong mọi hoàn cảnh, doanh nghiệp luôn phải trả lương cho người lao động không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định (Từ ngày 01/05/2012,mức lương tối thiếu là 1.050.000đồng/tháng/người

Trang 6

1.1.3 Chức năng của tiền lương

* Chức năng thước đo giá trị sức lao động

Tiền lương là giá cả của sức lao động, là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, được hình thành trên cơ sở giá trị lao động nên phản ánh được giá trị sức lao động Nhờ khả năng phản ánh này, nó có chức năng

đo lường giá trị sức lao động, được dùng làm căn cứ để xác định mức tiền trả công cho các loại lao động, xác định đơn giá trả lương, đồng thời là cơ

sở để điều chỉnh giá cả tư liệu biến động Hay nói cách khác, giá trị của việc làm được phản ánh thông qua tiền lương, tiền công Nếu việc làm có giá trị càng cao thì mức tiền lương, tiền công càng lớn

* Chức năng tái sản xuất sức lao động

Như đã phân tích, quá trình tái sản xuất sức lao động được thể hiện qua việc trả công cho người lao động thông qua lương đúng, duy trì và phát triển sức lao động của chính bản thân người lao động, giúp sản xuất

ra sức lao động mới, giúp người lao động tích luỹ kinh nghiệm, hình thành kỹ năng lao động, nâng cao trình độ tay nghề, tăng cường sức lao động

* Chức năng kích thích sức lao động

Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của người lao động nhằm thoả mãn phần lớn nhu cầu về vật chất và tinh thần cùa người lao động Do vậy, sử dụng các mức tiền lương khác nhau là đòn bẩy kinh tế quan trọng

để kích thích được tinh thần hăng say lao động Cụ thể, khi tiền lương nhận được thoả đáng, công tác trả lương của doanh nghiệp rõ rằng và công bằng sẽ tạo ra động lực tăng năng suất lao động, từ đó lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ không ngừng tăng lên Khi có lợi nhuận cao thì nguồn phúc lợi doanh nghiệp dành cho người lao động nhiều hơn, nó là phần bổ sung thêm cho tiền lương, làm tăng thu nhập và tăng lợi ích cho người cung ứng lao động Hơn nữa, khi lợi ích của người lao động được đảm

Trang 7

bảo bằng các mức lương thoả đáng, nó sẽ tạo ra sự gắn kết cộng đồng giữa người lao động với mục tiêu và lợi ích của doanh nghiệp, xoá bỏ sự ngăn cách giữa người lao động và người sử dụng lao động, làm cho người lao động có trách nhiệm hơn, tự giác hơn hoạt động của doanh nghiệp

* Chức năng là công cụ quản lý của doanh nghiệp

Thông qua việc trả lương cho người lao động, người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra, theo dõi, quan sát người lao động làm việc theo kế hoạch, tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương bỏ ra đem lại kết quả và hiệu quả cao Nhờ đó mà người sử dụng lao động quản lý một cách chặt chẽ về số lượng và chất lượng lao động để trả công xứng đáng cho người lao động, thúc đẩy nâng cao năng suất lao động

Như vậy, tiền lương chính là một động lực quan trọng để người lao động không ngừng nâng cao kiến thức và tay nghề của mình Ở góc độ vĩ

mô, chính sách tiền lương luôn là một trong những bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách Kinh tế - Xã hội và các yếu tố quyết định

sự thành công của chiến lược phát triển nguồn nhân lực

1.1.4 Nguyên tắc tính trả lương

* Trả lương theo số lượng và chất lượng lao động

Nguyên tắc này bắt nguồn từ quy luật phân phối theo lao động Yêu cầu của nguyên tắc này là trả lương có phân biệt về số lượng và chất lượng lao động, không trả lương bình quân chia đều Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi việc trả lương phải gắn bó với năng suất lao động, kết quả sản xuất biểu hiện ở chất lượng và hiệu quả lao động Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ ai tham gia công việc nhiều, có hiệu quả, trình độ lành nghề cao thì được trả lương cao và ngược lại

Nguyên tắc này còn biểu hiện ở chỗ “ Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau” không phân biệt giới tính, dân tộc trong trả lương Trả

Trang 8

lương ngang nhau cho lao động như nhau phải được phản ánh trong chính sách tiền lương, đặc biệt là trong hệ thống thang lương, bảng lương, các hình thức trả lương cho người lao động

* Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động bình quân tăng nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân

Tiền lương phải căn cứ vào năng suất lao động, gắn chặt với tốc độ tăng năng suất lao động, điều đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Tiền lương bình quân chỉ tăng trên cơ sở tăng năng suất lao động bình quân Tốc độ tăng tiền lương phải chậm hơn tốc độ tăng năng suất lao động

* Trả lương theo các yếu tố thị trường

Mỗi doanh nghiệp thường có những nguyên tắc tổ chức tiền lương nhằm đảm bảo hệ thống tiền lương phù hợp với đặc điểm thực tiễn của doanh nghiệp và gắn với thị trường trong từng giai đoạn phát triển

* Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động là nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân

Yêu cầu của nguyên tắc này là đảm bảo mối quan hệ hợp lý trong trả công lao động Trả công lao động phải phân bịêt mức độ phức tạp của lao động, điều kiện lao động, vị trí quan trọng của các ngành nghề khác nhau, trên

cơ sở đó nhằm khuyến khích chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong trả lương theo ngành nghề cho người lao động

* Tiền lương phụ thuộc vào khả năng tài chính

Nguyên tắc này đòi hỏi ở doanh nghiệp không nên quy định cứng các mức lương cho người lao động, bởi vì trong nền kinh tế thị trường thì tiền lương ở doanh nghiệp không những phụ thuộc vào kết quả lao động của

cá nhân mà còn phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào hoạt động có hiệu quả cao thì tiền lương của cá nhân được hưởng cao và ngược lại

Trang 9

* Kết hợp hài hoà các dạng lợi ích trong trả lương

Nguyên tắc này đảm bảo mối quan hệ hài hoà giữa ba dạng lợi ích: lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích người lao động Cụ thể là:

- Đối với lợi ích cho xã hội thể hiện ở việc đóng thuế theo Luật định

và đảm bảo được đời sống của lực lượng lao động

- Đối với lợi ích của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận

- Đối với lợi ích của người lao động là đảm bảo được đời sống bản thân và gia đình, có tích luỹ cho phát triển toàn diện và bảo hiểm

1.2 Các hình thức trả lương, nội dung quỹ lương và các khoản trích theo lương

1.2.1 Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp

Việc tính và trả lương có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ quản lý của doanh nghiệp Trên thực tế ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp thường áp dụng ba hình thức trả lương như sau:

+ Trả lương theo thời gian

+ Trả lương theo sản phẩm

+ Trả lương khoán

1.2.1.1 Hình thức trả lương theo thời gian

Hình thức trả lương theo thời gian là hình thức trả lương căn cứ vào mức lương cấp bậc hoặc chức vụ và thời gian làm việc thực tế của công nhân viên chức Thực chất của hình thức này là trả công theo số ngày công (giờ công) thực tế đã làm Công thức tính như sau:

TLTG = ML x TLVTT

Trang 10

Trong đó:

+ TLTG: Tiền lương thời gian trả chi người lao động

+ ML: Mức lương tương ứng với các bậc trong thang lương, bảng lương (mức lương giờ, ngày, tháng )

+ TLVTT: Thời gian làm việc thực tế (số ngày công, giờ công đã làm trong kỳ, tuần, tháng )

Hình thức trả lương theo thời gian chủ yếu áp dụng với những người làm công tác quản lý, còn công nhân sản xuất chỉ áp dụng ở bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những công việc mà không thể tiến hành định mức một cách chính xác được hoặc do tính chất của sản xuất nên nếu thực hiện được việc trả công theo sản phẩm sẽ không đảm bảo chất lượng sản phẩm, không đem lại hiệu quả thiết thực Mặc dù hình thức trả lương này vẫn phải tuân theo quy luật phân phối theo lao động và vấn

đề đặt ra là phải xác định được khối lượng công việc mà họ hoàn thành

* Điều kiện để áp dụng trả lương theo thời gian

- Phải thực hiện chấm công cho người lao động chính xác:

Bởi vì tiền lương thời gian phụ thuộc vào độ dài thời gian làm việc thực

tế Thời gian làm việc thực tế làm việc nhiều hay ít quyết định đến tiền lương của người lao động nhận được nhiều hay ít Người lao động làm nhiều ngày công, giờ công hơn thì được hưởng lương cao, làm ít ngày công, giờ công thì hưởng tiền lương ít hơn Do đó, đòi hỏi chấm công chính xác để trả lương

- Phải đánh giá chính xác mức độ phức tạp của công việc:

Đánh giá mức độ phức tạp của công việc thông qua đó để xác định được mức độ hao phí sức lao động ít hơn so với công việc phức tạp Do vậy, đòi hỏi trả lương cao hơn cho công việc phức tạp và trả lương thấp hơn cho công việc đơn giản

- Phải bố trí đúng người đúng việc:

Đảm bảo phù hợp giữa năng lực chuyên môn - kỹ thuật và đòi hỏi mỗi chỗ làm việc nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian làm việc và hiệu quả của hình thức tiền lương này

Trang 11

* Hình thức tiền lương này mang tính chất bình quân, chưa thực sự gắn với kết quả sản xuất, không đánh giá đúng kết quả lao động của mỗi người, không đảm bảo được nguyên tắc “ Làm theo năng lực, hưởng theo lao động”

Hình thức trả lương theo thời gian có thể chia ra:

- Hình thức trả lương theo thời gian giản đơn: Là số tiền trả cho người lao động căn cứ vào bậc lương và thời gian làm việc thực tế, không xét đến năng suất lao động và kết quả công việc hoàn thành Hình thức này thường được áp dụng cho những công việc không thể xác định được hao phí lao động đã tiêu hao vào đó Trong hình thức này gồm:

+ Phụ cấp (nếu có)

Tiền lương tuần = Tiền lương tháng x 12 tháng

52 tuần

Tiền lương ngày = Tiền lương tháng

Số ngày làm việc trong tháng theo chế độ

Tiền lương giờ = Mức lương ngày

Số gìơ làm việc theo chế độ (8giờ)

- Hình thức trả lương thời gian có thưởng: Là hình thức trả lương cho công nhân viên chức căn cứ vào mức lương và thời gian làm việc có kết hợp với khen thưởng khi đạt và vượt các chỉ tiêu đã được như: tiết kiệm

Trang 12

thời gian làm việc, chấp hành chế độ quy định làm việc của doanh nghiệp, giờ làm có hiệu quả

Tiền lương thời

gian có thưởng = Tiền lương thời gian + Tiền thưởng

Hình thức tiền lương này có nhiều ưu điểm hơn so với hình thức trả lương theo thời gian đơn giản Hình thức này không những phản ánh trình

độ thành thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn gắn chặt tiền lương với thành tích công tác của từng người lao động thông qua các chỉ tiêu xét thưởng mà họ đã đạt được Vì vậy, nó khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả công tác của mình

Các doanh nghiệp thường là các doanh nghiệp thương mại, khi áp dụng hình thức trả lương này đòi hỏi họ phải thường xuyên kiểm tra tiến

độ làm việc của công nhân viên chức để phù hợp với chế độ khen thưởng hợp lý Do những hạn chế nhất định của hình thức trả lương theo thời gian nên để khắc phục phần nào hạn chế đó, trả lương theo thời gian có thể được kết hợp chế độ tiền thưởng để khuyến khích người lao động hăng hái làm việc

1.2.1.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm

Là hình thức trả lương dựa trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm (hay dịch vụ) hoàn thành và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm Đây là hình thức trả lương phù hợp với nguyên tắc “ Phân phối theo lao động”, gắn chặt với số lượng lao động, với chất lượng lao động, khuyến khích người lao động hăng say làm việc, góp phần làm tăng sản phẩm cho xã hội, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp Đây là hình thức lương

cơ bản và phổ biến đang được áp dụng trong khu vực sản xuất vật chất hiện nay Công thức tính tiền lương theo sản phẩm:

Trang 13

x Đơn giá tiền lương sản phẩm

* Điều kiện áp dụng hình thức trả lương sản phẩm:

- Phải có hệ thống mức lao động được xây dựng có căn cứ khoa học (mức được xây dựng thông qua các phương pháp khảo sát như bấm giờ, chụp ảnh các bước công việc để có lương thời gian hao phí chính xác từng bước công việc) đảm bảo tính trung bình tiên tiến của hệ thống mức lao động

- Phải tổ chức nơi làm việc tốt, góp phần hạn chế tối đa lượng thời gian làm việc hao phí không cần thiết, giúp người lao động có đủ điều kiện hoàn thành công việc được giao

- Phải có chế độ kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm được kịp thời bởi vì lương của công nhân phụ thuộc rất lớn vào sản phẩm sản xuất ra đúng quy cách chất lượng Giáo dục tốt ý thức trách nhiệm của người lao động để

họ vừa phấn đấu nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập nhưng vừa phải đảm bảo chất lượng sản phẩm, đồng thời tiết kiệm nguyên vật liệu,

sử dụng an toàn máy móc, thiết bị, bảo đảm an toàn lao động

* Ý nghĩa của hình thức trả lương theo sản phẩm

- Hình thức này quán triệt nguyên tắc trả lương phân phối theo quy luật lao động, tiền lương mà người lao động nhận được phụ thuộc vào số lượng và chất lượng sản phẩm hoàn thành, từ đó kích thích tăng năng suất lao động

- Trả lương theo sản phẩm có tác dụng trực tiếp khuyến khích người lao động ra sức học tập nâng cao trình độ tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng, tăng khả năng sáng tạo và tăng năng suất lao động

- Trả lương theo sản phẩm có ý nghĩa rất to lớn trong việc nâng cao

và hoàn thiện công tác quản lý, nâng cao tính tự chủ, chủ động trong công việc của người lao động

Trang 14

Các hình thức trả lương theo sản phẩm gồm:

* Hình thức trả lương sản phẩm trực tiếp cho cá nhân: là trả lương cho người lao động căn cứ trực tiếp vào số lượng, chất lượng sản phẩm (hay chi tiết sản phẩm) mà người lao động làm ra

Chế độ này áp dụng đối với những người trực tiếp sản xuất, kinh doanh trong các đơn vị kinh tế mà quá trình lao động của họ mang tính độc lập tương đối, công việc có thể định mức lao động và kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể, riêng biệt Tiền lương của họ do chính năng suất lao động cá nhân quyết định và tính theo công thức:

TLspi = ĐG x Qi

Trong đó:

+ TLspi: Tiền lương sản phẩm công nhân i

+ Qi : Sản lượng (hoặc doanh thu) của công nhân i trong một thời gian nhất định (tháng, ngày )

Chế độ tiền lương này đơn giản, dễ hiểu, dễ tính; gắn được tiền lương với kết quả lao động, năng suất, chất lượng lao động cá nhân Từ đó khuyến khích công nhân phấn đấu tăng năng suất lao động Song, nếu thiếu những quy định chặt chẽ, hợp lý, công nhân sẽ ít quan tâm đến tiết kiệm nguyên vật liệu, coi nhẹ tiết kiệm chi phí sản xuất, ít quan tâm đến việc bảo đảm máy móc, thiết bị

* Hình thức trả lương sản phẩm tập thể ( Tổ, đội, nhóm ): là chế độ trả lương căn cứ vào số lượng sản phẩm hay công việc do một tập thể công nhân đã hoàn thành và đơn giá tiền lương của một đơn vị sản phẩm hay một đơn vị công việc trả cho tập thể

Chế độ trả lương này được áp dụng đối với những công việc hay sản phẩm do đặc tính về công việc (hay sản phẩm) không thể tách rời từng chi tiết từng phần việc để giao cho từng người mà phải có sự phối hợp của

Trang 15

một nhóm công nhân thực hiện.Công thức tính đơn giá tiền lương và tiền lương cho tập thể:

ĐG tt = Tổng số tiền lương và phụ cấp theo cấp bậc công việc của cả tổ

Mức sản lượng của cả tổ

Trong đó:

+ ĐGtt: Đơn giá tiền lương sản phẩm cho tập thể

Tiền lương sản phẩm tập thể tính theo công thức:

TLsptt = ĐGtt x Qtt

Trong đó: Qtt: là sản lượng hoặc doanh thu đạt được của tổ, đội

Ưu điểm và nhược điểm của chế độ trả lương theo sản phẩm tập thể:

có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác và phối hợp có hiệu quả giữa công nhân làm việc trong tổ, nhóm để cả tổ, nhóm làm việc

có hiệu quả hơn; khuyến khích các tổ, nhóm làm việc theo mô hình tổ chức lao động tự quản Nhưng nếu việc phân phối tiền lương của nhóm không chính xác sẽ có thể gây mất đoàn kết nội bộ làm giảm động lực lao động

* Hình thức trả lương theo sản phẩm gián tiếp: Đây là tiền lương trả

cho công nhân viên phụ cùng tham gia sản xuất với công nhân viên chính

đã hưởng theo lương sản phẩm, được xác định căn cứ vào hệ số giữa mức lương sản phẩm đã định mức công nhân chính và nhân với sản phẩm công nhân chính sản xuất ra hoặc trên cơ sở thang lương và bậc lương của công nhân phụ trả theo tỷ lệ phần trăm hoàn thành các định mức sản xuất quy định cho công nhân chính

Ưu điểm và nhược điểm của chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp: khuyến khích công nhân phục vụ tốt hơn cho công nhân chính, tạo điều kiện nâng cao lao động của công nhân chính Song tiền lương của

Trang 16

công nhân phụ phụ thuộc vào năng suất lao động của công nhân chính, do vậy tiền lương của công nhân phụ nhiều khi phản ánh không chính xác kết quả lao động của công nhân phụ

* Hình thức trả lương sản phẩm khoán: : Là chế độ trả lương cho

một người hay một tập thể công nhân căn cứ vào mức độ hoàn thành công việc và đơn giá tiền lương được quy định trong hợp đồng khoán

Hình thức trả lương sản phẩm khoán được áp dụng trong trường hợp

mà sản phẩm hay công việc khó giao chi tiết, phải giao nộp cả khối lượng công việc, hay nhiều việc tổng hợp yêu cầu phải làm xong trong một thời gian nhất định, với chất lượng nhất định

Tiền lương khoán sản phẩm được xác định như sau:

TLspk = ĐGk x Qk

Trong đó:

+ TLspk: Tiền lương sản phẩm khoán

+ ĐGk: Đơn giá khoán cho một đơn vị sản phẩm hay công việc hoặc cũng có thể là đơn giá trọn gói cho cả khối lượng công việc hay công trình

+ Qk: Khối lượng sản phẩm khoán được hoàn thành

Yêu cầu của hình thức trả lương này là đơn giá phải tính toán chặt chẽ và phải có bản hợp đồng giao khoán Đơn giá khoán được tính toán dựa vào sự phân tích từng khâu công việc hay công trình

Chế độ trả lương này có tác dụng khuyến khích người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, cải tiến phương pháp lao động để tối ưu hoá quá trình lao động, hoàn thành nhiệm vụ trước thời gian và đảm bảo chất lượng Song việc xác định đơn giá khoán phải phân tích kỹ, tính toán phức tạp

Trang 17

* Hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng: Là chế độ trả lương

theo sản phẩm kết hợp thực hiện các hình thức thưởng nếu công nhân đạt được các chỉ tiêu thưởng quy định

Hình thức trả lương này thường được áp dụng đối với công việc của những khâu chủ yếu trong dây chuyền sản xuất, để giải quyết sự đồng bộ trong sản xuất, thúc đẩy tăng năng suất lao động ở khâu khác có liên quan trong một dây chuyền sản xuất Tiền lương sản phẩm có thưởng được xác định như sau:

TLspt = L x L x M x H

100 %

Trong đó:

+ TLspt : Tiền lương trả theo sản phẩm có thưởng

+ L: Tiền lương theo đơn giá cố định

+ M: Tỷ lệ thưởng cho 1% vượt mức chỉ tiêu thưởng

+ H: % vượt mức chỉ tiêu thưởng

Chế độ trả lương này khuyến khích người lao động tích cực làm việc, học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm để hoàn thành vượt mức sản lượng Song nếu chỉ tiêu thưởng, điều kiện thưởng, tỷ lệ thưởng xác định không hợp lý

sẽ làm tăng chi phí tiền lương và bội chi quỹ lương

* Hình thức trả lương sản phẩm luỹ tiến: là việc trả lương trên cơ sở

sản phẩm trực tiếp, đồng thời căn cứ vào mức độ hoàn thành định mức sản xuất, mức độ hoàn thành sản xuất càng cao thì hiệu suất lương luỹ tiến càng lớn Nhờ vậy trả lương theo sản phẩm luỹ tiến sẽ kích thích được người lao động tăng năng suất lao động, tiền lương trả theo hình thức này gồm hai phần:

- Phần thứ nhất: Căn cứ vào mức độ hoàn thành định mức lao động tính ra tiền lương theo sản phẩm trong định mức

Trang 18

- Phần thứ hai: Căn cứ vào mức độ vượt định mức tính ra tiền lương phải trả cho người lao động theo tỷ lệ luỹ tiến Tỷ lệ hoàn thành vượt mức định mức càng cao thì hiệu suất luỹ tiến càng nhiều

Hình thức tiền lương này có tác dụng khuyến khích nâng cao năng suất lao động và thường được áp dụng đối với những nơi sản xuất còn chậm, nhằm tăng sản lượng sản phẩm Song việc tổ chức quản lý tương đối phức tạp Nếu xác định biểu tỷ lệ luỹ tiến không hợp lý sẽ làm tăng giá thành sản phẩm và giảm hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp

1.2.1.3 Hình thức trả lương khoán

Chế độ trả lương này áp dụng cho những công việc nếu giao từng chi tiết, bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng cho công nhân hoàn thành trong một thời gian nhất định Chế độ trả lương này có thể áp dụng cho cá nhân hoặc tập thể

Nếu đối tượng nhận khoán là tập thể, tổ, nhóm thì tiền lương nhận được sẽ phân phối cho công nhân trong tổ, nhóm giống như trong chế độ tiền lương tính theo sản phẩm tập thể

* Trả lương gọn theo sản phẩm cuối cùng

Là hình thức trả lương theo sản phẩm nhưng tiền lương được tính theo đơn giá tập hợp cho sản phẩm hoàn thành đến công việc cuối cùng Hình thức này áp dụng cho những doanh nghiệp mà quá trình sản xuất trải qua nhiều giai đoạn công nghệ nhằm khuyến khích người lao động quan tâm đến chất lượng sản phẩm

* Trả lương khoán quỹ lương

Theo hình thức này, doanh nghiệp tính toán và giao khoán quỹ lương cho từng phòng ban, bộ phận theo nguyên tắc hoàn thành công tác hay không hoàn thành kế hoạch

* Trả lương khoán thu nhập

Trang 19

Tuỳ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà hình thành quỹ lương để phân chia cho người lao động Khi tiền lương không thể hoạch toán riêng cho từng người lao động thì phải trả lương cho cả tập thể lao động đó, sau đó mới tiến hành chia cho từng người

Trả lương theo hình thức này có tác dụng làm cho người lao động phát huy sáng kiến và tích cực cải tiến lao động để tối ưu hoá quá trình làm việc, tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hoàn thành công việc giao khoán Hình thức trả lương theo thời gian, trả lương theo sản phẩm và trả lương khoán đều có ý nghĩa và vai trò quan trọng, được áp dụng riêng lẻ hoặc kết hợp tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.1.4 Các chế độ về lương phụ cấp của doanh nghiệp

* Chế độ tiền thưởng

Ngoài chế độ tiền lương, các doanh nghiệp còn có thể xây dựng chế

độ tiền thưởng cho các cá nhân, tập thể có thành tích trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo các hình thức khác nhau nhằm động viên, khuyến khích người lao động Tiền thưởng là phần thu nhập ngoài tiền lương, thực chất là khoản tiền bổ sung cho tiền lương nhằm quán triệt hơn nguyên tắc “Phân phối theo lao động” và nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Tiền thưởng được tính căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và mức độ hoàn thành công việc của người lao động Nếu doanh nghiệp có lãi thì tiếp tục được phân phối cho người lao động trên

cơ sở đóng góp của từng người Tiền thưởng bao gồm tiền thưởng thi đua (lấy từ quỹ khen thưởng) và thưởng trong sản xuất kinh doanh (lấy từ quỹ lương như: thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng phát minh sáng kiến ) thưởng đột xuất (không nằm trong kế hoạch, được áp dụng linh hoạt) và thưởng lễ, tết (lấy từ quỹ phúc lợi)

* Chế độ phụ cấp

Trang 20

Chế độ phụ cấp các tác dụng bổ sung cho chế độ tiền lương cơ bản,

bù đắp thêm cho người lao động khi họ phải làm việc trong những điều kiện không thuận lợi hoặc không ổn định mà chưa được tính đến khi xác định lương cơ bản Chế độ phụ cấp có tác dụng kích thích người lao động thực hiện tốt công tác công việc trong những điều kiện khó khăn Doanh nghiệp, cơ quan có quyền quy định các khoản phụ cấp lương hoặc áp dụng chế độ phụ cấp do Chính phủ quy định đối với doanh nghiệp Nhà nước để trả cho người lao động

Theo quy định tại điều 4 Nghị định 205/2004/NĐ-Cp ngày 14/12/2004 thì chế độ phụ cấp áp dụng trong Công ty Nhà nước bao gồm:

+ Phụ cấp khu vực: Áp dụng đối với người làm việc ở những vùng xa

xôi, hẻo lánh và khí hậu xấu Phụ cấp khu vực được quy định gồm 7 mức

hệ số: 0,1; 0,3; 0,4; 0,5; 0,7; 1,0 so với mức lương tối thiểu chung

Mức tiền phụ cấp khu vực được tính theo công thức:

Mức tiền phụ

cấp khu vực =

Hệ số phụ cấp khu vực x

Mức lương tối thiểu chung

+ Phụ cấp trách nhiệm công việc: Nhằm bù đắp cho những người

vừa trực tiếp sản xuất hoặc làm công tác chuyên môn nghiệp vụ vừa kiêm công tác quản lý không chuyên trách Có 4 mức hệ số phụ cấp: 0,1; 0,2; 0,3; và 0,5 so với mức lương tối thiểu chung

+ Phụ cấp độc hại, nguy hiểm: Áp dụng đối với người làm nghề hoặc

công việc có điều kiện lao động làm việc độc hại, nguy hiểm, đặc biệt độc hại mà chưa xác định trong mức lương

Có 4 mức hệ số phụ cấp: 0,1; 0,2; 0,3; và 0,4 so với mức lương tối thiểu chung

+ Phụ cấp lưu động: Áp dụng đối với người làm nghề hoặc công việc

thường xuyên thay đổi địa điểm và nơi ở, điều kiện sinh hoạt không ổn định và khó khăn

Phụ cấp gồm 3 mức hệ số: 0,2; 0,4 và 0,6 so với mức lương tối thiểu chung

Trang 21

+ Phụ cấp thu hút: Áp dụng đối với người đến làm việc ở kinh tế

mới, cơ sở kinh tế có điều kiện sinh hoạt khó khăn

Phụ cấp gồm 4 mức hệ số: 20%, 30%, 50% và 70% mức lương cấp bậc, chức vụ hoặc lương chuyên môn, nghiệp vụ Thời gian hưởng phụ cấp này từ 3 đến 5 năm

* Chế độ trả lương làm thêm giờ

Theo thông tư số 12/2003/TT- Bộ lao động thương bình xã hội ngày 30/5/2003 hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định 114/2002/NĐ-

CP ngày 31/12/2002 nêu rõ; trường hợp làm thêm giờ nếu được bố trí nghỉ bù những giờ làm thêm thì doanh nghiệp chỉ phải trả phần chênh lệch 50% tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm, nếu làm thêm giờ vào ngày bình thường: 100% nếu làm thêm giờ vào ngày nghỉ tuần: 200% nếu làm thêm giờ vào ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương

* Chế độ lương khi ngừng việc

Theo quy định, doanh nghiệp tính tiền lương ngừng việc cho cán bộ công nhân viên từ 70% tiền lương thực tế trở lên

* Chế độ lương khi làm ra sản phẩm hỏng hoặc gây tổn hại về vật chất

Người lao động có hành vi gây thiệt hại về vật chất như hư hỏng dụng cụ, đồ nghề, thiết bị tài sản hoặc gây tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế ( làm ra sản phẩm hỏng) do vô trách nhiệm, kém năng lực thì phải bồi thường vật chất Mức độ bồi thường do cấp quản lý quyết định sau khi đã xem xét nguyên nhân và mức độ thiệt hại được ghi trong biên bản Số tiền bồi thường được khấu trừ dần vào lương hàng tháng (mức trừ mỗi tháng cao nhất không quá 30% lương)

Ngoài ra còn có chế độ phụ cấp đặc thù theo nghề, hoặc theo công việc như: Phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp trách nhiệm theo nghề, phụ cấp trách nhiệm công việc

Trang 22

1.2.2 Nội dung, nguồn hình thành và mục đích sử dụng của quỹ tiền lương

Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương mà doanh nghiệp phải trả cho tất cả các loại lao động quản lý sử dụng, không phân biệt tiền lương đó do nguồn kinh phí nào tài trợ Thành phần của quỹ lương bao gồm các khoản sau:

- Tiền lương trả theo thời gian

- Tiền lương trả theo sản phẩm

Trong quỹ lương còn bao gồm:

- Tiền lương ngừng việc do các nguyên nhân không phải công nhân viên gây ra

- Lương thời gian công nhân viên được huy động đi làm các công việc (theo chế độ quy định)

- Phụ cấp thêm giờ, thêm ca, làm việc vào những ngày nghỉ phép năm

- Phụ cấp tổ trưởng, phụ cấp phụ trách bộ phận sản xuất

- Phụ cấp lưu động, khu vực, đắt đỏ, độc hại

Ngoài ra trong quỹ lương kế hoạch còn được tính cả các khoản tiền thưởng thường xuyên như thưởng năng suất lao động, hoàn thành kế hoạch, bảo đảm chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư

Về mặt hạch toán quỹ lương của doanh nghiệp chia thành:

- Tiền lương chính: Là bộ phận tiền lương trả cho người lao động trong thời gian thực tế có thời gian làm việc bao gồm cả tiền lương cấp bậc, tiền thưởng và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương

- Tiền lương phụ: Là bộ phận tiền lương trả cho người lao động trong thời gian thực tế không làm việc nhưng được chế độ được như nghỉ phép, hội họp, học tập, lễ, Tết

Việc phân chia quỹ lương trên có ý nghĩa quyết định trong công tác hạch toán tiền lương, phân bổ tiền lương theo đúng đối tượng và phục vụ

Trang 23

cho việc phân tích chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm Quản lý quỹ lương và chế độ tiền lương theo quy định của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền tự chủ của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh Do đó yêu cầu của vấn đề là đòi hỏi doanh nghiệp phải giải quyết hài hoà mối quan

hệ giữa lao động và tiền lương, cụ thể là tiền lương phải lớn hơn mức lương tối thiểu Nhà nước quy định Người kinh doanh có quyền hưởng theo năng suất lao động, chất lượng lao động và kết quả công việc Doanh nghiệp phải đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động phải tăng nhanh tốc

độ tăng tiền lương bình quân của doanh nghiệp

1.2.3 Nội dung các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp

1.2.3.1 Quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH)

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau , thai sản , tai nạn lao động , bệnh nghề nghiệp , thất nghiệp , hết tuổi lao động hoặc chết , trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội

Luật bảo hiểm xã hội quy định có 2 loại bảo hiểm xã hội : Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện

- BHXH bắt buộc là loại hình BHXH là người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia

- BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà người lao động tự nguyện tham gia , được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH

* Theo điều 91 Luật BHXH : quy định mức đóng và phương thức đóng của người lao động như sau :

Hàng tháng , người lao động sẽ đóng 5% mức tiền lương , tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất Và từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm 1 lần đóng them 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%

Trang 24

* Theo điều 92 Luật BHXH : quy định mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động như sau :

Hàng tháng người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương , tiền công đóng BHXH của người lao động như sau :

+ 3% vào quỹ ốm đau , thai sản , trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ

và thực hiện quyết toán hang quý với tổ chức BHXH

+ 1% vào quỹ tai nạn lao động , bệnh nghề nghiệp

+ 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất Và từ năm 2010 trở đi , cứ 2 năm 1 lần đóng thêm 15 cho đến khi đạt mức đóng là 14%

Như vậy, từ ngày 01/01/2012 , mức trích lập BHXH là 24% trên quỹ tiền lương , tiền công đóng BHXH : trong đó người lao động đóng góp 7% và người sử dụng lao động đóng góp 17%

1.2.3.2 Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT)

Thực chất là sự trợ cấp về y tế cho người tham gia bảo hiểm nhằm giúp đỡ họ một phần nào đó để trang trải tiền khám, chữa bệnh, tiền viện phí, thuốc men Mục đích cảu quỹ bảo hiểm y tế là tập hợp một mạng lưới bảo vệ sức khoẻ cho toàn cộng đồng bất kể địa vị xã hội, mức thu nhập cao hay thấp Quỹ BHYT được hình thành bằng cách trích 4,5 % tính trên tổng số lương cấp bậc, chức vụ và khoản phụ cấp (nếu có) của người lao động Trong đó:

- Người sử dụng lao động đóng 3% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh

- Người lao động đóng 1,5% từ lương tháng của mình

Quỹ BHYT do cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp người lao động thông qua mạng lưới y tế Doanh nghiệp nộp hết 4,5% cho cơ quan bảo hiểm y tế

Trang 25

1.2.3.3 Kinh phí công đoàn (KPCĐ)

Kinh phí công đàon là quỹ tài trợ cho hoạt động công đoàn các cấp Đây là nguồn đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của công đoàn (trả lương cho công đoàn chuyên trách, chi tiêu hội họp ) Theo chế độ hiện hành, kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ 2% trên tổng số tiền lương tháng phải trả cho người lao động, do người sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong 2% đó thì 1% doanh nghiệp phải nộp lên công đoàn cấp trên; 1% còn lại được dùng để chi tiêu cho các hoạt động công đoàn cơ sở

1.2.3.4 Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)

BHTN là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thị trường lao động Một số nhà kinh tế học còn cho rằng BHTN

là hạt nhân của thị trường lao động nằm trong chính sách kinh tế xã hội của quốc gia Chính sách này trước hết vì lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động, sau nữa là vì lợi ích xã hội

Đối tượng của BHTN cũng giống đối tượng của BHXH đó là thu nhập của người lao động, còn đối tượng tham gia BHTN cũng là người lao động và sử dụng lao động

Ngày 29/06/2009 Quốc hội nước ta đã thông qua luật BHXH trong

đó có quyết định về BHTN, bắt đầu từ 1/1/2009 nước ta sẽ chính thức triển khai BHTN

Theo chế độ hiện hành các doanh nghiệp phải thực hiện trích quỹ BHTN theo tỷ lệ 3% trên tổng số tiền lương phải trả cho người lao động trong đó doanh nghiệp phải chịu 1%, người lao động chịu 1%, còn 1% được ngân sách Nhà nước bù đắp

Trang 26

1.2.4 Thuế thu nhập cá nhân

1.2.4.1 Khái niệm

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh

tế Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế

1.2.4.2 Đối tượng chịu thuế

Các cá nhân là công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài, cá nhân khác định cư tại Việt Nam có thu nhập đến mức phải chịu thuế theo quy định của pháp luật đều là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân Cá nhân khác định cư tại Việt Nam là người không mang quốc tịch Việt Nam, nhưng định cư không thời hạn tại Việt Nam; người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam

1.2.4.3 Thu nhập chịu thuế

* Thu nhập thường xuyên: Được hiểu là các khoản thu nhập phát sinh

thường xuyên, có tính chất đều đặn và ổn định trong năm và có thể dự tính được, bao gồm:

- Các khoản thu nhập dưới các hình thức tiền lương, tiền công, tiền thù lao, bao gồm cả tiền lương làm thêm giờ, lương ca 3, lương tháng thứ 13 (nếu có); tiền phụ cấp; tiền trợ cấp thay lương nhận từ quỹ bảo hiểm xã hội; tiền

ăn trưa, ăn giữa ca (nếu nhận bằng tiền);

- Tiền thưởng tháng, quý, năm, thưởng đột xuất nhân dịp ngày lễ, tết, ngày thành lập ngành, thưởng từ các nguồn, dưới các hình thức: tiền, hiện vật;

- Thu nhập do tham gia dự án, hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, hội đồng quản lý, hội đồng doanh nghiệp;

Trang 27

- Tiền bản quyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu, tác phẩm; thu nhập về tiền nhuận bút;

- Các khoản thu nhập của các cá nhân không thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như: thu nhập từ dịch vụ khoa học, kỹ thuật, dịch vụ tin học, dịch vụ tư vấn, thiết kế, kiến trúc, đào tạo; hoạt động biểu diễn, tổ chức biểu diễn; quảng cáo; hoạt động thể dục thể thao; dịch vụ đại lý; thu nhập từ hoa hồng môi giới; dịch vụ khác;

- Các khoản thu nhập không tính trong tiền lương, tiền công được chi trả hộ như tiền nhà, điện, nước; riêng tiền nhà tính theo số thực tế chi trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế Trường hợp cá nhân ở tại trụ

sở làm việc thì thu nhập chịu thuế trong trường hợp này căn cứ vào tiền thuê nhà hoặc chi phí khấu hao tính theo tỷ lệ giữa diện tích cá nhân sử dụng với diện tích của căn nhà và cũng được tính tối đa 15% tổng thu nhập chịu thuế Trường hợp chứng từ chi trả tiền nhà có cả tiền ăn, tiền phục vụ thì số thực

tế chi trả hộ chỉ tính trên tiền nhà

- Các khoản thu nhập khác mà cá nhân được hưởng từ cơ quan chi trả thu nhập

* Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập phát sinh

theo từng lần, từng đợt riêng lẻ, không có tính chất đều đặn, bao gồm:

- Thu nhập về chuyển giao công nghệ (trừ trường hợp biếu, tặng) bao gồm:

- Chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi, xuất xứ hàng hoá, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và nhãn hiệu hàng hóa đang trong thời hạn được pháp luật Việt Nam bảo hộ và được phép chuyển giao

- Chuyển giao các bí quyết về công nghệ, kiến thức dưới dạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, tài liệu thiết kế sơ bộ

và thiết kế kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, phần mềm máy tính (được chuyển giao theo Hợp đồng chuyển giao công

Trang 28

nghệ), thông tin dữ liệu về công nghệ chuyển giao có kèm hoặc không kèm theo máy móc thiết bị

- Chuyển giao các giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ

- Thực hiện các hình thức dịch vụ hỗ trợ chuyển giao công nghệ để bên nhận

có được năng lực công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm và/hoặc dịch vụ với chất lượng được xác định trong Hợp đồng bao gồm:

+ Hỗ trợ trong việc lựa chọn công nghệ, hướng dẫn lắp đặt thiết bị, vận hành thử các dây chuyền thiết bị nhằm áp dụng công nghệ được chuyển giao;

+ Tư vấn quản lý công nghệ, tư vấn quản lý kinh doanh, hướng dẫn thực hiện các quy trình công nghệ được chuyển giao;

+ Đào tạo huấn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý của công nhân, cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý để nắm vững công nghệ được chuyển giao

- Trúng thưởng xổ số dưới các hình thức, kể cả trúng thưởng khuyến mại

1.2.4.4 Thu nhập không chịu thuế

Các khoản thu nhập sau đây sẽ không thuộc diện chịu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao:

- Các khoản phụ cấp do Nhà nước Việt Nam quy định áp dụng đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam:

- Tiền công tác phí là các khoản tiền trả cho phương tiện đi lại, tiền thuê phòng ngủ có chứng từ hợp lý, tiền lưu trú theo chế độ; trường hợp khoán công tác phí thì chỉ được trừ những chi phí trên;

- Tiền ăn định lượng theo chế độ quy định đối với một số công việc, một số nghề đặc biệt; bữa ăn tại chỗ, ăn trưa, ăn giữa ca (trừ trường hợp nhận bằng tiền);

Trang 29

- Các khoản trợ cấp xã hội của các đối tượng hưởng chính sách xã hội như: thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công giúp đỡ cách mạng; trợ cấp khó khăn đột xuất, tiền trợ cấp hoặc bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp giải quyết các tệ nạn xã hội; các khoản trợ cấp khác từ ngân sách nhà nước;

- Tiền bồi thường bảo hiểm do tham gia bảo hiểm con người và tài sản;

- Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo chế độ Nhà nước quy định

Trường hợp cá nhân được hưởng khoản trợ cấp khi thôi việc tại một đơn vị này để chuyển sang làm việc ở một đơn vị khác trong cùng một Công ty, Văn phòng Công ty đa quốc gia thì không áp dụng quy định này

- Trợ cấp điều động về cơ sở sản xuất theo quy định của Nhà nước, bao gồm cả trợ cấp chuyển vùng một lần của người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam

- Tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh, các giải thưởng quốc tế, các giải thưởng quốc gia do Nhà nước Việt Nam tổ chức, công nhận;

- Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng như:

Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân, Anh hùng Lao động, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Nghệ sỹ Nhân dân, Nghệ sỹ ưu tú và các danh hiệu khác được Nhà nước phong tặng; tiền thưởng hoặc chế độ đãi ngộ khác từ ngân sách Nhà nước;

- Tiền nộp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế từ tiền lương, tiền công của người lao động Đối với người nước ngoài đã nộp khoản tiền theo chế độ bắt buộc ở nước ngoài có tính chất như tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của Việt Nam thì phải xuất trình chứng từ chứng minh

- Thu nhập của chủ hộ kinh doanh cá thể, của các cá nhân đã thuộc diện chịu thuế thu nhập doanh nghiệp;

Trang 30

- Các lợi ích được hưởng do cơ quan chi trả thu nhập thanh toán như: chi phí đào tạo nhân viên cho nơi đào tạo, chi vé máy bay về phép của người nước ngoài (là đối tượng nộp thuế), học phí cho con của người nước ngoài trả trực tiếp cho các cơ sở giáo dục tại Việt Nam thuộc các cấp giáo dục từ mầm non đến trung học phổ thông

Ngoài các khoản thu nhập thuộc đối tượng chịu thuế hoặc không thuộc đối tượng chịu thuế kể trên, còn một số khoản được coi là thu nhập đặc biệt

và tạm thời chưa đưa vào đối tượng chiụ thuế: thu nhập về lãi tiền gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi tiền cho vay vốn, lãi mua tín phiếu, trái phiếu,

kỳ phiếu, cổ phiếu, thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán, chênh lệch mua bán chứng khoán

1.2.4.5 Cách tính thuế thu nhập cá nhân

Từ 1-1-2009, cá nhân có thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công sẽ được giảm trừ gia cảnh khi tính thuế Mức giảm trừ là 4 triệu đồng/tháng đối với người có thu nhập và 1,6 triệu đồng/tháng đối với mỗi người phụ thuộc

( Các bạn nhớ chú ý: Người bị đánh thuế thu nhập, được giảm trừ cho bản thân là 4 triệu đồng/tháng nhưng vẫn đưa vào bậc chịu thuế với

mức thuế suất 0%, )

- Thành phần phụ thuộc gồm :

1 Con chưa thành niên;

2 Vợ, chồng và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động;

3 Con đang là sinh viên hoặc có thu nhập từ 500 ngàn đồng/tháng trở xuống;

4 Ông, bà, cha, mẹ không có khả năng lao động có thu nhập từ 500.000 đồng/tháng trở xuống

5 Mức giảm trừ tối đa khoảng 10 triệu đồng, đủ nuôi 5 - 6 người phụ thuộc

Trang 31

+ Thu nhập từ chuyển nhượng vốn: 25%;

+ Thu nhập từ chuyển đổi bất động sản: 25%

- Các thu nhập khác:

+ Thu nhập từ tiền bản quyền vượt 10 triệu đồng/lần: 5%;

+ Trúng xổ số, khuyến mãi quá 10 triệu đồng/giải thưởng: 10%;

+ Thu nhập từ thừa kế, quà tặng trên 10 triệu đồng/lần: 10%

Trang 32

1.3 Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp

1.3.1 Ý nghĩa và nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp

1.3.1.1 Ý nghĩa của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

Kế toán tiền lương là một biện pháp cần thiết giúp cho công tác quản

lý lao động và tiền lương của doanh nghiệp đi vào nề nếp, đảm bảo việc trả lương và các khoản trợ cấp BHXH, BHYT, BHTN đúng nguyên tắc, đúng chế độ, thúc đẩy người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động, tăng năng suất hiệu và hiệu quả công tác

Đồng thời còn tạo cơ sở cho việc tính trả lương theo đúng nguyên tắc

“ Phân phối theo lao động”, tạo điều kiện tính, phân bổ chi phí tiền lương

và các khoản trích theo lương vào giá thành sản phẩm được chính xác, để

từ đó xác định giá thành sản phẩm và bán sản phẩm, là điều kiện để góp phần hạ giá thành sản phẩm

Vịêc tính chính xác chi phí nhân công còn là căn cứ để xác dịnh các khoản nghĩa vụ phải nộp cho ngân sách, cho cơ quan phúc lợi xã hội Từ

đó giúp các nhà quản lý năm được tình hình sử dụng lao động, sử dụng và phân phối quỹ lương Đó chính là công cụ đắc lực phục vụ việc điều hành, quản lý doanh nghiệp và hơn nữa giúp cho việc kiểm soát của cấp trên trong việc quản lý thành viên

1.3.1.2 Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương liên quan đến quyền lợi của người lao động, của doanh nghiệp và Nhà nước, liên quan đến tình hình chấp hành các chính sách về lao động tiền lương của Nhà nước Kế toán lao động tiền lương có nhiệm vụ cung cấphong trào đầy đủ

số liệu cần thiết trong kỳ về việc tính toán phân bổ chính xác các khoản tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ góp phần trong việc tính toán

Trang 33

tổng chi phí phát sinh trong kỳ, làm cơ sở hạ thấp giá thành sản phẩm, dịch vụ, tăng thu nhập cho người lao động và cho doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin cho người quản lý doanh nghiệp Vì vậy, để thực hiện chức năng của kế toán trong việc điều hành, quản lý lao động, quản lý tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ, kế toán lao động tiền lương trong doanh nghiệp cần thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời gian lao động, kết quả lao động của từng người, từng bộ phận một cách chính xác, kịp thời

- Tính và phân bổ chính xác tiền lương và các khoản trích theo lương cho các đối tượng sử dụng, phục vụ cho việc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm theo đúng chế độ

- Hướng dẫn, kiểm tra các nhân viên kinh tế phân xưởng và các phòng, ban có liên quan thực hiện đầy đủ việc hạch toán ban đầu về lao động và tiền lương theo đúng chế độ

- Tính toán kịp thời tiền lương và các khoản khác cho người lao động

- Lập báo cáo về lao động, tiền lương kịp thời và chính xác

- Tham gia phân tích tình hình quản lý, sử dụng lao động cả về số lượng, thời gian, năng suất, kết quả Trên cơ sở đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm khai thác mọi tiềm năng lao động sẵn có trong doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sử dụng hiệu quả lao động

- Phân tích tình hình quản lý, sử dụng tiền lương, xây dựng phương án trả lương hợp lý nhằm khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động

1.3.2 Kế toán tiền lương

1.3.2.1 Kế toán chi tiết tiền lương

* Kế toán số lượng lao động

Kế toán số lượng lao động là việc theo dõi kịp thời, chính xác tình hình biến động tăng, giảm số lượng lao động theo từng loại lao động Trên

Trang 34

cơ sở đó làm căn cứ cho việc tính lương phải trả và các chế độ khác cho người lao động Số lương lao động của doanh nghiệp do phòng lao động - tiền lương lập Căn cứ vào số lượng lao động hiện có của doanh nghiệp bao gồm cả số lao động dài hạn và lao động tạm thời, cả lao động trực tiếp, gián tiếp và lao động thuộc các lĩnh vực khác ngoài sản xuất Số này được lập theo mẫu quy định và được chia làm 2 bản:

+ Một bản do phòng lao động doanh nghiệp quản lý và ghi chép + Một bản do phòng kế toán quản lý

Căn cứ để ghi vào sổ danh sách này là các hợp đồng lao động và các Quyết định về lao động của các cấp có thẩm quyền phê duyệt (khi chuyển công tác, thôi việc )

* Kế toán thời gian lao động

Hạch toán thời gian lao động là việc ghi chép, phản ánh kịp thời, chính xác số ngày công, giờ công làm việc thực tế hoặc ngừng sản xuất, nghỉ việc của từng người lao động, từng đơn vị sản xuất, từng phòng ban trong doanh nghiệp, trên cơ sở đó tính tiền lương phải trả cho người lao động Hạch toán thời gian lao động có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý lao động, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động, làm căn cứ tính lương, tính thưởng chính xác cho người lao động

Chứng từ dùng để hạch toán thời gian lao động trong các doanh nghiệp là “Bảng chấm công” “Bảng chấm công” được lập theo mẫu biểu

số 01-TL và được lập riêng cho từng bộ phận, tổ, đội sản xuất để theo dõi ngày công thực tế làm việc, nghỉ việc, nghỉ hưởng lương BHXH, tiền thưởng cho từng người lao động và là căn cứ quản lý lao động trong doanh nghiệp “Bảng chấm công” do tổ trưởng (hoặc các phòng, ban) trực tiếp ghi và để nơi công khai để công nhân viên chức giám sát thời gian lao động của từng người Cuối tháng, bảng chấm công cùng với các chứng từ

Trang 35

liên quan như phiếu nghỉ hưởng BHXH, được chuyển về bộ phận kế toán

để kiểm tra đối chiếu, quy ra công để tính lương và trợ cấp BHXH

* Kế toán kết quả lao động

Kế toán kết quả lao động là việc ghi chéo kịp thời, chính xác số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành của từng công nhân hoặc tập thể công nhân Trên cơ sở đó tính tiền lương phải trả cho người lao động, đồng thời kiểm tra sự phù hợp của tiền lương phải trả với kết quả lao động thực tế, tính toán chính xác năng suất lao động, kiểm tra tình hình thực hiện định mức lao động của từng người, từng bộ phận và cả doanh nghiệp

Để phản ánh kết quả lao động, kế toán sử dụng các loại chứng từ ban đầu khác nhau, tùy theo loại hình và đặc điểm sản xuất ở từng doanh nghiệp Đó chính là các báo cáo về kết quả sản xuất như: “Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành”, “Phiếu báo làm thêm giờ”, “Hợp đồng giao khoán”, Bảng theo dõi công tác tổ, “ Giấy báo ca”, “Phiếu giao nhận sản phẩm”, “Phiếu khoán”

Chứng từ kế toán lao động phải do người lập (tổ trưởng) ký, cán bộ kiểm tra kỹ thuật xác nhận, được lãnh đạo duyệt (quản đốc phân xưởng, trưởng bộ phận) Sau đó, các chứng từ này được chuyển cho nhân viên hạch toán phân xưởng để tổng hợp kết quả lao động toàn đơn vị, rồi chuyển về phòng lao động tiền lương xác nhận Cuối cùng chuyển về phòng kế toán doanh nghiệp để làm căn cứ tính lương, tính thưởng Để tổng hợp kết quả lao động, tại mỗi phân xưởng, bộ phận sản xuất, nhân viên hạch toán phân xưởng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao động Trên cơ

sở chứng từ hạch toán kết quả lao động do các tổ gửi đến, hàng ngày hoặc định kỳ, nhân viên hạch toán phân xưởng ghi kết quả lao động của từng người, từng bộ phận vào sổ và cộng sổ, lập báo cáo kết quả lao động gửi cho các bộ phận quản lý liên quan Phòng kế toán doanh nghiệp cũng phải

mở sổ tổng hợp kết quả lao động để tổng hợp kết quả chung toàn doanh nghiệp

Trang 36

Để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên, hàng tháng kế toán phải lập “Bảng thanh toán tiền lương” cho từng tổ đội sản xuất, từng bộ phận dựa vào kết quả tính lương Căn cứ để lập “Bảng thanh toán lương” là các chứng từ hạch toán về thời gian và kết quả lao động

- Nếu trả lương theo thời gian: phải có bảng chấm công và các chứng

Đối với những doanh nghiệp sản xuất mang tính chất thời vụ, không

có điều kiện bố trí lao động nghỉ đều đặn giữa các kỳ hạch toán, để tránh

sự biến động về chi phí kinh doanh, về mặt giá thành sản phẩm, hàng tháng trên cơ sở tiền lương thực tế, tiền lương chính phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, kế toán phải dự toán tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất, tiến hành trích trứơc vào chi phí từng kỳ hạch toán theo số dự toán Cách tính tiền lương nghỉ năm của công nhân sản xuất trực tiếp, trích trước vào chi phí sản xuất kinh doanh như sau:

x Tỷ lệ trích trước

Trang 37

Tổng tiền lương chính kế oạch năm của công nhân trực tiếp sản xuất

x 100%

Cũng có thể dựa trên kinh nghiệm nhiều năm, doanh nghiệp tự xác định một tỷ lệ trích trước tiền lương nghỉ phép kế hoạch của công nhân trực tiếp sản xuất một cách hợp lý

1.3.2.2 Kế toán tổng hợp tiền lương

* Tài khoản sử dụng

Để kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương, kế toán sử dụng

TK 334- Phải trả người lao động

Dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phỉa trả cho công nhân viên của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, tiền thưởng, BHXH và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của công nhân viên

- Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 334 - Phải trả người lao động Bên nợ: Phản ánh các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng BHXH và các khoản khác đã trả, đã ứng cho người lao động

- Các khoản khấu trừ vào tiền lương, tiền công của người lao động

- Kết chuyển tiền lương của công nhân viên chức chưa lĩnh

Bên có: Phản ánh các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng, BHXH và các khoản phải trả cho người lao động

Số dư có: Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng các khoản còn phải trả cho người lao động

Số dư nợ (nếu có): Số trả thừa cho người lao động

Trang 38

Tài khoản 334 phải hạch toán chi tiết theo 2 nội dung thanh toán lương và thanh toán các khoản khác Để hạch toán hai khoản này kế toán phải sử dụng 2 tài khoản cấp 2:

TK 3341- Phải trả công nhân viên: dùng để phản ánh các khoản trợ cấp tiền lương, tiền thưởng có tính chất lương, BHXH và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của công nhân viên

TK 3348- Phải trả người lao động khác: dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho người lao động khác ngoài công nhân viên của doanh nghiệp về tiền công, tiền thưởng và các khoản khác thuộc về thu nhập của người lao động

Ngoài ra trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác có liênh quan như TK 111, 112, 141, 335, 622, 627,

* Phương pháp kế toán:

Phương pháp kế toán tổng hợp tiền lương được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:

Trang 39

Sơ đồ kế toán tiền lương

ứng và thanh toán lương, các

khoản khác cho người lao động

Các khoản khấu trừ vào lương

và thu nhập của người lao động

Trả lương, thưởng cho người lao

Phải trả CNV Lương phép của

Trang 40

1.3.3 Kế toán các khoản trích theo lương

1.3.3.1 Kế toán chi tiết các khoản trích theo lương

Căn cứ vào kế hoạch đã nêu, kế toán tính các khoản trích theo lương như sau :

Mức trích các

khoản theo lương =

Tổng số tiền lương thực tế phải trả hàng tháng

x

Mức trích các khoản theo lương

Tỷ lệ trích:

- BHXH trích 17% đưa vào chi phí, trừ 7% vào lương của người lao động

- BHYT trích 3% đưa vào chi phí, trừ 1,5% vào lương của người lao động

- KPCĐ trích 2% đưa vào chi phí

- BHTN trích 1% đưa vào chi phí, trừ 1% vào lương của người lao động Căn cứ vào các chứng từ nghỉ việc hưởng BHXH do cơ quan y tế cấp, các phiếu chi liên quan tới BHXH, hoạt động công tác tư vấn, kế toán tổng hợp lập báo cáo BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ gửi lên cấp trên

1.3.3.2 Kế toán tổng hợp các khoản trích theo lương

TK 338 có 9 TK cấp 2 trong đó 4 TK liên quan trực tiếp đến công nhân viên là:

- TK 3382: Kinh phí công đoàn

- TK 3383: Bảo hiểm xã hội

- TK 3383: Bảo hiểm y tế

- TK 3389: Bảo hiểm thất nghiệp

Ngày đăng: 10/06/2014, 16:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Giáo trình : “ Kế toán tài chính doanh nghiệp” (phần I) - Viện Đại học Mở Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán tài chính doanh nghiệp
2. Giáo trình “Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp” - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp
3. Giáo trình “Hướng dẫn học kinh tế chính trị Mác - Lênin” - Viện Đại học Mở Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn học kinh tế chính trị Mác - Lênin
4. Giáo trình “Phân tích hoạt động kinh doanh” - Viện Đại học Mở Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kinh doanh
5. Giáo trình “Phân tích hoạt động kinh doanh” - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kinh doanh
6. Trang Web: www.tapchiketoan.com 7. Trang Web: www. webketoan.com 8. Trang Web: www.mof.gov. vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức trả lương theo thời gian có thể chia ra: - Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
Hình th ức trả lương theo thời gian có thể chia ra: (Trang 11)
SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG - Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG (Trang 42)
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty: - Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
Sơ đồ t ổ chức bộ máy quản lý của công ty: (Trang 49)
Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty - Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
Sơ đồ b ộ máy kế toán của Công ty (Trang 53)
Hình thức kế toán nhật ký chung gồm các loại sổ chủ yếu như: - Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
Hình th ức kế toán nhật ký chung gồm các loại sổ chủ yếu như: (Trang 56)
Sơ đồ hình thức kế toán Nhật ký chung - Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
Sơ đồ h ình thức kế toán Nhật ký chung (Trang 57)
Bảng biểu: Tình hình lao động Công ty - Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
Bảng bi ểu: Tình hình lao động Công ty (Trang 60)
BẢNG TỔNG HỢP THI ĐUA - Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
BẢNG TỔNG HỢP THI ĐUA (Trang 65)
BẢNG TỔNG HỢP THI ĐUA - Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
BẢNG TỔNG HỢP THI ĐUA (Trang 69)
Bảng  chấm  công  trang  70 - Khoá luận Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành
ng chấm công trang 70 (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w