Việc xây dựng và phát triển thương hiệu đồ gỗ nội thất khi mà việt nam đang trong tiến trình gia nhập WTO
Trang 1Mở Đầu
Thương hiệu đang là vấn đề được sự quan tõm của nhiều đối tượng khỏcnhau trong đú cú cỏc doanh nghiệp , cỏc nhà nghiờn cứu, cỏc tổ chức thương mại… Nhất là trong thời điểm mà chúng ta đang đàm phán gia nhập vào WTO thì chủ đề thơng hiệu lại càng đợc các doanh nghiệp , các nhà nghiên cứu, các phơng tiện thông tin quan tâm đặc biệt Đặc biệt là ở chỗ đã có nhiều bài học của các doang nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá gia thịtrờng quốc tế thì bị đối thủ cạnh tranh của mình lấy mất cái tên, lấy mất gốc gác xuất sứ của sản phẩm nh các trờng hợp của cà phê Trung Nguyên, thuốc lá Vinataba, giầy dép Bitis…
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất nói riêng thì việc xây dựng và phát triển thương hiệu đang còn khá mới mẻ, mặc dù đối với các doanh nghiệp ở các nước khác, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển thì nó không còn là mới chút nào
Khi mà nền kinh tế Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới và sắp tới là hội nhập vào gia đỡnh WTO Một tổ chức mà yờu cầu bỡnh đẳng trong cạnh tranhluụn được đặt lờn hàng đầu thỡ cạnh tranh sẽ trở nờn gay gắt và quyết liệt hơnbao giờ hết khi đú cỏc cụng cụ bảo vệ cho cỏc doanh nghiệp việt nam sẽ khụng cũn tỏc dụng nữa Vỡ vậy cỏc doanh nghiệp việt nam núi chung và cỏc doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất núi riờng phải xõy dựng cho mỡnh một cụng cụ khỏc để tự bảo vệ mỡnh trong mụi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt là điều cần phải làm ngay trước khi quỏ muộn Mà cụng cụ cú thể bảo vệ được cho cỏc doanh nghiệp đú chớnh là một thương hiệu mạnh
Trang 2Việc xõy dựng thương hiệu thành cụng khụng chỉ mạng lại cho doanh nghiệp thế mạnh nhất định mà cũn khảng định vị thế của khỏch hàng trong thời kỳ mà giỏ cả khụng phải là điều khỏch hàng nghĩ đến đầu tiờn khi khỏchhàng quyết định mua sản phẩm Cỏc doanh nghiệp hoạt động trờn thị trường phải đương đầu với hỡnh thức cạnh tranh mới thay vỡ cạnh tranh bằng giỏ , chất lượng….thỡ cỏc doanh nghiệp phải cạnh tranh bằng thương hiệu Trong
xu thế đấy cỏc doanh nghiệp cần xõy dựng thương hiệu thành cụng để nú chởthành một cụng cụ cạnh tranh cho cỏc doanh nghiệp và cỏc doanh nghiệp sảnxuất đồ gỗ nột thất cũng khụng thể nằm ngoài xu thế của thị trường được Nhất là trong giai đoạn hiện nay xuất khẩu đồ gỗ đang dần chở thành mặt hàng chủ lực của chiến lược xuất khẩu Việt Nam trong tương lai
Là một sinh viờn năm cuối của Trường Kinh tế Quốc Dõn Em muốn gúp
ý kiến của mỡnh vào việc xõy dựng và phỏt triển thương hiệu đồ gỗ nội thất khi mà việt nam đang trong tiến trỡnh gia nhập WTO Đõy chỉ là ý kiến chủ quan của một sinh viờn chưa cú kinh nghiệp thực tế nờn cũn rất nhiều thiếu xút
Em cũng xin cảm ơn: Thạc Si : Nguyễn Đình Trung đã giúp đỡ Em hoàn thành đề án môn học
Trang 3Chương ITổng quan về đồ gỗ nội thất và thơng hiệu đồ gỗ nội
thất Viêt nam
1.1 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành đồ gỗ nội thất
1.1.1 Lao động
Đối với các lao động trong ngành gỗ , do đặc điểm nghề nghiệp mà lao
động ngành này đòi hỏi có độ khéo léo cao và sự cần cù siêng năng mà những đức tính đó hội tụ hết vào các lao động Việt Nam ở Việt Nam hiện nay số lao động tham gia vào ngành gỗ khoảng 700.000 lao động hàng năm giai quyết công ăn việc làm cho các lao động nhàn rỗi Nâng cao thu nhập cho các lao động nông thôn Ngoài những lao động trực tiếp sản xuất ra , ngành gỗ còn giải quyết nhiều công ăn việc làm cho các lao động gián tiếp tham gia vào sản xuất
Nhng đó là các lao động không đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao còn những lao động tay nghề cao thì lại rất hạn chế , các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ luôn luôn than phiền về tình trạng thiếu lao động trình độ cao Hiện nay các doanh nghiệp này cha có chính sách đào tạo riêng cho mình , cha có sự liên kêt gĩa doanh nghiệp với các trung tâm đào tạo, nhiều công ty con không có
kế hoạch nhân sự lâu dài , nhiều doanh nghiệp còn đi tranh chấp các lao động
có tay nghề cao của nhau gây gia tình trạng hỗn loạn trong khâu nhân sự của các doanh nghiệp
1.1.2 Mỏy múc
Hiện nay các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ đều là các doanh nghiệp nhỏ nên việc đầu t vào khâu may móc thiết bị phục vụ cho khâu xử lý là rất khó khăn Khâu xử lý gỗ vô cùng quan trọng nó làm tăng khả năng sử dụng của
đồ gỗ ở các thời tiết khác nhau Đã có nhiều bài học về việc các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất sau khi xuất hàng sang nớc khác nhng do khâu
xử lý kỹ thuật không đợc tốt , không đảm bảo an toàn cho ngời sử dụng đã bị nớc nhập khẩu trả lại hàng Mà nguyên nhân dẫn đến tình trạng này thì có
Trang 4nhiều nhng nguyên nhân chính đó là máy móc , kỹ thuật phục vụ cho khâu
xử lý không đợc hoàn hảo
Cũng có thể do ngành gỗ mới nổi lên trong 2,3 năm trở lại đây nên các doanh nghiệp cha chú trọng đến khâu sử lý sao cho thích nghi với đặc điểm khí hậu của các nớc nhập khẩu và các nàh khoa học cũng cha có nhiều giải pháp cho vấn đề máy móc thiết bị cho ngành này
1.1.3 Thị trường
Với kim ngạch xuất khẩu năm 2003 là 566 triệu USD , năm 2004 là 1.1
tỷ USD và phấn đấu năm 2005 là 1.5 tỷ USD nhưng trong 8 thỏng của năm
2005 nước ta đó xuất khẩu được 966 triệu USD thỡ con số 1.5 tỷ USD cú lẽ
sẽ khụng khú khăn đối với cỏc doanh nghiệp Việt Nam trong năm nay Với tốc độ tăng trung bỡnh là 51.5 %/ năm thỡ cỏc sản phẩm đồ gỗ việt năm đó cú mặt ở 120 nước trờn thế giới trong đú cú cỏc thị trường chớnh là Mỹ , EU , Nhật bản…
- Theo cỏc chuyờn gia kinh tế thỡ nhu cầu đồ nội thất dựng trong văn phũng
và gia đỡnh của người mỹ là khoảng 16 tỷ USD/ năm Từ khi hiệp định thương mại Việt -Mỹ được ký kết tới nay thỡ giỏ trị xuất khẩu của đồ gỗ nội thất của Việt Nam vào Mỹ liờn tục tăng Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu gỗ của việt Nam sang thị trờng Mỹ có triển vọng đặt 500-550 triệu USD, tăng khoảng 50% so với năm 2004.Theo đánh giá của các chuyên gia thì Mỹ là 1 trong 2 thị trờng nhập khẩu gỗ lớn nhất thế giới ( cùng Nhật Bản) Năm 2004 ,kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất của nớc ta sang thị trờng này đạt xấp xỉ
360 –365 triệu USD Các sản phẩm chủ yếu là Giờng , Tủ ,Bàn ghế , Bàn dùng trong gia đình và văn phòng
- Nhật bản là thị trờng tiêu thụ sản phẩm gỗ lớn nhất thế giới Tiêu dùng riêng cho đồ gỗ tại Nhật Bản xấp xỉ 100 USD/hộ/Tháng đặc biệt trong xã hộicông nghiệp với mức độ rất cao nh hiện nay, ngời Nhật Bản ngày càng có nhu cầu sử dụng đồ vật có chất liệu gỗ thay thế các vật liệu sắt, nhôm Theo tin từ thơng vụ việt nam tại Nhật Bản , Năm 2003 đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 6.69% thị phẩn trong tổng trị giá nhập khẩu đồ gỗ của Nhật Bản Tuy nhiên thị phần xuất khẩu của Việt Nam có xu hớng tăng
Trang 5đều trong những năm gần đây : Tăng 4.62% Năm 1999 ; 4.63% năm2000; 5.79% năm 2001; 5.77% năm 2002 : 6.69% năm 2003 theo thống kê của bộ tài chính Nhật bản , năm 2004 thị phần xuất khẩu gỗ của ta đã chiếm 7.2% khoảng 222.1 triệu USD tăng 11.3% So với cùng kỳ 2003 Các mặt hàng gỗ xuất khẩu của ta sang Nhật Bản rất đa dạng gồm : gỗ nhiên liệu dạng khúc ,
gỗ ván trang trí làm sàn, giờng , tủ, hàng gỗ nội thất trang trí…
- Đối với thị trờng EU đồ gỗ Việt Nam hiện chiếm khoảng 10% lợng nhập khẩu đồ gỗ của cà khu vực Sáu tháng đầu năm 2005 đồ nội thất xuất khẩu sang thị trờng EU tăng 27.42 % so vơí cùng kỳ năm 2004 và trị giá 237 triệu USD 3 tháng đầu năm 2005 kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ việt nam sang thị trờng Anh đạt 36.2 triệu USD, tăng 22.2 % so với cùng kỳ năm ngoái Đức
đặt trên 24 triệu USD tăng 78%, Pháp đạt 22.5 triệu USD tăng 48.3%
1.1.4 Nguồn nguyờn liệu
Nguồn nguyờn liệu cho cỏc doanh nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam trướchết là gỗ khai thỏc trong nước đạt sản lượng 300.000m3/năm con số này chỉ đỏp ứng được 15 % nhu cầu nguyờn liệu Đõy khụng phải là đầu vào chớnh cho cỏc doanh nghiệp, vỡ từ sau 2001 với mục đớch bảo vệ nguồn rừng tự nhiờn của quốc gia, Chớnh phủ đó khống chế sản lượng gỗ khai thỏc
và khụng thay đổi qua cỏc năm Bởi vậy, nguồn chớnh cung cấp gỗ nguyờn liệu cho cỏc nhà mỏy chế biến gỗ ở Việt Nam là từ cỏc nước Hàng năm ViệtNam nhập khẩu trờn 1 triệu m3 gỗ cỏc loại, tương đương với 245,8 triệu USDnăm 2002 và 250 triệu USD vào năm 2003 Mức nhập khẩu này dự đoỏn sẽ tiếp tục tăng cao hơn, khi Việt Nam đặt mục tiờu xuất khẩu thành phẩm 1,5
tỷ USD vào năm 2005, gần bằng 1/20 lần tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước trong năm 2003 Việt Nam nhập khẩu đa dạng nguyờn liệu gỗ từ nhiềuquốc gia khỏc nhau, trong đú tập trung vào ba khu vực chớnh là Asean, chõu
Âu và Bắc Mỹ Quốc gia cung cấp nguyờn liệu gỗ cho Việt Nam nhiều nhất
là Campuchia, Lào, Malaysia, Indonesia và đặc biệt là thị trường Mỹ - một thị trường mạnh về nguyờn liệu gỗ cứng, với sản lượng cung cấp cho Việt
Trang 6Nam năm 2003 khoảng 17,3 triệu USD, tương đương thị trường lâu năm Indonesia Dự kiến Mỹ sẽ trở thành thị trường nguyên liệu gỗ chính của ViệtNam.
1.2 Sự cần thiết phải phát triển thương hiệu đồ gỗ nội thất
- Với kim ngạch xuất khẩu tăng với tấc độ cao như hiện nay , các mặt hàng đỗ gỗ Việt Nam đã có mặt ở 120 trên thế giới mặc dù xuất hiện ở nhiều nước như vậy và được khách hàng đánh giá cao về chất lượng, mẫu
mã tuy nhiên khách hàng sử dụng lại không biết đó là sản phẩm của Việt nam Đa số các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ của việt nam điều xuất khẩu qua các công ty trung gian Họ chọn kiểu dáng mẫu mã để đặt hàng cho các công ty sản xuất và họ tiếp tục đi đăng ký nhãn hiệu với các cơ quan bảo hộ
và nghiễm nhiên họ trở thành người sở hữu các nhãn hiệu đó
Qua đó chúng ta điều nhận thấy một thực trạng là tình trạng bảo hộ và phát triển thương hiệu của việt nam tại thị trường thế giới và vô cùng yếu kém Các doang nghiệp việt nam đang phải trả giá quá đắt cho sự trì trệ thiếu ý thức xây dựng và bảo hộ cho các sản phẩm của mình trên thị trương thế giới Thiết nghĩ các doanh nghiệp việt nam nói chung và các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nói riêng hãy sớm nhận thức tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển thương hiệu của mình trước khi quá muộn Bởi khi chúng
ta mất thương hiệu thì chúng ta chỉ là nhà gia công thuế cho các doanh
nghiệp khác mà thôi hãy nhìn vào các sảm phẩm khác mà lấy làm bài học cho riªng m×nh như trường hợp của Vinataba….c¸c cụ ta vẫn dậy “Đừng để mất bß mới lo làm truồng”
Thực tế cho thÊy c¸i tªn v« cïng quan träng đối với c¸c doanh nghiệp sản xuất bởi c¸i tªn kh«ng chỉ để gọi sản phẩm mà nã cßn kh¼ng định vị thế của kh¸ch hàng , kh¼ng định vị thế cña c¸c doanh nghiệp sở hữu c¸i tến đã
Trang 7Đối với doanh nghiệp , tác dụng của thơng hiệu thể hiện trên các mặt :
- Thiết lập đợc chỗ đứng của các doanh nghiệp : khi hình thành thơng hiệu doanh nghiệp cũng đồng thời tuyên bố về sự có mặt của mình trên thị trờng
và là cơ sở để phát triển doanh nghiệp trên các thị trờng khác nhau
- Tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp : khi đăng ký nhãn hiệu hàng hoá , Doanh nghiêp đã đặt mình vào vị trí đợc bảo vệ trớc pháp luật và có toàn quyền thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển danh tiếng của mình trên thị trờng
- Tạo điều kiện tiếp cận khách hàng và mở rộng thị trờng : Thơng
hiệu giúp khách hàng nhận biết và tin cậy đối với sản phẩm của Doanhnghiêp nhờ đó mà sản phẩm đợc mở rộng hơn Tiêu thụ đợc nhiều hơn vàquan trọng hơn là đợc khách hàng biết tới và tin dùng
- Là dấu thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với khách hàng : Thơng hiệu nhiều khi đợc xem là cam kết của doanh nghiệp , vì vậy doanh nghiệp thờng cố gắng để chánh làm tổn thơng khách hàng Làm tổn thơng khách hàng là điều mà không một công ty nào mong muốn , nhất là trong giai đoạn
có nhiều đối thủ cạnh tranh nh ngày nay
- Góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và trị giá của doanh nghiệp : Thơng hiệu tạo ra giá trị cho sản phẩm vì khách hàng rất sãn lòng trả giá cao hơn để
đợc sử dụng sản phẩm mang thơng hiệu yêu thích của họ Ngoài ra họ cũng sẫn sàng sử dụng sản phẩm đó thờng xuyên hơn, vì vậy giá trị mang lại cho doanh nghiệp sẽ cao hơn
1.3 Những nhõn tố ảnh hưởng tới xõy dựng và phỏt triển thương hiệu đồ
gỗ nội thất
- Nhận thức của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nhận thức rừ ràng sự cần thiết và tỏc dụng của việc tạo lập và phỏt triển thương hiệu Thỡ doanh nghiệp sẽ tận dụng được cơ hội để hỡnh thành thương hiệu và đầu tư thời gian , tài chớnh cho việc tạo lập thương hiệu Điển hỡnh cho việc tận dụng vànhận thức được tầm quan trọng việc xõy dựng và phỏt triển thương hiệu là
Trang 8doanh nghiệp gỗ Hoàng Anh đó đầu t vào thương hiệu từ vài năm trước đõy và điển hỡnh cho doanh nghiệp nước ngoài đang làm ăn tại Việt Nam
là Dafuco của Đài Loan
- Chiến lược và chớnh sỏch tạo lập và phỏt triểm thương hiệu của cỏc doanh nghiệp Doanh nghiệp cú chiến lược đỳng đắn và chớnh sỏch củng cố phỏt triển thương hiệu đỳng đắn sẽ chỳ ý đến việc kiểm soỏt chất lượng sản phẩm cỏc kờnh phõn phối , cỏc dịch vụ sau bỏn hàng … và tỡm mọi cỏch nắmbắt nhu cầu của khỏch hàng đồng thời cú chớnh sỏch nhất quỏn nhằm phỏt triển thương hiệu
- Trong những năm gần đõy giỏ cả khụng cũn là cụng cụ cạnh tranh hiệu quả nữa Khi mà cuộc sống được nõng lờn thỡ khỏch hàng sẽ khụng quan tõm nhiều đến giỏ cả mà họ sẽ quan tõm đến “Made in ….” , đến tên sản phẩm Đối với sản phẩm gỗ thỡ điều này càng cú vai trũ quan trọng vỡ đa số cỏc khỏch hàng dựng đồ gỗ cao cấp đều là khỏch hàng cú thu nhập cao và họ khao khỏt thể hiện vị thế của mỡnh trước mọi người
- Tài chính của doanh nghiệp để tạo lập và củng cố khuyếch trơng thơng hiệu , các doanh nghiệp tốn kém khá nhiều cho việc lựa chọn đăng ký và quảng bá thơng hiệu Ngoài những chi phí đợc nêu ra nh chi phí đăng ký , quảng cáo, bảo vệ thơng hiệu , còn có nhiều khoản chi phí lớn hơn nữa gắn với việc đảm bảo chất lợng và duy trì niềm tin của khách hàng Trong giai
đoạn hiện nay các chi phí này càng nhiều do giá cả ngày cang tăng theo thời gian Để có một phút quảng cáo trên truyền hình hay một và câu trữ hình
ảnh của doanh nghiệp thì doanhg nghiệp phải đầu t hàng trăm triệu đồng
- Cơ sở pháp lý Khi một nền kinh tế có đợc cơ sở pháp lý đầy đủ và thuận lợi liên quan đến thơng hiệu, doanh nghiệp sẽ có động cơ và điều kiện để tạo lập và phát triển thơng hiệu Trớc hết đó là điều kiện về đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá , tên thơng mại Một hệ thống pháp luật
đồng bộ, rõ ràng và mang tính quốc tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận thông tin về thơng hiệu, hiểu biết về quyền lợi cũng
Trang 9nh nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc đăng ký và bảo hộ thơng hiệu của mình
- Những sự trợ giúp của nhà nớc , nh khẳng định chính sách về thơng hiệu, xây ựng hệ thống pháp luật về thơng hiệu bảo vệ thơng hiệu trên thị trờng thếgiới, chính sách tài chính hỗ trợ thơng hiệu… sẽ tạo cơ hội khuyến khích và trợ giúp doanh nghiệp trong các hoạt động liên quan đến thơng hiệu Đối vớicác doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất quan tâm hiện nay chính là chính sách thuế u đãi đối với các loại chi phí danh cho tạo lập và phát triển thơng hiệu
1.4 Cơ hội và thỏch thức khi việt nam gia nhập WTO
WTO là một tổ chức thương mại thế giới điều chỉnh hoạt động buụn bỏn
đa phương mang tớnh chất tương đối cụng bằng và tuõn thủ những luật lệ rừ ràng WTO là một thoả thuận công bằng đối với tất cả các nớc, chứ không phải là một câu lạc bộ, nơi mà những nhà giầu định ra luật rồi áp dụng cho tất các thành viên khác khi Việt Nam gia nhập vào WTO thì chúng ta phải chấp hành những quy định của WTO đặt ra
1.4.1 Cơ hội của cỏc doanh nghiệp việt nam gia nhập WTO
- Cơ hội lớn nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nói riêng là khả năng tiếp cận các thị trờng dễ ràng hơn , khối lợng xuất khẩu cao hơn khi mà các rào cản về thuế quan không còn nữa thì hàng hoá Việt Nam sẽ vào các thị trờng chủ lực với giá rẻ hơn dễdàng hơn Những cam kết giảm trợ cấp , mở rộng hạn ngạch xuất khẩu nhất
mà nhóm nớc phát triển cam kết sẽ giúp Việt Namgiành đợc nhiều thị phần hơn , tăng lợng hàng xuất khẩu hơn đây là điều rất thuận lợi cho các doanh nghiệp gỗ khi mà thị trờng chính của đồ gỗ xuất khẩu chủ yếu là các nớc phát triển nh Mỹ , EU , Nhật Bản
Khi Việt Namgia nhập vào WTO thì chính phủ phải từng bớc thực hiện những điều chỉnh cần thiết đối với các quy định về luật lệ và chính sách kinh
Trang 10tế vĩ mô cho phù hợp với luật trơi phổ biến Điều này tạo môi trờng đầu t thông thoáng và bình đẳng giữa các hình thức doanh nghiệp khác nhau Khi
đó các doanh nghiệp sẽ phát triển theo hớng phát triển trung của thị trờng thếgiới mà vẫn tuân thủ các luật lễ của Việt Nam
-Đối với các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất của việt nam nguồn
nguyên liệu chính là nhập khẩu nguyên liệu từ các nớc khác với giá rất cao vìthế khi việt nam gia nhập vào WTO thì các nguồn nguyên liệu cung cấp với giá rẻ hơn khi đó các doanh nghiệp có cơ sở để giảm chi phí qua đó cỏ thể giảm giá thành sản xuất nâng cao tính cạnh tranh cho hàng hoá Việt Nam
- Việt Nam gia nhập WTO là một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Namnói chung và các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất nói riêng , nhất là trong vấn đề thu hút vốn đầu t để có thể cải thiện kỹ thuật , mua sắm máy móc thiết bị , mở rộng quy mô doanh nghiệp , tận dụng đợc các nguồn lực qua đó có thể giảm giá thành sản phẩm nâng cao khả năng cạnh tranh cảu sản phẩm trên thị trờng trong nớc cũng nh ngoài nớc
1.4.2 Thách thức của các doanh nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO
Thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệo Việt Nam có lẽ là họ cha hiểu biết về WTO , theo điều tra thì 95 % doanh nghiệp việt nam không hiểu biết nhiều về những quy định của WTO Nên khả năng đáp ứng các quy định củaWTO đang là vấn đề trở ngại đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung
và các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất nói riêng Sở dĩ có hiện tợng trên là do các doanh nghiệp Việt Nam đa số là các doanh nghiệp nhỏ , đa số mới thành lập không lâu và mới bớc gia thị trờng thế giới cha lâu
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam là kém Nhất là đối với thị trờng mà năng lực cạnh tranh sẽ phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp là chính Các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn tiêu dùng hao phí nguyên liệu cao , chi phí khác lớn điều đó dẫn đến chi phí lớn đây là một bất lợi lớn nhất
là đối với các doanh nghiệp của Trung Quốc và các nớc trong khu vực…
- Quy mô các doanh nghiệp việt nam đa số là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy mô sản xuất thấp , trang thiết bị yếu kém dẫn đến khó khăn trong việc
đáp ứng các đơn đặt hàng có khối lợng lớn Các doanh nghiệp đồ gỗ vẫn làm
Trang 11ăn riêng rẽ , vẫn tranh đua nguyên liệu và lôi kéo công nhân có tay nghề cao của nhau dẫn đến các doanh nghiệp khó đảm bảo chất lợng và thời gian giao hàng
- Mặc dù các sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam đợc đánh giá khá cao về chất ợng mẫu mã Nhng so với các đối thủ trong WTO nh Trung Quốc thì chúng
l-ta còn rất nhiều hạn chế Mà hạn chế lớn nhất của các sản phẩm Việt Nam
so với các sản phẩm cảu Trung Quốc đó chính là giá Với những lợi thế của mình về giá nhân công rẻ , nguyên liệu sẫn có trong nớc các doanh nghiệp Trung Quốc đã làm cho các doanh nghiệp khác cùng ngành phải lao đao
Điển hình trong thời gian vừa qua chính là ngành dệt may của Trung Quốc đã
là cho ngành dệt may của các nớc EU , Mỹ phải đao đứng và ngành gỗ cũng không phải là ngoại lệ
1.4.3 Điểm yếu của các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ việt nam
- Đa số các Doanh nghiệp Việt nam điều là các Doanh nghiệp nhỏ và vừa Khi mà có các công ty lớn đặt hàng khi đó doanh nghiệp sẽ phải đi gom hàng
là rất khó khăn, hơn nữa khi giao dịch với các Doanh nghiệp nớc ngoài thì cómột nguyên tắc mà các doanh nghiệp Việt nam luôn phải để ý đó là nhanh vàluôn đúng hẹn
- Các Doanh nghiệp Việt nam không chủ động đợc nguồn nguyên liệu đầu vào Doanh nghiệp luôn trông chờ vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài Khi nguồn nguyên liệu là do nhập khẩu cũng làm cho giá cả của các sản phẩm cũng tăng và sẽ là khó khăn khi mà tại những nớc mà Doanh
nghiệp nhập khẩu nguồn nguyên liệu có chính sách thắt chặt việc bảo vệ rừng
- Hàng hoá có tính cạnh tranh không cao ,chất lợng cha gắn với an toàn, các Doanh nghiệp cha có công nghệ xấy khô tốt nên khi xuất khẩu sang các nớc
có miền khí hậu khác là gặp vấn đề Ví dụ khi xuất khẩu gỗ sang Nhật bản thì sản phẩm trở nên cong vênh do gặp thời tiết khác so với Việt Nam
- Trình độ công nghệ còn hạn chế , các doanh nghiệp cha quan tâm đến đổi mới công nghệ Nhất là khâu xử lý gỗ, các Doanh nghiệp cha có ý thức đổi mới công nghệ điều này càng khó khăn hơn khi mà Việt Nam hội nhập vào gia đình WTO