Nhiệm vụ công tác pháp chế ngày càng nặng nề, phức tạp, với những nộidung cụ thể về xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản,kiểm soát thủ tục hành chính, theo dõi th
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học s phạm hà nội
Trang 2bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học s phạm hà nội
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Mai Thị Anh
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG
CÔNG TÁC PHÁP CHẾ CHO CÁN BỘ GIÁO DỤC CẤP TỈNH
1.4 Quan điểm và nguyên tắc xây dựng nội dung, biện pháp bồi
dưỡng kỹ năng công tác pháp chế
44
1.4.1 Quan điểm xây dựng nội dung bồi dưỡng 441.4.2 Những nguyên tắc xây dựng nội dung bồi dưỡng 481.4.3 Quan điểm xây dựng biện pháp bồi dưỡng 50
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN, NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP BỒI
DƯỠNG KỸ NĂNG CÔNG TÁC PHÁP CHẾ CHO CÁN BỘ GIÁO
Trang 52.3.1 Xây dựng tài liệu bồi dưỡng kỹ năng công tác pháp chế cho cán
bộ pháp chế giáo dục cấp tỉnh theo Module
3.3.1 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 1233.3.2 Kết quả kiểm tra sau khi thực nghiệm 125
3.4 Đánh giá nội dung và biện pháp bồi dưỡng kỹ năng công tác
pháp chế qua ý kiến chuyên gia
PHỤ LỤC
Trang 7NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 8khoa học và kỹ thuật Việt Nam
công tác PC cho cán bộ PC giáo dục cấp tỉnh
129
Bảng 3.6: Đánh giá của các chuyên gia về sự cần thiết của chương trình
bồi dưỡng KN công tác PC cho cán bộ PC giáo dục cấp tỉnh
130
Trang 9Bảng 3.7: Ý kiến các chuyên gia về KN tuyên truyền, phổ biến giáo
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1 Khung thiết kế các KN công tác PC giáo dục 85
Sơ đồ 2.2: Quy trình tổ chức khóa bồi dưỡng KN công tác PC cho cán bộ PC giáo
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà
nước quản lý xã hội bằng PL, không ngừng tăng cường PC XHCN” PC là
nguyên tắc hiến định, bảo đảm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhànước, bảo đảm kỷ cương xã hội và thực hiện các quyền tự do dân chủ của nhândân PC là chế độ PL trong đó có hệ thống PL ngày càng hoàn thiện để duy trìmột trật tự PL và sự nghiêm chỉnh thực hiện PL trong tổ chức và hoạt động củanhà nước và các cơ quan nhà nước, của các tổ chức, tập thể, cá nhân và mọi côngdân
Nghị quyết Đại hội Đảng CSVN lần thứ IX xác định: Quản lý nhà nướcbằng PL, kế hoạch, chính sách và công cụ quản lý khác Các văn kiện của đảngcũng đã chỉ rõ: quản lý đất nước bằng PL chứ không chỉ bằng đạo lý Trong điềukiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, PL trở thành công cụhàng đầu trong quản lý nhà nước đồng thời bản thân nhà nước cũng được tổchức và thực hiện các hoạt động theo PL
Công tác PC XHCN là yêu cầu quan trọng để đáp ứng nhu cầu phát triển
và đổi mới của đất nước, thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN, việc nghiên cứu quán triệt quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng vàchính sách PL của nhà nước nhằm từng bước nâng cao hiệu lực quản lý của nhànước, mở rộng dân chủ, phát huy tiềm năng sáng tạo của nhân dân Tầm quantrọng của PC đối với giáo dục lại càng thể hiện rõ rệt bởi vì giáo dục là mảnghiện thực bao phủ toàn bộ dân cư và lãnh thổ đất nước
Trong những năm qua, đặc biệt là sau khi có Luật giáo dục 2005, ngànhgiáo dục đã có nhiều cố gắng nhằm bồi dưỡng KN công tác PC trong ngành giáodục, thể hiện qua việc tập trung nâng cao chất lượng xây dựng các văn bản PL;tuyên truyền, phổ biến, giáo dục PL và tổ chức đưa PL vào cuộc sống; kiểm tra,
Trang 12xử lý các hành vi vi phạm PL… Tổ chức PC và đội ngũ cán bộ làm công tác PCngành giáo dục ở cấp tỉnh từng bước được kiện toàn Để đáp ứng yêu cầu thựctiễn về công tác PC, ngày 18/5/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số122/2004/NĐ - CP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức PCcác bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộcUBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và doanh nghiệp nhà nước (Nghịđịnh số 122/2004/NĐ - CP), sau sáu năm thực hiện Nghị định số 122/2004/NĐ -
CP, do có một số bất cập về chế độ, chính sách, cơ chế và đặc biệt là nhiệm vụcủa tổ chức PC và các CBPC ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnhchưa được quy định rõ ràng, nên để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên,đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với công tác PC trong giai đoạn chiến lược mới,ngày 04/7/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức PC (Nghị định
số 55/2011/NĐ-CP) Tuy nhiên, so với đòi hỏi của thực tiễn thì KN công tácpháp của đội ngũ cán bộ làm công tác PC ngành giáo dục cấp tỉnh hiện nay cònnhiều hạn chế, năng lực công tác còn yếu, số lượng chưa đảm bảo Đứng trướcyêu cầu công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nhà nước phápquyền XHCN Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm, đánh giá đúng
vị trí, vai trò của công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ CBPC trong bối cảnh hiện
nay Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ: “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa Việt Nam thành một nước công nghiệp; xây dựng một bước quan trọng trong nền kinh tế thị trường
có định hướng XHCN Tạo chuyển biến mạnh mẽ về phát huy nhân tố con người, giáo dục - đào tạo, tiếp tục phát triển mạnh nền giáo dục quốc dân, tạo chuyển biến căn bản và toàn diện về nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp, hệ thống quản lý giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực cho các lĩnh vực hoạt động KT - XH Mở rộng quy mô GD&ĐT đi đôi với coi trọng chất lượng và hiệu quả sử dụng; ra sức khai thác, phát huy nội lực và
Trang 13tranh thủ nguồn nhân lực bên ngoài, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế ”.
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng vàhoàn thiện hệ thống PL Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
cũng chỉ đạo “bảo đảm số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công
chức làm công tác PL…” Tiếp đó, để nâng cao chất lượng đào tạo các bộ PC,
Nghị quyết số 49-NQ/TW chỉ đạo “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào
tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng CBPC, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhập các kiến thức mới
về chính trị, PL, kinh tế, xã hội có KN nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo đức trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo
vệ PC XHCN”.
Với chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước ra về đổi mới với mụctiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đào tạo hiện nay, việc tiếp tục xây dựng,hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về giáo dục, đào tạo đang là những vấn
đề lớn, cốt lõi Nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các cơ quan, đơn vị của ngành giáo dụcphải nỗ lực cao, hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ của mình, trong đó có vai tròcủa hệ thống tổ chức pháp chế nòng cốt, đầu mối tham mưu, “gác cổng” về thểchế Nhiệm vụ công tác pháp chế ngày càng nặng nề, phức tạp, với những nộidung cụ thể về xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản,kiểm soát thủ tục hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dụcpháp luật….đặt ra những yêu cầu ngày càng cao về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹnăng trong điều kiện hiện nay, một trong những vấn đề cơ bản đặt ra là xác địnhđúng nhu cầu và tổ chức tốt việc đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cho cán bộ làmcông tác pháp chế
Cấp tỉnh là cấp quản lí giáo dục trực tiếp xử lí những vấn đề PC nói chung
và chính sách giáo dục nói riêng, điều đó đòi hỏi CBPC giáo dục ở cấp tỉnh vừaphải có nghiệp vụ PC ở tầm quốc gia, vừa phải có KN nghiệp vụ PC tương đối
Trang 14cụ thể để có thể đáp ứng các nhiệm vụ quản lí giáo dục ở cấp tỉnh Vấn đề hiệnnay còn tồn đọng trong nghiệp vụ PC giáo dục ở cấp tỉnh còn khá nhiều, trong
đó đáng kể là tình trạng kết hợp chưa hài hòa giữa học vấn PL với học vấnchuyên môn về giáo dục và thể hiện điều đó trong các KN công tác PC giáo dục.Tình trạng đó một mặt là vấn đề thực tiễn bức xúc, thể hiện qua một số văn bảnluật và hành chính được diễn đạt hoặc được truyền đạt chưa phù hợp với đặcđiểm của lĩnh vực giáo dục, mặt khác cũng là vấn đề lí luận mới trong đào tạo,bồi dưỡng nghiệp vụ cho CBPC giáo dục hiện nay Bồi dưỡng KN công tác PCcho CB giáo dục cấp tỉnh là vấn đề cần được nghiên cứu nhưng cho đến naychưa được nghiên cứu ở nước ta
Việc lựa chọn đề tài “Bồi dưỡng KN công tác PC cho CB giáo dục cấp
tỉnh” là một trong những hướng nghiên cứu cần thiết nhằm phát triển sự nghiệp
giáo dục, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục trong xu thế hội nhập và góp phần đổi mới lí luận và thực tiễngiáo dục nước ta trong điều kiện cải cách hành chính, chuẩn hóa, công nghiệphóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng nội dung học tập và các biện pháp bồi dưỡng KN công tác PCcho CB giáo dục ở cấp tỉnh thông qua các hoạt động bồi dưỡng do ngành giáodục tổ chức
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu, đối tượng thụ hưởng
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác bồi dưỡng CB giáo dục ở cấp tỉnh.3.2 Đối tượng nghiên cứu: Nội dung và biện pháp bồi dưỡng KN công tác
PC cho CB giáo dục GD cấp tỉnh
3.3 Đối tượng thụ hưởng: Cán bộ giáo dục cấp tỉnh làm công tác PC
4 Giả thuyết khoa học
Bồi dưỡng KN công tác PC cho CBPC giáo dục đương nhiệm ở cấp tỉnh
sẽ có hiệu quả nếu phù hợp với yêu cầu hoạt động PC ở cấp tỉnh, kết hợp được
Trang 15học vấn PL và học vấn về giáo dục, dựa vào kinh nghiệm hoạt động thực tiễncủa cán bộ, phương pháp dạy học và tài liệu bồi dưỡng thích hợp với điều kiệncông tác và học tập của học viên.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lí luận của việc xây dựng nội dung, biện pháp bồi
dưỡng KN công tác PC cho CB giáo dục cấp tỉnh
5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng nội dung và biện pháp bồi dưỡng KNcông tác PC của CB giáo dục cấp tỉnh và các yếu tố tác động đến thực trạng này
5.3 Xây dựng nội dung và biện pháp bồi dưỡng KN công tác PC cho CBgiáo dục cấp tỉnh
6.2 Khảo sát thực trạng được tiến hành trên mẫu lựa chọn với đối tượng là
CB làm công tác PC của các Sở GD&ĐT thuộc UBND ở 60 tỉnh, bao gồm 20tỉnh phía Bắc, 30 tỉnh phía Nam và 10 tỉnh miền Trung
6.3 Thực nghiệm được tiến hành tại trường cán bộ quản lý giáo dụcThành phố Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phân tích tổng quan lịch sử nghiên cứu
- Phân tích so sánh
- Tổng hợp và khái quát hóa lí luận
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 16- Phương pháp nghiên cứu anket: điều tra bằng phiếu hỏi đóng và mở vớimục đích làm rõ thực trạng những nội dung và phương pháp bồi dưỡng KN côngtác PC.
- Phương pháp phỏng vấn: nhằm thu thập một số thông tin cụ thể để gópphần tăng độ tin cậy kết quả nghiên cứu của phương pháp trưng cầu ý kiến
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm công tác PC và công tác bồi dưỡng
CB giáo dục ở cấp tỉnh
- Phân tích hồ sơ quản lí ở cấp tỉnh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm tra hiệu quả của nội dungbồi dưỡng KN công tác PC
- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận về KN công tác PC, bồi dưỡng KN công tác
PC cho CB giáo dục làm công tác PC ở cấp tỉnh
- Xây dựng tiêu chí đánh giá KN công tác PC cho CB giáo dục làm côngtác PC ở cấp tỉnh trong giai đoạn hội nhập hiện nay
- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng KN công tác PC cho
CB giáo dục làm công tác PC ở cấp tỉnh
8.2 Về mặt thực tiễn
- Xác lập được các luận cứ khoa học để xây dựng nội dung học tập và làm
rõ KN công tác PC cho CB giáo dục làm công tác PC ở cấp tỉnh
Trang 17- Xây dựng nội dung học tập và biện pháp hiệu quả hơn trong bồi dưỡng
KN công tác PC cho CB giáo dục làm công tác PC ở cấp tỉnh nhằm gia tăng mức
độ đáp ứng của họ đối với yêu cầu công tác PC giáo dục ở cấp tỉnh
- Kết quả đề tài là nguồn tài liệu phục vụ những nghiên cứu tiếp theo vềcông tác PC cho CBPC giáo dục nói chung, CBPC cấp tỉnh nói riêng
Chương 2 Cơ sở thực tiễn, nội dung và biện pháp bồi dưỡng kỹ năng
công tác pháp chế cho cán bộ giáo dục cấp tỉnh
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm.
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG
CÔNG TÁC PHÁP CHẾ CHO CÁN BỘ GIÁO DỤC CẤP TỈNH
Về việc bồi dưỡng kiến thức PL thì các nước thường có sự khác biệt vềphương thức tổ chức, chương trình, quy trình và phương pháp đào tạo Sự khácbiệt này bị chi phối bởi các yếu tố chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hóa, xã hội củamỗi quốc gia và mô hình hệ thống PL mà quốc gia đó áp dụng:
- Cuốn sách “PL hành chính của Cộng hòa Pháp” của Martine Lombard,
Giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Panthéon-Assas và Gilles Dumont (Paris II),Giáo sư Trường Đại học Luật và Kinh tế Limoges, do Nxb Tư pháp phát hànhnăm 2007 là tài liệu đầy đủ và chi tiết nhất về sự hình thành và phát triển của hệthống PL hành chính của Cộng hòa Pháp Cuốn sách đã lý giải về các nhiệm vụ
mà một cán bộ PL phải thực hiện trong quá trình quản lý hành chính và quá trìnhgiúp nhà nước kiểm tra sự tuân thủ về quản lý hành chính… Tại Chương I, cuốn
Trang 19sách đã luận giải rất chi tiết về nhiệm vụ của cán bộ làm công tác PL gồm cáchxây dựng quy phạm hiến định, cách xây dựng các quy phạm có tính chất án lệ,luật và văn bản dưới luật, pháp lệnh và thông tư có hiệu lực thi hành bắt buộc,cách kiểm tra, giám sát về tính hợp hiến, hợp pháp của hệ thống PL; cách xâydựng cơ chế kiểm tra, giám sát của Tham chính viện đối với pháp lệnh và điềukiện về tính hợp pháp của thông tư có hiệu lực thi hành bắt buộc Có thể nói, đây
là những nội dung thực sự có ý nghĩa khi nghiên cứu dưới góc độ xây dựngchương trình bồi dưỡng KN công tác PC, cụ thể là về nhiệm vụ công tác xâydựng PL và công tác kiểm tra văn bản QPPL, kiểm tra việc thực hiện PL
- Ngoài ra, qua nghiên cứu các tài liệu nước ngoài cho thấy ở một số nước
trên thế giới như, Mỹ, Nhật Bản…những người làm công tác PC hầu như đã tốtnghiệp đại học luật, vì thế nếu để hành nghề họ đều đã học qua các khóa đào tạoluật sư, hoặc khóa tư vấn PL; do đó họ không chú trọng nhiều vào việc bồidưỡng KN về công tác PC
- Báo cáo MacCrate về tình hình giáo dục và công tác đào tạo, bồi dưỡng,
trong cuốn Giáo dục PL ở Hoa Kỳ, nguồn gốc và quá trình phát triển năm 1992,của Robert W Gordon, Ban Giáo dục PL và Công nhận Luật sư của Hội Luật giaHoa Kỳ [106] có đề cập đến việc bồi dưỡng, phát triển đội ngũ luật sư Theo đó,các luật sư khi muốn hành nghề cần phải được bồi dưỡng thành thạo các KNnhư: giải quyết vấn đề; phân tích và suy luận pháp lý; nghiên cứu PL; điều trathực tế; giao tiếp; tư vấn; thương lượng; kiến thức về tranh tụng và các thủ tụcgiải quyết tranh chấp; tổ chức và quản lý công việc pháp lý; nhận biết và giảiquyết các tình huống khó xử về đạo đức
- Ở Nhật Bản, để trở thành người làm công tác tư vấn PL phải qua khoáđào tạo tại Học Viện Tư pháp Nhật Bản [132] Việc đào tạo tư vấn PL được bắtđầu từ năm 1886 Sau khi chế độ phong kiến cuối cùng - Chế độ EDO - sụp đổnăm 1867, Nhật bước vào thời kỳ Minh Trị cách tân Nước Nhật mở rộng cánhcửa ra thế giới, đặc biệt là các nước Âu - Mỹ Nhiều thành tựu thời kỳ này vẫn
Trang 20còn giữ được giá trị cho đến bây giờ, trong đó có hệ thống PL và chế độ đào tạochức danh tư pháp cho cán bộ tư vấn PL.
1.1.2 Các công trình, đề tài nghiên cứu ở trong nước
Về KN và KN sư phạm đã có nhiều tác giả nghiên cứu từ nhiều góc độkhác nhau, cụ thể:
- Nguyễn Như An, Đặng Vũ Hoạt, Trần Anh Tuấn, Phan Thanh Long…
[2], [92], [93] đã nghiên cứu hệ thống KN sư phạm, chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ
giữa chúng, nhấn mạnh đến KN giảng dạy trên lớp và Thực hành, thực tập sưphạm, đồng thời nghiên cứu đưa ra những cơ sở lí luận về việc rèn luyện KNnghề nghiệp, vị trí của rèn luyện KN nghề nghiệp trong cấu trúc hoạt động sưphạm
- Đặng Thành Hưng nghiên cứu bản chất của KN và hệ thống KN học tậphiện đại trong đó có đề cập đến căn cứ để xác định KN học tập chung và trìnhbày chi tiết cấu trúc của những KN học tập trong môi trường học tập hiện đại[58] Quan niệm này là một trong những căn cứ lí luận để nghiên cứu tiếp tụcnhững vấn đề về KN nói chung, KN dạy học và KN học tập nói riêng
Nghiên cứu về KN khác có một số công trình sau:
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Phương Hiền với đề tài “KN giao tiếp của cán
bộ công chức” trong đó tác giả đã đi sâu phân tích các KN tạo ấn tượng ban đầu, KN
lắng nghe tích cực, KN sử dụng có hiệu quả các phương tiện giao tiếp, KN điều khiểncảm xúc, thực nghiệm phương pháp rèn luyện, bồi dưỡng KN giao tiếp cho cán bộ,công chức Góp phần làm phong phú thêm một số vấn đề về lý luận về KN giao tiếpcủa cán bộ công chức là biểu hiện mức độ của các nhóm KN cơ bản: KN tạo ấntượng ban đầu, KN lắng nghe tích cực, KN sử dụng có hiệu quả các phương tiện giaotiếp và KN điều khiển cảm xúc Những kết quả nghiên cứu của tác giả có thể thamkhảo để xây dựng trong nội dung về KN công tác phổ biến giáo dục PL
- Cuốn sách của Đào Thị Ái Nhi KN thuyết trình tác giả đã khẳng định,
KN thuyết trình là một trong những KN quan trọng nhất mà người cán bộ làm
Trang 21công tác PC phải có, trong cuốn sách này tác giả giúp cho cán bộ làm công tác
PC học được cách nâng cao KN thuyết trình không chỉ qua một bài nói mà cònhọc cách đưa ra một chiến lược thuyết trình phù hợp với người nghe và mục đíchcủa bài nói Ngoài ra, cuốn sách đã đề cập đến việc xây dựng nội dung KN giaotiếp nghề nghiệp Đây là một trong những nhóm KN công tác PC mà cán bộ làmcông tác PC cần thành thạo
Về việc bồi dưỡng kiến thức PL, PC có một số tài liệu đề cập đến nhưsau:
- Sau khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Ban hành văn bản
QPPL năm 2002, cuốn sách Bình luận Luật Ban hành văn bản QPPL với sự hỗ
trợ của Văn phòng UNDP, dự án VIE 02/015 đã được Nxb Tư pháp phát hành.Cuốn sách có nhiều nội dung liên quan chặt chẽ và trực tiếp đến đề tài của luận
án như bình luận thuyết phục về nhiệm vụ kiểm tra và xử lý văn bản QPPL Cáctác giả cho rằng nhiệm vụ kiểm tra văn bản QPPL là một trong những nhiệm vụquan trọng của CBPC, nó giúp cán bộ làm công tác này có thể sự xem xét, đánhgiá hình thức và nội dung văn bản để kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp, tínhthống nhất của văn bản QPPL trong hệ thống PL Tuy nhiệm vụ kiểm tra chỉ làmột nội dung mà CBPC cần phải hiểu khi tiếp cận công việc, nhưng những nộidung này thực sự có ý nghĩa khi đưa vào chương trình bồi dưỡng cho cán bộlàm công tác PC
- Cuốn sách của Nguyễn Tất Viễn “Tổng quan Công tác phổ biến giáo dục PL và xây dựng chương trình phục vụ cho công tác phổ biến giáo duc PL”,
Nxb Hà Nội, năm 2011 trong đó tác giả phân tích sâu sắc về bản chất, giá trị vàhình thức của công tác phổ biến giáo dục PL để hướng dẫn cán bộ làm công tác
PC biết cách thức đưa PL đến với người cần tuyên truyền, phổ biến Theo tácgiả, một trong những KN của cán bộ làm công tác PC là biết tuyên truyền PL vàđưa thông tin PL đến cán bộ, nhân dân thông qua việc xây dựng chương trìnhphổ biến, xây dựng kế hoạch tuyên truyền, CBPC khi đi làm công tác tuyên
Trang 22truyền phải hiểu rõ nội dung tuyên truyền, cách thức tuyên truyền phải đươngiản, dễ hiểu và tránh dài dòng Cuốn sách đã tiếp cận quan niệm về KN bồidưỡng công tác PC theo nghĩa hẹp, vì công tác phổ biến, giáo dục PL chỉ là 1trong các nhiệm vụ của CBPC, tuy nhiên cuốn sách đã hướng dẫn được cán bộlàm công tác PC biết được cách xây dựng đề cương, chương trình và kế hoạchtuyên truyền, phổ biến, giáo dục PL, nắm được KN tuyên truyền miệng, tư vấn
PL và trợ giúp pháp lý Đây là một nội dung cơ bản để xây dựng chương trìnhbồi dưỡng KN công tác PC
- Kỷ yếu hội thảo Nghiệp vụ PC năm 2011 với sự hỗ trợ của Bộ Tư pháp
và dự án USAID Trong cuốn này có đề cập đến việc nghiên cứu xây dựng bộtài liệu bồi dưỡng KN, chuyên môn, nghiệp vụ về công tác PC cho cán bộ, côngchức, viên chức PC phù hợp với từng nhóm đối tượng, bên cạnh đó, còn nêu lênthực trạng về tổ chức bộ máy của tổ chức PC, công tác PC hiện nay cũng còn rấthạn chế về số lượng đội ngũ những người làm công tác PC trong khi khối lượngcông việc được giao ngày càng nhiều, đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụngày càng cao
- Hiện nay, việc bồi dưỡng KN công tác PC cho cán bộ làm công tác PCnói chung và cho cán bộ làm công tác PC cấp tỉnh nói riêng rất đa dạng và cũng
có nhiều cách tiếp cận do trình độ và KN khác nhau Nhưng đa số các nội dungbồi dưỡng mới chỉ dựa trên nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ làm công tác PCtại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ: Quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức PC Năm 2007, BộGD&ĐT ban hành quyết định về chương trình bồi dưỡng kiến thức PL và KNcông tác PC cho CBPC ngành giáo dục nhằm phục vụ nhu cầu bồi dưỡng choCBPC trong toàn ngành [11] Tuy nhiên, chương trình bồi dưỡng chưa đáp ứngvới nhu cầu thực tế với cán bộ làm công tác PC ngành giáo dục nói chung và cán
bộ làm công tác PC giáo dục cấp tỉnh nói riêng, vì một số nội dung của chươngtrình không còn phù hợp với thực tế và các văn bản hiện hành quy định về công
Trang 23tác PC hiên nay Do vậy, cần phải có nghiên cứu một cách khoa học trên cơ sởkhảo sát thực trạng và nhu cầu cần thiết xây dựng nội dung bồi dưỡng KN côngtác PC cho cán bộ làm công tác PC cấp tỉnh.
Ở những khía cạnh khác nhau, việc nghiên cứu về bồi dưỡng KN công tác
PC đã được các tác giả trên đây đề cập đến nhưng mới chỉ dừng lại ở một số nộidung cụ thể, chưa nghiên cứu giải quyết toàn diện về mọi khía cạnh của KNcông tác PC Vì vậy, việc nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện, hệ thốngnhững vấn đề bồi dưỡng KN PC đòi hỏi CBPC giáo dục ở cấp tỉnh phải cónghiệp vụ PC tầm quốc gia, phải có KN PC để đáp ứng các nhiệm vụ quản lígiáo dục ở cấp tỉnh Vấn đề hiện nay còn hạn chế về KN PC giáo dục ở cấp tỉnhcòn phổ biến nhiều Điều đáng kể là tình trạng kết hợp chưa hài hòa giữa họcvấn PL với học vấn chuyên môn về giáo dục và thể hiện các KN PC giáo dục.Tình trạng đó là vấn đề thực tiễn thể hiện một số văn bản luật hành chính diễnđạt chưa phù hợp với đặc điểm của lĩnh vực giáo dục Mặt khác là vấn đề lí luậnmới trong đào tạo bồi dưỡng KN nghiệp vụ cho CBPC giáo dục Do đó, việc
“Bồi dưỡng KN công tác PC cho cán bộ PC giáo dục cấp tỉnh” là vấn đề cần
được nghiên cứu
- Trong cuốn “Sổ tay PL và nghiệp vụ dành cho CBPC năm 2011” của Bộ
Tư pháp có trình bày kiến thức PL và các KN trong công tác phổ biến, giáo dục
PL cho CBPC ở các bộ, ngành và địa phương Trong đó hướng dẫn một số KN,nghiệp vụ cần thiết trong công tác PC như KN thẩm định văn bản QPPL; KNkiểm tra văn bản; KN xây dựng, chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục PL;
KN thuyết trình; KN biên soạn tài liệu PL
- Báo cáo tổng kết 06 năm thực hiện Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 về công tác PC của Bộ Tư pháp năm 2011 Báo cáo nêu cụ thể các
hoạt động mà CBPC phải thực hiện như: Công tác xây dựng pháp luât, công tác
rà soát hệ thống hóa, kiểm tra, xử lý, phổ biến giáo dục PL….Báo cáo cũng nêuđược thực trạng tổ chức PC tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh
Trang 24Đây cũng là một trong những nội dung mà luận án cần tham khảo khi xây dựngchương trình bồi dưỡng KN công tác PC cho đội ngũ CBPC giáo dục cấp tỉnh.
- Giải pháp hoàn thiện hệ thống PL về giáo dục giai đoạn 2010 - 2020
(Viện khoa học Giáo dục Việt Nam, 2009), nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp
Bộ do PGS.TS Chu Hồng Thanh chủ trì Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thựctiễn công tác xây dựng văn bản PL về giáo dục của Bộ GD&ĐT trên cơ sở đóđưa ra các đề xuất định hướng xây dựng hệ thống PL về giáo dục đến năm 2020bao gồm một số đạo luật như Luật giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục mầmnon, Luật Giáo dục phổ thông, Luật giáo dục thường xuyên, Luật nhà giáo
1.1.3 Các chính sách, văn bản pháp luật hiện hành về công tác pháp chế giáo dục
Làm thế nào nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức, KN cho cán bộcông chức nói chung, cán bộ làm công tác PC nói riêng là một trong những nộidung quan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm và đề cập trong chủ trương,chính sách, PL Có thể nói, hiện nay có khá nhiều văn bản QPPL điều chỉnh vấn
đề này, cụ thể như sau:
- Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã xác định nhữngquan điểm và phương hướng cơ bản để tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dụctoàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệthống quản lý giáo dục, thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá", thựchiện công bằng trong giáo dục Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ươngkhoá IX đã có những kết luận quan trọng về giáo dục, trong đó xác định những
nhiệm vụ mà toàn Đảng, toàn dân, nòng cốt là đội ngũ giáo viên và cán bộ quản
lý giáo dục cần tập trung thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương chín (Khoá
IX) nêu rõ: "Tiếp tục triển khai mạnh trong thực tiễn quan điểm phát triểnGD&ĐT, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu Nâng cao rõ rệt chấtlượng GD&ĐT Giải pháp then chốt là đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhànước trong GD&ĐT, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp
Trang 25giáo dục theo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam cùng với đổimới cơ chế quản lý giáo dục…
Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, cuộccách mạng khoa học công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt trong thế kỷXXI, vấn đề đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Ngày 02 tháng
12 năm 1998, Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Namthông qua là cơ sở pháp lý quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân Sau khi
có Luật Giáo dục năm 1998, Chính phủ đã ban hành một số nghị định quy định
về việc hợp tác quốc tế về giáo dục đã tạo điều kiện cho việc mở rộng các hoạtđộng hợp tác giáo dục, đào tạo Qua hơn 5 năm thực hiện, Luật Giáo dục đã gópphần quan trọng vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục Hệ thống giáo dục đượcđổi mới và từng bước kiện toàn; quy mô học sinh, sinh viên tăng cao, mạng lướitrường lớp được mở rộng; trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực đượcnâng lên; việc thực hiện công bằng trong giáo dục có bước phát triển mới; cácđiều kiện bảo đảm phát triển giáo dục được bổ sung đáp ứng ngày càng tốt hơncác hoạt động của toàn ngành Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nướctrong thời kỳ hội nhập và phát triển những thập niên đầu của thế kỷ XXI, nhànước ta tiếp tục hoàn thiện PL về giáo dục bằng việc ban hành Luật Giáo dục sửađổi năm 2005 Có thể nói, sự ra đời của Luật giáo dục sửa đổi đã được Quốc hộinước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14tháng 6 năm 2005 là rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn xã hội đặt ra,tạo cơ sở pháp lý khắc phục những khó khăn, yếu kém và đáp ứng những nhucầu mới phát sinh trong lĩnh vực giáo dục
Với nguyên lý nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN có tínhnhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh làm nền tảng, hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lýhọc đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền vớithực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội,
Trang 26Luật Giáo dục đã đặt ra mục tiêu là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàndiện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách,phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Trên quan điểm này, có thể nói, công tác đào tạo, bồi dưỡngnhân lực nói chung, cán bộ cấp tỉnh nói riêng đã được luật hóa để hoàn thiện thểchế đào tạo, bồi dưỡng sao cho đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác Đòi hỏi đótập trung vào kiến thức, KN
Từ quan điểm chung đó, quy định của PL cũng đặt ra yêu cầu đối vớiCBPC cấp tỉnh phải đạt chuẩn kiến thức, KN là mức tối thiểu về kiến thức, KN
mà người học phải đạt được sau khi kết thúc một chương trình giáo dục khi thamgia quá trình đào tạo, bồi dưỡng, bao gồm: Thể hiện mục tiêu giáo dục đối vớitừng môn học, lớp, cấp học, trình độ đào tạo; Thể hiện kiến thức, KN mới đápứng yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế; Được cụ thể hoá thành các tiêu chíphù hợp, làm cơ sở cho việc xây dựng, thực hiện, theo dõi, giám sát và đánh giákhách quan chương trình giáo dục
Có thể nói, Luật giáo dục và văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục
đã nêu lên khung pháp lý cơ bản cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng công chức cấptỉnh nói chung, CBPC giáo dục cấp tỉnh nói riêng, tuy nhiên yêu cầu cụ thể phùhợp với từng đối tượng, từng giai đoạn, từng điều kiện phải được điều chỉnh bởicác văn bản chuyên ngành khác
- Có thể nói, chế độ công vụ, cán bộ, công chức là nội dung quan trọngtrong hoạt động của nền hành chính quốc gia Trong thời kỳ đổi mới, cán bộ,công chức vừa là đối tượng của quá trình đổi mới, cải cách, vừa là thước đo củaquá trình đổi mới, dân chủ hóa đời sống xã hội Từ tầm quan trọng đó, thời gianqua, nhà nước ta đã ban hành hệ thống các văn bản điều chỉnh về vấn đề này nhưPháp lệnh Cán bộ, công chức được Nhà nước ban hành năm 1998 (sau đó đượcsửa đổi, bổ sung vào năm 2000 và năm 2003); Luật công chức năm 2011 Các
Trang 27văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức và quản lý các hoạt độngliên quan đến công vụ, công chức, xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân,từng bước đổi mới cơ chế quản lý công chức phù hợp với thời kỳ xây dựng vàphát triển đất nước.
Qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với sự phát triển KT - XH, hoạt động công
vụ, công chức đã góp phần làm thay đổi diện mạo nền hành chính nhà nước, tạotiền đề cho việc hội nhập sâu, rộng trên các lĩnh vực kinh tế- văn hóa- xã hội vớicác nước trong khu vực và trên thế giới Đội ngũ cán bộ, công chức cũng từngbước được xây dựng và nâng cao về chất lượng, đáp ứng yêu cầu cải cách hànhchính nhà nước Tính đến năm 2012, tổng số biên chế cán bộ, công chức làmcông tác PC (cả chuyên trách và kiêm nhiệm) của cả nước là 3.500 Trong đó,hơn 3.000 người có trình độ đại học trở lên (đại học Luật chỉ có gần 1500 người,
còn lại là các chuyên ngành khác) [20] Đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ
thống chính trị ở nước ta đã tạo thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo củaĐảng CSVN, góp phần tích cực đưa đất nước ta từ một nước nghèo, lạc hậuchuyển sang đất nước có nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Trong cácnội dung quan trọng điều chỉnh đối với cán bộ, công chức, pháp lệnh về cán bộ,công chức đã dành cả mục 4 - Chương II để quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức Theo đó, đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là công chức từ trungương đến cấp xã; mục tiêu là trang bị kiến thức, KN, phương pháp thực hiệnnhiệm vụ, công vụ và xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp Thực hiệnviệc đào tạo, bồi dưỡng trên nguyên tắc căn cứ vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch,chức vụ và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực; bảo đảm tính tự chủ của cơ quan;kết hợp cơ chế phân cấp và cạnh tranh; đề cao vai trò tự học và lựa chọn chươngtrình bồi dưỡng theo vị trí việc làm và bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả
Để bảo đảm quá trình đào tạo, bồi dưỡng, PL cán bộ, công chức còn quyđịnh về trách nhiệm và quyền lợi của công chức trong đào tạo, bồi dưỡng cũngnhư trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong đào tạo, bồi dưỡng công
Trang 28chức Theo đó, công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng phải chấp hành nghiêmchỉnh quy chế đào tạo, bồi dưỡng và chịu sự quản lý của cơ sở đào tạo, bồidưỡng; được hưởng nguyên lương và phụ cấp; thời gian đào tạo, bồi dưỡng đượctính vào thâm niên công tác liên tục, được xét nâng lương theo quy định của PL;Công chức đạt kết quả xuất sắc trong khóa đào tạo, bồi dưỡng được biểu dương,khen thưởng và nếu tự ý bỏ việc, xin thôi việc phải đền bù chi phí đào tạo, bồidưỡng theo quy định của PL [86 - Đ49] Đối với tổ chức, đơn vị, cơ quan đàotạo, bồi dưỡng công chức thì cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có tráchnhiệm xây dựng và công khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạonguồn và nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức; cơquan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm tạo điều kiện để côngchức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn,nghiệp vụ của công chức [86 - Đ47].
Nhằm cụ thể hóa quy định của PL về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,ngày 05/03/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về đào tạo,bồi dưỡng công chức gồm 6 chương, 31 điều trong đó quy định rõ về mục tiêu,nguyên tắc, chế độ, nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng Đặc biệt với nộidung đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước, yêu cầu đặt ra là phải trang bị 04 lĩnh vựckiến thức gồm Lý luận chính trị; chuyên môn, nghiệp vụ; kiến thức PL; kiếnthức, KN quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành và kiến thức tin học, ngoạingữ, tiếng dân tộc
Nhìn chung, cơ sở pháp lý cho việc đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp tỉnh ngàycàng được hoàn thiện và đã được cụ thể hóa trong các văn bản có giá trị pháp lý caonhư luật, nghị định…Tuy nhiên, đối với công chức PC cấp tỉnh, hiện nay các quyđịnh PL cũng chưa có “khung” mang tính đặc thù cho đối tượng này, vì vậy vấn đềđặt ra là cần phải có một nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu về cơ sở lý luận, cơ sở pháp
lý và cơ sở thực tiễn để từ đó có chương trình phù hợp, khả thi để đào tạo, bồi dưỡngCBPC cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay
Trang 29- Để góp phần bồi dưỡng cán bộ, công chức PC ngành giáo dục, ngày 12tháng 12 năm 2007, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số75/2007/QĐ-BGDĐT về Chương trình bồi dưỡng kiến thức PL và KN công tác
PC cho CBPC ngành giáo dục với mục tiêu trang bị một số kiến thức PL cơ bản
và KN thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ cho CBPC ngành giáo dục(năm 2013 được thay thế bằng Quyết định số 4415/QĐ-BGDĐT ngày02/10/2013 về Chương trình bồi dưỡng kiến thức PL và KN công tác PC choCBPC ngành giáo dục, tuy nhiên chương trình này dược ban hành vào cuối năm
2013, nên chưa được được đưa vào thực hiện) Qua đó góp phần chuẩn hóa độingũ, kiện toàn hệ thống PC ngành giáo dục và tăng cường quản lý nhà nướcbằng PL trong lĩnh vực giáo dục Yêu cầu đặt ra về kiến thức là nâng cao nhậnthức về quản lý nhà nước bằng PL, hệ thống PL Việt Nam, hệ thống PL về giáodục, chức năng, nhiệm vụ tổ chức PC, nghiệp vụ cán bộ làm công tác PC; vềKN: Biết vận dụng kiến thức vào việc soạn thảo văn bản, tham gia ý kiến các dựthảo văn bản QPPL, rà soát, hệ thống hoá, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL; tổchức công tác phổ biến, giáo dục PL, kiểm tra việc thực hiện PL; về thái độ:Nâng cao ý thức tôn trọng PL và tăng cường năng lực quản lý nhà nước bằng
PL, kiên quyết đấu tranh với hành vi vi phạm PL trong lĩnh vực giáo dục vàtrong xã hội Chương trình được thiết kế gồm 14 chuyên đề với 3 phần: Phần 1 -Một số vấn đề chung về nhà nước và PL; Phần 2 - PL về giáo dục và tổ chức PC;Phần 3 - Nghiệp vụ công tác PC Tổng thời gian bồi dưỡng là 90 tiết Để hoànthành khóa bồi dưỡng, học viên phải viết tiểu luận cuối khóa khoảng 15 trang A4
về các chủ đề liên quan đến công tác PC Có thể nói, Chương trình bồi dưỡngkiến thức PL và KN công tác PC cho CBPC ngành giáo dục ra đời trong bốicảnh nhà nước tăng cường công tác PC, thực hiện nhà nước pháp quyền là cầnthiết và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Tuy nhiên qua quá trình áp dụng trên thực
tế còn bộc lộ nhiều hạn chế do các chuyên đề được thiết kế chưa thật sự khoahọc, lôgic, bên cạnh đó có một số chức năng, nhiệm vụ của cán bộ làm công tác
Trang 30PC chưa được đưa vào bồi dưỡng nghiệp vụ tham gia tố tụng, nghiệp vụ giảiquyết khiếu nại tố cáo, KN tham gia xây dựng văn bản QPPL
1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN
Quá trình đào tạo và quá trình bồi dưỡng đều là quá trình giáo dục, nhưng lạikhác nhau cơ bản ở chỗ: “đào tạo” là một quá trình dạy học thực hiện trong thờigian xác định với nội dung chương trình đào tạo hệ thống từ đầu đến hoàn chỉnhmột sản phẩm đào tạo; còn “bồi dưỡng” là quá trình dạy học để bổ sung, hoặc nângcao những KN còn thiếu hoặc còn yếu, mang tính cập nhật và đề cập trực tiếp đếnnội dung bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ Thời gian cho một khóa
học bồi dưỡng ngắn, tùy thuộc vào yêu cầu, điều kiện cụ thể của khóa học
Luận án sử dụng khái niệm “bồi dưỡng” theo nghĩa sư phạm và phát triểnnguồn nhân lực Đó là quá trình huấn luyện, giảng dạy, hướng dẫn khuyến khíchhọc viên học tập, rèn luyện, lĩnh hội được những tri thức, KN và giá trị tươngứng phù hợp với mục tiêu phát triển nghề nghiệp của học viên với tư cách côngchức, viên chức đương nhiệm trên cơ sở trình độ đào tạo Trong khái niệm này,phát triển nghề nghiệp được hiểu trên nhiều mặt: Năng lực chung, năng lựcchuyên biệt (trong đó có KN), đạo đức và phong cách chuẩn mực trong nghề
1.2.2 Pháp chế và công tác pháp chế
PC là một khái niệm cơ bản có tầm quan trọng đặc biệt trong lý luận về
PL Nhưng PC và PL là hai khái niệm khác nhau
PC là sự yêu cầu, đòi hỏi mọi chủ thể của PL (các cơ quan, công chức,viên chức nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân) phải
Trang 31thực hiện một cách bình đẳng, nghiêm minh và thống nhất PL PL là hệ thốngcác quy phạm (quy tắc xử sự) do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để điềuchỉnh các quan hệ xã hội Như vậy, có PL rồi mới có PC - PL là tiền đề của PC.
Khái niệm PC còn được hiểu là phương pháp, chế độ quản lý xã hội, lànguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và cả hệ thống chính trị,cũng là nguyên tắc xử sự của mọi công dân Hiện nay có một số quan điểm vàcách tiếp cận khác nhau về khái niệm, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về PC
Có nêu một số quan niệm phổ biến như sau:
- Theo Từ điển Tiếng Việt [128, tr.364] thì PC là:
+ Chế độ trong đó đời sống và hoạt động xã hội được bảo đảm bằng PL(ví dụ: tăng cường PC) hoặc là:
+ Hệ thống luật lệ của nhà nước nói chung hoặc hệ thống luật lệ áp dụngtrong một ngành nghề nhất định (ví dụ: nền PC Việt Nam; PC kinh tế)
- Theo từ điển Luật học [130, tr 364] thì PC là:
+ Toàn bộ PL của một nhà nước, một thời kỳ của một nhà nước hay toàn
bộ PL về một lĩnh vực của đời sống, hoặc:
+ Thành tố ghép để đặt tên cơ quan, cán bộ làm công tác xây dựng PL,tuyên truyền, thi hành PL (ví dụ: Vụ PC)
+ PC là pháp quyền, trong đó “pháp” là PL, “chế” đây là chế ước, chế ngự
mà sự ngự trị của PL là pháp trị Quan điểm này có hạn chế bởi nói đến pháp trị
là nói đến một trường phái tư tưởng chính trị - pháp lý coi trọng việc trị nướcbằng PL để phân biệt với tư tưởng đức trị coi trọng sử dụng đạo đức Nếu pháp
Trang 32trị là phương pháp quản lý nhà nước thì vô hình chung là cứ có nhà nước là cóPC? Điều này có mâu thuẫn với thực tiễn nhà nước chủ nô, phong kiến và nhưvậy cũng chưa phản ánh được bản chất PC ở nhà nước bóc lột với PC ở nhànước kiểu mới.
+ Đồng nhất PC với hệ thống PL Đây là cách hiểu có tính đời thường(ngay Nxb Sự thật khi xuất bản cuốn “Về PC XHCN” cũng tập hợp các bài viếtcủa Lê-Nin không chỉ nói về PC mà nói về PL nói chung) [137] Nếu quan niệmnhư thế thì chưa phân biệt được PL (dạng tĩnh) với PC (dạng động), chưa thấyđược PL mới tiềm ẩn khả năng tạo ra trật tự xã hội còn PC là điều kiện tạo ra trật
tự xã hội
+ Coi PC là sự đòi hỏi các chủ thể trong xã hội tuân thủ PL quan điểmnày chưa thật chặt chẽ vì nói đến đòi hỏi thì vẫn còn nặng tính kêu gọi chứ chưaphải là sự ràng buộc Hơn nữa nếu chỉ đòi hỏi tuân thủ thì cũng chưa đủ nếu xétdưới góc độ lí luận thực hiện PL (có 4 hình thức thực hiện khác nhau)
+ PC là chế độ thực hiện PL là khái niệm chỉ chế độ quan hệ KT - XHnhất định đã được luật pháp hóa, được thể hiện ở hệ thống văn bản PL và cáchành vi thực hiện PL nhất quán giữa các mặt lập pháp, tư pháp và hành pháp.Những thành tố cơ bản tạo nên PC là PL, bộ máy lập pháp, bộ máy tư pháp, bộmáy hành pháp, những quan hệ và hành vi PL của Nhà nước, các tổ chức xã hội,công dân và cộng đồng
Như vậy công tác PC được hiểu là việc tổ chức và tiến hành một dạng laođộng nghề nghiệp có liên quan trực tiếp đến PL, thực hiện luật và điều chỉnh luậttrong lĩnh vực KT - XH nào đó, và quan hệ đến nền PC nói chung trong hiệnthực xã hội, có sử dụng những công cụ hành chính, nguồn lực kinh tế - côngnghệ, nguồn lực người và thông tin thuộc lĩnh vực đó
Công tác PC là một trong các quá trình tổ chức để đưa PL vào cuộc sống.
Muốn thực hiện PL tốt, đặc biệt là việc áp dụng PL của các cơ quan hoặc cán bộnhà nước thì điều quan trọng không chỉ là biết PL cho làm gì mà còn phải biết
Trang 33làm như thế nào Từ khâu đánh giá tình hình thực tiễn, lựa chọn QPPL phù hợp,
ra văn bản áp dụng PL, tổ chức thực hiện văn bản đều phải theo đúng trình tự,thủ tục, thẩm quyền do PL quy định Vì vậy, một trong những nội dung quantrọng của công tác PC chính là giáo dục các KN công tác PC
Để tiến hành được công tác PC ở cấp tính, CBPC phải thực hiện một sốnhiệm vụ chuyên môn nhất định có tính bắt buộc Nói cách khác, nếu không làmđược những việc này thì không thực hiện được công tác PC Khi xét tổng thểdưới lập trường tổ chức nhà nước, thì các nhiệm vụ cơ bản của công tác PC gồmlập pháp (kể cả sửa đổi luật), tư pháp và hành pháp cũng như các hoạt động phốihợp những mảng này Nhưng xét từ quan điểm đào tạo và bồi dưỡng KN, tức là
từ góc độ sư phạm và phát triển nghề nghiệp, thì các nhiệm vụ của cán bộ côngtác PC gồm có:
+ Nhận thức nghề nghiệp: Đó là nhiệm vụ nhận thức hàng loạt những đối
tượng tồn tại hoặc nảy sinh trong công tác PC như văn bản, con người, phươngtiện, điều kiện, môi trường làm việc
+ Quản lí và tự quản lí: Đó là nhiệm vụ quản lí những đối tượng lao động
vừa như nguồn lực, điều kiện vừa như thành quả làm việc, có liên quan đến việc
áp dụng, phổ biến, tuyên truyền và thực hiện PC
+ Giao tiếp nghề nghiệp: Đó là các nhiệm vụ giao tiếp với những chủ thể
khác nhau trong công việc và quan hệ thuộc chức trách của mình, trực tiếp vàgián tiếp, ở các cấp quản lí khác nhau
1.2.3 Kỹ năng
1.2.3.1 Định nghĩa kỹ năng
Thông thường người ta hiểu KN là khả năng của con người thực hiện côngviệc một cách có hiệu quả trong một thời gian thích hợp, trong các điều kiện nhấtđịnh và dựa vào các tri thức, các kĩ xảo đã có KN không đơn thuần là mặt của kĩthuật của hành động mà còn là một biểu hiện năng lực của con người [101]
KN bao gồm toàn bộ sự hiểu biết về nghề nghiệp chuyên môn của mộtngười, sự thành thạo tay nghề, những động tác cách thức, phương pháp xử lý các
Trang 34tình huống xảy ra trong quá trình thực hiện công việc mức thuần thục của nhữngđộng tác đạt đến kết quả được giải quyết rất nhanh, chính xác, chất lượng, hiệu quả
Theo Từ điển Tiếng Việt [129] KN là khả năng ứng dụng tri thức khoahọc vào thực tiễn Đây là một định nghĩa mang tính chung chung Đây cũng làcách giải thích đơn giản, chẳng hạn nó hoàn toàn không đúng khi nói về KN tưduy của cá nhân, đặc biệt là KN tư duy lí luận
Tuy nhiên chúng tôi không tán thành cách hiểu KN là khả năng, vì trênthực tế KN là cái có thật ở cá nhân chứ không phải là cái có thể có và có thểkhông có Khi ở cá nhân chưa thực sự tồn tại dạng hành động này thì không thểnói cá nhân đó có KN Luận án sử dụng khái niệm KN theo cách hiểu thực tiễn
và theo nghĩa sư phạm đã được giải thích rõ trong các công trình của ĐặngThành Hưng (Nhận diện và đánh giá KN, Tạp chí Khoa học giáo dục số 62,tháng 11/2010) [66]
Một số quan điểm khác theo trường phái hiện đại, xem KN là một dạnghành động của mỗi cá nhân được thực hiện theo mục đích dựa vào những điềukiện nhất định Đặng Thành Hưng [68] cho rằng KN không phải là khả năng của
cá nhân (có thể có hoặc có thể không có) mà là thuộc tính có thật ở cá nhân KN
là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học-tâm lí-xã hội khác của cá nhân (chủ thể của KN đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân, giá trị bên trong để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức
độ thành công theo tiêu chuẩn hay qui định Ông gọi KN là năng lực Làm, tức là
năng lực trong hành động có thật, khác với tri thức là năng lực Nghĩ và Hiểu, vàthái độ, xúc cảm là năng lực Cảm
Nhìn chung, tất cả những quan điểm khác nhau về KN đều có điểm nhấtquán là xem KN là một thành phần của năng lực hay một dạng năng lực Kháiniệm KN trong luận án này được sử dụng theo quan điểm của Đặng Thành
Hưng KN là hành động luôn được kiểm soát bởi ý thức, được thực hiện dựa trên
Trang 35những thuộc tính sinh học, tâm lí và xã hội của cá nhân thích hợp với yêu cầu hoạt động cũng như những điều kiện khách quan khác của môi trường hoạt động, đạt được kết quả thực tế theo mục tiêu hay tiêu chí đã định trước [68].
Theo quan niệm này, KN chính là một dạng hành vi hay hành động được
cá nhân thực hiện tự giác và thành công xét theo những yêu cầu, qui tắc, tiêuchuẩn nhất định Đó có thể là những yêu cầu, qui tắc, tiêu chuẩn về trình tự thựchiện, về kết quả thực hiện, về tốc độ hay nhịp độ thực hiện và tính đúng đắn củahành động Tóm lại KN chính là hành động, chứ không phải khả năng thực hiệnhành động Tuy nhiên không phải hành động nào cũng là KN Vì vậy, có thểđịnh nghĩa khái niệm KN như sau:
KN là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức vềcông việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học - tâm lí khác của cánhân (chủ thể có KN đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân …
để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành côngtheo chuẩn hay qui định Hành động đó có thể là hành động trí óc hoặc hànhđộng vật chất
Những hành động không dựa trên tri thức và các điều kiện sinh học - tâm
lí của cá nhân thì không phải là KN, cho dù nó được thực hiện thuần thục, đó làthói quen, kĩ xảo hay hành vi tập tính Cần nhấn mạnh rằng KN chính là cái cóthật ở cá nhân, chứ không phải cái có thể có (khả năng) và cũng không phải nănglực (vì năng lực bao gồm nhiều thứ khác nữa chứ không chỉ gồm KN) Nói vềmặt thực hiện, KN phản ánh năng lực làm việc, tri thức phản ánh năng lực suynghĩ, thái độ phản ánh năng lực cảm nhận
1.2.3.2 Cấu trúc và những điều kiện của kỹ năng
Mọi KN đều có cấu trúc chung như nhau, chỉ nội dung cụ thể của mỗithành tố cấu trúc mới có sự khác biệt tùy theo đó là KN nào Là một dạng hànhđộng nên KN bao gồm hệ thống thao tác (kĩ thuật cấu thành hành động), trật tự
tổ chức và thực hiện các thao tác, các hành vi và quá trình thực hiện hành vi điều
Trang 36chỉnh, nhịp độ và cơ cấu thời gian thực hiện hành động Một số sách báo truyềnthống xem tri thức và kết quả hành động cũng là thành tố cấu trúc của KN; quanđiểm này là sai lầm Tri thức không nằm trong KN là điều kiện mà chủ thể phải
có để hình thành và kiếm soát KN của mình Kết quả hành động không nằmtrong KN mà nằm ở phía sau khi KN kết thúc thành công
- Hệ thống thao tác được tổ chức linh hoạt:
KN cấu thành từ một số thao tác và chúng được tổ chức thành hệ thốngnhất định Ví dụ: KN thiết kế bài giảng gồm những thao tác hay kĩ thuật nhưphân tích nội dung, xác định mục tiêu, lựa chọn phương pháp và phương tiện,học liệu, trình bày giáo án, lập kế hoạch thời gian (tiến độ), phát triển các công
cụ giảng dạy … Mỗi KN sẽ bao hàm số lượng tối thiểu và tính chất cụ thể củacác thao tác hay kĩ thuật hành vi Nếu thiếu thao tác thì đó là KN chưa đầy đủnội dung
- Trình tự logic của quá trình thực hiện các thao tác:
Trình tự này qui định trật tự các thao tác Tuy vậy đó không phải qui trìnhcứng nhắc mà sẽ thay đổi theo hoàn cảnh, điều kiện sử dụng KN của cá nhân.Trình tự có thể có nhiều qui trình khác nhau, tương ứng với những hoàn cảnh,trường hợp hành động khác nhau Đó chính là các phương án thực hiện KN tùytheo tình huống cụ thể, nhưng bảo đảm logic chung Nếu lộn xộn về logic thìhành động chưa hẳn đã là KN, mà đang trong quá trình hình thành, hoặc đã hìnhthành nhưng thiếu thuần thục
- Các quá trình điều chỉnh hành động:
Mọi KN đều bao hàm một vài quá trình xử lí thông tin, đánh giá và điềuchỉnh ngay trong tiến trình hành động Chính thành tố này là căn bản để phânbiệt KN và kĩ xảo, thói quen khi chúng diễn ra có vẻ giống nhau Vì vậy người tanói KN luôn được ý thức kiểm soát Các quá trình điều chỉnh có thể gồm những
cử chỉ, những hành vi thử và sai, những kĩ thuật đo lường và chỉnh lí nội dungcũng như trình tự logic của hành động
Trang 37- Nhịp độ thực hiện và cơ cấu thời gian:
KN luôn được hạn định trong khuôn khổ thời gian nào đó và vì vậy nótuân theo nhịp độ thực hiện hành động nhất định Khi tiêu chí này chưa rõ ràngthì chúng ta khó nhận diện KN, vì bản thân KN đó chưa có tồn tại cụ thể, vẫncòn rối, kém hợp lí và thiếu hiệu quả thực tế Nghĩa là chủ thể vẫn còn hànhđộng mò mẫm chứ chưa thực sự có KN
Những điều kiện tâm sinh lí tối thiểu của KN thường được xem xét baogồm:
+ Nhu cầu: Nhu cầu cho biết cá nhân chính là chủ sở hữu KN, phân biệt
với hành vi thành thạo nhưng thoát li nhu cầu Nếu chưa thấy cá nhân thể hiệnnhu cầu, có thể nghi ngờ rằng kĩ thuật hành vi đó là thói quen do bắt chước vàluyện tập nhiều lần, chứ không phải KN của chính người đó Có thể hành vi này
là KN của người khác nhưng người kia bắt chước được và lặp lại rất giỏi
+ Ý chí: KN luôn ít nhiều dựa vào ý chí cá nhân Nếu hành vi diễn ra tự
động hoàn toàn như hệ thống máy móc thì đó là kĩ xảo, thói quen chứ khôngphải KN Tiến trình thực hiện KN luôn có thách thức và do vậy có sự can thiệpcủa ý chí và kèm theo mồ hôi nữa
+ Tình cảm: Tình cảm là điều kiện bên trong quan trọng của KN Một
việc làm cho dù thành thạo và đạt kết quả nhưng vô cảm thì không phải là KN,
mà chỉ là thói quen hoặc kĩ xảo Vì thế chúng ta cảm nhận khác nhau khi chứngkiến những pha trình diễn nghệ thuật hay thể thao… Cũng là những động tác cómức thành thạo và kết quả như nhau nhưng trường hợp này là nghệ thuật (KN)còn trường hợp kia là kĩ thuật (kĩ xảo) Và người ta đánh giá cao mức độ biểucảm của KN
+ Tâm vận động: Tâm vận động quyết định trực tiếp mức độ thành thạo
của KN, mặc dù nó không phải thành phần KN mà chỉ là điều kiện Khi điềukiện này kém thì chủ thể thực hiện thao tác sai hoặc thiếu chính xác, không bảođảm nhịp độ cần thiết và hợp lí
Trang 38+ Tri thức và trí tuệ: Tri thức và trí tuệ là điều kiện cần thiết đến mức lâu
nay nhiều người tưởng lầm chúng là thành phần của KN Không có điều kiệnnày rõ ràng cá nhân không thể học và có được KN Khi nhận diện KN cần tìmhiểu cá nhân có tri thức và nền tảng trí tuệ tương ứng không Nếu thực hiện côngviệc thành thạo mà không hiểu gì và không giải thích được việc mình làm thìviệc làm đó không thể hiện KN, mà chỉ phản ánh thói quen hành vi hoặc kĩ xảo
mà cá nhân có được
1.2.3.3 Tiêu chí đánh giá kỹ năng
Để đánh giá KN nói chung, có thể căn cứ vào những tiêu chí khác nhau vàdựa vào thang điểm nhất định để xác định trình độ phát triển hiện tại của KN ở
cá nhân Ví dụ nếu không tính trọng số thì mỗi tiêu chí dưới đây chiếm 20% chấtlượng của KN chuẩn (đáp ứng chuẩn qui định), và nếu cá nhân đạt tối đa ở mỗitiêu chí thì KN của người đó đạt 100% chất lượng qui định Việc cho điểm hayxếp hạng thì không thực sự quan trọng Điều quan trọng hơn là quan niệm thếnào về tầm quan trọng của mỗi tiêu chí này để phát triển thang đánh giá phù hợp.Mỗi tiêu chí được đo qua một vài chỉ số thực hiện thấy được trong tiến trìnhhành động
a) Tính đầy đủ của nội dung và cấu trúc của KN
1 Số lượng những thao tác cần thiết mà cá nhân thực hiện
2 Số lượng những thao tác thừa song không ảnh hưởng đến nội dung cầnthiết của KN
3 Tính tối giản của việc tổ chức những thao tác này trong hành động
b) Tính hợp lí về logic của KN
4 Trình tự sắp xếp việc thực hiện các thao tác có hợp lí tối đa không hoặc
có phù hợp cao với nhiệm vụ cụ thể lúc đó không
5 Tính hợp lí của việc phân chia thời gian và nhịp độ thực hiện từng thaotác và thực hiện cả hành động
c) Mức độ thành thạo của KN
Trang 396 Tần số những thao tác hay hành vi sai, hoặc không đúng chuẩn KN đãđịnh.
7 Tỉ lệ lặp lại (thừa) của các thao tác, cử chỉ, hành vi thực hiện đúng
8 Mức độ hoàn thiện của những thao tác đúng mẫu
d) Mức độ linh hoạt của KN
9 Tính chất phân kì của tổ chức các thao tác, tức là cùng số lượng thaotác nhưng có thể biến đổi trình tự và nội dung theo nhiều phương án
10 Tính chất thay thế được hay biến đổi của một số thao tác trong KN khichuyển sang hoàn cảnh khác (tính mở)
11 Tính lưu loát (ít vấp váp) của từng thao tác và của cả hành động xét từđầu đến khi kết thúc hành động
đ) Hiệu quả của KN
12 Số lượng và chất lượng của sản phẩm do KN mang lại
13 Tỉ số giữa kết quả và chi phí nguồn lực
14 Tác dụng của KN trong sự phát triển cá nhân
15 Mức độ trùng khớp giữa kết quả đạt được và mục tiêu hành động.Tóm lại, có thể dựa vào 5 tiêu chí chung, bao gồm 15 chỉ số thực hiện trên
để đánh giá trình độ hình thành và phát triển của KN nào đó ở cá nhân theonhiều góc độ Nội dung những yêu cầu hay biến số trong các chỉ số sẽ phụ thuộcvào việc chúng ta đánh giá KN nào, trong lĩnh vực hay nhiệm vụ cụ thể nào
Trang 40Các KN công tác PC thuộc loại KN chuyên biệt, thuộc một nghề nhất định,trong đó có KN cơ bản và KN hỗ trợ, có KN cứng và KN mềm, có KN công cụ và KNtác nghiệp cụ thể Dựa trên khái niệm cơ bản về KN nêu trên, trong luận án này chúngtôi hiểu KN công tác PC là khái niệm dùng để chỉ những KN nghề nghiệp mà chuyêngia PC cần phải có và phải thực hiện thường xuyên trong khi tiến hành các công việcthuộc chức trách, nhiệm vụ của mình như soạn thảo văn bản, tham gia ý kiến các dựthảo văn bản QPPL, rà soát, hệ thống hoá, kiểm tra, xử lý và giải thích văn bản QPPL;
tổ chức công tác phổ biến, giáo dục PL, kiểm tra và giám sát việc thực hiện PL
Ngoài những đặc điểm chung như mọi loại KN khác, các KN công tác PC
có những đặc điểm riêng đặc thù sau:
- Dựa vào tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân về PL, hànhchính, chính trị, chính sách, quan hệ xã hội và thể chế kinh tế-xã hội nói chung
- Có tính qui trình và kĩ thuật tương đối cao do chính đời sống và hoạtđộng PC luôn có tính chặt chẽ
- Hình thành và phát triển chủ yếu trong trải nghiệm công việc thực tế vàchia sẻ kinh nghiệm trực tiếp với đồng nghiệp
- Các KN có liên hệ với nhau chặt chẽ và gắn với các thủ tục và qui địnhhành chính, hạn chế tính chất tùy tiện
- Luôn có tính cụ thể bởi vì công việc PC luôn cụ thể
Tương ứng với những mảng nhiệm vụ của công tác PC có thể xác định 3nhóm KN công tác PC Sự phân chia này là tương đối bởi vì còn có nhiều căn cứkhác để xác định và phân nhóm Mỗi KN thuộc từng nhóm này đã có tính phứchợp, chứ không phải là KN đơn giản
a) Nhóm KN nhận thức nghề nghiệp:
- Hiểu, xử lí và giải thích nội dung pháp lí và hình thức diễn đạt của cácvăn bản PL, chính sách trong ngành và có liên quan đến ngành;
- Thu thập, tổ chức, đánh giá và xử lí thông tin và các sự kiện (trong đó có
dữ liệu thống kê) cần phải sử dụng trong công việc;
- Hiểu bộ máy, tổ chức, nhân sự và cơ chế làm việc của cấp trên, của cấpdưới và của cơ quan mình trong công tác PC nói riêng và quản lí nói chung;