Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện trạng và giải pháp
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Trương Văn Tuấn - Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của quý thầy cô trong khoa Địa lí - Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; các cô chú, anh chị ở các sở ban ngành của tỉnh Đồng Nai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận này
Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người thân yêu đã động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Vì những lí do khách quan cũng như chủ quan nên trong quá trình thực hiện đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Tp Hồ Chí Minh, năm 2014
Sinh viên thực hiện: Lê Văn Hải
Trang 2DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
2 BHXH, BHYT Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
4 CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Foreign Direct Investment (đầu tư trực tiếp nước ngoài)
Trang 3DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Trình độ chuyên môn kĩ thuật cao nhất của dân cư từ 15 tuổi trở lên theo khu
vực năm 2009 (%) 23
Bảng 1.2: Trình độ văn hóa cao nhất đã đạt được của dân số từ 15 tuổi trở lên theo các vùng kinh tế - xã hội năm 2009 (%) …25
Bảng 2.1: Mật độ dân số của tỉnh Đồng Nai 2012 31
Bảng 2.2: Dân số chia theo giới tính và thành thị nông thôn 2009 (người) 36
Bảng 2.3: Tốc độ tăng dân số tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1979 – 2009 (%) 37
Bảng 2.4: Cơ cấu dân số theo độ tuổi và chỉ số giá hóa tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1989 – 2009 (%) 37
Bảng2.5: Tỉ lệ lao động phân theo tình trạng chuyên môn kĩ thuật tỉnh Đồng Nai năm 2009 (%) 39
Bảng 2.6: Trình độ văn hóa của người lao động của cả nước, ĐNB và Đồng Nai 2009 (%) 40
Bảng 2.7: Lao động Đồng Nai theo trình độ văn hóa từ 1999 – 2009 (%) 42
Bảng 2.8: Tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên môn kĩ thuật năm 2009 (%) 43
Bảng 2.9: Tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên môn kĩ thuật theo giới tính và thành thị nông thôn năm 2009 (%) 43
Bảng 2.10: Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chia theo trình độ chuyên môn, thành thị và nông thôn 2009 (%) 44
Bảng 2.11: Tỷ trọng lao động đã qua đào tạo chia theo trình độ chuyên môn kĩ thuật và đơn vị hành chính 2009 (%) 45
Bảng 2.12: Hệ số về trình độ chuyên môn so với người có trình độ CĐ – ĐH 48
Bảng 2.13: Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế tỉnh Đồng Nai phân theo ĐVHC 2010 50
Bảng 2.14: Tuổi thọ trung bình của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1999 – 2009 53
Trang 4DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng lao động đã qua đào tạo chia theo thành thị/nông thôn và giới tính 2009 tỉnh Đồng Nai (%) 47 Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng lực lượng lao động có trình độ đại học trở lên chia thành thị/nông thôn theo giới tính 2009 (%) 48
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.3: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai 27 Hình 2.1: Tỉ lệ tốt nghiệp THPT phân theo tỉnh, thành phố năm 2009 41 Hình 2.2: Tỉ lệ biết đọc biết viết phân theo tỉnh, thành phố năm 2009 41 Hình 2.4: Tỷ trọng lao động đã qua đào tạo chia theo trình độ chuyên môn kĩ thuật và đơn vị hành chính tỉnh Đồng Nai 2009 46 Hình 2.5: Bình quân lương thực phân theo đơn vị hành chính tỉnh Đồng Nai 2010 55
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH iv
MỤC LỤC v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Giới hạn đề tài 2
5 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
6 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3
6.1 Hệ quan điểm 3
6.2 Phương pháp nghiên cứu 6
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 8
1.1 Các khái niệm 8
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 8
1.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa – hiện đại hóa 9
1.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 10
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực 11
1.3.1 Nhóm nhân tố vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 11
Trang 61.3.2 Các nhân tố về KT - XH 11
1.4 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng trong sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay 16
1.5 Khái quát về chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam và vùng ĐNB thời kì CNH - HĐH 17
1.5.1 Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam 17
1.5.2 Chất lượng nguồn nhân lực ĐNB 22
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH ĐỒNG NAI 26
2.1 Các nhân tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai 27
2.1.1 Nhân tố vị trí địa lí 27
2.1.2 Các nhân tố về tự nhiên 28
2.1.3 Các nhân tố về KT-XH 30
2.2 Hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai thời kì CNH – HĐH 36
2.2.1 Số lượng nguồn lao động và khả năng gia tăng 36
2.2.2 Trình độ học vấn của người lao động 39
2.2.3 Trình độ chuyên môn kĩ thuật của người lao động 42
2.2.4 Tình hình chăm sóc sức khỏe nguồn nhân lực 49
2.2.5 Vấn đề nghèo đói và phát triển con người 54
2.2.6 Vấn đề lương thực và dinh dưỡng 54
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở ĐỒNG NAI TRONG QUÁ TRÌNH CNH - HĐH 58
3.1 Cơ sở để đề xuất các giải pháp 58
3.1.1 Kết quả nghiên cứu hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai 58
Trang 73.1.2 Nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng trong quá trình CNH – HĐH của tỉnh
Đồng Nai 60
3.2 Giải pháp tạo môi trường, điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 64
3.2.1 Chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển KT - XH 64
3.2.2 Đổi mới cơ chế chính sách thu hút, đãi ngộ và sử dụng lao động 65
3.2.3 Phát triển nhanh các ngành có hàm lượng công nghệ cao và chuyển giao công nghệ 67
3.2.4 Phát triển thị trường lao động 68
3.2.5 Tạo nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động 69
3.2.6 Tạo lập môi trường làm việc thuận lợi cho phát triển nguồn 71
nhân lực 71
3.3 Giải pháp củng cố, phát huy các thành tố cấu thành của chất lượng nguồn nhân lực 73
3.3.1 Về trí lực, giáo dục - đào tạo và dạy nghề 73
3.3.2 Về thể lực, nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế 77
3.2.3 Về phẩm chất, đạo đức, xây dựng tác phong công nghiệp 79
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8Chắc chắn trong khoảng thời gian sắp tới, khu vực ĐNB nói chung và Đồng Nai nói riêng sẽ tiếp tục hoàn thiện về cơ sở hạ tầng, chất lượng dân số, hình thành một vùng công nghiệp theo chiều sâu…tạo ra nhiều cơ hội mới cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Do đó, vùng ĐNB nói chung và Đồng Nai nói riêng rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu này
Bên cạnh đó, hiện nay nguồn nhân lực của Đồng Nai chưa được chuẩn bị tương xứng với yêu cầu CNH - HĐH Ngành giáo dục chưa chủ động gắn kết quy hoạch phát triển giữa các địa phương trong vùng; chưa dự báo được yêu cầu nhân lực cho từng ngành kinh tế trong chiến lược phát triển KT – XH trong dài hạn của cả tỉnh
Tình trạng này cần phải khắc phục nhanh, vì nếu không nó sẽ không phát huy được tiềm năng to lớn và triển vọng tăng trưởng cao từ chất lượng nguồn nhân lực của Tỉnh Điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu KT - XH của Đồng Nai trong giai đoạn tới Các quyết sách cho những vấn đề còn tồn tại cần đặt trong một chỉnh thể chiến lược dài hơi hơn là những giải pháp rời rạc, tình huống Chính vì thế, tôi lựa
chọn đề tài “CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH ĐỒNG NAI THỜI KÌ CNH - HĐH, HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” để nghiên cứu
Trang 92 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Tỉnh trong thời kì CNH – HĐH
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và phân tích các tiêu chí liên quan
Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai
Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh
4 Giới hạn đề tài
Về thời gian: đề tài sử dụng nguồn tư liệu từ năm 1999 – 2012
Về không gian: bao gồm 9 huyện, 1 thị xã và thành phố Biên Hòa
Về nội dung: một số nội dung cơ bản như số lượng lao động, giáo dục, dinh dưỡng, nghèo đói, y tế, …
Đề tài gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về nguồn nhân lực
- Chương 2: Hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai thời kì CNH – HĐH
- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tỉnh
5 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Cho đến nay cũng đã có nhiều nghiên cứu về con người, nguồn lực con người như: “Vấn đến con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiên đại hóa” của Phạm Minh Hạc (chủ biên), NXB CTQG Hà Nội (1996); “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” của Nguyển Minh Đường; “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do GS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm với sự tham gia của gần 300 nhà khoa học thuộc nhiều chuyên nganh khác nhau Ngoài ra còn có những ấn phẩm đề cập đến kinh nghiệm về quản lí và phát triển nguồn nhân lực của một số nước có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam như “Phát triển
Trang 10nguồn nhân lực – kinh nghiệm thế giới và thực tiễn ở nước ta” của Trần Văn Tùng – Lê
Ái Lâm, NXB CTQG Hà Nội (1996)…
Đề tài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở các tỉnh vùng ĐNB trong thời
kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa” của TS Võ Thành Khối đã góp phần làm
rõ khái niệm, vai trò và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội thời kì CNH - HĐH, phân tích được thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của vùng ĐNB và góp phần đưa ra những giải pháp định hướng đế phát triển nguồn nhân lực ở ĐNB hiện nay dưới góc độ quản lý
Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai của Nguyễn Thùy Linh (2013), đã nhìn nhận và đánh giá được tổng thể chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh, đưa ra những giải pháp để nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, trong đó có người lao động
Ngoài những công trình trên thì vấn đề phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Đồng Nai còn được đề cập đến trong các văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, đặc biệt là trong “Chương trình tổng thể đào tạo phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2015” của UBND tỉnh
Nhìn chung đa phần các nhà khoa học đều cho rằng đây là vấn đề lớn, cần nghiên cứu lâu dài trên nhiều phương diện nhằm phát huy cao nhất vai trò của yêu tố con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội nhưng chưa có đề tài nào đi sâu trong việc phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Đồng Nai dưới góc độ Địa lí
Tất cả những công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo rất quý giá cho tác giả khi nghiên cứu về đề tài này
6 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Hệ quan điểm
6.1.1 Quan điểm hệ thống
Đối tượng nghiên cứu của địa lý kinh tế- xã hội là một hệ thống gồm nhiều phân
hệ ( hệ thống nhỏ) có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Chỉ cần một thay đổi nhỏ của một phân hệ sẽ dẫn đến những hậu quả dây chuyền và ảnh hưởng đến hoạt động
Trang 11chung của cả hệ thống Do đó khi nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội đều phải đặt chúng trong mối quan hệ với các hiện tượng và quá trình khác
Chất lượng nguồn nhân lực Đồng Nai bao gồm chất lượng nguồn nhân lực của các huyện thị là một bộ phận cấu thành của nguồn nhân lực Đông Nam Bộ và nguồn nhân lực của đất nước Vậy nên, khi nghiên cứu đối tượng này, phải đặt chúng trong một hệ thống từ cấp độ lớn hơn như quốc gia, vùng ĐNB đến cấp độ nhỏ hơn như huyện, thị xã…
6.1.2 Quan điểm tổng hợp
Trong nghiên cứu Địa lí nói chung và Địa lí KT – XH nói riêng, việc vận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Quan điểm tổng hợp thực chất là việc vận dụng quan điểm biện chứng trong Địa lí Thực tế mối liên hệ qua lại là thuộc tính chung nhất của thế giới khách quan Các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau Quán triệt quan điểm tổng hợp, đòi hỏi người nghiên cứu phải xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng
Vậy nên, khi nghiên cứu chất lượng nguồn nhân lực Đồng Nai phải xem xét chúng trong mối quan hệ tác động qua lại với các đối tượng khác như chất lượng dân
cư, sự phát triển kinh tế, tình trạng nhập cư của Tỉnh cũng như quá trình phát triển công nghiệp…
6.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Các sự vật, hiện tượng mà địa lí nghiên cứu là những hiện tượng có tính lịch sử, tức là chúng có sự vận động và phát triển theo thời gian Quán triệt quan điểm lịch sử trong nghiên cứu địa lí KT – XH là chú ý đến sự hình thành, phát triển của sự vật, hiện tượng Như vậy, quán triệt quan điểm lịch sử là tìm đến nguồn gốc lịch sử của các sự vật, hiện tượng đang tồn tại, lí giải nguyên nhân hình thành và phát triển của chúng
Thời kì trước năm 1975, Đồng Nai đã có các cơ sở công nghiệp, khu kĩ nghệ hàng đầu ở miền Nam nhằm phục vụ cho chiến tranh TP Biên Hòa khi đó là nơi tập trung nhiều lao động có trình độ, các nhà khoa học… Từ sau 1975 – 1990, kinh tế có Đồng Nai phát triển chậm lại do chính sách kinh tế bao cấp của nhà nước, các nhà máy
Trang 12gặp nhiều khó khăn, hoạt động cầm chừng, số lao động trong công nghiệp giảm dần trong khi lao động trong nông nghiệp tăng lên nhanh chóng do quá trình nhập cư xây dựng vùng kinh tế mới Hiện nay, nhờ chính sách “Đổi mới” bắt đầu đi vào cuộc sống
từ năm 1990, kinh tế Đồng Nai có sự phát triển mạnh mẽ đặc biệt là trong công nghiệp, giáo dục được chú trọng nên người lao động có trình độ và lao động trong công nghiệp tăng lên
Như vậy, quan điểm lịch sử giúp người nghiên cứu hiểu biết đầy đủ và sâu sắc hiện tại, thấy được bản chất của sự thay đổi về chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai Mặt khác, nó còn giúp người nghiên cứu có cái nhìn “động”, tránh xem xét các sự vật, hiện tượng một cách “tĩnh” lại
Quan điểm viễn cảnh đảm bảo dự báo cho tương lai về sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng phục vụ quá trình CNH - HĐH Quán triệt quan điểm viễn cảnh, người nghiên cứu phải căn cứ vào xu hướng vận động của sự vật, hiện tượng từ quá khứ đến hiện tại để lập các dự báo có căn cứ khoa học cho tương lai Quan điểm viễn cảnh đảm bảo tính sáng tạo và tích cực của địa lí KT – XH
6.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm tương đối mới, ra đời trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới, phản ánh xu thế phát triển của thời đại và định hướng cho tương lai của nhân loại Đối với việc nghiên cứu địa lí KT –
XH, phát triển bền vững có thể được coi vừa là quan điểm, vừa là mục tiêu nghiên cứu Quán triệt quan điểm bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững về cả ba mặt: kinh
tế, xã hội và môi trường Về mặt kinh tế, đó là tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và sự ổn định của nền kinh tế Dưới góc độ xã hội, phải chú trọng đến việc xóa đói giảm nghèo; nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, người lao động; xây dựng thể chế và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Còn về phương diện môi trường là giữ gìn tính đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự ô nhiễm và xuống cấp của môi trường
Chất lượng nguồn nhân lực nằm trong khía cạnh phát triển xã hội của Tỉnh, vì vậy cũng cần tuân thủ quan điểm phát triển bền vững
Trang 136.2 hương pháp nghiên cứu
6.2.1 n u ập tài liệu
Phương pháp thu thập tài liệu là phương pháp truyền thống được sử dụng trong các nghiên cứu nói chung và nghiên cứu địa lí KT – XH nói riêng Khoa học không thể phát triển được nếu thiếu đi tính kế thừa, thiếu sự tích lũy những thành tựu trong quá khứ
Các nguồn tài liệu cần thu thập tương đối đa dạng, phong phú bao gồm các tài liệu đã được xuất bản, tài liệu của các cơ quan lưu trữ và các cơ quan khác nhau theo chương trình hay đề tài nghiên cứu hoặc theo những vấn đề nghiên cứu riêng cũng như các tài liệu trên thực địa và cả tài liệu trên mạng Internet Tuy nhiên, để thu thập tài liệu có sự chọn lọc và đảm bảo tính chính xác, tốt nhất là thu thập ở những cơ quan chức năng có thẩm quyền như Cục thống kê Đồng Nai, Sở lao động – thương binh và
xã hội, phòng thống kê các huyện
6.2.2 P n n c ổng hợp so sánh
Địa lí KT – XH có đối tượng nghiên cứu khá rộng lớn, liên quan đến nhiều vấn
đề, sử dụng nhiều số liệu thống kê, nhiều dữ liệu Vì vậy, cần phải phân tích, lựa chọn những sự kiện đặc trưng Phát hiện ra mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng để rút ra những kết luận cần thiết Nhìn chung, các tài liệu về chất lượng nguồn nhân lực đều viết một cách khái quát, có nhiều nguồn số liệu khác nhau… Do đó, cần phải có sự chọn lọc tư liệu để tổng hợp thành các dữ liệu mang tính khái quát hóa, được sắp xếp một cách logic, khoa học trong từng chương, mục
Bên cạnh đó, khi sử dụng phương pháp so sánh cần lưu ý so sánh các đối tượng nghiên cứu theo không gian và thời gian Nhờ việc so sánh, bản chất các đối tượng sẽ dần hiện lên và người nghiên cứu có cơ sở để phát hiện ra tính quy luật về phát triển và phân bố sản xuất Trong việc tìm hiểu thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai, tác giả nghiên cứu đã so sánh sự thay đổi chất lượng nguồn nhân lực của Tỉnh với các địa phương khác và với nguồn lao động nhập cư trong Tỉnh để thấy rõ được sự phát triển chất lượng nguồn nhân lực của Đồng Nai
Trang 146.2.3 n bản đồ
Phương pháp bản đồ được nghiên cứu với tư cách là một phương pháp cơ bản của địa lí Bản đồ là công cụ không thể thay thế và là mô hình thông dụng nhất của bất
kì công tác nghiên cứu địa lí nào
Đối với Địa lí KT – XH, ý nghĩa to lớn của nó là góp phần giải quyết nhiều nội dung nghiên cứu như đánh giá các nguồn lực, phân tích hiện trạng theo ngành và theo lãnh thổ cũng như đề xuất các định hướng phát triển trong tương lai Việc biểu hiện bằng bản đồ, biểu đồ thuộc tính động lực của khách thể – nghĩa là không chỉ những biến động về mặt lãnh thổ và quá trình tăng trưởng mà cả quá trình phát triển, cho phép các công trình nghiên cứu địa lí loại trừ được tính tĩnh lại và lập được các dự báo địa lí
có căn cứ khoa học hơn
Phương pháp bản đồ là một phương pháp rất đặc trưng cho nghiên cứu Địa lý
KT - XH, góp phần giải quyết nhiều nội dung nghiên cứu như đánh giá các nguồn lực, phân tích hiện trạng theo ngành cũng như đề xuất các định hướng phát triển trong tương lai Trong khoá luận này tác giả dung bản đồ để thể hiện sự phát triển và sự phân hóa trình độ chuyên môn, trình độ khoa học kĩ thuật, sản lượng lương thực bình quân của tỉnh Đồng Nai
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Khái niệm nguồn nhân lực được hiểu theo những quan điểm sau:
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “ Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng
để phát triển KT - XH trong một cộng đồng” Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan
hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ
GS Phạm Minh Hạc cho rằng “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó” [8, tr.269] TS Nguyễn Thanh xác định “nguồn nhân lực đó là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội” [6, tr.70]
Theo quan điểm của ĐCS Việt Nam: nguồn lực con người là quý báu nhất, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp, đó là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo
và bồi dưỡng, phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liển với một nền khoa học hiện đại [5, tr 75]
Ngoài ra, một số tác giả nghiên cứu nguồn nhân lực Việt Nam và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Như vậy có thể hiểu khái niệm nguồn NL là nguồn lực con người
“Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển của xã hội Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác ở chỗ nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố về thiên nhiên, tâm lí xã hội và kinh
Trang 16tế Có thể nói nguồn nhân lực là 1 khái niệm khá phức tạp và được nghiên cứu nhiều khía cạnh, nhiều mức độ khác nhau
Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái nhiệm nguồn nhân lực theo nghĩa rộng
là bao gồm những người đủ 15 trở lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong
độ tuổi lao động và những người trên độ tuổi lao động ) Những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ trong gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo
trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…)
1.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa là hai khái niệm có tính lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi nền sản xuất đã phát triển Tuy nhiên hai khái niệm này không hình thành đồng thời Khái niệm công nghiệp hóa được xây dựng từ thế kỷ XVII - XVIII, đó là giai đoạn cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên được tiến hành ở Châu Âu
Quan niệm chung nhất về công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội
và sự phát triển của khoa học - công nghệ, khái niệm công nghiệp hóa có sự bổ sung phù hợp với từng giai đoạn phát triển sản xuất
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về công nghiệp hoá vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay, Đảng ta nêu ra quan niệm
về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên
sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động
xã hội cao [4]
Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong quá trình phát triển Quá trình ấy không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế
Trang 17quốc dân theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại Quá trình ấy không chỉ tuần tự trải qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá mà còn sử dụng kết hợp kỹ thuật thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định
1.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất Nó thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội Trong đó:
- Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện từng cá nhân cụ thể Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng nó sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào
đó Thể lực có ý nghĩa quyết định năng lực hoạt động của con người Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội
- Trí lực được xác định bởi trí thức chung về khoa học, trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy xét đoán của mỗi con người Trí lực thực tế là một hệ thống thông tin đã được xử lí và lưu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân con người, được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau Nó được hình thành và phát triển thông qua giáo dục đào tạo cũng như quá trình lao động sản xuất
- Đạo đức, phẩm chất là những đặc điểm quan trong trong yếu tố xã hội của nguồn nhân lức bao gồm toàn bộ những tình cảm, tập quan phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng, đạo đức và nghệ thuật… gắn liền với truyền thống văn hóa Một nền văn hóa với bản sắc riêng luôn là sức mạnh nội tại của một dân tộc Kinh nghiệm thành công trong phát triển kinh tế của Nhật Bản và các nước NICs là tiếp thu kỹ thuật phương Tây trên cơ sở khai thác và phát huy giá trị tốt đẹp của nền văn hóa dân tộc để đổi mới và phát triển
Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, là tiền đề phát triển của nhau Muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải nâng cao cả 3 mặt: thể lực, trí
Trang 18lực và đạo đức, phẩm chất Tuy nhiên mỗi yếu tố trên lại liên quan đến một lĩnh vực rất rộng lớn Thể lực và tình trạng sức khỏe gắn liền với dinh dưỡng, y tế và chăm sóc sức khỏe Trí lực gắn với lĩnh vực giáo dục đào tạo, còn phẩm chất đạo đức chịu ảnh hưởng của truyền thống văn hóa dân tộc, nền tảng văn hóa và thể chế chính trị,… Do vậy, để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực thường xem xét trên ba mặt: trình độ văn hóa và chuyên môn kĩ thuật, sức khỏe, năng lực phẩm chất của người lao động
Vì trong thời gian ngắn, cũng như nguồn tài liệu hạn hẹp, trong đề tài này tác giả chú trọng đề cập đến góc độ trí lực, các mặt còn lại chưa có điều kiện để nghiên cứu sâu hơn
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực
1.3.1 Nhóm nhân tố vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị r địa lí
VTĐL thuận lợi sẽ là điều kiện để giao lưu, trao đổi lao động, hợp tác đào tạo nhân lực Bên cạnh đó, VTĐL thuận lợi cũng là điều kiện để phát triển kinh tế, tập trung dân cư qua đó thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tìm đến để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho địa phương và người lao động có môi trường làm việc tốt hơn
Ngược lại, VTĐL không thuận lợi sẽ gây khó khăn trong phát triển kinh tế, dân
cư thưa thớt, chất lượng cuộc sống thấp và không phải là điểm đến lí tưởng của người lao động có trình độ để phát huy khả năng của mình
1.3.1.2 Điều kiện tự nhiên
Nhân tố tự nhiên là nhân tố gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của một địa phương Ông cha ta có câu, “đất” lành chim đậu, vậy nên điều kiện tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thuận lợi để phát triển kinh tế, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, tạo thêm việc làm, tạo môi trường làm việc qua đó
sẽ thu hút nguồn lao động chất lượng cao
1.3.2 Các nhân tố về KT - XH
1.3.2.1 Nhóm nhân tố về sự phát triển kinh tế
Trình độ phát triển của nền kinh tế
Trang 19Trình độ phát triển của nền kinh tế tác động đến chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện trước hết là mức sống của người dân nói chung và nguồn nhân lực nói riêng Khi thu nhập được nâng cao, các hộ gia đình có điều kiện cải thiện chế độ dinh dưỡng, khả năng chi trả cho các dịch vụ giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe,… Khi sức khỏe, trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, các mối quan hệ xã hội được nâng lên, nó ảnh hưởng đến khả năng lao động của người lao động và do đó nó quy định chất lượng nguồn nhân lực
Mặt khác, trong một nền kinh tế hiện đại thường có một cơ cấu kinh tế hợp lý và
sử dụng phần lớn công nghệ cao Do đó, lao động trong nền kinh tế này đa số được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật, có hệ thống giáo dục hiện đại hướng đến việc đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho nền kinh tế
Tăng trưởng đầu tư của nền kinh tế
Khi nền kinh tế tăng trưởng làm tăng khả năng giải quyết việc làm, nâng cao trình độ công nghệ, đặc biệt là năng suất lao động, từ đó nâng cao thu nhập Khi việc làm và thu nhập được tăng lên sẽ tác động tích cực đến đời sống vật chất và tinh thần của dân cư và người lao động và vì vậy chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn dựa trên một nền tảng cơ cấu kinh tế nhất định Quá trình tăng trưởng và phát triển diễn ra đồng thời với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý và hiện đại trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế của địa phương, vùng hay toàn bộ nền kinh tế Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành hiện đại (công nghiệp và dịch vụ) giảm tỷ trọng ngành truyền thống (nông nghiệp) tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động - giảm lao động trong các ngành truyền thống, tăng lao động trong các ngành hiện đại, nâng cao trình
độ chuyên môn cho người lao động đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thực tiễn ở nước ta cho thấy, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động chịu tác động rất lớn của cơ cấu kinh tế, tuy nhiên quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm hơn so với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.3.2.2 Nhóm nhân tố văn óa - xã hội
Trang 20Nhóm nhân tố này bao gồm giáo dục, đào tạo, cơ chế, chính sách, yêu cầu sử dụng lao động của xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống
Yêu cầu sử dụng lao động của xã hội
Mỗi bước phát triển của KT - XH đều đòi hỏi sự tương xứng của chất lượng nguồn nhân lực Ngày nay việc phát triển kinh tế sẽ làm xuất hiện những ngành nghề mới, công nghệ mới, quản lý mới Điều đó đòi hỏi người lao động phải không ngừng tự hoàn thiện, phát triển để làm chủ quá trình phát triển KT - XH
Tập quán, truyền thống
Nhân tố này có tác động lớn đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tập quán, truyền thống được hình thành và tích luỹ lại trong một quá trình phát triển của một dân tộc gắn liền với việc tiếp thu những tinh hoa của văn minh nhân loại Bên cạnh những tập quán tiến bộ cũng còn tồn tại đan xen những dấu ấn của tập quán sản xuất lạc hậu, lỗi thời chưa được thay thế Để loại bỏ những tập quán lạc hậu cần phải có thời gian và sự tham gia của cả cộng đồng
Phát triển giáo dục và đào tạo
Phát triển giáo dục, đào tạo là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực, vì nó không chỉ quyết định trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật của người lao động mà còn tác động đến sức khỏe, tuổi thọ của người dân, thông qua các yếu tố về thu nhập, khả năng xử lý thông tin kinh tế, xã hội,… nhân tố này tác động đến chất lượng nguồn nhân lực với các nội dung:
+ Giáo dục, đào tạo là một hoạt động mang tính chủ quan của nhà nước, đó là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các năng lực, phẩm chất, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để hoàn thiện nhân cách, khả năng làm việc cho mỗi cá nhân để từ đó họ có những kiến thức nhất định để có thể trực tiếp lao động hoặc tham gia thị trường lao động một cách dễ dàng và làm việc thật sự có năng suất, hiệu quả Kết quả của giáo dục còn làm tăng nguồn nhân lực có trình độ, tạo khả năng thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ Giáo dục, đào tạo phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động, đào tạo những ngành nghề mà thị trường cần chứ không phải mang tính chủ quan của Nhà nước nhưng lại phi thị trường Với vai trò to lớn của giáo
Trang 21dục, đào tạo để cung ứng cho xã hội, cho thị trường lao động những người có kiến thức, kỹ năng làm việc cho nên việc nhà nước đầu tư cho giáo dục, đào tạo phải trên giác độ toàn diện cả văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật, truyền thống, kinh nghiệm,
ý thức cộng đồng Đó là sự đầu tư trực tiếp về mặt trí lực, cơ bản và lâu dài cho sự phồn thịnh của đất nước
- Trình độ chuyên môn - kỹ thuật của nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo là nguồn gốc cơ bản để nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn - kỹ thuật của nền kinh tế Mức độ phát triển giáo dục và đào tạo là điều kiện để nâng cao chất lượng theo chiều sâu của nguồn nhân lực Trong một nền giáo dục phát triển thì chất lượng đầu ra được đảm bảo, đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và xã hội Đây là một trong những yêu cầu cấp thiết trong phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo ở nước ta hiện nay
- Giáo dục và đào tạo cung cấp trình độ văn hóa cơ bản là tiền đề để tiếp thu tri thức, tính sáng tạo, từ đó nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập góp phần phát triển toàn diện con người Trong nền kinh tế hiện đại - kinh tế tri thức, giáo dục và đào tạo càng giữ vai trò chủ đạo quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia mà nội dung cơ bản của nó là hàm lượng khoa học và công nghệ, chất xám kết tinh trong sản phẩm, quyết định giá trị sản phẩm được sản xuất ra
Khi người lao động được đào tạo, có trình độ chuyên môn kĩ thuật sẽ góp phần nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của bản thân người lao động về lâu dài, vậy nên, đầu tư cho giáo dục là con đường đi đúng đắn và giải pháp tốt để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng như cho quá trình CNH – HĐH đất nước Năm 2011, ở Việt Nam mức chênh lệch giữa nhóm có trình độ đại học trở lên và nhóm chưa qua đào
tạo chuyên môn – kĩ thuật là 1,9 lần
Các chủ trương, chính sách
Vai trò của Chính phủ và chính quyền địa phương có tầm quan trọng rất lớn đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia và địa phương đó Chính phủ hoạch định các chính sách tạo môi trường pháp lý cho phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo cả chiều rộng và chiều sâu Hệ thống các chính sách xã hội đúng đắn vì mục tiêu của con
Trang 22người sẽ là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển KT - XH Cơ chế, chính sách phải nhằm phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và tinh thần Cơ chế, chính sách phải theo hướng tạo mở, thúc đẩy và khích thích người lao động, doanh nghiệp, Nhà nước và toàn xã hội chăm lo đến chất lượng nguồn nhân lực Có như vậy người lao động mới phát huy được khả năng trí tuệ của bản thân để đóng góp cho xã hội và qua đó chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia sẽ được nâng cao
Tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe
Nhóm nhân tố liên quan đến thể chất nguồn nhân lực: đó là môi trường sống, y
tế, dinh dưỡng, di truyền Chế độ dinh dưỡng sẽ quyết định đến chất lượng nòi giống, thể lực, trí lực, tâm lí của người lao động Chi phí cho sức khỏe và dinh dưỡng chẳng những làm tăng chất lượng nguồn nhân lực mà còn góp phần đáng kể vào việc làm tăng
số lượng nguồn nhân lực do việc kéo dài tuổi thọ và từ đó tăng được thời gian lao động, có sức khỏe người lao động mới phát huy được trí tuệ, khả năng của mình trong lao động Sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con người cả về thể chất và tinh thần Sức khỏe thể chất là sự cường tráng, năng lực chân tay, sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động tinh thần, khả năng vận động của trí tuệ, khả năng biến tư duy thành hành động thực tiễn, khả năng thích ứng, đối phó với biến động môi trường xã hội Nhà nước nên có chính sách về y tế, dinh dưỡng để chăm sóc sức khoẻ cho người lao động trên các phương diện: bồi bổ sức khỏe trong quá trình lao động bị tiêu hao một cách tương xứng, bồi bổ sức khỏe về mặt đời sống vật chất, tinh thần Đối với những ngành nghề liên quan đến bệnh nghề nghiệp thì phải thường xuyên chăm lo, thăm khám và khắc phục bệnh nghề nghiệp cho người lao động Cơ chế, chính sách y tế phù hợp sẽ tạo cơ hội cho các tầng lớp dân cư, người lao động
Trang 231.4 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng trong sự phát triển kinh tế
- xã hội hiện nay
Mối quan hệ giữa nguồn lao động với phát triển kinh tế thì nguồn lao động luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế Theo Phan Đình Tấn (giảng viên trường Chính trị Nghệ An), nguồn nhân lực chất lượng cao có bốn vai trò lớn [18]:
Thứ nhất là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển KT - XH Nguồn nhân lực, nguồn lao động là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ,… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem
là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển KT - XH của mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả Vì vậy, con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Thứ hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định
sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH - HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước và phát triển bền vững Đảng ta đã xác định phải
Trang 24lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững
Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH - HĐH đất nước nhằm phát triển bền vững
Thứ tư là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn
1.5 Khái quát về chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam và vùng ĐNB thời kì CNH - HĐH
1.5.1 Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam
So với thế giới, trình độ học vấn của nước ta khá cao, xếp vào hạng trên trung bình, 94% dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ (2009), số năm đi học bình quân đạt mức 7,8 năm, về cơ bản đã phổ cập cấp giáo dục tiểu học và đang trong giai đoạn kết thúc phổ cập THCS vào năm 2010 Trình độ học vấn của lực lượng lao động cũng khá cao, năm 2008 đạt khoảng 96 % lực lương lao động biết chữ, trong đó 32,08 % tốt nghiệp THCS và 23,58% tốt nghiệp THPT Phẩm chất này của người lao động là kết quả của chủ trương, chính sách coi giáo dục là quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta
Mặc dù vậy, tỷ lệ lao động không biết chữ vẫn chiếm tới 4% và có tới 40,36% lao động mới có trình độ giáo dục tiểu học Lao động ở khu vực nông thôn có trình độ học vấn thấp; đặc biệt là lao động vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số trình độ học vấn rất thấp, tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ cao Theo UNESCO, năm 2008 Việt Nam tiếp tục mất điểm về Chỉ số Phát triển Giáo dục cho mọi người (EDI), là chỉ số được đánh giá theo 4 tiêu chí cơ bản (phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ cho người lớn, bình đẳng giới trong giáo dục và chất lượng giáo dục), tụt 9 bậc trong bảng xếp hạng, đứng vị trí 79 trong 129 quốc gia Đó là những yếu kém của lao động Việt Nam, cần phải có giải pháp mạnh để hoàn thiện
Trang 25Về năng lực chuyên môn kỹ thuật, nhất là về kỹ năng nghề nghiệp của người lao động Việt Nam trong những năm qua được nâng cao rõ rệt Tỷ lệ lao động qua đào tạo
có xu hướng tăng, chất lượng lao động ngày một nâng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, của thị trường lao động
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư [10], tỷ lệ số lao động đã qua đào tạo (LĐĐQĐT) so với tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế (LĐĐLV) đã tăng liên tục từ 16% (2000) lên 26,2% (2005) và 40% (2010) Năm 2010 cả nước có 20,1 triệu người LĐĐQĐT, tăng lên 26,2% (2005)
và 40% 2010 Năm 2010 cả nước có 20,1 triệu người LĐĐQĐT, tăng 12,9%/năm trong thời kỳ 2001-2010 Trong đó, số người được đào tạo trong Hệ đào tạo nghề là 14,26 triệu người, tăng tương ứng 16,3%/năm, chiếm 70,8% LĐĐQĐT và số người được đào tạo trong Hệ Giáo dục đào tạo là 5.882 triệu người, chiếm 29,2%; Số người đã qua đào tạo sơ cấp có bằng và không có bằng là 11,73 triệu (58,4%), tăng 23,2%/năm Trung cấp 4,55 triệu (22,6%) tăng 3,9%/năm, Cao đẳng 1,09 triệu (5,4%), tăng 7,5 triệu/năm, Đại học 2,64 triệu (13,1%), tăng 10,1%/năm và trên Đại học có 132 ngàn người (0,7%) (tiến sĩ 20 ngàn người), tăng 13,8%/năm Tuy nhiên, chỉ có 8,4 triệu/20,1 triệu LĐĐQĐT tương ứng 41,7% có bằng, chứng chỉ do các cơ sở chức năng đào tạo trong
và ngoài nước cấp, chiếm 17,2% LĐĐLV, số còn lại khoảng 11,7 triệu nguời tuy đã qua đào tạo nhưng chỉ ở dạng ngắn hạn (thường dưới 3 tháng) và không có bằng cấp, chứng chỉ
Năm 2010 tỷ lệ LĐĐQĐT trong ngành nông lâm ngư nghiệp là 15,3%, công nghiệp là 75,6%, xây dựng là 46% và dịch vụ là 67,2%
Kết quả TĐT Dân số và Nhà ở 1/4/2009 cho thấy tỷ lệ LĐĐQĐT của cả nước chỉ là 14,9% và rất khác biệt giữa các vùng: cao nhất là Đồng bằng sông Hồng 21,2%; Đông Nam bộ 19,4%; Duyên hải trung bộ 13,8%; Trung du và miền núi phía Bắc 13,4%; Tây Nguyên 11% và thấp nhất là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 7,8%
Tỷ lệ đã qua đào tạo CMKT của dân số hoạt động kinh tế 15 tuổi trở lên là 17,6%; thành thị 42,5% và nông thôn 11,7%; cao nhất là ở Đồng bằng sông Hồng
Trang 2625,1%; Đông nam bộ 19,6%; Duyên hải trung bộ 17,1%; Trung du miền núi phía bắc 16,9%; Tây Nguyên 12,7% và thấp nhất là 0,7% Đồng bằng sông Cửu long ; là 9,7%
Tuy nhiên, yếu điểm cơ bản của lao động nước ta là tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhất là đào tạo nghề còn thấp, chỉ bằng 1/3 các nước và các nền công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…; trong số lao động qua đào tạo, nhất là qua đào tạo nghề, chỉ 1/3 là được đào tạo dài hạn, trình độ cao nên kỹ năng, tay nghề còn yếu, đặc biệt là so với tiêu chuẩn nghề của khu vực và thế giới, dẫn đến thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao, các nhà quản lý và chuyên gia giỏi; mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu đào tạo, năm 2007 trong số lao động qua đào tạo thì cứ 1 qua đào tạo đại học, chỉ có 0,76 qua đào tạo trung học và 3 qua đào tạo nghề; chất lượng đào tạo nghề nghiệp chưa cao nên khả năng cạnh tranh của lao động rất thấp.Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong 12 nước ở châu Á được tham gia xếp hạng; thiếu nhiều chuyên gia trình độ cao, thiếu công nhân lành nghề; Chỉ số Kinh tế Tri thức ( KEI) của nước ta còn thấp, chỉ đạt 30,2 điểm, xếp thứ 102/133 quốc gia được phân loại; lao động nông thôn chủ yếu chưa được đào tạo nghề, năng suất lao động thấp Điều này đã làm hạn chế năng lực cạnh tranh của lao động và nền kinh tế (năm 2009 năng lực cạnh tranh của nước ta giảm 5 bậc, xếp thứ 75/133 nước xếp hạng) Năng suất lao động của nước ta cũng rất thấp, năm 2008 GDP bình quân đầu người theo giá thực
tế, chưa loại trừ yếu tố lạm phát, chỉ đạt 17 triệu đồng/ năm, năng suất lao động khoảng
30 triệu đồng/lao động/ năm, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới Đây là một thách thức lớn đối với nước ta trong quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH,
đi vào kinh tế tri thức và hội nhập, cần phải có giải pháp đột phá để vượt qua [18]
Năm 2010, Việt Nam có gần 87 triệu người Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển dồi dào Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề Trong đó, nguồn nhân lực nông dân có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70% dân số; nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhân lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng
Trang 272,15% dân số; nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người… Sự xuất hiện của giới doanh nghiệp trẻ được xem như một nhân tố mới trong nguồn nhân lực, nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử dụng tốt sẽ giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế -
xã hội
Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ thông
và nhân lực chất lượng cao Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi
đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp Cái thiếu của Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất lượng cao Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước Số người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40% [20] Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế giới, tỷ lệ này là 1-4-10 Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94
Chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam trong độ tuổi 22-26 (kết quả điều tra năm 2010) là 1,644m, thấp nhất so với 13 quốc gia (trong khu vực Đông Nam
Á và một số nước Châu Âu) Cụ thể: Chiều cao của nam thanh niên Thái Lan (nghiên cứu từ năm 1991-1995) đã là 1,675m, tại Hàn Quốc (năm 2006) là 1,739m Chiều cao trung bình của nam thanh niên từ 17-25 tuổi (nghiên cứu từ năm 2005) của Singapore
đã là 1,706m Tại Trung Quốc, chiều cao trung bình của nam thanh niên từ 17-20 tuổi (kết quả nghiên cứu năm 2004) đã là 1,702m - cao hơn nhiều so với mức 1,644m của Việt Nam (đó là chưa kể đến việc các nghiên cứu của Việt Nam tiến hành muộn hơn
Trang 28các nước này từ 5-6 năm) Đối với nữ, chiều cao trung bình của nữ thanh niên Việt Nam cũng thấp nhất khu vực với mức 1,548m Trong khi đó, tại Thái Lan là 1,573m; Hàn Quốc là 1,611m; Trung Quốc là 1,586m [21]
Nhìn chung, thể lực của lao động nước ta trong những năm vừa qua đã được cải thiện, nhưng vẫn còn thấp so với các nước theo các chỉ số về nhân trắc (thấp, bé, nhẹ cân …) Do đó, rất khó khăn trong sử dụng và vận hành các máy móc, thiết bị hiện đại, kích cỡ lớn, làm việc trong môi trường không thuận lợi (trên cao, dưới sâu…) với cường độ lao động cao, điều kiện lao động nặng nhọc, gánh nặng thần kinh tâm lý lớn…Đây là vấn đề hệ trọng của quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực hướng vào cải thiện nòi giống qua từng thế hệ
Văn hóa nghề nghiệp của người lao động Việt Nam đi vào truyền thống lịch sử của dân tộc, kế thừa và phát huy qua các thế hệ Đó là lòng nhân ái, tình yêu và say mê nghề nghiệp với tư duy, nếp nghĩ "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, "một nghề cho chín hơn chín mười nghề”, làm việc có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp Đó là truyền thống quý báu cần được gìn giữ và phát huy Tuy nhiên, trong quá trình chuyển sang nền kinh
tế thị trường và nền sản xuất công nghiệp hiện đại, lao động nước ta cũng bộc lộ những nhược điểm rất cơ bản Từ nền sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp chuyển sang nền sản xuất hàng hoá và công nghiệp hiện đại, người lao động còn bị ảnh hưởng nặng nề
tư tưởng, thói quen của nền sản xuất tiểu nông manh mún, thiếu tính toán hiệu quả kinh
tế, lãng phí ; tác phong công nghiệp chưa trở thành phổ biến, nên tính tự do, ý thức chấp hành luật pháp, kỷ luật trong lao động còn yếu ; khả năng làm việc theo nhóm, làm việc trong mội trường đa văn hóa, đa sắc tộc còn rất hạn chế, đặc biệt là những rào cản về văn hóa, về ngôn ngữ khi có yếu tố lao động nước ngoài hoặc làm việc ở nước ngoài Có thể nói, văn hóa nghề nghiệp của người lao động nước ta trong một nền công nghiệp hiện đại chưa hình thành Do đó phẩm chất nghề nghiệp này của người lao động còn yếu, cần phải mất nhiều thời gian và kiên trì mới có thể xây dựng được
Về tính năng động: Trong những năm qua phẩm chất này của lao động Việt nam
có xu hướng tốt lên, nhất là ở nhóm lao động trẻ và lao động qua đào tạo, đặc biệt là
Trang 29được đào tạo ở trình độ cao, song nhìn chung vẫn còn hạn chế Đặc biệt là rất thụ động
và thiên lệch trong định hướng nghề nghiệp; thiếu nhanh nhạy trong nắm bắt và tiếp cận thông tin thị trường; yếu kém về kỹ năng phỏng vấn, đàm phán và thỏa thuận; tính năng động, cơ động trong di chuyển và thay đổi việc làm không cao; khá thụ động trong ứng phó với các rủi ro xẩy ra
Có thể thấy, nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay có các đặc điểm sau:
- Nguồn nhân lực khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức; chưa được quy hoạch, khai thác; chưa được nâng cấp; chưa được đào tạo đến nơi đến chốn
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất
- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng phối hợp thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.5.2 Chất lượng nguồn nhân lực ĐNB
Về vùng ĐNB : Số người trong độ tuổi lao động và có việc làm ở năm 2008 là 7,86 triệu người, chiếm 53% số dân Số người có việc làm so với số người trong độ tuổi lao động chiếm 62% Vùng ĐNB có nguồn lao động rất dồi dào, nguồn lao động này trong vài năm tới khá trẻ Ðây vừa là lực lượng lao động kế cận to lớn, lại ở trong
độ tuổi có khả năng tiếp thu nhanh khoa học, kỹ thuật, do vậy vùng rất có lợi thế về nguồn lực lao động TP.HCM, Bình Dương và Ðồng Nai là những thành phố, tỉnh có tỷ
lệ người trong độ tuổi lao động so với tổng số dân cao hơn cả, tương ứng là 79%, 73%
và 72% Mặc dù vậy, số người hoạt động kinh tế thường xuyên còn chiếm tỷ lệ thấp, trung bình ở Vùng ĐNB đạt thấp hơn 62% Như vậy có tới 36 - 38% lực lượng lao động trong vùng hiện đang không tham gia các hoạt động kinh tế thường xuyên Trong
số này có khoảng 13% còn đang đi học, 10,8% tham gia công việc nội trợ, còn lại là do già cả, ốm đau, tàn tật hoặc nguyên nhân khác
Số người từ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên ở Vùng ĐNB là 5,4 triệu người, trong đó tham gia vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp là 2,47 triệu người
Trang 30(45,9%), lĩnh vực công nghiệp - xây dựng 1,59 triệu người (29,6%) và lĩnh vực dịch vụ 1,31 triệu người (24,49%) Tỷ lệ lao động tham gia vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp ngày càng giảm (từ 45,9% năm 2000 xuống 23,13% năm 2008) và tỷ lệ lao động trong khu vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng (CN-XD tăng từ 29,6% năm
2000 lên 35,55% năm 2008, dịch vụ 24,49% - 41,32%) Ðây là biểu hiện tích cực của
sự chuyển dịch lao động ở vùng kinh tế hàng đầu ở nước ta Ngành dịch vụ hiện đang thu hút nhiều lực lượng lao động nhất, chiếm tới 41,32% Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, mặc dù đóng góp lớn nhất vào GDP của vùng, song lại lao động đang làm việc xếp thứ 2, chỉ chiếm 32,3% Ðiều này một mặt cho thấy ngành công nghiệp - xây dựng
có mức độ cơ giới hóa cao hơn các ngành khác, mặt khác cho thấy có thể có sự chênh lệch lớn giữa năng suất lao động, thu nhập bình quân của lao động công nghiệp so với các nhóm ngành khác TP.HCM có cơ cấu lao động khác biệt nhất so với các tỉnh trong vùng, lao động chủ yếu tập trung trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ (chiếm đến 95,84% năm 2008), thể hiện rõ vai trò trung tâm công nghiệp - dịch vụ của vùng ĐNB [17]
Dựa vào bảng 1.1: Lao động qua đào tạo của Vùng ĐNB tuy đứng thứ hai sau Đồng bằng sông Hồng nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu, từ trình độ sơ cấp trở lên chiếm 21%, trình độ trên đại học chiếm 8,2% so với vùng ĐBSH là 9,1% Trong khi
đó, vùng ĐBSCL có trình độ chuyên môn kĩ thuật thấp nhất cả nước
Bảng 1.1: Trình độ chuyên môn kĩ thuật cao nhất của dân cư từ 15 tuổi trở lên theo khu vực năm 2009 (%)
Đông Nam Bộ
Trang 31Lợi thế tương đối của Vùng ĐNB còn thể hiện ở tỷ lệ người có bằng cao đẳng, đại học và tiến sĩ Vùng Đông Nam bộ mà trọng tâm là TP.HCM, là một trung tâm lớn của cả nước về giáo dục - đào tạo, khoa học, kỹ thuật với 32 trường đại học, 20 trường cao đẳng và 29 trường trung học chuyên nghiệp, hơn 60 viện và trung tâm nghiên cứu;
230 nghìn người có trình độ từ cao đẳng trở lên, trong đó có 3.000 tiến sĩ, 5.000 thạc sĩ Bên cạnh đó, hệ thống trường dạy nghề ở TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai và các tỉnh khác trong khu vực cũng khá phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn lao động Riêng Bình Dương, sau 6 năm thực hiện quy hoạch mạng lưới dạy nghề, đã phấn đấu xây dựng được tổng cộng 28 cơ sở dạy nghề (15 công lập, 13 tư thục) đào tạo được 48.807 lao động (8.617 hệ dài hạn, 79.190 hệ ngắn hạn) Tỉ lệ học sinh học nghề ra trường có việc làm khoảng 80%, trong số đó 90% vào làm tại các khu công nghiệp [17] Sự phát triển của hệ thống đào tạo, dạy nghề đã nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề của vùng tăng cao
Vùng Đông Nam Bộ có đội ngũ cán bộ KHKT đứng thứ hai trong cả nước, tuy vậy còn thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực (tỷ lệ cán bộ đại học trên 1 vạn dân của Việt Nam là 18, vùng Đông Nam Bộ là 22, trong khi đó Hàn Quốc là 52, Nhật Bản là 70)
Ngoài ra, Vùng ĐNB với sự đóng góp của TP HCM, Bình Dương, Đồng Nai và
Bà Rịa - Vũng Tàu đã hình thành trung tâm công nghiệp của cả nước, đóng góp trên 55% giá trị sản lượng công nghiệp của cả nước Nguồn đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề ở TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai với hàng chục nghìn cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, mà đặc điểm của những nơi này, không chỉ là nơi sản xuất, mà còn là nơi đào tạo lực lượng lao động có tay nghề cao, nằm ngoài hệ thống đào tạo của các trung tâm dạy nghề, các trường kỹ thuật Vì vậy lực lượng công nhân kỹ thuật có tay nghề cao trong hầu hết các ngành kinh tế chính là lợi thế của Vùng trong phát triển Thế mạnh về nguồn nhân lực khoa học - công nghệ là thế mạnh cơ bản, yếu tố thuận lợi cho Vùng ĐNB phát triển các ngành kinh tế kỹ thuật cao, dịch vụ hiện đại trong quá trình CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 32Bảng 1.2 cho thấy về trình độ văn hóa: Tỷ lệ dân số chưa hoàn thành tiểu học của ĐNB năm 2009 khoảng 19,7% (cải thiện hơn mức 52% năm 2004), thuộc loại cao trung bình trong cả nước Tỷ lệ người có bằng tiểu học đứng thứ 3 cả nước (29,1%), tỷ
lệ người có bằng trung học cơ sở đứng thứ 4 cả nước, tỷ lệ người có bằng trung học phổ thông đứng thứ 2 cả nước Tỷ lệ đói nghèo có tương quan tỷ lệ nghịch với trình độ văn hóa Có đến trên 74,74% hộ nghèo ở Vùng ĐNB là do trình độ văn hóa của thành viên chưa đạt mức tiểu học; gần 16,4% là do chưa vượt mức tiểu học Với các tỷ lệ người có bằng cấp cao nhất này, dù là có lợi thế tương đối so với các vùng lân cận, ĐNB có thể sẽ gặp khó khăn nhất định trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp cũng như mở rộng các ngành công nghiệp tại nông thôn vốn đòi hỏi kỹ năng lao động và trình độ học vấn cao hơn
Bảng 1.2: Trình độ văn hóa cao nhất đã đạt được của dân số từ 15 tuổi trở lên theo các vùng kinh tế - xã hội năm 2009 (%)
Đông Nam Bộ
Cơ cấu cao đẳng, đại học - trung học chuyên nghiệp - công nhân kỹ thuật trong Vùng hiện là 4,08 – 1,02 – 1,0 Một thực trang hiện nay là đang tồn tại xu hướng nâng cấp các trường đào tạo nghề thành các trường cao đẳng, đại học và vì vậy càng làm trầm trọng thêm cơ cấu đào tạo mất cân đối, điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
sử dụng và phát huy nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình CNH - HĐH cơ cấu đào tạo của hệ thống trong Vùng về cơ bản vẫn còn năng theo cơ chế cũ, cơ chế hành chính tập trung Hầu như phần lớn các cơ sở đào tạo chưa xuất phát từ nhu cầu phát triển và
Trang 33chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Vùng mà thường căn cứ vào các chỉ tiêu của Bộ Các doanh nghiệp cũng chưa chủ động đặt hàng cho các cơ sở đào tạo trong hệ thống ngay
từ đầu mà họ dường như mới chú trọng nhiều tới săn tìm nguồn lao động đáp ứng ngay nhu cầu mà ít quan tâm đến dài hạn trong chiến lược kinh doanh của mình nên hầu hết nguồn lao động này có chất lượng thấp
Thể lực của người dân nhìn chung còn thấp kém, phần lớn chưa đáp ứng tốt nhu cầu của một nền kinh tế xã hội công nghiệp hiện đại và các chuẩn quốc tế hiện nay Một điểm yếu nữa của nhân lực nước ta hiện nay là ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần hợp tác và kỹ năng làm việc theo nhóm còn thấp
Có thể kết luận rằng, vùng ĐNB là vùng có chất lượng nguồn nhân lực hàng đầu cả nước, chỉ sau vùng ĐBSH Nhưng với yêu cầu phát triển của vùng, nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được về mọi mặt Vậy nên cần có chính sách về quy hoạch phát triển nhân lực lâu dài để Vùng thực hiện thành công sự nghiệp CNH – HĐH, phát triển kinh tế theo chiều sâu, giữ vững đầu tàu kinh tế của cả nước
Trang 34CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
Trang 35Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí rất thuận lợi, là cửa ngõ quan trọng của vùng ĐNB
Địa giới hành chính: Đồng Nai phía Tây và Tây Nam tiếp giáp với Bình Dương
và Thành phố Hồ Chí Minh – khu vực phát triển bậc nhất cả nước về mọi mặt, dân cư đông; phía Nam với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có tiềm năng du lịch và khai thác dầu khí; phía Đông giáp với Bình Thuận là cửa ngõ thông thương với các tỉnh miền Trung và miền Bắc; phía Đông Bắc giáp Lâm Đồng và phía Tây Bắc giáp Bình Phước là 2 vùng nguyên liệu cây công nghiệp phục vụ công nghiệp chế biến Đồng Nai bao gồm 1 thành phố là Biên Hòa, thị xã Long Khánh và 9 huyện Địa giới hành chính tỉnh được giới hạn bởi tọa độ địa lú từ 10º31’ đến 11º35’ vĩ độ Bắc và từ 106º42’ đến 107º35’ kinh độ Đông
Như vậy, với vị trí địa lí khá thuận lợi, Đồng Nai có tiềm năng to lớn trong phát triển kinh tế từ đó giải quyết việc làm, nâng cao mức sống dân cư Đồng Nai là một trong những tỉnh đi đầu trong phát triển kinh tế theo chiều sâu, tạo môi trường làm việc hiện đại cho người lao động có trình độ, vậy nên Đồng Nai sẽ là điểm đến lí tưởng cho người lao động trình độ cao Ngoài ra, vị trí địa lí nói trên góp phần đào tạo nhân lực và lưu chuyển nguồn nhân lực trình độ cao từ các tỉnh trong Vùng với nhau
2.1.2 Các nhân tố về tự nhiên
Diện tích tự nhiên của Tỉnh năm 2010 là 590.723,62 ha (bằng 1,76% diện tích của cả nước và bằng 19,4% diện tích cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam), trong đó diện tích đất nông nghiệp có 468.504 ha (chiếm 79,32%), đất phi nông nghiệp có 121.250,1 ha (chiếm 20,53%)
Khí hậu, thủy văn: là Tỉnh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23,9º đến 29 ºc, thấp hơn so với mức trung bình của vùng nhiệt đới (26 - 30ºc) Số giờ nắng trung bình từ 4 – 9,5 giờ/ngày; 2500 – 2860 giờ/năm; số giờ nắng cao nhất trong mùa khô không vượt quá 11,5 giờ/ngày Tổng số ngày mưa trong năm từ 120 đến 170 ngày (tiêu chuẩn vùng nhiệt đới 150 – 160 ngày) với lượng mưa trong năm từ 1500 đến 2750 mm, lớn nhất vùng ĐNB , phân bổ lượng mưa ở Đồng Nai giảm dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Độ ẩm trung bình hàng năm từ 80 –
Trang 3682%, trong mừa khô độ ẩm thấp hơn mùa mưa khoảng 10 – 12%, độ ẩm giữa các vùng trong tỉnh có khác nhau nhưng mức chênh lệch không lớn
Tài nguyên khoáng sản: Tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản khá đa dạng và phong phú: kim loại quí, kim loại màu (bauxit), đá quí, nguyên liệu gốm sứ (cao lanh, sét bột màu và đặc biệt là nguồn tài nguyên, khoáng sản vật liệu xây dựng: đá, cát, sét gạch ngói… Đến nay đã phát hiện 214 mỏ, điểm quặng và điểm khoáng có quy mô nhỏ, hàm lượng nghèo, chất lượng kém, ít có triển vọng công nghiệp
Tài nguyên rừng: diện tích rừng hiện nay là 180.000 ha, chiếm 30,5% diện tích
tự nhiên của Tỉnh Trong đó chủ yếu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ nằm trên địa phương huyện Vĩnh Cửu và Tân Phú, do các tổ chức như vườn quốc gia Cát Tiên, khu bảo tồn và dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu và công ty lâm nghiệp La Ngà quản lí
Tài nguyên nước: Tỉnh có nguồn nước mặt phong phú, quan trọng nhất là nguồn nước sông Đồng Nai, với lưu lượng lớn nhất là 880 m khối/s, nhỏ nhất là 130 m khối/s,
đủ cung cấp cho sản xuất nông, công nghiệp và sinh hoạt dân cư trên địa bàn Đồng Nai có trên 60 con sông suối lớn nhỏ, sông Đồng Nai có ý nghĩa quyết định với chế độ thủy văn và cân bằng sinh thái của Vùng; nguồn nước mặt bảo đảm cho nhu cầu sản xuất và đời sống của tỉnh Đồng Nai và có thể cung cấp một phần nguồn nước cho thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Tài nguyên đất: do địa hình đa dạng nên cấu tạo đất ở Đồng Nai cũng rất đa dạng, hội tụ đủ các loại đất ở Việt Nam, bao gồm 10 loại đất chính trong đó đất xám 235.604 ha chiếm 39.92%, đất đen 131.604 chiếm 22,3%, đất đỏ 95.389 ha chiếm 16,16% rất thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, hồ tiêu…; ngoài ra còn có các nhóm đất như phù sa ven sông Đồng Nai 27.929 ha, đất Gley 26.758 ha… chủ yếu dùng cho trồng lúa, rau, màu…
Với điều kiện khí hậu ôn hòa, ít ảnh hưởng của bão lụt; đất đai màu mỡ, nguồn nước mặt và nước ngầm dồi dào,… Đồng Nai có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh
tế, phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn và dài ngày cây thực phẩm
và cây ăn trái đặc sản, xây dựng các xí nghiệp chế biến, thu hút và giải quyết việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp, phục vụ cho xuất khẩu
Trang 372.1.3 Các nhân tố về KT-XH
Đồng Nai là tỉnh có dân số khá đông, tổng dân số của tỉnh năm 2012 là 2.720,8 nghìn người, chiếm 14,8% dân số của cùng kinh tế trọng điểm phía Nam và 3,06% dân
số cả nước; Tỉnh nằm trong vùng có tốc độ tăng dân số cao nhất nước và tỷ lệ dân số từ
10 tuổi trở lên biết chữ cao thứ 2 cả nước, sau đồng bằng sông Hồng Đồng Nai có sức hút dân nhập cư từ các tỉnh thành khác đến sinh sống (trong giai đoạn 2004 – 2009 thì tổng số người nhập cư là 235 ngàn người, tỉ lệ di cư thuần là 68,9%, trung bình mỗi năm số người nhập cư đạt 31 ngàn người); thành phần dân tộc khá đa dạng trong đó dân tộc Kinh chiếm chủ yêu 93%, dân tộc Hoa 3,8%, các dân tộc còn lại chiếm tỉ trọng
rất nhỏ, đáng kể hơn là dân tộc Nùng, Chơ ro, Tày… Dân số Đồng Nai có cơ cấu trẻ,
năng động, sáng tạo, luôn tìm tòi cái mới, trong đó dân số ở độ tuổi lao động chiếm
71% năm 2009, là nguồn lực quí giá nhất góp phần vào sự phát triển chung của Tỉnh
Tỉ lệ biết chữ của dân số Đồng Nai là 99% Đồng Nai là tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi
thế trong phát triển kinh tế xã hội, thực hiện CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.1 cho thấy Đồng Nai có mật độ dân số cao (mật độ trung bình 460,6 người/km2 năm 2012) Biên Hòa là khu vực tập trung đông dân số nhất tỉnh, chiếm 34,7% dân số của tỉnh và mật độ dân số lên đến 3.292,93 người/km2; trong toàn tỉnh thì huyện Vĩnh Cửu, Định Quán và Tân Phú có mật độ dân số thấp hơn mức trung bình
cả nước Nhìn chung, nguồn dân lực tỉnh Đồng Nai dồi dào có đức tính chịu khó trong lao động và kinh nghiệm sản xuất
Trang 38Bảng 2.1: Mật độ dân số của tỉnh Đồng Nai 2012
Nguồn: [3] Đồng Nai có tỷ lệ tăng dân số cao thứ hai cả nước, với mức tăng bình quân hàng năm khoảng 2,54%, tốc độ tăng dân số cao là nhân tố góp phần bổ sung về số lượng nguồn nhân lực, tuy nhiên chính nhân tố này lại tạo ra áp lực về giải quyết việc làm Tỷ
lệ tăng cơ học của Tỉnh tương đối cao là do quá trình di dân từ các tỉnh khác đến Chính từ lực hút này đã tác động đến thị trường lao động của Tỉnh, tính cạnh tranh ngày càng cao trong việc tìm kiếm việc làm đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động
Trên địa bàn Tỉnh có đủ các loại tôn giáo phổ biến ở Việt Nam hiện nay Trong
đó chủ yếu là Công giáo (32,1%) và Phật giáo (13,7%), có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và tinh thần của người dân ở đây Ngoài ra còn có một số đạo khác như
đạo Hồi, Cao Ðài, Tin Lành Tài nguyên văn hóa, lịch sử với các di tích ở Đồng Nai
khá tập trung và có mật độ cao nhất ở các vùng phía Tây - là nơi có nền kinh tế hàng
Đơn vị hành chính Diện tích (km2) Dân số trung bình
(nghìn người)
Mật độ dân số (người/km2)
Trang 39hóa phát triển sớm nên người dân năng động và thích ứng nhanh với sự đổi mới kinh
tế, đồng thời đây cũng là thị trường tiêu thụ lớn của cả Tỉnh và Vùng
Đồng Nai là vùng có cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng phát triển mạnh kết hợp với sự phát triển của mạng lưới đô thị Do đó, Tỉnh đã hình thành nhiều khu công nghiệp lớn Gần TP HCM là trung tâm công nghiệp, đầu mối giao thông và hoạt động dịch vụ phát triển mạnh nhất cả nước Cảng Đồng Nai, Thị Vải là cửa khẩu xuất khẩu
tốt trong khu vực Tuy nhiên bên cạnh những nguồn lực cơ bản đó vẫn còn những hạn
chế cần phải vượt qua: dân nhập cư quá đông và chưa chú trọng quản lí gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực trong xã hội và môi trường Còn hạn chế trong việc xử lí chất thải các khu công nghiệp trong địa bàn và các tỉnh lân cận
2.1.3.1 Nhóm nhân tố về sự phát triển kinh tế
Trình độ phát triển của nền kinh tế
Là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất trong cả nước
và của vùng, Đồng Nai là lực hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, đặc biệt là nguồn vốn FDI và khu vực kinh tế tư nhân, mở ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Đó chính là yếu tố quan trọng để thu hút nguồn lao động từ các vùng miền khác trong cả nước Thực tiễn phát triển kinh tế của Đồng Nai nói riêng và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung trong những năm qua cho thấy, tốc độ tăng trưởng sản phẩm nội địa giai đoạn 1999-2009 luôn đạt hai con số, riêng giá trị sản lượng công nghiệp tỉnh Đồng Nai đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 18% /năm
Sự phát triển kinh tế theo chiều sâu yêu cầu lao động phải có trình độ được đào tạo chuyên môn kĩ thuật, có hệ thống giáo dục hiện đại thỉ mới đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao của Tỉnh, qua đó cũng góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Tăng trưởng đầu tư của nền kinh tế
Vốn thu hút nước ngoài năm của 2009 Đồng Nai là 2,3683 tỷ USD Trung tâm công nghiệp lớn trong vùng và tỉnh Đồng Nai là Thành phố Biên Hoà và các huyện như: Nhơn Trạch, Long Thành, Trảng Bom là ba huyện công nghiệp lớn của Đồng Nai thu hút nhiều đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp tập trung lớn và quy mô Bốn
Trang 40huyện thành này tạo thành trung tâm công nghiệp của tỉnh và của cả vùng ĐNB Trong
đó, Nhơn Trạch là một thành phố công nghiệp thuộc tỉnh của Đồng Nai trong tương lai, huyện Trảng Bom và Long Thành cũng là trung tâm của các dự án lớn và là các đô thị phát triển trong tương lai của tỉnh Đồng Nai Cùng với TP HCM và Bình Dương, Trong 5 năm 2006 - 2010, đã phát triển thêm 11 khu công nghiệp, nâng tổng số khu công nghiệp được thành lập trên địa bàn tỉnh lên 31 khu với diện tích 9.573 ha Về phát triển các cụm công nghiệp, đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có 43 cụm công nghiệp được quy hoạch với tổng diện tích là 2.143 ha trong đó có 2 cụm công nghiệp đã đầu tư hoàn thiện hạ tầng, 6 cụm công nghiệp đang đầu tư hạ tầng số còn lại đang trong quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng và lập thủ tục đầu tư Đồng Nai hợp chung thành tam giác phát triển nhất cả nước Khu tam giác này góp 48,6% trong ngân sách quốc gia Đồng Nai là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế, năng động, sáng tạo, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tạo động lực phát triển kinh tế cả nước phát triển Sự phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh của Vùng và Tỉnh đã đóng góp lớn vào thành tựu chung của cả nước
Tăng trưởng đầu tư kinh tế Tỉnh góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống người lao động và sẽ tác động tích cực đến đời sống vật chất và tinh thần, vì vậy chất lượng nguồn nhân lực tăng lên
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng, tỉ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 52,2% năm 2000 lên 57,2% năm 2010; dịch vụ từ 25,6% lên 34,2% và giảm ngành nông - lâm - thủy sản từ 22,2% xuống còn 8,6% Cơ cấu lao động cũng chuyển dịch mạnh theo hướng giảm tỉ trọng lao động khu vực nông nghiệp
từ 45,5% năm 2005 xuống còn 30% năm 2010, lao động phi nông nghiệp tăng từ 54,5% năm 2005 lên 70% năm 2010
Đồng Nai là một tỉnh có nền công nghiệp rất phát triển có nhiều doanh nghiệp hoạt động, do đó nhu cầu về lao động rất lớn Tình trạng khan hiếm lao động có kỹ thuật cao ở một số ngành nghề vẫn tiếp diễn Đây là nền tảng quan trọng cho việc đào tạo chuyên môn kỹ thuật và trình độ quản lý, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, đáp