Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Chỉ ra những tác động của việc tham gia KDĐC đến đời sống vật chất, tinh thần của sinh viên ĐHQG TP.HCM.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp cơ sở lý thuyết về vấn đề KDĐC
- Tìm hiểu thực trạng về việc tham gia mạng lưới KDĐC của sinh viên ĐHQG TP.HCM
- Tìm hiểu những nguyên nhân khiến sinh viên ĐHQG TP.HCM quyết định tham gia vào mạng lưới KDĐC
Các yếu tố kinh tế, gia đình và xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sinh viên Đại học Quốc gia TP.HCM tham gia các hoạt động kinh doanh Địa phương Nhờ vào điều kiện kinh tế gia tăng, sinh viên có khả năng cạnh tranh và tích lũy vốn, góp phần thúc đẩy khả năng khởi nghiệp Gia đình đóng vai trò là nguồn hỗ trợ tinh thần và tài chính, giúp sinh viên tự tin hơn trong quá trình kinh doanh Đồng thời, các yếu tố xã hội như môi trường cộng đồng, mạng lưới liên kết và các chính sách khuyến khích khởi nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tham gia hoạt động kinh doanh địa phương Những động lực này không chỉ thúc đẩy sinh viên phát triển kỹ năng mà còn góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của thế hệ trẻ trong hoạt động khởi nghiệp tại TP.HCM.
- Đưa ra các kết luận và khuyến nghị phù hợp cho các cá nhân/ tổ chức có liên quan.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin
5.1.1 Thu thập thông tin định tính
Thông tin định tính chính được thu thập qua phương pháp phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi bán cấu trúc, nhằm hiểu rõ hơn về quan điểm của sinh viên Cụ thể, nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn sâu với 8 sinh viên tham gia hoạt động KDĐC, chia đều cho các khối tự nhiên và xã hội nhân văn Các sinh viên được lựa chọn gồm sinh viên năm 1, 2 và sinh viên năm 3, 4, đảm bảo sự đa dạng trong đối tượng nghiên cứu Bảng hỏi chi tiết đã được trình bày tại phụ lục 1 của đề tài, cung cấp nền tảng cho phân tích dữ liệu định tính.
5.1.2 Thu thập thông tin định lượng
Dữ liệu thứ cấp là nguồn thông tin được thu thập từ các thống kê, báo cáo số liệu chuyên ngành có sẵn, cùng với các đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu các vấn đề liên quan Việc sử dụng dữ liệu thứ cấp giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực trong quá trình nghiên cứu, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu đáng tin cậy để phục vụ các phân tích và đánh giá chuyên sâu Đây là phương pháp hiệu quả để nâng cao độ chính xác và tính khách quan của kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau.
- Dữ liệu sơ cấp: thu thập thông qua công cụ bảng bảng hỏi cấu trúc
Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu này kết hợp giữa cách lựa chọn dựa trên phán đoán và phương pháp tăng nhanh (snowball sampling), thích hợp cho các khách thể khó tiếp cận Việc sử dụng phương pháp này giúp mở rộng quy mô mẫu một cách hiệu quả, đặc biệt khi dữ liệu hoặc đối tượng nghiên cứu có tính chất hạn chế hoặc phân tán Chọn mẫu phù hợp sẽ nâng cao độ chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Các tác giả lựa chọn mẫu phán đoán dựa trên các yếu tố như trường đang theo học, phân tích dựa trên địa bàn nghiên cứu, giới tính và số năm học, thông qua việc quan sát hình dạng và trang phục của học sinh Điều này giúp đảm bảo tính khách quan và phù hợp trong quá trình nghiên cứu, đồng thời nâng cao độ chính xác của các nhận định về mẫu dân số.
Chọn mẫu tăng nhanh: do khách thể nghiên cứu của đề tài mang tính chất tương đối nhạy cảm và khó tiếp cận, tìm kiếm
Trong quá trình khảo sát, nhóm tác giả gặp nhiều khó khăn trong việc tuyển chọn đối tượng tham gia kiểm định độ chệch, do thiếu sự hợp tác và khó tìm kiếm phù hợp với thời gian nghiên cứu Vì vậy, nhóm đã quyết định áp dụng phương pháp chọn mẫu tăng nhanh để đảm bảo tiến độ và đạt được mục tiêu của đề tài một cách hiệu quả.
Cụ thể, trước hết, nhóm nghiên cứu chọn một số đối tượng để phỏng vấn sau đó nhờ họ giới thiệu những người khác mà họ quen biết
Phương pháp xử lý thông tin
5.2.1 Xử lý thông tin định tính Đối với phỏng vấn sâu: tác giả tiến hành gỡ băng, kết hợp với những thông tin định lượng thu thập được nhằm phân tích vấn đề trên nhiều khía cạnh khác nhau và sau đó sắp xếp theo thứ tự đề mục
5.2.2 Xử lý thông tin định lượng Đối với bảng hỏi: tác giả tiến hành nhập dữ liệu, làm sạch dữ liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 Kết quả số liệu sau khi xử lý sẽ được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả và kiểm định mối tương quan giữa các biến Cụ thể dùng phương pháp kiểm định T-test để kiểm định biến định tính và định lượng; kiểm định Chi-square để kiểm định hai biến định tính với nhau; dùng kiểm định person để kiểm định 2 biến định lượng với nhau Nếu Sig ≤ 0,05 và số ô trong bảng chéo ≤ 20% tức giữa hai biến có mối quan hệ với nhau
Hình 2: Sơ đồ số lượng mẫu theo trường
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Phân tích tác động của kinh doanh đa cấp (KDĐC) đến đời sống sinh viên tại ĐHQG TP.HCM giúp mở rộng nguồn dữ liệu tham khảo về mối liên hệ giữa hình thức kinh doanh này và sinh viên Nghiên cứu này cung cấp thông tin quý giá cho những ai quan tâm và mong muốn nghiên cứu sâu về lĩnh vực kinh doanh đa cấp, góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết về ảnh hưởng của KDĐC đối với cộng đồng sinh viên.
Ý nghĩa thực tiễn
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất các kiến nghị và hướng đi rõ ràng giúp sinh viên có thể lựa chọn phương pháp giải quyết hiệu quả nhất về ảnh hưởng của kinh tế số đến đời sống sinh viên ĐHQG TP.HCM Các đề xuất này nhằm nâng cao nhận thức và khả năng thích nghi của sinh viên trước các tác động của chuyển đổi số trong môi trường đại học Qua đó, sinh viên có thể ứng dụng các giải pháp phù hợp để giảm thiểu các tác động tiêu cực và tận dụng tối đa các lợi ích của kinh tế số trong đời sống học tập và sinh hoạt hàng ngày.
Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP Chương 2 THỰC TIỄN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP
Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA KINH DOANH ĐA CẤP ĐẾN ĐỜI SỐNG SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP 12 1.1 Các khái niệm liên quan
Khái niệm về kinh doanh đa cấp
Thuật ngữ “Multi Level Marketing” (MLM) hay còn gọi là “Kinh doanh đa cấp” thể hiện hình thức bán hàng trực tiếp theo mô hình nhiều tầng, trong đó các cá nhân độc lập hoạt động để lưu hành, bán và phân phối sản phẩm Ngoài ra, thuật ngữ này còn được dịch sang tiếng Việt với các tên gọi khác như “kinh doanh theo mạng” hoặc “tiếp thị theo tầng”, phản ánh đặc trưng của phương thức phân phối đa cấp độc lập và có cấu trúc phân tầng rõ ràng.
Kinh doanh theo mạng được định nghĩa là phương pháp kinh doanh cho phép cá nhân độc lập tiếp nhận và phát triển công việc kinh doanh của các thành viên trong mạng lưới để hưởng hoa hồng Để đạt được lợi ích cá nhân, người tham gia cần thu hút nhiều người khác tham gia vào mạng lưới của mình Mỗi cá nhân trong mạng lưới đều có nhiệm vụ tìm kiếm người mới, tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ Khi số lượng người trong mạng lưới tăng lên, lợi ích mà mỗi cá nhân thu về cũng sẽ ngày càng cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển của mô hình kinh doanh theo mạng.
Trong Nghị định về giám sát hoạt động bán hàng đa cấp của Chính phủ Việt Nam, Điều 2 đã định rõ lợi ích của người tham gia kinh doanh đa cấp qua việc mô tả bán hàng đa cấp là hình thức tổ chức kinh doanh dựa trên nhiều cấp độ, trong đó các cá nhân nhận hoa hồng, thưởng và lợi ích kinh tế từ doanh số bán hàng của chính họ và của các thành viên trong mạng lưới do họ tổ chức, được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận Định nghĩa này phản ánh rõ khái niệm và có phần cụ thể hơn so với định nghĩa của Richard.
"Cá thể kinh doanh độc lập đã được cụ thể hóa thành các doanh nghiệp, mang lại lợi ích to lớn cho người tham gia Ngoài phần hoa hồng từ khách hàng do họ thu hút, các doanh nghiệp còn thưởng thêm dựa trên doanh số bán hàng của chính cá nhân, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh doanh hiệu quả."
Hàng hóa được phân phối trực tiếp từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng qua mạng lưới các nhà phân phối độc lập, không qua trung gian hay đại lý khác Kinh doanh đa cấp giúp loại bỏ nhiều chi phí trung gian, quảng cáo, tiếp thị, từ đó tiết kiệm chi phí và tập trung vào các khoản hoa hồng cho các nhà phân phối Những người phân phối sản phẩm nhận hoa hồng dựa trên số lượng bán được và phần trăm hoa hồng của hệ thống dưới họ, tạo động lực thúc đẩy doanh số và mở rộng mạng lưới phân phối.
Khái niệm về sinh viên
Khái niệm “sinh viên” bắt nguồn từ từ gốc Latinh “Students”, có nghĩa là người học tập, khai thác tri thức Theo Lê Hữu Thảo và Trần Văn Nam, sinh viên được định nghĩa là người theo học tại các trường đại học, cao đẳng theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trong bối cảnh này, nhóm tác giả đặc biệt tập trung vào đối tượng sinh viên tham gia hoạt động kinh doanh đa cấp tại ĐHQG TP.HCM, thuộc các khối Khoa học tự nhiên và Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Khái niệm về đời sống
Trong đề tài Đời sống công nhân nhập cư tại TP.HCM, Nguyễn Tất Thành
Đời sống được định nghĩa là tổng hợp các hiện tượng phát sinh từ tác động lẫn nhau của các cá thể và cộng đồng trong không gian và thời gian nhất định, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người thông qua hoạt động của các bộ phận xã hội Người ta còn mở rộng ý nghĩa này để chỉ các hiện tượng thích nghi lẫn nhau trong quá trình sống, điều này tạo ra môi trường sống do sự tồn tại và tương tác của các thành phần trong môi trường đó.
Trong "Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam" (Nguyễn Lân, 2003), khái niệm đời sống được định nghĩa với bốn nghĩa chính: đầu tiên, là tình trạng tồn tại của sinh vật như cây cỏ, động vật và con người; thứ hai, là hoạt động của con người trong từng lĩnh vực khác nhau; thứ ba, là phương tiện để duy trì cuộc sống; và cuối cùng, là lối sống của cá nhân hoặc tập thể.
Nghiên cứu này tập trung vào khái niệm đời sống của sinh viên ĐHQG TP HCM từ góc nghĩa thứ hai, nhấn mạnh vào hoạt động hàng ngày trong các lĩnh vực khác nhau Đặc biệt, nhóm tác giả phân chia đời sống thành hai khía cạnh chính là đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giúp làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống sinh viên Phân tích này giúp nâng cao hiểu biết về các hoạt động, nhu cầu và các yếu tố tâm lý của sinh viên trong môi trường đại học.
Vật chất là hiện thực khách quan tồn tại bên ngoài ý thức của con người và đối lập với nó, đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày Đời sống vật chất đáp ứng các nhu cầu thiết yếu như ăn ở, đi lại và chăm sóc thể xác con người, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Đề tài này tập trung phân tích các tiêu chí liên quan đến việc làm để đánh giá mức độ phát triển kinh tế và đời sống vật chất của xã hội.
Việc phân tích thu nhập và chi tiêu của sinh viên ĐHQG TP.HCM giúp làm rõ nguyên nhân và thực trạng tham gia kinh doanh đa cấp Những dữ liệu này phản ánh đời sống vật chất của sinh viên đang tham gia công việc này Qua đó, nhóm nghiên cứu có thể xác định nhu cầu vật chất cơ bản của sinh viên dựa trên các chỉ tiêu thu nhập và chi tiêu Đồng thời, việc đánh giá các mặt lợi và hại của kinh doanh đa cấp giúp làm rõ ảnh hưởng của hoạt động này đến đời sống vật chất của sinh viên ĐHQG TP.HCM.
Tinh thần là những hoạt động liên quan đến đời sống nội tâm của con người, bao gồm ý nghĩ, cảm xúc và tâm tư, có ảnh hưởng quyết định hành động và hành vi (Minh Tâm, 1998) Trong nghiên cứu này, các chỉ tiêu về trạng thái tâm lý như vui vẻ, thoải mái, bình thường, áp lực, mệt mỏi, cùng với hoạt động giải trí và thể chất được sử dụng để đánh giá đời sống tinh thần của sinh viên tham gia bán hàng đa cấp Kết quả từ những biến này giúp nhóm nghiên cứu xác định tác động tích cực và tiêu cực của hoạt động kinh doanh đa cấp đến tâm lý và đời sống tinh thần của sinh viên tại ĐH Quốc Gia TP.HCM.
Sinh viên là nhóm đối tượng trẻ trung, năng động và sáng tạo luôn hướng tới đổi mới Trong quá trình hội nhập quốc tế, đời sống của sinh viên có nhiều biến chuyển, mang lại cả những lợi ích như tiếp thu giá trị hiện đại và tích cực phát triển bản thân Tuy nhiên, cũng tồn tại những mặt tiêu cực khi một số sinh viên tham gia vào các hoạt động KDĐC, dẫn đến các biểu hiện không phù hợp với chuẩn mực đạo đức và giá trị truyền thống của dân tộc.
Các lý thuyết tiếp cận
1.2.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow (1908 – 1970) là nhà tâm lý học hàng đầu của Mỹ, được biết đến là cha đẻ của tâm lý học nhân văn Ông nổi tiếng với Thuyết nhu cầu, một lý thuyết phân loại các nhu cầu của con người thành các cấp bậc khác nhau, nhằm hiểu rõ hơn về động lực hành vi con người Thuyết nhu cầu của Maslow vẫn còn ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau ngày nay.
Theo A.H Maslow (1943), hành vi của con người bắt nguồn từ các nhu cầu của họ và được sắp xếp theo một thang nhu cầu gồm 5 cấp độ từ cơ bản đến cao cấp Ông cho rằng khi các nhu cầu cấp thấp được thoả mãn đến một mức độ nhất định, các nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ nổi lên, đồng nghĩa với việc để đạt được sự thoả mãn toàn diện, trước tiên các nhu cầu ở cấp độ thấp phải được đáp ứng đầy đủ Thang nhu cầu của Maslow bao gồm năm bậc: nhu cầu sinh lý, an toàn, xã hội, danh vọng và tự thể hiện.
Bậc 1 Những nhu cầu về sinh lý (The physicological needs): là bao gồm những nhu cầu căn bản và thiết thực nhất của con người nhằm mục đích duy trì sự sống và thoả mãn bản chất của một con người như: ăn, uống, ngủ, tình dục, không khí để thở, nhiệt độ ổn định của máu, protein, … Đây là những nhu cầu sinh lý không thể thiếu cho sự tồn tại của con người Nó được xem như là nhu cầu nền tảng của các loại nhu cầu còn lại
Bậc 2 Những nhu cầu về an toàn (The safety needs): gồm những nhu cầu được an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản,… Trong những tình huống mang tính chất nguy hiểm thì chính nhu cầu về an toàn này sẽ thúc đẩy các hành vi của con người với mục đích đảm bảo sự an toàn của họ
Bậc 3 Những nhu cầu tình cảm và được trực thuộc (The love needs): là những nhu cầu về mặt trao đổi tình cảm, được yêu thương, chia sẻ, được trực thuộc một tổ chức xã hội nào đó, vì con người là một bộ phận của xã hội nên họ muốn được chấp nhận Điều này cho thấy con người có nhu cầu “giao tiếp” để có thể hoà nhập vào xã hội để phát triển và hoàn thiện bản thân mình (Đào Phú Quý, 2010)
Bậc 4 Nhu cầu cần được tôn trọng (Esteem needs): khi đã trở thành một thành viên được trực thuộc một tổ chức nào đó trong xã hội thì con người thường có nhu cần cần được mọi người đánh giá, tôn trọng, tin tưởng, …
Bậc 5 Nhu cầu được thể hiện bản thân (Self actualization): đây được xem là nhu cầu cao nhất của con người, mong muốn hoàn thiện, phát triển toàn diện cả về các mặt chân, thiện, mỹ, sáng tạo,… “Thuyết nhu cầu của A.Maslow là thuyết đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Việc sắp xếp nhu cầu theo thang bậc từ thấp đến cao cho thấy độ “dã man” của con người giảm dần và độ “văn minh” của con người tăng dần.” Áp dụng lý thuyết: Do hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ, nên nhóm nghiên cứu cho rằng việc sinh viên quyết định tham gia KDĐC cũng xuất phát từ việc nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của bản thân Vì vậy, nhóm nghiên cứu quyết định sử dụng lý thuyết này để tìm hiểu các nhu cầu là nguyên nhân ảnh hưởng đến việc quyết định tham gia vào KDĐC Và những nhu cầu thoả mãn được sau khi tham gia KDĐC sẽ tác động như thế nào đến đời sống của sinh viên
1.2.2 Nguyên lý mối liên hệ phổ biến của Karl Marx
Karl Marx (1818 – 1883), nhà tư tưởng người Đức gốc Do Thái, nổi bật với những công trình nghiên cứu có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực Các nguyên lý của ông vẫn còn được ứng dụng và duy trì tính thời sự đến ngày nay, chứng tỏ tầm ảnh hưởng lâu dài của những tư tưởng của ông trong các vấn đề kinh tế, xã hội và chính trị.
Hình 3 trình bày sơ đồ tháp nhu cầu Maslow, một công cụ quan trọng trong việc hiểu các nhu cầu của con người Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, được Karl Marx phát biểu, nhấn mạnh sự liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố trong hệ thống xã hội và con người Nguyên lý này cho thấy rằng mọi yếu tố trong xã hội và cuộc sống đều có sự liên quan mật thiết, ảnh hưởng lẫn nhau Việc hiểu rõ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giúp phân tích sâu hơn về các mối quan hệ trong xã hội, từ đó đưa ra các chiến lược phát triển phù hợp.
Một là, mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới đều tồn tại trong muôn vàn mối liên hệ ràng buộc qua lại lẫn nhau
Trong thế giới, có nhiều mối liên hệ chi phối sự tồn tại của sự vật và hiện tượng, trong đó mối liên hệ phổ biến là loại mối liên hệ tồn tại trong mọi lĩnh vực và mọi sự vật, hiện tượng (Nguyễn Viết Thông)
2016) Đối với đề tài của nhóm nghiên cứu, nguyên lý mối liên hệ phổ biến của Karl Marx cho thấy:
Khi nghiên cứu tác động của việc Khởi nghiệp Đổi mới Sáng tạo (KDĐC) đến đời sống sinh viên, cần phải xem xét một cách toàn diện để hiểu rõ các mối liên hệ phức tạp giữa các yếu tố liên quan Điều này đòi hỏi chú ý đến các mặt bên trong của hiện tượng và mối tương quan giữa đối tượng nghiên cứu với các yếu tố khác trong hệ thống Việc phân tích các mối liên hệ qua lại giúp đảm bảo cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về ảnh hưởng của KDĐC đối với sinh viên.
Để hiểu rõ về đối tượng nghiên cứu, cần phân biệt chính xác từng mối liên hệ và nhận thức rõ vai trò của chúng trong quá trình tồn tại và biến đổi của đối tượng Việc xác định các quy luật chung giữa các mối liên hệ phổ biến quanh đối tượng giúp phát triển kiến thức chính xác và toàn diện hơn Hiểu rõ các mối liên hệ này là yếu tố then chốt để nghiên cứu hiệu quả và khám phá các quy luật vận động của đối tượng.
Tác động của KDĐC đến đời sống sinh viên
1.3.1 Tác động đến đời sống vật chất
Về đời sống vật chất của sinh viên, nhóm tác giả đánh giá tác động thông qua
Hai khía cạnh quan trọng về việc làm và học tập dựa trên việc đo lường và phân tích các biến số như thời gian tham gia, thu nhập, chi tiêu và vốn đầu tư giúp đánh giá hiệu quả và sự phát triển của từng hoạt động Việc phân tích các dữ liệu này giúp xác định mức độ đóng góp của quá trình học tập và làm việc đối với sự tăng trưởng cá nhân và kinh tế Bằng cách đo lường thời gian tham gia và nguồn lực đầu tư, chúng ta có thể tối ưu hóa các chiến lược phát triển, nâng cao hiệu quả học tập và nâng cao thu nhập Các biến số như chi tiêu và vốn đầu tư phản ánh khả năng mở rộng và cải thiện kỹ năng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế cá nhân và xã hội.
1.3.2 Tác động đến đời sống tinh thần
Về đời sống tinh thần của sinh viên, nghiên cứu đánh giá tác động trên các khía cạnh như học tập, quan hệ xã hội, tâm lý, hoạt động giải trí và hoạt động thể chất bằng các thang đo Likert Các yếu tố này ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển toàn diện của sinh viên và được đo lường một cách khách quan qua các công cụ đánh giá chuẩn xác Việc hiểu rõ các khía cạnh này giúp tạo lập môi trường học tập và sinh hoạt phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của sinh viên.
THỰC TIỄN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP
Lịch sử hình thành và phát triển kinh doanh đa cấp
Phương thức kinh doanh đa cấp (KDĐC) ra đời tại Đại học Đông Á năm 2011, gắn liền với tên tuổi của nhà hóa học người Mỹ Carl Rehnborg (1887-1973) Ông là người sáng lập Công ty "Vitamins California" và đã giới thiệu mô hình phân phối một tầng, mở ra xu hướng mới trong ngành phân phối sản phẩm theo hình thức đa cấp tại Việt Nam.
Năm 1927, Carl Rehnborg bắt đầu sự nghiệp của mình bằng việc phát triển các chất bổ sung dinh dưỡng dựa trên cỏ linh lăng, chứa nhiều vitamin, khoáng chất và đạm Để vượt qua khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, ông đã đề xuất chương trình marketing đa cấp, trả hoa hồng cho những người giới thiệu sản phẩm và cả những người họ giới thiệu, giúp lan truyền thông tin rộng rãi Kết quả bất ngờ là doanh thu của công ty tăng vượt mong đợi, và phương thức kinh doanh đa cấp bắt đầu được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.
Năm 1934, Carl Rehnborg thành lập công ty "Vitamins California" với phương thức phân phối hàng hóa đổi mới, cho phép người tiêu dùng trở thành nhà tiếp thị sản phẩm và giúp công ty đạt doanh số 7 triệu USD mà không cần chi phí quảng cáo Đến cuối năm 1939 đầu năm 1940, ông đổi tên công ty thành "Nutrilite Products" và giữ nguyên phương thức phân phối dựa trên mạng lưới cộng tác viên Các cộng tác viên của Nutrilite tìm người mới, cung cấp thông tin về sản phẩm và hướng dẫn xây dựng mạng lưới bắt đầu từ người quen, giúp mở rộng hệ thống bán hàng Công ty cam kết cung cấp đủ sản phẩm cho các nhà phân phối độc lập và thưởng hoa hồng không chỉ dựa trên lượng sản phẩm bán ra mà còn dựa trên doanh số của những người do họ tuyển dụng Trong nhiều tài liệu, năm 1940 được xem là điểm khởi đầu chính thức của phương thức kinh doanh đa cấp (KDDC), với Carl Rehnborg được coi là ông tổ của hình thức kinh doanh này.
Lịch sử phát triển của phương thức kinh doanh đa cấp (KDĐC) gắn liền với tên tuổi của hai cộng tác viên của "Nutrilite Products" là Richard De Vos và Jey Van Andel Sau thời gian làm việc thành công với công ty, họ đã nhận ra sức mạnh của phương thức bán hàng mới này và sáng lập ra công ty riêng mang tên American Way Corporation, viết tắt là AMWAY Hiện nay, AMWAY đã trở thành một trong những công ty kinh doanh đa cấp hàng đầu thế giới với chi nhánh tại hơn 125 quốc gia.
Vào những năm đầu của thập kỷ 70, KDĐC phải chịu nhiều sức ép lớn Năm
Năm 1975, Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ phản đối mô hình Kinh doanh Đa cấp (KDĐC) và liên kết nó với Hình tháp ảo, một hình thức bất hợp pháp bị cấm tại Hoa Kỳ Đây là đòn đánh đầu tiên của Chính phủ nhằm vào phương thức kinh doanh này, mở ra cuộc chiến pháp lý giữa các công ty KDĐC và nhà chức trách Công ty AMWAY phải đối mặt với các vụ kiện từ năm 1975 đến 1979, suốt bốn năm liên tiếp, nhưng cuối cùng, Tòa án Thương mại Liên bang Hoa Kỳ đã xác nhận rằng mô hình kinh doanh của AMWAY không phải là Hình tháp ảo và được pháp luật công nhận Thành công này đã thúc đẩy ra đời bộ luật đầu tiên về KDĐC tại Hoa Kỳ, mở đường cho sự hợp pháp hóa hình thức kinh doanh này.
KDĐC đã xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1998, với doanh nghiệp đầu tiên áp dụng mô hình này là Incomex chuyên kinh doanh máy chăm sóc sức khỏe Sau đó, các công ty như Thế giới mới, Sinh Lợi, Lô Hội và Vision cũng đã tham gia vào lĩnh vực phân phối sản phẩm thực phẩm dinh dưỡng qua hình thức KDĐC Tuy nhiên, những năm đầu khi phương thức KDĐC du nhập vào Việt Nam đã gặp phải nhiều tai tiếng liên quan đến kiện tụng do một số công ty lợi dụng mô hình để kinh doanh bất chính, gây thiệt hại cho xã hội và ảnh hưởng đến uy tín của ngành Sự thiếu rõ ràng của pháp luật và kiến thức của người tiêu dùng đã tạo điều kiện cho các hành vi lừa đảo, làm ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh và sự phát triển của các doanh nghiệp chân chính trong lĩnh vực này Bên cạnh đó, nhiều công ty uy tín quốc tế như Amway đã có mặt tại thị trường Việt Nam, góp phần nâng cao hình ảnh ngành phân phối đa cấp chính thống và đáng tin cậy.
Các công ty như Avon, Oriflame đã giới thiệu những sản phẩm đồ dùng gia đình và mỹ phẩm chất lượng đến người tiêu dùng thị trường Việt Nam Những sản phẩm này không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường mà còn góp phần tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương.
Thực tiễn kinh doanh đa cấp ở Việt Nam
Theo Điều 48 Luật Cạnh tranh 2004, bán hàng đa cấp bất chính bị nghiêm cấm khi các doanh nghiệp thực hiện các hành vi nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp Các hành vi này bao gồm việc lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người khác tham gia để hưởng lợi bất hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và người tiêu dùng Luật quy định rõ ràng về các hành vi bị cấm nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và đảm bảo sự cạnh tranh công bằng trên thị trường bán hàng đa cấp Do đó, các doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật để tránh các hình thức bán hàng đa cấp trái phép.
Để tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, người muốn tham gia cần đặt cọc hoặc mua một lượng hàng hóa ban đầu nhất định Ngoài ra, họ cũng phải trả một khoản tiền để có quyền tham gia hệ thống bán hàng đa cấp này.
+ Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;
Người tham gia chủ yếu nhận hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế từ việc dụ dỗ người khác gia nhập mạng lưới bán hàng đa cấp Họ thường cung cấp thông tin gian dối về các lợi ích của việc tham gia và đưa ra những mô tả sai lệch về tính chất cũng như công dụng của hàng hóa để thu hút người khác tham gia vào hệ thống này.
Dấu hiệu khách quan của hành vi bán hàng đa cấp bất chính chính là việc doanh nghiệp thực hiện một trong bốn hành vi được liệt kê, nhằm mục đích lừa dối khách hàng hoặc tạo ra sự bất hợp pháp trong hoạt động kinh doanh Trong khi đó, dấu hiệu chủ quan của hành vi này thể hiện qua mục đích thu lợi bất chính mà các doanh nghiệp bán hàng đa cấp hướng đến, một hình thức thao túng nhằm trục lợi cá nhân hoặc tổ chức Các dấu hiệu này đều nhằm cảnh báo về tính chất trái pháp luật của hoạt động bán hàng đa cấp không rõ ràng hoặc vi phạm quy định pháp luật.
Theo Luật cạnh tranh của Việt Nam năm 2004, sự bất chính được xác định dựa trên mục đích của hành vi vi phạm nhằm thu lợi bất chính Mặc dù luật đã quy định rõ ràng về các hành vi vi phạm và tính chất bất chính của chúng, nhưng vẫn chưa làm rõ thế nào là hành vi nhằm thu lợi bất chính trong việc tuyển dụng người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp.
Chính phủ (2014) ban hành Nghị định 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, trong đó không quy định rõ hành vi kinh doanh đa cấp bất chính mà chỉ nêu rõ các hành vi bị cấm trong hoạt động này tại Điều 5, nhằm kiểm soát và hạn chế các hành vi gian lận, lừa đảo trong lĩnh vực bán hàng đa cấp.
Người muốn tham gia bán hàng đa cấp cần đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới các hình thức khác nhau để có quyền tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Điều này nhằm mục đích chứng minh sự cam kết của nhà phân phối và đảm bảo tính chính quy của hoạt động kinh doanh đa cấp Tuy nhiên, quy định này cũng cần cân nhắc nhằm tránh tình trạng lừa đảo và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa nhất định theo bất kỳ hình thức nào để có đủ điều kiện gia nhập mạng lưới bán hàng đa cấp Việc này là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo quyền tham gia và duy trì hoạt động của thành viên trong hệ thống bán hàng đa cấp Như vậy, việc mua hàng hóa trước tiên là điều kiện cần thiết để người tham gia có thể chính thức trở thành thành viên của mạng lưới bán hàng đa cấp.
Người tham gia bán hàng đa cấp nhận hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia hệ thống bán hàng đa cấp Việc này giúp họ hưởng lợi từ hình thức kinh doanh này thông qua việc tuyển dụng người mới, tạo ra thu nhập dựa trên doanh số bán hàng và hoa hồng từ quá trình mở rộng mạng lưới Chính sách thưởng và hoa hồng cao khiến nhiều người dễ bị lôi kéo tham gia, mặc dù thường tiềm ẩn rủi ro về tài chính và pháp lý.
Người tham gia bán hàng đa cấp không được yêu cầu trả thêm khoản tiền nào để duy trì, phát triển hoặc mở rộng mạng lưới bán hàng của mình Việc yêu cầu người tham gia trả phí dưới bất kỳ hình thức nào là không phù hợp với quy định và trái với nguyên tắc của mô hình bán hàng đa cấp hợp pháp Các doanh nghiệp cần đảm bảo rằng hoạt động thu phí của người tham gia chỉ diễn ra trong phạm vi quy định của pháp luật và không gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp dưới bất kỳ hình thức nào;…”
Điều 5 của Nghị định 42/2014/NĐ-CP và Điều 48 của Luật Cạnh tranh đều quy định theo dạng liệt kê các hành vi bị cấm, nhưng chưa đưa ra các quy định mang tính khái quát đối với hoạt động bán hàng đa cấp bất chính Chính điều này gây ra hạn chế trong việc kiểm soát và xử lý các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp trái phép, tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh nghiệp vi phạm lách luật một cách dễ dàng.
Quy định đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp còn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt là trong Nghị định 42/2014/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý bán hàng đa cấp Nguyên tắc đăng ký kinh doanh đa cấp vẫn dựa trên nguyên tắc truyền thống, giống như thủ tục đăng ký doanh nghiệp hoặc đăng ký kinh doanh thông thường Điều này cho thấy còn nhiều điểm needs cải thiện để phù hợp với đặc thù của hình thức bán hàng đa cấp.
Các quy định về vốn pháp định tối thiểu là 10 tỷ đồng (Điều 8, Nghị định 42/2014/NĐ-CP) và ký quỹ bằng 5% vốn điều lệ nhưng không thấp hơn 5 tỷ đồng (Khoản 1 Điều 29 Nghị định 42/2014/NĐ-CP) có giá trị không đáng kể so với doanh thu hàng trăm tỷ đồng hàng năm của các doanh nghiệp đa cấp Những quy định này chủ yếu cho phép nhà nước đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp, nhưng không thể xác thực liệu chương trình đào tạo, chương trình trả thưởng và nguyên tắc hoạt động của công ty có chính xác và đúng cam kết hay không.
Nghị định số 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp và Luật Cạnh tranh quy định rõ rằng một người có thể sở hữu nhiều vị trí kinh doanh đa cấp để duy trì hoạt động hợp pháp Tuy nhiên, điều này dẫn đến việc sản phẩm không ra khỏi hệ thống, khiến một cá nhân gom nhiều mặt hàng để hưởng hoa hồng cao, tạo ra các con số ảo về doanh thu và lợi nhuận Luật cũng quy định giới hạn trích thưởng không quá 40%, nhưng trong thực tế, con số này đã bị đẩy lên cao vượt mức quy định, gây ảnh hưởng đến minh bạch và công bằng trong hoạt động bán hàng đa cấp.
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA KINH DOANH ĐA CẤP ĐẾN ĐỜI SỐNG SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Khái quát Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh
Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học – công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao Được thành lập ngày 27/01/1995 theo Nghị định 16/CP, trường bao gồm 8 trường thành viên và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 06/02/1996, góp phần nâng cao trình độ giáo dục và nghiên cứu khoa học tại Việt Nam.
Đại học Quốc gia TP.HCM hiện có 7 đơn vị thành viên, bao gồm các trường đại học hàng đầu như Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Bách Khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc tế, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Công nghệ Thông tin và Viện Môi trường – Tài nguyên, tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động giáo dục đa dạng và chất lượng cao tại TP.HCM.
Hình 7: Sơ đồ khu đô thị ĐHQG TP.HCM
Về đạo tạo, ĐHQG TP.HCM có: Khoa Y, Trường Phổ thông Năng Khiếu Trung tâm Đại học Pháp Viện đào tạo Quốc tế
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG TP.HCM) được trang bị nhiều cơ sở hạ tầng hiện đại nhằm phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, bao gồm Trung tâm Lý luận Chính trị, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh sinh viên, phòng thí nghiệm Công nghệ Nano, Viện Quản trị đại học, cũng như Trung tâm Quản lý nước và Biến đổi khí hậu, giúp nâng cao chất lượng giáo dục và thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng.
Đại học Quốc gia TP.HCM tọa lạc tại phường Linh Trung, quận Thủ Đức, trên diện tích 643,7 ha theo mô hình đô thị khoa học hiện đại Trường sở hữu đội ngũ hơn 250 Giáo sư, Phó Giáo sư, 1.000 tiến sĩ và 1.800 thạc sĩ tham gia nghiên cứu và giảng dạy Đến nay, Đại học Quốc gia TP.HCM đã thu hút hơn 55.000 sinh viên đại học chính quy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và nghiên cứu, trở thành trung tâm đào tạo hàng đầu khu vực phía Nam.
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện có hơn 9.500 học viên cao học và 680 nghiên cứu sinh, trở thành một trong những lựa chọn hàng đầu của các bạn sinh viên chất lượng trong nước Đây là nền tảng cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế và xã hội ngày càng vững mạnh.
ĐH Quốc gia TP.HCM không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo bằng cách cập nhật nội dung chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy và phát triển đội ngũ giảng viên Nhà trường cũng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Những nỗ lực này giúp ĐHQG TP.HCM hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao phó, góp phần vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Khái quát mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu khảo sát 60 sinh viên đang học tập tại hệ thống ĐH Quốc gia TP.HCM, tham gia hoạt động kinh doanh đa cấp tại các trường ĐH KHTN và ĐH KHXHNV, với tổng mẫu chia đều cho hai trường Các sinh viên tham gia cung cấp thông tin về đặc điểm cá nhân và trải nghiệm trong hoạt động kinh doanh đa cấp, giúp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của sinh viên về loại hình kinh doanh này Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng sinh viên về các nguy cơ và cơ hội của kinh doanh đa cấp, đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp để kiểm soát và phát triển hoạt động này trong môi trường đại học.
Trong tổng số sinh viên tham gia khảo sát, tỷ lệ sinh viên nam tham gia hoạt động KDĐC cao hơn so với sinh viên nữ Tuy nhiên, có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ tham gia giữa sinh viên nam và nữ ở hai trường đại học khác nhau; tại trường ĐHKHXHNV, tỷ lệ sinh viên nam tham gia KDĐC đạt 76,7%, trong khi ở trường ĐHKHTN chỉ đạt 46,7%.
Bảng 3.1: Giới tính của sinh viên tham gia KDĐC
Số người % Số người % Số người %
Nguồn: Kết quả khảo sát, 2017.
Trong phân tích trình độ học vấn, nhóm tác giả đã phân chia sinh viên theo khối kiến thức, gồm sinh viên năm 1-2 học kiến thức đại cương và sinh viên năm 3-4 học kiến thức chuyên ngành Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên đã vào chuyên ngành (55%) cao hơn so với sinh viên học kiến thức đại cương (45%), đặc biệt rõ rệt ở sinh viên trường ĐHKHXHNV.
(60 ) hơn là ở ĐHKHTN (50 ) (Bảng 3.2) Kết quả thể hiện kiểm định tương quan Chi – Square giữa 2 biến định tính là giới tính và trình độ học vấn cho ra Sig
= 0,003 (≤ 0,05) dường như có thể thấy có mối quan hệ giữa giới tính và trình độ học vấn khiến sinh viên quyết định tham gia kinh doanh đa cấp
Bảng 3.2: Trình độ học vấn của sinh viên tham gia KDĐC
Số người % Số người % Số người %
Sinh viên đang học đại cương
Sinh viên vào 15 50,0 18 60,0 33 55,0 chuyên ngành
Nguồn: Kết quả khảo sát, 2017
Theo kết quả điều tra, phần lớn sinh viên tiếp cận kênh thông tin về kinh doanh đa cấp qua bạn bè (51,2%), tiếp đó là qua người thân trong gia đình (18,6%), thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, mạng xã hội chiếm 17,4%, và qua các thành viên trong công ty đa cấp với tỷ lệ 11,6% Chỉ có 1,2% sinh viên tiếp cận từ các nguồn khác Một sinh viên năm 3 trường ĐHKHTN chia sẻ rằng: “Mình có một đứa bạn hay nói chuyện trên Facebook về kinh doanh online Một hôm, bạn mình rủ đi tham dự hội thảo cùng nhóm bạn, chủ đề chủ yếu về kinh doanh online.”
Nhiều sinh viên mới tiếp cận với hoạt động kinh doanh đa cấp thông qua các kênh thông tin từ người thân, bạn bè hoặc gia đình, bởi vì họ đã có mối quan hệ tin tưởng và thời gian tiếp xúc từ những người này Theo thống kê, chỉ có 11,6% sinh viên biết về KDĐC từ chính các thành viên của các công ty này, thấp hơn gần 7,5 lần so với các kênh thông tin khác, cho thấy phần lớn lực đẩy và động lực tham gia đến từ những người mà họ tin tưởng Điều này chứng tỏ rằng, sự ảnh hưởng từ các người thân quen đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sinh viên tham gia vào các mô hình KDĐC.
Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát của đề tài, 2017
Biểu đồ 3.1: Kênh thông tin về KDĐC (%)
Tác động của việc tham gia kinh doanh đa cấp đến đời sống sinh viên Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh
3.3.1 Tác động về mặt vật chất
3.3.1.1 Tác động về việc làm Qua khảo sát, cho thấy, có tới (40,6%) sinh viên tham gia KDĐC vì muốn tăng thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống Một bạn sinh viên năm 2 trường ĐHKHXHNV chia sẻ rằng : “Ban đầu chủ yếu do thời gian rảnh rỗi, muốn kiếm thêm thu nhập cho bản thân, phụ giúp gia đình và tự chủ kinh tế một ít.” (Nam, năm
Theo thuyết nhu cầu của Abraham Maslow, con người chỉ bắt đầu quan tâm đến các nhu cầu cao hơn khi các nhu cầu căn bản đã được đáp ứng, trong đó thu nhập đóng vai trò quan trọng giúp sinh viên giải quyết các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Chính vì lý do này, phần lớn sinh viên tham gia kinh doanh đa cấp nhằm tăng thu nhập để phục vụ nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Tỷ lệ sinh viên tham gia vì nguyên nhân bị các thành viên trong các công ty đa cấp giới thiệu và lôi kéo chiếm tỷ lệ cao nhất (10,4%), trong khi các lý do khác như tò mò hoặc mong muốn thể hiện chính mình chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (2,8%) (Xem Biểu đồ 3.2).
Qua thông tin đại chúng
Qua người thân trong gia đình
Qua thành viên của công ty KDĐC Khác
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2017
Biểu đồ 3.2: Nguyên nhân tham gia KDĐC (%)
Theo khoản 1, điều 9, Bộ luật lao động 2012 của nước Việt Nam quy định
Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập hợp pháp và không bị pháp luật cấm, đóng vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi sinh viên Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã đo lường thời gian sinh viên tham gia hoạt động kinh doanh đa dạng bằng số tháng tham gia; dữ liệu cho thấy phần lớn sinh viên tham gia từ 0-6 tháng, chiếm 58,3%, chủ yếu là sinh viên năm 1, 2 với tỷ lệ 70,4% Trong khi đó, sinh viên năm 3, 4 dù chiếm tỷ lệ khá cao, chỉ đạt khoảng 48,5% Số lượng sinh viên tham gia hoạt động trên 2 năm khá thấp, chỉ khoảng 5,1%, chủ yếu là sinh viên năm 3, 4.
Trong giai đoạn này, sinh viên năm 3 và 4 chiếm 0% thời gian tham gia KDĐC, mặc dù có ý kiến cho rằng các sinh viên này dành nhiều thời gian hơn sau khi tham gia chuyên ngành Tuy nhiên, phân tích kết quả tương quan giữa "trình độ học vấn" và "phân nhóm thời gian tham gia KDĐC" cho thấy không có mối liên hệ rõ ràng giữa hai biến này Điều này cho thấy, bất kể trình độ học vấn của sinh viên, thời gian tham gia KDĐC không khác biệt đáng kể, phản ánh rằng yếu tố trình độ học vấn không ảnh hưởng đến thời gian tham gia hoạt động này.
Nghĩa là trong nghiên cứu này, trình độ học vấn không ảnh hưởng đến thời gian tham gia KDĐC
Muốn trao dồi các kỹ năng Muốn mở rộng các mối quan hệ
Vì được thành viên của các công ty KDĐC giới thiệu
Bảng 3.3: Phân nhóm thời gian tham gia KDĐC
Năm sinh viên đang theo học
Số người % Số người % Số người %
Thời gian tham gia KDĐC
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2017
Các sinh viên tham gia phỏng vấn đều chia sẻ rằng, công việc KDĐC có đặc thù là kinh doanh online, giúp họ linh hoạt về thời gian Họ không cần phải có mặt vào giờ hành chính như các công ty truyền thống, mà có thể làm việc bất cứ khi nào rảnh Nhờ đó, công việc này phù hợp với lịch trình học tập và sinh hoạt hàng ngày của các bạn trẻ.
Nhiều sinh viên chia sẻ về thời gian dành cho hoạt động kinh doanh độc lập (KDĐC), với Nam, sinh viên năm 2 tại ĐHKHXHNV cho biết “Rảnh thì từ 5 – 6 giờ, bận thì 3 – 4 giờ” (17/03/2017), trong khi nữ sinh viên năm 1 cho hay “Rảnh lúc nào làm lúc đó Một tuần đến đội nhóm 2 lần, mỗi lần khoảng 3 giờ, ngoài ra còn đi giao hàng và chia sẻ cho bạn bè, tổng cộng khoảng 1 giờ mỗi ngày” (20/03/2017) Nhìn vào biểu đồ 3.3, chênh lệch về thời gian dành cho KDĐC giữa các sinh viên lên tới 11 giờ mỗi ngày, cho thấy sự linh hoạt đáng kể do đặc thù sinh viên Thực tế này phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 104 Bộ luật Lao động 2012 của Việt Nam, thể hiện khả năng cân đối thời gian làm việc phù hợp với lịch trình học tập của sinh viên.
Nam quy định “Thời gian làm việc bình thường không quá 8 giờ trong 1 ngày và 48 giờ trong 1 tuần”
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2017
Biểu đồ 3.3: Thời gian dành cho kinh doanh đa cấp trong 1 ngày (%)
3.3.1.2 Tác động về thu nhập
Thu nhập của sinh viên là một tiêu chí quan trọng để đánh giá đời sống sinh viên Kết quả khảo sát cho thấy, 58,3% sinh viên có thu nhập từ 1-5 triệu đồng/tháng, trong khi đó chỉ có 11,7% đạt mức từ 6-10 triệu đồng/tháng, 5% từ 11-15 triệu, và 5% từ 16-20 triệu đồng, còn chỉ 1,7% có thu nhập trên 20 triệu đồng mỗi tháng Mức thu nhập cao nhất ghi nhận là 25 triệu đồng, còn thấp nhất là 500 nghìn đồng, cho thấy sự chênh lệch lớn trong thu nhập của sinh viên tham gia KDĐC Một sinh viên giải thích rằng, lợi ích từ việc duy trì thời gian dài và xây dựng hệ thống lớn sẽ giúp tăng thu nhập, đặc biệt qua hệ thống hoa hồng bị động từ các cấp dưới, dù bán hàng ít nhưng vẫn có thể nhận hoa hồng đều đặn.
18/03/2017) Đồng thời, khi nhóm tác giả chạy tương quan giữa hai biến “Phân
Kết quả phân tích cho thấy có mối tương quan đáng kể giữa thời gian tham gia kinh doanh đa cấp (KDĐC) theo tháng và nhóm thu nhập hàng tháng, với Sig = 0,00 Điều này có nghĩa là những người tham gia lâu hơn thường có khả năng kiếm thu nhập cao hơn Cụ thể, để đạt mức thu nhập từ 16 triệu đồng trở lên mỗi tháng, ít nhất 75% sinh viên phải tham gia KDĐC ít nhất một năm trở lên, trong khi còn lại 25% chỉ mới hoạt động từ 0 đến 6 tháng Một bạn sinh viên đã chia sẻ rằng để thành công trong kinh doanh này, cần có chiến lược rõ ràng, xây dựng mối quan hệ với khách hàng và có kinh nghiệm thực tế để đối mặt với cạnh tranh khốc liệt trong ngành.
Trong bài viết, nhóm tác giả nhận định rằng mức thu nhập 2 triệu đồng của anh B, dù không lớn, vẫn đạt được nhờ chiến lược chăm sóc khách hàng tận tình và hoạt động kinh doanh liên tục Họ cho rằng, thành công này chủ yếu đến từ khả năng giao tiếp linh hoạt và kỹ năng chăm sóc khách hàng chu đáo của các bạn trẻ, giúp họ nâng cao hiệu quả bán hàng Việc ứng dụng chiến lược phù hợp kết hợp với sự năng động trong hoạt động kinh doanh là yếu tố then chốt để đạt được mức thu nhập này, đặc biệt đối với sinh viên năm hai như Nam.
Bảng 3.4: Thu nhập mỗi tháng từ việc KDĐC (%)
Phân nhóm thời gian tham gia
Phân nhóm thu nhập mỗi tháng từ việc KDĐC (triệu đồng)
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2017
Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn sinh viên sử dụng thu nhập từ việc kinh doanh để phục vụ nhu cầu đầu tư học tập và mua sắm cá nhân, chiếm tới 68,3%, phản ánh mong muốn tự lập và hỗ trợ tài chính cho gia đình Bên cạnh đó, một số sinh viên còn dành phần thu nhập để gửi tiết kiệm (14,6%) hoặc giúp đỡ người thân (12,2%), thể hiện trách nhiệm và ý thức quản lý tài chính Một sinh viên cũng chia sẻ về việc sử dụng thu nhập từ kinh doanh để nâng cao khả năng học tập và tự chủ tài chính.
Gia đình ít khá giả, nên khi biết đến KDĐC giúp mình có thêm nguồn thu nhập, mình rất phấn khởi vì có thể trang trải chi phí học tập và mua sắm cá nhân như in ấn, photo giáo trình, mua quần áo hoặc phụ kiện Nhiều sinh viên khác cũng sử dụng thu nhập từ việc KDĐC để đi du lịch hoặc tái đầu tư vào công việc của mình Theo thuyết nhu cầu của Maslow, việc sinh viên dùng tiền từ KDĐC để phục vụ nhu cầu học tập và mua sắm cá nhân là điều hoàn toàn hợp lý, vì đó là những nhu cầu căn bản và phổ biến nhất đối với sinh viên.
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2017
Biểu đồ 3.4 : Mục đích sử dụng thu nhập từ KDĐC (%)
Dựa trên số liệu, phần lớn sinh viên khi tham gia kinh doanh vốn điện thoại di động đều phải bỏ ra dưới 2 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 73,3%, trong khi đó 26,7% còn lại đầu tư với số vốn cao hơn Điều này cho thấy đầu tư ban đầu cho hoạt động KDĐC thường ở mức thấp, phù hợp với khả năng tài chính của sinh viên Việc này phản ánh xu hướng khởi nghiệp tiết kiệm trong giới trẻ, đồng thời phù hợp với chiến lược tối ưu hóa nguồn lực tài chính Chính vì vậy, quản lý vốn đầu tư hợp lý là yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công trong kinh doanh điện thoại di động của sinh viên.
4.9% Đầu tư học tập Mua sắm cá nhân
Gửi tiền cho người thân Gửi tiền tiết kiệm
Đầu tư vốn từ 2 triệu đồng trở lên thường được sử dụng để mua ấn phẩm quảng cáo sản phẩm nhằm hỗ trợ nhân viên giới thiệu đến khách hàng, chiếm tỷ lệ 29,9% Ngoài ra, số vốn này còn được dùng để đầu tư vào các cơ sở vật chất như điện thoại (19,4%), các khoá học kỹ năng bán hàng (10,4%), và trang phục, ngoại hình nhằm thu hút và tạo niềm tin cho khách hàng (19,4%) Trong khi vốn không phải yếu tố then chốt trong cuộc sống của sinh viên, nhưng nó lại đóng vai trò quan trọng giúp các bạn phân biệt giữa các công ty đa cấp chính thống và các công ty đa cấp biến tướng Một sinh viên chia sẻ rằng, các công ty đa cấp biến tướng thường yêu cầu bỏ vốn trước, ít đề cập đến sản phẩm, chỉ tập trung vào cách kiếm tiền và chiêu mời người khác tham gia, đồng thời thường không công khai chính sách kinh doanh rõ ràng Nhóm tác giả nhận định rằng đây có thể là dấu hiệu giúp sinh viên dễ nhận diện các công ty đa cấp bất chính, đặc biệt dựa trên quy định của Luật cạnh tranh 2004 của Việt Nam, trong đó cấm các hành vi nhằm thu lợi bất chính từ tuyển dụng trong mạng lưới bán hàng đa cấp.
1 Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
2 Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;
3 Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
Kết luận
Việc tham gia kinh doanh đồng thời đã ảnh hưởng đến cuộc sống của sinh viên ĐHQG TP.HCM, mang lại cả những lợi ích lẫn thách thức Phân tích dữ liệu thứ cấp và định lượng cho thấy hoạt động này góp phần nâng cao kỹ năng quản lý, tự lập cho sinh viên, nhưng cũng đặt ra nhiều áp lực về thời gian và công việc học tập Do đó, tham gia kinh doanh đem lại cả mặt tích cực và tiêu cực đối với sinh viên, ảnh hưởng đến quá trình học tập và phát triển cá nhân của họ.
Việc tham gia kinh doanh đa cấp giúp sinh viên có thêm nguồn thu nhập, rèn luyện kỹ năng và mở rộng mối quan hệ xã hội Tuy nhiên, đồng thời, vẫn tồn tại các công ty hoặc nhóm kinh doanh đa cấp bất chính hoạt động vì lợi nhuận mà không tuân thủ quy định, gây rủi ro cho sinh viên Những trường hợp này có thể khiến sinh viên không chỉ mất đi thu nhập mà còn đối mặt với nguy cơ mất vốn đầu tư hoặc bị lôi kéo vào mạng lưới kinh doanh trái pháp luật.
Nghiên cứu cho thấy phần lớn sinh viên tham gia vào hoạt động KDĐC gặp phải sự giảm sút rõ rệt trong kết quả học tập, do thời gian đến lớp bị giảm đi đáng kể để dành cho công việc này Trong số các bạn sinh viên tham gia KDĐC, có đến 36,7% bị kỷ luật bởi nhà trường trong thời gian hoạt động, trong đó 20% liên quan trực tiếp đến hoạt động KDĐC, còn lại 16,7% là do lý do khác, là con số đáng xem xét và cảnh báo về nguy cơ tăng trong tương lai Tuy nhiên, hoạt động KDĐC vẫn mang lại lợi ích tích cực khi giúp sinh viên phát triển các kỹ năng quan trọng như thuyết trình và phản biện, góp phần nâng cao năng lực phục vụ cho việc học tập và định hướng nghề nghiệp.
Tham gia kinh doanh đa cấp mang lại sự vui vẻ và thoải mái cho nhiều sinh viên, chủ yếu nhờ vào việc mở rộng các mối quan hệ xã hội và tích lũy kinh nghiệm thực tế, đồng thời tạo ra thu nhập cá nhân Khoảng 55% sinh viên cảm thấy hài lòng với công việc này, trong khi chỉ khoảng 10% gặp phải áp lực và mệt mỏi do các yếu tố như bị lừa đảo hoặc căng thẳng vì doanh số Tuy nhiên, hoạt động thể thao và hoạt động học tập của đa số sinh viên giảm đi do dành nhiều thời gian cho việc kinh doanh đa cấp.
1.2 Hạn chế của đề tài
Hạn chế của đề tài chủ yếu do giới hạn về tài chính, thời gian và nhân lực, khiến nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát ban đầu Khó khăn trong việc tìm kiếm và tiếp cận đối tượng nghiên cứu cũng ảnh hưởng đến phạm vi và sâu sắc của công trình Để cải thiện trong các đề tài tương lai, cần có nguồn lực đầy đủ hơn và phương pháp tiếp cận hiệu quả hơn để mở rộng quy mô nghiên cứu và nâng cao chất lượng kết quả.
60 sinh viên thuộc 2 trường ĐHKHTN và ĐHXHKHNV thuộc ĐHQG TP.HCM.
Khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các khuyến nghị quan trọng: Sinh viên cần trang bị kiến thức chính xác về hoạt động của các công ty đa cấp, tránh dựa vào thông tin không chính thống để đưa ra quyết định sáng suốt trước khi tham gia Gia đình sinh viên cần quan tâm, theo dõi hoạt động của con để đưa ra lời khuyên phù hợp, đồng thời can thiệp kịp thời khi phát hiện dấu hiệu bất chính từ các công ty đa cấp Các trường học và khoa, bộ môn nên phối hợp tổ chức hội thảo, tọa đàm giúp sinh viên hiểu rõ về thực trạng và hậu quả của hoạt động KDĐC tại Việt Nam, đặc biệt tại TP.HCM, để sinh viên có thể nhận thức cả mặt tích cực lẫn tiêu cực của công việc này Đoàn – Hội sinh viên cần tăng cường các hoạt động rèn luyện kỹ năng thực tiễn, tạo môi trường tích cực, thân thiện, giúp sinh viên phát triển bản thân và đồng hành cùng các bạn trong quá trình học tập Các cơ quan chức năng cần siết chặt kiểm tra và chế tài đối với các công ty đa cấp đã được cấp phép, đồng thời nghiên cứu đề xuất các quy định hạn chế sinh viên tham gia hoạt động KDĐC để phòng tránh rủi ro Nhóm tác giả cũng đề xuất mở rộng nghiên cứu trong tương lai với quy mô khảo sát lớn hơn, bao phủ nhiều trường thành viên của ĐHQG TP.HCM để mở rộng đối tượng và nâng cao tính tổng thể của nghiên cứu.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo tiếng Việt
1 Chính phủ (2005), Nghị định 110/2005/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp ngày 24/08/2005
2 Chính phủ (2005), Thông tư số 19/2005/TT-BTM hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP III
3 Chính phủ (2014), Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp
4 Đại học Đông Á (2011), Quá trình hình thành và phát triển của kinh doanh đa cấp tại Việt Nam, Đà Nẵng
5 Đại học Quốc gia TP.HCM (2016), Tên bài: “Lời giới thiệu”, Ngày truy cập 17/12/2016
6 Đặng Cảnh Khanh (2006), Xã hội học thanh niên, NXB Chính trị Quốc gia,
7 Đào Phú Quý (2010), Thuyết nhu cầu của A.Maslow với việc động viên người lao động, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội tập 26 số 2
8 Dương Ngọc Quỳnh (2009), Hoạt động kinh doanh đa cấp tại Việt Nam thực trạng và giải pháp, Đại học Ngoại thương, Hà Nội
9 Dương Thị Nga (2012), Phát triển năng lực thích ứng nghề nghiệp cho sinh viên cao đằng sư phạm, Thái Nguyên
10 Huỳnh Văn Sơn (2012), Thực trạng một số kỹ năng mềm của sinh viên Đại học Sư Phạm, Tạp chí Khoa học Sư phạm TP.HCM, TP.HCM
11 Lê Bí Bo (2017), Thực trạng bán hàng đa cấp ở TP.HCM, Tạp chí Dân chủ và Pháp Luật
12 Lê Hoàng Vũ (2010), Những tình huống bán hàng đa cấp bất chính tại Việt Nam, Hà Nội
13 Lê Thị Yên Di và Hoàng Công Thảo (2003), Nghiên cứu hoạt động học tập, làm thêm, đời sống tình cảm và giải trí của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn hiên nay, TP.HCM
14 Minh Tâm, Thanh Nghi và Xuân Lâm (1998), Từ điển Tiếng Việt, NXB Thanh Hóa, Thanh Hóa
15 Nguyễn Lân (2003), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM
16 Nguyễn Tất Thành (2014), Đời sống công nhân nhập cư tại Tp HCM,
Luận văn thạc sĩ Xã hội học, ĐHKHXHNV, TP.HCM
17 Nguyễn Trung Toàn (2011), Kinh doanh theo mạng: Trên con đường chinh phục thành công, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng
18 Nguyễn Viết Thông (2016), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
20 Quốc hội (2004), Luật cạnh tranh, ngày 03/12/2004, Hà Nội
21 Thanh Nhung (2016), Số lượng người tham gia đa cấp tại Việt Nam giảm hơn một nửa, báo điện tử Dân sinh, ngày truy cập: 20/09/2016
22 Trần Thị Hương Huế (2009), Hoạt động Marketing đa cấp tại công ty TNHH NONI VINA – Thực trạng và giải pháp phát triển, Hà Nội
23 Trịnh Tuyết (2016), Lỗ hổng lớn trong quản lý kinh doanh đa cấp, ngày truy cập: 07/03/2016
24 Trung tâm Báo chí và Hợp tác truyền thông Quốc tế (2016), Liên kết Việt
‘lừa’ 6 vạn người: Bộ Công Thương lần đầu lên tiếng, ngày truy cập: 29/02/2016
Tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài
1 Abraham Harold Maslow (1943), A Theory of Human Motivation,
2 Don Failla (2005), Kinh doanh theo mạng từ A đến Z, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
3 Richard Poe (2005), Làn sóng thứ ba: kỷ nguyên mới trong ngành kinh doanh theo mạng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
4 Robert T.Kiyosaki & Sharon L Lechter (2010), Dạy Con Làm Giàu tập 11
Trường dạy kinh doanh cho những người thích giúp đỡ người khác T.Kiyosaki,
Nhà xuất bản trẻ, Tp Hồ Chí Minh
PHỤ LỤC 1 PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN Địa điểm phỏng vấn:
Kính chào Anh/Chị! Nhóm tác giả là sinh viên nghiên cứu đến từ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đang thực hiện đề tài khảo sát về “Tác động của việc tham gia kinh doanh đa cấp đến đời sống của sinh viên Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh”.
Việc lựa chọn các Anh/Chị tham gia khảo sát đảm bảo sự thuận tiện và dễ dàng Nhóm tác giả cam kết giữ bí mật tất cả thông tin cá nhân của đối tượng, chỉ sử dụng dữ liệu đã cung cấp cho mục đích nghiên cứu khoa học Chính vì vậy, sự hợp tác của Anh/Chị sẽ góp phần quan trọng vào thành công của nghiên cứu này.
Anh/Chị tham gia trả lời câu hỏi bằng cách đánh dấu x vào lựa chọn phù hợp
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của anh/Chị!
I Câu hỏi chọn lọc Câu 1: Anh/chị đang học trường:
1 Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia TP.HCM
2 Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc Gia TP.HCM
Câu 2: Anh/chị có đang tham gia Kinh Doanh Đa Cấp (KDĐC) không?
II Thông tin cá nhân Câu 3: Giới tính
Câu 4: Anh/chị là sinh viên năm mấy?
Câu 5: Anh/chị biết về KDĐC qua đâu kênh thông tin nào dưới đây? (có thể chọn nhiều đáp án)
1 Qua thông tin đại chúng (báo chí, ti vi, mạng xã hội,…)
3 Qua người thân trong gia đình
4 Qua thành viên của các công ty này
III Câu hỏi tác động
1 Việc làm Câu 6: Vì sao anh/chị chọn công việc KDĐC? (Có thể chọn nhiều đáp án)
2 Muốn trau dồi các kỹ năng
3 Muốn mở rộng các mối quan hệ
4 Được thành viên của công ty kinh doanh đa cấp giới thiệu
Câu 7: Anh/chị đã tham gia KDĐC được bao nhiêu tháng? Câu 8: Thời gian (giờ) anh/chị dành cho công việc KDĐC mỗi ngày là bao nhiêu?
2 Thu nhập Câu 9: Thu nhập của anh/chị từ việc KDĐC trung bình mỗi tháng là bao nhiêu? (triệu) Câu 10: Ngoài thu nhập từ KDĐC, anh/chị còn có nguồn thu nhập nào khác không?
Câu 11: Nguồn thu nhập khác đó là gì?
2 Trợ cấp từ gia đình
3 Công việc làm thêm khác (ngoại trừ việc KDĐC)
Câu 12: Thu nhập của anh/chị từ việc KDĐC thường chủ yếu được sử dụng cho những hoạt động chi tiêu nào? (Có thể chọn nhiều đáp án)
3 Gửi tiền cho người thân
4 Vốn đầu tư Câu 13: Vốn đầu tư ban đầu mà anh/chị dành cho KDĐC là bao nhiêu? (triệu) Câu 14: Với số vốn đó anh/chị đầu tư cho việc gì? (Có thể chọn nhiều đáp án)
3 Các khóa học kỹ năng bán hàng
4 Các sản phẩm của công ty
5 Học tập Câu 15: Anh/chị đánh giá như thế nào về kết quả học tập sau khi tham gia KDĐC?
Thấp hơn rất nhiều Thấp hơn Giữ nguyên Tốt hơn Tốt hơn rất nhiều
Câu 16: Thời gian đến lớp sau khi tham gia KDĐC của anh/chị như thế nào?
Rất ít hơn Ít hơn Giữ nguyên Nhiều hơn Rất nhiều hơn
Câu 17: Công việc KDĐC có hỗ trợ như thế nào cho việc học tập của anh/chị?
Rất ít hơn Ít hơn Giữ nguyên Nhiều hơn Rất nhiều hơn
Câu 18: Trong quá trình tham gia KDĐC anh/chị có bị kỷ luật về mặt học tập trong trường hay không?
Câu 19: Việc kỷ luật đó có liên quan đến công việc KDĐC hay không?
Câu 20: Hoạt động kinh doanh đa cấp giúp cho anh/chị có những kỹ năng giao tiếp gì? (Có thể chọn nhiều đáp án)
Câu 21: Công việc kinh doanh đa cấp giúp anh/chị mở rộng các mối quan hệ xã hội như thế nào?
Rất ít hơn Ít hơn Bình Thường Nhiều hơn Rất nhiều hơn
Câu 22: Thời gian anh/chị dành cho các mối quan hệ xã hội so với trước khi tham gia KDĐC như thế nào?
Rất ít hơn Ít hơn Giữ nguyên Nhiều hơn Rất nhiều hơn
Gia đình 1 2 3 4 5 Đoàn, Hội, CLB – Đội – Nhóm 1 2 3 4 5
Câu 23: So với trước khi tham gia Kinh doanh đa cấp, mức độ anh/chị tham gia vào các hoạt động cộng đồng như thế nào?
Rất ít hơn Ít hơn Giữ nguyên Nhiều hơn Rất nhiều hơn
Câu 24: Khi biết anh/chị tham gia kinh doanh đa cấp, bạn bè thể hiện thái độ gì?
Rất phản đối Phản đối Bình thường Ủng hộ Rất ủng hộ
Câu 25: Khi tham gia KDĐC anh/chị cảm thấy như thế nào?
1 Vui vẻ, thoải mái (trả lời câu 27 và từ câu 29 trở đi)
2 Bình thường (trả lời từ câu 29)
3 Áp lực, mệt mỏi (bỏ qua câu 28)
Câu 26: Tại sao anh/chị cảm thấy vui vẻ, thoải mái khi tham gia KDĐC? (Có thể chọn nhiều đáp án)
1 Công việc phù hợp với sở thích
2 Công việc mang lại thu nhập cao
3 Tiếp cận và mở rộng thêm nhiều mối quan hệ
4 Môi trường làm việc thân thiện
Câu 27: Tại sao anh/chị cảm thấy áp lực, mệt mỏi khi tham gia KDĐC? (Có thể chọn nhiều đáp án)
1 Mục tiêu về doanh số quá cao
2 Lo lắng bị lừa đảo
3 Công việc làm ảnh hưởng đến mối quan hệ bạn bè, gia đình, họ hàng
4 Khó khăn trong việc phải cân bằng giữa việc học và việc làm
Câu 28: Anh/chị đánh giá như thế nào về thời gian dành cho các hoạt động giải trí sau khi tham gia KDĐC
Rất ít hơn Ít hơn Giữ nguyên Nhiều hơn Rất nhiều hơn
9 Hoạt động thể chất Câu 29: Anh/chị đánh giá như thế nào về thời gian dành cho việc tập thể dục sau khi tham gia
Rất ít hơn Ít hơn Giữ nguyên Nhiều hơn Rất nhiều hơn
BẢNG HỎI PHỎNG VẤN SÂU Địa điểm phỏng vấn:
1 Lý do anh/chị quyết định tham gia KDĐC là gì?
2 Anh/chị đầu tư cho những việc gì khi tham gia KDĐC? Việc đầu tư đó, công ty có bắt buộc hay không?
3 Kết quả học tập của bạn sau khi tham gia KDĐC như thế nào? Tại sao?
4 Những kỹ năng mà bạn có được khi tham gia là gì? Những kỹ năng đó giúp ích cho bạn như thế nào trong công việc và trong học tập?
5 Sau khi tham gia KDĐC, mức độ anh/chị tham gia các hoạt động xã hội như thế nào? Tại sao?
6 Kể từ khi tham gia KDĐC, anh/chị có thêm những mối quan hệ nào không? Những mối quan hệ đó giúp gì cho anh/chị trong công việc?
7 Thời gian anh/chị dành cho gia đình sau khi tham gia KDĐC như thế nào? Tại sao?
8 Sau khi tham gia KDĐC, mức độ thời gian anh/chị dành cho các hoạt động vui chơi, giải trí như thế nào? Tại sao?
PHỤ LỤC 2 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU
Mã số 01 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PVS
Thông tin chung của người được phỏng vấn: Địa điểm phỏng vấn: ĐHKHXHNV Thời gian phỏng vấn: 17/3/2017 Tuổi: 20
Người thực hiện: Đinh Lương Chính Thiện
NỘI DUNG PHỎNG VẤN Bạn đã tham gia hoạt động KDĐC, đã tham gia được bao lâu?
Tính đến nay khoảng 5 tháng
Bạn tham gia do tự tìm hiểu hay được ai giới thiệu?
Người quen giới thiệu, quen biết trên facebook Người quen này đã tốt nghiệp ĐH Huế Họ cũng tham gia kinh doanh đa cấp
Bình muốn tham gia vào KDĐC với mục đích tăng thu nhập hay là mục đích nào khác?
Ban đầu, nhiều người bắt đầu tham gia do có thời gian rảnh rỗi và mong muốn kiếm thêm thu nhập để phụ giúp gia đình cũng như tự chủ kinh tế Một lợi thế của công việc này là khả năng phát triển kỹ năng thuyết phục và giao tiếp tốt hơn, từ đó mở rộng các mối quan hệ xã hội.
Ngoài kinh nghiệm thuyết phục khách hàng thì bạn còn học được gì từ kinh doanh đa cấp?
Khả năng SEO ngày càng quan trọng trong việc tăng khả năng tiếp cận khách hàng và nâng cao hiệu quả kinh doanh Một số phần mềm định vị giúp kết bạn và bán hàng dễ dàng hơn, tiết kiệm thời gian và nâng cao trải nghiệm người dùng Ban đầu, việc sử dụng các phần mềm này có thể tốn nhiều thời gian, nhưng sau một thời gian, người dùng có thể phân chia thời gian hợp lý để tối ưu quá trình làm việc Nhờ sử dụng smartphone, công việc diễn ra linh hoạt mà không bị ràng buộc về mặt thời gian, giúp nâng cao hiệu suất và tiết kiệm thời gian hiệu quả.
Công ty có chính sách gì cho nhân viên không?
Thành viên sẽ được ưu đãi với giá gốc, thấp hơn nhiều so với mức giá bán lẻ bên ngoài, khi lấy hàng từ công ty Ngoài ra, sau khi tham gia hơn 6 tháng, bạn sẽ nhận được phần mềm định vị miễn phí để hỗ trợ bán hàng online cho khách quốc tế Điều này giúp giảm thiểu chênh lệch giá và nâng cao khả năng kinh doanh hiệu quả.
Trong công ty có hệ thống chia cấp bậc rõ ràng, mức độ tham gia càng cao thì hoa hồng càng lớn, mang lại nhiều ưu đãi hơn Các vị trí từ cộng tác viên, nhân viên, đội trưởng đến quản lý đều có chính sách thưởng và ưu đãi riêng, phù hợp với từng cấp bậc Việc nâng cấp cấp bậc sẽ dựa trên thành tích và số lượng nhân viên mà người đó tuyển dụng được Ngoài ra, công ty còn tổ chức các sự kiện trong tuần để tuyên dương những cá nhân bán hàng xuất sắc, nhằm khích lệ và thúc đẩy tinh thần làm việc.
Vấn đề về thù lao thì sao?
Công ty không gửi hàng cho tôi, tôi trực tiếp thu nhập từ việc lấy hàng của công ty và bán ra để hưởng chênh lệch lợi nhuận Khả năng tự chủ trong hoạt động kinh doanh giúp tôi phụ thuộc vào khả năng cá nhân để đạt được hiệu quả cao nhất.
5 tháng tại đây thì chi phí bỏ ra so với thu về thì sao?
Mặc dù thu nhập không cao, nhưng so với khoản chi tiêu hàng ngày, tôi cũng có chút dư dả Tuy nhiên, do công việc dày đặc và thời gian dành cho kinh doanh hạn chế, tôi rất khó để tập trung phát triển doanh nghiệp một cách hiệu quả.
Thời gian dành cho công việc kinh doanh đa cấp của bạn như thế nào?
Rảnh thì từ 5-6 giờ, bận thì 3-4 giờ
Lịch làm việc như vậy có ảnh hưởng đến thời gian học không?
Ví dụ như thời gian sắp thi cũng có ảnh hưởng Lúc bình thường thì do mình tự sắp xếp nên không ảnh hưởng nhiều
Bạn có chịu áp lực nào của công ty không?
Tôi linh hoạt trong việc bán hàng, có thể làm vào thời gian rảnh rỗi bất cứ lúc nào Do công việc chủ yếu là bán hàng cho công ty theo chính sách của công ty, tôi chỉ cần đảm bảo duy trì nguồn hàng ổn định Vì vậy, tôi chủ động trong hoạt động kinh doanh để phù hợp với lịch trình cá nhân.
Bạn gặp khó khăn gì trong quá trình tham gia kinh doanh đa cấp?
Kinh doanh có hai mặt: mặt lợi là phát triển kỹ năng giao tiếp và thuyết phục khách hàng, giúp nâng cao khả năng bán hàng Tuy nhiên, quá trình kinh doanh cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những vấn đề xã hội nhạy cảm như gặp phải những người gạ gẫm hoặc nói chuyện về các vấn đề nhạy cảm Một số trường hợp đồng nghiệp của tôi đã gặp phải tình trạng gửi hàng xong không nhận được thanh toán, gây thiệt hại về tài chính và ảnh hưởng đến uy tín trong công việc.
Công ty có hỗ trợ gì trong những trường hợp đó không?
Chia thành đội nhóm, nhưng chỉ hỗ trợ một phần Tuy nhiên do khả năng của mình: chốt đơn hàng không đúng, kỹ thuật mình không đúng,
Vấn đề về học lực thì sao?