1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Chính sách tiền tệ chống lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

24 540 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 175,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách tiền tệ chống lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp



Đề tài

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CHỐNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG GIAI

ĐOẠN HIỆN NAY

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS Nguyễn Quốc Anh

SINH VIÊN THỰC HIỆN: Trần Thị Mỹ Phượng

LỚP : TCDN04 – K31

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008

Trang 3

Nhận xét và chấm điểm của thầy:

.

.

.

.

.

Trang 5

Mục lục trang

Lời mở đầu 4

I - Giải pháp cơ sở để chống lạm phát 4

II - Để chống lạm phát, mới đây, Ngân hàng Nhà nước tung ra 4 động thái: 5

1/Tăng tỷ lệ dự trữ bẳt buộc thêm 1%: 3

Mục đích của tăng tỷ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc: 6

2/Ban hành Quyết định 03: 7

ảnh hưởng quyết định 03 lên thị trường chứng khoán: 9

3/Tăng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu: 10

A - Tăng lãi xuất cấp vốn: 10

a.Tình hình lãi xuất ở cách ngân hàng thương mại trong thời gian gần đây: 10

b.Đâu là nguyên nhân tăng lãi xuất: 10

c.Dự báo những tác động của việc lãi suất tiền đồng tăng cao: 13

B - Tăng lãi suất chiết khấu: 15

a Tác động của lãi xuất chiết khấu lên hệ thống ngân hàng thương mại: 15

b.Tác động đến thị trường chứng khoán: 16

c.Tác động đến đầu tư: 16

4/ "Hút" 20.300 tỷ đồng từ tín phiếu bắt buộc: 18

Vậy chính sách thắt chặt tiền tệ có làm giảm lạm phát ko? 20

Tài liệu tham khảo: 22

Trang 6

Để giữ đồng tiền Việt ổn định (nhằm giữ lợi thế cho xuất khẩu), cơ quantiền tệ Việt Nam đã phải mua vào ngoại tệ với lượng ngày càng lớn Do đó,hằng năm một lượng lớn tiền đã được đẩy vào lưu thông Lượng tiền này cóthể lên tới 15% GDP hoặc hơn.

Một chính sách nên được tiến hành đồng bộ với chính sách trên là thắt chặthợp lý tăng trưởng tiền tệ và tín dụng Nhưng trong thời gian vừa qua, nó đãkhông được thực hiện Kết quả là lạm phát đã trở thành một hiện tượng kinhniên

I - Giải pháp cơ sở để chống lạm phát:

1 Lạm phát hiện nay ở nước ta nên được xem xét nghiêm túc và thẳngthắng là có căn nguyên từ chính sách tiền tệ Trên cơ sở đó, các chính sáchchống lạm phát nên mang tính tiền tệ Điều ấy đồng nghĩa với việc nên hạn chế

sử dụng chính sách tài khóa (như giảm thuế một số mặt hàng được quan sátthấy là tăng nhanh nhất), hay chính sách hành chính (đốc thúc doanh nghiệp,kêu gọi sự hỗ trợ của người dân) Chúng tôi cho rằng các biện pháp tài khoá vàhành chính đều mang tính thoả hiệp, tạm thời và có khuynh hướng che đậy bảnchất thực sự của lạm phát Đi kèm với nó là chi phí cao, hiệu quả thấp

2 Các biện pháp tiền tệ mang tính gốc rễ là giảm tốc độ tăng tiền và tíndụng Các biện pháp như tăng dự trữ bắt buộc hay phát hành trái phiếu chỉ nêncoi là tức thời và cục bộ mà thôi Ví dụ, chính sách tăng dự trữ bắt buộc khiếnkhối ngân hàng gánh nhiều chi phí hơn các khu vực khác trong công cuộcchống lạm phát Ngược lại, việc cắt giảm tín dụng và cung tiền trên toàn nềnkinh tế, áp dụng cho toàn bộ các thành phần kinh tế, sẽ san sẻ chi phí chốnglạm phát một cách bình đẳng hơn

3 Bên cạnh cam kết chống lạm phát đã được thể hiện rõ ràng của chínhphủ, cần công khai các biện pháp cụ thể để thể hiện cam kết là đáng tin cậy,đồng thời ràng buộc chính phủ vào cam kết đó Điều này sẽ giúp người dânhình thành kỳ vọng về mức lạm phát thấp trong tương lai (nếu họ biết và tincác chính sách là đúng đắn và cứng rắn), dẫn đến khả năng thành công dễ dànghơn của chính sách chống lạm phát (Một chính sách chỉ có hiệu lực khi người

ta tin là nó có hiệu lực)

4 Không nên duy trì quan điểm cho rằng lạm phát thấp hơn mức tăngtrưởng GDP là tốt, mà có lẽ chỉ nên coi đây như một kinh nghiệm để phấn đấu

Trang 7

khi lạm phát đã thành một sự đã rồi Hiện nay chưa tìm thấy căn cứ khoa họccho luận điểm nêu trên, do đó, chúng ta không nên tự ràng buộc mục tiêu lạmphát vào một giới hạn khá dễ dãi (khoảng 8%), để rồi lại bị cuốn vào nỗi lo conrồng sẽ giật đứt dây xích

II - Để chống lạm phát, mới đây, Ngân hàng Nhà nước tung ra 4 động thái:

 Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1%

 Ban hành Quyết định 03

 Tăng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu

"Hút" 20.300 tỷ đồng từ tín phiếu bắt buộc.

1/Tăng tỷ lệ dự trữ bẳt buộc thêm 1%:

Ngày 16/1/2008, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN ngày 16/01/2008 về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu mở rộng diện các loại tiền gửi phải

dự trữ bắt buộc bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn so vớiquy đinh hiện nay là áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và

có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống

Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% đối với các loại tiền gửi so với tỷ

lệ quy định hiện nay Cụ thể là: đối với tiền VND không kỳ hạn và có kỳ hạndưới 12 tháng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi

có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 4% lên 5%;đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắtbuộc tăng từ 4% lên 5%

Theo đó, bắt đầu từ kỳ thực hiện dự trữ bắt buộc tháng 7/2004, tỷ lệ dự trữbắt buộc đối với tiền gửi Đồng Việt Nam của các ngân hàng thương mại Nhànước, ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánhngân hàng nước ngoài, Công ty tài chính tăng từ 2% lên 5%; riêng Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tăng từ 1,5% lên 4% trên tổng

số tiền gửi phải dự trữ bắt buộc của loại không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12tháng; tăng từ 1% lên 2% đối với tiền gửi từ 12 tháng đến 24 tháng Tỷ lệ dựtrữ bắt buộc đối với ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, Quỹ tín dụngTrung ương, Ngân hàng hợp tác tăng từ 1% lên 2% Tỷ lệ dự trữ bắt buộc ápdụng đối với tiền gửi ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng từ 4%tăng lên 8%, từ 12 tháng đến 24 tháng tăng từ 1% lên 2%

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắtbuộc đối với các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn nông nghiệp nôngthôn

Trang 8

Việc thay đổi cơ chế và tỷ lệ dự trữ bắt buộc chưa áp dụng ngay trong tháng1/2008 mà có hiệu lực thi hành kể từ tháng 2/2008, để tạo điều kiện cho các tổchức tín dụng chuẩn bị vốn để dự trữ bắt buộc

Mục đích của tăng tỷ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc:

Mục đích của tăng tỷ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc lần này là nhằm hạn chế hệ

số nhân tiền, kiềm chế mức độ tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế củangân hàng thương mại Bởi vì kế hoạch tăng trưởng tín dụng trong các nămđược đề ra là không quá 25%, mà tính quy luật tín dụng thường tăng trưởngcao trong các tháng cuối năm do nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh các thángcuối năm

Mục đích điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lần này nhằm đạt được yêucầu nói trên, nhằm rút bớt khối lượng trong lưu thông về Ngân hàng Nhà nước,với mức độ thu rút về gấp 2 lần so với mức trước đó Riêng đối với tiền gửingoại tệ tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng cao, còn nhằm không khuyến khích các ngânhàng thương mại tăng lãi suất và không khuyến khích tăng cường huy độngvốn ngoại tệ, hạn chế tình trạng đô la hoá tài sản nợ trong hệ thống ngân hàng

Đi kèm với giải pháp trên, để kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng theomục tiêu đề ra từ đầu năm, các ngân hàng thương mại Nhà nước, chiếm tới trên75% thị phần cho vay toàn ngành ngân hàng, bắt đầu từ tháng 7/2004, thựchiện Sổ tay tín dụng theo thông lệ quốc tế Theo đó các khoản cho vay ra sẽđược kiểm soát chặt chẽ hơn và bảo đảm đúng các nguyên tắc tín dụng

Một biện pháp quan trọng khác do tác động từ việc tăng tỷ lệ dự trữ bắtbuộc cũng như do nhận thức chủ động của các ngân hàng thương mại, đó là sẽhạn chế cho vay các dự án có tiềm ẩn rủi ro, kiên quyết không cho vay vốn các

dự án có số vốn đầu tư lớn mà xét thấy không có hiệu quả, như: dự án nhà máygiấy Thanh Hoá có số vốn lên tới trên 1.700 tỷ đồng, dự án phân DAP ở HảiPhòng, dự án nhà máy bột giấy ở Kon Tum Tuy nhiên các ngân hàng thươngmại vẫn mở rộng cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay kinh tế trangtrại, đánh bắt và nuôi trồng, chế biến thuỷ hải sản, kinh tế hộ nông dân Đây

là đối tượng khách hàng và lĩnh vực đang được hệ thống ngân hàng đánh giá làhoạt động có hiệu quả, có khả năng hoàn trả vốn vay đúng hạn, tạo được sốđông việc làm mới cho người lao động

Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc về nguyên lý sẽ làm tăng chi phí đầu vào tronghoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Do đó để hoạt động bìnhthường trong điều kiện tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng như trên thì hoặc là ngânhàng thương mại phải tăng lãi suất cho vay tương ứng từ 1% đến 4% so vớimức lãi suất trước đó, hay tăng thêm 0,2% - 0,4%/năm so với mức lãi suất hiệnhành Khi lãi suất cho vay vốn bị tăng lên thì khách hàng, nhất là các doanhnghiệp sẽ phải cân nhắc đến nhu cầu vay Hoặc là nếu không tăng thêm lãi suấtcho vay thì đương nhiên tỷ lệ lợi nhuận của các ngân hàng thương mại sẽ bịgiảm xuống

Trang 9

Nhưng đợt tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lần này của Ngân hàng Nhà nước điliền với việc trả lãi cho số tiền gửi dự trữ bắt buộc phù hợp với thông lệ quốc

tế, thay cho việc không trả lãi như trước đây Như vậy các ngân hàng thươngmại cũng được lợi Ngược lại, Ngân hàng Nhà nước sẽ không trả lãi cho số tiềngửi vượt mức dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước, thay cho việc trước đây

số tiền này vẫn được trả lãi Như vậy các ngân hàng thương mại sẽ buộc phảitính toán đến việc tối ưu hoá nguồn vốn khả dụng của mình Điều đó cũng cónghĩa là, việc Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng cao tỷ lệ dự trữ bắt buộclần này không có tác động làm tăng lãi suất cho vay, khi mà mức lãi suất nàyhiện nay bình quân đã lên tới 11%/năm, cao nhất tới 14%/năm, được đánh giá

là quá cao so với các nước trong khu vực

Trong khi đó Ngân hàng Nhà nước vẫn cam kết không tăng các loại lãisuất của mình, tức là vẫn giữ mức lãi suất cơ bản là 7,5%/năm, lãi suất tái cấpvốn là 5%/năm, lãi suất chiết khấu 3,0%/năm, nhằm ổn định mức lãi suất trênthị trường Còn lãi suất thị trường mở và lãi suất đấu thầu tín phiếu Kho bạcNhà nước thì tuỳ theo quan hệ cung cầu về vốn của các Tổ chức tín dụng Tuy nhiên quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tác động đến việc hạn chếtín dụng, cũng như các biện pháp khác của các ngân hàng thương mại kiềm chếtín dụng, nhất định sẽ có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Trong điềukiện hiện nay chỉ số tăng giá lên cao được đánh giá là bản chất không phải dothừa tiền trong lưu thông, mà do chi phí đẩy, do cầu kéo một số mặt hàng, docác yếu tố biến động giá cả trên thị trường thế giới Thiết nghĩ cần được tínhtoán sát sao hơn trong việc đưa ra các biện pháp điều hành vĩ mô mà có thể ảnhhưởng không những đến tăng trưởng, mà còn là công ăn việc làm và thu nhậpcủa người lao động

Tiền khan hiếm, tổng phương tiện thanh toán bị rút bớt, việc làm khôngtăng, thu nhập bị ảnh hưởng, từ đó nó ảnh hưởng ngay đến sức mua trên thịtrường xã hội và đương nhiên là tác động ngược lại chính sự phát triển sản xuấtkinh doanh khi hàng hoá và dịch vụ tiêu thụ chậm Với những tác động đó dễdàng nhận thấy được xu hướng diễn biến của chỉ số giá cả Có thể đến lúc đómục tiêu tăng trưởng nền kinh tế mới lại được ưu tiên, thì lại cần phải có thờigian mới đạt được

Phản ứng đầu tiên từ các ngân hàng thương mại cho thấy, ngay sau khinhận được thông tin về Quyết định điều chỉnh dự trữ bắt buộc, các NHTM Nhànước cho biết sẽ tiết kiệm chi phí quản lý và không tăng lãi suất cho vay Đồngthời đề nghị, Ngân hàng Nhà nước theo dõi sát các diễn biến của thị trườngtiền tệ để áp dụng kịp thời các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ thích hợpnhằm ổn định thị trường tiền tệ

2/Ban hành Quyết định 03:

Ngày 1/2, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chính thức ban hành Quyết định

03 thay thế Chỉ thị 03 về cho vay đầu tư chứng khoán .

Trang 10

Đúng vào ngày thị trường chứng khoán đóng cửa, Thống đốc Nguyễn VănGiàu đã ký ban hành Quyết định 03 thay cho Chỉ thị 03 về việc cho vay, chiếtkhấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán.

Ngoài tầm của sự kiện được chờ đợi trong suốt thời gian qua, thời điểm banhành cũng đáng chú ý: một bước đệm nghỉ Tết sẽ giảm bớt áp lực tác độngcũng như những phản ứng từ dư luận

Không có gì mới ngoài những thông tin mà Ngân hàng Nhà nước đã đưa ratrước đó:

Thứ nhất, quy định các điều kiện đối với các tổ chức tín dụng cho vay đầu

tư chứng khoán nhằm yêu cầu tuân thủ pháp luật về tín dụng và bảo đảm antoàn trong hoạt động cho vay, như phải ban hành quy trình nghiệp vụ cho vayloại này làm cơ sở cho việc thanh tra, giám sát hoạt động cho vay; đảm bảo các

tỷ lệ an toàn theo quy định; có tỷ lệ nợ xấu dưới 5%; thực hiện hạch toán,thống kê chính xác, báo cáo đúng thời hạn các khoản cho vay để phục vụ choquản trị kinh doanh nội bộ và giám sát của Ngân hàng Nhà nước

Thứ hai, hệ số rủi ro của các khoản cho vay đầu tư chứng khoán để tính hệ

số an toàn vốn tối thiểu là 250% (trước đây là 150%); theo đó, các tổ chức tíndụng sẽ phải xem xét, quyết định cho vay một cách thận trọng

Thứ ba, tổng dư nợ cho vay loại này không vượt quá 20% vốn điều lệ Biệnpháp kiểm soát tín dụng này gắn quy mô, rủi ro cho vay đầu tư chứng khoánvới quy mô vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, đồng thời tránh được tình trạngtăng tổng dư nợ tín dụng nếu quy định giới hạn tỷ lệ % trên tổng dư nợ nhưtrước đây

Với quy định này, cho vay đầu tư chứng khoán không quá mở rộng chovay, nhiều ngân hàng có dư nợ cho vay ở mức thấp so với vốn điều lệ vẫn cóthể tiếp tục cho vay

Thứ tư, khi cơ chế cho vay mới có hiệu lực thi hành, nếu các tổ chức tíndụng đáp ứng được các quy định nêu trên thì tiếp tục cho vay Các tổ chức tíndụng chưa đáp ứng được các quy định đó thì không được phép cho vay; khiđáp ứng được các quy định này thì mới được tiếp tục trong giới hạn cho phép Như vậy, sau 7 tháng có hiệu lực và có ảnh hưởng sâu rộng đến thị trườngchứng khoán và hoạt động của nhiều ngân hàng thương mại, Chỉ thị 03 chínhthức kết thúc sứ mệnh

Theo Ngân hàng Nhà nước, nếu kéo dài biện pháp khống chế tỷ lệ dư nợcho vay đầu tư chứng khoản ở 3% tổng dư nợ theo Chỉ thị 03 sẽ tạo nên yếu tốtâm lý không thuận lợi đối với thị trường và hoạt động kinh doanh của các tổchức tín dụng Đây là lý do để cơ quan này ban hành Quyết định 03 với mộtphương thức mới

Hiện tại, về phương thức cho vay mới theo quy mô vốn điều lệ, có nhữngnhận định trái chiều, có sự ủng hộ và cả thất vọng Và có thể Quyết định 03 sẽtiếp tục là đề tài tốn giấy mực như Chỉ thị 03 trước đó

Trang 11

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ngay cả khi theo phương án cũ hay mới, cácngân hàng vẫn có khả năng cung ứng một lượng tín dụng lớn Ngay khi theoChỉ thị 03, cả hệ thống cũng chỉ dùng chưa hết một nửa (1,37%), tương ứngvới 11.400 tỷ đồng.

Còn với Quyết định 03, Ngân hàng Nhà nước cho rằng đây là một trongnhững giải pháp góp phần đảm bảo an toàn tín dụng và làm cho thị trườngchứng khoán phát triển ổn định, lành mạnh

Với cơ chế mới, dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán tiếp tục được kiểm soátchặt chẽ, khả năng dư nợ tăng lên không lớn so với cuối năm 2007

ảnh hưởng quyết định 03 lên thị trường chứng khoán:

Về tác động ngược lại mong muốn đối với thị trường chứng khoán là rõnhất của việc thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt hiện nay Từ sau TếtNguyên đán Mậu Tý đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam có 10 phiêngiao dịch thì có tới 9 phiên “đỏ sàn”

Sự tác động nói trên là đúng quy luật bởi nguyên lý chung là giữa thịtrường chứng khoán và thị trường tiền tệ có mối liên hệ mật thiết với nhau Khithị trường tiền tệ nóng lên, lãi suất tăng cao thì thị trường chứng khoán đixuống

Về tác động đến thị trường bất động sản, thì đang tương đối nhìn thấy rõnhất Hiện nay các giao dịch bất động sản đã chậm lại, giá cả không tăng Tuynhiên nhiều lo ngại là do tác động thắt chặt tiền tệ “quá liều” gây đóng băng thịtrường này, hay sụt giảm quá mức như thị trường chứng khoán bị tác động củaChỉ thị 03 như trong năm 2007 Bởi vì các nhu cầu vay vốn bất động sản hiệnnay hầu như bị dừng hẳn, kể cả người vay là các doanh nghiệp chủ dự án, kể cảkhách hàng cá nhân Tình trạng dừng cho vay cả khách hàng cá nhân có nhucầu đích thực về nhà ở chứ không phải là đầu cơ

TP.HCM hơn 300 doanh nghiệp địa ốc đang lên tiếng “kêu cứu” Họ chorằng ngân hàng ngưng cho vay bất động sản thì chỉ có “nước chết” Hàng loạtcán bộ, nhân viên, người nghèo,… mua nhà trả góp,… nay bị ngân hàng ngưngkhông cho vay, không có tiền trả cho dự án và trả nợ ngân hàng; các doanhnghiệp không có tiền triển khai dự án do ngân hàng không cho vay, hàng loạt

dự án bất động sản bị đình trệ Hậu quả tiếp theo là nợ quá hạn gia tăng

Hệ thống ngân hàng được ví như mạch máu trong một cơ thể Dòng vốntrong nền kinh tế chu chuyển liên tục phản ánh qua hệ thống ngân hàng Giữathị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản,… có sựliên thông và liên hệ mật thiết với nhau Thị trường bất động sản bị ngưng trệ,thị trường chứng khoán sụt giảm kéo dài, vốn cho sản xuất kinh doanh phảichịu chi phí lãi suất quá cao và không hiệu quả,…nợ quá hạn ngân hàng giatăng, các ngân hàng thương mại sẽ đi về đâu, là điều dễ tiên lượng Quyết định 03/2008/QĐ-NHNN thay thế cho chỉ thị 03 về hạn chế cho vaycầm cố chứng khoán khi mới ban hành, nhà đầu tư chứng khoán lầm tưởng làbiện pháp nới rộng cho vay chứng khoán nhằm giải cứu thị trường, nhưng thực

Trang 12

chất đây lại là quyết định siết chặt cho vay chứng khoán Quyết định này ra đờitrong bối cảnh nhiều tổ chức lên tiếng kêu gọi giải cứu thị trường, cũng đãchứng tỏ ngân hàng Nhà nước không thể có lựa chọn nào khác: phải ưu tiênchống lạm phát, hơn là giải cứu thị trường chứng khoán.

3/Tăng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu:

A - Tăng lãi xuất cấp vốn:

a.Tình hình lãi xuất ở cách ngân hàng thương mại trong thời gian gần đây:

NHTM bước vào cuộc đua tăng lãi suất khốc liệt nhất

Trong những ngày gần đây hàng loạt ngân hàng thương mại công bố tăng

lãi suất huy động vốn Đồng Việt Nam với mức lãi suất tăng khá, tăng thêm từ0,12% - 0,48%/năm so với trước đó

Mức tăng lớn nhất vẫn thuộc về các ngân hàng thương mại cổ phần, kể cảcác ngân hàng thương mại cổ phần quy mô còn khiêm tốn mới chuyển từ nôngthôn lên đô thị, như SHB, An Bình,…đến các ngân hàng thương mại hạngtrung bình khá như: SeABank, VPBank, Phương Nam, Phương Đông, NHTM

CP Sài Gòn… và ngay cả những NHTM cổ phần có thương hiệu khá hay quy

mô lớn, như: Eximbank, Techcombank, Đông Á, ACB,…Từ ngày 18/2/2008,Eximbank thực hiện một đợt tăng lãi suất lớn nhất, với mức tăng thêm tới0,84%/năm so với mức lãi suất trước đó, kỳ hạn 6 tháng lên tới 9,0%/năm.Hiện nay lãi suất huy động vốn VND tăng cao nhất của một số NHTM cổphần lên tới 0,85%/tháng hay 10,20%/năm cho kỳ hạn 24 tháng, lên tới 0,80%/tháng, hay 9,6%/năm cho kỳ hạn 12 tháng,…Lãi suất huy động vốn VND kỳhạn 12 tháng của NHTM CP Sài Gòn lên tới 9,72%/năm, tương đương0,81%/tháng; của Techcombank lên tới 9,6%/năm Thậm chí lãi suất huy độngcủa nhiều Quỹ tín dụng nhân dân kỳ hạn 12 tháng lên tới 0,90%/tháng, hay10,80%/năm

Một số NHTM bên cạnh việc tăng lãi suất còn đưa ra một số hình thức huyđộng vốn hấp dẫn khác, như: quay số dự thưởng với trị giá các giải thưởngbằng hiện vật lên tới hàng tỷ đồng, triển khai hình thức gửi tiền với lãi suất linhhoạt, khách hàng được rút tiền bất kỳ lúc nào có nhu cầu nhưng được hưởng lãisuất có kỳ hạn, lãi suất luỹ tiến theo số tiền gửi…

Đặc biệt đánh vào tâm lý khách hàng trong điều kiện chỉ số giá tăng cao, từngày 18/2/2008, có ngân hàng còn đưa ra hình thức huy động vốn VND: “Lãisuất bù lạm phát” Ngoài lãi suất thông thường, khách hàng gửi tiền kỳ hạn 12tháng được ngân hàng này cam kết bù một phần hoặc toàn bộ chênh lệch giữalãi suất và tỷ lệ lạm phát thực tế, nhằm đảm bảo cho khách hàng gửi tiền đượchưởng lãi suất không bị thiệt khi lạm phát tăng cao

b.Đâu là nguyên nhân tăng lãi xuất:

Hiển nhiên là do tình trạng thị trường tiền tệ nóng lên, vốn VND khanhiếm Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hầu như chỉ có người vay mà

Ngày đăng: 10/06/2014, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w