Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về thơ Tố Hữu
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu, bao gồm các chuyên luận, bài viết của các nhà nghiên cứu như Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, cũng như các luận văn, luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh và học viên cao học.
Nghiên cứu về thơ Tố Hữu đã có lịch sử từ rất sớm, bắt đầu từ năm 1939, khi thơ của ông mới xuất hiện trên báo Mới Nhà phê bình văn học “K v¯ T” đã nhận định rất nhạy bén và sâu sắc về nhà thơ trẻ tuổi này, khẳng định Tố Hữu sở hữu nền tảng nghệ thuật vững vàng và sống đam mê, sống dồi dào Ông nhấn mạnh rằng thơ của Tố Hữu là nguồn sinh lực mạnh mẽ phục vụ cho lý tưởng cách mạng, đồng thời khẳng định ông là nhà thơ cách mạng tài năng, là nhà thơ tương lai của văn hóa Việt Nam.
Chỉ trong vòng một tháng, Trần Minh Tước một lần nữa thể hiện lòng cảm xúc đặc biệt dành cho Tố Hữu qua báo Mới Anh đã ca ngợi những lời thơ dũng cảm và sáng tạo của Tố Hữu, một thi nhân trẻ tuổi nhưng giàu cảm xúc, thể hiện tinh thần kiên cường của nhà thơ trong các tác phẩm của mình.
Sau Cách mạng Tháng Tám, tập thơ đầu tay của Tố Hữu, được Hội Văn hóa Cứu quốc ấn hành năm 1946, thể hiện sự trưởng thành về tư duy và cảm xúc của nhà thơ trong giai đoạn đấu tranh cách mạng Trong Lời giới thiệu, Trần Huy Liệu nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa tiến trình sáng tác và trình độ giác ngộ cách mạng của Tố Hữu, cho thấy sự phát triển không ngừng của nhà thơ qua từng giai đoạn đấu tranh Tập thơ phản ánh rõ nét nhiệm vụ cách mạng và cảm xúc chân thành của Tố Hữu đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, góp phần khẳng định vị trí của ông trong nền văn học cách mạng Việt Nam.
Tập thơ Việt Bắc được phân tích dựa trên các tiêu chí đánh giá hiện thực, tính đảng và tính giai cấp Trong khi có luồng ý kiến phủ định xuất phát từ bài viết của Hoàng Yến và tiếp nối qua Hoàng Cầm, thì nhiều tác giả khác, như Xuân Diệu, vẫn khẳng định giá trị cơ bản và nổi bật của tập thơ Việt Bắc Các cuộc tranh luận này làm nổi bật tầm quan trọng của tác phẩm trong văn học Việt Nam và những phản biện về ý nghĩa chính trị, xã hội của nó.
Nguyễn Đình Thi, Hoài Thanh, Vũ Đức Phúc và một số bạn đọc đã đóng góp ý kiến về giá trị của thơ ca Việt Nam Trong đó, những ý kiến của Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi thật sự có sức thuyết phục và sâu sắc Xuân Diệu đã đánh giá cao những cống hiến đầy tâm huyết của Tố Hữu, nhấn mạnh rằng tiếng thơ của ông thể hiện tình yêu thương trìu mến, tạo nên hương vị đặc trưng cho phong cách nghệ thuật của Tố Hữu Chính những nét riêng này đã góp phần định hình phong cách thơ đặc sắc của ông và làm phong phú thêm thi ca Việt Nam.
Dù trải qua nhiều cuộc tranh luận về tập thơ "Việt Bắc" và "Từ ấy", thơ Tố Hữu vẫn đều đặn ra đời và nhận được sự đón nhận nồng nhiệt từ đông đảo công chúng Các bài viết đánh giá về từng tập thơ của Tố Hữu nhất quán trong việc xác định phong cách và xu hướng phát triển của ông, trong đó, tiếng thơ của Tố Hữu phản ánh những vấn đề lớn của cách mạng, dân tộc và thời đại, thể hiện bước tiến mới trong sự nghiệp sáng tác của ông Đặc biệt, công trình của nhà phê bình Hoài Thanh đã đóng góp lớn vào việc ghi nhận và đánh giá những giá trị này, với sự bền bỉ theo dõi và cảm nhận sâu sắc về từng tập thơ Những bài viết của ông không chỉ thể hiện tâm huyết mà còn hội tụ những ưu thế nổi bật như sự tinh tế trong cảm thụ, nghệ thuật bình thơ độc đáo và khả năng phát hiện những nét mới trong sáng tác của Tố Hữu.
Trong những năm cuối đời, các công trình nghiên cứu và tiểu luận đánh giá về hành trình sáng tác của Tố Hữu ngày càng nhiều hơn, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến giá trị và đóng góp của ông trong văn học Những công trình này tiếp cận đời thơ của Tố Hữu từ nhiều góc độ khác nhau, tạo nên một bức tranh toàn diện và phong phú về phong cách và vị thế của nhà thơ trong lòng độc giả cũng như trong sự phát triển của văn học dân tộc Đặc biệt, bài viết của nhà thơ Chế Lan Viên giới thiệu tuyển tập đầu tiên của Tố Hữu đã góp phần khẳng định những giá trị nghệ thuật cũng như tầm ảnh hưởng lớn của ông trong nền văn học Việt Nam.
Ông là người đầu tiên nhìn nhận thơ Tố Hữu một cách tổng thể và sâu sắc, không chỉ đánh giá nội dung tư tưởng mà còn phân tích các giá trị nghệ thuật quan trọng của thơ Ông đã khám phá những đặc sắc về phong cách, điệu tâm hồn vừa dân tộc vừa hiện đại, cùng với ngôn ngữ, nhạc điệu, hình tượng, giọng điệu và bút pháp trong tác phẩm của Tố Hữu Phân tích này góp phần làm rõ giá trị nổi bật của thơ Tố Hữu trong nền văn học Việt Nam.
Đặng Thái Mai, dựa trên kiến thức sâu rộng và nhiều năm nghiên cứu, đã giới thiệu tập thơ "Từ ấy" và khẳng định giá trị nội dung cùng tầm ảnh hưởng của tác phẩm Ông lần đầu tiên đề cập đến sự hình thành phong cách và phương pháp sáng tác của Tố Hữu, nhấn mạnh rằng thơ Tố Hữu mang xu hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, kết hợp giữa chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực Đặng Thái Mai cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa thơ Tố Hữu và phong trào Thơ mới, cho rằng Tố Hữu không thể không chịu ảnh hưởng của Thơ mới, đồng thời phản ánh nội dung cách mạng trong phong cách riêng biệt của mình Ông nhận định rằng, trên cơ sở nhận thức biện chứng về xu thế xã hội, Tố Hữu đã đạt được sự thống nhất giữa cảm xúc và lý trí, giữa nghệ thuật và hành động, cũng như giữa hình thức và nội dung trong sáng tác của mình.
Sau những năm nghiên cứu về thơ Tố Hữu, giới nghiên cứu trong và ngoài nước đã chú ý hơn đến phong cách nghệ thuật đặc trưng của ông Các công trình chuyên khảo về thơ Tố Hữu ngày càng nhiều, trong đó nổi bật nhất là ba công trình nghiên cứu nổi bật, giúp làm rõ hơn về giá trị và phong cách sáng tác của ông Những bài nghiên cứu này góp phần nâng cao nhận thức về vị trí của Tố Hữu trong nền văn học Việt Nam, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nghiên cứu về thơ ca cách mạng.
Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kỵ (1979), Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí của Nguyễn Văn Hạnh (1985), Thi pháp thơ Tố Hữu của
Trần Đình Sử (1987) đã bắt đầu nghiên cứu thơ Tố Hữu theo phương pháp truyền thống, kết hợp khảo cứu khoa học với cảm thụ nghệ thuật tinh tế, mang tính khám phá Hai công trình đầu tiên của ông đã nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về thơ Tố Hữu, góp phần quan trọng vào việc khám phá thế giới nghệ thuật của nhà thơ Tuy nhiên, để lý giải sâu sắc và biện chứng hơn về thi pháp thơ Tố Hữu, phương pháp truyền thống chưa đủ, dẫn đến việc Trần Đình Sử chuyển sang hướng tiếp cận mới bằng thi pháp học trong công trình "Thi pháp thơ Tố Hữu" Nhờ đó, ông đã đưa ra cách nhìn nhận mới mẻ, độc đáo và sâu sắc hơn về thơ Tố Hữu, dù còn mang nặng tính duy lý.
2.2 Về tập thơ Gió lộng
Tập thơ Gió lộng đã nhận được sự đón tiếp nồng nhiệt của đông đảo công chúng và giới phê bình văn học ngay từ khi ra đời Nhiều công trình và bài viết đã được ra đời để phân tích và đánh giá giá trị của tập thơ này, như bài viết của Vũ Cao về nội dung và nghệ thuật của Gió lộng, và những ý kiến của Bảo Định Giang về những suy nghĩ sâu sắc trong tập thơ Gió lộng còn được xem như là tiếng nói đồng ý, đồng chí và đồng tình của các nhà văn, nhà thơ muốn gửi gắm những tâm tư, tình cảm qua từng trang sách.
Nhà thơ Vũ Cao nhận xét về tập thơ Gió lộng của Tố Hữu rằng, với lối viết giản dị, thơ anh thường đề cập đến những tư tưởng lớn và tình cảm lớn, nhưng lại rất gần gũi với người đọc Thơ Tố Hữu mang vẻ đẹp cao xa nhưng vẫn gần gũi với những người luôn khao khát tìm kiếm vẻ đẹp và ý nghĩa cuộc đời.
Nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá cao giá trị nội dung của tập thơ Gió lộng như một tiếng ca vui mừng của nhân dân miền Bắc sau chiến thắng và hòa bình lập lại, thể hiện niềm tự hào của người chiến thắng Ông nhận thấy lối tư duy độc đáo của Tố Hữu trong Gió lộng, qua việc kết hợp chặt chẽ giữa trong và ngoài, giữa quá khứ và hiện tại, phản ánh lối nhìn, lối cảm xúc đặc trưng của nhà thơ Hoài Thanh cũng khám phá giá trị nghệ thuật của tập thơ qua các phương diện như câu thơ, hình ảnh thơ, thể thơ, nhạc tính và vần điệu, đặc biệt nhấn mạnh vẻ đẹp và sức mạnh của hình ảnh thơ trong tác phẩm Ông nhận xét rằng Tố Hữu thường dùng hình ảnh để cảm nhận và phản ánh suy nghĩ, cảm xúc, giúp thơ xuyên qua hiện tượng để đi vào bản chất, với các hình ảnh đột ngột, tự nhiên, đúng và rất đẹp, góp phần làm tăng sức tưởng tượng và chiều sâu cảm xúc trong thơ.
Đối t-ợng và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là 25 bài thơ trong tập thơ Gió lộng của Tố Hữu sáng tác từ năm 1955 đến 1961, tập trung khảo sát về mặt ngôn ngữ thơ để phân tích đặc điểm ngôn ngữ trong các tác phẩm.
Chúng tôi đã tham khảo một số bài thơ của cùng tác giả sáng tác trong giai đoạn trước và sau tập thơ Gió lộng để phân tích và làm nổi bật đặc điểm ngôn ngữ đặc trưng của tập thơ này.
Luận văn đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu đặc điểm thơ Tố Hữu trong tập thơ Gió lộng ở ph-ơng diện hình thức: Về thể thơ, về ngữ âm, về cách tổ chức bài thơ
Trong tập thơ Gió lộng của Tố Hữu, đặc điểm ngôn ngữ thơ thể hiện rõ qua các lớp từ phong phú, đa dạng, góp phần tạo nên sắc thái biểu cảm đặc trưng Tác giả sử dụng các biện pháp tu từ nổi bật như hoán dụ, điệp ngữ, ẩn dụ để tăng tính biểu cảm và sức truyền đạt của bài thơ Ngữ pháp trong thơ Tố Hữu nhẹ nhàng, linh hoạt, kết hợp các cấu trúc ngữ pháp đơn giản và phức tạp một cách tinh tế, giúp thể hiện rõ các phẩm chất cảm xúc và ý nghĩa sâu sắc Các lớp từ trong thơ không chỉ nhằm mục đích miêu tả mà còn phản ánh tâm trạng, quan điểm chính trị và niềm tự hào về đất nước, con người Việt Nam Nhờ vào sự kết hợp tinh tế các yếu tố ngữ nghĩa, ngữ pháp cùng các biện pháp tu từ đặc sắc, thơ Tố Hữu trong Gió lộng trở thành một tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ nét tinh thần yêu nước, sức sống mãnh liệt và những trăn trở của nhà thơ.
Ph-ơng pháp nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu phong cách ngôn ngữ trong tập thơ Gió lộng của Tố Hữu từ góc độ ngôn ngữ học, kết hợp phân tích và tổng hợp để khám phá những điểm đặc trưng và phổ quát Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi sử dụng các phương pháp thống kê, phân loại nguồn tài liệu, phân tích tổng hợp nhằm làm rõ các luận điểm chính và tổng quát các đặc điểm cơ bản Đồng thời, phương pháp miêu tả đối chiếu và so sánh giúp làm rõ những đặc điểm riêng biệt về ngôn ngữ thơ Tố Hữu trong tập Gió lộng, góp phần làm sáng tỏ phong cách ngôn ngữ của nhà thơ.
Đóng góp của luận văn
Luận văn này nhằm góp phần đánh giá và nhận xét về thơ Tố Hữu, làm sáng tỏ phong cách ngôn ngữ đặc trưng trong các tác phẩm của ông Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi mở rộng góc nhìn về ngôn ngữ trong thơ Tố Hữu, giúp làm phong phú các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay về tác giả Mục tiêu của luận văn là làm rõ nét hơn về phong cách ngôn ngữ của Tố Hữu, góp phần nâng cao hiểu biết về giá trị nghệ thuật và ngôn ngữ trong thơ ông.
Cấu trúc của luận văn
Về khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ
Trong quá trình hình thành và phát triển của văn học, thơ là một trong những hình thức sáng tác đầu tiên của con người, đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng Chính vì vậy, trong một thời gian dài, thuật ngữ "thơ" được dùng để chỉ toàn bộ văn học nói chung, phản ánh vai trò trung tâm của thơ trong hệ thống văn học Thơ là một dạng hình thức sáng tác có từ lâu đời, tuy nhiên việc đưa ra một định nghĩa chính xác và toàn diện về thơ vẫn còn nhiều khó khăn do tính phức tạp và đa dạng của thể loại này.
Khái niệm thơ đã được đề cập từ rất sớm trong lý luận văn học cổ điển Trung Hoa, thể hiện qua quan điểm của tác giả Lưu Hiệp trong cuốn Văn tâm điêu long Theo đó, một bài thơ bao gồm ba yếu tố cơ bản: tình cảm (tình văn), ngôn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh văn) Trong lịch sử phát triển của thơ ca Trung Quốc, những yếu tố này góp phần hình thành nên giá trị và đặc trưng của một tác phẩm thơ.
Bạch C- Dị đã nêu lên các yếu tố cơ bản để tạo thành sự tồn tại của bài thơ:
Trong nền lí luận văn học cổ điển Trung Hoa, cảm xúc là yếu tố quan trọng nhất để làm nên giá trị của thơ, nơi tình cảm là cốt lõi, ngôn ngữ là mầm lá, âm thanh là hoa, còn ý nghĩa chính là quả, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố cấu thành văn bản Ở phương Tây, các nhà nghiên cứu như R Jacobson quan tâm đến tính chất biểu hiện của thơ hơn là khái niệm “thơ là gì”, nhấn mạnh rằng tính thơ thể hiện qua cách từ ngữ cảm nhận, không chỉ là vật thay thế của đối tượng, mà còn có giá trị riêng biệt, thông qua nguyên lý tuyển chọn và kết hợp của ngôn ngữ Đặc biệt, ý nghĩa của thơ không chỉ giới hạn trong nội dung văn bản, mà còn vượt ra ngoài, phản ánh mối liên hệ phức tạp giữa các thành tố cấu trúc và ý nghĩa ngữ pháp Tại Việt Nam, khái niệm thơ cũng đa dạng theo thời gian, trong đó người xưa coi thi dĩ ngôn chí là chức năng cơ bản, thể hiện qua các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phan Phu Tiên, nhấn mạnh rằng nội dung và chí hướng trong thơ chính là cốt lõi của thi ca, được vận dụng xuyên suốt từ trung đại đến cuối thế kỷ XIX.
B-ớc sang thế kỉ XX, cùng với sự đổi mới sâu sắc và toàn diện của đời sống xã hội, một tầng lớp ng-ời mới ra đời với cuộc sống mới, tình cảm mới
Phong trào Thơ mới ra đời là kết quả tất yếu của quy luật phát triển văn học, đánh dấu sự xuất hiện của nhiều nhà thơ tài năng và tên tuổi Chính phong trào này đã mang đến những đổi thay ngoạn mục cho nền thơ ca Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX Thành tựu rực rỡ của thơ ca thời kỳ này đi đôi với sự xuất hiện của nhiều quan điểm mới mẻ về nghệ thuật làm thơ, do các nhà thơ và nhà nghiên cứu đề ra, góp phần làm phong phú và đa dạng hóa nền văn học Việt Nam.
L-u Trọng L- cho rằng: Thơ sở dĩ là thơ, bởi vì nó xúc tích, gọn gàng, ít lời mà nhiều ý và nếu cần, phải tối nghĩa, mà tối nghĩa chỉ vì thi nhân không xuất hiện một cách trực tiếp, lời nói của thi nhân phải là hình ảnh
Hàn Mặc Tử xem làm thơ như là điên, trong khi Chế Lan Viên lại coi đó là hành động của sự phi thường, thể hiện tầm cao của thi ca Thi sĩ không đơn thuần là con người bình thường, mà thực chất là Người Mơ, người say, người điên, mang trong mình sự kết hợp của tiên, ma và quỷ Họ thoát khỏi thực tại, xáo trộn quá khứ và ôm trọn tương lai trong tâm hồn mình Chính vì vậy, người thường không thể hiểu nổi những thi sĩ này vì họ nói những điều vô nghĩa, dù những điều đó có vẻ như hợp lý trong thế giới của họ.
Mặc Tử và Chế Lan Viên thường nhấn mạnh quan điểm một cách thái quá, đôi khi mang nét cực đoan trong tư duy sáng tác Tuy nhiên, cũng có những quan niệm nhẹ nhàng, dễ chấp nhận hơn về vai trò của thơ ca Theo Thế Lữ, thơ ca cần có sức gợi cảm mạnh mẽ, bất kể trong hoàn cảnh nào, để chạm đến cảm xúc và tạo nên sự kết nối sâu sắc với người đọc.
Các định nghĩa về thơ trong thời kỳ này chịu ảnh hưởng từ quan niệm của trường phái thơ tượng trưng và siêu thực Pháp, thường coi thơ như sự thể hiện của những điều thầm kín và hình ảnh đẹp nhất trong thiên nhiên Họ thường lý tưởng hóa hoặc đối lập cực đoan giữa hiện thực cuộc sống và thi ca, như cách La Martin mô tả thơ là sự hiện thân của những vẻ đẹp tinh tế và âm thanh tuyệt vời trong tự nhiên.
Sau Cách mạng tháng Tám, chúng ta có điều kiện tiếp xúc với nhiều quan điểm về thơ, trong đó thơ được xem như tiếng nói của tâm hồn, sợi dây tình cảm kết nối con người với nhau, và hành trình ngắn nhất đi đến trái tim Theo Tố Hữu, thơ là điệu hồn tìm kiếm những trái tim đồng điệu và là tiếng nói tri âm chân thành Một quan điểm khác nhấn mạnh rằng thơ góp phần cải thiện cuộc sống, hoàn thiện con người, thể hiện phẩm chất cao đẹp của nhân cách và thời đại - như quan niệm của Sóng Hồng Ngoài ra, thơ còn được xem là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống theo Lữ Trọng Lư Định nghĩa tiêu biểu nhất về thơ trong giai đoạn này đến từ nhà nghiên cứu Phan Ngọc, ông cho rằng: "Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người nhận biết phải nhớ, phải cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này."
Hình thức ngôn ngữ thơ bị coi là “quái đản” vì trong giao tiếp hàng ngày, ngôn ngữ không được tổ chức theo âm tiết, vần hay nhịp điệu Định nghĩa của Phan Ngọc về thơ phù hợp với quan điểm của Jakobson, cho rằng một định nghĩa về thơ cần mang tính phổ quát, áp dụng cho mọi trường hợp gọi là thơ trên trái đất này bất chấp không gian, thời gian, ngôn ngữ, dân tộc hay tập quán.
Trong bài viết này, chúng tôi đã trình bày các định nghĩa về thơ của các tác giả tiêu biểu từ phương Đông đến phương Tây, từ trung đại đến hiện đại, nhằm làm rõ sự đa dạng và phong phú của thể loại này Tiếp theo, chúng tôi xin đưa ra quan điểm về thơ của nhóm nhà nghiên cứu phê bình văn học Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, những người đã có những nhận định sâu sắc góp phần mở rộng hiểu biết về đặc điểm và vai trò của thơ trong văn học Việt Nam.
Thơ là hình thức sáng tạo văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng và cảm xúc mạnh mẽ thông qua ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh và có nhịp điệu Định nghĩa này làm rõ đặc điểm nổi bật của thơ là cách biểu đạt cảm xúc cô đọng, hàm súc, sử dụng ngôn ngữ có nhịp điệu, giúp phân biệt rõ ràng thơ với văn xuôi trong lĩnh vực sáng tác văn học.
Từ những quan niệm trên đây, chúng ta có thể rút ra những đặc tr-ng cơ bản cuae thơ nh- sau:
- Thơ có hệ thống ngôn từ
- Thơ có cách tổ chức riêng
- Thơ thể hiện cảm xúc bằng hình ảnh
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ
Thơ là thể loại văn học sáng tác bằng nghệ thuật ngôn từ, trong đó ngôn ngữ thơ phải mang đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật như tính chính xác, hàm súc, đa nghĩa, tạo hình và biểu cảm Tuy nhiên, các đặc điểm này không luôn biểu hiện giống nhau mà phụ thuộc vào thể loại tác phẩm, đem lại sắc thái và mức độ đa dạng trong biểu đạt So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có những đặc trưng riêng, nổi bật nhất là khả năng sử dụng một số lượng hạn chế các đơn vị ngôn từ để thể hiện sự phong phú của hiện thực, từ các sự kiện tự nhiên, xã hội đến thế giới nội tâm của con người Ngôn ngữ thơ khác với ngôn ngữ đời thường và văn xuôi ở cấu trúc, thường ít cảm xúc hơn nhưng lại chứa đựng ý nghĩa đa dạng và giàu sức gợi cảm.
Trong thể loại thơ ca, ngôn ngữ thơ thể hiện các đặc trưng về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa và khái quát hóa hiện thực khách quan Ngôn ngữ thơ được tổ chức một cách riêng biệt, phù hợp với đặc thù của thể loại, giúp truyền tải cảm xúc và ý nghĩa sâu sắc một cách sinh động và sâu sắc hơn.
Tố Hữu cuộc đời và thơ văn
Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920 tại làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, trong một gia đình nhà nho nghèo Ngay từ nhỏ, ông đã được cha dạy làm những bài thơ theo lối cổ, trong khi mẹ ông là con một nhà nho yêu thích tụng ca dao, tục ngữ.
Năm ông 12 tuổi, mẹ mất, cha đi làm xa, khiến Tố Hữu trải qua thời thơ ấu đầy khó khăn Khi lên 13 tuổi, ông bắt đầu học tại trường Quốc học Huế, nơi bắt đầu hình thành ý chí và tri thức của mình Trưởng thành trong bối cảnh phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, Tố Hữu sớm được giác ngộ về lý tưởng cách mạng Năm 1936, ông gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản và trở thành người lãnh đạo Đoàn Thanh niên Dân chủ tại Huế, bước đầu thể hiện tinh thần nhiệt huyết cách mạng của mình.
Năm 1937, ông bắt đầu có thơ đăng báo
Năm 1938, Tố Hữu ra nhập Đảng Cộng sản Đông D-ơng
Tháng 4 năm 1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt và bị giam ở nhiều nhà lao ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Từ những năm 1937-1938 và suốt những năm tháng bị giam tại các nhà lao, Tố Hữu vừa rèn luyện ý chí vừa làm nhiều thơ cách mạng Những bài thơ đó sau này đ-ợc tập hợp lại trong tập Thơ
(1946) và đến năm 1959, đ-ợc in lại d-ới nhan đề Từ ấy
Tháng 3 năm 1942, Tố Hữu v-ợt ngục Đắc Lây, trở về gây dựng cơ sở và hoạt động cách mạng ở tỉnh Thanh Hoá
Tháng 8 năm 1945, Tố Hữu là Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Thừa Thiên- Huế và sau đó là Bí th- Xứ uỷ Trung Kỳ
Năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu trở lại Thanh Hoá hoạt động và là Bí th- Tỉnh uỷ Thanh Hoá
Năm 1947, Tố Hữu được Trung ương Đảng điều động ra chiến khu Việt Bắc để phụ trách công tác văn nghệ Ông đảm nhiệm vị trí Trưởng tiểu ban văn nghệ Trung ương, góp phần quan trọng vào hoạt động văn hóa và tuyên truyền của phong trào cách mạng.
Năm 1948, thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam, Tố Hữu tham gia Ban chấp hành Hội
Năm 1951, tại Đại hội Đảng lần thứ II, Tố Hữu được bầu làm ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, thể hiện sự tín nhiệm và ghi nhận đóng góp của ông trong phong trào cách mạng Đến năm 1955, ông chính thức trở thành ủy viên chính thức Trung ương Đảng, góp phần quan trọng vào sự phát triển và lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn then chốt của lịch sử cách mạng Việt Nam.
Năm 1960, Tố Hữu chính thức trở thành Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng sau đợt bầu tại Đại hội Đảng lần thứ III, giữ vững vị trí này đến năm 1980, thể hiện sự tin tưởng và ghi nhận của Đảng đối với đóng góp của ông Trong giai đoạn 1974-1975, ông còn đảm nhận vai trò Trưởng Ban Thống nhất Trung ương, góp phần quan trọng trong công cuộc thống nhất đất nước.
Năm 1976, Tố Hữu được bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ IV Từ năm 1980, ông trở thành Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong sự nghiệp chính trị của ông Năm 1981, Tố Hữu được bổ nhiệm giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, thể hiện rõ vị trí và vai trò lãnh đạo của ông trong giai đoạn then chốt của đất nước.
Năm 1982, tại Đại hội Đảng lần thứ V, Tố Hữu đ-ợc bầu lại là Uỷ viên
Bộ Chính trị Ban chấp hành trung -ơng Đảng, Bí th- Ban chấp hành Trung -ơng Đảng và giữ chức vụ này cho đến năm 1986
Tố Hữu từng đảm nhận nhiều vị trí quan trọng như Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng Ban Thống nhất Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương và Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương, góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước.
Tố Hữu mất ngày 9 tháng 12 năm 2002, h-ởng thọ 82 tuổi
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng và cầm bút, Tố Hữu consistently maintained his dedication to poetry regardless of his official position or work Từ bài thơ đầu tiên đăng báo đến những ngày cuối cùng trên giường bệnh, nhà thơ vẫn giữ vững bút lực dồi dào, làm nên thành công lớn trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật Ông là nhà thơ cách mạng thành công qua từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam, được Nhà nước vinh danh với Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật năm 1996.
Trên bầu trời văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu luôn được xem như một ngôi sao sáng, người tiên phong và dẫn đường tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Với hơn sáu mươi năm hoạt động cách mạng và sáng tác thơ ca, thơ của ông đã trở thành nguồn cảm hứng và niềm đam mê sâu sắc trong lòng độc giả.
Ngay từ khi thơ Tố Hữu mới xuất hiện rải rác trên báo chí cách mạng vào cuối thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, giới văn học cách mạng đã đánh giá cao và xem đó là một hiện tượng mới mẻ của văn học cách mạng Sự đón tiếp nồng nhiệt của công chúng đối với thơ ông thể hiện tầm ảnh hưởng lớn, đồng thời các bài viết giới thiệu về thơ Tố Hữu khẳng định rằng thơ của ông chính là nguồn sinh lực mạnh mẽ để phục vụ lý tưởng cách mạng.
Ngay từ những bài thơ đầu tiên, Tố Hữu đã thể hiện rõ quan điểm về lý tưởng cách mạng và con đường đấu tranh cách mạng, coi đó là lý tưởng sống cao đẹp của người thanh niên cộng sản.
Từ ấy trong tôi bừng nắng Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một v-ờn hoa lá
Rất đậm h-ơng và rộn tiếng chim
Tập thơ Từ ấy (1937-1946) ghi lại hành trình đầy nhiệt huyết của năm tuổi thơ Tố Hữu, thể hiện quá trình từ giác ngộ đến trưởng thành của người thanh niên cách mạng trong bối cảnh lịch sử Việt Nam đầy biến động và thay đổi sâu sắc xã hội Gồm ba phần chính: Máu lửa, Xiềng xích và Giải phóng, tập thơ là tiếng reo vui của tuổi trẻ băn khoăn đi tìm ý nghĩa cuộc sống, đồng thời bắt gặp ánh sáng của lý tưởng Đảng Ngay từ những bài thơ đầu, Tố Hữu đã khẳng định rằng lý tưởng cách mạng và con đường đấu tranh chính là những giá trị sống cao đẹp của người thanh niên cộng sản.
Tập thơ Việt Bắc (1947-1954) là chặng đ-ờng thơ Tố Hữu trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm l-ợc Vào cuộc kháng chiến, thơ
Tố Hữu hướng tới thể hiện hình ảnh người quần chúng kháng chiến qua những hình tượng đặc trưng như anh vệ quốc quân nông dân hiền lành đã làm nên chiến thắng ở Việt Bắc, hay anh bộ đội vượt qua gian khổ và thiếu thốn vẫn giữ được tính hào hùng trong tầm vóc vĩ đại của Tây Bắc Bên cạnh đó, hình ảnh chị phụ nữ Bắc Giang, những bà mẹ nông dân hiền lành, chất phác gắn bó với cách mạng và tình thương con yêu nước thể hiện sâu sắc tình cảm dân tộc Hình ảnh em bé liên lạc dũng cảm, anh dũng hy sinh giữa cánh đồng quê hương trong chiến tranh vẫn sống mãi qua linh hồn và hình ảnh của em Trên tất cả, tập trung và tiêu biểu cho tất cả phẩm chất của dân tộc Việt Nam là hình ảnh bác Hồ, biểu tượng cao đẹp của ý chí và đạo đức dân tộc trong kháng chiến.
Việt Bắc là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp, ghi lại hành trình gian lao, anh dũng của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập Tập thơ thể hiện những cảm xúc lớn của người Việt Nam kháng chiến, trong đó tình yêu nước là giá trị thống nhất và bao trùm toàn bộ nội dung Đây là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu kiên cường của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Bắc là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học thời kháng chiến chống Pháp
TiÓu kÕt
Trong chương 1, chúng tôi đã giới thiệu những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nhị thơ, ngôn ngữ thơ và đặc điểm của ngôn ngữ thơ khi so sánh với văn xuôi Ngôn ngữ thơ nổi bật với những đặc trưng riêng về âm điệu, vần điệu và nhịp điệu, tạo nên phong cách thể hiện độc đáo không giống văn xuôi.
Chúng tôi trình bày những vấn đề cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Tố Hữu, cùng các chặng đường sáng tác và phong cách nghệ thuật đặc trưng của thơ ông Phong cách thơ Tố Hữu nổi bật với tính dân tộc rõ nét, thể hiện qua phong phú về ngôn từ và thể loại, đồng thời phản ánh sự tiếp thu và sáng tạo độc đáo của nhà thơ để làm phong phú vốn từ tiếng Việt.
Chúng tôi đã phân tích tổng thể tập thơ Gió lộng từ hai phương diện chính là nội dung và nghệ thuật biểu hiện, laying the groundwork cho phần trọng tâm của luận văn Những đánh giá này sẽ là tiền đề quan trọng để triển khai các chương tiếp theo, nhằm làm rõ giá trị nghệ thuật và ý nghĩa nội dung của tập thơ.
Ch-ơng 2 đặc điểm về thể thơ, về ngữ âm và cách tổ chức bài thơ trong Gió lộng
Đặc điểm về các thể thơ trong Gió lộng
Lịch sử văn học dân tộc ta ghi nhận sự hình thành và phát triển các thể thơ qua nhiều giai đoạn khác nhau, phản ánh quá trình đổi thay của nền văn học Nhiều thể thơ có nguồn gốc từ văn học dân gian, sau đó phát triển thành thể thơ của văn học viết, thể hiện sự kế thừa giá trị truyền thống Một số thể thơ khác được du nhập từ bên ngoài, trải qua quá trình Việt hóa để phù hợp với đặc điểm văn hóa của người Việt, từ đó hình thành và ổn định như một thể thơ đặc trưng của dân tộc Những tác phẩm thơ xuất sắc của nền văn học dân tộc không phân biệt thể loại, đều chứa đựng tâm hồn và tính cách đặc trưng của người Việt, góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa dân tộc.
Từ trước đến nay, để phân biệt thể thơ này với các thể thơ khác, người ta thường dựa trên hai tiêu chí chính Thứ nhất là số lượng âm tiết trong mỗi câu thơ, giúp xác định đặc điểm của thể loại Thứ hai là luật vần trong từng bài thơ, giúp phân biệt các thể thơ dựa trên quy tắc về vần điệu và cách bố trí âm điệu Những tiêu chí này là cơ sở để nhận diện và phân loại các thể thơ một cách chính xác trong văn học Việt Nam.
Các thể thơ dựa trên số lượng âm tiết trong mỗi câu gồm có thơ 4 chữ, thơ 5 chữ, thơ 7, 8 chữ, thơ lục bát (gồm các câu 6 chữ kết hợp với câu 8 chữ), và thơ song thất lục bát (bao gồm 4 câu, trong đó hai câu đầu có 7 chữ và hai câu sau là thể lục bát).
Dựa trên luật vần của một bài thơ, chúng ta phân chia thành hai loại thơ chính: thơ cách luật và thơ không cách luật Thơ cách luật gồm các thể thơ có quy tắc và luật ổn định, như thơ Đường luật, thơ lục bát, và thơ song thất lục bát, đảm bảo sự chính xác về cấu trúc và vần điệu Ngược lại, thơ không cách luật là thể thơ tự do, không giới hạn về số tiếng trong một câu, số câu trong một bài thơ, giúp tác giả tự do sáng tạo và thể hiện cảm xúc linh hoạt hơn.
Tập thơ Gió lộng của Tố Hữu gồm 25 bài thơ được sáng tác bằng nhiều thể loại khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong phong cách sáng tác của tác giả Trong đó, có một bài thơ bằng thể thơ 4 chữ có tên "Ba bài thơ trăng - I," hai bài thơ bằng thể thơ 5 chữ mang tên "Qua Liễu Châu" và "Phạm Hồng Thái," và còn nhiều bài thơ thể 7 chữ Việc phân loại các thể loại thơ này giúp làm rõ đặc điểm và phong cách sáng tác của Tố Hữu trong tập thơ, đồng thời thể hiện sự linh hoạt và sáng tạo trong nghệ thuật viết thơ của ông.
Trong bộ sưu tập này, có đa dạng thể loại thơ như thơ bốn bài gồm "Quê mẹ", "Em ơi…Ba Lan…", "Hoa tím", "Mẹ Tơm", thể thơ 8 chữ "Mùa thu mới", thơ lục bát với năm bài "Chị là ng-ời mẹ", ba bài "Thơ trăng – II" và "Thơ trăng – III", cùng các tác phẩm "Tiếng ru" và "Cánh chim không mỏi" Ngoài ra, còn có thơ song thất lục bát gồm hai bài "X-a…nay" và "Ba m-ơi năm đời ta có Đảng", cùng thể thơ tự do với tác phẩm "M-ời bài" Các tác phẩm thể hiện sự đa dạng về thể loại và nội dung, phản ánh sâu sắc vẻ đẹp quê hương, tình mẹ và niềm tự hào dân tộc.
Bảng 2.1 Các thể thơ trong tập Gió lộng
Thể thơ Số bài Tỉ lệ
Thể thơ song thất lục bát 2 8%
Dựa trên kết quả thống kê phân loại trong bảng 2.1, chúng tôi nhận thấy tập thơ Gió lộng chủ yếu sử dụng các thể thơ tự do, lục bát, thơ 7, 8 chữ và 5 chữ Những thể thơ này chiếm ưu thế trong tác phẩm, góp phần thể hiện rõ nét phong cách sáng tác của Tố Hữu Chính vì vậy, chúng tôi sẽ tập trung phân tích sâu hơn về các thể thơ này để hiểu rõ hơn về đặc điểm và ý nghĩa trong tập thơ Gió lộng.
Thơ năm chữ là một thể thơ tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam, được viết theo thể hát giặm, phổ biến trong tục ngữ và hát dặm Nghệ Tĩnh Nhịp điệu chính của thể thơ này là 3/2, khác biệt so với nhịp 2/3 của thể thơ ngũ ngôn Trung Quốc Vần trong thơ năm chữ có sự biến đổi linh hoạt, không nhất thiết phải liên tiếp, và số câu trong mỗi bài thơ không giới hạn Đến đầu thế kỷ XX, thơ năm chữ mới thực sự được đưa vào sáng tác rộng rãi trong văn học Việt Nam.
Các bài thơ năm chữ trong tập thơ Gió lộng chủ yếu ca ngợi những người chiến sĩ, người anh hùng đã góp phần xây dựng sự nghiệp cách mạng Bài thơ "Qua Liễu Châu" ghi lại khoảnh khắc nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm Những tác phẩm này thể hiện lòng kính yêu và tự hào của tác giả đối với những anh hùng đã hy sinh vì độc lập tự do của đất nước Qua đó, tác phẩm khẳng định vai trò của các chiến sĩ cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Tàu qua ga Liễu Châu Bác x-a tù nơi đâu? Đêm rét, tê xiềng xích Th-ơng n-ớc, dài tóc nâu
Trong hành trình thăm Trung Quốc, tàu đã đi qua ga Liễu Châu, một địa danh có ý nghĩa lịch sử quan trọng Trong những ngày bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943, bác Hồ đã trải qua thời gian tại đây Bài thơ dựa trên một tứ thơ đơn giản nhưng mang ý nghĩa sâu sắc về hành trình và những ký ức lịch sử.
Bài thơ của Phạm Hồng Thái ca ngợi, tri ân những anh hùng đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc Việt Nam Tác phẩm dựa trên hình thức tứ thơ đối lập giữa sự sống và cái chết, làm nổi bật phẩm chất anh hùng của những người đã ngã xuống Thơ đã phản ánh lòng biết ơn sâu sắc và tầm vóc vĩ đại của những chiến sĩ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc, thể hiện niềm tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc.
Sống, chết, đ-ợc nh- Anh Thù giặc, th-ơng N-ớc mình
Sống, làm quả bom nổ Chết, nh- dòng n-ớc xanh!
Trong tập thơ Gió lộng của Tố Hữu có 2 bài đ-ợc sáng tác theo thể thơ
Chiếm tỷ lệ 8%, các bài thơ năm chữ đóng vai trò quan trọng trong tổng thể tác phẩm của tác giả So với các tập thơ trước và sau tập "Gió lộng", phần lớn các bài thơ này giữ tỷ lệ ổn định về mặt số lượng, phản ánh phong cách sáng tạo riêng của tác giả qua các thời kỳ Tỷ lệ các bài thơ năm chữ trong các tập thơ đều chiếm khoảng 8%, cho thấy sự đều đặn và nhất quán trong việc lựa chọn thể loại của tác giả, góp phần làm nên đặc trưng của phong cách sáng tác qua các thời kỳ.
Bảng 2.2 So sánh số l-ợng, tỉ lệ các bài thơ 5 chữ trong tập Gió lộng và các tập thơ khác của tác giả:
Tập thơ Số l-ợng Tổng số bài Tỉ lệ
Nh- vậy tỉ lệ các bài thơ 5 chữ trong các tập thơ cùng một tác giả trong các giai đoạn sáng tác là t-ơng đ-ơng
Trong các tập thơ của nhà thơ, số câu thơ trong mỗi bài có sự khác nhau rõ rệt Ví dụ, trong tập thơ Gió lộng, các bài thơ 5 chữ đều chỉ có bốn câu, thể hiện sự ngắn gọn và súc tích Ngược lại, trong tập thơ Từ ấy, bài thơ 5 chữ ngắn nhất là T-ơng tri với độ dài 20 câu, trong khi đó bài dài nhất là Con cá, chột n-a với 73 câu, cho thấy phong cách sáng tác đa dạng và phong phú của nhà thơ.
Thơ lục bát là thể thơ mang đậm dấu ấn dân tộc và là nét đặc trưng văn hóa của người Việt Nam, xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử văn học dân tộc Thể thơ này thường xuất hiện trong tục ngữ, dân ca, ca dao, các làn điệu chèo, tuồng và các tác phẩm diễn ca, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cộng đồng Trong văn học viết, thơ lục bát được các nhà thơ nổi bật như Nguyễn Du với Truyện Kiều và Nguyễn Đình Chiểu với Lục Vân Tiên vận dụng sáng tạo, đạt nhiều thành tựu lớn Trong nền thơ ca hiện đại, thể thơ lục bát vẫn giữ vị trí quan trọng, được nhiều nhà thơ và độc giả yêu thích Đặc điểm hình thức của thể thơ này gồm tổ hợp câu 6 và câu 8, với số câu trong một bài thơ có thể kéo dài hàng nghìn câu, ít nhất là hai câu gọi là một cặp, có niêm luật khá đơn giản nhưng linh hoạt.
Thơ lục bát của Tố Hữu kết hợp tinh thần truyền thống của dân ca, ca dao và văn học trung đại, đồng thời mang đặc điểm của lục bát hiện đại Đọc thơ của ông, chúng ta cảm nhận âm hưởng từ những làn điệu dân ca, ca dao, pha lẫn nét phong vị của Truyện Kiều của Nguyễn Du, nhưng vẫn giữ được tinh thần đổi mới phù hợp với thời đại.
Đặc điểm về cách tổ chức bài thơ trong Gió lộng
2.3.1 Đặc điểm về tiêu đề
Tiêu đề là yếu tố tinh thần quan trọng giúp người đọc nhận biết, ghi nhớ và phân biệt bài thơ này với các bài thơ khác trong cùng tập hoặc của cùng tác giả Trong tập "Gió lộng" của Tố Hữu, tất cả các tiêu đề đều có độ dài từ hai đến bảy âm tiết, như "X-a nay", "Quê mẹ", "Tiếng chổi tre" hay "Cánh chim không mỏi", thể hiện đặc điểm thống nhất và độc đáo của từng bài thơ.
Trên miền Bắc mùa xuân, Ba m-ơi năm đời ta có Đảng
Trong tập thơ Gió lộng, các tiêu đề bài thơ được chia thành hai nhóm chính Nhóm đầu tiên gồm những tiêu đề thể hiện rõ cảm xúc của bài thơ, giúp người đọc dễ dàng nhận biết tâm trạng và cảm xúc chủ đạo trong tác phẩm Việc đặt tiêu đề mang ý nghĩa phân tích và truyền tải cảm xúc sâu sắc, góp phần làm nổi bật nội dung chính của từng bài thơ Những tiêu đề này không chỉ phản ánh tâm trạng mà còn tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa tiêu đề và nội dung, thúc đẩy sự tò mò và xúc cảm của người đọc ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Các bài thơ trong tập "Gió lộng" đều có tiêu đề rõ ràng, thể hiện nội dung, cảm xúc và tâm trạng của tác giả Một số tiêu đề phản ánh cảm xúc về sự thay đổi của đất nước qua hai thời kỳ, như "X-a nay", thể hiện nỗi lòng của nhà thơ về thời kỳ trước và hiện tại Tiêu đề "quê mẹ" gợi nhớ về tình cảm thiêng liêng dành cho mẹ và những năm tháng đấu tranh cách mạng chưa kết thúc, trong khi "quê hương xứ Huế" thể hiện hành trình lịch sử của vùng đất này "Mùa thu mới" mang ý nghĩa về mùa thu độc lập, tự do của đất nước, và những tiêu đề khác ghi lại hành trình cách mạng Việt Nam, phản ánh quá trình vượt qua thử thách để đạt được tự do và độc lập.
Bài thơ "Ba miền năm đời ta có Đảng" là một bản tổng kết ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến thời điểm Tố Hữu viết tác phẩm, thể hiện những bước phát triển và thành tựu quan trọng của đất nước Các bài thơ khác như "Phạm Hồng Thái", "Mẹ Tơm", "Đường sang nước bạn", "Tiếng ru", "Hoa tím", "Ba bài thơ trăng", "Người con gái Việt Nam", "Với Lênin" và "Bài ca mùa xuân 1961" đều có tiêu đề rõ ràng, giúp người đọc dễ hình dung nội dung và ý nghĩa của từng tác phẩm Những tiêu đề này được lựa chọn cẩn thận, mang tính khái quát, súc tích, phù hợp với nhiều đối tượng độc giả và dễ hiểu, góp phần truyền tải thông điệp một cách chân thực và gần gũi.
2.3.2 Đặc điểm về câu thơ, dòng thơ trong Gió lộng
Sự phân chia ra dòng thơ là một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ, tạo thành đơn vị nhỏ nhất có giá trị độc lập trong tổ chức hình thức của tác phẩm Trong các thể thơ, dòng thơ được quy định chặt chẽ về số tiếng, số câu, vần và cách ngắt nhịp, đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa các dòng trước hoặc sau Thường thì số âm tiết trong các dòng thơ phải bằng nhau, chẳng hạn như 4, 5, 7, 8 hoặc 6-8 chữ, tạo ra sự cân xứng giữa các dòng Độ dài của dòng thơ phụ thuộc vào đặc điểm ngôn ngữ nhằm giúp người đọc và người nghe dễ tiếp nhận, góp phần nâng cao giá trị nghệ thuật của bài thơ Qua khảo sát 25 bài thơ trong tập "Gió lộng", chúng tôi nhận thấy dòng thơ có độ dài trung bình phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ và nội dung tác phẩm.
Bảng 2.8 Bảng thống kê về số dòng trong các bài thơ:
Số dòng Số bài Tỉ lệ
Thơ Tố Hữu linh hoạt về số dòng, không bị giới hạn cố định, phù hợp với nội dung và cấu tứ của từng bài Số lượng dòng trong bài thơ phụ thuộc chủ yếu vào dung lượng nội dung muốn truyền tải, giúp thể hiện ý tưởng một cách rõ ràng và trọn vẹn Việc không bị ràng buộc về số dòng là đặc điểm nổi bật, góp phần tạo nên sự đa dạng và sáng tạo trong sáng tác của nhà thơ.
Trong thơ ông có khi một dòng thơ là một câu hoàn chỉnh diễn tả một ý trọn vẹn:
Chị là ng-ời mẹ bốn con Hỡi ơi thân chị, bụng còn mang thai
Còn ba con dại gái trai Bỗng mồ côi me, còn ai bế bồng!
(Chị là ng-ời mẹ) [44, 198]
Trong nhiều trường hợp, nhà thơ phải sử dụng tới 3, 4 dòng thơ mới truyền tải được một ý tưởng trọn vẹn, thể hiện tình cảm sâu sắc và ý chí kiên cường của nhân cách Chẳng hạn, câu thơ "Ôi, chết thế, không thể nào chết đã" thể hiện sự bức xúc, khát vọng sống mãnh liệt của nhân vật trữ tình Đồng thời, những câu như "Không thể chết, những người dân yêu nước" và "Những con người không chịu ô danh" phản ánh tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của những người yêu nước trong mọi hoàn cảnh.
Những ng-ời con không muốn chiến tranh Những ng-ời cha không muốn nhơ quốc thể Những ng-ời mẹ không muốn con nô lệ!
(Thù muôn đời muôn kiếp không tan) [44, 212]
Lại có những tr-ờng hợp câu thơ vắt dòng, ý trên tràn xuống ý d-ới:
Những đêm hè Khi ve ve Đã ngủ Tôi lắng nghe Trên đ-ờng Trần Phú Tiếng chổi tre
Xao xác hàng me Tiếng chổi tre Đêm hè Quét rác
Trong thơ Tố Hữu, dấu câu đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên nhịp điệu và chia đoạn câu thơ, đặc biệt là trong các dòng thơ sử dụng dấu chấm câu để ngắt câu thành hai phần rõ ràng, giúp thể hiện ý nghĩa sâu sắc và cảm xúc chân thực của tác phẩm.
Trên đ-ờng sắt, chuyến tàu tr-a hối hả
Chạy về Nam Nh- một đạo quân
(Trên miền Bắc mùa xuân) [44, 202]
Không phải cho em Cho lẽ phải trên đời Cho quê h-ơng em Cho tổ quốc, loài ng-ời!
Trong thơ Tố Hữu, số lượng dòng thơ và câu thơ khá nhiều nhưng không gây cảm giác thừa thãi hay làm khó hiểu bài thơ Các dòng điệp trùng liên tiếp không chỉ giữ vần điệu và nhịp điệu duyên dáng cho tác phẩm, mà còn giúp diễn đạt nhiều sự kiện và dồn nén cảm xúc một cách sâu sắc.
2.3.3 Đặc điểm về khổ thơ, đoạn thơ trong Gió lộng
Không phải tất cả các bài thơ đều được chia thành các khổ Việc chia khổ trong thơ nhằm mở rộng và tăng cường khả năng nhạc tính của tác phẩm Thông thường, các bài thơ được chia thành các khổ tương ứng, thường là 4 dòng mỗi khổ, xếp liên tiếp nhau với khoảng cách nhất định để tạo ra nhịp điệu hài hòa.
Khổ thơ là sự phối hợp của các dòng thơ, thường có các dòng tương ứng nhau như 4 hoặc 5 dòng với số chữ đều nhau, tạo nên sự cân đối hài hòa về mặt hình thức Trong văn bản, các khổ thơ đứng liền nhau và được phân cách bằng khoảng trắng, giúp phân biệt các đoạn trong bài thơ Đối với những bài thơ ngắn, khổ thơ có thể trùng với đoạn thơ, thể hiện ý nghĩa trọn vẹn Thuật ngữ đoạn thơ dùng để chỉ tập hợp các khổ thơ hoặc dòng thơ diễn đạt một ý chính, giúp làm rõ ý nghĩa của bài thơ Số lượng dòng trong một đoạn thơ không cố định, tuỳ thuộc vào ý tưởng và mạch thơ, góp phần thể hiện và làm rõ nội dung tác phẩm.
Trong tập thơ Gió lộng gồm 8 bài, nhà thơ không chia thành các khổ thơ hay đoạn thơ, tạo nên cấu trúc đặc trưng mang tính tự do và phóng khoáng Các bài còn lại trong tập thơ đều được chia thành các khổ thơ hoặc đoạn thơ rõ ràng, thể hiện sự phân chia rõ ràng của tác phẩm Khác biệt về cách bố cục này phản ánh phong cách sáng tạo tự do của nhà thơ, góp phần làm nổi bật nội dung và cảm xúc trong từng bài thơ.》
Bảng 2.9 Bảng thống kê về số l-ợng khổ thơ trong bài thơ:
Số khổ thơ Sốl-ợng Tỉ lệ
Thơ 7 chữ và thơ lục bát là những thể thơ đ-ợc chia khổ nhiều nhất nh- các bài: Quê mẹ, Em ơi Ba Lan, Mẹ Tơm, Chị là ng-ời mẹ, Tiếng ru, Cánh chim không mỏi Đặc điểm về khổ thơ nh- trên rất phù hợp với yêu cầu thể hiện những đổi thay của cuộc sống, phản ánh đ-ợc tâm trạng của nhân dân Việt Nam trong thêi k× léng giã
2.3.4 Một số kiểu mở đầu và kết thúc bài thơ trong tập thơ Gió lộng 2.3.4.1 Mở đầu
Trong bài viết, mở đầu và kết thúc được xem là hai điểm quan trọng phản ánh giới hạn của tác phẩm, đồng thời đóng vai trò chính trong cấu trúc của bài thơ [12, 48] Phần mở đầu của bài thơ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhà thơ, vì nó giúp xác định hướng đi của toàn bộ tác phẩm, giống như việc tìm ra tứ thơ và con đường sáng tác phù hợp Đối với độc giả, phần mở đầu hấp dẫn sẽ tạo ra sự thu hút và hứng thú, khuyến khích họ tiếp tục khám phá và cảm nhận sâu sắc hơn về tác phẩm.
Trong bài thơ của Tố Hữu, phần mở đầu thường được xem xét dựa trên dòng thơ đầu tiên để phân tích cách mở đầu Những cách mở đầu phổ biến trong thơ của ông bao gồm việc sử dụng câu thơ mở đầu gây ấn tượng mạnh, thể hiện tâm trạng hoặc bối cảnh cuộc sống, qua đó thu hút người đọc và mở ra nội dung chính của bài thơ Các kiểu mở đầu này góp phần làm nổi bật chủ đề, tạo nên sự hấp dẫn và định hướng cho toàn bộ tác phẩm, đồng thời phản ánh phong cách sáng tạo đặc trưng của nhà thơ Tố Hữu.
- Mở đầu bằng cách bộc lộ tình cảm, cảm xúc tâm trạng của chủ thể nhà thơ Đây là cách mở đầu phổ biến nhất trong Gió lộng:
Tôi chạy trên miền Bắc Hớn hở giữa mùa xuân Rộn rực muôn màu sắc Náo nức muôn bàn chân
(Trên miền Bắc mùa xuân) [44, 200]
Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!
Nhớ tự ngày x-a tuổi chín m-ời
- Mở đầu bằng cách miêu tả sự vật, sự việc:
Ngày mỗi ngày, từng chiếc lá tre xanh Đã mọc lên quanh những làng kháng chiến
Ngày mỗi ngày, từng miếng đất cỏ gianh Đã lật lên d-ới l-ỡi cày mới luyện
- Thơ Tố Hữu có nhiều bài thơ mà câu mở đầu bằng cách miêu tả không gian và thời gian:
Chiều nay gió lặng Nắng hanh Mây bông trắng nõn, trời xanh Bác về
Sông Hồng nắng rực bờ đê Nắng thơm rơm mới, đồng quê gặt mùa
- Mở đầu bằng cách nói về sự tồn tại của sự vật, sự việc:
Ba m-ơi năm đời ta có Đảng
(Ba m-ơi năm đời ta có Đảng) [44, 218]
TiÓu kÕt
Trong chương hai của luận văn, chúng tôi tập trung phân tích các đặc điểm chính của tập thơ Gió lộng, bao gồm ngữ âm, thể thơ và cách tổ chức bài thơ Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng tập thơ thể hiện rõ nét các đặc trưng về âm điệu và ngữ âm phù hợp với nội dung, cùng với sự đa dạng trong thể loại thơ, góp phần tạo nên tính độc đáo và sức hút riêng biệt cho tác phẩm Cách tổ chức các bài thơ cũng thể hiện sự tinh tế trong cấu trúc, giúp truyền tải cảm xúc và ý nghĩa một cách hiệu quả hơn.
Tố Hữu sử dụng đa dạng thể thơ, từ thể thơ 4 chữ, 8 chữ đến thể thơ 7 chữ, lục bát, tạo nên phong cách sáng tạo và độc đáo Trong thể thơ 7 chữ, nhà thơ sử dụng lối ngắt nhịp 3/4 cùng cách dùng dấu chấm trong câu thơ để tạo nhịp điệu riêng biệt Thể thơ lục bát và song thất lục bát vẫn giữ những đặc điểm truyền thống nhưng đồng thời phản ánh nội dung mới của thời đại Thơ tự do của Tố Hữu mang nhiều sáng tạo về ngôn ngữ, nhịp điệu và gieo vần, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà thơ.
Ngữ âm trong từng bài thơ mang đặc trưng riêng, giúp thể hiện thành công cảm xúc của chủ thể nhà thơ Vần thơ phong phú và đa dạng, bao gồm vần chân, vần lộn, vần liền, vần cách, vần chính và vần thông, giúp tác phẩm dễ nhớ, dễ thuộc và đi vào lòng người đọc Nhịp thơ cân đối hài hòa nhưng vẫn linh hoạt tự do, có thể sử dụng cách ngắt nhịp truyền thống của thơ ca Việt Nam hoặc sáng tạo riêng để thể hiện cảm xúc và nội dung bài thơ một cách sâu sắc.
Tố Hữu tổ chức bài thơ đa dạng, phù hợp với mạch cảm xúc riêng của nhà thơ Các tác phẩm có thể ngắn gọn chỉ gồm bốn câu hoặc dài hơn một trăm câu, thể hiện sự linh hoạt trong cấu trúc Khổ thơ và đoạn thơ được sáng tạo tự do, từ bốn câu đến năm câu hoặc kéo dài hơn, phản ánh tính sáng tạo và đa dạng trong phong cách viết của tác giả Tiêu đề bài thơ thường dễ hiểu, gần gũi và phù hợp với nội dung, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và hiểu ý nghĩa của tác phẩm.
Từ ngữ và những biện pháp tu từ nổi bật trong gió lộng
Đặc điểm về những lớp từ ngữ trong Gió lộng
3.1.1 Thống kê các lớp từ xuất hiện với số l-ợng lớn và tần số cao
Trong tập thơ Gió lộng của Tố Hữu, các lớp từ thể hiện vốn từ ngữ đa dạng và phong phú của nhà thơ Các lớp từ này bao gồm lớp từ chỉ thiên nhiên, lớp từ chỉ không gian, lớp từ chỉ thời gian, lớp từ chỉ tâm trạng, và lớp từ chỉ địa danh, tên người Những lớp từ này được sử dụng với số lượng lớn và tần suất cao trong toàn tập thơ, phản ánh sâu sắc cảm xúc, bối cảnh và không gian mà nhà thơ muốn truyền tải Thống kê và phân loại các lớp từ này giúp làm rõ sự phong phú của vốn từ ngữ trong tác phẩm, góp phần nâng cao hiệu quả ngôn ngữ và biểu đạt của bài thơ.
Bảng 3.1 Những lớp từ trong tập thơ Gió lộng Những lớp từ Số l-ợng Tần số xuất hiện
Lớp từ chỉ thiên nhiên 118 175
Lớp từ chỉ không gian 102 289
Lớp từ chỉ thời gian 112 177
Lớp từ chỉ tâm trạng 52 67
Lớp từ chỉ địa danh, tên riêng 111 198
3.1.2 Mô tả các lớp từ trong Gió lộng 3.1.2.1 Lớp từ chỉ thiên nhiên
Lớp từ chỉ thiên nhiên bao gồm các từ ngữ dùng để miêu tả các hiện tượng tự nhiên và thế giới động thực vật xung quanh con người Những từ này giúp chúng ta nhận biết và mô tả vẻ đẹp, sự phong phú của thiên nhiên trong cuộc sống hàng ngày Từ xưa đến nay, thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca, góp phần làm phong phú ngôn ngữ và nghệ thuật Việt Nam.
Thiên nhiên là thế giới bên ngoài, nơi con người có thể trãi lòng để thể hiện những nỗi niềm sâu kín Đối với thi nhân xi-a, thiên nhiên là người bạn tâm giao giúp họ giãi bày cảm xúc Với các nhà thơ Mới, thiên nhiên trở thành nơi gửi gắm tâm sự khi họ cảm thấy cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời.
Trong tập thơ Gió lộng của Tố Hữu, các từ liên quan đến thiên nhiên xuất hiện trong 15 trên tổng số 25 bài, chiếm tỷ lệ 62,5%, thể hiện sự đa dạng và phổ biến của chủ đề thiên nhiên trong tác phẩm Tổng cộng, có 118 từ về thiên nhiên xuất hiện với tần suất 175 lần, cho thấy tầm ảnh hưởng lớn của thiên nhiên trong nội dung thơ của Tố Hữu Các từ ngữ về thiên nhiên góp phần tạo nên vẻ đẹp, cảm xúc và chiều sâu cho tập thơ, đồng thời nâng cao giá trị nghệ thuật và ý nghĩa nhân văn của tác phẩm.
Trong tập thơ "Gió lộng," thiên nhiên là chứng nhân thể hiện sự đổi thay của cuộc đời mới, phản ánh qua các hình ảnh thiên nhiên gắn bó mật thiết với sự sống và các chặng đường lịch sử của dân tộc Đọc thơ Tố Hữu, ta nhận thấy thiên nhiên luôn xuất hiện trong sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, thể hiện rõ nét quá trình chuyển đổi của đất nước Những hình ảnh thiên nhiên trong thơ không chỉ là biểu tượng của cuộc sống, mà còn là biểu tượng của sức mạnh, niềm tin và hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn Trong đó, thiên nhiên trở thành phương tiện biểu đạt cảm xúc sâu sắc của nhà thơ, thể hiện sự gắn bó máu thịt giữa con người và đất nước qua các thời kỳ lịch sử.
X-a là rừng núi, là đêm Giờ thêm sông biển, lại thêm ban ngày
Trong quá khứ, hình ảnh trăng tượng trưng cho nỗi buồn, chia ly và những cảm xúc u buồn của con người Nhà thơ đã sử dụng vầng trăng để thể hiện sự giản đơn, chân thành của tình yêu, cũng như nỗi nhớ nhung trong các giai đoạn lịch sử khác nhau Tuy nhiên, trong cảm nhận của thời hiện tại, trăng trở thành biểu tượng của niềm vui, sự tự do và độc lập trong cuộc sống Sự thay đổi cách cảm nhận về trăng phản ánh sự biến chuyển của tâm hồn con người theo từng thời kỳ lịch sử.
Rồi thôi trăng qua Trăng đi xa rồi ¤i vÇng tr¨ng x-a Bao giờ luân hồi?
Trong những ngày đất nước hòa bình, vầng trăng tròn đầy, tràn ngập sức sống và hòa quyện cùng con người như những người bạn tri âm, thể hiện vẻ đẹp bình yên và gắn bó sâu sắc giữa thiên nhiên và cuộc sống Đêm qua, trăng sáng rõ, phản chiếu mặt nước tạo nên khung cảnh thơ mộng, bình dị nhưng đầy sức sống, nhấn mạnh tầm quan trọng của thiên nhiên trong đời sống con người.
Trăng t-ơi mặt ngọc trên trời Ngẩn ngơ trăng ngó mặt ng-ời nh- trăng
(Ba bài thơ trăng III) [44, 211]
Thiên nhiên trong thơ Tố Hữu ở thời quá khứ là những hình ảnh, từ ngữ gợi lên một thời kì tăm tối, u buồn:
Mây núi hiu hiu, chiều lặng lặng M-a nguồn gió biển, nắng xa khơi
Trong hiện tại thiên nhiên là hình ảnh hiện lên với không gian tự do, cao rộng, khoáng đạt nh- bộc lộ tâm trạng con ng-ời:
Chiều nay gió lặng Nắng hanh Mây bông trắng nõn trời xanh Bác về
Trong thơ của Tố Hữu, thiên nhiên thường được gắn liền với con người và sự đổi thay của cuộc sống mới, thể hiện qua những hình ảnh sống động về thiên nhiên gắn liền với nhịp sống mới của cộng đồng Những mô tả thiên nhiên trong tác phẩm của ông không chỉ mang tính chất mô tả mà còn thể hiện sự hòa quyện giữa tự nhiên và cuộc sống, biểu tượng cho sự phát triển, đổi mới và hy vọng Tố Hữu sử dụng hình ảnh thiên nhiên như “cánh chim không mỏi” để tượng trưng cho sự bền bỉ, kiên cường của con người trong hành trình xây dựng đất nước Những hình ảnh này góp phần làm nổi bật ý nghĩa của thiên nhiên như một biểu tượng của cuộc sống mới đang rạo rực, tràn đầy sức sống.
Tôi đi d-ới nắng tr-a Mùa xuân ấm áp Nghe hơi thở của đồng quê mập mạp Bãi phù xa xanh m-ợt ngô non
(Trên miền Bắc mùa xuân) [44, 201]
Haylà những đổi thay của cuộc sống mới ở vùng nông thôn sau ngày cách mạng thành công:
Ngày mỗi ngày, từng chiếc lá tre xanh Đã mọc lên quanh những làng kháng chiến
Ngày mỗi ngày, từng miếng đất cỏ gianh Đã lật lên d-ới l-ỡi cày mới luyện
Trong bài thơ Phạm Hồng Thái, nhà thơ đã sử dụng hình ảnh thiên nhiên như những chuẩn mực để so sánh vẻ đẹp và phẩm chất của người anh hùng Hình ảnh thiên nhiên không chỉ làm nổi bật lòng dũng cảm, sự hy sinh cao cả của Phạm Hồng Thái mà còn giúp gợi cảm xúc sâu sắc cho người đọc Những hình ảnh này thể hiện rõ nét tinh thần bất khuất, khí phách anh hùng của nhân vật, góp phần làm nổi bật ý nghĩa ca ngợi nghĩa cử hy sinh của ông.
Sống làm quả bom nổ Chết nh- dòng n-ớc xanh
Với anh hùng Nguyễn Thị Lý, Tố Hữu đã viết:
Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi thể hiện sự vượt qua thời gian, mang đậm nét đẹp tinh thần và nội tâm vĩnh cửu Mái tóc em như mây, như suối, tượng trưng cho sự mềm mại, tự nhiên và sức sống mãnh liệt Đôi mắt em nhìn như chớp lửa đêm đông, phản ánh sự nhiệt huyết, đam mê và sức mạnh nội tại khó phai nhạt theo thời gian Thịt da em hay là sắt, là đồng đều biểu tượng cho sự kiên cường, bền bỉ và sức mạnh vượt mọi thử thách của cuộc đời.
(Ng-ời con gái Việt Nam)[44, 208]
Lối so sánh này đã làm nổi bật những phẩm chất đặc biệt của người con gái Việt Nam, vừa bình dị và gần gũi trong cuộc sống hàng ngày, vừa sở hữu những phẩm chất kỳ vĩ và lớn lao khó rất? Đặc điểm nổi bật của người con gái Việt Nam thể hiện qua sự kết hợp hài hòa giữa sự giản dị, nhân hậu và ý chí kiên cường, tạo nên hình ảnh đẹp đẽ, truyền cảm hứng.
Cũng lấy thiên nhiên làm đối t-ợng quy chiếu để nói về con ng-ời nh-ng bài thơ Tiếng ru lại có một cách viết riêng:
Con ong làm mật, yêu hoa Con cá bơi, yêu n-ớc; con chim ca, yêu trời
Con ng-ời muốn sống, con ơi Phải yêu đồng chí, yêu ng-ời anh em
Trong bài thơ, nhà thơ sử dụng hình ảnh thiên nhiên để truyền tải những bài học đạo đức về cuộc sống, nhấn mạnh rằng con người cần biết yêu thương và đoàn kết với anh em, đồng loại Những hình ảnh sinh động từ thiên nhiên giúp bài thơ trở nên nhẹ nhàng, gần gũi và dễ đi vào lòng người hơn, đồng thời làm tăng sức thuyết phục của thông điệp đạo đức Chính nhờ cách tiếp cận này, bài thơ không chỉ mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc mà còn tạo ra sự xúc cảm mạnh mẽ, giúp người đọc dễ dàng nhận thức và thực hành những bài học đạo đức trong đời sống hàng ngày.
Trong tập thơ Gió lộng, lớp từ chỉ thiên nhiên xuất hiện với tần suất khá dày đặc, phản ánh vai trò quan trọng của thiên nhiên trong tác phẩm Đối với Tố Hữu, thiên nhiên không chỉ là hình ảnh tươi đẹp mà còn là phương tiện để thể hiện những cảm xúc sâu sắc về sự đổi thay của đất nước và cuộc sống mới Qua các hình ảnh thiên nhiên, nhà thơ đã truyền tải thông điệp về niềm tự hào, hy vọng và niềm tin vào tương lai sáng lạng của dân tộc.
3.1.2.2 Lớp từ chỉ không gian
Trong tập thơ Gió lộng của Tố Hữu, nhà thơ đã sử dụng hệ thống từ ngữ chỉ không gian phong phú để phản ánh cuộc sống Không gian trong thơ bao gồm cả không gian thực tế của miền Bắc những năm đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa và không gian ký ức của những ngày cách mạng thành công Các từ chỉ không gian trong thơ được sử dụng đa dạng với 102 từ, xuất hiện tổng cộng 289 lần, thể hiện sự phong phú và sâu sắc trong cách Tố Hữu khắc họa thế giới xung quanh Các không gian trong tác phẩm gồm có không gian trên cao như trời, mây, mặt trời, trăng; không gian trần thế như con đường, biển sâu, dòng sông, cánh đồng; và cả không gian dưới đất như huyệt, bẫy, góp phần làm nổi bật bối cảnh và cảm xúc của nhà thơ.
Qua khảo sát và phân loại, chúng tôi nhận thấy, lớp từ chỉ không gian trong tập thơ đ-ợc phân loại nh- sau:
Bảng 3.2 Bảng thống kê số l-ợng và tỉ lệ các lớp từ chỉ không gian
Chiều không gian Số l-ợng Tỉ lệ
Không gian trên cao trong tập Gió lộng của Tố Hữu thể hiện hình ảnh bầu trời cao rộng, thoáng đãng, tượng trưng cho sự tự do và khát vọng của dân tộc Bầu trời trong tác phẩm gợi lên cảm giác rộng lớn, tự do và độc lập, phản ánh tinh thần đoàn kết và sức mạnh của nhân dân trong việc giành lấy độc lập tự do cho đất nước Tác phẩm nhấn mạnh quyền sống tự do của con người và niềm tự hào về sự tự do của dân tộc trước thời khắc lịch sử quan trọng.
Nghìn mảnh t-ơng lai về phấp phới Truyền đơn cờ đỏ gió tung trời
Những biện pháp tu từ nổi bật trong Gió lộng
Nhân hoá là (còn gọi là nhân cách hoá) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa đ-ợc sử dụng rộng rãi trong văn học nghệ thuật
Nhân hoá là một dạng biến thể của ẩn dụ, sử dụng các từ ngữ biểu thị đặc điểm của con người để mô tả các thuộc tính hoặc dấu hiệu không phải của con người Phương pháp này giúp đối tượng được miêu tả trở nên thân thiện, dễ hiểu hơn và cũng hỗ trợ người nói thể hiện tâm trạng, thái độ một cách kín đáo hơn.
Trong tập thơ "Gió lộng", Tố Hữu sử dụng biện pháp nhân hoá phong phú để thể hiện một thế giới thiên nhiên sống động và tràn đầy cảm xúc, phản ánh cuộc sống đang chuyển biến mới Các hình ảnh như cỏ cây, sông núi, trời mây, trăng sao, con đường, nhà máy đều được nhà thơ gắn liền với nội tâm nhân vật, trở thành những "bạn" của con người biết yêu thương, ghét bỏ, cảm thông, giận dữ, vui buồn Đặc biệt, địa danh xứ Huế – Quê mẹ – được nhà thơ gọi với những lời gọi thiêng liêng, tha thiết, thể hiện tình cảm sâu đậm và niềm tự hào về quê hương của mình.
Huế ơi quê mẹ của ta ơi Nhớ tự ngày x-a tuổi chín m-ời
Huế được nhà thơ gọi tên như một con người, thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc đối với quê hương Biện pháp nhân hoá trong tác phẩm giúp tạo nên hình ảnh sinh động, thể hiện tâm trạng yêu thương và trân trọng của nhà thơ đối với vùng đất lịch sử này Từ đó, độc giả cảm nhận rõ nét tình cảm thiêng liêng mà nhà thơ dành cho Huế, như một người bạn thân thiết luôn đồng hành cùng ông qua từng dòng thơ.
Tháng Tám vùng lên Huế của ta
Bừng bừng tiếng hát rung song sắt Tiếng hát ta bay lộng giữa đời…
Tiếng hát là âm thanh do con người phát ra theo các tiết tấu và giai điệu, thể hiện cảm xúc và tinh thần của dân tộc Trong câu thơ này, tiếng hát được gắn liền với những đặc tính nhân cách của con người như sự rung động mạnh mẽ, khả năng bay lượn tự do để thể hiện niềm vui và sức mạnh của dân tộc Tiếng hát còn là biểu tượng của niềm tự hào, ý chí quật cường trong ngày đất nước vùng lên dành độc lập.
Giặc về giặc chiếm đau x-ơng máu Đau cả lòng sông đau cỏ cây
Trong bài viết, sông và cỏ cây được nhân hoá để thể hiện cảm xúc và tình cảm sâu sắc của nhà thơ Phương pháp nghệ thuật nhân hóa giúp nhấn mạnh tội ác của giặc, khiến người đọc cảm nhận rõ sự tàn bạo và độc ác của quân xâm lược Đồng thời, hình ảnh nhân hoá còn phản ánh tình cảnh khốn cùng của dân tộc ta, bị áp bức và đau thương vì những hành động tội ác đó Nhà thơ sử dụng biện pháp nhân hóa nhằm truyền tải thông điệp về sự bất công và nỗi đau của đất nước, góp phần thể hiện nổi bật chủ đề của bài thơ.
Giật mình nghe tiếng còi dài gióng giả
Trên đ-ờng sắt, chuyến tàu tr-a hối hả
(Trên miền Bắc mùa xuân) [44, 202]
Hôm nay, mùa thu mới gọi tên những cảm xúc mùa thu tràn đầy trong lòng Những ngày qua, chứa đựng bao nhiêu vui vẻ, ký ức rộn ràng của mùa thu Những con đường ca hát, rộn ràng, thể hiện tình yêu với mùa thu và cuộc sống Dưới mái nhà mới dựng trên công trường, niềm vui và hy vọng về một tương lai tươi sáng đã bắt đầu nở rộ.
Mùa thu mới mang hình ảnh chiếc chuyến tàu, con đường và mùa thu, tượng trưng cho sự đổi thay của cuộc sống và xã hội Những hình ảnh này phản ánh đặc tính của con người: hối hả, gọi mời, ca hát thể hiện tinh thần phấn chấn, khát vọng xây dựng cuộc sống mới Không chỉ con người mà cả miền Bắc đang cùng nhau chạy đua theo nhịp thời gian để xây dựng xã hội chủ nghĩa, thể hiện quyết tâm và niềm tin vào tương lai tươi sáng.
Trăng qua rào song Trăng nghiêng mặt c-ời
Tr¨ng ®i qua nói qua rõng Hỏi anh T.S “có ưng nhắn gì?”
(Ba bài thơ trăng) [44, 211] Đêm qua trăng sáng Cổ Ng- Trăng đầy mặt n-ớc trăng in mặt mg-ời Trăng t-ơi mặt ngọc trên trời
Ngẩn ngơ trăng ngó mặt ng-ời nh- trăng
Trăng được ví như con người với những hoạt động, bộ phận và đặc điểm như nghiêng mặt, tung sắc đẹp, đi, tươi mặt ngọc Phép nhân hóa trong các câu mô tả đã gợi lên vẻ đẹp của trăng, của thiên nhiên và con người, khi họ hoá thân vào nhau để tôn vinh vẻ đẹp của cả thiên nhiên và con người Trong bài thơ "Tiếng chổi tre", nhà thơ sử dụng phép nhân hóa để truyền đạt bài học triết lý về việc ghi nhớ công lao của những người đi trước, nhấn mạnh giá trị của lòng biết ơn và truyền thống.
Những đêm hè Khi ve ve Đã ngủ
Nhí nghe hoa Ng-ời quét rác Đêm qua
Hoa tượng trưng cho lời nhắc nhở con người luôn biết tri ân thiên nhiên, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ghi nhớ và trân trọng những giá trị mà các thế hệ đi trước đã tạo dựng Việc giữ gìn và phát huy những giá trị này giúp chúng ta sống hòa hợp với môi trường và phát triển bền vững Trân trọng quá khứ không chỉ thể hiện lòng biết ơn mà còn là nền tảng để hướng tới tương lai tươi sáng hơn.
Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu n-ớc con chim ca yêu trời
Núi cao bởi có đất bồi Núi chê đất thấp núi ngồi ở đâu Muôn dòng sông đổ bể sâu Biển chê sông nhỏ, biển đâu n-ớc còn?
Tre già yêu lấy măng non Chắt chiu nh- mẹ yêu con tháng ngày
Biện pháp nhân hoá trong câu thơ đã gắn cho sự vật như ong, cá, chim, núi, biển, tre những đặc tính và phẩm chất của con người, nhằm truyền đạt bài học triết lý sâu sắc Qua đó, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc luôn nâng niu, quý trọng những người xung quanh và đoàn kết để tạo nên sức mạnh vượt qua giới hạn của cá nhân Nội dung này góp phần nhấn mạnh giá trị của tình cảm, đoàn kết trong cuộc sống và răn dạy con người sống biết trân trọng người khác.
Thơ Tố Hữu th-ờng sử dụng kiểu nhân hoá gọi tên, đối thoại với các mùa, các sự kiện để nói về sự thay đổi của đất n-ớc:
Chào xuân đẹp! Có gì vui đấy Hỡi em yêu? Mà má em đỏ dậy Xuân ơi xuân, vui tới mênh mông Biển vui dâng sóng trắng đầu ghềnh
Chào 61! đỉnh cao muôn tr-ợng
(Bài ca mùa xuân 1961) [44, 233] Đ-ờng nở ngực Những hàng d-ơng liễu nhỏ Đã lên xanh nh- tóc tuổi m-ời lăm
"Bài ca mùa xuân 1961 ra đời trong bối cảnh miền Bắc đang bước vào giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa, niềm vui chiến thắng độc lập và tự do lan tỏa khắp mọi nơi Bài hát thể hiện niềm vui trước những đổi thay của xã hội qua hình ảnh nhân hoá đường nở ngực, mang đến cảm xúc mạnh mẽ và sức gợi cảm đặc biệt Những câu thơ sống động phản ánh niềm hân hoan của nhân dân trong mùa xuân mới, đồng thời khẳng định bước tiến tích cực của đất nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội."
Hòn Nẹ ta ơi! Mảng về ch-a đó
Có nhiều không con nục con thu?
Chào những cánh buồm nâu thuyền câu Diêm Phố Nhớ nhau chăng, hỡi Hanh Cát, Hanh Cù?
Sóng hãy gầm lên, gió thét lên!
Triều dâng Chèo mạnh, thuyền ơi thuyền!
Sóng, gió, thuyền đ-ợc nhân hoá đã gợi lên những phong ba bão táp và ý chí v-ợt qua thử thách của ng-ời chiến sĩ cách mạng
3.2.2 Biện pháp hoán dụ Hoán dụ là định danh thứ hai dựa trên mối liên hệ hiện thực giữa khách thể đ-ợc định danh với khách thể có tên gọi đ-ợc chuyển sang dùng cho khách thể đ-ợc định danh [25, 66]
Hoán dụ tu từ giống như ẩn dụ đều có hai bộ phận chính: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, trong đó chỉ có cái biểu đạt thể hiện rõ ràng còn cái được biểu đạt thường bị giấu đi Tác giả và người đọc cùng chung một mục tiêu: khám phá ra ý nghĩa sâu xa phía sau lớp ngôn ngữ biểu đạt Việc tìm kiếm cái được biểu đạt là một quá trình phức tạp nhưng mang lại những khám phá bất ngờ và thú vị về khả năng biểu đạt và chiều sâu liên tưởng của hoán dụ Chính nhờ giá trị biểu đạt này, hoán dụ được sử dụng rộng rãi trong thơ ca để tạo ra sức gợi cảm và lớp ý nghĩa đa chiều.
Trong tập Gió lộng, Tố Hữu đã sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ hoán dụ đa dạng để tạo nên hình ảnh sống động và gần gũi Nhà thơ dựa vào các mối liên hệ thực tế, như mối quan hệ giữa toàn thể và bộ phận, để thể hiện cảm xúc và ý nghĩa sâu sắc, ví dụ như hình ảnh "Ôi những đêm x-a tối mịt mùng, con nằm bên mẹ ấm tròn lòng," thể hiện sự ấm áp, sự gắn bó thiêng liêng trong gia đình.
L-ng là một bộ phận trên cơ thể ng-ời tiếp giáp với mặt phẳng khi con ng-ời nằm Trong câu thơ trên l-ng là cả cơ thể con ng-ời đây là biện pháp tu từ hoán dụ dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
Tôi chạy trên miền Bắc Hớn hở giữa mùa xuân Rộn rực muôn màu sắc Náo nức muôn bàn chân
(Trên miền Bắc mùa xuân) [44, 200]
Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đập bùn mà không sợ các loài sên!
TiÓu kÕt
Qua việc phân tích tập thơ Gió lộng của Tố Hữu về mặt từ ngữ và các biện pháp tu từ, chúng ta nhận thấy tác phẩm thể hiện rõ nét tâm trạng và tư tưởng của nhà thơ qua các hình ảnh biểu cảm, sử dụng biện pháp tu từ như ẩn dụ và hoán dụ để tăng tính biểu cảm Phương thức biểu đạt chính của tập thơ là kết hợp giữa ngôn ngữ trữ tình chân thành và nghệ thuật sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, góp phần truyền tải thông điệp sâu sắc về cuộc sống và đấu tranh cách mạng Đồng thời, các biện pháp tu từ trong Gió lộng giúp tăng cường sức mạnh biểu cảm, làm nổi bật cảm xúc của nhà thơ trước những biến động lịch sử của đất nước Từ đó, có thể khẳng định rằng, Tố Hữu đã thành công trong việc khai thác từ ngữ và tu từ để thể hiện rõ ràng cảm xúc và ý chí của mình qua tập thơ này.
Trong tập thơ Gió lộng, Tố Hữu sử dụng năm lớp từ phong phú, gồm lớp từ chỉ thiên nhiên, không gian, thời gian, tâm trạng, và địa danh, tên người Những lớp từ này không chỉ thể hiện vốn từ ngữ đa dạng, phong phú của tác giả mà còn phản ánh rõ nét đặc điểm nổi bật của thơ Tố Hữu trong tập thơ Gió lộng Thơ Tố Hữu thể hiện tiếng nói vui tươi của một dân tộc vừa dành được độc lập, đồng thời là nhà thơ của những lẽ sống cao đẹp và niềm vui lớn.
Trong tập thơ, nhà thơ đã sử dụng thành công các biện pháp tu từ như nhân hoá, so sánh, hoán dụ, điệp ngữ để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm và ý nghĩa của tác phẩm Phép nhân hoá giúp gắn cho thế giới vô tri những đặc điểm của con người, làm cho các sự vật trở nên sống động và gần gũi hơn Công thức so sánh làm cho thơ thêm phần giàu hình ảnh, cảm xúc, giúp các vật được so sánh trở nên khái quát và sâu sắc hơn Những biện pháp tu từ này góp phần nâng cao hiệu quả thẩm mỹ của bài thơ, đồng thời giúp làm nổi bật đối tượng miêu tả và thể hiện rõ cảm xúc của nhân vật trữ tình.
Trong quá trình khảo sát và phân tích 25 bài thơ trong tập "Gió lộng" của Tố Hữu, chúng tôi nhận thấy rằng ngôn ngữ của ông mang nhiều đặc điểm nổi bật Thơ của Tố Hữu sử dụng từ ngữ chân thực, mộc mạc, thể hiện rõ nét tính dân tộc và truyền thống Việt Nam Các câu thơ cô đọng, súc tích nhưng vẫn truyền tải được nhiều cảm xúc sâu sắc, tạo nên sức hấp dẫn riêng biệt Ngoài ra, ông còn sử dụng ngôn ngữ mang tính hình tượng cao, góp phần làm tăng tính nghệ thuật và cảm xúc của tác phẩm Nhờ đó, thơ Tố Hữu không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống mà còn thể hiện rõ nét tư duy chính trị và tình cảm thiêng liêng đối với đất nước.
1 Trong sáng tác ở giai đoạn cuộc kháng chiến chống thức dân Pháp vừa giành đ-ợc thắng lợi, Tố Hữu sử dụng khá nhiều thể thơ song nhìn chung tác giả chủ yếu lựa chọn các thể thơ sau đây: Thơ 5 chữ, thơ lục bát, thơ 7 chữ và thơ tự do Điều đặc biệt là ở thể thơ nào Tố Hữu cũng có những tìm tòi, đỏi mới và có những sáng tạo riêng làm phong phú thêm cho các thể thơ truyền thống của văn học dân tộc
2 Nhịp điệu trong thơ Tố Hữu khá đa dạng và linh hoạt cùng với những các gieo vần phong phú nh- vần chính, vần thông, vần thông, vần chân, vần l-ng, vần liền, vần ôm, vần cách Cách gieo vần và sử dụng nhịp điệu trong thơ cùng với những đặc tr-ng về nguyên âm, phụ âm, thanh điệu đã tạo nên nhạc tính trong thơ ông Vì vậy đọc thơ Tố Hữu dễ nhận thấy thơ ông khi thì có giọng nhẹ nhàng tha thiết, khi sôi nổi thiết tha vừa kế thừa âm h-ởng dân ca, ca dao lại có những đổi mới của thời đại
3 Cách tổ chức bài thơ của Tố Hữu cũng mang những đặc điểm riêng của nhà thơ: bài thơ đ-ợc tổ chức linh hoạt và đa dạng, bài thơ, khổ thơ, câu thơ không bị hạn chế bởi số l-ợng câu số l-ợng tiếng mà nó luôn đi theo mạch cảm xúc của nhà thơ Hơn nữa thơ Tố Hữu trong Gió lộng viết về thời kỳ đất n-ớc vừa giành đ-ợc độc lập tự do đang bắt tay vào xây dựng cuộc đời mới nên bài thơ, khổ thơ, câu thơ có lúc dài ngắn theo nhịp điệu cuộc sống và cảm hứng của tác giả Tiêu đề của bài thơ dễ hiểu và phản ánh đ-ợc nội dung của bài thơ
4 Thơ Tố Hữu lựa chọn sử dụng với mật độ khá dày các lớp từ chỉ thiên nhiên, lớp từ chỉ không gian, thời gian và lớp từ chỉ tâm trạng, lớp từ là những danh từ riêng chỉ tên đất, tên ng-ời và những lớp từ này trở thành chất liệu biểu đạt nghệ thuật rất hiệu quả Các lớp từ này đã làm nên một trong những đặc điểm lớn của thơ Tố Hữu đó là khuynh h-ớng sử thi và cảm hứng lãng mạn Đó là hệ thống từ ngữ đ-ợc lựa chọn in đậm dấu ấn của thời đại xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất n-ớc ở miền Nam
5 Thơ Tố Hữu cũng sử dụng khá thành công các biện pháp tu từ nh- nhân hoá, hoán dụ, so sánh và điệp ngữ Đặc biệt nhất là phép tu từ so sánh, vật đ-ợc so sánh trong thơ Tố Hữu th-ờng mang tính trừu t-ợng, khái quát hơn, khơi gợi đ-ợc tính sáng tạo ở ng-ời đọc Chính những biện pháp tu từ này đã góp phần lớn làm nên đặc điểm ngôn ngữ thơ Tố Hữu vừa đậm đà tính dân tộc vừa mang tinh thần của thời đại
6 Thơ Tố Hữu trong Gió lộng mang sắc thái riêng góp nên một tiếng nói riêng hoà vào phong cách chung của thơ ca cách mạng Việt Nam thời kỳ sau cách mạng tháng Tám.