1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị trào lộng của liêu trai chí dị

109 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị trào lộng của liêu trai chí dị
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Long
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 915,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cập đến giá trị trào lộng trong Liêu Trai chí dị còn có các công trình khác đáng lưu ý như: Giới thiệu bộ truyện Liêu Trai chí dị và tác giả Bồ Tùng Linh Đàm Quang Hưng; Phong cách n

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2.Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5.Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của luận văn 4

7 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ ĐỂ NGHIÊN CỨU CẢM HỨNG TRÀO LỘNG CỦA LIÊU TRAI CHÍ DỊ 6

1.1 Tiểu sử Bồ Tùng Linh và thời đại tác giả 6

1.1.1 Tiểu sử 6

1.1.2 Thời đại tác giả 8

1.2 Những đặc điểm chủ yếu của thể loại truyền kỳ 10

1.3 Giới thiệu khái quát về Liêu Trai chí dị 14

1.4 Cảm hứng trào lộng 19

1.4.1.Giới thuyết một số khái niệm 19

1.4.2 Cơ sở xã hội của cảm hứng trào lộng 20

Chương 2: NHỮNG ĐỐI TƯỢNG CHỦ YẾU ĐƯỢC THỂ HIỆN BẰNG CẢM HỨNG TRÀO LỘNG TRONG LIÊU TRAI CHÍ DỊ 23

2.1 Đời sống chính trị xã hội 23

2.1.1.Bọn tham quan ô lại 23

2.1.2 Những hủ tục kiềm tỏa tình cảm cá nhân 30

2.2 Thế thái nhân tình 32

2.3 Chế độ học hành thi cử 34

2.3.1 Sĩ tử 35

Trang 3

Chương 3 : NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CẢM HỨNG TRÀO LỘNG

TRONG LIÊU TRAI CHÍ DỊ 52

3.1 Sử dụng yếu tố siêu thực 52

3.1.1 Giới thuyết về yếu tố siêu thực 52

3.1.2 Siêu thực trong xây dựng nhân vật 54

3.1.3 Siêu thực trong xây dựng cốt truyện 60

3.2 Khai thác những mâu thuẫn trong đời sống 65

3.3 Kết hợp cái thực và cái siêu thực 69

3.3.1 Cái thực 69

3.3.2 Cái siêu thực 74

3.3.3 Ý nghĩa của quan hệ giữa cái thực và cái siêu thực 77

3.4 Các thủ pháp nghệ thuật khác 80

3.4.1.Nghệ thuật châm biếm 80

3.4.2 Không gian và thời gian nghệ thuật 86

3.4.2.1 Không gian nghệ thuật 87

3.4.2.2 Thời gian nghệ thuật 92

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Liêu Trai chí dị là tập truyện truyền kỳ nổi tiếng nhất của Trung Quốc Tác phẩm được đánh giá là "thiên cổ kỳ thư" Liêu Trai vốn là tên phòng văn của tác giả đã trở thành tên một loại tác phẩm (truyện Liêu

Trai), thành danh từ chung: Gương mặt liêu trai, hiện tượng liêu trai, kiểu

liêu trai Với nghĩa kỳ dị, lạ thường, ma quái Có thể nói Liêu Trai chí dị

có sức sống diệu kỳ không chỉ ở giá trị hiện thực rộng rãi và sâu sắc, toàn diện mà còn ở nghệ thuật viết truyền kỳ điêu luyện, tài hoa

1.2 Bồ Tùng Linh viết tác phẩm này dưới triều Thanh Nhà Thanh là một triều đại ngoại tộc thống trị trung nguyên (phần lãnh thổ Trung Quốc với người Hán là dân cư chủ yếu) nên thực hiện chính sách cai trị hà khắc

Xã hội phong kiến vốn đã có nhiều điều tệ hại, đến thời kỳ này lại có thêm những điều tệ hại mới Là nhà văn tài năng và có lương tâm, Bồ Tùng Linh

đã đưa vào tác phẩm của mình tiếng cười có nhiều sắc thái, góp phần làm nên giá trị cao của tác phẩm

1.3 Liêu Trai chí dị có ảnh hưởng đáng kể đến nhiều tác giả, tác

phẩm văn chương của Việt Nam nói chung và ở phương diện nghệ thuật trào lộng nói riêng Nghiên cứu giá trị trào lộng của tác phẩm này góp phần nhận thức ảnh hưởng đó

1.4 Trong chương trình Ngữ văn lớp 10 có văn bản Dế chọi, rút từ tập Liêu Trai chí dị Đây là tác phẩm thấm nhuần cảm hứng trào phúng

chính trị Nghiên cứu đề tài này góp phần dạy - học tốt hơn văn bản đó và các văn bản truyện truyền kỳ khác trong chương trình Ngữ văn trường phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

Trang 5

phẩm đạt đến đỉnh cao viên mãn của thể loại truyền kỳ Trung Quốc

2.1 Bồ Tùng Linh (1640-1715), người tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc,

tự là Lưu Tiên lại có tự là Kiếm Thần, biệt hiệu: Liễu Tuyền cư sĩ, tự xưng

là Dị Sử thị , người đời còn gọi là Liêu Trai tiên sinh Ông là tác giả của nhiều thơ, tiểu thuyết và truyện ngắn Nhưng nổi tiếng nhất là tập tiểu

thuyết truyền kỳ đoản thiên Liêu Trai chí dị Tác phẩm lúc mới hoàn

thành gồm 8 quyển, 491 truyện, sáng tác vào đầu đời nhà Thanh Liêu Trai

chí dị giống một bộ tranh liên hoàn

2.2 Từ lâu bộ tiểu thuyết bằng văn ngôn Liêu Trai chí dị là một sáng

tạo nghệ thuật độc đáo được các nhà nghiên cứu thừa nhận trên nhiều phương diện Có nhiều vấn đề của tác phẩm được các học giả Trung Quốc

và ngoại quốc rất quan tâm Bởi vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu

Liêu Trai chí dị

Trong Lời giới thiệu cuốn Liêu Trai chí dị do nhà xuất bản văn học

nghệ thuật quốc gia in ở Maxcơva năm 1957, viện sĩ N.T.Phêđôrencô khẳng định: Bồ Tùng Linh là “tác giả truyện ngắn xuất sắc” của Trung Quốc Năm 1950, Bồ Tùng Linh được UNESCO kỉ niệm như một danh

nhân văn hóa thế giới Nhân dịp này, bộ Liêu Trai chí dị càng được nhiều

người đánh giá cao như

Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh trong Văn học sử Trung Quốc, tập 3, dành gần mười trang nghiên cứu về Liêu Trai chí dị với bài Liêu Trai

chí dị và những tiểu thuyết đoản thiên khác Bên cạnh đó họ cũng chỉ ra

một trong những nguyên nhân khiến mọi người ưa thích bộ Liêu Trai chí dị

chính là có nhiều chuyện kể về tình yêu giữa người và hồ tinh Các tác giả

của cuốn Tiểu thuyết cổ Trung Quốc đã nhận xét về ảnh hưởng văn hóa dân gian trong sáng tác Liêu Trai chí dị Các nhà nghiên đã nhận định về yếu tố

Trang 6

Trần Xuân Đề trong công trình Về những bộ tiểu thuyết cổ điển hay

nhất của Trung Quốc nói đến khả năng phản ánh hiện thực rộng lớn của tác

phẩm Tác giả cuốn 180 nhà văn Trung Quốc nhận định về khuynh hướng

sáng tác của tác giả Bồ Tùng Linh đồng thời khẳng định vị trí của tác phẩm trên văn đàn thế giới Có những tác giả lại chú ý đến một trong những vấn

đề nổi trội trong tác phẩm này là vấn đề tính dục như: Hồ Đắc Duy, Trần

Thế Hương, Nguyễn Huệ Chi trong bài Một vài phương diện tư tưởng và

nghệ thuật của Bồ Tùng Linh trong Liêu Trai chí dị đã chỉ ra tư tưởng phức

tạp của Bồ Tùng Linh, phân tích đặc điểm kiểu nhân vật nho sinh, nhân vật

đạo sĩ và nhân vật người phụ nữ Nguyễn Thị Bích Dung trong bài Chân

dung kẻ sĩ - thương nhân trong Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh đã có

nhiều phát hiện về kiểu nhân vật thương nhân vốn xuất phát là những nho sinh bất đắc chí trong thi cử Từ đó nhận ra được những tư tưởng tiến bộ

mới mẻ, vượt thời đại của ông

Đề cập đến giá trị trào lộng trong Liêu Trai chí dị còn có các công trình khác đáng lưu ý như: Giới thiệu bộ truyện Liêu Trai chí dị và tác giả

Bồ Tùng Linh (Đàm Quang Hưng); Phong cách nghệ thuật Liêu Trai chí dị

(Trần Văn Trọng);…Bên cạnh đó, có thể kể đến các công trình nghiên cứu

về truyện truyền kỳ liên quan đến tác phẩm này của Bồ Tùng Linh: Những

biến đổi của yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam (Vũ

Thanh); Truyện truyền kỳ Trung Quốc (Lâm Ngữ Đường); Lý luận văn học

nghệ thuật cổ điển Trung Quốc (100 điều) (Khâu Chấn Thanh); Cái “kì” trong tiểu thuyết truyền kì (Đinh Phan Cẩm Vân),

Nhìn chung, các công trình đã có những thành tựu nghiên cứu đáng

kể về các giá trị trong truyện truyền kỳ nói chung và trong Liêu Trai chí dị

nói riêng Đó thực sự là những gợi ý rất lớn cho những người đi sau tiếp tục

triển khai những đề tài nghiên cứu Liêu Trai chí dị Tuy nhiên khi nghiên

Trang 7

cứu vấn đề giá trị trào lộng trong Liêu Trai chí dị, các nhà nghiên cứu chưa

có cách nhìn thoả đáng về những yếu tố làm nên đặc sắc riêng, sức hấp dẫn riêng của cuốn “thiên cổ kỳ thư” này Các công trình chưa nghiên cứu giá

trị trào lộng trong Liêu Trai chí dị một cách toàn diện, khái quát để hiểu rõ

những đối tượng chủ yếu được thể hiện bằng cảm hứng trào lộng trong tác

phẩm truyền kỳ nổi tiếng này Nghiên cứu giá trị trào lộng trong Liêu Trai

chí dị vẫn là điều cần thiết Với thái độ thực sự cầu thị, chúng tôi đã tiếp

thu có chọn lọc những kiến giải của người đi trước, đồng thời tiếp tục tìm hiểu, triển khai một cách có hệ thống về đề tài này để hiểu hơn về giá trị trào lộng, tài năng văn chương cùng với những tiến bộ về mặt tư tưởng của văn sĩ Bồ Tùng Linh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung chú trọng nghiên cứu về giá trị trào lộng trong

Liêu Trai chí dị

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chọn một trong những văn bản dịch có số truyện vừa

phải và đáng tin cậy nhất để nghiên cứu Đó là bộ Liêu Trai chí dị, bản do

Tản Đà - Đào Trinh Nhất - Nguyễn Văn Huyền dịch, Nxb Văn học, 2002

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học phổ biến

như: thống kê - phân loại, hệ thống, đối sánh, phân tích, tổng hợp, và chú trọng những đặc điểm của truyện truyền kì

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống giá trị trào lộng, một giá trị

quan trọng của tác phẩm Liêu Trai chí dị ở các phương diện chủ yếu như

đối tượng của cảm hứng, phương thức tạo thành và lí giải giá trị này từ các nguyên nhân văn học và nguyên nhân phi văn học Các kết luận khoa học

có sức thuyết phục do kết hợp được lí luận có hệ thống với các dẫn chứng tiêu biểu

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được trình

bày trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở để nghiên cứu cảm hứng trào lộng của Liêu Trai chí dị Chương 2: Những đối tượng chủ yếu được thể hiện bằng cảm hứng

trào lộng trong Liêu Trai chí dị

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện cảm hứng trào lộng trong Liêu Trai chí dị

Cuối cùng là Tài liệu tham khảo

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ ĐỂ NGHIÊN CỨU CẢM HỨNG TRÀO LỘNG

CỦA LIÊU TRAI CHÍ DỊ

1.1 Tiểu sử Bồ Tùng Linh và thời đại tác giả

1.1.1 Tiểu sử

Bồ Tùng Linh sinh năm 1640 (năm thứ 13 Sùng Trinh đời Minh), mất năm 1715 (năm thứ 54 Khang Hy đời Thanh), tự Lưu Tiên, Kiếm Thần, biệt hiệu Liễu Tuyền Cư Sĩ, người Tri Xuyên (nay là Tri Bác, thuộc tỉnh Sơn Đông) Ông xuất thân trong một gia đình thương nhân, địa chủ nhỏ Thân sinh là Bồ Bàn Canh do lận đận trên đường khoa cử, đi thi không đỗ nên bỏ nho học chuyển sang làm thương nhân, nhưng vẫn không phục hồi được gia thế như mong muốn, trước sau vẫn không thoát khỏi vận

Trang 10

ốm, phải bỏ dở nửa chừng Đi thi mãi đến năm 60 tuổi mà vẫn không đỗ đạt Đến năm 71 tuổi ông được ban cho một hư danh là “Tuế Cống Sinh” Ông bi ai, đau xót tự ví mình như Biện Hoà, người ôm ngọc ba lần dâng cho ba vua (Lệ, Vũ và Văn vương), thì hai lần bị chặt cụt chân Bồ Tùng Linh tiếc tài năng của mình không được nhà cầm quyền biết đến Vợ khuyên nhủ ông mới chịu buông con đường sĩ hoạn Về sau ông đi dạy tư thục tại các gia đình quan viên, lấy đó làm nghề nuôi sống, có một thời gian ngắn ông từng đi làm chức mạc tân (thư kí văn thư trong cơ quan quân sự) Con đường khoa hoạn luôn luôn làm ông bất đắc chí, lòng đầy uất ức Ông

đã viết nên những thiên truyện ngắn bất hủ về đề tài này

Không những con đường khoa cử gặp nhiều đều bất đắc ý, mà cuộc sống của ông cũng khó khăn vô cùng Suốt đời ở nông thôn làm thầy giáo dạy tư, ông nghèo đến nỗi “nhà không vách không phên, cây cối um tùm, gai góc”, mười năm trời bệnh tật nghèo đói “ra cửa không có lừa để cưỡi”, suốt năm không được ăn miếng thịt Chính cuộc sống khốn khó của bản thân nơi nông thôn hẻo lánh, làm cho ông hiểu được đời sống, tư tưởng và tình cảm của quần chúng nhân dân Ông đã viết một số bài thơ, tản văn biểu thị tiếng nói của nhân dân Ông viết một số sách thuộc loại

thông tục phổ cập như Nhật dụng tục tự, Nông tang kinh…Một số truyện của Liêu Trai chí dị, biểu hiện tình cảm chân thật đáng quý của ông đối

với người nông dân chất phác hiền lành Tác phẩm của ông không thuần túy chỉ kể lại nỗi băn khoăn thắc mắc và lòng phẫn nộ bi ai của kẻ thất thế, mà còn phản ánh mâu thuẫn xã hội và biểu thị tư tưởng nguyện vọng của nhân dân

Bồ Tùng Linh vốn là người có khiếu văn thơ từ nhỏ và sáng tác từ

khá sớm, bắt đầu tuổi trung niên, ông vừa dạy học vừa sáng tác Liêu Trai

chí dị, mãi cho tới tuổi già mới xong Sách chưa được in nhưng bạn bè đã

chuyền nhau đọc và được lãnh tụ thi đàn thời bấy giờ là Vương Sĩ Chân tán thưởng Trong lời tựa viết lấy, tác giả tâm sự: “Mặc dù không có tài như

Trang 11

Can Bảo (viết bộ Sưu thần ký) nhưng rất thớch sưu tầm chuyện thần ma,

tõm tỡnh giống như người xưa ở Hàng Chõu (Tụ Thức bị biếm trớch về Hàng Chõu) thớch nghe chuyện quỷ Nghe đến đõu là đặt bỳt ghi chộp đến đấy, lõu ngày thành sỏch” ễng là tấm gương về một nhà giỏo nụng thụn

biết tỡm niềm vui trong việc sưu tầm và sỏng tỏc Ngoài bộ Liờu Trai chớ dị, ụng cũn viết khỏ nhiều thi ca (sau in thành Thi tập, 6 quyển); từ, văn (sau

in thành Văn tập 12 quyển), và những bài hỏt dõn gian, 14 thiờn hớ khỳc và

3 vở tạp kịch… Người đời nay đó tập hợp những sỏng tỏc đú vào bộ Bồ

Tựng Linh tập Thơ ụng khụng chỳ tõm gọt đẽo mà viết tự đỏy lũng nờn

chõn thực và hồn hậu, là tiếng núi trữ tỡnh của một con người từng nếm trải

đủ mọi đắng cay chua chỏt khắc khổ Sau này ụng cú cơ hội nghiờn cứu kinh sử, triết lý, văn chương và rất hứng thỳ với thiờn văn, nụng trang, y dược… Năm 1980 Bồ Tựng Linh được UNESCO kỉ niệm như một danh nhõn văn hoỏ thế giới

Sỏng tỏc chủ yếu : Liờu Trai chớ dị (tập hợp khoảng 448 truyện ngắn),

Liờu Trai văn tập (12 quyển), Liờu Trai thi tập (6 quyển với hơn 1000 bài

thơ, 170 bài từ, 14 vở ca khỳc dõn gian và 3 vở tạp kịch) Trước tỏc của ụng gồm truyện, tiểu thuyết, thơ

1.1.2 Thời đại tỏc giả

Minh - Thanh là giai đoạn cuối cùng của sự phát triển văn học cổ

điển Trung Quốc, cũng là giai đoạn mà tiểu thuyết Trung Quốc đạt đến trình độ mẫu mực Tiểu thuyết Minh - Thanh số l-ợng nhiều, đề tài hết sức

đa dạng phong phú Có tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết thần ma, tiểu thuyết nhân tình thế thái, tiểu thuyết đời th-ờng, có những tác phẩm là những sáng tác tập thể đ-ợc l-u truyền rộng rãi và đ-ợc thêm thắt bổ sung, hoàn thiện dần, có những tác phẩm do văn nhân sáng tác Nhìn chung những bộ tiểu thuyết này đều phản ánh rõ và chân thực t- t-ởng, khát vọng, tình cảm của ng-ời dân về hôn nhân, tình yêu, tự do

Trang 12

Những bộ tiểu thuyết đời Minh nh-: Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), Tây du ký ( Ngô Thừa Ân), Thuỷ hử (Thi Nại Am), đ-ợc đông đảo

bạn đọc truyền tụng, yêu thớch Câu chuyện trong những bộ tiểu thuyết này vốn đ-ợc l-u truyền rộng rãi trong cuộc sống và trải qua quá trình l-u truyền ngày càng đ-ợc đầy đủ hơn về nội dung, nghệ thuật Cỏc tiểu thuyết

đời Thanh như Nho lâm ngoại sử (Ngô Kính Tử), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần), Liêu Trai chí dị ( Bồ Tùng Linh), là những sáng tác cá nhân,

với quan điểm tiến bộ, hầu hết đ-ợc viết theo khuynh h-ớng hiện thực, với ngòi bút sắc sảo, phê phán xã hội toàn diện hơn, sâu sắc hơn so với các bộ

tiểu thuyết tr-ớc đó Trong đó, Liêu Trai chí dị là một tiêu biểu được đánh

giá sản phẩm của một cá tính sáng tạo mới Truyện ngắn văn ngôn đã trải

qua các thời đại từ chí quái Lục Triều (thế kỷ III - VI), đến truyền kỳ đời

Đ-ờng phát triển đến Tống - Nguyên rồi dần đi vào suy kiệt Bồ Tùng Linh

với Liêu Trai chí dị, một đỉnh núi lạ nhô lên, đạt thành tựu cao nhất của thể

loại truyện ngắn

Sau gần một thế kỉ chịu sự đô hộ của ng-ời Mông Cổ, năm 1368, cuộc khởi nghĩa của Chu Nguyên Ch-ơng đã lật đổ v-ơng triều Mông Nguyên lập nên nhà Minh Nhà Minh (1368-1644) là triều đại Hán tộc cuối cùng của Trung Quốc Sau từ mấy chục năm gõy dựng, nhà Minh xây dựng nền chính trị độc tài với nhiều thủ đoạn nhằm tập trung toàn bộ quyền lực vào tay nhà vua và dần trở thành v-ơng triều quân chủ chuyên chế cực đoan Cuối đời Minh, xã hội vô cùng rối loạn, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra Cuộc khởi nghĩa nông dân của Lý Tự Thành, Tr-ơng Hiến Trung lãnh đạo đã lật đổ nhà Minh Nh-ng Lý Tự Thành ch-a kịp củng cố chính quyền thì Ngô Tam Quế r-ớc quân Mãn Thanh vào cửa ải lập nên nhà Thanh (1644 - 1911) Nhà Thanh thừa kế tất cả sự chuyên chế về chính trị, quân sự đời Minh Vua Thanh nắm mọi quyền hành còn nội các chỉ là hình thức

Trong hai triều đại này ruộng đất đều tập trung vào tay bọn quan lại, nhân dân bị bóc lột tàn nhẫn Mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc

Trang 13

càng trở nên sâu sắc, phức tạp, những mầm mống kinh tế t- bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ Từ đõy nảy sinh trong xã hội trào l-u t- t-ởng mới, t- t-ởng đòi đ-ợc giải phóng cá nhân, khẳng định khát vọng tự nhiên của con ng-ời Trào l-u t- tuởng này gần với sự phục h-ng ở châu Âu nh-ng do gặp phải sự chuyên chế của thể chế chính trị phong kiến nên bị kìm hãm Việc xuất hiện trào l-u t- t-ởng này đem lại sự đa dạng cho văn học nói chung

và cho tiểu thuyết nói riêng Những mâu thuẫn xã hội cùng với sự chuyên chế lỗi thời trong chính sách cai trị là những đề tài rộng lớn để cho các nhà tiểu thuyết lựa chọn và nhiều tác phẩm phản ánh hiện thực, châm biếm xã hội ra đời Trong vòng 80 năm, ngoài số l-ợng những tác phẩm tầm th-ờng, vô vị, tô son điểm phấn cho giai cấp địa chủ còn có những tác phẩm -u tú phản ánh cuộc sống nghèo khổ của nhân dân Những vấn đề chủ yếu của thời đại đ-ợc tác giả đ-a vào trong tác phẩm với biểu hiện muôn màu,

muôn vẻ, chẳng hạn nh-: Liêu Trai chí dị, Thuỷ hử hậu truyện (Trần

Thầm), Các tác phẩm đều bất bình, phẫn nộ phê phán giai cấp thống trị, bộc

lộ t- t-ởng đồng tình với nỗi khổ đau của nhân dân Tác phẩm không trực

tiếp phản ánh hiện thực mà khai thác đề tài từ hiện thực, Liêu Trai chí dị

phần lớn lấy đề tài từ hồ, tiên, ma quỷ, có nhiều màu sắc lãng mạn, lại mang những nội dung phong phú nh- tố cáo bọn tham quan ô lại, c-ờng hào ác bá, phơi bày chế độ khoa cử mục nát, ca ngợi tình yêu và hôn nhân, phê phán

sự đen tối và mục ruỗng của xã hội phong kiến, đồng thời gửi gắm sự mong mỏi của tác giả về một thế giới lý t-ởng và những con ng-ời tốt đẹp

Tất cả điều đó được thể hiện bằng bút pháp đa dạng, năng động, bằng cái nhìn nhiều chiều Nhà văn có tài, có phong cách bao giờ cũng có cách tạo nờn giỏ trị nghệ thuật riêng của mình Bồ Tùng Linh đã thể hiện được cái nhìn mới lạ, độc đáo về con người và cuộc sống thông qua cái nhìn trào lộng sắc sảo Với cái nhìn này, Bồ Tùng Linh quả thực là tỏc giả cú biệt tài trong nhận thức và phản ánh nhiều hiện t-ợng của đời sống trong xó hội xưa bằng phạm trự cỏi trào lộng

1.2 Những đặc điểm chủ yếu của thể loại truyền kỳ

Trang 14

Truyện truyền kì là thể loại của văn học Trung Quốc du nhập vào

nước ta Tên gọi thể loại bắt nguồn từ tên tập truyện nhan đề Truyền kì của

Bùi Hình đời Đường Truyện truyền kì đời Đường kế thừa truyền thống chí quái thời Lục Triều, tuy nhiên hai loại tác phẩm này cũng có những sự khác biệt Chí quái chủ yếu viết về thần linh quái đản, còn nhân vật chủ yếu trong truyện truyền kì là con người

Truyện truyền kì là “một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt nguồn từ truyện kể dân gian, sau được các nhà văn nâng lên thành bác học, sử dụng những mô típ kỳ quái hoang đường, lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần thế, nhằm gợi hứng thú cho người đọc”

[25, 1730]

Truyện truyền kì đời Đường đạt đỉnh cao của thể loại Hồng Mại đời Tống cho rằng thành tựu của truyện truyền kì đời Đường tương xứng với thơ thời kì này, nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu đời sau cho rằng thành tựu của nó chỉ đứng sau thơ Văn hào Lỗ Tấn nhận định rằng văn chương của chí quái đều rất đơn giản, ngắn, chép thực, còn đến đời Đường văn nhân đã có ý thức làm tiểu thuyết Ý thức làm tiểu thuyết là ý thức về vai trò của hư cấu và sự chú ý đến giá trị của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương

Truyện truyền kỳ là một thể loại có tính chất quốc tế, được sử dụng trên một không gian rộng lớn gồm Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam trong hàng chục thế kỷ Không thể nói rằng “truyền kỳ là những điều

lạ vẫn được lưu truyền” vì như vậy vô hình trung biến các tác giả truyện truyền kỳ - kể cả những tài năng như Nguyễn Dữ thành người sưu tập đơn giản Chỉ cần đối chiếu một truyện truyền kỳ với một truyện dân gian đủ

thấy cách hiểu này xa sự thật Truyện Người thiếu phụ Nam Xương ghi lại một câu chuyện có thật ở Hà Nam Truyện Nam Xương nữ tử lục (Chuyện

người con gái Nam Xương) của Nguyễn Dữ cũng sáng tạo trên cơ sở chất liệu này Truyện dân gian kết thúc ở đoạn Vũ thị nhảy xuống sông và người

Trang 15

ta lập đền thờ Phần đầu truyện của Nguyễn Dữ cũng có những chi tiết, nhân vật tương tự Tuy nhiên, sau chi tiết Vũ thị tự vẫn, truyện của Nguyễn

Dữ còn có một đoạn dài, và quan trọng hơn là, chính từ đây tính chất của một truyện truyền kỳ mới bắt đầu biểu lộ Phản ánh trình độ tư duy nghệ thuật và thích ứng với phương thức lưu truyền, truyện dân gian chú trọng

sự kiện, còn thế giới nội tâm và tính cách nhân vật ở bình diện thứ yếu, trong khi ở truyện truyền kỳ đây là những điều rất được tác giả chú trọng

Trong Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ “dụng hợp thể”, xen cả thơ, từ, phú,

văn tế vào văn xuôi, cốt để tâm trạng con người được biểu hiện rõ nhất Chỉ

có bằng hình thức chữ viết, những nội dung đó mới được thể hiện chuyển tải Truyện dân gian và truyện truyền kì thuộc phương thức nghệ thuật khác nhau, mặc dù có mối liên hệ Nhiều truyện truyền kì hầu như do văn nhân sáng tạo ra, trước đó không hề “được lưu truyền” Việc trong truyện có niên đại, nhân vật có tên tuổi, quê quán, hành trạng cụ thể và gắn với sự

quỷ Cho đến nay nhiều người cho rằng Thánh Tông di thảo mở đầu cho

truyện truyền kì ở nước ta

Đặc điểm lớn nhất, chi phối các đặc điểm khác là tính chất khác lạ của con người, sự vật, hiện tượng được phản ánh Người xưa gọi đó là tính chất kì (thần kì quái dị) Xưa nay, trong những định nghĩa tiêu biểu về thể loại không thể thiếu chữ này Đây là thể văn “thuật kì kí dị” (thuật điều kì

Trang 16

lạ, ghi sự khác thường - Lăng Vân Hàn), “kì văn dị sự” (văn lạ, việc lạ),

“phi kì bất truyền” (không kì lạ thì không lưu truyền) Có rất nhiều thủ pháp để tạo ra cái kì, tựu trung là xóa nhòa những ranh giới mà con người tạo ra, thay đổi những tính chất của sự vật, hiện tượng vẫn được hình dung theo lẽ phải thông thường Truyện truyền kì xây dựng những thế giới

khác ngoài thế giới hiện sinh của con người, như thượng giới (Chuyện Từ

Thức lấy vợ tiên trong Truyền kì mạn lục), âm phủ (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên), thủy cung (Chuyện người con gái Nam Xương) Người ta

có thể sống bình thường ở đó, với các quan hệ (ít hơn) được mô phỏng từ cõi trần

Trong truyện truyền kì con người có khả năng giao tiếp với thế giới siêu nhiên, một thế giới thiên hình vạn trạng, phổ biến nhất là ma quỷ Các tác giả “quỷ vật giả thác dĩ tác hiếu kì” (lấy ma quỷ dể gợi tính hiếu kì) Cỏ cây và muông thú, ma quỷ và thần linh đều được nhân hóa Sự nhân hóa này có khi cả phần xác lẫn phần hồn, hoặc chỉ phần hồn Thế giới phi nhân

đó hòa hợp hoặc đối địch với con người, làm nên bức tranh cuộc sống đặc thù Hiện trạng này là kết quả tổng hòa của nhiều nhân tố: tư duy khoa học chưa phát triển, thế giới quan của các tôn giáo, sự trưởng thành của ý thức thẩm mĩ và của tư duy nghệ thuật…

Trong bất cứ truyện truyền kì nào cũng vậy, vừa có những yếu tố thực vừa có những yếu tố siêu thực, thiếu một trong hai yếu tố thì không phải truyện truyện truyền kì đích thực Theo cách gọi của người xưa, yếu tố siêu thực là hư Trong truyện truyền kì cái thực luôn được hư hóa, cái hư

luôn được thực hóa Ví dụ trong truyện Người con gái Nam Xương, Vũ thị

bị chồng nghi oan, ruồng rẫy đến mức phải tìm đến dòng nước lạnh lẽo để quyên sinh Đó là cái thực đau lòng Tuy nhiên, là một tác giả truyện truyền

kì, Nguyễn Dữ hình dung dưới nước có một thế giới khác, nơi đó nàng được tái sinh, được sống trong tình thân ái, được đề cao Đó chính là cái hư

Trang 17

trên cơ sở cái thực Không phải ở thể loại nào cũng có sự biến đổi giữa hư

và thực như vậy, ví dụ truyện viễn tưởng

Ở trên có dẫn lời Lỗ Tấn rằng truyện truyền kì cho thấy “ý thức làm tiểu thuyết” của người đời Đường Ý thức làm văn chương của các tác giả truyện truyền kì biểu hiện ở nhiều phương diện Về hình thức thấy rõ nhất

là ở nhiều truyện có hiện tượng dung hợp thể loại ngoài văn xuôi còn có thơ, phú, văn tế, câu đối và phần nghị luận ở sau Mục đích của việc này, đứng từ phương diện người sáng tác, là để “khoe tài” rằng tác giả có thể sáng tạo được bằng nhiều thể loại

Tóm lại, tiểu thuyết truyền kỳ có một số đặc điểm nổi bật Trong đó

có những đặc điểm đáng lưu ý, đó là: Thứ nhất, nó có dung lượng ngắn, kết cấu không phải theo truyện dài thu ngắn, phần nào đã có dáng dấp của thể loại truyện ngắn cận hiện đại Thứ hai, có sự tham gia của yếu tố thần kỳ vào câu chuyện Nhưng đó không phải là do những lực lượng tự nhiên được nhân hóa như kiểu thần thoại, hoặc những nhân vật có phép lạ như: trời, bụt, thần tiên,… trong truyện cổ tích thần kỳ mà phần lớn ở ngay hình thức phi nhân tính của nhân vật (ma quỷ, hồ ly, vật hóa người) Tuy nhiên, trong truyện bao giờ cũng có những nhân vật là người thật, và chính những nhân vật mang hình thức “phi nhân” thì cũng chỉ là cách điệu, phóng đại của tâm

lý, tính cách một loại người nào đấy Vì thế truyện truyền kỳ có giá trị nhân bản sâu sắc

1.3 Giới thiệu khái quát về Liêu Trai chí dị

Liêu Trai chí dị là tác phẩm đỉnh cao của truyện truyền kỳ Trung

Quốc Tác phẩm được ca ngợi là “đoản thiên tiểu thuyết chi vương” (vua của truyện ngắn) Kể từ khi được khắc in lần đầu tiên (năm Càn Long thứ 31-

năm 1766) đến nay, Liêu Trai chí dị đã vượt qua được sự thử thách của thời

gian, vượt qua biên giới một nước ảnh hưởng đến nhiều dân tộc Tác phẩm được chuyển sang nhiều ngôn ngữ Năm 1916 được H.Giles chuyển sang

Anh ngữ lần đầu tiên dưới nhan đề Strange Stories from a Chinese Studio

Trang 18

Tỏc phẩm cũn được chuyển thể sang nhiều loại hỡnh nghệ thuật khỏc: hớ

kịch, điện ảnh, phim truyền hỡnh,… Người ta thường nhắc đến hai từ Liờu

Trai như: Gương mặt liờu trai, hiện tượng liờu trai, kiểu liờu trai, với nghĩa:

kỡ dị, lạ thường, ma quỏi… Cú thể núi Liờu Trai chớ dị cú một sức sống

mónh liệt, diệu kỡ trong đời sống tinh thần của nhõn loại khụng chỉ vỡ giỏ trị hiện thực sõu sắc, toàn diện mà cũn vỡ nghệ thuật viết truyện truyền kỳ điờu luyện, tài hoa Nhà nghiờn cứu Nguyễn Huệ Chi nhận định: “Với gần 500

truyện ngắn truyền kỳ xen lẫn chớ quỏi tập hợp trong bộ Liờu Trai chớ dị, ụng

đó dựng nờn một thế giới kỡ ảo muụn hỡnh nghỡn vẻ, làm say mờ bao bạn đọc trong hơn 300 năm qua, bắt người ta phải nghiền ngẫm, khỏm phỏ khụng biết chỏn bức tranh thực - ảo đầy bớ ẩn của ụng” [11, 28]

Bồ Tùng Linh đã dựa vào những câu chuyện có sẵn và thần thoại dân gian, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật thêm bớt các tình tiết, tu sức ngôn từ… để tái tạo thành những thiên truyện ngắn hoàn toàn mới, hấp dẫn

đối với bạn đọc Phần lớn các truyện của Liêu Trai chí dị đã thể hiện sự

sáng tạo độc đáo của nhà văn, những tình tiết làm nòng cốt cho diễn biến các mối quan hệ giữa cả yếu tố kỳ lạ và sự phát triển tính cách nhân vật không phức tạp, các mâu thuẫn xung đột ở mỗi truyện có yếu tố kỳ lạ đ-ợc triển khai khá đông, tần số lặp lại các môtớp nghệ thuật trong việc thể hiện các mối quan hệ xung đột cốt truyện Nh-ng nhìn chung các truyện trong

Liêu Trai chí dị đều mang dáng dấp hình hài, nội dung và nghệ thuật mới

mẻ, phong phú hấp dẫn một phần nhờ sự xuất hiện th-ờng xuyên của yếu tố hoang đ-ờng, kỳ lạ Nói cách khác cái mới và hấp dẫn trong mỗi cốt truyện

ấy nằm trọn trong cái thần mà từ tình tiết câu chuyện cho đến việc xây dựng các nhân vật Bồ Tùng Linh đã không đi theo lôgíc thông th-ờng của ng-ời x-a khi xây dựng cốt truyện nghĩa là các nhà văn thời tr-ớc đó ít đặt cho mình mục đích phải nghĩ ra một cốt truyện mà họ th-ờng tái tạo trên cơ sở những cốt truyện đã hình thành sẵn, sau đó bằng cách tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết… để cho ra đời một tác phẩm riêng

Trang 19

của họ Bồ Tùng Linh không làm nh- thế mà các truyện trong Liêu Trai chí

dị có cốt truyện, có kết cấu hoàn toàn mới mẻ là sáng tác văn học thực sự

chứ không phải là một công trình ghi chép ( truyện chép ở Liêu Trai) nh-

nhan đề Cốt truyện ở các truyện có sự phát triển không giống nhau và cũng không lẫn lộn vào nhau đ-ợc Những chi tiết, những yếu tố mang tính chất siêu nhiên, hoang đ-ờng xuất hiện theo lôgíc của câu chuyện Yếu tố này không xa lạ đối với văn học Trung Quốc tr-ớc đó nh-ng đối với Bồ Tùng Linh đã sử dụng nó một cách có ý thức và sáng tạo Th-ờng thì có khi một yếu tố kỳ ảo xuất hiện nh- một tình tiết, mục đích nối kết các hiện t-ợng xảy ra trong truyện

Liờu Trai chớ dị là bộ tiểu thuyết đoản thiờn ra đời trờn cơ sở kế thừa

thành tựu của nền văn học truyền thống và cỏc sỏng tỏc dõn gian Cội

nguồn trực tiếp ảnh hưởng đến sỏng tỏc Liờu Trai chớ dị là những cõu

chuyện dõn gian và truyện chớ quỏi Lục Triều, truyền kỡ đời Đường Ảnh

hưởng văn học dõn gian đối với Liờu Trai chớ dị thể hiện ở việc nhào nặn,

vận dụng cỏc mụtip thần thoại cổ tớch nhuần nhuyễn tới mức núi đến khụng khớ liờu trai, thế giới liờu trai là người ta liờn tưởng ngay đến thế giới của những cõu chuyện cổ tớch, thần thoại Những mụtớp tỏi sinh, đầu thai, sinh

đẻ kỡ lạ, biến hỡnh, người mang lốt đầy rẫy trong cỏc truyện ngắn của bộ

Liờu Trai chớ dị

Đỏnh giỏ về nghệ thuật của Liờu Trai chớ dị, Lỗ Tấn trong Trung

Quốc tiểu thuyết sử lược, chương 25 cú viết : “Dựng phương phỏp truyền

kỳ để chộp chuyện chớ quỏi, biến ảo khỏc thường mà như xảy ra trước

mắt” Liờu Trai chớ dị đó kế thừa tinh hoa nghệ thuật của chuyện chớ quỏi

thời Ngụy Tấn và truyền kỡ đời Đường, đồng thời nõng cao thành tựu nghệ thuật của hai thể loại này lờn một tầm cao mới So với chớ quỏi thỡ

Liờu Trai chớ dị miờu tả tường tận, tỉ mỉ hơn; so với truyền kỡ thỡ cụ đọng

và hàm sỳc hơn Cỏch viết của Liờu Trai chớ dị cú nhiều chỗ phỏt triển và

sỏng tạo Ngoài cỏch miờu tả nhõn vật ta cũn thấy rừ điều đú ở cỏc tỡnh

Trang 20

tiết Khi lựa chọn tài liệu và khi hạ bút, tác giả luôn chú ý những tình tiết éo le thú vị và ra sức thay đổi cách viết để hấp dẫn người đọc So

sánh các truyện truyền kì đời Đường với các truyện trong Liêu Trai chí

dị mét chi tiÕt nhá, víi của Bồ Tùng Linh ta có thể thấy sự đồng dạng về

mặt môtíp cốt truyện, song về mặt bố cục, tổ chức sắp xếp sự kiện, nhân vật, tình tiết thì rõ ràng truyện của Bồ Tùng Linh gây được hiệu quả nghệ thuật mạnh mẽ hơn

Do tiếp thu truyền thống của chí quái và truyền kì, Liêu Trai chí dị

khai thác toàn chuyện lạ (dị ) đặc biệt là chuyện chung sống giữa người và

hồ ly tinh Sức tưởng tượng huyền diệu của tác giả tạo nên màu sắc kỳ ảo

của Liêu Trai chí dị Dương gian và âm phủ xen kẽ nhau hầu như không có

gì ngăn cách Con người và yêu tinh biến hoá hằng ngày, như là một sự thực bình thường Mặc dù nói chuyện ma quỷ, tác phẩm không gây ấn tượng rùng rợn mà ngược lại có phần gần gũi, thân thiết Điều đó bắt nguồn

từ việc quan sát cuộc sống, nhận thức hiện thực sâu sắc và thấu đáo của tác giả Mặt khác còn do khuynh hướng lãng mạn tích cực của tác phẩm Cũng giống như thần thoại, yêu quái ở đây đã giúp con người chiến thắng thiên tai Lỗ Tấn viết : “Các sách chí quái cuối Minh đại để đều sơ lược, lại lắm

điều hoang đường, quái đản Chỉ có Liêu Trai chí dị là tường tận mà bình dị

thấm đượm tình người, khiến cho người ta đọc chuyện các loài hoa yêu quái, chuyện hồ ly tinh mà không hề nghĩ rằng đó là giống khác” Nhưng

xét cho cùng, sức hấp dẫn của Liêu Trai chí dị không phải ở đề tài quái lạ

với những yếu tố kì ảo mà vẫn là ở tính chân thật bắt nguồn từ chân lý cuộc sống Truyền kì, chí quái mở ra thế giới tâm linh, siêu thực, cho phép con người cá nhân có dịp biểu hiện nhiều mặt hơn Truyện ngắn văn ngôn đã trải qua các thời từ chí quái của Lục triều đến truyền kì đời Đường rồi phát triển đến thời Tống - Nguyên đã uể oải dần để đi vào suy

kiệt nhưng Bồ Tùng Linh với Liêu Trai chí dị, đạt thành tựu cao nhất của

thể loại truyện ngắn văn ngôn Cả bộ có gần 500 truyện ngắn, tả hết mọi

Trang 21

bất bình của nhân gian, ca ngợi những mối tình đẹp đẽ, gửi gắm nỗi căm uất lẻ loi của một đời không gặp cơ hội thi thố tài năng Ông lập ý mới

mẻ, thông minh, li kì, sắc sảo, ngụ ý thấm thía sâu xa

Liêu Trai chí dị là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo được các nhà nghiên cứu thừa nhận trên nhiều phương diện Nhiều vấn đề của Liêu Trai

chí dị được các học giả Trung Quốc và ngoại quốc rất quan tâm, đặc biệt là

trong nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế về Bồ Tùng Linh được tổ

chức từ 1988 đến nay Do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về Liêu

Trai chí dị

Trong “Lời giới thiệu” cuốn Liêu Trai chí dị do nhà xuất bản Văn

học nghệ thuật quốc gia in ở Maxcơva năm 1957, viện sĩ N.T.Phêđôrencô đánh giá: Bồ Tùng Linh là “tác giả truyện ngắn xuất sắc” của Trung Quốc Năm 1950, ông được UNESCO kỉ niệm như một danh nhân văn hóa thế giới

Bộ Liêu Trai chí dị được nhiều người đánh giá cao Theo Nguyễn

Cẩm Xuyên: “Riêng ở Trung Quốc: truyện truyền kỳ ma quái cũng nhiều, trong đó một tác phẩm vừa hấp dẫn người xem bởi nhiều tình tiết, vừa kỳ

dị lại vừa phản ánh cuộc sống thực của xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ

là Liêu Trai chí dị” [84] Các tác giả Tiểu thuyết cổ Trung Quốc đánh giá:

“Có hàng vạn truyện, hàng trăm tuyển tập nhưng Liêu Trai chí dị là nổi tiếng hơn cả” 72, 10 

Lỗ Tấn trong Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc đã tìm hiểu cụ thể: “Liêu Trai chí dị cũng có chia làm mười sáu quyển bốn trăm ba mươi

mốt chương, Tùng Linh đến tuổi năm mươi mới viết xong ( ) Lại tương truyền rằng người ẩn sĩ ở Sơn Dương (Vương Sỹ Trinh) khen ngợi sách muốn mua mà không được, cho nên tiếng tăm lại càng lên, người ta đua

nhau kể và sao chép ( ) Sách Liêu Trai chí dị lưu hành như gió đã hơn 100

năm, người mô phỏng, kẻ tán tụng đều đông” [64, 272-278] Đến khoảng đời Gia Tĩnh, tiểu thuyết truyền kỳ đời Đường lại nổi lên, “từ đó người bắt

Trang 22

chước đõu đõu cũng thế, cỏc văn nhõn đại để đều thớch viết một ớt bài theo thể truyền kỳ Cũn chuyện làm tiểu thuyết hợp lại thành một tập, thỡ cú

Liờu Trai chớ dị là cú tiếng hơn cả” [64, 444]

Liờu Trai chớ dị mặc dự kế thừa những mẩu chuyện chớ nhõn, chớ quỏi

và truyền kỳ trước đú nhưng nú “đó rũ bỏ hết cỏi chất phỏc, vụng về” và

“đạo thớnh đồ thuyết” của tiểu thuyết chớ quỏi buổi đầu Cỏc tỏc giả cuốn

Trung Quốc nhất tuyệt khẳng định những thành tựu nghệ thuật nổi bật của Liờu Trai chớ dị: “Tỏc giả dụng ý khắc họa hỡnh tượng và tớnh cỏch nhõn

vật, khộo lộo đan kết cỏc tỡnh tiết cõu chuyện kể lại một cỏch khộo lộo hấp

dẫn, đẹp đẽ xỳc động ( ) Cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật, Liờu Trai chớ dị

đều đó đẩy tiểu thuyết chớ quỏi lờn đến đỉnh cao, trở thành niềm kiờu hónh vĩnh hằng của tiểu thuyết chớ quỏi” [13, 228-229]

Túm lại, cú thể khẳng định rằng Bồ Tựng Linh đó tiếp thu, kế thừa những nguyờn mẫu thần thoại, cổ tớch và truyền thống văn học chớ quỏi, truyền kỡ Trung Quốc Đú là một sự kế thừa xuất sắc Bằng tài năng và sự sỏng tạo độc đỏo, ụng đó chuyển hoỏ cốt truyện dõn gian, sỏng tạo lại những cốt truyện truyền kỡ, chớ quỏi thành những tỏc phẩm văn học mẫu mực, đem lại cho nú hơi thở mạnh mẽ của thời đại

để óc t-ởng t-ợng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả" [58, 103] Nhà văn sáng tạo nên tác phẩm xuất phát từ nhiều nguồn cảm hứng khác nhau: Cảm hứng trữ tình, cảm hứng trào lộng, trào phúng, cảm hứng hiện thực, cảm hứng lãng mạn, v.v

Trang 23

Cảm hứng trào lộng (cao hơn là trào phúng) là nguồn cảm hứng lớn

trong Liêu Trai chí dị "Trào" là c-ời, c-ời nhạo [3, 477]; "lộng", tiếng Hán

là ngắm nghía, chơi; Trào lộng là c-ời nhạo cợt chơi [3, 477] Trào lộng là c-ời có tính chất chế giễu để đùa cợt Khái niệm trào lộng chỉ mức độ của cái c-ời nhẹ hơn trào phúng (Trào phúng là c-ời có tính chất châm biếm, phê phán) Tuy nhiên trong nhiều tr-ờng hợp, trào lộng vẫn mang ý nghĩa của trào phúng Cuộc sống không thể thiếu tiếng c-ời Tiếng c-ời trong văn học cũng có nhiều mức độ và sắc thái, ý nghĩa khác nhau, bao giờ cũng có cơ sở từ cái hài t-ơng ứng trong đời sống xã hội Cuối thế kỉ XVII đầu thế

kỉ XVIII, phong kiến Trung Quốc đó cú dấu hiệu suy đồi, cộng thờm sự du nhập của kinh tế tư bản phương Tõy

Trào phúng đ-ợc lý luận Đông - Tây xem là một loại sáng tác đặc

biệt của văn học, đồng thời là một nguyên tắc nghệ thuật sử dụng các yếu tố của tiếng c-ời nh- mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa tr-ơng để c-ời nhạo, chỉ trích, phê phán, tố cáo những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, cái lố bịch, vô đạo đức trong xã hội

Trào lộng là một hình thức biểu hiện đặc biệt của văn học trào

phúng, đây là cấp độ đ-ợc sử dụng phổ biến trong sáng tác văn học, là một trong những hình thức sáng tác đ-ợc các tác giả x-a và nay -a dùng

Nếu trào phúng là tiếng c-ời để châm biếm, phê phán, đả kích những hiện t-ợng đáng c-ời, đáng lên án, thì trào lộng là một cấp độ biểu hiện có nhẹ hơn, tức là cũng h-ớng vào những đối t-ợng đáng c-ời nh-ng chỉ dừng lại ở mức độ chế giễu, gây c-ời hiểu đúng các khái niệm này rất cần thiết

khi tim hiểu giỏ trị trào lộng trong Liờu Trai chớ dị

1.4.2 Cơ sở xã hội của cảm hứng trào lộng

Cảm hứng trào lộng gắn liền với sự phát hiện cái xấu và nhu cầu phê phán cái xấu Đây chính là ph-ơng diện thể hiện tính tích cực xã hội của văn học đồng thời mang ý nghĩa nhận thức nghiêm túc Nếu nói tiếng c-ời

là thắng lợi của trí tuệ thì tr-ớc tiên thắng lợi đó thuộc về chủ thể nhận thức, ng-ời có công phát hiện ra những cái đáng c-ời, cỏi lạc hậu, cái hài đời là

Trang 24

các trạng thái nhân thế phản tiến bộ, phản nhân đạo Về mặt ý nghĩa, cái hài

đối lập với cái bi

Nhà Thanh là triều đại ngoại tộc cuối cùng của Trung Quốc Sống trong xã hội có nhiều mâu thuẫn, đời sống ngột ngạt căng thẳng, nhà Thanh đề cao lý học và trừng trị các nhà văn dám mỉa mai châm biếm chế độ Luật rỏ: “ph¯m đ¯o kép diễn t³p kịch không đước đõng vai c²c vua chúa, hoàng hậu, cung phi, trung thần tiết liệt Ai vi phạm bị phạt trăm tr-ợng nh-ng đóng thần tiên, nghĩa phu, đạo sĩ, liệt phụ, con hiền dâu thảo thì đ-ợc” Vì vậy chỉ có gửi tâm t- nguyện vọng của mình vào yếu tố kỳ lạ để đáp ứng đòi hỏi về đời sống tinh thần của nhân dân và tầng lớp thị dân đông đảo

Bồ Tựng Linh sống vào giai đoạn mà xó hội phong kiến đang bắt đầu

sự suy thoỏi Những quy định nghiờm ngặt của lễ giỏo phong kiến đang bị

vi phạm dần dần Vua quan ăn chơi sa đoạ, bỏ bờ triều chớnh Mọi mối quan hệ của con người đang bị đảo lộn Sống và chứng kiến những gỡ đó và

đang diễn ra trong xó hội nờn những truyện trong Liờu Trai chớ dị ngoài phờ

phỏn quan lại tham lam, khoa cử thối nỏt phản ỏnh sự suy đồi của chế độ phong kiến, chế độ từng được xem như bất di bất dịch, trải qua bao nhiờu triều đại

Việc chế độ phong kiến bắt đầu suy yếu cú thể thấy ở mọi mặt của đời sống xó hội Vua bõy giờ khụng cũn ngồi trờn ngai vàng để lo cho quốc gia Vua lo ăn chơi vui thỳ, ham mờ tửu sắc Quan lại, sai nha dược thúi làm càn, quan khụng cũn hết lũng vỡ dõn vỡ nước, tham lam tiền của và quyền lực Cụng đường bõy giờ khụng cú chỗ cho cụng lý bởi vỡ cụng lý được đỏnh đổi bằng tiền, được định giỏ bằng lượng vàng, thỏi bạc Và một

sự thật hiển nhiờn đau lũng vẫn diễn ra đú là cụng lý sẽ thuộc về kẻ cú tiền Cũn nhõn dõn những người nghốo khổ bao giờ cũng phải chịu sự oan uổng, tớnh mạng bị coi như cỏ rỏc

Trang 25

Thời Bồ Tựng Linh sống và viết Liờu Trai chớ dị thỡ kinh tế tư bản đó

bắt đầu du nhập vào Trung Quốc kộo theo tầng lớp thị dõn phỏt triển, cỏc

đụ thị hỡnh thành, đồng tiền hơn lỳc nào hết đó bộc lộ sức mạnh tiờu cực của nú Tiền uốn cong cụng lý, quan lại xử kiện theo tiền, ai cú nhiều tiền người đú phải Tiền thay thế cho thực học Thi đậu làm quan là nhờ tiền Rồi cũng chớnh tiền chi phối trực tiếp đời sống hụn nhõn, tỡnh cảm Cú thể núi mọi trật tự, mọi luõn lý mà xó hội phong kiến bõy giờ khụng cũn tỏc dụng mấy Cuộc sống đó thay đổi rất nhiều và chớnh hiện thực đa dạng và phong phỳ của cuộc sống đó giỳp cho Bồ Tựng Linh viết nờn những cõu chuyện mang đậm giỏ trị hiện thực Những mặt trái của cuộc sống thời đại

đú (sự giả dối, những suy đồi, xuống cấp về đạo lý, những lừa lọc phản trắc ) lại nổi cộm, diễn ra hàng ngày Không phải ngẫu nhiên mà Bồ Tựng Linh đặc biệt chú ý đến những thói h- tật xấu, những cái buồn c-ời và đáng c-ời của con ng-ời và cuộc sống đương thời

Trang 26

Chương 2 NHỮNG ĐỐI TƯỢNG CHỦ YẾU ĐƯỢC THỂ HIỆN

BẰNG CẢM HỨNG TRÀO LỘNG TRONG LIấU TRAI CHÍ DỊ

2.1 Đời sống chớnh trị xó hội

Nhà Thanh xây dựng chính quyền chuyên chế trung -ơng tập quyền, củng cố nền thống trị, và bức hại ng-ời dân lao động tàn nhẫn Hàng ngũ quan lại ra sức bóc lột, vơ vét của nhân dân, điều này đã đ-ợc nhiều nhà văn phản ánh trong các tác phẩm của mình Mỗi nhà văn có ph-ơng thức biểu

hiện riêng trong các sáng tác để phê phán hiện thực đó Chẳng hạn nh- Kim

Bình Mai (Lan Lăng Tiếu Tiếu Sinh), khác với Nho lâm ngoại sử (Ngô

Kính Tử), khác Liêu Trai chí dị Tuy nhiên điểm chung ở các tác giả này là

sự vạch trần hiện thực đen tối của xã hội phong kiến đặc biệt là giai cấp thống trị Bồ Tùng Linh vạch trần sự xấu xa, sa đọa của hàng ngũ quan lại

trong Liêu Trai chí dị ít nhiều đều vì tiền Đồng tiền đã làm cho chỳng biến

chất Vì tiền chỳng có thể làm tất cả, đổi trắng thay đen, vì tiền mà đ-ợc

thăng quan tiến chức Ở Liờu Trai chớ dị, Bồ Tùng Linh vạch trần sự xấu xa

không chỉ từ hàng ngũ quan lại cấp d-ới mà từ ng-ời đứng đầu cai trị n-ớc

Đồng thời tác giả đồng tình với cảnh ngộ đau khổ của ng-ời dân l-ơng

thiện bị dày vò

2.1.1 Bọn tham quan ụ lại

Có thể thấy, Bồ Tựng Linh sỏng tỏc với giọng điệu hài h-ớc, trào lộng Tr-ớc hết những tác phẩm của ụng là để cho mọi ng-ời nhận thức,

đánh giá lại mọi giá trị của cuộc sống đang đổi thay Những thói xấu đang tồn tại, hiện hữu khắp nơi trong cuộc sống C-ời mà xót xa, chua chát

Liêu Trai chí dị đã vạch trần sự tàn bạo của giai cấp thống trị bóc lột

ng-ời dân l-ơng thiện, bộc lộ tiếng nói đồng tình thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân dân, và trong một mức độ nào đó, gửi gắm khát vọng thoát khỏi

c-ờng quyền, chiến thắng đ-ợc thế lực thống trị bất nhân Liêu Trai chí dị

Trang 27

cú giỏ trị hiện thực rất lớn, giỳp cho người đọc thấy được những bỡnh diện khỏc nhau của đời sống xa hội đương thời của nhà Thanh Đồng tiền đã làm cho những kẻ bất tài thành có địa vị đã khiến họ thành vô sỉ, biến chất Do có tiền, họăc dựa vào những kẻ có thế lực mà đ-ợc làm quan, khi đ-ợc làm quan chúng lại ra sức bóc lột nhân dân Quan lại liên kết móc nối kéo bè, kéo cánh

để vơ vét dân lành Chúng nịnh hót hối lộ quan trên, ỷ thế để uy hiếp dân

đen, ăn hối lộ của nhân dân một cách trắng trợn Quan vì tiền dám đổi trắng thay đen, biến ng-ời có tội thành ng-ời vô tội, ng-ời vô tội thành ng-ời có tội Trong tác phẩm của Bồ Tùng Linh những chuyện đề cập về nạn ăn hối lộ

rất nhiều, tiêu biểu như: Kiều nữ, H-ớng Cảo, Mộng lang,

Cảo trong truyện H-ớng Cảo bị quan xử oan, tìm mọi cách để đòi lại

công bằng trả thù cho ng-ời anh H-ớng Cảo chính là hình t-ợng thể hiện nguyện vọng trả thù của ng-ời dân bị áp bức Có thể nói nếu không có nhiều ng-ời bị lăng nhục, bị dày xéo d-ới chế độ phong kiến đ-ơng thời cú khát vọng trả thù mãnh liệt thì tác giả khụng h- cấu tình tiết H-ớng Cảo biến thành

hổ để trả thù Chi tiết H-ớng Cảo biến thành hổ để trả thù trở thành biểu t-ợng của một khát vọng Cho nên cuối truyện Bồ Tùng Linh đã phẫn nộ thét lên:

“Nhưng nhừng truyện trong thiên h³ l¯m cho ngưội ta căm giận thì nhiều lắm,

mà kẻ bị oan th-ờng chỉ là ng-ời chứ không đ-ợc tạm thời làm cọp đáng buồn

thay” Ở truyện H-ớng Cảo cuộc đời trần thế ng-ời dân l-ơng thiện không có

đủ sức mạnh đẻ trả thù Chỉ đến khi biến thành loài vật thì mới có đủ sức mạnh

để trả thù Khát vọng trả thù thật mãnh liệt, dữ dội Truyện thể hiện đ-ợc tấm lòng của tác giả đối với ng-ời bị áp bức, bị chà đạp, chứng tỏ ng-ời thuật truyện không đứng ngoài cuộc, bởi thế, sự phục thù mang tính chất ảo t-ởng nh-ng vẫn đem lại cảm giác khoái trá thực sự Bản chất của bọn thống trị bị búc trần qua ngũi bỳt chõm biếm giễu cợt của tỏc giả

ở truyện Th-ơng Tam Quan, cô gái phải dùng oan hồn của mình để báo mộng, mong mỏi ng-ời ở trần thế tìm cách trả thù, đòi lại công bằng cho mình Th-ơng Tam Quan quyết trả thù, cho cha khi mà ng-ời cha bị thế

Trang 28

hào giết chết: “Ngưội bị giết m¯ quan không xét, việc đời thế nào đủ biết rọi” Trong truyện của Bồ Tùng Linh, nhiều ng-ời phụ nữ xinh đẹp nh- nàng Thương Tam Quan, H-ớng Cảo, lúc sống thì yếu đuối bất lực đến nỗi bị chà đạp hãm hại, nh-ng chết đi lại cú sức mạnh, tự mình đi báo thù rửa hận

Nổi bật lờn trong tỏc phẩm đú là hỡnh tượng lũ vua quan tham lam,

độc ỏc Chỳng ra sức búc lột, ức hiếp dõn lành Truyện Vương giả đó tố cỏo

viờn quan tuần phủ Hồ Nam qua bức thư của vị Vương giả gửi cho viờn chõu tỏ: “từ khi thành đạt làm quan thỳ quan lệnh, chức vị cực cao thỡ của tham ụ, quà hối lộ kể khụng sao xiết Khoản bạc sỏu mươi vạn trước đõy đó nghiệp dĩ thu vào kho Hóy nờn mở rộng tỳi tham nộp bổ sung thờm lệ cũ”

Truyện Mộng lang giỏ trị phờ phỏn hiện thực, tố cỏo bản chất lang súi của

bọn quan lại thật sõu sắc "ễng họ Bạch, người Trực Lệ, cú con trai lớn là

Giỏp, mới ra làm quan ở phương Nam, ba năm khụng cú tin tức" được

người họ hàng họ Đinh (vốn làm phụ đồng thiếp) tới thăm và mời ụng xuống cừi õm chơi Tại đõy, ụng được người chỏu, con chị gỏi đưa đến thăm dinh cơ của con mỡnh "Nhũm qua cửa thấy một con chú súi to tướng", "Lại vào một cửa nữa thấy trờn nhà, dưới nhà, con nằm, con ngồi, toàn là súi cả" Cụng tử Giỏp gặp cha, mừng lắm, gọi người nhà làm cơm thết đói "Bỗng một con súi lớn ngoạm một xỏc người chết đem vào để đưa xuống nhà bếp" Tất nhiờn đú là giấc mộng, và những chi tiết trong mộng là ẩn dụ phản ỏnh hiện thực Bầy súi trong mộng chớnh là "bọn sai nha sõu mọt đầy cụng đường" và tờn quan Giỏp tàn bạo trong đời thực là con hổ trong giấc mộng

"Giỏp ngó xuống đất thành hổ, răng nhe tua tủa Hổ rống lờn vang động nỳi non" ễng Bạch tỉnh mộng, ghi lại giấc mộng, sai con trai thứ mang đưa cho Giỏp, trong thư răn đe thống thiết Mặc cha răn đe, em rớt nước mắt can ngăn, Giỏp bảo: "Em hàng ngày ở chốn nhà tranh, nờn khụng biết điều quan yếu của đường làm quan Quyền thăng hay truất ở quan trờn, chứ khụng do trăm họ Quan trờn hài lũng ấy là quan tốt Thương yờu trăm họ thỡ làm sao

Trang 29

cho quan trờn vui lũng được? Thật chua chỏt Bồ Tùng Linh nhạy cảm với mọi cái bi, cái hài, đặc biệt khi hài và bi lẫn lộn Có thể nói Bồ Tùng Linh là một ng-ời biết c-ời, thích c-ời, nhất là trong một giai đoạn lịch sử không thiếu cái hài "ễng Bạch khụng can ngăn con được" chỉ cũn biết bỏ của ra giỳp người nghốo, hàng ngày cầu khấn thần linh nếu cú bỏo oỏn đứa nghịch

tử thỡ đừng để lụy đến vợ con" Năm sau Giỏp được tiến cử về bộ Lại, trờn đường về gặp cướp, tớ thầy đều chết Nhưng Giỏp chưa chết, nhờ thần linh cảm tấm lũng của ụng Bạch, cho rỏp đầu lại "Giỏp tuy sống lại nhưng mắt

tự nhỡn được lưng mỡnh, khụng cũn ra vẻ con người mấy nỗi" Cuối truyện

là lời bàn của Dị sử thị:

"Ta trộm than rằng: Trong thiờn hạ, quan là cọp, mà nha lại là súi, đõu cũng thế cả Cho dẫu quan chưa là cọp thỡ nha lại cũng sẽ là súi Huống chi lại cú chớnh lệnh khắc nghiệt cũn dữ hơn cả cọp nữa kia! Điều làm người ta lo là khụng thể tự mỡnh quay nhỡn lại phớa sau; cho sống lại mà lại cũn làm cho chớnh mỡnh nhỡn thấy được đằng sau, bài học của quỷ thần mới sõu xa tinh tế biết bao” [83]

Quan là cọp, nha lại là chú súi - cả một bầy hung dữ hợp nhau cấu

xộ, ăn thịt con người Những bữa tiệc của chỳng đầy rẫy thịt người cỏc mún Lời Khổng Tử trong sỏch Lễ Ký: "Hà chớnh mónh ư hổ" (Chớnh sỏch

hà khắc cũn dữ hơn cọp) Tất cả được nhấn mạnh trong lời bàn, là sự khẳng định bản chất lang súi của bọn quan lại bấy giờ Cỏi hiện thực ấy thật ghờ rợn làm sao! Nhưng trong đời sống thực, bọn quan lại ỏc độc làm gỡ cú cỏi diễm phỳc chết đi, được nhặt đầu rỏp lại vào cổ: "Kẻ gian tà khụng nờn để đầu ngay ngắn, nờn cho vai đỡ lấy cằm là được" để mắt tự nhỡn được lưng mỡnh, đỏng buồn cười hơn "để tự mỡnh nhỡn được đằng sau" để thấy lưng mỡnh đang gỏnh bao nhiờu tội ỏc, con đường mỡnh đó đi quỏ bao thảm cảnh

do sự cai trị hà khắc của chớnh mỡnh

Quan là những kẻ, sống ớch kỷ, sẵn sàng dựng mọi thủ đoạn để thỏa

món lũng tham Trong truyện Cỏp dị, cụng tử Trương Cụng Lượng là

Trang 30

người rất thớch chim cõu, chàng đó biếu “nhầm” cho bậc quan sang một mún quà quý giỏ mà khụng mảy may được một lời cảm ơn Đó thế khi chàng thưa đú là giống chim cực quý thỡ ụng quan này “mơ màng như cố nhớ lại”, thủng thẳng đỏp: “Thịt cũng khụng khỏc chim thường mấy”! Hoỏ

ra vị quan này cũng chỉ là một kẻ nụng cạn, hàm hồ ấy vậy mà trước đú chỉ cần quan hỏi bõng quơ một cõu: “Thế nào, nuụi chim cõu cú được nhiều khụng?”, chàng đó phải đắn đo, suy nghĩ sõu xa: “trong bụng chắc ụng ta cũng thớch, chàng cũng muốn làm vừa lũng ụng ta song dứt ruột chia sẻ niềm yờu thương của mỡnh thấy khú Lại nghĩ: sự đũi hỏi của bề trờn khụng thể làm ngơ được Lại khụng dỏm đưa chim thường, cho nờn phải chọn hai con tuyết trắng bỏ vào lồng mang biếu, đinh ninh rằng quà quý ngàn vàng khụng sỏnh được” Ai ngờ, mún quà quý giỏ, niềm yờu thương của cụng

tử chỉ là một mún ăn “thường thường bậc trung” trong mắt vị quan sang Mới đọc qua tưởng đú chỉ là cõu chuyện kể về một người mờ chim cõu nhưng đằng sau đú là sự phẫn nộ về cỏch sống của lũ quan lại Tr-ớc thực tại đầy những tình huống đáng c-ời ấy, tác giả không không phản ánh Dường như cho là nghĩa vụ của tầng lớp dưới cũn nhận là đặc quyền của bề trờn Được nhận quà biếu là chuyện đương nhiờn, khụng thốm quan tõm tới

ý nghĩa của mún quà, tõm trạng của người biếu quà Dự mún quà quý đến bao nhiờu, đối với chỳng cũng chỉ là một mún ăn!

Lũ quan lại cũn ỷ thế làm càn, chỉ ưa nịnh hút, ghột lời ngay thẳng

Trong truyện Kiều Na, chàng Khổng Tuyết Lạp, vỡ “tớnh khớ cương trực, trỏi ý quan khõm sai nờn bị bói chức” Tương tự, trong truyện Kiều nữ, khi

chị lờn quan bẩm bỏo việc nhà Mạnh bị bọn vụ lại “thừa giú bẻ măng, lừa bịp lấy hết mọi vật dụng trong nhà” và nàng bày tỏ rừ ý kiến của mỡnh với quan thỡ “Lời núi cương trực ấy đó làm quan nổi giận thột đuổi Kiều thị ra

ngoài” Truyện Thương Tam quan mở đầu truyện đó hiện lờn bộ mặt quan

lại độc ỏc tàn bạo: “Xưa ở Chư Cỏt Thành cú Thường Sĩ Vũ là kẻ sĩ nhõn

Do say rượu núi điều ngỗ ngược với vị huyện hào, Thường bị vị nọ sai gia

Trang 31

nụ tỳm lại đỏnh cho tơi bời, về đến nhà thỡ chết” Một lời núi mất lũng quan trờn cú thể bị cỏch chức, cú thể bị đuổi ra ngoài và hơn thế nữa cú khi phải trả giỏ bằng mạng người! Nhà văn Bồ Tựng Linh đã xây dựng một thế giới nhân vật độc đáo, sáng tạo và gần gũi với chúng ta Cuộc sống trần thế với biết bao thân phận và bao cảnh bi hài

Quan lớn là người cầm giữ cỏn cõn cụng lý thế mà mọi hành động của cỏc vị đều phụ thuộc vào sức mạnh vạn năng của đồng tiền Bởi vỡ “Những bậc cai trị dõn trờn đời này chỉ biết cờ rượu qua ngày, chăn gấm xỏ tay, dõn tỡnh bờn dưới khốn đốn, nào cú động một chỳt lũng? Đến khi trống giúng

mở cửa cụng đường thỡ ngất ngưởng trờn cao tút, dưới sõn nhỏo nhỏc tố khổ thỡ lại gụng cựm trấn ỏp Thế thỡ cú lạ gỡ trong chốn tối tăm cũn biết

bao nhiờu oan khiờn trầm uất” Ở truyện Hướng Cảo, chỉ vỡ Thạnh lấy

người con gỏi mà cụng tử Trang cũng đem lũng yờu thương mà bị tờn cụng

tử ấy “lớn tiếng nhục mạ (…) Thạnh khụng chịu, Trang thột người hầu vỏc gậy đập chết, phơi thõy ra đấy rồi bỏ đi” Một sự việc tàn sỏt thảm khốc như thế nhưng khi kờu kiện thỡ “việc kiện cứ như đỏnh bựn sang ao” chỉ vỡ Trang hối lộ khắp nơi khắp chốn Bồ Tựng Linh cũn tố cỏo đời sống xa hoa, đầy sự hưởng lạc, dõm ụ trong lầu son gỏc tớa của bọn quan lại vua

chỳa Điều đú được thể hiện rất rừ trong cỏc truyện: Thiờn cung, Củng tiờn,

Tục hoàng lương,

Bọn quan lại trong Liờu Trai chớ dị chủ yếu là bọn tham quan nhũng

lại, làm lắm điều bỉ ổi, xấu xa Chỳng dựa vào tiền tài quyền lực bức hại dõn lành Bức tranh hiện thực này được tạo nờn từ “những điều trụng thấy”, những điều trải nghiệm của chớnh bản thõn Bồ Tựng Linh trong những thỏng ngày ụng sống trong “ba gian buồng nhỏ, trống rỗng khụng vỏch

khụng phờn, cõy cối um tựm, gai gúc mọc đầy” (Nguyờn phối lưu nhụ nhõn

hành thực) Bởi vậy ụng cảm thấy bi ai, vớ mỡnh với Biện Hũa “ụm ngọc”,

tiếc khụng được nhà cầm quyền biết đến, căm phẫn “sĩ đồ đen tối, cụng lớ khụng rừ ràng” Bộ mặt quan lại cũng chớnh là bộ mặt của chế độ phong

Trang 32

kiến nhà Thanh Bộ mặt của một chế độ phong kiến đang suy đồi trầm

trọng Bằng tiếng c-ời, lắm cung bậc, sắc thái, tác giả đã phanh phui những

cái lẽ ra không có quyền tồn tại song lại đang nghiễm nhiên tồn tại

Dế chọi phê phán sự ăn chơi vô lối của nhà vua qua thú vui thích

chọi dế, ngầm miêu tả thói a dua, xu nịnh, hống hách của quan lại cấp d-ới qua tấn bi kịch xảy ra trong gia đình Thành Danh Vua thích chọi dế, hàng năm bắt dân tìm dâng lên Để xu nịnh nhà vua, bọn quan địa ph-ơng nhân cơ hội đó tha hồ hoành hành, hạch sách Đó là nguyên nhân trực tiếp gây nên tấn bi kịch trong gia đình Thành Danh Thành Danh là ng-ời thật thà an phận Anh ta bị khuynh gia bại sản mà không thoả mãn đ-ợc nhu cầu trên của bọn quan lại địa ph-ơng Đến lúc bắt đ-ợc một con dế mèn nh-ng đứa con trai vô tình làm chết khiến Thành Danh vô cùng lo lắng, giận dữ Vì việc làm chết dế mà con trai Thành Danh sợ quá phải tự tử Cái chết thê l-ơng bi thảm này đã phơi bày bản chất tàn bạo của giai cấp thống trị Thú vui của kẻ thống trị tối cao đ-ợc đổi bằng mạng của một đứa trẻ Rồi để cứu gia đình, hồn thằng bé hoá thân thành con dế đ-ợc đem tiến cung và đ-ợc ban th-ởng rất hậu

Tỏc phẩm đó tố cáo sự tàn bạo của kẻ thống trị Chúng không chỉ dày xéo ng-ời dân kiếp này ở cõi trần gian mà còn bám riết lấy họ, đầy đoạ họ

ở cả kiếp sau d-ới chốn âm cung, dồn đuổi họ đến chỗ không còn con

đ-ờng nào khác ngoài việc biến thành đồ chơi mua vui cho chúng Con dế phản ánh rất chân thực cuộc sống khủng khiếp trong xã hội phong kiến, biểu thị cảnh t-ợng nhân dân bị bức hại cả thể xác lẫn tinh thần Truyện chủ yếu viết bằng cảm hứng bi kịch những cảm hứng trào lộng rất đậm đà Thành Danh theo đuổi chuyện học hành thi cử mói nhưng khụng cú kết quả

gỡ Sau khi anh ta dựng dế quý thi được ban cho một học vị, thay cho việc thi cử Mọi sự đổi thay bắt đầu từ một con dế

Tr-ớc thực tại đầy rẫy những tình huống phi nhõn đạo, tác giả cú tài và cú tõm, không thể không phản ánh Đó cũng là một cách tác giả

Trang 33

ph¶n øng víi c¸i xÊu vµ mong muèn s©u xa h¬n n÷a lµ phª ph¸n c¸i xÊu

®ang tiÒm Èn, ®ang hiÓn hiÖn bằng giọng văn bỡn cợt bông đùa, tiếng cười giễu nhại Dưới ngòi bút điêu luyện của tác giả, bộ mặt gian ác của bọn thống trị bị phơi bày Tác giả cho người đọc thấy sự liên kết giữa vua quan và địa chủ cường hào thực sự tạo thành một thiên la địa võng chăng bủa khắp nơi dồn người dân lương thiện vào đường cùng ngõ cụt

2.1.2 Những hủ tục kiềm tỏa tình cảm cá nhân

Trong xã hội phong kiến, chịu sự chi phối nghiêm ngặt của các các chuẩn mực khắt khe nên ý thức cá nhân của con người không có cơ hội phát triển Mọi việc làm, hành động đều phải tuân thủ theo những quy định trong xã hội đó đời sống tình cảm cá nhân của con người cũng bị lễ giáo phong kiến chi phối, hầu như không có chỗ cho tình yêu tự do và hôn nhân

tự chủ Những cuộc hôn nhân đều được người ta sắp đặt có mục đích và còn bị chi phối nhiều bởi mai mối, tiền bạc Một số truyện của Bồ Tùng Linh đã phê phán, chế giễu lễ giáo phong kiến kìm kẹp đời sống tình cảm riêng của con người

Thể hiện tình yêu và hôn nhân trong Liêu Trai chí dị, không thể

không xét đến hoàn cảnh xã hội và tư tưởng liên quan đến sự ra đời của tác phẩm, những yếu tố đóng vai trò chi phối thế giới quan và tư tưởng của tác giả của nhà văn Tác giả đã viết bằng bút pháp trào lộng, lên án phê phán hôn nhân vì tiền

Bồ Tùng Linh là người chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, dù có những yếu tố tiến bộ trong tư tưởng nhưng cũng không hoàn toàn thoát khỏi sự ràng buộc của các hủ tục lễ giáo phong kiến Điều đó lý

giải tại sao ngoài việc phản ánh tình yêu và hôn nhân tự do trong Liêu Trai

chí dị còn phản ánh một tình yêu và hôn nhân trên cơ sở lễ giáo phong

kiến Trong nhiều truyện, hôn nhân được sắp đặt bởi ý muốn của hai bên cha mẹ Cha mẹ đặt đâu con phải ngồi đấy, con cái không có quyền tự chọn

lựa hạnh phúc riêng cho mình Nha Đầu trong truyện Nha Đầu đó là thói

Trang 34

ham mờ tiền bạc của bà mẹ đến mất cả nhõn tớnh, lương tõm khụng chỉ ngăn cản tỡnh yờu của con cỏi mỡnh với anh học trũ nghốo, mẹ của Nha Đầu cũn bắt nàng tiếp khỏch để lấy tiền cho mỡnh Mặc dự ban đầu Nha Đầu cú chống cự một cỏch quyết liệt nhưng cuối cựng nàng đó phải làm theo lời của mẹ, tiếp khỏch lầu xanh và từ bỏ tỡnh yờu với chàng học trũ nghốo để dấn thõn vào con đường ụ nhục mà mẹ nàng chọn sẵn Càng vựng vẫy bao nhiờu Nha Đầu càng bị lỳn sõu hơn vào cỏi cạm bẫy người mà mẹ cụ đó đặt sẵn bất chấp cả tỡnh thõn, tỡnh mẫu tử và đạo lý Miờu tả cuộc sống của Nha Đầu, Bồ Tựng Linh cũng lờn ỏn sõu sắc xó hội phong kiến đang kỡm kẹp, chi phối đời sống tỡnh cảm của con người Cũn nỗi đau nào hơn khi mà người ta rất yờu nhau nhưng lại khụng được sống với nhau chỉ bởi phõn biệt giàu nghốo, đẳng cấp, vỡ cha mẹ khụng muốn Bồ Tựng Linh đã sử dụng tiếng c-ời nh- một ph-ơng thức hữu hiệu để nhận thức và phản ánh các hiện t-ợng của đời sống Đú là kết quả bất hạnh của tỡnh yờu chõn chớnh thời phong kiến

Xó hội phong kiến, ngăn cản khỏt vọng nhục thể, hạnh phỳc của con

người bao nhiờu thỡ trong Liờu Trai chớ dị con người được thể hiện được

sống đỳng với bản chất của mỡnh, với những khỏt khao - ước muốn, yờu - ghột của riờng mỡnh bấy nhiờu Một cỏch giỏn tiếp Bồ Tựng Linh đó lờn tiếng tố cỏo xó hội phong kiến và phơi bày bộ mặt thật của nền văn minh Trung Quốc đương thời

Đời nhà Thanh xó hội phong kiến Trung Quốc đó bắt đầu cú dấu hiệu của sự suy đồ Đồng tiền đó bắt đầu lờn ngụi, phỏ tan bao nhiờu lễ giỏo phong kiến Cú tiền người ta cú thể mua quan bỏn tước, cú thể đạt được nhiều điều mỡnh muốn Tiền bạc và mối mai đang cũn chi phối nhiều đến đời sống hụn nhõn

Xó hội phong kiến cuối Minh đầu Thanh núi riờng và xó hội phong kiến Trung Quốc núi chung vốn khắt khe với tỡnh cảm riờng tư, hạnh phỳc con người, đặc biệt thự địch với tỡnh yờu tự do, hụn nhõn tự nguyện Trong

Trang 35

xã hội đó, hôn nhân thường do cha mẹ sắp đặt dựa trên sự môn đăng hộ đối, con cái phải chấp nhận nghe theo Những gia đình giàu có, quyền thế cao sang thường không chấp nhận thông gia chênh lệch về địa vị Gia đình Liên Thành trong truyện cùng tên giàu có nên cô được sắp đặt gả cho người

buôn muối Trong truyện Cung Mộng Bật nhà Hoà sa sút kinh tế và địa vị

nên mặc dù đã hứa hôn với cô gái họ Huỳnh nhưng cũng bị ông thông gia bội ước

Viết về tình yêu và hôn nhân chịu sự chi phối của lễ giáo phong kiến,

Bồ Tùng Linh cũng phê phán mặt tiêu cực trong lễ giáo phong kiến đã hạn chế tự do yêu đương, khắt khe trong những quy định về hôn nhân, ngăn cản hôn nhân tự nguyện, chia cắt tình yêu tự do dẫn đến những bi kịch cho đôi

lứa Tình yêu và hôn nhân trong Liêu Trai chi dị được phản ánh rất phong

phú, đa dạng Tác giả, ngợi ca, trân trọng hạnh phúc cá nhân, riêng tư, sự nâng niu những nhân tố mới tiến bộ trong quan hệ nam nữ bằng giọng văn trào lộng Bồ Tùng Linh còn gián tiếp phê phán, chỉ trích chế độ phong kiến

đã bóp nghẹt tình cảm con người, không quan tâm đến hạnh phúc con người, đến con người cá nhân cá nhân

2.2 Thế thái nhân tình

Trong Liêu Trai chí dị, tất cả những hiện tượng cuộc sống đều được

phản ánh dưới nhiều góc độ khác nhau cho thấy bộ mặt của xã hội đương thời Con người quá coi trọng tiền bạc Cô con gái họ Huỳnh gia đình đã hứa gả cho chàng Hoà nhà họ Liễu, nay gia cảnh nhà Hoà trở nên sa sút

mà cha mình tuyệt giao với Hoà, không muốn gả nữa Nàng cho thế là không phải, khuyên cha mẹ mình không được khinh bỏ người ta Hai ông

bà không nghe, sau đó nhà họ Huỳnh bị cướp, gia cảnh sa sút, hết cả của cải Hai ông bà vì ham tiền mà ép gả nàng cho nhà người khác Nàng bỏ nhà, giả dạng ăn xin trốn đi, tìm đến nhà Hoà, về làm vợ Hoà nghèo khó nhưng sống rất đầm ấm và hạnh phúc Còn cô con gái quan Thái Sử thì chỉ

Trang 36

vì lời hứa làm vợ Ngô Lang mà nguyện thuỷ chung, một mực không chịu làm vợ người khác

Trong tác phẩm của Bồ Tùng Linh còn có những người chạy theo ái

tình quên mất tình nghĩa vợ chồng, được mới nới cũ Trong truyện Báo ứng

trước mắt, nàng Tề A Hà vốn là chồn hoá thân, có dung mạo xinh đẹp,

muốn nương tựa vào chàng Cảnh sinh vì biết chàng được ghi tên vào bảng vàng vì chàng Cảnh Sinh phụ rẫy người vợ của mình một cách tàn nhẫn để đến với A Hà nên bị thần thánh xử phạt rút tên ra khỏi bảng vàng Biết Cảnh sinh là con người phụ tình, nàng A Hà đã lấy chàng Trịnh là người thi đậu khoa thi năm ấy Cảnh thì gia đạo sa sút, phải ăn nhờ ở đậu bạn hữu, có lần ngẫu nhiên đến nhà Trịnh, nàng A Hà động lòng thương khuyên chồng giúp cho y manh quần tấm áo, lại đem hơn hai mươi đồng của riêng nàng

để dành ra giúp cho chàng để đền đáp nghĩa cũ, lại khuyên chàng tìm lấy một người tử tế làm vợ mở mày mở mặt cho con cháu mai sau

Bộ máy quan lại là nền tảng vững chắc để duy trì sự tồn tại của một nhà nước phong kiến Để phục vụ cho thú chơi sa đoạ chúng vơ vét của cải

và ức hiếp dân lành để bao nhiêu con người phải khổ sở, bao nhiêu gia đình

bị tan nát dưới tay bọn quan lại cường hào Truyện Dế chọi, mặc dù mang

một kết thúc có hậu kiểu chuyện dân gian nhưng vẫn thể hiện được số phận

bi thảm của những người dân hiền lành, chất phác dưới nanh vuốt của vua quan phong kiến Nguyên nhân dẫn đến cái chết oan của đứa con trai nhân vật chính Thành Danh là thói đam mê chọi dế của nhà vua (Tuyên Đức nhà Minh) Vua thích chọi dế, bắt dân nộp dế dâng lên Khó khăn lắm Thành Danh mới bắt được dế, nhưng thằng con trai chín tuổi sơ ý để dế chạy mất khi bắt lại được thì dế đã chết lòi ruột Thằng bé sợ quá bỏ nhà trốn đi, bố

mẹ tìm khắp nơi và cuối cùng thấy xác con dưới giếng Thú vui của kẻ thống trị tối cao được đổi bằng mạng một đứa trẻ Rồi để cứu gia đình, hồn thằng bé biến thành con dế thật đẹp, chọi thi thắng cuộc, được đem tiến cung và được ban thưởng rất hậu Có thể nhà văn mượn kết thúc có hậu này

Trang 37

để bày tỏ lũng đồng tỡnh với số phận bi thảm của những người dõn lương thiện, khớch lệ họ tin tưởng vào cuộc sống, an ủi họ bởi triết lý ở hiền gặp

lành Nhưng về khỏch quan chi tiết này cũn cú ý nghĩa tố cỏo sự tàn bạo

của kẻ thống trị: chỳng khụng chỉ dày xộo người dõn ở kiếp này mà cũn lăng nhục họ ở cả kiếp sau, dồn đuổi họ đến chỗ khụng cũn con đường nào khỏc ngoài việc biến thành đồ chơi mua vui cho chỳng

Dưới ngũi bỳt điờu luyện của tỏc giả, bộ mặt gian ỏc khụng từ thủ đoạn nào của bọn thống trị bị phơi bày Bằng bút pháp trào lộng Bồ Tựng Linh đó phản ỏnh sự sa đọa một cỏch chõn thực, giỳp cho người đọc hiểu một cỏch sõu sắc hiện thực xó hội đương thời xó hội ấy đã bộc lộ những mâu thuẫn, những mặt trái, những thói xấu đáng c-ời và đáng lên án

2.3 Chế độ học hành thi cử

D-ới chế độ phong kiến Trung Quốc, khoa cử là biện pháp quan trọng để trở thành kẻ thống trị, để thực hiện giấc mộng phú quý công danh Chế độ khoa cử đã biến các sĩ tử thành những kẻ nô lệ, làm cho họ mụ mị, biến chất về tinh thần Họ sủng bái việc thi cử nh- những tín đồ sùng đạo,

có thể làm bất cứ việc gì để có thể đ-ợc đi thi, để đỗ đạt, có khi đánh mất cả nhân cách, lâm vào bi kịch không những về vật chất mà cả về mặt tinh thần

do chính họ tạo ra Họ chỉ có một mối quan tâm đó là văn bát cổ Cái lối văn ch-ơng tám vế gò ép, trống rỗng này về sau bị nhân vật chính trong

Hồng lâu mộng là Gỉa Bảo Ngọc gọi l¯ “cần câu cơm” Nhưng “cần câu

cơm ấy” đ± khiến bao nhiêu ngưội si mê nõ Ngưội xưa nõi “s²ch kia cõ sẵn nhà vàng Sách kia thóc gạo nghìn chung, sách kia ở trong đợi chờ Mà sách bây giờ là gì nếu không phải là văn bát cổ? Nếu cha mẹ có ốm đau liệt gi-ờng không có gì ăn mà nghe văn bát cổ thí cðng hời lòng hời d³” Thi cử lấy văn bát cổ làm chuẩn mực đời Thanh là việc lạc hậu, cổ hủ Bao nhiêu sách luyện thi, thầy luyện thi chỉ chú tâm vào văn bát cổ Có ng-ời nói

“Khổng Tử còn sống thì cũng phải hóc văn b²t cồ” Chế độ khoa cử mục nát

ấy đã giết chết tâm hồn biết bao nhiêu ng-ời trẻ tuổi, khiến họ trở thành tù

Trang 38

binh về tinh thần, mê muội bởi công danh phú quý Bản thân việc thi cử khiến cho bao nhiêu ng-ời lận đận suốt đời, có ng-ời trở nên điên dại Vào đ-ợc tr-ờng thi là mục đớch toàn chuyện thối nát, bỉ ổi, nếu thi đỗ thì một b-ớc lên tiên Quá trình ấy đã thử thách nghiêm khắc nhân cách các nhà nho, tác giả đã

căn cứ vào thái độ đam mê hay lạnh nhạt với khoa cử để đánh giá họ

Bồ Tựng Linh là người sống vào thời gian mà triều đại nhà Thanh đang cai trị nhõn dõn Trung Quốc Xó hội phong kiến quan niệm rằng một người yờu nước là phải đỗ đạt và ra làm quan giỳp nước, đồng thời làm rạng danh tổ tụng Vỡ thế 19 tuổi Bồ Tựng Linh tham dự thi đồng sinh và đỗ đầu

cả huyện Nhưng về sau thi mói vẫn khụng đỗ, mói đến năm 72 tuổi mới đỗ tuế cống sinh và chỉ 3 năm sau thỡ ụng mất Con đường khoa hoạn đẩy ụng vào cảnh bất đắc chớ, lũng đầy uất ức Vừa muốn tiến thõn bằng khoa cử, vừa phẫn chớ vỡ khoa cử, tõm trạng ấy quanh năm suốt thỏng day dứt ụng, thỳc dục ụng viết nờn những thiờn truyện ngắn đầy bất hủ về đề tài này So với trỡnh độ phỏt triển của nhõn loại lỳc bấy giờ thỡ chế độ khoa cử của Trung Quốc chỉ mang hỡnh thức đẹp đẽ nhưng bờn trong nú đó thật sự suy tàn và thối nỏt Sự suy tàn đú thể hiện ở nhiều mặt, từ cỏch học, cỏch đào tạo, cỏch chấm bài của cỏc vị giỏm khảo Tất cả chỉ là một sự hỗn tạp được gúp nhặt lại để tạo nờn một nền giỏo dục mang đậm khuụn phộp mà thụi

2.3.1 Sĩ tử

Nghệ thuật trào phúng nói chung, tr-ớc hết đòi hỏi phải phát hiện

đúng đối t-ợng của cái hài Với khả năng nắm bắt nhanh nhạy đối t-ợng của cái hài, Bồ Tựng Linh h-ớng tiếng c-ời vào đông đảo tầng lớp nho sĩ

Đây là tầng lớp trờn trong xó hội Những đối t-ợng này đ-ợc xem là tiến

bộ, là văn minh của xã hội nh-ng d-ới cái nhìn của Bồ Tựng Linh đối t-ợng này đã tự bộc lộ ra tất cả những thói xấu xa, kỳ quặc, bi hài kịch của

nó Đối t-ợng bị giễu nhại ở đây đã "tự bộc lộ sự thật, nh- bị lột trần, nh- bị t-ớc bỏ cái áo che đậy bên ngoài, để lộ cái thật bên trong, cái linh hồn trần trũi, c²i lỏi trơ trơ hiện ra trưỡc mắt mói ngưội”

Trang 39

Cuộc sống và con ng-ời bao giờ cũng tồn tại ít nhiều thói xấu khi những thói xấu ấy trở thành phổ biến, len lỏi và trở thành một kiểu sống của con ng-ời và của cả xã hội thì cái xấu ấy cần đ-ợc lên án, cần đ-ợc cảnh tỉnh Đứng tr-ớc những nghịch lý, những cái đáng c-ời, các nhà văn với quan điểm và tài năng của mình sẽ chọn cho mình những cách thức cụ thể

để phê phán, cảnh tỉnh Bồ Tựng Linh cũng đứng tr-ớc những sự lựa chọn khó khăn đó, và cũng đã chọn cho mình một cách thức độc đáo, phản ánh những thói xấu, những cái đáng c-ời ấy bằng cái nhìn trào lộng, giọng điệu trào lộng đầy ấn t-ợng

Bồ Tựng Linh chịu nhiều trắc trở và bất hạnh trong chuyện thi cử ễng đó phản ỏnh tõm trạng của mỡnh thụng qua hỡnh tượng những người học trũ với sự căm hờn thi cử Qua những cõu chuyện trờn, “tỏc giả bày tỏ tỡnh cảm chủ quan của mỡnh một cỏch mónh liệt và gay gắt nhưng khụng trỏnh khỏi khoa trương thỏi quỏ Những bài viết nhằm cụng kớch tệ nạn trong thi cử, cú ý nghĩa nhất là phải kể cỏc thớ sinh bị hành hạ dữ dội về

tinh thần, tõm hồn bị bẻ cong” Chàng Vương Tử An trong truyện Giấc

mộng đắc chớ đến ngày treo bảng phấp phỏng, uống một trận thật say Bỗng

chập chờn có ng-ời đến báo đỗ tiến sĩ, liền nghĩ không thể không ra oai với xóm làng, bèn lớn tiếng gọi lý tr-ởng, nh-ng gọi mãi chẳng thấy ai chỉ có

vớ lên tiếng “Trong nh¯ chỉ cõ mốt mũ gi¯ ban ngày nấu cơm, ban đêm ấp chân cho ông lấy đâu ra trường ban” Anh ta nghe tỉnh ra mỡi biết những việc tr-ớc đó là nhảm nhí và trở về với cuộc sống thực Phải là ng-ời có thể nghiệm sâu sắc về sự việc đ-ợc mất trên con đ-ờng khoa cử mới có thể giễu cợt thấm thía nh- thế Về cuối truyện, tác giả dùng mấy nét châm biếm, khắc họa sâu sắc và sinh động hình tượng sĩ tử trong và sau cuộc thi “Hóc trò vào tr-ờng thi có bảy cái giống Lúc mới đầu chân đi mang tráp giống

ăn mày Lúc gọi tên quan thét, lính mắng giống thằng tù Lúc về chỗ ngồi nhô đầu lố nhố, thò cẳng quều quào nh- ong lạnh cuối thu Lúc ra khỏi tr-ờng thi tâm thần hoảng hốt, trời đất đổi màu giống chim bệnh rời lồng Lúc chờ ra bảng thấy cây cỏ đều sợ sệt, mơ mộng cũng chập chờn, nghĩ tới

Trang 40

chuyện thi đỗ thì khoảnh khắc lầu gác mọc lên, nghĩ tới chuyện thi rớt thì chớp mắt x-ơng cốt nh- mục nát đứng ngồi không yên giống con khỉ bị trói Chợt lúc ngựa ruổi báo danh không có tên mình tinh thần suy sụp, chết

điếng giống nh- con nhặng say thuốc, ai chọc ghẹo cðng không biết” Bằng phộp so sỏnh với cảm hứng trào lộng hiện lờn những hiện thực và cảm xỳc của người ta về chế độ thi cử nhà Thanh thật đỳng như trũ hề Thì ra cái bả công danh phú quý câu đ-ợc mọi tâm hồn, từ trẻ đến già, từ ng-ời vô học

đến kẻ có học, bất kỳ ai ngửi thấy mùi phú quý công danh là mê muội, choáng váng, nhiều khi đánh mất hết cả nhân cách Nguyên nhân đó một phần là do phú quý, một phần do lối học văn bát cổ Nó đã đầu độc các sĩ tử làm cho họ mất hết cả nhân cách Đó chính là bi kịch của họ Tiếng c-ời trong sáng tác của Bồ Tựng Linh nhiều cung bậc sắc thái Ng-ời học trò

Nhạc Vân Hạc trong Lôi Tào học rất nổi tiếng nh-ng thi cử lận đận Cũng

vì phú quý công danh mà ông quyết tâm theo đuổi đến già cho đến khi cảm thấy không theo đ-ợc nữa mới bà cuốc “Ông Nh³c nồi tiếng văn ch-ơng một thời chợt thấy việc theo đuổi công danh đến già mà không hợp với mình nữa liền vứt ngòi bút nh- cởi chiếc dép, có khác gì ban siêu ném bút Sinh động hỡnh tượng sĩ tử trong và sau cuộc thi với giọng điệu giễu cợt sõu cay Cú thể núi “đú là loại trớ thức đỏng thương, những người này một khi sa vào cạm bẫy của chế độ khoa cử thỡ họ để mất cả tuổi thanh xuõn

Bồ Tựng Linh khúc cho số phận đầy bi thảm của những người đó ngó gục trước những tai nạn tầy đỡnh do khoa cử gõy ra”

Lấy tiếng c-ời làm ph-ơng thức chủ đạo để nhận thức và phản ánh hiện thực đương thời, Bồ Tựng Linh h-ớng ngòi bút của mình vào tầng lớp trí thức Hàng loạt hình t-ợng nho sĩ trong tác phẩm, mỗi ng-ời một tính cách, đều chạy theo phú quý công danh mà quên đi chuẩn mực đạo đức, truyền thống Bồ Tựng Linh phờ phỏn những học trũ học hành sỏo rỗng và mỏy múc lại ham hư danh mong muốn tiến thõn bằng khoa cử Cú những thư sinh chăm lo học hành một cỏch thỏi quỏ như chàng Lang Ngọc Trụ

Ngày đăng: 21/08/2023, 02:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán Việt, Hón Mạn Tử - Phan Bội Châu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
2. Lại Nguyên Ân (1999) Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
4. M.Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Tr-ờng viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
5. M. Bakhtin (1999), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
6. Phạm Tú Châu (1987), "Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục", Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Phạm Tú Châu
Năm: 1987
7. Phạm Tú Châu (1999), Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Phạm Tú Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
8. Anh Chi (2005), “Vũ Trinh và bước phát triển mới của truyện truyền kỳ Việt Nam”, Văn nghệ, (32) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trinh và bước phát triển mới của truyện truyền kỳ Việt Nam”, "Văn nghệ
Tác giả: Anh Chi
Năm: 2005
9. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
10. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Nguyễn Huệ Chi (1999), “Một vài phương diện tư tưởng và nghệ thuật của Bồ Tùng Linh trong Liêu Trai chí dị”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài phương diện tư tưởng và nghệ thuật của Bồ Tùng Linh trong Liêu Trai chí dị”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1999
12. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên,1999), Truyện truyền kỳ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kỳ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13. Lý Duy Côn ( chủ biên, 2004), Trung Quốc nhất tuyệt , tập 1, NXb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc nhất tuyệt
14. Nguyễn Văn Dân (1998), Văn học so sánh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
15. Nguyễn văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu Văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu Văn học
Tác giả: Nguyễn văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
16. Trần Xuân Đề (1991), Về những bộ tiểu thuyết cổ điển hay nhất của Trung Quốc, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những bộ tiểu thuyết cổ điển hay nhất của Trung Quốc
Tác giả: Trần Xuân Đề
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1991
17. Đoàn Thị Điểm (2001), Truyền kỳ tân phả, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ tân phả
Tác giả: Đoàn Thị Điểm
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
18. Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (1996), Tuyển tập truyện cổ tích người Việt (phần cổ tích người Việt), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện cổ tích người Việt (phần cổ tích người Việt)
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
19. Cao Huy Đỉnh (1994), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1994
20. Hà Minh Đức (2000), Lí luận Văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận Văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w