Công tác xã hội với trẻ em mồ côi là một trong những biện pháp quan trọng và có ý nghĩa cả về kinh tế, giáo dục và xã hội, nhằm giúp đối tương được sống tốt hơn, giúp đối tượng vượt qua
Trang 1Xuyên - huyện Cẩm Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh”, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của
bản thân, sinh viên đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những lời động viên
sâu sắc từ phía thầy cô, gia đình và bạn bè
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Ông Thị
Mai Thương, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Em cũng cảm ơn sâu sắc tới UBND huyện Cẩm Xuyên, phòng
LĐTBXH huyện Cẩm Xuyên trong việc cung cấp thông tin và đặc biệt là “cầu
nối” để em có thể tiếp cận đối tượng nghiên cứu của mình
Em đã nhận được sự tham gia và giúp đỡ nhiệt tình của những người
thân của thân chủ, sự hợp tác nhiệt tình của trẻ mồ côi để em hoàn thành đề
tài nghiên cứu của mình
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những người thân, gia đình và
bạn bè, những người quan tâm đến vấn đề nghiên cứu đã hỗ trợ và động viên
trong suốt thời gian làm đề tài
Với năng lực và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế Do đó đề tài nghiên
cứu không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định Em rất mong
nhận được đóng góp ý kiến của giảng viên hướng dẫn và những ai quan tâm
đến đề tài này
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 5 tháng 5 năm 2012
Sinh viên Nguyễn Thị Linh
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3
3 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 10
1.1.1 Phương pháp luận 10
1.1.2 Các lí thuyết vận dụng trong đề tài 11
1.1.3 Quan điểm của Nhà nước về giáo dục 16
1.1.4 Chính sách của nhà nước đối với trẻ em mồ côi 19
1.1.5 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 20
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 21
1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 21
1.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 23
Chương 2 THỰC TRẠNG TRẺ EM MỒ CÔI VÀ CÔNG TÁC THỰC HIỆNCHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TẠI HUYỆN CẨM XUYÊN - TỈNH HÀ TĨNH 25
2.1 Thực trạng trẻ em mồ côi ở huyện Cẩm Xuyên 25
2.2 Công tác thực hiện chính sách đối với trẻ em mồ côi tại huyện Cẩm Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh 27
2.3 Nguyên nhân gây ra tình trạng khó khăn trong vấn đề học tập của trẻ em mồ côi 32
2.3.1 Điều kiện kinh tế gia đình không ổn định 33
2.3.2.Chính sách của chính quyền chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của các em 33
2.3.3 Tâm lí tự ti, mặc cảm, nghị lực của thân chủ 34
Trang 43.2 Áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân CTXH cá nhân với
trẻ em mồ côi gặp khó khăn về mặt vật chất trong quá trình học tập 36
3.3 Tiến trình CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi gặp khó khăn về mặt vật chất trong quá trình học tập tại thị trấn Cẩm Xuyên - huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 38
3.3.1 Tiếp cận đối tượng và xác định vấn đề ban đầu 38
3.3.2 Thu thập thông tin 44
3.3.3 Chẩn đoán 51
3.3.4 Lên kế hoạch trị liệu 60
3.3.6 Lượng giá 75
3.3.7 Kết thúc 78
3.4 Những bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện tiến trình CTXHCN trong việc đảm bảo điều kiện học tập cho trẻ em mồ côi gặp khó khăn về mặt vật chất trong quá trình học tập 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Khuyến nghị 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 1
BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 2
BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 3
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TƯ LIỆU TRONG QUÁ TRÌNH CAN THIỆP VỚI THÂN CHỦ
Trang 5"Trẻ em như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan” Sinh thời, Bác Hồ của chúng ta rất yêu thương và quan tâm đến thanh thiếu niên, đặc biệt là các em nhi đồng Các em luôn được tạo mọi điều kiện để vui chơi và học tập, vô tư hồn nhiên như chính tuổi thơ của mình vậy Ngày nay, trường lớp được đầu tư xây dựng khang trang nhiều hơn, trẻ em được đến trường học tập vui chơi cùng bạn bè, thầy cô Nhưng bên cạnh đó, chúng ta không khỏi xót xa thương cảm khi bắt gặp những em bé phải lao động để lo chén cơm, manh áo từng ngày cùng với những sấp vé số trên tay hay những tờ báo đi khắp phố phường bán rong, và thấp thoáng ở đâu đó những hình ảnh
nhỏ nhắn của các em trong những bãi rác để tìm phế liệu bán kiếm tiền Theo
số liệu thống kê của Bộ Lao Động Thương binh và Xã Hội vào cuối năm
2007 Hiện nước ta có khoảng 160.000 trẻ em mồ côi, trong đó có 88.000 em
không còn nơi nương tựa, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn Trong số 88.000
em đó, Nhà nước đã giải quyết trợ cấp xã hội thường xuyên khoảng 60.000
em, bao gồm: 10.000 em đang được nuôi dưỡng, chăm sóc trong các cơ sở bảo trợ xã hội với mức trợ cấp thấp nhất 240.000đ/em/tháng; gần 50.000 em hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, với mức trợ cấp tối thiểu 120.000đ/em/tháng và số còn lại do họ hàng, cộng đồng cưu mang hoặc được nhận làm con nuôi
Từ số liệu thống kê của Bộ LĐTB và Xã Hội ta thấy được số liệu của trẻ em mồ côi khắp cả nước là một con số khá lớn và cần sự quan tâm Con số
đó cũng nói lên rằng tình trạng trẻ em mồ côi được quan tâm chăm sóc chỉ mới được khoảng 2/3 trong tổng số trẻ em mồ côi Những trẻ em được quan
Trang 6đang còn là lứa tuổi, tuổi ăn, tuổi chơi không phải lo lắng, bận tâm điều gì Các em đang là lứa tuổi cắp sách tới trường, trong một môi trường an toàn, lành mạnh và gia đình hạnh phúc… Nhưng trẻ em mồ côi đang thiếu những điều kiện đó để phát triển Trẻ em, đối tượng cần được quan tâm đặc biệt do
sự non nớt về mặt thể chất và tinh thần, các em cần được sự bảo vệ của những người trong gia đình và xã hội Bên cạnh đó trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ
em mồ côi còn có nhiều thiệt thòi hơn vì các em còn nhiều khó khăn về mặt vật chất và tinh thần so với trẻ em cùng lứa tuổi khác, chính vì điều đó chúng cần được sự quan tâm đặc biệt hơn
Như chúng ta đã biết trẻ em mồ côi thuộc nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Hoàn cảnh của các em đều hết sức nghiệt ngã Chỉ có một số trẻ em được nuôi dưỡng và chăm sóc ở các
cơ sở của nhà nước, còn rất nhiều em khác phải tự bươn trải để kiếm sống Một số em bị bắt lao động, còn một số khác sống lang thang trên các đường phố, không nơi nương tưa, sống trong nghèo đói Chính tình cảnh đó khiến cho các em có nguy cơ cao bị thất học, lang thang, bị nhiễm HIV, sử dụng ma túy và bị lôi cuốn vào các hành vi phạm tội và mại dâm
Một thực tế làm cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn, đó là Việt Nam chưa có hệ thống bảo vệ trẻ em một cách toàn diện cũng như chưa có các dịch
vụ bảo vệ trẻ em Vấn đề này gây cản trở những nỗ lực tiếp cận và chăm sóc cho những trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt Những năm gần đây đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu khoa học về quyền trẻ em, trong những tác phẩm này cũng có một phần nào đó đề cập đến trẻ em mồ côi nhưng chưa sâu
Trang 7Nhận thấy được vấn đề cấp thiết và cần quan tâm chăm sóc, NNCTXH cần là người “kết nối” và giúp đỡ các em, có các mô hình trợ giúp để trẻ em
mồ côi được sống tốt hơn
Công tác xã hội với trẻ em mồ côi là một trong những biện pháp quan trọng và có ý nghĩa cả về kinh tế, giáo dục và xã hội, nhằm giúp đối tương được sống tốt hơn, giúp đối tượng vượt qua hoàn cảnh khó khăn mà mình đang gặp phải, góp phần nâng cao hiệu quả công tác xã hội với gia đình chính sách và trẻ em mồ côi
Trẻ em mồ côi là một đối tượng đặc thù, nhìn chung còn nhiều khó khăn để đảm bảo về kinh tế và tinh thần cũng như có thể hòa nhập cộng đồng
Huyện Cẩm Xuyên là một huyện có diện tích tương đối rộng, và đi lên
từ nền nông nghiệp Kinh tế chưa phát triển nên ở huyện còn nhiều hộ gia đình khó khăn, những trẻ em mồ côi chưa được quan tâm tốt để phát triển Hầu hết các em phải sống không nơi nương tựa, trong gia đình nghèo đói…
Với nhưng lí do trên, mang nhiều ý nghĩa thực tiễn nhân viên công tác xã
hội đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi
gặp khó khăn về mặt vật chất trong quá trình học tập tại thị trấn Cẩm Xuyên - huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh” làm đề tài nghiên cứu, can thiệp của mình
2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
2.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết nhằm nghiên cứu xem hoàn cảnh xã hội nào quyết định đến tâm lý, hoạt động và quyết định như thế nào Đồng thời trong hoàn cảnh nào cá nhân có thể quyết định hành động thay đổi hoàn cảnh
cá nhân và quyết định như thế nào
Nghiên cứu đề tài nhằm tìm phương pháp thích hợp, lý thuyết thích hợp
áp dụng đề tài
Trang 8Nghiên cứu vận dụng phương pháp công tác xã hội trong quá trình nghiên cứu và thực hành nhằm bổ sung về lý luận cho việc ứng dụng phương pháp này trong thực tiễn
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Sau khi tìm hiểu thu thập những thông tin liên quan đến thân chủ, biết được những khó khăn từ phía bản thân, gia đình của thân chủ và địa phương nơi thân chủ đang sinh sống và học tập, từ đó biết được những nhu cầu, mong muốn của trẻ em mồ côi nói chung, của thân chủ nói riêng từ đó có những biện pháp hỗ trợ kịp thời
Nghiên cứu để đưa ra mô hình can thiệp cho trẻ em mồ côi nhằm trợ giúp dựa trên chính nhu cầu của đối tượng
Thực hiện tốt mô hình sẽ đem lại những giá trị thiết thực cho thân chủ
và ứng dụng trong quá trình giúp đỡ trẻ em mồ côi hòa nhập cộng đồng, ổn định về kinh tế và gia đình
Việc nghiên cứu đề tài tốt sẽ áp dụng thực tiễn, kinh nghiệm để áp dụng tốt cho những đề tài khác
3 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đảm bảo điều kiện vật chất trong việc học tập của trẻ em mồ côi ở thị trấn Cẩm Xuyên - huyện Cẩm Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Thân chủ
- Gia đình và người thân
- Làng xóm và những người liên quan
- Cơ quan chính quyền
Trang 9Rút ra những bài học kinh nghiệm từ tiến trình can thiệp
3.4 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm vận dụng những kiến thức đã học đặc biệt là những
kỹ năng và phương pháp CTXHCN vào đối tượng trẻ em mồ côi nhằm tìm hiểu những vấn đề cũng như nhu cầu của họ để từ đó cùng thân chủ xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm giải quyết vấn đề, hỗ trợ, định hướng và kết nối họ với các nguồn lực để giúp thân chủ vươn lên trong cuộc sống Mục tiêu là những điểm nhỏ cần đạt được của mục đích Vì vậy cần đạt được mục đích tổng quát, trước tiên NVXH cùng với thân chủ phải đạt được các mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu hướng tới những mục tiêu cơ bản sau đây:
- Giúp gia đình thân chủ cải thiện hoàn cảnh khó khăn về mặt vật chất,
có đủ kinh tế để thân chủ đến trường
- Giúp gia đình, người nuôi dưỡng thân chủ được chứng nhận hộ nghèo
để từ đó khắc phục được hoàn cảnh khó khăn hiện tại của gia đình mình
- Gặp gỡ và vận động nhà trường, nơi thân chủ đang học tập phát động
phong trào “chung tay góp sức vì tương lai” Nhằm tìm kiếm nguồn lực trước
mắt giúp đỡ thân chủ
- Tuyên truyền, vận động hàng xóm, người thân giúp đỡ thân chủ về vật chất và tinh thần
Trang 10- Hỗ trợ, tìm kiếm công việc phù hợp với khả năng và sức lao động của
bà nội thân chủ và thân chủ để thân chủ có thể làm thêm ngoài giờ học
- Kiến nghị lên UBND, phòng chính sách huyện Cẩm Xuyên để được
hỗ trợ cho gia đình thân chủ, nâng mức trợ cấp đối với thân chủ và người trực tiếp nuôi dưỡng thân chủ
- Trò chuyện, lắng nghe, chia sẻ, động viên tình thần, tư vấn giúp thân chủ vượt qua mặc cảm, tự tin trong cuộc sống
- Giúp thân chủ cải thiện được mối quan hệ xã hội, đặc biệt là mối quan
hệ bạn bè
3.5 Câu hỏi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài NVCTXH đã ý thức được rằng muốn tiến trình nghiên cứu đạt được hiệu quả cao thì bên cạnh xác định được mục đích, mục tiêu, xác định được đối tượng, khách thể nghiên cứu… người NVCTXH cần phải đặt được những câu hỏi sát và đúng trọng tâm đề tài nghiên cứu để tiến trình nghiên cứu đạt được hiệu quả cao
Tiến trình nghiên cứu nhằm giải quyết những câu hỏi:
- Việc thực hiện chính sách đối với trẻ em mồ côi ở huyện Cẩm Xuyên
- tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được kết quả như thế nào, hiệu quả ra sao?
- NVCTXH đưa ra quá trình can thiệp có thật sự hợp lí, hiệu quả với đối tượng hay không?
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Trong tiến trình thực hiện nghiên cứu đề tài NVCTXH đã sử dụng phương pháp quan sát đối với thân chủ và những người NVXH thu thập thông tin
NVCTXH sử dụng phương pháp trong mọi hoàn cảnh để thu thập thông tin, có thể quan sát trong quá trình phỏng vấn sâu đối với thân chủ, người thân của thân chủ và cơ quan chức năng, BCH thôn…cũng có thể trong lúc NVXH cùng làm việc với thân chủ và người nuôi dưỡng thân chủ Quan sát thái độ của thân chủ trong cách giao tiếp, tiếp xúc với người nuôi dưỡng, những người xung quanh cũng như thái độ, hành vi… người thân, họ hàng cũng như bạn bè, cơ quan chính quyền địa phương đối với thân chủ để từ đó NVCTXH thu thập thông tin và sớm giải quyết vấn đề của thân chủ
4.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phương pháp được sử dụng để có những thông tin từ phía thân chủ Trrong phỏng vấn sâu, người phỏng vấn tự do hoàn toàn trong các dẫn dắt cuộc phỏng vấn, trong cách xếp đặt trình tự các câu hỏi và ngay
cả cách thức đặt các câu hỏi nhằm thu thập được thông tin mong muốn Mục tiêu của phỏng vấn sâu không phải để hiểu một cách đại diện, khái quát về
Trang 12tổng thể, mà giúp chúng ta hiểu sâu, hiểu kỹ về một vấn đề nhất định nào đó
Nó đòi hỏi nhân viên xã hội hoặc người phỏng vấn chuẩn bị kỹ lưỡng các thông tin, câu hỏi và phải luôn để ý những thông tin còn thiếu sót còn nhầm lẫn trong quá trình phỏng vấn Trong phỏng vấn sâu sử dụng chủ yếu các câu hỏi mở, vì vậy người trả lời cũng hoàn toàn tự do trong cách thức trả lời Không nên máy móc hỏi tất cả các câu hỏi như nhau với cá nhân được nghiên cứu Đối với các cá nhân khác, qui trình cũng có thể thực hiện tương tự, chứ không nhất thiết cá nhân nào cũng phải hỏi tất cả mọi vấn đề Thông thường, việc chọn người phỏng vấn là có chủ định, đó là những người có liên quan nhiều đến mục tiêu nghiên cứu
Để có được đầy đủ các thông tin của người trả lời, việc ghi chép phải hết sức nghiêm túc Các câu trả lời của người được hỏi ghi được đầy đủ, sát thực bao nhiêu sẽ tốt bấy nhiêu Cách sử dụng từ ngữ, hành vi của người trả lời trong quá trình trả lời các câu hỏi cũng cấn phải ghi đầy đủ, đúng với thực
tế Hạn chế tối đa việc cắt bớt hoặc ghi khái quát các câu trả lời
Điều tra viên thực hiện phỏng vấn sâu phải có sự hiểu biết khá rộng về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và sự hiểu biết sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu Mặt khác phải là người có kinh nghiệm phỏng vấn, biết cách dẫn dắt thảo luận theo chủ đề cần thiết mà không làm ảnh hưởng đến cuộc tiếp xúc, không làm mất lòng đến người được phỏng vấn
4.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu nhân viên CTXH đã tham khảo và sử dụng các tài liệu từ các báo cáo tổng kết hàng năm trên tất cả các mặt của Uỷ ban huyện Cẩm Xuyên, các văn bản, nghị định pháp luật của nhà nước và các tài liệu liên quan khác về vấn đề trẻ em mồ côi và bản thân thân chủ
Phân tích tài liệu, thực chất là cải biến mục đích của thông tin có sẵn trong các tài liệu Hay nói cách khác là xem xét các thông tin có sẵn trong các tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết nhằm đáp ứng những mục tiêu
Trang 13nghiên cứu của một đề tài nhất định Tài liệu chính là nguồn thông tin để trả lời cho các câu hỏi được đặt ra trong nội dung của một bảng hỏi
Một trong những khác biệt giữa phân tích tài liệu với các phương pháp thu thập thông tin là ở chổ, thông tin đã được ấn định trong tài liệu và được rút ra từ đó để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu, được tạo nên nhằm mục đích khác, chứ hoàn toàn không liên quan đến cuộc nghiên cứu hiện tại
Qua đó để phân tích và tìm hiểu thực trạng về đời sống khó khăn trong quá trình học tập của trẻ em mồ côi trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, nhìn ra các nguồn lực hỗ trợ có thể huy động để giúp các em
Trong quá trình phân tích tài liệu, điều đặc biệt quan trọng là phải tách
mô tả các sự kiện ra khỏi ý kiến nhận xét, đánh giá về các sự kiện đó, cũng như phải chỉ ra được những mục đích cho việc tạo nên tài liệu đó Điều đó là tiền đề để đánh giá tài liệu, để xác định được một cách chính xác giá trị nhận thức của nó như một nguồn thông tin
5 Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
5.1 Phương pháp công tác xã hội cá nhân
PP CTXHCN là 1 phương pháp thực hành, tiếp cận cá nhân bằng cách tìm hiểu họ thông qua các mối quan hệ xã hội, chức năng xã hội Hiểu biết được hành vi của cá nhân với môi trường, đánh giá được suy nghĩ và hành vi của cá nhân nhằm huy động tiềm năng và động cơ của cá nhân, từ đó có thể giúp đối tượng giải quyết vấn đề
ra mô hình can thiệp cho đối tượng
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Phương pháp luận
1.1.1.1 Phương pháp luận duy vật biện chứng
Phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng của nó Mối quan hệ biện chứng giữa “quyền lợi và nghĩa vụ”, giữa “nhu cầu thực tế
và điều kiện có hạn” Mối quan hệ biện chứng, quan hệ nhân quả giữa việc phát triển kinh tế và phát triển xã hội, công bằng xã hội, mối quan hệ giữa trách nhiệm của nhà nước, gia đình, cộng đồng xã hội với các thành viên trong xã hội khi họ rơi vào tình trạng “yếu thế”
1.1.1.2 Phương pháp luận duy vật lịch sử
Phải xem sự vật, hiện tượng trong điều kiện lịch sử cụ thể Không thể
áp đặt điều kiện lịch sử của đất nước này với đất nước khác, địa phương này với địa phương khác Mô hình an sinh xã hội cũng như những chính sách xã hội của Việt Nam trong giai đoạn chống giặc ngoại xâm, giành độc lập chủ quyền dân tộc với an sinh xã hội trong thời kì hòa bình, đổi mới xây dựng đất nước Vai trò của nhà nước hôm nay với vai trò của nhà nước trong những thập kỉ tới Phải nhìn nhận cách tiếp cận mới về an sinh xã hội trong điều kiện
xã hội đầy biến động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhận thức xã hội là sự phản ánh khách quan của tồn tại xã hội mà tồn tại
xã hội trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa, trong điều kiện suy thoái về môi trường và biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu dân số… Điều kiện mới nêu trên chính
là tiền đề cho sự thay đổi nhận thức về xã hội và phát triển bền vững, về phòng ngừa nguy cơ gây rủi ro, giảm thiểu và khắc phục rủi ro, bảo vệ an toàn các thành viên trong xã hội khi họ rơi vào hoàn cảnh rủi ro, hoàn cảnh yếu thế
Trang 15Áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử vào giải quyết tình huống trẻ em mồ côi ở địa bàn thị trấn Cẩm Xuyên - huyện Cẩm Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh Phải xem xét và đánh giá thân chủ
ở thời điểm nhất định, ở một không gian nhất định, những nhu cầu của thân chủ và trong điều kiện có hạn cho phép được hưởng và giúp đỡ
Nhân viên CTXH cũng đã vận dụng quan điểm về mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu Vì dựa trên nguyên lí thế giới quan của chủ nghĩa Mac- Lenin, chủ nghĩa duy vật biện chứng giải thích các hiện tượng và quá trình xã hội trong mối quan hệ qua lại, trong sự vận động và biến đổi không ngừng còn chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu cuộc sống của xã hội Áp dụng những nguyên
lí ấy vào việc nghiên cứu xã hôi, cũng như nghiên cứu các hình thức xã hội
Chính vì vậy khi xem xét và xác định vai trò của NVCTXH trong việc giải quyết vấn đề thân chủ là trẻ em mồ côi chúng ta cần xem xét trong mối quan hệ với các nhân tố chủ quan và khách quan khác như: môi trường xã hội, hoàn cảnh gia đình của trẻ em mồ côi, môi trường mà trẻ em mồ côi đang sống, các nhu cầu và nguyện vọng của trẻ em mồ côi
1.1.2 Các lí thuyết vận dụng trong đề tài
1.1.2.1 Lí thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Ông cho rằng, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển, đó là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội (tình yêu thương), nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện
Ông cho rằng cac nhu cầu này được sắp xếp theo thứ bậc thang, bậc
từ nhu cầu cơ bản nhất, có vị trí nền tảng và ý nghĩa quan trọng nhất với con người tới nhu cầu cao hơn và ở vị trí thứ bậc tiếp theo Vì vậy người ta còn gọi lý thuyết của Abraham Maslow là bậc thang nhu cầu Trong cách tiếp cận của ông, con người luôn có xu hướng thỏa mãn trước tiên những nhu cầu
Trang 16quan trọng nhất ở vị trí bậc thang đầu tiên rồi sau đó mới hướng tới thỏa mãn nhu cầu cao hơn, ở vị trí bậc thang cao hơn
Nhu cầu thể chất, sinh lí đó là các nhu cầu về đồ ăn, nước uống, không khí, nhu cầu tình dục… Nhu cầu này được xem là nhu cầu cơ bản nhất trong 5 nhóm nhu cầu theo sự phân định của A.Masllow Ông cho rằng muốn tồn tại trước hết con người cần được ăn, được uống, được hít thở Nếu con người không được đáp ứng các nhu cầu này thì sự sinh tồn của họ sẽ bị đe dọa Nhu cầu này của con người luôn được xem là nhu cầu cần được đáp ứng trước tiên
Nhu cầu an toàn là nhu cầu mà con người cần có một môi trường sống
an toàn, sức khỏe được đảm bảo để tồn tại Họ cần có nhà để ở, để tránh mưa, tránh nắng họ cần được khám chữa bệnh, được chăm sóc sức khỏe Họ cần được sống trong môi trường đảm bảo về an ninh để tính mạng của họ không
bị đe dọa Họ cần có môi trường sinh hoạt, vận động an toàn không gây thương tích… Con người sẽ phát triển rất khó khăn khi họ luôn sống trong môi trường không ổn định và đầy nỗi sợ hãi Vì vậy gia đình và xã hội có trách nhiệm tạo ra môi trường an toàn cho cuộc sống của các thành viên
Trang 17Nhu cầu tình cảm xã hội (nhu cầu được gắn bó, yêu thương) A.Masllow xem đó như là nhu cầu thuộc về nhóm xã hội của con người, sự mong muốn được quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội Con người cần có gia đình, được tới trường để học tập và vui vẻ trong nhóm bạn bè của lớp học Trong nhóm họ tìm thấy vai trò, vị trí của mình, tìm thấy cảm giác về
sự thừa nhận của người khác về sự tồn tại của họ, sự quan tâm và yêu thương của các thành viên khác đối với họ Nó cách khác, con người cần có các quan
hệ xã hội Họ cần được khẳng định mình trong nhóm và cần được yêu thương, được quan tâm và chăm sóc từ các thành viên trong nhóm Con người cần được giao lưu với những người khác và hòa nhập vào các nhóm khác trong xã hội Sức mạnh của họ được nhân lên, sự tự tin cũng được tăng cường khi họ là thành viên của của các nhóm bởi điều đó khẳng định vai trò, vị trí của họ trong xã hội Sự đơn độc, không gia đình, không có nhóm xã hội nào để cá nhân thuộc về đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển tâm lí và quan hệ
xã hội của cá nhân
Nhu cầu được tôn trọng cũng là một nhu cầu quan trọng của con người Con người luôn cần được bình đẳng, được lắng nghe, không bị coi thường
Dù đó là ai, trẻ em hay người lớn người lành lặn hay khuyết tật… Con người
có trở nên tự tin hay không, thể hiện được sức mạnh của mình hay không đó
là một phần họ có được đối xử bình đẳng hay không ngay từ khi còn nhỏ Sự chè ép hay lấn át với một cá nhân ở bất cứ nơi đâu, dù ở trong gia đình, cơ quan hay các môi trường xã hội khác đều có thể gây nên những ức chế tâm lí,
sự thụ động và hạn chế khả năng đề kháng của họ.Vì vậy ai cũng có nhu cầu được đối xử bình đẳng, coi trọng, được lắng nghe và phát biểu ý kiến Tuy nhiên nhu cầu này ở những người thuộc tầng lớp yếu thế trong xã hội như người nghèo, phụ nữ, trẻ em…thường không được thực sự coi trọng
Trang 18Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển, đó là nhu cầu được đến trường, được nghiên cứu, lao động sáng tạo…để phát triển toàn diện
Sau khi tiến hành một nghiên cứu trên nhóm người mà ông cho là đã đạt được sự phát triển tương đối hoàn chỉnh, ông đưa ra một số nhu cầu thuộc
về nhóm nhu cầu này như lí tưởng, tính thực tế trong cuộc sống, tinh thần đồng đội, nhu cầu về sự riêng tư cá nhân, nhu cầu về sự độc lập và khả năng kiểm soát bản thân, lòng tin và sự dân chủ…
Nhu cầu này được A.masllow cho là nhu cầu có ý nghĩa quan trọng, song chúng được xếp ở bậc thang cuối cùng bởi nó chỉ được đề cập tới khi những nhu cầu cơ bản ở bậc thang nền tảng đã được đáp ứng
Áp dụng lý thuyết Nhu Cầu của A.Masslow vào trong đề tài nghiên cứu, NVCTXH đã biết được nhu cầu của con người, những nhu cầu được xếp theo thứ tự từ thấp tới cao, con người cần phải đảm bảo được các nhu cầu để phát triển hoàn thiện Trong cách tiếp cận của ông, con người luôn có xu hướng thỏa mãn trước tiên những nhu cầu quan trọng nhất ở vị trí bậc thang đầu tiên rồi sau đó mới hướng tới thỏa mãn nhu cầu cao hơn, ở vị trí bậc thang cao hơn Với thân chủ là trẻ em mồ côi, NVCTXH đã nhận thấy được nhu cầu cần thiết của thân chủ và từ đó có thể đưa ra mô hình cùng với sự hỗ trợ của người thân, chính quyền để giúp đỡ thân chủ đáp ứng được các nhu cầu
Qua tìm hiểu về hoàn cảnh và nguyện vọng của thân chủ NVCTXH đã hiểu được nhu cầu và điều kiện có thể đáp ứng được nhu cầu của thân chủ là nằm ở bậc thang nào, giải thích được những hành vi lệch chuẩn của thân chủ nếu có… từ đó NVCTXH đưa ra được mô hình can thiệp phù hợp và có hiệu quả đối với thân chủ để giúp thân chủ đáp ứng được những nhu cầu để phát triển con người hoàn thiện, trong môi trường tốt nhất
Trang 191.1.2.2 Thuyết gắn bó của Bowlby
Thuyết gắn bó được phát triển từ những năm 1940 đến năm 1970 ở Anh để giải thích mối quan hệ giữa trẻ em và người chăm sóc trẻ (đặc biệt là người chăm sóc trẻ) Lý thuyết này cho rằng, trẻ sẽ bị tổn thương về mặt tinh thần nếu trẻ không hình thành được những quan hệ gắn bó trong môi trường gia đình hoặc những mối quan hệ gắn bó bị phá hủy Bowlby cho rằng các mối quan hệ gắn bó không cố định và có thể thay đổi
Bowlby đưa ra bốn kiểu gắn bó:
Quan hệ gắn bó an toàn Quan hệ gắn bó không an toàn và lẫn lộn Quan hệ gắn bó không an toàn và lảng tránh Quan hệ gắn bó không an toàn và mất phương hướng Điều quan trọng là những dạng quan hệ này miêu tả bản chất quan hệ gắn bó của trẻ với cha mẹ (đặc biệt là người mẹ) Người cán bộ xã hội phải ý thức được những dạng hành vi cư xử nào của cha mẹ, người lớn tạo nên dạng gắn bó này của trẻ và từ đó người cán bộ xã hội sẽ phục hồi mối quan hệ gắn
bó mối quan hệ của cha mẹ, người lớn đối với trẻ
Thuyết Gắn Bó của Bowlly được áp dụng trong đề tài nghiên cứu nhằm giải thích được mối quan hệ gắn bó của thân chủ với người trực tiếp nuôi dưỡng thân chủ và những người xung quanh, những người hàng xóm của thân chủ Để từ đó NVCTXH biết được mối qun hệ của thân chủ với người nuôi dưỡng thân chủ trực tiếp và những người xung quanh là mối quan hệ như thế nào Mối quan hệ của thân chủ vầ những người xung quanh là mối quan hệ gắn bó an toàn, quan hệ gắn bó không an toàn và lẫn lộn, quan hệ gắn bó không an toàn và lảng tránh hay quan hệ gắn bó không an toàn và mất phương hướng Để từ đó NVCTXH có phương pháp và mô hình giúp đỡ thân chủ của mình có một cuộc sống tốt hơn
Trang 201.1.3 Quan điểm của Nhà nước về giáo dục
Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước Vì vậy, ngay từ khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu” Do đó xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam
Bắt đầu từ Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14 - NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng: Xem giáo dục là
bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc
và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội
Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam
Đặc biệt, sự nghiệp Giáo dục và Giáo dục lý luận chính trị được Đại hội toàn quốc lần thứ X đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh hơn nữa nhằm giáo dục con người phát triển toàn diện, nhất là thế hệ trẻ
Đại hội X đã xác định mục tiêu giáo dục là nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, lý tưởng chủ nghĩa xã hội, lòng nhân
ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, ý chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ năng lực nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhảy cảm với chính trị, có ý chí vươn lên về khoa học - công nghệ
Để cụ thể chủ trương đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển giáo dục một cách tổng thể và toàn diện, bắt đầu từ chủ trương phát triển giáo dục mầm non, thực hiện xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và trung
Trang 21học cơ sở trên phạm vi cả nước, tạo môi trường thuận lợi để cho mọi người học tập và học tập suốt đời Điều hành hợp lý cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng trong hệ thống Giáo dục và đào tạo, quan tâm đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuât lành nghề, hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế, thực hiện tốt chính sách giáo dục gắn với phát triển kinh tế xã hội
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta lại càng phải quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp Giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân dân lao động để họ tham gia hội nhập mà vẫn giữ vững truyền thống văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm chủ khoa học tiên tiến
Đánh giá thực trạng giáo dục đào tạo sau 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định sự nghiệp giáo dục đào tạo nước ta tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn Cơ sở vật chất được tăng cường, quy mô đào tạo mở rộng, nhất là bậc trung học và dạy nghề Trình độ dân trí được nâng cao Điều đó được thể hiện:
Phổ cập giáo dục tiểu học tiếp tục được củng cố, phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở được triển khai tích cực Đến hết năm 2005 có 31 tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở bậc tiểu học đạt 97,5%
Đảng đã có nghị quyết trung ương 2 khoá IIX Nghị quyết chuyên đề về giáo dục đào tạo khẳng định: Giáo dục đào tạo cùng với khoa học công nghệ
là quốc sách hàng đầu, là động lực và điều kiện để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội, là chìa khóa để mở cửa để mở cửa tiến vào tương lai, là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Trang 22Phải có đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư phát triển phải tạo điều kiện cho giáo dục đi trước để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội
Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng,
sử dụng nhân tài, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sớm xây dựng chính sách sử dụng và tôn vinh các nhà giáo, cán bộ quản lý giỏi, có công lao lớn trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục Có chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo và các đối tượng chính sách xã hội
Ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Chú trọng đào tạo cán bộ vùng dân tộc (cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể từ bản, ấp trở lên và cán bộ khoa học kỹ thuật) Củng cố và tăng cường hệ thống trường nội trú, có chính sách bổ túc kiến thức cần thiết cho số học sinh dân tộc thiểu số đó tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở
mà không có điều kiện học tiếp Trước những thách thức của thời đại cách mạng tri thức gắn liền với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, khi mà nước ta đó trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong cuộc đua tranh quyết liệt về mọi mặt, mà chủ yếu là đua tranh
về trí tuệ của các quốc gia trên toàn cầu, sự yếu kém, bất cập và tụt hậu của giáo dục và đào tạo đang trở thành lực cản đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước
Quan điểm của Nhà nước về giáo dục đối với trẻ em mồ côi:
Đảng và nhà nước đã quan tâm, chú trọng đến trẻ em mồ côi, và đã có những chính sách về giáo dục đối với trẻ em mồ côi Đảng và nhà nước đã đề
ra đường lối chính sách quan tâm đến trẻ em mồ côi Đảng và nhà nước đã chỉ
rõ cần thường xuyên tổ chức giáo dục tư tưởng, đạo đức cho trẻ mồ côi, trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa là điều hết sức quan trọng, vì trước khi trẻ
Trang 23được đưa đến các cơ sở giáo dục tập trung thì thường một thời gian dài trước
đó trẻ thiếu sự quan tâm dạy bảo của người thân nên đã hình thành ở trẻ một
số đặc điểm tâm lý mang tính tiêu cực như mặc cảm, nhút nhát, giao tiếp kém, thiếu niềm tin vào bản thân và người khác, không nhanh nhạy, quyết đoán… Cần giáo dục tri thức phổ thông cho các em, cụ thể là cung cấp cho các em những kiến thức phổ thông cơ bản vì đây là kiến thức nền tảng cho mọi quá trình học tập và lao động sau này của trẻ Cần giáo dục cho trẻ một hệ thống kiến thức khoa học toàn diện về tự nhiên, xã hội, tư duy, về tri thức đời thường, như tri thức ứng xử trong cuộc sống gia đình, cách đối nhân xử thế, cũng như giáo dục kỹ năng sống cho các em
Cần giáo dục những định hướng giá trị đúng đắn cho trẻ thông qua nề nếp, thói quen hàng ngày cho trẻ Để chuẩn bị cho trẻ cuộc sống tự lập khi trưởng thành, không thể không hình thành cho trẻ những thói quen tốt, xóa bỏ các thói quen xấu đã hình thành trong những hoàn cảnh thiếu người thân chăm sóc dạy dỗ là điều hết sức cần thiết để trẻ có thể hòa nhập được với cuộc sống sau này tốt hơn
Cần chú trọng giáo dục lao động, hướng nghiệp và dạy nghề cho trẻ Giáo dục lao động là một mặt, một bộ phận cơ bản của giáo dục phổ thông, giúp các em hình thành có mục đích, có kế hoạch những năng lực và tính cách nhằm để chuẩn bị cho các em sẳn sàng về mặt tâm lý cũng như về mặt thực tiễn để tham gia lao động trong xã hội
1.1.4 Chính sách của nhà nước đối với trẻ em mồ côi
Chính sách của nhà nướcđối với trẻ em mồ côi được thể hiện trong các
bộ luật, trong các nghị định, nghị quyết… của Đảng và Chính phủ được nêu
cụ thể như sau
Trẻ mồ côi, bị bỏ rơi sống tại cộng đồng mức trợ cấp là: 120.000 - 180.000 - 240.000 đồng/tháng/trẻ tương ứng với trường hợp từ 18 tháng tuổi
Trang 24trở lên; dưới 18 tháng tuổi và từ 18 tháng tuổi trở lên bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS; dưới 18 tháng tuổi bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS
Trẻ mồ côi, bị bỏ rơi sống tại nhà xã hội chỉ có mức trợ cấp là 240.000đồng/tháng/trẻ; trẻ sống tại cơ sở bảo trợ xã hội mức trợ cấp là 240.000 - 300.000đồng/tháng/trẻ (từ 18 tháng tuổi trở lên; dưới 18 tháng tuổi
và từ 18 tháng tuổi trở lên bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS)
Với các gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng mức trợ cấp lần lượt là 240.000 - 300.000 - 360.000đ/tháng/ trẻ tương ứng với trẻ từ 18 tháng tuổi trở lên; dưới 18 tháng tuổi và từ 18 tháng tuổi trở lên bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS; dưới 18 tháng tuổi bị tàn tật, bị nhiễm chất độc da cam
1.1.5 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1.5.1 Trẻ em
Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là
"mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn" Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kỳ
ai trong giai đoạn phát triển của tuổi thơ ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành Trong quá trình nghiên cứu đề tài NVCTXH đã sử dụng khái niệm trên
“Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người” Trẻ em là những người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời
Trang 25Trẻ em mồ côi còn được hiểu bao gồm cả trẻ em dưới 16 tuổi chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc cha) mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng (như tàn tật nặng, đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại), không có nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích để nương tựa
1.1.5.3 Công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân là một cách thức, quá trình nghiệp vụ mà nhân viên xã hội sử dụng các kĩ năng kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng (cá nhân hoặc gia đình) phát huy tiềm năng tích cực tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề cải thiện đời sống của mình
Công tác xã hội cá nhân được các nhân viên xã hội sử dụng trong các
cơ sở xã hội hoặc các tổ chức để giúp những người có vấn đề thực hiện các chức năng xã hội Công cụ chủ yếu trong công tác xã hội cá nhân là mối tương quan giữa nhân viên xã hội và các cá nhân để giúp họ tự hiểu rõ vấn đề của chính mình Đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu qua đó để nhân viên xã hội hiểu được các vấn đề của đối tượng và tiến hành các hoạt động trợ giúp
Quan điểm công tác xã hội cá nhân khi can thiệp hỗ trợ một cá nhân là giải quyết vấn đề của cá nhân trong tình huống cụ thể, nghĩa là giải quyết vấn
đề cá nhân trong mối quan hệ tương tác giữa môi trường xã hội và cá nhân
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Quan tâm và chăm sóc trẻ em mồ côi là một trong những vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm, từ Liên hợp quốc, các vùng lãnh thổ, các quốc gia, chính quyền địa phương các cấp Trên bình diện toàn cầu, Liên hợp quốc xác định phát triển con người là một trong những nhiệm vụ trọng yếu và cấp thiết trong các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Ở phạm vi quốc gia, Đảng
Trang 26Cộng sản và Nhà nước Việt Nam cũng đã xác định chiến lược phát triển con người, chăm sóc trẻ em là một nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và nhà nước, một trong những hành động được ưu tiên nhất đồng thời, TEMC cũng trở thành một chủ đề nghiên cứu được tranh luận nhiều
Xung quanh vấn đề thực hiện chính sách cho trẻ em mồ côi đã có không ít các công trình nghiên cứu các cơ quan nghiên cứu thuộc Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Bộ Lao động và Thương binh & Xã hội và đặc biệt là các tổ chức quốc tế tại Việt Nam
Những nghiên cứu mang tính chất rộng khắp, và nghiên cứu tổng quát
như nghiên cứu “Trẻ em mồ côi và trẻ em lang thang: thực trạng và giải
pháp” năm 2007 Ứng dụng đề tài nghiên cứu để tìm hiểu về thực trạng và
giải pháp giúp đỡ trẻ em mồ côi và trẻ em lang thang nhằm cải thiện và giúp
đỡ trẻ em một cách tốt nhất
Chương trình “Bảo vệ trẻ em” Với sự hỗ trợ trực tiếp của UNICEF,
Chính phủ đang xây dựng Chiến lược Quốc gia về Bảo vệ trẻ em nhằm thiết lập một bộ máy và hệ thống bảo vệ cho trẻ em trong giai đoạn 2006 - 2015 chương trình nhằm tăng cường bộ máy và chiến lược tổng thể về bảo vệ trẻ
em và thiết lập một hệ thống công lý thân thiện với trẻ em
Nói về thực trạng khó khăn của trẻ em mồ côi, trẻ em lang thang, nạn
lạm dụng trẻ em đã được đăng trên báo An ninh thế giới Bài viết “Nạn lạm
dụng trẻ em mồ côi tại các khu du lịch và vùng thảm họa”
Ở quy mô nhỏ hơn có những đề tài như “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Lí
luận và thực tiễn” Do nhiều tác giả; Nguyễn Thị Mỹ Dung, Bùi Đoàn Thanh
Thảo, nguyễn Thị Kim Thanh thực hiện tại trường Đại học Luật TP HCM
Trên địa bàn huyện cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về trẻ em mồ côi Ông Hoàng Mạnh Lâm trưởng phòng LĐTB và Xã Hội huyện Cẩm Xuyên -
Trang 27tỉnh Hà Tĩnh với đề tài nghiên cứu “Trẻ em mồ côi tại huyện Cẩm Xuyên -
tỉnh Hà Tĩnh - Thực trạng và giải pháp”
Những mặt mạnh cũng như những gì đã đạt được của những công trình nghiên cứu trên là không thể phủ nhận, những đề tài đó dã góp phần giúp xã hội quan tâm và chăm sóc trẻ em mồ côi tốt hơn Những hạn chế cần khắc phục… để tiến tới phát triển xã hội một cách bền vững và công bằng
Những đề tài đã nêu trên mang tính chất rộng lớn và khái quát, nghiên cứu trên phạm vi rộng và nhiều đối tượng cùng một lúc Để hiểu rõ về những nhu cầu của cũng như mong muốn và những khó khăn của đối tượng, can
thiệp vào 1 đối tượng cụ thể NVCTXH đã thực hiện đề tài “Công tác xã hội
cá nhân với trẻ em mồ côi gặp khó khăn về mặt vật chất trong quá trình học tập tại thị trấn Cẩm Xuyên - huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh” Nhằm đi sâu
nghiên cứu những nhu cầu cần thiết của trẻ em mồ côi, đi sâu vào hoàn cảnh của từng em và từ đó giải quyết được vấn đề của nhóm yếu thế
1.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.2.2.1 Vài nét về thị trấn Cẩm Xuyên - huyện Cẩm Xuyên
Thị trấn Cẩm Xuyên với diện tích 653,34ha, dân số 8142 người, tỷ lệ tăng dân số hàng năm 6,8%, mật độ dân cư là 1233người/km2, phía Bắc và Tây giáp xã Cẩm Huy, Đông và Đông Bắc giáp xã Cẩm Thăng, phía Nam giáp xã Cẩm Hưng và Cẩm Quan, phía Tây Nam giáp xã Cẩm Quang
Địa hình của thị trấn khá phong phú bao gồm vùng bằng phẳng xen lẫn với sông, hồ Đây là nơi có điều kiện giao thông thuận lợi, cả đường bộ lẫn đường sông Đời sống kinh tế nơi đây cũng phát triển tương đối đa dạng, nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ cả trên bộ lẫn dưới sông Đất đai tương đối màu mỡ do được bồi đắp bởi phù sa của sông Con
Mức tăng trưởng hàng năm đạt trên 11%, bình quân thu nhập đầu người đạt 9,5 triệu đồng/người/năm Cơ bản khép kín đường giao thông bằng nhựa
Trang 28và bê tông, thu nhập từ dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp chiếm 55% tổng thu nhập, lực lượng hưởng chế độ BHXH cao
Thị trấn có 04 trường học, 01 trạm xá Có 02 trường đạt đơn vị văn hóa
và trạm xá đạt chuẩn quốc gia
Thị trấn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Hàng năm, chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chủ yếu đó là gió mùa Đông Bắc và gió phơn Tây Nam
Trong những năm gần đây, thị trấn đã có nhiều những chính sách quan tâm đến trẻ em mồ côi không chỉ hỗ trợ cho trẻ mồ côi về mặt vật chất mà còn
cả về tinh thần Nhưng bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác quan tâm, chăm sóc trẻ mồ côi của thị trấn vẫn còn một số mặt chưa làm được như
tỷ lệ trẻ mồ côi, mức sống của trẻ mồ côi vẫn còn khó khăn, những nhu cầu của các em vẫn không được đáp ứng kịp thời và thiết thực Thị trấn cần phải
cố gắng nhiều hơn nữa trong công tác chăm sóc, quan tâm trẻ em mồ côi và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG TRẺ EM MỒ CÔI VÀ CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
TẠI HUYỆN CẨM XUYÊN - TỈNH HÀ TĨNH
2.1 Thực trạng trẻ em mồ côi ở huyện Cẩm Xuyên
Huyện Cẩm Xuyên vẫn là một huyện có tỉ lệ trẻ em mồ côi khá cao, theo thống kê của Phòng Lao Động Thương Binh Xã Hội huyện Cẩm Xuyên năm 2011, trong bảng “BIỂU MẪU KHẢO SÁT TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT” thì trẻ em mồ côi vẫn chiếm một số lượng lớn trong tổng
số trẻ em dưới 16 tuổi
Trẻ em nằm trong hoàn cảnh đặc biệt có 14 nhóm đối tượng Tổng số trẻ em dưới 16 tuổi là 34863 em, trong đó trẻ em dưới 6 tuổi là 11361 em Trẻ em mồ côi có 160 em chiếm 24,46 % (trẻ em/ dân số) Trẻ em khuyết tật, tàn tật có 496 em, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học có 13 em, trẻ em nhiễm HIV/AIDS có 3 em, không có trẻ em phải làm việc nặng nhọc Có 6
em gặp nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại Không có trẻ em nào phải làm việc xa gia đình, có ba trẻ em lang thang Không có trẻ em nào bị xâm hại tình dục, có 1 trẻ em bị nghiện hút 0 trẻ em bị buôn bán bắt cóc, 12 trẻ em bị ngược đãi bạo lực, có tới 5531 trẻ em bị tai nạn thương tích Có 6223 trẻ em sống trong gia đình nghèo Trẻ em mồ côi được báo cáo cụ thể trong bảng
Trang 30Bảng 2.1: Biểu mẫu khảo sát trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi
Trang 31Từ bảng số liệu ta thấy được rằng trẻ em mồ côi chiếm một tỉ lệ lớn trong trẻ em dưới 16 tuổi Tuy nhiên số lượng trẻ em mồ côi có số lượng nhiều hay ít là không ngang nhau, không chia đều cho nhau, có những vùng,
xã thì không có số trẻ em mồ côi như xã Cẩm Thạch, xã Cẩm Nhượng, xã Cẩm Hưng, xã Cẩm Mỹ, Xã Cẩm Sơn, thị trấn Thiên Cầm Ngược lại, xã Cẩm Lộc có tới 50 trẻ em mồ côi, xã Cẩm Lĩnh có 22 trẻ em mồ côi, đây là một số lượng nhiều so với những xã khác của huyện Cẩm Xuyên Để lí giải
về số lượng trẻ em mồ côi nhiều ở những xã Cẩm Lộc, xã Cẩm Lĩnh, ta có thể nhận thấy đó là ở hai xã này có tỉ lệ li hôn nhiều nhất của huyện, bên cạnh đó
tỉ lệ tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp (đi đãi vàng) nhiều, cha hoặc mẹ
đi xuất khẩu nước ngoài không về… nên trẻ em mồ côi ở hai xã này chiếm tỉ
2.2 Công tác thực hiện chính sách đối với trẻ em mồ côi tại huyện Cẩm Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh
Trẻ em là tương lai, tuổi của các em là tuổi ăn, tuổi chơi, giống như câu nói của Bác Hồ “trẻ em như búp trên cành, biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan” nhưng đối với trẻ em mồ côi không được sống những ngày hồn nhiên đúng lứa tuổi Các em đã mất mát tình thương, đau khổ về tâm hồn, các em lại phải chịu nhiều thiệt thòi về mặt kinh tế
Trong khi những đứa trẻ đồng trang lứa thì đang sống trong bầu không khí đầy ắp tình thương của biết bao người, còn các em thì phải nai lưng sống
Trang 32qua ngày, đã vậy, đôi lúc còn phải cam chịu những ánh mắt thờ ơ, những sự ghẻ lạnh từ những con người không có trái tim
Để tìm hiểu về chính sách về trẻ em mồ côi ở địa bàn huyện Cẩm Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh NVCTXH đã đến tìm hiểu, về số lượng cũng như những chính sách của chính quyền huyện Cẩm Xuyên đối với trẻ em mồ côi Thực hiện việc ghi chép về thực trạng, quan sát và thu thập thông tin bằng những lần phỏng vấn sâu đối với các ban ngành, những người có liên quan để biết về thực trạng thực hiện chính sách của huyện đối với trẻ em mồ côi
Qua tìm hiểu NVCTXH biết thêm được nhiều thông tin trong chính sách về vật chất cũng như về giáo dục đối với trẻ em mồ côi tại huyện nhà Trẻ em mồ côi được hưởng nhiều mức trợ cấp khác nhau tùy từng hoàn cảnh
và các ưu đãi khác nhau Không phải trẻ em mồ côi nào cũng được hưởng mức trợ cấp là như nhau ở trên địa bàn
“Trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi được hưởng trợ cấp, với các mức khác nhau tùy hoàn cảnh và các ưu đãi khác cháu a!”
(Pvs, số 3 Hoàng Mạnh Lâm, trưởng phòng LĐTB_XH)
Trong việc quan tâm chăm sóc trẻ em mồ côi huyện đã thực hiện những chính sách mà Đảng và nhà nước ban hành Việc giúp đỡ các trẻ em mồ côi, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được huyện Cẩm Xuyên đặc biệt quan tâm và thực hiện Điều đó cũng nói lên rằng chính quyền Cẩm Xuyên đặc biệt coi trọng vấn đề quan tâm chăm sóc đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng
“Chúng tôi thực hiên chăm sóc, chính sách cho trẻ em mồ côi theo như Luật Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, chiến lược bảo vệ, chăm sóc trẻ em, quyết định
số 38/2004/QĐ-TTG (ngày 17/3/2004) của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
và trẻ em bị bỏ rơi, quyết định số 65/2005/QĐ-TTG (ngày 25/3/2005) của Thủ
Trang 33tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005 - 2010 trong đó có trẻ mồ côi, trẻ bị
bỏ rơi, nghị định số 67/2007/NĐ - CP (ngày 13/4/2007) của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội đã đề ra”
(Pvs, số 3 Hoàng Mạnh Lâm, trưởng phòng LĐTB_XH)
Chính quyền các cấp cũng đang nỗ lực để bảo đảm cuộc sống tốt đẹp cho trẻ mồ côi Chăm sóc các em, giúp các em có thể đến trường, tránh tình trạng lang thang và đảm bảo cho các em một cuộc sống phù hợp với lứa tuổi Từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em mồ côi với trẻ em bình thường tại địa bàn
“Các cấp chính quyền tiến tới trợ giúp tất cả trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi, khó khăn hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống và có
cơ hội thực hiện các quyền của trẻ em theo quy định của pháp luật Từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em mồ côi với trẻ em bình thường tại nơi cư trú trên cơ
sở huy động các nguồn lực xã hội, phát triển các hình thức chăm sóc trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng”
(Pvs, số 3 Hoàng Mạnh Lâm, trưởng phòng LĐTB_XH)
Bên cạnh những quan tâm giúp đỡ trẻ em mồ côi tại huyện bằng việc cấp phát tiền trợ cấp thì chính quyền địa phương cũng đã có những hình thức chăm sóc, quan tâm trẻ em mồ côi, đã tạo điều kiện cho các em được sống tốt hơn, được sống trong môi trường yêu thương, đùm bọc của gia đình và xã hội Đến nay chính quyền về cơ bản trẻ em mồ côi đã được chăm sóc và giúp đỡ bằng nhiều hình thức
“Chính quyền đã có chính sách đối với trẻ em mồ côi không nơi nương tựa bằng nhiều hình thức như chăm sóc nuôi dưỡng tại các cơ sở Bảo trợ xã hội, các cơ sở từ thiện nhân đạo và trợ cấp cho các gia đình thay thế, người
Trang 34thân thích chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tại cộng đồng Đến nay, 65% trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở Bảo trợ xã hội, được hưởng chính sách trợ cấp thường xuyên của Nhà nước, cũng như của chính quyền”
(Pvs, số 3 Hoàng Mạnh Lâm, trưởng phòng LĐTB_XH)
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế chưa đạt được, cuộc sống của nhiều trẻ mồ côi vẫn bấp bênh không nơi nương tựa, các em vẫn
phải chịu cảnh khổ cực, có những em phải chịu cảnh “màn trời chiếu đất”
chính quyền vẫn chưa thể có những chính sách tối ưu dành cho các em
“Mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã làm gia tăng hiện tượng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt như: trẻ em lang thang, trẻ em sử dụng ma tuý, trẻ em bị lạm dụng và xâm hại, trẻ em bị buôn bán, trẻ em bị nhiễm hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em vi phạm pháp luật…Trong đó trẻ em mồ côi là những đối tưỡng gặp nguy hiểm nhất
Do nhiều lí do, mà chính quyền chưa thể bao quát, chưa thể thăm hỏi tận tình Còn nhiều em chịu thiệt thòi trong huyện phải nghỉ học, phải đi làm việc sớm ”
(Pvs, số 3 Hoàng Mạnh Lâm, trưởng phòng LĐTB_XH)
Thực trạng chăm sóc trẻ em ở địa bàn huyện Cẩm Xuyên trong năm
2010 - 2011 được trình bày trong báo cáo dưới đây
Trang 35Bảng 2.2: Báo cáo thực trạng trẻ em mồ côi tại địa bàn
huyện Cẩm Xuyên năm 2010-2011
1 Trẻ em mồ côi được đến trường học tập 106
2 Trẻ em mồ côi phải làm việc nặng nhọc 0
4 Trẻ em mồ côi gặp nguy hiểm, tiếp xúc với chất
độc hại
3
5 Trẻ em mồ côi phải làm việc xa gia đình 0
Nguồn (phòng lao động thương binh và xã hội huyện Cẩm Xuyên)
Từ bản báo cáo ta thấy trẻ em được đi học chiếm phần lớn đối với các phân loại khác Chính quyền địa phương quan tâm giúp đỡ các em về nhiều mặt
Tuy nhiên bên cạnh đó trẻ em bị tai nạn thương, trẻ em sống trong gia đình nghèo vẫn chiếm một số lượng lớn trong những phân loại trẻ em khác, trẻ
em chịu thiệt thòi vẫn chiếm tỉ lệ cao Trẻ em nhiễm HIV/AIDS là hai em, trẻ
em gặp nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại là ba em, trẻ em lang thang có một
em, trẻ em nghiện hút có một em Trẻ em bị bạp lực gia đình có tới năm em
Trang 36Chính quyền đã có nhiều nỗ lực trong việc giúp đỡ và chăm sóc trẻ em
mồ côi Các phòng ban đã có gắng đi sâu vào thực tế của trẻ để giải quyết những khó khăn cho trẻ
Chính quyền huyện đã thành lập nhiều hội để bảo vệ cũng như nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng như
“Hội Huynh Đệ” nuôi dưỡng trẻ em mồ côi được học tập và vui chơi cùng
các bạn cùng hoàn cảnh và cố gắng vươn lên trong cuộc sống
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì chính quyền huyện, các phòng ban đã có nhiều hạn chế thiếu sót trong quá trình chăm sóc
và hỗ trợ trẻ em mồ côi Chính sách của huyện, các phòng ban chưa thực sự đi sâu vào nhu cầu thực tế của các em, chưa có các chính sách thiết thực để hỗ trợ trẻ em mồ côi
Việc đi đến thăm nom các em, hỗ trợ về mặt tinh thần cho các em vẫn còn coi nhẹ Mà khi đó trẻ em mồ côi rất cần quan tâm và chăm sóc về mặt vật chất
2.3 Nguyên nhân gây ra tình trạng khó khăn trong vấn đề học tập của trẻ em mồ côi
Mỗi đối tượng nghiên cứu lại có những nhu cầu hay nguyên nhân gây
ra thực trạng của thân chủ Với đối tượng là trẻ em đặc biệt nói chung và trẻ
em mồ côi nói riêng thì việc giải thích nguyên nhân là một quá trình tìm hiểu lâu dài và khó vì các em là những đứa trẻ sống thiếu thốn về mặt vật chất và
cả về tinh thần Trẻ mồ côi sống trong trung tâm có thể sẽ có nhu cầu khác với trẻ sống ngoài trung tâm Trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ sẽ khác với trẻ mồ côi cha hoặc mồ côi mẹ
Tuy nhiên quá trình tìm hiểu, đặt trong tình huống của thân chủ, NVCTXH đã đưa ra được ba nguyên nhân cơ bản giải thích thực trạng khó khăn về vật chất trong quá trình học tập của thân chủ
Trang 372.3.1 Điều kiện kinh tế gia đình không ổn định
Cuộc sống của trẻ em mồ côi rất khó khăn khi không còn cha mẹ, hay cha hoặc mẹ đã bỏ rơi trẻ, không có người thân thích trẻ phải sống trong cảnh khó khăn về vật chất, thiếu thốn những nhu cầu cần thiết
Hiện nay, trong khi đời sống của một số bộ phận trong xã hội Việt Nam không ngừng tăng cao, có cuộc sống đầy đủ, sung túc… Vậy mà vẫn còn rất nhiều những gia đình, những cá nhân đặc biệt là trẻ em mồ côi Trẻ em mồ côi đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Nhiều trẻ em không nhà, chật vật lo từng bữa ăn qua ngày, nhiều trẻ em mồ côi cha mẹ, sớm phải tự lo cho bản thân của mình, sớm phải làm vất vả để kiếm sống không đủ tiền để tiếp tục học hành Đối với các em, việc được đi học là điều chỉ xuất hiện trong những giấc mơ đẹp Trẻ muốn được đi học, muốn được cơi đùa với tuổi ấu thơ của mình, trẻ muốn được cắp sách đến trường để học những điều hay từ nhà trường, thầy cô Nhưng những điều tưởng chừng đơn giản với lứa tuổi của mình cũng không được Thiếu hiểu biết, không được trang bị những kiến thức cơ bản nhất, khi lớn lên, cuộc sống của các em luôn là sự khổ cực và lại trở thành những gánh nặng của xã hội
Với mức trợ cấp là 240.000 nghìn đồng cho em mỗi tháng và người bà nuôi em được 200.000 nghìn đồng một tháng thì em không đủ để chi trải trong cuộc sống, huống hồ bà em là một bệnh nhân trong gia đình Vì vậy việc em không được đen trường có lẽ là điều tất yếu
2.3.2 Chính sách của chính quyền chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của các em
Trẻ mồ côi, bị bỏ rơi sống tại cộng đồng mức trợ cấp là: 120.000 - 180.000 - 240.000 đồng/tháng/trẻ tương ứng với trường hợp từ 18 tháng tuổi trở lên; dưới 18 tháng tuổi và từ 18 tháng tuổi trở lên bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS; dưới 18 tháng tuổi bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS
Trẻ mồ côi, bị bỏ rơi sống tại nhà xã hội chỉ có mức trợ cấp là 240.000đồng/tháng/trẻ; trẻ sống tại cơ sở bảo trợ xã hội mức trợ cấp là
Trang 38240.000 - 300.000đồng/tháng/trẻ (từ 18 tháng tuổi trở lên; dưới 18 tháng tuổi
và từ 18 tháng tuổi trở lên bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS)
Với các gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng mức trợ cấp lần lượt là 240.000 - 300.000 - 360.000đ/tháng/ trẻ tương ứng với trẻ từ 18 tháng tuổi trở lên; dưới 18 tháng tuổi và từ 18 tháng tuổi trở lên bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS; dưới 18 tháng tuổi bị tàn tật, bị nhiễm chất độc da cam
Ngoài các chế độ trợ cấp hàng tháng, trẻ mồ côi còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế; đang học văn hóa, học nghề thì được miễn, giảm học phí, được cấp sách vở, đồ dùng học tập theo quy định của pháp luật
Chính sách của Đảng và nhà nước đã chăm sóc cho trẻ em mồ côi Tuy nhiên với thời buổi kinh tế thi trường, kéo theeo mặt trái của nó là lạm phát đã kéo giá các mặt hàng tăng cao Đồng tiền đã trở nên mất giá, vì vậy với mức trợ cấp khoảng 240 nghìn đồng một tháng thì các em không đủ để chi trải cho một tháng huống gì kèm theo việc học
2.3.3 Tâm lí tự ti, mặc cảm, nghị lực của thân chủ
Trẻ em mồ côi bị tổn thương về tinh thân tâm trạng của các em luôn sống trong đau buồn hay mất mát Tâm trạng của trẻ trong hoàn cảnh khó khăn Không tin tưởng vào người lớn nếu trẻ đã từng bị người lớn đối xử hung bạo Tuy nhiên, những trẻ mồ côi lại bám chặt lấy người lớn như sợ sẽ
bị bỏ rơi, có trẻ lại không muốn đem lòng thương mến ai Buồn bã và khó tính, rất dễ nổi cáu Trẻ không phải lúc nào cũng có thể nói về tâm trạng của mình Trẻ có thể vì quá bối rối hoặc sợ hãi nên không xác định được tâm trạng của mình hoặc không biết nói như thế nào để diễn tả tâm trạng Với tâm
lí tự ti hay có thể mặc cảm cuẩ trẻ cũng gây khó khăn trong việc học tập của mình Tuy nhiên với nguyên nhân do tổn thương về tinh thần, tâm lí tự ti, ý chí, nghị lực của thân chủ là nguyên nhân không ảnh hưởng nghiêm trọng như hai nguyên nhân trên
Trang 39Chương 3 TIẾN TRÌNH CTXH CÁ NHÂN VỚI TRẺ EM MỒ CÔI GẶP KHÓ KHĂN VỀ MẶT VẬT CHẤT TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Việc giúp đỡ trẻ em mồ côi trong vấn đề gặp khó khăn trong học tập không đơn giản, không chỉ trách nhiệm và nỗ lực của thân chủ Mà một phần lớn phụ thuộc của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội
Biểu đồ những nhân tố quan trọng để lựa chọn giải pháp chăm sóc
và hộ trợ trẻ em mồ côi
3.1 Nhóm biện pháp tuyên truyền với gia đình và cộng đồng
Tuyên truyền là biện pháp quan trọng, tác động nhiều đến tầng lớp và
bộ phận dân cư Nhằm tạo ra một cái nhìn đúng, sự yêu thương và quan tâm của người thân và cộng đồng, ưu đãi của chính quyền địa phương
Cần phải tuyên truyền sâu rộng đối với những gia đình, người thân có trẻ em mồ côi Gia đình thấy được vai trò và trách nhiệm to lớn của mình đối với hiệu quả tốt nhất trong việc giúp đỡ để trẻ được đến trường
Những nhu cầu của thân chủ
Điều kiện thực
tế (kq)
Các vấn đề thân chủ gặp phải
Hợp tác của chính quyền
Mô hình can thiệp với đối tượng Với cộng đồng
Sự lựa chọn giải pháp
Với cán bộ chính sách thôn
Trang 40Ngoài ra còn phải tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền sâu rộng trong cộng đồng Nhằm nâng cao tính trách nhiệm của cộng đồng, tinh thần đoàn kết, giúp đỡ đối với những trẻ em mồ côi ngay tại cộng đồng mình
Nội dung tuyên truyền cần chú ý tới tác động nhận thức của đối tượng Trong biện pháp đặt ra trong vấn đề trợ giúp xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần quan tâm chủ ý tuyên truyền để người dân không chỉ hiểu được trách nhiệm mà cần tuyên truyền những chính sách của Đảng và nhà nước khuyến khích và hỗ trợ giúp trẻ em mồ côi được đến trường Thêm vào đó là làm sao huy động các nguồn lực từ cộng đồng và các tổ chức để giúp đỡ đối tượng Cách thức tuyên truyền có thể bằng nhiều hình thức như phát những tài liệu về luật và văn bản mới cho những người nuôi dưỡng các em để họ kịp thời nắm bắt các chính sách
3.2 Áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi gặp khó khăn về mặt vật chất trong quá trình học tập
Trong tiến trình áp dụng dịch vụ cho các đối tượng, thân chủ của mình, tôi đã chọn ra một phương pháp Công tác xã hội cụ thể trong 4 phương pháp
đó là “phương pháp Công tác xã hội cá nhân”
Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp của Công tác xã hội nhằm giúp đỡ từng cá nhân, con người thông qua mối quan hệ 1 - 1 Là cách thức, quá trình nghiệp vụ mà Nhân viên xã hội sử dụng các kỹ năng, kiến thức chuyên môn để giúp phát huy tiềm năng, năng lực và cùng tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình
Theo Fraley O Wetal, CTXHCN là hệ thống giá trị, phương pháp của các NVXH chuyên nghiệp sử dụng, ở đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành
vi, hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân, gia đình giải